Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của nồng độ các chất điều hòa sinh trưởng cây trồng lên sự phát triển của chồi thu được từ hạt gieo trên các môi trường cơ bản.. Ảnh hưởng của nồng độ các chất đi
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN TP.HCM ỦY BAN NHÂN DÂN TP.HCM
TÊN ĐỀ TÀI
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG, THU THẬP VÀ NHÂN GIỐNG
MỘT SỐ LOÀI LAN RỪNG QUÝ Ở KHU VỰC
Trang 2TÓM TẮT NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Đề tài đã nêu được hiện trạng trồng và lưu giữ lan rừng tại các vườn lan tại thành phố Hồ Chí Minh và vùng phụ cận Có 13 chi lan rừng với 31 loài được trồng tại các nhà vườn Đề tài đã thu thập và lưu giữ được 117 loài lan rừng thuộc 39 chi lan (định danh được 110 loài), tại vườn sưu tập nguồn gen của Khu Nông nghiệp Công nghệ cao phục vụ cho công tác chọn tạo giống Trong số các loài lan này, có những loài lan quý có thể nhân giống cung cấp
cho người trồng lan như: Quế lan hương (Aerides odoratum Lour.), Khiết sơn
Việt Nam (Christensonia vietnamica Haager), Kim điệp (Dendrobium capillipes Rchb.f.), Thủy tiên trắng (Dendrobium farmeri Paxt.), Long tu
(Dendrobium primulinum Lindl.), Hải yến (Rhynchostylis coelestis Rchb.f.), Ngọc điểm (Rhyncostyli\gigantea (Lindl.) Ridl.), Thập hoa (Dendrobium hercoglossum Rchb.f.)
Nghiên cứu môi trường gieo hạt với lan rừng thì thấy môi trường MS có hàm lượng khoáng giảm ½MS, 1/3MS, 1/4MS cho tỷ lệ nảy mầm cao đối với tất cả các loài lan nghiên cứu Khảo sát ảnh hưởng của các môi trường khoáng
cơ bản lên sự phát triển của cây mầm trên 5 loài lan thì thấy hầu hết các môi trường khoáng đưa vào thí nghiệm đều phù hợp cho cây mầm phát triển
Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ các chất điều hòa sinh trưởng thực vật lên sự phát triển của chồi, kết quả cho thấy chất điều hòa sinh trưởng thực vật BA và NAA có tác dụng rõ trong quá trình biệt hóa phát sinh chồi Trên đối chứng không có chất điều hòa sinh trưởng, tỷ lệ mẫu tạo chồi thấp, chênh lệch nhiều so với các công thức thí nghiệm có mặt của BA và/hoặc NAA Hầu hết các loài lan rừng có tỷ lệ mẫu tạo chồi cao ở hỗn hợp nồng độ BA 2mg /l và NAA 0,5 mg /l
Đối với 5 loài lan được được thí nghiệm về chất điều hòa sinh trưởng thực vật trên 3 môi trường khoáng cơ bản MS, Vacin Went và Knudson C Chúng tôi nhận thấy, Môi trường khoáng MS phù hợp cho nhân chồi hơn so với
2 môi trường còn lại
Trang 3Đối với 5 loài lan tham gia thí nghiệm, nồng độ của NAA có ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của cây lan con Môi trường tạo rễ có nồng độ NAA 0,5mg/l
và than hoạt tính 1,0mg/l phù hợp với tất cả các loài lan Trừ loài lan Khiết sơn Việt Nam, chỉ cần có NAA và/hoặc than hoạt tính sẽ giúp cây chồi ra rễ tốt hơn đối chứng (không có cả 2)
Nghiên cứu 10 loại giá thể trồng lan con giai đoạn hậu cấy mô đối với 5 loài lan rừng được chọn thì thấy mỗi loài lan khác nhau phù hợp với một loại giá thể, không có giá thể chung cho các loại lan
SUMMARY
The result of surveying wild orchids conservating in HCM city and suburban region shown that there are 13 wild genus with 31 species found on the surveyed gardens Through the Project, 117 species belong to 39 genus (110 species classified) are collected to establish the gen bank garden for breeding so far Out of them, there are some value orchids can be propergated for the
