Do đó, chương trình học phảibao gồm việc học những kỹ năng sống nhằm tạo cho trẻ cuộc sống tự lập càngsớm càng tốt, giáo dục lao động rất quan trọng đối với mọi trẻ em, trong đógiáo dục
Trang 1- -PHAN XUÂN TRƯỜNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
MỘT SỐ BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH KỸ NĂNG TỰ PHỤC
VỤ CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC TRẺ KHUYẾT TẬT QUẢNG TRẠCH
Chuyên ngành: Giáo dục trẻ khuyết tật trí tuệ
Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thị Hoàng Yến
HÀ NỘI – 2010
Trang 2MỞ ĐẦU
NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
1.1 Lịch sử của vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Trên Thế giới
1.1.2 Tại Việt Nam
1.2 Những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
1.2.1 Khuyết tật trí tuệ
1.2.1.1 Khái niệm KTTT
1.2.1.2 Nguyên nhân dẫn đến KTTT
1.2.1.3 Phân loại mức độ KTTT
1.2.1.4 Đặc điểm tâm lý của học sinh KTTT
1.2.1.5 Nhu cầu và khả năng của trẻ KTTT
1.2.2 Kỹ năng tự phục vụ
1.2.2.1 Khái niệm kỹ năng và sự hình thành kỹ năng
1.2.2.2 Khái niệm kỹ năng tự phục vụ
1.2.2.3 Vai trò của kỹ năng tự phục
1.2.2.4 Nội dung dạy kỹ năng tự phục vụ
1.2.3 Mục tiêu và phương pháp hình thành KNTPV cho trẻ
32323233
Trang 3Chương 2: Thực trạng việc hình thành kỹ năng tự phục vụ
cho trẻ KTTT tại Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật Quảng
Trạch - Quảng Bình
2.1 Khái quát quá trình khảo sát
2.1.1 Vài nét về địa bàn khảo sát
2.1.2 Quá trình khảo sát
2.2 Thực trạng hình thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ KTTT
2.2.1 Đánh giá nhận thức của giáo viên và người chăm sóc, phụ
huynh học sinh
2.2.2 Môi trường, hình thức dạy kỹ năng tự phục vụ
2.2.3 Nội dung dạy các KNTPV
2.2.4 Biện pháp dạy các kỹ năng tự phục vụ
2.2.5 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình hình thành các
kỹ năng tự phục vụ cho trẻ KTTT
2.2.6 Đánh giá chung thực trạng hình thành KNTPV cho trẻ
KTTT
2.2.7 Nguyên nhân thực trạng hình thành KNTPV cho trẻ KTTT
Chương 3: Biện pháp để hình thành KNTPV cho trẻ KTTT
tại Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật Quảng Trạch
3.1 Ý kiến của giáo viên, phụ huynh, người chăm sóc học sinh
37404243
45
4647
49
4949495255
Trang 43.3.1 Mục đích thử nghiệm
3.3.2 Nội dung thử nghiệm
3.3.3 Đối tượng thử nghiệm
Trang 5Qua khóa luận tốt nghiệp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâusắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Hoàng Yến đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn emtrong thời gian làm khóa luận.
Em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo Khoa giáo dục đặc biệt –Trường Đại sư phạm Hà Nội, cùng toàn thể thầy cô giáo Nhật bản, đã mangđến cho em những kiến thức bổ ích trong thời gian học tập vừa qua, giúp em
tự tin và trưởng thành hơn
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tậtQuảng Trạch đã tạo điều kiện để em có thể tiến hành khảo sát và thựcnghiệm
Sau cùng em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới người thân và bạn bè, nhữngngười luôn động viên khích lệ và giúp đỡ em
Mặc dù khóa luận đã hoàn thành nhưng không thể tránh khỏi những thiếusót, vì vậy em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp nhiệt thành từ phíacác thầy cô và các bạn để cuốn khóa luận được hoàn chỉnh hơn
Hà Nội, tháng 6 năm 2010 Sinh viên
Phan Xuân Trường
Trang 6
TT Viết tắt Nội dung
1 KTTT Khuyết tật trí tuệ
3 KNTPV Kỹ năng tự phục vụ
4 GDĐB Giáo dục đặc biệt
5 AAMR Hiệp hội khuyết tật trí tuệ Mỹ
6 ABS – S:2 Thang đo hành vi thích ứng
7 DSM - IV Sổ tay chuẩn đoán và thông kê những rối
nhiễu tâm thần IV
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
“ Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng” ( Tuyên ngôn nhân quyền
Mỹ năm 1976) Điều đó có nghĩa là bất kỳ già trẻ, trai, gái, bất kỳ người giàungười nghèo, người có tật hay không có tật, đã là con người là ngay từ khimới sinh ra đều được hưởng quyền bình đẳng: Được chăm sóc, giáo dục, cócác quyền khác và nghĩa vụ như nhau Để đáp ứng nhu cầu của trẻ khuyết tậtnói chung và trẻ Khuyết tật trí tuệ nói riêng, các nước tiến bộ trên thế giớisớm quan tâm đến sự phát triển giáo dục cho trẻ khuyết tật
Ở Việt Nam, công tác giáo dục trẻ khuyết tật ra đời muộn hơn một sốnước phát triển trên thế giới Song, với đường lối đúng đắn, phát huy conngười là nhân tố cơ bản của sự phát triển nhanh chóng và bền vững của xãhội, của đất nước Do đó, Đảng và Nhà nước ta đã dành sự quan tâm, ưu tiêncho trẻ em - thế hệ tương lai của đất nước Cùng với việc xây dựng và triểnkhai vào cuộc sống cộng đồng Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em; Luậtgiáo dục, Pháp lệnh về người tàn tật, nước ta đã xây dựng và triển khaichương trình hành động Quốc gia vì trẻ em nhằm đảm bảo cho trẻ em khuyếttật nói chung và trẻ em Khuyết tật trí tuệ nói riêng cũng được hưởng quyềnlợi chăm sóc, học tập và vui chơi như các trẻ em bình thường khác
Mục tiêu giáo dục cho trẻ khuyết tật nằm trong mục tiêu chung để đàotạo con người trong hệ thống giáo dục quốc gia Theo UNESCO thì mục tiêu
học tập của con người là: “Học để biết, học để làm, học để làm người và học
để cùng chung sống” Để đạt được mục tiêu đó thì cần phải thay đổi quan
điểm giáo dục Tức là giáo dục phải lấy trẻ làm trung tâm và giáo dục phảixuất phát từ khả năng và nhu cầu của trẻ Đối với trẻ khuyết tật, mục tiêu cuốicùng và cốt lõi nhất của giáo dục đó là giúp trẻ có được cuộc sống độc lập đến
Trang 8mức có thể thì trẻ mới tự tin, tránh mặc cảm và tự khẳng định mình trongcuộc sống Như vậy, mục tiêu chung của GDĐB cho trẻ KTTT là dạy nhữngkiến thức văn hoá và kỹ năng liên quan nhằm giúp trẻ sống độc lập ở mức caonhất và có một vị trí xứng đáng trong xã hội Do đó, chương trình học phảibao gồm việc học những kỹ năng sống nhằm tạo cho trẻ cuộc sống tự lập càngsớm càng tốt, giáo dục lao động rất quan trọng đối với mọi trẻ em, trong đógiáo dục lao động tự phục vụ làm nhiệm vụ tối quan trọng của công tácGDĐB.
Một trong những kỹ năng cần được đề cập đầu tiên, cần thiết và quantrọng nhất đó là kỹ năng tự phục vụ KNTPV là mốc đầu tiên đánh dấu sự độclập của một đứa trẻ, trẻ có thể tự phục vụ được bản thân để khẳng định cái
“tôi” của mình Đây là một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời trẻ Đối vớitrẻ KTTT, tự phục vụ được bản thân lại có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với bảnthân trẻ và giảm bớt đi gánh nặng cho gia đình và xã hội
Để đáp ứng mục tiêu giáo dục cho trẻ KTTT theo định hướng củaGDĐB tại Việt Nam, đó là: lĩnh hội kiến thức cần thiết cho cuộc sống của trẻ;rèn luyện kỹ năng cần thiết; thái độ của trẻ đối với thế giới xung quanh thì trẻKTTT cần phải có KNTPV để có thể độc lập ở mức cao nhất
Ở Việt Nam hiện nay, thực tế một số trường đã có chương trình dạy kỹnăng sống, KNTPV và họ đã tiến hành dạy kỹ năng sống, kỹ năng tự phục vụcho trẻ KTTT Song, vấn đề lý luận còn chưa được quan tâm nghiên cứu, córất ít sách, ít tài liệu đề cập tới vấn đề hình thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ.Ngoài ra, một số phụ huynh chưa thấy hết tầm quan trọng và sự cần thiết của
kỹ năng tự phục vụ đối với trẻ KTTT Bố mẹ trẻ nghĩ rằng trẻ không thể tựmình làm được những gì trẻ có thể tự phục vụ bản thân của mình mà luônphải cần sự hỗ trợ, giúp đỡ của người khác Cho nên, một số phụ huynh đãkhông chú trọng đến việc hình thành KNTPV cho trẻ Chính điều này đã làmcản trở đến sự phát triển của trẻ, làm giảm sự tự tin ở bản thân trẻ, dẫn đến trẻ
Trang 9thụ động trong việc thực hiện các hoạt động và thụ động trong việc học các kỹnăng cần thiết đối với bản thân trẻ Dẫn đến trẻ nghĩ mình sẽ chẳng bao giờ cóthể làm được một điều gì.
Số khác phụ huynh thì phó mặc cho giáo viên dạy trẻ, một số ít phụhuynh có quan tâm đến việc hình thành KNTPV cho trẻ nhưng không nhiều
Đa số họ chưa có kiến thức và kỹ năng để có thể dạy KNTPV cho trẻ
Ngoài ra, bản thân tôi là một giáo viên đang trực tiếp làm việc tạiTrung tâm giáo dục trẻ khuyết tật Quảng Trạch, tôi nhận thấy rằng, trongnhững năm qua, Trung tâm tôi ngày càng lớn mạnh không những về số lượng
và chất lượng, đội ngũ giáo viên càng tăng lên, học sinh ngày càng tăng về sốluợng, chất lượng học tập của học sinh cũng có sự chuyển biến rõ rệt Tuynhiên, khó khăn đáng nói ở đây là học sinh KTTT vào Trung tâm một số emrất yếu về khả năng tự phục vụ Vì vậy, song song với việc dạy và học vănhoá thì điều cần thiết và quan trọng nhất là phải hình thành cho các em kỹnăng tự phục vụ, giúp các em tự khẳng định mình và góp phần giảm bớt gánhnặng cho gia đình và xã hội Việc nghiên cứu của chúng tôi nhằm giúp trẻKTTT có thể tham gia vào quá trình lao động tự phục vụ và hình thành những
kỹ năng tự phục vụ cho trẻ
Với tất cả lý do trên chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Một số biện pháp hình thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ Khuyết tật trí tuệ tại trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật Quảng Trạch”.