market They are Aerides odoratum Lour., Christensonia vietnamica Haager, Dendrobium capillipes Rchb.f., Dendrobium farmeri Paxt., Dendrobium primulinum Lindl., Rhynchostylis coelestis Rchb.f., Rhyncostyli gigantea (Lindl.) Ridl., Dendrobium hercoglossum Rchb.f
Research on basal mineral media for seed germination, the media of MS reducing ½ MS, 1/3 MS, ¼ MS gave high germination percentage for all of 5 species of wild orchids The result of the study on the effect of mineral media to the growth of seedling of 5 wild orchid species indicated that all of the basal mineral media such as MS, reducing MS, VW, KC are suitable
The study on basal mineral media and plant regulators to the distinguished buds of wild orchid, the result indicated that BA and NAA are necessary for bud growing On the control (Check) with out plant regulator the percentage of distinguished buds is very low It is lower than the treatment of
Trang 4BA and/or NAA Most of the wild orchids get the high percentage of distinguished buds in the complex media of 2mg/l of BA and 0,5g/l of NAA
All of the 5 wild orchid species treated with plant regulators on 3 basal mineral media of MS, Vacin & Went and Knudson C The MS media is the best one
The research on root development, the obtained data indicates that the dose of NAA influences to the root development of 5 wild orchids The medium contained 0,5mg/l of NAA and 1,0 mg/l of activated coal is suitable
for root development Except the orchid of Christensonia vietnamica, only
NAA and/or activated coal could help to develope the orchid roots
Research on growing media for seedling of 5 wild orchids, the result indicates that each species of orchid are suitable with certainly media out of 10 studied media
Trang 5CHƯƠNG II: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
18
2.1 NỘI DUNG 1: Điều tra, đánh giá hiện trạng, thu thập và
trồng duy trì các giống lan rừng thu thập được ở khu vực TP
Hồ Chí Minh và vùng phụ cận
18
2.2 NỘI DUNG 2: Nghiên cứu phương pháp nhân giống một số
loài lan rừng có triển vọng
19
2.2.1 Thí nghiệm 1: Nghiên cứu môi trường khoáng cơ bản lên sự
nảy mầm và phát triển của cây con
19
2.2.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của nồng độ các chất điều hòa
sinh trưởng cây trồng lên sự phát triển của chồi (thu được từ
hạt gieo) trên các môi trường cơ bản
20
2.2.3 Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của nồng NAA và than hoạt tính
lên sự hình thành rễ và sự phát triển của cây lan con
21
2.3 NỘI DUNG 3 Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố giá thể
trồng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây con từ
23
Trang 6nhân nuôi cấy mô trong vườn ươm tại TP HCM
3.1 Điều tra, đánh giá hiện trạng, thu thập và trồng duy trì các
giống lan rừng thu thập được ở khu vực TP Hồ Chí Minh và
3.2.1 Ảnh hưởng của các môi trường khoáng cơ bản lên sự nảy
mầm và phát triển của cây con
37
a) Nghiên cứu ảnh hưởng của các môi trường khoáng cơ bản
lên sự nảy mầm của hạt
37
b) Nghiên cứu ảnh hưởng của các môi trường khoáng cơ bản
lên sự phát triển của cây con từ hạt
39
3.2.2 Ảnh hưởng của nồng độ các chất điều hòa sinh trưởng thực
vật lên sự phát triển của chồi (thu được từ hạt gieo) trên các
môi trường cơ bản
42
a) Ảnh hưởng của nồng độ các chất điều hòa sinh trưởng thực
vật lên sự phát triển của chồi (thu được từ hạt gieo) trên môi
trường khoáng cơ bản MS
43
b) Ảnh hưởng của nồng độ các chất điều hòa sinh trưởng thực