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
Trang 103.2 Tìm hiểu thực trạng hình thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ KTTT3.3 Đề xuất một số biện pháp hình thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻKTTT và thực nghiệm sử dụng một số biện pháp hình thành KNTPV cho trẻKTTT.
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các biện pháp hình thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ KTTT
4.2 Khách thể nghiên cứu
- Quá trình dạy kỹ năng tự phục vụ cho trẻ KTTT
- Khách thể khảo sát :
+ Học sinh KTTT
+ Giáo viên dạy trẻ KTTT trong trường chuyên biệt
+ Phụ huynh, người chăm sóc học sinh KTTT
5 Giả thuyết khoa học
Trong thực tế hiện nay cha mẹ, giáo viên, nhân viên chăm sóc đã sửdụng một số biện pháp nhằm hình thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ KTTTnhưng chưa hiệu quả, nếu chỉ ra các biện pháp phù hợp sẽ giúp các em hìnhthành kỹ năng một cách tốt hơn
6 Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn địa bàn nghiên cứu:
Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật Quảng Trạch – Quảng Bình
- Đối tượng khảo sát:
Đối tượng khảo sát bao gồm: Giáo viên, nhân viên chăm sóc, phụhuynh, học sinh KTTT tại Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật Quảng Trạch
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Mục đích: Thu thập thông tin về các vấn đề lí luận có liên quan tới đềtài
- Tiến hành: Đọc, phân tích, tổng hợp các thông tin từ sách, tài liệu…
Trang 117.2 Phương pháp quan sát
- Mục đích: Thu thông tin về kỹ năng tự phục vụ của trẻ KTTT
- Tiến hành: Quan sát trẻ thực hiện các kỹ năng tự phục vụ tại trungtâm, quan sát các hoạt động hằng ngày của học sinh KTTT
7.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Mục đích: Thu thập ý kiến từ giáo viên, người chăm sóc, phụ huynhhọc sinh để đánh giá thực trạng việc dạy kỹ năng tự phục vụ cho trẻ KTTT
Thu thập ý kiến của giáo viên, nhân viên chăm sóc, phụ huynh học sinh
về các biện pháp đưa ra
- Phương tiện: Sử dụng phiếu hỏi ý kiến dành cho giáo viên và ngườichăm sóc, phụ huynh học sinh từ đó phân tích các ý kiến thu được
Phân tích kết quả thu được từ phiếu trưng cầu ý kiến
Tổng hợp số liệu trên cơ sở đó rút ra các nhận xét khoa học
7.6 Phương pháp thực nghiệm
- Mục đích chứng minh tính hiệu quả của các biện pháp đưa ra
- Tiến hành: Chọn 2 học sinh KTTT để thực nghiệm
8 Cấu trúc khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo,khoá luận gồm 3 chương
Trang 12CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Lịch sử của vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Trên thế giới
Chương trình giáo dục KNTPV đã được xây dựng và thực hiện cùngvới sự phát triển của công tác giáo dục cho trẻ khuyết tật nói chung và đặcbiệt là trẻ KTTT nói riêng Để tìm hiểu công tác giáo dục KNTPV trên thếgiới, chúng tôi tiến hành nghiên cứu, xem xét chương trình giáo dục KNTPVtại một số quốc gia và nội dung giáo dục KNTPV trong các chương trình canthiệp cho trẻ khuyết tật nói chung và trẻ KTTT nói riêng
Giáo dục KNTPV cho trẻ khuyết tật là một bộ phận của chương trìnhgiáo dục đặc biệt tại các Quốc gia, các quốc gia tùy theo điều kiện hoàn cảnhcủa mình để xây dựng chương trình giảng dạy phù hợp với đối tượng cho trẻ
em KTTT ở Quốc gia mình
Tại Hà Lan, chương trình sử dụng tại các trường chuyên biệt cho trẻKTTT gồm những môn khoa học như ngôn ngữ, làm toán, giáo dục thể chất ,nghệ thuật, định hướng về con người và thế giới trong đó có định hướng vềhành vi và khả năng tự lực
Tại Australia, chương trình giảng dạy đặc biệt sử dụng tại các trườngchuyên biệt cho trẻ KTTT gồm những môn khoa học như: ngôn ngữ, làmtoán, các môn khoa học xã hội và khoa học môi trường, giáo dục môi trường,
Trang 13công nghệ, sức khỏe và môi trường thể chất trong đó có nội dung chăm sócbản thân, gồm các kỹ năng như ăn uống, các kỹ năng mặc và cởi và mặc quần
áo, vệ sinh cá nhân và tắm rửa
Tại Nhật Bản, dựa trên khả năng và nhu cầu của trẻ để đưa ra chươngtrình tổng hợp đối với trường chuyên biệt, ở Nhật giáo dục bắt buộc với họcsinh cấp 2, sau đó học sinh có thể học tiếp lên cấp 3 nhưng mục tiêu chínhvẩn là làm sao cho học sinh KTTT có thể sống độc lập, vì vậy Nhật Bản lànước rất chú trọng tới việc hình thành KNTPV cho trẻ Như vậy, giáo dụcKNTPV là một nội dung quan trọng trong chương trình giáo dục cho trẻKTTT của nhiều Quốc gia, Giáo dục KNTPV cho trẻ KTTT nhằm mục đíchchuẩn bị cho trẻ những kỹ năng cần thiết nhất để trẻ có thể tham gia vào cuộcsống, hoạt động sinh hoạt, lao động, vui chơi giãi trí hằng ngày
Nội dung giáo dục kỹ năng tự phục vụ cũng được thể hiện trong cácchương trình can thiệp, thang đo thích ứng, thang đo phát triển…dành cho trẻ
có nhu cầu đặc biệt, trẻ khuyết tật và trẻ KTTT, trong các chương trình và cácthang đo này, nội dung giáo dục kỹ năng tự phục vụ được đề cập theo lĩnhvực can thiệp, như lĩnh vực kỹ năng cá nhân, kỹ năng sống hoặc các kỹ năng
tự phục vụ
Chương trình từng bước nhỏ một, là một chương trình can thiệp sớmcho trẻ KTTT do trường Đại học Macquarie ở Sydney thực hiện, được tiếnhành từ năm 1974 Chương trình này được xây dựng và được viết thành sáchgồm có 8 quyển trong đó quyển thứ 7 đề cập đến kỹ năng cá nhân và kỹ năng
xã hội Quyển này đã đưa ra những hướng dẫn, cách dạy đối với một số kỹnăng tự phục vụ cho trẻ KTTT có tuổi phát triển từ 0 - 4 tuổi gồm các kỹ năng
ăn uống, cách ăn mặc, cách đi vệ sinh, tắm rửa… Chương trình cũng đưa cácdạy bằng việc phân tích mỗi kỹ năng thành các kỹ năng nhỏ hơn và lần lượtdạy theo chuỗi, giúp trẻ tiếp thu và học dễ dàng hơn
Chương trình Carolina được xây dựng bởi trường Đại học Carolinanước Mỹ vào năm 1986 Ban đầu chương trình dành cho trẻ khuyết tật và kémmay mắn sau đó mở rộng đối tượng là những trẻ có nhu cầu đặc biệt, nội dung
Trang 14của chương trình được chia theo các lĩnh vực phát triển của trẻ: Vận độngtinh, vận động thô, nhận thức, kỹ năng cá nhân và xã hội, các KNTPV được
đề cập đến khá đầy đủ và chi tiết Cũng như từng bước nhỏ một, chương trìnhCarolina cũng đưa ra các hướng dẫn đối việc dạy các kỹ năng cho trẻ KTTT,trong đó có KNTPV
Thang đo hành vi thích ứng ABS – S : 2 Thang đo ABS – S:2 đượcxây dựng bởi hiệp hội KTTT Mỹ Trong thang đo này, KNTPV được đề cặpđến trong lĩnh vực hoạt động học tập, bao gồm các nội dung như ăn uống, sửdụng nhà vệ sinh, mặc cởi quần áo, đi lại và các hoạt động khác
Chương trình giáo dục sớm Portage dành cho trẻ 0-6 tuổi bao gồm bảngkiểm tra chương trình giáo dục sớm Portage được kết hợp chặt chẽ với bảngkiểm tra ngôn ngữ Wessex đã được điều chỉnh Bảng bao gồm 624 hành vi,được chia thành 6 lĩnh vực phát triển: Sự kích thích ẫm ngữa, tự phục vụ, vậnđộng, hòa nhập xã hội, nhận thức và ngôn ngữ Các kỹ năng thuộc 6 lĩnh vựcđược sắp xếp theo một trình tự phát triển riêng với kỹ năng tự phục vụ baogồm các nội dung như: Ăn uống, đi vệ sinh, tắm rửa…
Như vậy chương trình giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ KTTT đãđược rất nhiều quốc gia quan tâm và xây dựng, điều đó chứng tỏ rằng, đây làmột nội dung quan trọng với trẻ KTTT
1.1.2 Tại Việt Nam
Giáo dục cho trẻ khuyết tật bắt đầu từ thế kỷ XIX Ban đầu là nhữngchương trình dành cho trẻ khuyết tật về thính giác và thị giác, công tác giáodục cho trẻ KTTT được tiến hành muộn hơn Trong những năm gần đây, côngtác giáo dục cho trẻ KTTT ngày càng được quan tâm hơn, các trung tâm giáodục tiếp nhận cho trẻ KTTT ngày càng được tăng lên
Các cơ sở giáo dục cũng đã tiến hành triển khai nội dung giáo dục kỹnăng tự phục vụ cho trẻ KTTT bên cạnh các nội dung giáo dục khác
Chương trình GDĐB dựa trên thang PAC của trường Hoa Phong Lan –
Đà Lạt Là biểu đồ đánh giá bước tiến của sự phát triển cá nhân và xã hội Với
Trang 15mục đích dạy kỹ năng sống trong đó có kỹ năng tự phục vụ nhằm giúp trẻ tựlập ở mức cao nhất trong khả năng có thể Thang đo này đã được sửa đổi chophù hợp với hoàn cảnh Việt nam từ mẫu PAC 1 là một trong 8 mẫu củaH.C.GUNZBURG tái bản lần thứ 14 năm 1975 Mẫu PAC là một trong 8 mẫuPAC dành cho trẻ KTTT tuổi học đường Thang đo này gồm 2 phần: Đánhgiá xã hội và đánh giá cá nhân Trong đó đánh giá xã hội bao gồm 4 phần: Kỹnăng tự lực, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xã hội, kỹ năng nghề nghiệp, đánh giá
cá nhân được chia làm 13 phần bao gồm tự chăm sóc, thích nghi, liên hệ xãhội, tính dục, xã giao, tin cậy, tính thật thà, đối xử, bạn bè, hợp tác, nghềnghiệp, chế ngự
Chương trình giáo dục chức năng của trường Tương Lai – Cần Thơ cómục đích là đáp ứng 2 nguyên tắc cơ bản: dạy các kỹ năng cần thiết để trẻ cóthể tự thực hiện khi lớn lên và dạy các kỹ năng phù hợp với điều kiện sốngthật trong cộng đồng, để đảm những nguyên tắc này, chương trình giáo dụctập trung vào 7 lĩnh vực:
- Vệ sinh(đi vệ sinh, chăm sóc cơ thể, vệ sinh môi trường…)
- Ăn và uống(Các kỹ năng ăn uống cơ bản, dọn bàn, nấu ăn…)
- Di chuyển(đi bộ, sử dụng các phương tiện giao thông, an toàn giaothông )
- Trang phục(các kỹ năng cơ bản như mặc và cơi quần áo, giặt quầnáo…)
- Giãi trí: Xem phim, nghe hát, tham quan, tham gia trò chơi
- Về thủ công/nghề: Sử dụng các công cụ hằng ngày(kéo, búa,cưa…)làm thủ công
- Thể dục – thể thao – sức khỏe – giới tính – an toàn
Chương trình giáo dục khá phong phú trong đó rất nhiều kỹ năng tựphục vụ được đưa vào giáo dục trẻ KTTT giúp các em có thêm nhiều kỹ nănghơn để có thể sống độc lập trong cộng đồng
Chương trình GD ĐB dưạ trên một phần thang đo hành vi thích ứngABS – S:2 của trường Thánh mẫu – Sài gòn Trường có quan điểm “Trường
Trang 16học là nơi vui vẻ” do vậy các trẻ rất thích đến trường Tại trường, giáo viên tổchức các hoạt động tập thể cho trẻ tham gia, tập cho các trẻ tự lập đến mức tối
đa, tạo sự tự tin cho trẻ - tự làm được mà không cần giúp đỡ từ người khác,trường có các hoạt động lao động hướng nghiệp như nấu ăn, tập sử dụng máy
vi tính…
Chương trình giáo dục môn “kỹ năng tự lập” của trường Tiểu học BìnhMinh- Hà Nội có sử dụng thang PAC để đánh giá trẻ, sau đó dựa trên khảnăng và nhu cầu của trẻ, trường sẻ dạy kỹ năng tự lập cho trẻ KTTT dựa trên
5 nguyên tắc:
- Dạy những điều thiết thực với trẻ
- Dạy với tốc độ chậm và nâng cao dần
- Dạy theo khả năng của trẻ
- Dựa vào đặc điểm tâm sinh lý của trẻ KTTT
- Dựa vào yêu cầu và đòi hỏi của xã hội
Những trẻ KTTT sau khi học tại trường Bình Minh, nhờ có định hướnggiáo dục đúng đắn và những bài học kỹ năng tự lập mà các trẻ đã có khả năngsống tự lập, sau khi ra trường nhiều em có thể tự lao động kiếm sống, một sốkhác có thể tham gia phụ giúp gia đình
Tài liệu phục hồi chức năng cho trẻ KTTT, ban biên soạn tài liệu phụchồi chức năng dựa vào cộng đồng, biên soạn tài liệu phục hồi chức năng dựavào cộng đồng được triển khai từ năm 1987, với sự tham gia xây dựng củacác chuyên gia đầu ngành và các chuyên gia nước ngoài, đối tượng sử dụngtài liệu này là cán bộ cán bộ phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng, các cộngtác viên phục hồi chức năng, nội dung cuốn sách báo gồm những kiến thức cơbản về khái niệm, triệu chứng, cách phát hiện các biện pháp chăm sóc vàPHCN cho trẻ KTTT, ngoài ra tài liệu cũng cung cấp một số thông tin cơ bản
về những nơi có thể cung cấp một số dịch vụ cần thiết mà gia đình trẻ có thểtham khảo
Ngoài các chương trình giáo dục của các trường nêu ở trên thì việc dạy
Trang 17KNTPV còn được đề cập trong một số nghiên cứu, tiêu biểu là các nghiên cứu:
Tác giả Nguyễn Thị Hạnh với đề tài “Hình thành kỹ năng tự phục vụcho trẻ KTTT trường tiểu học Bình Minh – Hà Nội” Trong đề tài, tác giả đã
đề cập khá đầy đủ những khía cạnh liên quan tới hình thành KNTPV cho trẻKTTT và tác giả đã tiến hành hình thành kỹ năng tự đánh răng cho 2 trẻKTTT trường tiểu học Bình Minh Tác giả cũng đã đề cập tới một kế hoạch
cụ thể để dạy kỹ năng này cho các em như soạn giáo án, chuẩn bị đồ dùng dạyhọc, phương pháp dạy học chủ yếu là làm mẫu, hướng dẩn, …
Tác giả Hoàng Thị Môn với đề tài “ Xây dựng kế hoạch giáo dục cánhân cho trẻ Down tại gia đình” Trong kế hoạch đó, phải đưa ra những mụctiêu dài hạn và mục tiêu ngắn hạn phù hợp với mỗi trẻ Tác giả đã chỉ ra trongmôi trường gia đình, cần tập trung vào các kỹ năng như kỹ năng tự chăm sóc,
kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xã hội, kỹ năng nghề nghiệp, riêng kỹ năng tựchăm sóc bao gồm một số nội dung như: ăn uống, đi vệ sinh, cởi mặc quần
áo, đi lại… Đây là nhóm kỹ năng rất được tác giả chú trọng để xây dựng kếhoạch giáo dục cá nhân tại nhà Với việc xây dựng đề tài này đã đem lại nhiềulợi ích cho gia đình trong giáo dục trẻ Down Với các nội dung cần dạy chúngtôi nhận thấy tác giả nêu khá đầy đủ trong đề tài cập nhật sâu đến kỹ năng tựphục vụ
Tác giả Nguyễn Thị Hoa với đề tài “ Tìm hiểu các yếu tố tác động lênhiệu quả hình thành kỹ năng cá nhân - xã hội cho trẻ KTTT trong giáo dục laođộng tự phục vụ nấu ăn” Đề tài nhấn mạnh vai trò giáo dục lao động tự phục
vụ, tác giả đã tiến hành một số giờ dạy trẻ kỹ năng qua hình thành KNTPVcho trẻ KTTT….Đề tài đã có những đóng góp nhất định cho công tác giáo dụcKNTPV cho trẻ KTTT
Tác giả Phạm Huyền Thanh với đề tài “ Sử dụng phương pháp xâuchuỗi trong dạy kỹ năng tự phục cho trẻ KTTT” trong đề tài tác giả đã đề cậpkhá nhiều nội dung liên quan đến trẻ hình thành KNTPV cho trẻ KTTT vàviệc sử dụng phương pháp dạy học xâu chuỗi trong dạy KNTPV cho trẻ
Trang 18KTTT góp phần rất lớn rất lớn trong việc hình KNTPV cho trẻ Tác giả đãtiến hành thử nghiệm trên 2 trẻ KTTT và kết quả và đạt kết quả khá tốt, trẻ cónhiều tiến bộ khi sử dụng phương pháp xâu chuỗi…
Tóm lại, lĩnh vực giáo dục KNTPV đã được các chuyên gia, các nhàgiáo dục, những người liên quan đến GDĐB cho trẻ KTTT rất quan tâm,những chương trình giáo dục đề cập đến việc dạy KNTPV cho trẻ KTTT cónội dung hết sức đa dạng, phong phú, các phương pháp dạy KNTPV cũngđược nhắc đến như làm mẫu, hướng dẫn, sử dụng đồ vật trực quan, chia nhỏnhiệm vụ…
1.2 Những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
1.2.1 Khuyết tật trí tuệ
1.2.1.1 Khái niệm Khuyết tật trí tuệ
Ở nước ta những trẻ KTTT trước đây thường gọi là “ trẻ chậm khôn”thuật ngữ này cũng lần đầu tiên sử dụng tại trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻcủa cố bác sĩ Nguyễn Khắc Viện Thuật ngữ “ Chậm phát triển tâm thần”cũng được sử dụng trong nhiều tài liệu tiếng Anh và tiếng Việt
Trên thế giới đang sử dụng phổ biến thuật ngữ “ Mental Rertardation” dohiệp hội KTTT trí tuệ Mỹ (AAMR) lựa chọn và “Intellectual Disability” do tổchức nghiên cứu khoa học quốc tế về KTTT (IASSSID) lựa chọn Những nămgần đây người ta sử dụng thuật ngữ khuyết tật trí tuệ ( Intellectual disability) vàkhuyết tật phát triển trí tuệ ( Tại Việt nam đang sử dụng khá phổ biến thuật ngữ
“ Khuyết tật trí tuệ” Vậy “Khuyết tật trí tuệ là gì”?