vật lên sự phát triển của chồi (thu được từ hạt gieo) trên môi
trường khoáng cơ bản Vacin Went
48
c) Ảnh hưởng của nồng độ các chất điều hòa sinh trưởng thực
vật lên sự phát triển của chồi (thu được từ hạt gieo) trên môi
trường khoáng cơ bản Knudson C
52
3.2.3 Ảnh hưởng của nồng NAA và than hoạt tính lên sự hình
thành rễ và sự phát triển của cây lan con
58
Trang 73.3 Ảnh hưởng của yếu tố giá thể trồng đến khả năng sinh
trưởng và phát triển của cây con từ nhân nuôi cấy mô trong
vườn ươm tại TP HCM
Phụ lục 1 Hình ảnh của những loài lan được chọn làm thí
nghiệm và những loài lan rừng đã có hoa trong vườn sưu tập
tại Khu nông nghiệp công nghệ cao và những hình ảnh liên
quan đến đề tài
Phụ lục 2 Các môi trường khoáng cơ bản
Phụ lục 3 Mẫu phiếu điều tra
Phụ lục 4 Các tài liệu liên quan: Hợp đồng nghiên cứu và
Biên bản Họp hội đồng nghiệm thu cấp cơ sở
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MS Murashige & Skoog
VW Vacin & Went
NS Sai khác không ý nghĩa
Trang 8DANH SÁCH BẢNG
1.1 Các loài lan rừng được trồng tại các hộ gia đình đã điều tra 25
1.3 Danh sách các loài lan thu thập được lưu giữ trong vườn sưu
tập của Khu Nông nghiệp Công nghệ cao, Củ Chi
29
2.1 Tỷ lệ nảy mầm (%) của hạt một số loài lan trên các môi
trường kháng
38
2.2 Ảnh hưởng của các môi trường khoáng cơ bản lên sự phát
triển của cây mầm loài Quế lan hương
40
2.3 Ảnh hưởng của các môi trường khoáng cơ bản lên sự phát
triển của cây mầm loài Thập hoa
40
2.4 Ảnh hưởng của các môi trường khoáng cơ bản lên sự phát
triển của cây mầm loài Thủy tiên trắng
41
2.5 Ảnh hưởng của các môi trường khoáng cơ bản lên sự phát
triển của cây mầm trên loài lan Ngọc điểm
41
2.6 Ảnh hưởng của các môi trường khoáng cơ bản lên sự phát
triển của cây mầm trên lan Khiết sơnViệt Nam
42
2.7 Ảnh hưởng của nồng độ các chất điều hòa sinh trưởng kết
hợp trên môi trường khoáng MS lên khả năng nhân chồi cây
lan Quế lan hương
43
2.8 Ảnh hưởng của nồng độ các chất điều hòa sinh trưởng kết
hợp trên môi trường khoáng MS lên khả năng nhân chồi cây
lan Thập hoa
44
2.9 Ảnh hưởng của nồng độ các chất điều hòa sinh trưởng kết
hợp trên môi trường khoáng MS lên khả năng nhân chồi cây
lan Thủy tiên trắng
45
2.10 Ảnh hưởng của nồng độ các chất điều hòa sinh trưởng kết
hợp trên môi trường khoáng MS lên khả năng nhân chồi cây
lan Ngọc điểm
46
Trang 92.11 Ảnh hưởng của nồng độ các chất điều hòa sinh trưởng kết
hợp trên môi trường khoáng MS lên khả năng nhân chồi cây
lan Khiết sơn Việt Nam
47
2.12 Ảnh hưởng của nồng độ các chất điều hòa sinh trưởng kết
hợp trên môi trường khoáng Vacin Went lên khả năng nhân
chồi cây lan Quế lan hương
48
2.13 Ảnh hưởng của nồng độ các chất điều hòa sinh trưởng kết
hợp trên môi trường khoáng Vacin Went lên khả năng nhân
chồi cây lan Thập hoa
49
2.14 Ảnh hưởng của nồng độ các chất điều hòa sinh trưởng kết
hợp trên môi trường khoáng Vacin Went lên khả năng nhân
chồi cây lan Thủy tiên trắng
50
2.15 Ảnh hưởng của nồng độ các chất điều hòa sinh trưởng kết
hợp trên môi trường khoáng Vacin Went lên khả năng nhân
chồi cây lan Ngọc điểm
51
2.16 Ảnh hưởng của nồng độ các chất điều hòa sinh trưởng kết
hợp trên môi trường khoáng Vacin Went lên khả năng nhân
chồi cây lan Khiết sơn Việt Nam
52
2.17 Ảnh hưởng của nồng độ các chất điều hòa sinh trưởng kết
hợp trên môi trường khoáng Knudson C lên khả năng nhân
chồi cây lan Quế lan hương
53