Có nhiều khái niệm khác nhau về KTTT nhưng tới nay, các chuyên gia,giáo viên và những người có liên quan đến công tác giáo dục trẻ KTTT đang
sử dụng khá phổ biến khái niệm về KTTT theo AAMR (2002), khái niệmđược đề cập như sau:
KTTT là loại khuyết tật được xác định bởi những hạn chế đáng kể vềnhững hoạt động trí tuệ và hành vi thích ứng thể hiện ở các kỹ năng nhậnthức, xã hội và kỹ năng thích ứng thực tế, khuyết tật xuất hiện trước 18 tuổi
Trang 19Tiêu chuẩn chẩn đoán KTTT: Theo DSM – IV, tiêu chuẩn chẩn đoánKTTT bao gồm:
A Chức năng trí tuệ dưới mức trung bình, chỉ số trí tuệ đạt gần 70 hoặcthấp hơn 70 trên một lần thực hiện trắc nghiệm cá nhân ( đối với trẻ nhỏngười ta dựa vào các đánh giá lâm sàng để xác định )
B Bị thiếu hụt hoặc khiếm khuyết ít nhất là 2 trong số 10 lĩnh vực sauđây được coi là quan trọng để chẩn đoán KTTT: Giao tiếp, tự chăm sóc, cuộcsống gia đình, kỹ năng xã hội, sử dụng tiện ích tại cộng đồng, sức khoẻ và độ
an toàn, học tập, giải trí và lao động
C Hiện tượng KTTT xuất hiện trước 18 tuổi
Theo DSM – IV, Đặc điểm cơ bản của khuyết tật là hoạt động trí tuệdưới mức trung bình ( Tiêu chí A), bị hạn chế đáng kể về ít nhất 2 trong sốnhững lĩnh vực hành vi thích ứng đã đề cập, (tiêu chí B), khuyết tật xuất hiệntrước 18 tuổi(Tiêu chí C)
1.2.1.2 Nguyên nhân dẫn đến KTTT
Một câu hỏi thường trực cho tất cả các bậc phụ huynh và những ai làmviệc trực tiếp với trẻ KTTT là: Nguyên nhân nào dẫn đến đứa trẻ KTTT? Córất nhiều nguyên nhân dẫn đến KTTT Đây là vấn đề khoa học chưa giải đápđược rõ ràng, tuy nhiên các chuyên gia đã thống nhất các nguyên nhân gây raKTTT bao gồm những nhóm nguyên nhân sau:
* Nhóm nguyên nhân từ tác nhân bên trong:
- Nguyên nhân trước khi sinh
+ Do các nguyên tố nội sinh
Lỗi nhiễm sắc thể (NST): gây một số hội chứng Down, Turner,Criduchat Đây là nguyên nhân phổ biến gây KTTT Với những trẻ mắc phảihội chứng này người ta có thể quan sát được những rối loạn bên ngoài
Lỗi gen: Gây bệnh PKU, san filippo, u xơ dạng củ, hội chứng Rett, hộichứng Williams Beuren, hội chứng Angelman và Prader Willy
Rối loạn do nhiều yếu tố: Nứt đốt sống, thiếu một phần não, tràn dịchmàng não, đầu nhỏ, rối loạn chức năng tuyến giáp…
Trang 20+ Do các yếu tố ngoại sinh
Lây nhiễm: Sởi đức (rubella), nhiễm Toxoplasmosis, Cytomegalie,giang mai, HIV
Nhiễm độc: Một số dược phẩm do người mẹ dùng như thuốc chốngđộng kinh, chất rượu cồn, do chụp tia X, chất độc da cam, kháng thể Rhesus,
Suy dinh dưỡng ở người mẹ hoặc do thiếu i ốt trong thức ăn hay nướcuống…
- Nguyên nhân trong khi sinh
+ Thiếu Oxy: Những vấn đề do nhau thai, thời gian sinh quá lâu, trẻkhông thở hoặc không khóc ngay sau sinh
+ Tổn thương sau khi sinh: tổn thương não hoặc chảy máu não do mẹ
đẻ khó (dùng kẹp Focxep để kéo đầu trẻ)
+ Lây nhiễm: Virut Herpes hoặc giang mai
+ Đẻ non hoặc thiếu cân
- Nguyên nhân sau khi sinh
+ Viêm nhiễm : Viêm màng não gây ra do bệnh sởi, ho gà, quai bị, thủyđậu và lao phổi
+ Tổn thương : Tổn thương não do chấn thương đầu nghiêm trọng hoặc
do ngạt
+ U não : Tổn thương do khối u hoặc do các liệu pháp y học như phẫuthuật, sử dụng tia X hoặc dùng hóa chất hay chích máu
+ Nhiễm độc : Nhiễm độc chì, thủy ngân…
* Nhóm nguyên nhân do các tác nhân bên ngoài
Môi trường xã hội cũng là một nguyên nhân có thể gây KTTT Dướiđây là một số yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của đứa trẻ :
- Không được chăm sóc về mặt y tế và thể chất ( như thiếu dinh dưỡng,không được tiêm phòng đầy đủ…)
- Thiếu thốn về mặt tâm lý xã hội( thiếu sự chăm sóc nhạy cảm, khôngđược kích thích để trải nghiệm và khám phá, bị bỏ rơi hoặc bị lạm dụng….)
Trang 21- Ít có cơ hội đến trường.
1.2.1.3 Phân loại mức độ KTTT
Về phân loại mức độ KTTT cũng có nhiều cách phân loại khác nhau, ởnước ta hiện nay các nhà chuyên gia, các giáo viên, và các cán bộ nghiên cứuđang làm trong lĩnh vực GDĐB sử dụng khá phổ biến cách phân loại mức độKTTT theo DSM – IV Chỉ số thông minh IQ được dùng làm tiêu chí phânloại KTTT
Theo bảng phân loại DSM-IV có 4 mức độ KTTT như sau:
1.2.1.4 Một số đặc điểm tâm lý của trẻ KTTT
Đặc điểm cảm giác – tri giác
Cảm giác tri giác là hai quá trình tâm lý của nhận thức cảm tính Cảmgiác phản ánh một cách riêng lẻ từng thuộc tính của sự vật, hiện tượng khichúng đang trực tiếp tác động vào giác quan của chúng ta Tri giác là mộtmức độ cao hơn của nhận thức cảm tính, nó phản ánh một cách trọn vẹn các
sự vật, hiện tượng khi chúng đang trực tiếp vào giác quan của chúng ta
Ở trẻ KTTT, các quá trình tri giác là sự hạn chế đáng kể khối lượngcác tư liệu lĩnh hội được Sự hạn chế của tri giác đã cản trở đến khả năng địnhhướng của trẻ trong các tình huống mới lạ
Một số điểm yếu nổi bật về cảm giác, tri giác của trẻ KTTT đó là: Nhịp
độ tri giác chậm, thiếu nhanh nhạy, kém khả năng định hướng, thị trường thịgiác hạn chế Do vậy, trẻ gặp rất nhiều khó khăn trong học tập và tiếp thu kiếnthức mới Việc rèn luyện khả năng tri giác cho trẻ cần được thực hiện ngay
Trang 22khi trẻ còn chưa được dạy đọc, dạy viết và có kỹ năng khác trong đó cóKNTPV
Đặc điểm của tư duy
Tư duy là hình thức của con người, phản ánh và nhận thức thực tạikhách quan, xác định mối quan hệ bên trong của các sự vật và hiện tượng thếgiới xung quanh Tư duy cho khả năng nhận thức bản chất vật thể và hiệntượng, nhờ tư duy con người tiên đoán trước được kết của hành động, thựchiện những hành động sáng tạo
Ở trẻ KTTT, tư duy phát triển ở mức độ thấp, khả năng cảm giác, trigiác, chú ý và trí nhớ kém vì vậy tư duy bị hạn chế Trẻ rất khó khi phải tậptrung vào một công việc nào đó, nếu trẻ bình thường hiểu và thực hiện nhữnghoạt động đơn giản, dễ dàng, tốn ít thời gian và chúng thường dành thời giantập trung vào các hoạt động phức tạp thì ngược lại trẻ KTTT có thể tốn thờigian cho hoạt động đơn giản Trẻ chủ yếu sử dụng tư duy cụ thể, rất kém vềkhái quát hóa và suy luận
Khi có quá nhiều hành động xẩy ra hoặc sự kiện xẩy ra cùng lúc trẻ khôngbiết tập trung vào vấn đề chính để giãi quyết, mặc khác do thể lực của trẻ KTTTyếu nên trẻ thường nhanh chóng mệt mỏi dẩn đến quá trình tư duy thiếu liên tục,giải quyết các bài tập thường thiếu suy nghĩ kỹ lưỡng, không thấy được kết quảcủa hành động đó là do trẻ thiếu tính chất phê phán trong tư duy
Căn cứ vào những đặc điểm tư duy của trẻ KTTT nên khi xây dựng,thiết kế những nội dung dạy KNTPV, giáo viên cần tuân theo một số nguyêntắc sau:
Đi từ đơn giản đến phức tạp: Dạy trẻ những KNTPV ở mức đơn giảnnhất, khi trẻ tiến bộ lúc đó nâng cao KNTPV cần dạy, ví dụ: khi ta dạy trẻmặc áo phông, đầu tiên cầm áo, chui đầu qua cổ áo, cho 1 tay vào áo, cho taycòn lại vào, cuối cùng kéo áo xuống,…
Khi trẻ đã hiểu và nắm được kiến thức cũ thì mới dạy kiến thức mới
Trang 23đây là điều mà nhiều giáo viên không để ý, trong dạy trẻ KTTT chỉ khi trẻ đãthực sự hiểu và nắm rõ về kiến thức thì lúc đó ta mới chuyển sang kiến thứckhác, kiến thức cũ chính là nên tảng của kiến thức mới được dễ dàng hơn, ví
dụ khi ta dạy trẻ mặc áo phông sáu đó dạy trẻ chuyển qua mặc áo len có kiểudáng tương tự được đã dễ dàng hơn Chẳng hạn, chúng ta sẻ dạy trẻ biết tựmặc quần không có khóa kéo thành thạo, sau đó khi trẻ đã nắm vững kỹ năngmặc quần ta sẽ chuyễn sang dạy kỹ năng mặc quần mới và khó hơn đó là mặcquần có khóa kéo
Cần dạy trẻ những nội dung gần gũi, sát với cuộc sống hằng ngày đóchính là việc chọn dạy những KNTPV thực sự cần thiết và gần gũi với trẻKTTT, trẻ có nhiều cơ hội để thực hiện trong cuộc sống hằng ngày
Bên cạnh việc sử dụng đồ dùng trực quan sing động, hấp dẫn minh họacho bài học thì giáo viên cần mở rộng, khái quát hóa giúp trẻ phát triển tư duytrừu tượng Đây là điều đáng chú ý vì khi chúng ta qua lạm dụng các đồ dùngtrực quan để dạy mà không có sự khái quát hóa kiến thức điều này sẽ gópphần làm cho tư duy trừu tượng của trẻ kém đi Ví dụ: Khi dạy trẻ đánh răng,chúng ta không nên sử dụng một loại loại bàn chải mà nên sử dụng nhiều loạibàn chải khác nhau (hình dạng, kích thước, màu sắc…) giúp trẻ có kỹ năngđánh răng thành thạo và tăng khả năng khái quát hóa giúp trẻ trong việc học
Trang 24hình hay một số hình ảnh hay nghe giáo viên hướng dẫn.
Khả năng ghi nhớ máy móc của trẻ tốt hơn ghi nhớ ý nghĩa Trẻ thườngnhớ các sự kiện, đồ vật, các kiến thức theo cách học vẹt, hiểu bề ngoài chứkhông phải ghi nhớ theo nội dung, bản chất do các em ít phân tích thông tin
Ghi nhớ trực tiếp tốt hơn ghi nhớ gián tiếp, ghi nhớ trực tiếp là cách ghinhớ không qua mã hóa hay biểu tượng, còn ghi nhớ gián tiếp là hình thức ghinhớ thông qua mã hóa, biểu tượng, trẻ KTTT thường không thể mã hóa thôngtin tốt và cũng không biết các ký hiệu mã hóa
Trẻ KTTT thường có động cơ học tập rất thấp nên việc ghi nhớ có chủđịnh không tốt hơn so với tương quan ghi nhớ không chủ định
Có thể nhận thấy rằng: Khả năng nhớ của trẻ KTTT rất hạn chế Dovậy, phát triển trí tuệ và khắc phục trí nhớ và khắc phục sự quên cho trẻKTTT không hề đơn giản Trong quá trình dạy kỹ năng tự phục vụ muốn làmtăng khả năng nhớ của các em, chúng ta có thể áp dụng một số biện pháp sau:
Tăng cường sự chú ý của học sinh: Trẻ KTTT luôn có vần đề về sự chú
ý, vì vậy trong khi dạy KNTPV giáo viên cần tạo hứng thú cho trẻ tập trungvào bài học và nhớ bài tốt hơn
Sử dụng nhiều đồ dùng trực quan, đa dạng: Đây là biện pháp quantrọng để tăng khả năng nhớ cho trẻ KTTT vì trẻ khó nhớ nếu giáo viên dạy trẻ
mà chỉ dùng lời Ví dụ: Khi dạy kỹ năng đánh răng giáo viên ngoài việc đưa
ra hình ảnh còn phải cho trẻ thực hành đánh răng…
Giải thích kết hợp sử dụng đồ dùng trực quan minh họa: song song vớiviệc định hướng dẫn bằng lời từng bước đánh răng, giáo viên có thể đưa racác bức tranh tương ứng, để trẻ có thể hiểu rõ hơn…
Thường xuyên củng cố, ôn tập, luyện tập, thực hành, trẻ không thể thựchiện thành thạo một kỹ năng nếu không có nhiều cơ hội được củng cố, luyệntập Nếu ta dạy trẻ một kỹ năng tự phục vụ trong tiết cá nhân, như vậy chưa
đủ mà cần tạo nhiều cơ hội để trẻ được học, thực hành kỹ năng đó tại nhữngmôi trường, hoàn cảnh khác nhau, sát với thực tế
Trang 25Một điều giáo viên cần lưu ý là luôn tạo tâm thế thoải mái, vui vẻ, hứngthú cho trẻ KTTT, tránh để trẻ rơi vào tình trạng buồn chán nản…Như vậy sẻtạo thuận lợi cho việc ghi nhớ của trẻ.
Đặc điểm chú ý
Qua các công trình nghiên cứu tâm lý đã đưa ra nhận xét chung về đặcđiểm chú ý của trẻ KTTT đó là: Kém bền vững, không tập trung và luôn phântán Nguyên nhân do các quá trình hưng phấn và ức chế ở trẻ không cân bằng,
bị lệch pha, Nghĩa là có khi hứng phấn quá gia tăng, có khi ức chế kìm hãmkéo dài làm cho trẻ chóng mệt mỏi và mất khả năng chú ý, trẻ bị hưng phấnquá mức thường có hành vi quậy phá dẩn đến không tập trung chú ý, trẻ bị ứcchế kìm hãm quá mức sinh ra lầm lỳ dẫn đến phân tán chú ý
Trẻ KTTT có đỉnh cao chú ý và thời gian chú ý kém hơn nhiều so vớitrẻ bình thường, hàng ngày trẻ KTTT cùng trẻ bình thường có một thời điểmđạt tới đỉnh cao của sự chú ý, lúc đó con người đạt hiệu quả cao trong laođộng, học tập Vì vậy trong quá trình dạy học giáo viên cần biết tận dụngkhoảng khắc, thời điểm mà trẻ có đỉnh cao chú ý để truyền đạt kiến thức chotrẻ có hiệu quả
Cần tạo môi trường học tập thuận lợi, tạo tâm thế thoải mái cho trẻ vàohọc là điều hết sức quan trọng, tránh gây căng thẳng thần kinh trước khi vàohọc, dẫn trẻ vào học thoải mái sát với trình độ trẻ, gây hứng thú tập trung chotrẻ vào bài học mới, đó là điều kiện cho trẻ hình thành đỉnh cao của chú ý
Từ những đặc điểm về chú ý của trẻ KTTT trong quá trình dạy họcKNTPV giáo viên cần biết tận dụng những thời điểm mà trẻ có sự tập trungcao nhất để dạy trẻ, trẻ sẽ tiếp thu bài học nhanh và nhớ lâu hơn, đồng thờitrong quá trình dạy học cần tạo tâm thế thoải cho trẻ, trẻ sẽ tiếp thu bài học dễdàng hơn, điều này biểu hiện ở việc giáo viên biết tận dụng cơ hội để dạy trẻmột cách tự nhiên, không gò ép (ví dụ: khi đang học bài trẻ thích vẽ chúng tachuyển sang cho trẻ tập tô màu)
Đặc điểm ngôn ngữ
Trang 26Ngôn ngữ là quá trình mỗi cá nhân sử dụng một thứ tiếng nào đó đểgiao tiếp, qua các công trình nghiên cứu, các nhà tâm lý kết luận rằng ngônngữ của trẻ KTTT chậm phát triển hơn trẻ bình thường cùng độ tuổi Khi đếntuổi đến trường trẻ em KTTT có vốn từ nghèo nàn hơn, các em ít dùng nhữngcâu phức tạp, câu có liên từ, khó khăn trong việc sử dụng ngôn ngữ để diễn tả
ý kiến bản thân và hay trả lời trống không, học sinh KTTT thường không hiểunhững từ ngữ có tính chất trừu tượng ( lòng tốt, dũng cảm, cô đơn…), khóhiểu những yêu cầu chưa nhiều nhiệm vụ, ví dụ: em đi lại bàn lấy bút và vởmang lại đây và viết bài tập cho thầy)
Các công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học Nga như R.luria,Cononova, G.M Đunhêp… đã khẳng định rằng vốn từ của học sinh KTTTnghèo nàn hơn rất nhiều so với trẻ bình thường cùng tuổi, sự khác nhau giữanhững từ tích cực và tiêu cực tồn tại ở trẻ em KTTT với mức độ đặc biệt lớntrong đó các từ tiêu cực chiếm đa số, số từ tích cực rất hạn chế Các em ít sửdụng tính từ, động từ và liên từ Hơn nữa vốn từ mà học sinh mà học sinh KTTT
có được phải mất một thời gian dài đến hoàn thiện để ý nghĩa Điều này cũng có
cả ở trẻ bình thường, tuy nhiên ở trẻ KTTT quá trình chuyển từ tên riêng đếnkhái niệm được hoàn thiện lâu và khó hơn nhiều so với trẻ bình thường
Hệ thống ngữ pháp ở trẻ KTTT cũng rất khó hoàn thiện Những câu nóicủa chúng thường rất đơn giản, ít sử dụng mệnh đề phụ và rất khó khăn trongviệc lựa chọn từ thể hiện ý nghĩa, có sắc thái khác nhau, ngôn ngữ của trẻchắp vá không nêu được nội dung ý nghĩa, do vậy muốn biết ý nghĩa của trẻphải hiểu tâm trạng của các em
Ngôn ngữ như người ta nói chính là vỏ bọc, là biểu hiện bên ngoài của
tư duy Trẻ KTTT có rất nhiều khiếm khuyết về ngôn ngữ, vì vậy lĩnh vựcnày đã ảnh hưởng rất lớn đến các lĩnh vực khác nói chung và lĩnh vực tự phục
vụ nói riêng Trong quá trình học KNTPV giáo viên, cha mẹ hoặc người chămsóc sẽ sử dụng những lời hướng dẫn, nếu em không hiểu những lời hướng dẫnnày em khó có thể thực hiện các động tác đúng theo yêu cầu dễ dẩn đến nảnchí, không muốn học kỹ năng, hiểu những khó khăn về ngôn ngữ nên trong
Trang 27quá trình dạy trẻ học KNTPV cần lưu ý: sử dụng những câu hướng dẫn đơngiản, từ ngữ ngắn ngọn, cụ thể, tránh dùng những câu dài, phức tạp, chứa các
từ trựu tượng gây khó khăn cho quá trình hiểu của các em
Đặc điểm tình cảm – xã hội
Theo các nghiên cứu cho thấy các giai đoạn phát triển tình cảm xã hộicủa trẻ KTTT chậm hơn so với trẻ bình thường, vì vậy có thể thấy các giaiđoạn phát triển này không theo đúng độ tuổi của trẻ, tùy từng trẻ KTTT cónhững biểu hiện này không theo đúng độ tuổi của trẻ, tùy từng trẻ KTTT cónhững biểu hiện phát triển tình cảm thuộc các giai đoạn mà Mahler đã đưa ra,chẳng hạn trẻ KTTT có tuổi thực là 4 tuổi những thực sự tuổi phát triển củatrẻ mới bằng trẻ 6-18 tháng tuổi
Bảng 1 Mahler – Các giai đoạn phát triển tình cảm – xã hội
Các giai đoạn Phát triển tình cảm Phát triển xã hội
Thích nghi thứ nhất
(0-6 tháng)
Điều chỉnh theo cấu trúckhông gian và nhịp điềuthời gian trong ngày
Tương tác ngày càng tăng vớimôi trường xã hội
Bắt đầu gắn kết với xung quanh
Xã hội hóa thứ nhất
( 6 – 18 tháng)
Phân biệt và phát triểncác phần của cơ thể Không thích người lạDùng các đồ vật trunggian
Gắn kết ban đầu theo nhữngngười nhất định
Có thứ tự trong gắn bó trong tìnhcảm với những người khác nhauPhản đối việc bị bỏ rơi
Bắt đầu quan hệ với bạn bècùng tuổi
Trêu đùa chọc tức người khác là một trong những cách trẻ tìm hiểu thếgiới và xã hội và những giới hạn của giao tiếp xã hội, trẻ KTTT ở giai đoạn
16 - 24 tháng tuổi chưa có những biểu hiện này, trẻ thể hiện nó ở độ tuổi lớnhơn, sự phát triển tình cảm xã hội ở trẻ chậm hơn so với trẻ bình thường Vìthế cha mẹ, giáo viên cần đặc biệt lưu ý không nên nghĩ trẻ hư, quậy phá mà
Trang 28nên có cách phản ứng hợp lý nhằm giúp trẻ hiểu được phương thức giao tiếpđúng mực.