2.18 Ảnh hưởng của nồng độ các chất điều hòa sinh trưởng kết
hợp trên môi trường khoáng Knudson C lên khả năng nhân
chồi cây lan Thập hoa
53
2.19 Ảnh hưởng của nồng độ các chất điều hòa sinh trưởng trên
môi trường khoáng Knudson C lên khả năng nhân chồi cây
lan Thủy tiên trắng
54
2.20 Ảnh hưởng của nồng độ các chất điều hòa sinh trưởng kết
hợp trên môi trường khoáng Knudson C lên khả năng nhân
chồi cây lan Ngọc điểm
55
Trang 102.21 Ảnh hưởng của nồng độ các chất điều hòa sinh trưởng kết
hợp trên môi trường khoáng Knudson C lên khả năng nhân
chồi cây lan Khiết sơn Việt Nam
56
2.22 Ảnh hưởng của nồng độ NAA và than hoạt tính lên sự hình
thành rễ và sự phát triển của cây lan Quế lan hương
59
2.23 Ảnh hưởng của nồng độ NAA và than hoạt tính lên sự hình
thành rễ và sự phát triển của cây lan Thập hoa
60
2.24 Ảnh hưởng của nồng độ NAA và than hoạt tính lên sự hình
thành rễ và sự phát triển của cây lan Thủy tiên trắng
60
2.25 Ảnh hưởng của nồng độ NAA và than hoạt tính lên sự hình
thành rễ và sự phát triển của cây lan Ngọc điểm
61
2.26 Ảnh hưởng của nồng độ NAA và than hoạt tính lên sự hình
thành rễ và sự phát triển của cây lan Khiết sơn Việt Nam
Trang 113.11 Số chồi trên cây của Lan Thuỷ tiên trắng trên các giá thể
khác nhau qua 6 tháng trồng
71
3.13 Chiều cao cây (cm) của lan Ngọc điểm trên các loại giá thể
3.16 Chiều cao cây (cm) của loài lan Khiết sơn Việt Nam trên các
loại giá thể khác nhau qua 6 tháng trồng
75
3.17 Số lá trên cây của loài lan Khiết sơn Việt Nam trên các loại
giá thể khác nhau qua 6 tháng trồng
75
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
Tên đề tài/dự án: Đánh giá hiện trạng, thu thập và nhân giống một số loài
lan rừng quý ở khu vực Tp Hồ Chí Minh và vùng phụ cận
Chủ nhiệm đề tài: TS Phạm Hữu Nhượng và TS Nguyễn Hải An
Cơ quan chủ trì: Ban Quản lý Khu Nông nghiệp Công nghệ cao
Thời gian thực hiện: 2007-2012 (Đã được đồng ý gia hạn)
Kinh phí được duyệt: 325 triệu đồng
Kinh phí đã cấp đợt 1: 200 triệu đồng, theo TB số: 217/TB-SKHCN ngày
28/11/2006
Kinh phí đã cấp đợt 2: 92 triệu đồng, theo TB số: 14/TB-SKHCN ngày
09/12/2009
Mục tiêu của đề tài:
- Tuyển chọn được giống hoa lan quí từ các giống lan rừng khu vực nam Trung bộ, đông Nam bộ và Tây nguyên, làm phong phú và đa dạng bộ giống hoa lan của TPHCM, tạo ra nguồn vật liệu cho công tác vi nhân giống và lai tạo giống (phục vụ giai đoạn tiếp sau của đề tài)
- Xác định môi trường khoáng cơ bản và các chất điều hoà sinh trưởng cây trồng trong việc sản xuất các giống lan rừng quý bằng phương pháp nuôi cấy
mô, tạo ra số lượng lớn giống lan phục vụ sản xuất và thương mại hóa một số giống lan rừng quí trong điều kiện TPHCM
- Xác định được giá thể phù hợp cho cây lan con trong giai đoạn 6 tháng
tuổi
Nội dung Nghiên cứu:
1/ Điều tra, đánh giá hiện trạng, thu thập và trồng duy trì các giống lan rừng thu thập được ở khu vực TP Hồ Chí Minh và vùng phụ cận
- Điều tra, đánh giá hiện trạng trồng lan rừng và sưu tập
- Trồng duy trì tập đoàn
2/ Nghiên cứu phương pháp nhân giống một số loài lan rừng có triển vọng
Trang 13* Nghiên cứu phương pháp nhân chồi
- Tên thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của các môi trường khoáng cơ bản lên sự nảy mầm và phát triển của cây con
- Tên thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của nồng các chất điều hòa sinh trưởng cây trồng lên sự phát triển của chồi (thu được từ hạt gieo) trên các môi trường
cơ bản