Trẻ KTTT kém nhạy cảm trong nắm bắt thái độ của người xung quanh,trẻ bộc lộ sự đồng cảm của mình một cách rất trẻ con, chỉ như là trẻ 12-18tháng, do vậy trong công tác chăm sóc và giáo dục cần dạy trẻ biết cách nhậnbiết cảm xúc của người xung quanh, khuyết khích sự đồng cảm và sẻ chia,dạy trẻ các tình huống thể hiện sự đồng cảm của bản thân với các trạng tháicảm xúc của người đối diện
Trẻ khó có thể hiểu được các suy nghĩ biểu hiện ra ngoài, do vậy trẻkhó khăn trong việc đoán biết ý định của người khác để có những phươngthức cũng như hành động phù hợp trong giao tiếp, với đặc điểm này, ta cũngcần dạy trẻ nhận biết tình huống và cách đối phó
Sự phát triển tình cảm – xã hội cũng có ảnh hưởng lớn đến sự phát triểnchung của cá thể đó, đo đó một đưa trẻ gặp nhiều khó khăn ở lĩnh vực nàycũng sẽ chi phối các lĩnh vực khác Chẳng hạn với một trẻ KTTT có khó khăn
về tình cảm xã hội, em hay u rủ sống khép kín, ít giao tiếp với bạn bè, tránhviệc tiếp với người lạ thì việc dạy kỹ năng TPV sẽ khó khăn hơn
Đặc điểm hành vi
Hành vi là cách thức biểu hiện ra bên ngoài của mỗi cá thể đối với cáckích thích trong hệ thống các hành vi của con người Tùy vào nhu cầu phântích các nhà nghiên cứu có thể chia thành các nhóm khác nhau Trong GDĐBkhi nghiên cứu về các hành vi của trẻ khuyết tật các nhà nghiên cứu thườngchia ra thành 2 nhóm: Hành vi bình thường và hành vi bất thường Hành vibất thường ở trẻ khuyết tật chính là trọng tâm nghiên cứu của các nhà khoahọc và những thành tựu của nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với giáoviên trong quản lý hành vi của trẻ
Ở trẻ KTTT, hành vi bất thường được chia làm 2 loại: Hành vi hướngnội và hành vi hướng ngoại Với loại thứ nhất, trẻ bộc lộ là những đưa trẻ thumình, sống khép kín ít giao tiếp với người xung quang, tự xâm hại bản thân…
Với loại thứ 2, trẻ thường biểu hiện là những trẻ hiếu động , tăng động
Trang 29giảm chú ý, dễ phà phách, dễ bị kích động….
Một số trẻ có hành vi xâm hại là một loại hành vi đặc biệt, hay gặp vàrất cần chú ý, với những trẻ có hành vi xâm hại thường là những trẻ có cảmgiác dưới ngưỡng( Các kích thích bình thường là quá yếu với trẻ) do vậy trẻhay tự cắn, cấu, giật tóc, hay đập đầu vào tường….mà không thấy đau Một sốtrường hợp có thể mang bênh lý
Co mình là một loại hành vi hướng nội điển hình ở trẻ KTTT, một sốtrẻ ban đầu do tự ti vì kém bạn bè, có thể ít giao tiếp với người khác dẩn tới
xu hướng cô lập tránh tiếp xúc Biểu hiện co mình thấy ở trẻ tự Kỷ, ở nhữngtrẻ này giao tiếp mắt kém, một số trường hợp không có ngôn ngữ, …
Ngoài ra, Nhiều trẻ có biểu hiện hành vi rập khuôn kỳ quặc như: Đinhón chân, vẫy tay, nghiến răng,…
Trong nhóm hành vi hưỡng ngoại, chúng ta thường thấy các hành vi ởtrẻ KTTT: chạm vào người khác một cách không phù hợp, ôm người la, khigiao tiếp với người khác có thể tự cười vô cớ, ít quan tâm đến người khác,không muốn hòa mình vào tập thể gia đình, …Trong sinh hoạt hằng ngàythiếu gọn gàng, ngắn nắp, vệ sinh cá nhân kém, như vậy, với những trẻ KTTT
có vấn đề về hành vi sẽ ảnh hưởng nhất định tới việc học và thực hiện cácKNTPV, Với sự quan tâm, yêu thương và chăm sóc chu đáo của người lớn,chắc chắn những hành vi của trẻ có thể được khắc phục và những KNTPVcủa trẻ sẽ khá dần lên
1.2.1.5 Nhu cầu và khả năng của trẻ KTTT
a) Nhu cầu của trẻ KTTT
Mỗi người đều có nhu cầu nhất định để tồn tại và phát triển Đó lànhững nhu cầu về vật chất và tinh thần, nó được phát sinh bởi nhiều yếu tốkích thích cả bên trong lẫn bên ngoài Các nhân tố kích thích nhu cầu đó làđòi hỏi cá nhân về những cái cần thiết để tồn tại và phát triển Các nhân tốkích thích bên trong như cảm giác đói, khát muốn có một cái gì đó để ăn hoặcgiảm bớt cơn khát Khi rơi vào trạng thái buồn chán, cô đơn người ta muốn
Trang 30tìm đến những người thân, người bạn để được chia sẻ Nhu cầu có thể trởthành động cơ thúc đẩy con người hành động bởi những kích thích bênngoài[6].
Theo nghiên cứu của Abraham Maslow, ở mỗi người luôn tồn tại một
hệ thống các nhu cầu Đó là các nhu cầu về tồn tại, được an toàn, nhu cầu xãhội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu được phát triển
Trẻ KTTT cũng vậy các em cũng có những nhu cầu như trẻ bìnhthường nếu không muốn nói đó là những nhu cầu vô cùng mạnh mẽ và cấpbách đối với các em Tuy nhiên, những hạn chế do khuyết tật gây ra đã ảnhhưởng trực tiếp đến các hoạt động thể chất và tinh thần của trẻ
Những nhu cầu cơ bản của trẻ KTTT là :
Nhu cầu cơ bản về ăn, mặc, ở và chăm sóc y tế.
Nhu cầu được vui chơi, giải trí: thấy những trẻ khác vui chơi các em
cũng rất muốn được tham gia, được chơi đặc biệt là những trò chơi vui nhộnhấp dẫn… Trẻ rất thích xem các chương trình trò chơi, chương trình thiếu nhivui nhộn trên TV, nghe đài…
Nhu cầu được đi học: Các em cũng rất thích được đi học, mong muốnđược đến trường Biểu hiện: trẻ rất thích cầm bút viết mặc dù chỉ viết đượcnhững chữ rất đơn giản, có khi chỉ là những nét vẽ nguyệch ngoạc, trẻ rấtthích đeo cặp sách…
Nhu cầu về an toàn: Nhiều trẻ KTTT rất e dè, mất tự tin, các em
không thích tiếp xúc với người lạ
Nhu cầu khẳng định bản thân: Nhiều trẻ KTTT rất muốn được thể
hiện trước đám đông: múa, hát [6].
b) Khả năng của trẻ Khuyết tật trí tuệ
Theo quan điểm của tật học hiện đại thì trẻ khuyết tật không phải ítphát triển hơn so với trẻ bình thường mà chúng phát triển theo một chiềuhướng khác Mọi trẻ em sinh ra và lớn lên trong xã hội loài người đều cónhững nhu cầu cơ bản về cơ thể, sự an toàn (Bậc thang nhu cầu cơ bản của
Trang 31Maslow) và những khả năng nhất định (Thuyết đa năng lực của Gardner) Trẻkhuyết tật cũng có những nhu cầu cơ bản và khả năng nhất định tuy ở nhữngmức độ khác nhau so với trẻ em bình thường Trẻ KTTT cũng có những khảnăng nhất định Đó là biết mặc quần áo, vệ sinh nhà cửa, lau rửa bát chén…Trẻ cũng có khả năng múa, hát, nhận biết các hiệu lệnh,… tất nhiên mức độkhả năng của trẻ có thấp hơn những trẻ bình thường rất nhiều[6].
Trẻ có thể tham gia các hoạt động như mọi thành viên khác trong cộngđồng Tuy nhiên trẻ có được tham gia các hoạt động đó để thể hiện và pháttriển các tiềm năng của bản thân hay không tuỳ thuộc phần lớn vào sự tạođiều kiện của gia đình, cộng đồng và toàn xã hội
1.2.2 Kỹ năng tự phục vụ
1.2.2.1 Khái niệm kỹ năng và sự hình thành kỹ năng
Trong mọi lĩnh vực hoạt động, để tiến hành hoạt động có hiệu quả conngười không những cần phải có tri thức về đối tượng hoạt động mà còn phảibiết sử dụng những tri thức đó vào việc cải tạo hiện thực, tức là con người cầnphải có KN Hiện nay có hai quan niệm về vấn đề KN trong tâm lí học
Quan niệm thứ nhất coi KN là mặt kĩ thuật của một thao tác, hành
động hay hoạt động nào đó KN bao giờ cũng gắn liền với hành động cụ thểnào đó, được xem như một đặc điểm của hành động, mức độ hình thành KNđược biểu hiện ở mức nắm vững cách thức thực hiện hành động và việc tiếnhành thành thạo, nhuần nhuyễn các thao tác theo phương thức hành động đãnắm vững Có nhiều tác giả theo quan niệm này V.S.Kudin cho rằng KN làphương thức hoạt động không cần sự củng cố bắt buộc bằng luyện tập từtrước V.A.Cruchetxki cho rằng KN là các phương thức thực hiện một loạihành động, những cái mà con người đã lĩnh hội được từ trước Theo hai ông,chỉ cần nắm vững phương thức hành động là con người đã có KN không cầnđến kết quả Theo A.G.Côvaliov, KN là phương thức thực hiện hành độngthích hợp với mục đích và những điều kiện hành động Do đó, người có KN làngười thực hiện các hành động phù hợp với mục đích và điều kiện hành động,
Trang 32không đề cập đến kết quả hành động, mà chỉ coi kết quả hành động phụ thuộcvào nhiều yếu tố Trong đó, quan trọng hơn cả là năng lực của người chứkhông đơn giản là nắm vững cách thức hoạt động thì đem lại kết quả tươngứng Trần Trọng Thủy cho rằng KN là mặt kĩ thuật của hành động, con ngườinắm được hành động tức là có kĩ thuật hành động, có KN Như vậy, conngười nắm được các tri thức về hành động, thực hiện được hành động theođúng những yêu cầu về thao tá kĩ thuật của nó thì con người có KN Còn việcthực hiện hành động nào đó có đạt được mục đích hay không thì điều nàykhông được xem xét dưới góc độ của một KN Các tác giả theo hướng nàynhấn mạnh mặt kĩ thuật của hành động, chú trọng đến khía cạnh cách thứchành động, coi việc nắm được cách thức hành động là có KN.