* Nghiên cứu phương pháp nhân cây con, tạo rễ
Giai đoạn này cần tạo rễ để cây có thể đưa ra trồng trên giá thể Chồi của cây lan từ giai đoạn trước (nhân chồi) sau khi cấy chuyền lần 2 được dùng thí nghiệm nhân cây con
- Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của nồng các Auxin NAA và than hoạt tính lên
sự hình thành rễ và sự phát triển của cây lan con
3/ Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố giá thể trồng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây con từ nhân nuôi cấy mô trong vườn ươm tại TP HCM
Sản phẩm của đề tài:
- Báo cáo kết quả với quy trình nhân giống In-vitro và giá thể phù hợp
trồng lan rừng giai đoạn cây con
- Vườn sưu tập lan rừng
- Cây con muôi cấy mô, 1000 cây/loài (cho 5 loài lan)
Trang 14CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Các nước trồng lan công nghiệp trên thế giới như Đài Loan, Thái Lan, Trung Quốc,… đã sản xuất và xuất khẩu một số luợng lớn sản phẩm hoa lan vào thị trường các nước Mỹ, Nhật, Hà Lan,… và một số nước Châu Âu, góp phần đáng
kể cho GDP của đất nước trong 5 năm gần đây
Theo một số tài liệu phân loại thực vật, hiện nay trên thế giới họ Lan (Orchidaceace) có khoảng 765 chi và 17.500 loài, có sách viết trên 800 chi và trên 30.000 loài Phần lớn các loài lan tập trung ở các vùng rừng nhiệt đới Theo Helmut Bechtel (1982), hiện nay trên thế giới có hơn 700 chi Lan rừng, gồm hơn 25.000 loài được xác định, chưa kể một số lượng khổng lồ Lan lai không thể thống kê chính xác số lượng
Lan rừng phân bố trên thế giới được chia thành 05 khu vực:
+ Châu Á nhiệt đới: Gồm các giống Bulbophyllum, Calanthe, Ceologyne, Cymbidium, Dendrobium, Paphiopedilum, Phaius, Phalaenopsis, Vanda, Anoectochillus
+ Châu Mỹ nhiệt đới: Gồm các giống Brassavola, Catasetum, Cattleya, Cynoches, Pleurothaillis, Stanhopea, Zygopetalum, Spathoglottis
+ Châu Phi: Gồm các giống: Lissochilus, Polystachiya, Ansellia, Disa + Châu Úc: Gồm các giống Bulbophyllum, Calanthe, Cymbidium, Dendrobium, Eria, Phaius, Pholidota, Sarchochilus
+ Vùng ôn đới của Châu Âu , Bắc Mỹ và Đông Bắc Á Châu: Gồm các
giống: Cypripedium, Orchis, Spiranthes
Do nhu cầu cây cảnh ngày càng gia tăng và kỹ thuật khai thác các giống lan ngày càng hoàn thiện làm cho thị trường lan ngày càng phong phú, đa dạng, hấp dẫn và trở thành một sản phẩm phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu cho các nước trên thế giới và khu vực
Trang 15Việc nghiên cứu về chất điều hòa sinh trưởng thực vật đã được khá nhiều tác giả trên thế giới đề cập Trong các nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy,
BA là một trong những cytokinin được sử dụng phổ biến để nhân chồi (Huijun Zhang và cộng sự (2011), Yesim Yalcin và cộng sự (2010), Rakhi Chaturvedi
và cộng sự (2001), Rekha Kathal và cộng sự, (1988) BA khi được bổ sung vào trong môi trường nuôi cấy sẽ phá vỡ trạng thái hưu miên của chồi ngủ do đó có hiệu quả nhân chồi cao Hiệu quả tạo chồi bất định của BA vượt trội so với các loại cytokinin khác đã được báo cáo trong các nghiên cứu trước đây của Singh
và cộng sự (1996), Ficcadenti và Rotino (1995) (theo Liliane vcs, 2001) Tuy nhiên, nồng độ cytokinin quá cao sẽ kích thích sự hình thành nhiều chồi nhỏ nhưng những chồi này không thể kéo dài, lá bị biến dạng và chồi chứa nhiều nước Natalia và cộng sự (1991) đề ra giả thuyết nồng độ cytokinin quá mức kích thích các tế bào đỉnh sinh trưởng phân chia liên tục trong môi trường ẩm cao gây ra hiện tượng thủy tinh ở mẫu nuôi cấy BA sau khi được chồi hấp thu