Quan niệm thứ hai nhấn mạnh mặt hiệu quả của hành động trong KN,
coi KN không đơn thuần là kĩ thuật hành động mà còn là biểu hiện năng lựccủa con người và KN vừa có tính ổn định, lại vừa có tính mềm dẻo, linh hoạt.N.Đ.Lêvitop cho rằng, KN là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó haymột hoạt động phức tạp hơn bằng cách áp dụng hay lựa chọn những cách thứcđúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định Ở đây, ông đặc biệt chú ýđến kết quả của hoạt động Việc vận dụng lí thuyết vào thực tiễn được chiathành hai mức tương ứng với hai bước khác nhau: KN sơ đẳng và KN pháttriển KN sơ đẳng được biểu hiện ở những thể nghiệm đầu tiên trong việc thựchiện có kết quả các tác động cần thiết, KN sơ đẳng được xuất hiện do sự bắtchước do những tri thức ngẫu nhiên Nhưng khi hoạt động càng phức tạp, các
KN được hình thành chỉ do quan sát và bắt chước sẽ kém tin cậy hơn KNphát triển xuất hiện ở giai đoạn cao hơn, được hình thành trong quá trình vậndụng những tri thức, hiểu biết vào thực tiễn, do tập luyện mà dần trở thành kĩxảo và ngày càng hoàn thiện Một người có KN hoạt động là phải nắm được
và vận dụng đúng đắn các cách thức của hành động nhằm thực hiện hànhđộng có kết quả Theo các tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ánh Tuyết,Ngô Công Hoàn, Trần Quốc Thành cho rằng KN là năng lực của con người
Trang 33thực hiện một công việc nào đó có kết quả Các tác giả theo hướng này đã coi
KN không chỉ đơn thuần bao gồm mặt kĩ thuật của hành động mà chú trọngtới mặt kết quả của nó trong mối quan hệ với mục đích, phương tiện, điềukiện và cách thức tiến hành hành động Trong từ điển tâm lí học củaA.V.Pêtrovxki và M.G.Jarosevxki chủ biên năm 1990 Cho rằng KN làphương thức thực hiện thông thạo hành động của chủ thể dựa trên cở sở tổhợp những tri thức, kĩ xảo đã có KN được hình thành bằng con đường luyệntập, tạo cho con người khả năng thực hiện hành động không chỉ trong nhữngđiều kiện quen thuộc mà cả trong những điều kiện đã thay đổi Trong Từ điểntiếng Việt (1992) KN là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận đượctrong một lĩnh vực nào đó vào thực tế Qua việc trình bày các quan điểm trên,chúng ta thấy vấn đề KN còn có những ý kiến khác nhau, nhưng thực rachúng không có gì mâu thuẫn, phủ định lẫn nhau Sự khác nhau là ở chỗ mởrộng hay thu hẹp phạm vi triển khai của một KN hành động trong các tìnhhuống khác nhau Nhìn chung, khi xem xét KN, chúng ta cần chú ý đếnnhững điểm sau:
Thứ nhất: KN trước hết phải hiểu là mặt kĩ thuật của thao tác hay hành
động nhất định KN không có mục đích riêng Mục đích của nó là mục đíchcủa hành động, không có KN chung chung, trừu tượng tách rời hành động.Khi nói tới KN là nói tới một hành động cụ thể với mức độ đúng đắn và thànhthục nhất định KN hành động đồng nghĩa với hành động có KN
Thứ hai: Cơ chế hình thành KN thực chất là cơ chế hình thành hành
động Mỗi hành động bao giờ cũng có mục đích khách quan và logic thao tácdẫn đến mục đích đó Logic thao tác làm nên mặt kĩ thuật của hành động.Việc hình thành KN hành động là cá nhân phải biết triển khai thao tác theođúng logic phù hợp với mục đích khách quan Việc định hướng, điều khiển vàđiều chỉnh quá trình hình thành và củng cố hành động
Thứ ba: Tính đúng đắn thành thạo và sáng tạo, là những tiêu chuẩn
quan trọng để xác định sự hình thành và mức độ phát triển của kỹ năng hành
Trang 34động bậc cao Hành động chưa thể có kỹ năng nếu còn mắc nhiều lỗi và vụng
về, hành động còn tiêu tốn nhiều thời gian, công sức triển khai nó và hànhđộng còn cứng nhắc mang tính rập khuôn Vì vậy, để có kỹ năng hành động,
cá nhân không chỉ hiểu sâu sắc về hành động (mục đích, cơ chế, điều kiệnhành động) mà chủ yếu là phải mềm dẻo và linh hoạt triển khai hành độngtrong mọi hoàn cảnh theo đúng logic của nó với mọi vật liệu có thể đạt đượcmục đích của hành động Ta có thể đánh giá học sinh có KNTPV khi các emthực hiện đúng được một KNTPV cụ thể Như vậy ta có thể hiểu kỹ nănghành động là khả năng triển khai đúng đắn hành động nào đó trên cơ sở hiểusâu sắc và đầy đủ hành động đó Với nội hàm có trong các khái niệm nêu trên,chúng tôi sử dụng khái niệm kỹ năng theo quan niệm thứ hai- quan điểm đãđược nhiều tác giả sử dụng trong các công trình nghiên cứu khác nhau, cụ thể
là khái niệm kỹ năng của nhà tâm lí học Nga K.K.Platonov: “Kỹ năng là khả
năng của con người thực hiện một hoạt động bất kì nào đó hay các hành động trên cơ sở của kinh nghiệm cũ” làm khái niệm công cụ cho việc
nghiên cứu lí luận và thực tiễn của đề tài
* Các giai đoạn hình thành kỹ năng
Muốn hình thành kỹ năng con người phải luyện tập theo một quy trình
và phải mất một thời gian nhất định Theo Thạc sĩ Nguyễn Thị Tam Hà việcphân chia kỹ năng bao gồm 4 giai đoạn sau:
+ Giai đoạn nhận thức: Là giai đoạn con người nhận thức đầy đủ mụcđích, cách thức, điều kiện hành động, ở giai đoạn này mới nắm được lý thuyếtchưa hành động thực sự, giai đoạn này rất quan trọng bởi vì không xác địnhđược mục đích sẽ không có hướng hành động được và để hành động có kếtquả con người phải hiểu được các điều kiện cần thiết đối với hành động đó
+ Giai đoạn làm thử: là giai đoạn bắt đầu hành động, có thể hành độngtheo mẫu trên cơ sở đã nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức, điều kiệnhành động, có thể tự hành động theo hiểu biết của mình, ở giai đoạn hànhđộng vẩn còn nhiều thiếu sót, các thao tác còn lúng túng, hành động có thể đạtkết quả ở mức thấp, hoặc có thể chưa đạt kết quả
Trang 35+ Giai đoạn kỹ năng bắt đầu hình thành: Ở giai đoạn này người ta cóthể hành động độc lập, ít sai sót, các thao tác thành thực hơn, hành động cókết quả trong những điều kiện quen thuộc.
+ Giai đoạn kỹ năng được hoàn thiện: Là giai đoạn hành động đượcthực hiện có kết quả trong những điều kiện khác nhau, các thao tác thuầnthục, hành động thực hiện có sáng tạo
1.2.2.2 Khái niệm kỹ năng tự phục vụ
Kỹ năng tự phục vụ là khả năng vận dụng những kiến thức( khái niệm,cách thức, phương pháp…) để giải quyết nhiệm vụ mới, trong đề tài này,chúng tôi đề cập đến KNTPV nằm trong nhóm kỹ năng phát triển gồm một số
kỹ năng như: Kỹ năng vận động thô, kỹ năng vận động tinh, kỹ năng tiếpnhận ngôn ngữ, kỹ năng diễn đạt ngôn ngữ, kỹ năng xã hội, KNTPV thuộcnhóm kỹ năng cá nhân – xã hội
“ Kỹ năng tự phục vụ là hiểu và thực hiện một cách có hiệu quả nhữnghành động nào đó để phục vụ cho nhu cầu của bản thân bằng cách vận dụngnhững hiểu biết qua thực tế giúp con người có được tính độc lập, lòng tự tinvào các công việc mà mình thực hiện nhằm chăm sóc cho bản thân mình”
Như vậy, lao động tự phục vụ rất có ích và cần thiết cho tất cả mọingười nhằm thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt cá nhân do hành động được lặp đi lặplại hằng ngày đã hình thành nên kỹ năng thông qua quá trình luyện tập kỹnăng ngày càng được hoàn thiện, được củng cố, động tác trở nên nhanh nhẹn,chính xác hơn, ít bị lỗi hơn, người thực hiện cảm thấy vui và tự tin hơn
Mỗi chúng ta ai cũng cần phải có KNTPV, những kỹ năng này quantrọng với tất cả mọi người đặc biệt là người già, trẻ em và càng có ý nghĩahơn đối với trẻ KTTT, nhưng để có kỹ năng này là thật sự khó khăn với các
em, các em phải tự học và hình thành kỹ năng tự phục vụ, vậy KNTPV ở trẻKTTT là gì ?
“ Kỹ năng tự phục vụ ở trẻ KTTT là hiểu và biết cách làm ở mức độ
Trang 36đơn giản để đáp ứng cho nhu cầu sinh hoạt của cá nhân cần thiết hằng ngàynhằm tự chăm sóc cho bản thân mình ( như ăn uống, tắm rửa, đánh răng, chảiđầu, mặc quần áo, đi vệ sinh )
Như vậy với đối tượng là trẻ KTTT yêu cầu với việc học KNTPV ở các
em đó là hiểu và biết cách làm ở mức độ đơn giản Với việc hiểu và tự mìnhthực hiện các công việc tự phục vụ ở mức độ đơn giản cũng tăng khả năngsống độc lập của các em lên rất nhiều
1.2.2.3 Vai trò của kỹ năng tự phục vụ
Từ những trình bày ở trên có thể thấy vai trò to lớn của KNTPV vớimọi người nói chung và trẻ KTTT nói riêng, đây là một trong những kỹ năngkhông thể thiếu đối với bất cứ cá nhân nào vì những tác động trực tiếp của nólên đời sống của mỗi cá nhân Trong các KNTPV có một số kỹ năng như đi
vệ sinh, tắm rửa…là những kỹ năng hết sức riêng tư của mỗi cá nhân do vậy
để người khác làm hộ hay giúp đỡ sẽ gây ra nhiều bất tiện cho người giúp đỡ,mặt khác khi tự thực hiện các KNTPV không những đem lại sự tự tin, thoảimái mà còn là một đánh dấu sự trưởng thành của mỗi cá nhân, do vậy tất cảmọi người ai cũng cố gắng học và tự thực hiện các KNTPV
Với người bình thường việc học các KNTPV là một vấn đề không hềđơn giản và với trẻ KTTT việc học các kỹ năng này sẽ trở nên khó khăn hơnrất nhiều do những hạn chế của người khuyết tật gây nên, đây là một lĩnh vực
mà gia đình trẻ rất quan tâm Nếu như trẻ có thể thực hiện các KNTPV, điềunày mang lại niềm vui, niềm hy vọng và giảm áp lực, căng thẳng cho cácthành viên trong gia đình
Đối với chính bản thân trẻ KTTT, nếu tự thực hiện các KNTPV thì sẽhình thành cho trẻ vốn kinh nghiệm về các KNTPV, mang lại cho trẻ khảnăng sinh hoạt tương đối độc lập, ít bị phụ thuộc vào người khác mang lạiniềm vui và nâng cao khả năng hòa nhập cộng đồng, khi đã là thành viên củacộng đồng, trẻ có nhiều cơ hội hơn để thể hiện khả năng của mình trong cáccông việc và là một công việc có ích cho xã hội, tương lai của trẻ sẽ rộng mở
Trang 37hơn, có thể thấy vai trò của các KNTPV đối với đời sống của trẻ KTTT là hếtsức to lớn, không thể phủ nhận, việc giúp đỡ trẻ KTTT học được các KNTPV
là một cộng việc vô cùng cần thiết và ý nghĩa nhân văn lớn lao
1.2.2.4 Nội dung dạy kỹ năng tự phục vụ
Các KNTPV rất đa dạng, phong phú tuy nhiên để phù hợp với đốitượng học sinh chúng tôi mong muốn dạy cho trẻ một số kỹ năng cơ bản sau:
a) Về ăn uống
- Sử dụng thìa và đũa khi ăn
- Sử dụng cốc để uống
- Thu dọn bàn ăn
- Rữa bát đĩa sau khi ăn
- Sử dụng dao để gọt hoa quả
- Lau bàn, lau nhà, quét nhà sau khi ăn
b) Về đi lại
- Tự đi lại không cần giúp đỡ
- Tự lên xuống cầu thang
- Đi quanh nhà, quanh trường không cần người theo dõi giám sát
- Đi qua đường có hoặc không có người kèm
- Tự đi đến nơi cộng cộng và tự đi về
- Sử dụng các phương tiện giao thông( xe đạp, xe bus….)
c) Vệ sinh cá nhân
- Tự đi tiêu, đi vệ sinh đúng nơi quy định
- Biết rửa tay, rửa mặt mũi, đánh răng, chải đầu…
- Biết tắm rửa, gội đầu một mình
- Biết giữ gìn vệ sinh thân thể
d) Trang phục
- Tự mặc và cởi quần áo
- Tự đi và cởi tất, giày dép
- Giữ gìn quần áo sạch sẽ, biết thay quần áo khi bẩn
Trang 38- Tự giặt quần áo cho bản thân.
e) Nội trợ
- Tham gia giúp gia đình một vài công việc nội trợ đơn giản(nhặt rau,thái rửa rau, nấu cơm….)
- Tự nấu bữa cơm đơn giản
- Tự rửa bát sau khi ăn
1.2.3 Mục tiêu và phương pháp hình thành KNTPV cho trẻ KTTT 1.2.3.1 Mục tiêu hình thành KNTPV cho trẻ KTTT
KNTPV là môn học cần thiết cho tất cả mọi trẻ em bị khuyết tật, đặcbiệt là trẻ KTTT nặng và rất nặng thì việc hình thành đó càng quan trọng hơnnữa Vì vậy, việc hình thành KNTPV cho trẻ KTTT nhằm đáp ứng được mụctiêu của giáo dục đặc biệt là: Hình thành vốn KNTPV và kỹ năng xã hội; làtiền đề cho giáo dục hướng nghiệp sau này; trẻ có thể sống độc lập ở mức caonhất; là một thành viên của xã hội và cộng đồng
Vì vậy, mục tiêu hình thành KNTPV cho trẻ KTTT cần phải đạt đượccác mục tiêu trên, đó là: Trẻ có thói quen tự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàngngày của mình; trẻ có hành vi văn minh, vệ sinh và điều quan trọng nhất là trẻ
có thể sống độc lập ở mức cao nhất
1.2.3.2 Phương pháp hình thành KNTPV cho trẻ KTTT
Khi hình thành kỹ năng cho trẻ KTTT người ta sử dụng rất nhiềuphương pháp, nhưng ở đây chúng tôi chỉ nêu ra ba phương pháp cơ bản:
Phương pháp nhắc, uốn nắn, chuỗi Đây là hệ thống phương pháp giáo dục
dành cho trẻ KTTT của Harry Toren và Christine Miles
+ Nhắc (Promping): Trước khi dạy kỹ năng mới, cần sử dụng phươngpháp nhắc, có nghĩa là chỉ cho trẻ cách làm, nếu trẻ hiểu tốt lời nói ta yêu cầutrẻ thực hiện, giáo viên cũng có thể dùng cử chỉ điệu bộ, lôi tay trẻ ra khimuốn đáp ứng một yêu cầu nào đó của giáo viên hoặc chỉ cách làm cho họcsinh, nhắc là cách giúp trẻ hoàn thành công việc và được thưởng kịp thời đểtrẻ biết đó là điều tốt
Trang 39+ Uốn nắn (shapping): Trong phương pháp uốn nắn, chúng ta bắt đầu
từ việc khen thưởng cho bất cứ đáp ứng nào của trẻ, xem như đó là yêu cầuduy nhất đối với trẻ, sau đó tiến đến thưởng cho kỹ năng mà trẻ làm đúng, yềucầu trẻ làm mỗi lần tốt hơn trước khi thưởng
Thí dụ: Trước khi dạy trẻ đá bóng, hãy yêu cầu trẻ chạm bóng, sau đóđẩy bóng và cuối cùng là đá bóng
+ Chuỗi(chaining): Một vài kỹ năng phải dùng phương pháp chuỗi,những kỹ năng này bao gồm rất nhiều động tác, và phải tuân theo trật tự, vídụ: Dạy trẻ hoạt động mặc áo, trước hết chúng ta lập danh sách các bước cầnthiết để hoàn thành nhiệm vụ, nhiều kỹ năng giáo viên phải làm hoặc thúc đẩycác bước cuối, khi trẻ làm được các bước cuối cùng trẻ cảm thấy rất hài lòng
vì đã hoàn thành nhiệm vụ và được thưởng
+ Phương pháp từng bước nhỏ một
Từng bước nhỏ một dự trên chương trình Macquaria cho trẻ KTTT –chương trình con của chương trình nghiên cứu về hội chứng Down do trườngĐại học Macquaria ở Sydney thực hiện
Từng bước nhỏ một là tài liệu được biên soạn bởi nhiều tác giả: MoiraPieterse, Robin Treola, Sue Cairns họ là những giáo viên đầy kinh nghiệmtrong việc giáo dục trẻ khuyết tật của trường Đại học Macquarie, úc đã đượcthạc sĩ Marja Hodes nhà tâm lý trẻ giới thiệu
“ Từng bước nhỏ một” là chương trình can thiệp sớm cho trẻ KTTT,đối tượng của chương trình này là cha mẹ của trẻ KTTT, “Từng bước nhỏmột” cung cấp những hướng dẫn thực tiễn để dạy trẻ ở gia đình và ở nhàtrường, “Từng bước nhỏ một” không chỉ nói tới môn học, nó con bao gồm cảphương pháp giảng dạy các môn học đó, có rất nhiều ý kiến mang tính chuyênmôn thực tiễn, các ý kiến này dựa trên kinh nghiệm của nhiều năm trực tiếpgiảng dạy, làm việc của các chuyên gia và dựa trên những ý kiến của cha mẹ
về những điều họ đã làm cho con cái họ “Từng bước nhỏ một” được sử dụngmột cách uyển chuyển như một tài liệu tham khảo của các chuyên gia nhiều
Trang 40kinh nghiệm.
1.2.4 Ý nghĩa của việc hình thành KNTPV cho trẻ KTTT
Như chúng ta đã biết trẻ KTTT với nhiều mức độ khiếm khuyết khácnhau, có trẻ bị KTTT nặng và rất nặng Do đó, KNTPV của các trẻ này rấthạn chế Hầu như, các em không thể tự phục vụ bản thân mà phải nhờ vào sựgiúp đỡ của mọi người rất lớn Bên cạnh đó, không riêng gì trẻ KTTT mà kể
cả một đứa trẻ bình thường muốn có một cuộc sống độc lập đòi hỏi chúngcũng phải biết tự phục bản thân mình Điều đó cho thấy rằng KNTPV thật cầnthiết và quan trọng cho mỗi cá nhân chúng ta Vì vậy, để một đứa trẻ KTTT
có thể sống và hoà nhập cộng đồng thì điều cần thiết và quan trọng trước tiên
là chúng phải có được KNTPV tốt Do đó, giáo viên và các bậc phụ huynh,người chăm sóc trẻ cần phải hình thành KNTPV cho trẻ
Việc hình thành được KNTPV cho trẻ KTTT sẽ mang lại hiệu quả thiếtthực cho bản thân trẻ, đó là việc thoả mãn những nhu cầu sinh hoạt cá nhânhàng ngày của trẻ, giúp trẻ có thể sống độc lập, không phụ thuộc vào ngườikhác, tạo cho trẻ sự tự tin để bước vào cuộc sống Vì vậy, giáo viên và giađình cần nhận thấy được tầm quan trọng của việc hình thành KNTPV cho trẻ
và họ cố gắng đi tìm những phương pháp, biện pháp phù hợp nhất để có thểhình thành KNTPV cho trẻ KTTT một cách nhanh chóng và có hiệu quả nhất.Một khi đã có KNTPV trẻ sẽ dễ dàng hoà nhập cộng đồng và phát huy hết khảnăng vốn có của mình