sẽ chuyển hóa thành các hợp chất khác, hình thành adenine là tiền chất cho quá trình sinh tổng hợp cytokinin nội sinh (free cytokinin) Nồng độ cytokinin nội sinh tăng dần khiến các tế bào ở mô phân sinh ở trạng thái hoạt động Các tế bào này không được bao bọc bởi thành tế bào, chỉ chứa một lượng nhỏ lignin
và cellulose Việc thiếu lignin và cellulose trong môi trường ẩm cao làm nước khuếch tán vào các tế bào làm các tế bào gia tăng kích thước, chứa các không bào to Từ đó hình thành nên các chồi thủy tinh thể (theo Natalia và cộng sự, 1991)
Để nhân nhanh giống lan in-vitro người ta có thể sử dụng nhiều bộ phận của cây như phát hoa, đỉnh sinh trưởng, và cả gieo từ hạt Cho đến nay đã có khá nhiều công trình liên quan đến công nghệ nuôi cấy mô tế bào thực vật Chen và cộng sự (2000) đã thành công trong việc xây dựng thành công hệ
thống tái sinh loài lan Phalaenopsis từ mô sẹo Ban đầu để tạo protocorm,
người ta đã gieo hạt lan 120 ngày tuổi vào môi trường ¼ MS + 1 g/l peptone +
2 g/l than hoạt tính + 50 g/l chuối + 100 mg/l myo-inositol + 20 g/l sucrose và 3 g/l gelrite Môi trường được đặt trong điều kiện 8 giờ chiếu sáng, cường độ 10µmol/m2/s ở 250C cho đến khi các protocorm được hình thành Sau đó các
Trang 16mô sẹo được tạo ra bằng cách cấy protocorm vào môi trường ½ MS + 0 – 1 mg/l TDZ hoặc ½ MS + 0 – 10 mg/l 2,4-D Kết quả cho thấy môi trường ½ MS
có bổ sung TDZ là môi trường phù hợp hơn để tạo mô sẹo và các protocorm 2 tháng tuổi cũng là vật liệu tạo mô sẹo phù hợp hơn so với protocorm 1 tháng tuổi Các mô sẹo sau đó sẽ được cấy chuyền hàng tháng trong môi trường MS + 0,5 mg/l TDZ + 0,5 mg/l 2,4-D cho đến khi xuất hiện các protocorm like body (PLD) Các PLD có khả năng tái sinh chồi trong môi trường ½ MS + 0,1 – 1 mg/l TDZ Cây con sau khi chuyển ra vườn ươm phát triển tốt và không thấy xuất hiện một sự biến dị nào Các tác giả Chen và Chang (2006) đã sử dụng
môi trường MS nồng độ thấp để gieo hạt lan Phalaenopsis và cho kết quả tốt
trong môi trường ½ MS + 100 mg/l myo-inositol + 0,5 mg/l niacin + 0,5 mg/l pyridoxine HCl + 0,1 mg/l thiamine HCl + 2 mg/l glycine + 1 g/l peptone + 170 mg/l NaH2PO4 + 20 g/l sucrose + 2,2 g/l Gelrite Mẫu cấy được đặt trong điều kiện nhiệt độ 26 ± 10C, 8 giờ chiếu sáng với cường độ ánh sáng 28 – 36 µmol/m2/s
Nghiên cứu về lan Phalaenopsis, Park và cộng sự (2000) đã sử dụng lá non in vitro để tái sinh PLB trên môi trường MS bổ sung 88,8 sẽ tạo
ra trung bình 10 – 13 PLB trên mỗi mẫu cấy sau 12 tuần Khi cấy chuyền các PLB lên môi trường Hyponex 6,5-4,5-19 kết hợp với Hyponex 20 – 20 – 20 + 2 g/l pepton + 3% (v/v) dịch chiết khoai tây + 1 g/l than hoạt tính, PLB sẽ tăng sinh và tạo cây con
Đối với lan rừng, các nhà trồng Lan đã đưa dần các kỹ thuật mới, thực hiện lai tạo và vi nhân giống, giúp nhân nhanh với số luợng lớn các loài lan
mới Về kỹ thuật cơ bản để nhân giống lan in vitro đã có một số lượng lớn sách
chuyên khảo đã xuất bản Riêng kỹ thuật nhân giống các loài lan rừng của Việt Nam còn ít được đề cập
Theo Phạm Hoàng Hộ (1993) Lan rừng Việt Nam được biết gồm hơn 750 loài khác nhau Từ khi các công trình nghiên cứu cơ bản về kiểm kê và phân loại Lan của Hệ thống Thực vật Việt Nam được công bố (Gagnepin và
Trang 17Guillaumin, 1932 – 1934; Averyanov, 1990,1994; Sedenfaden, 1992) nhiều dẫn liệu mới quan trọng đã được phát hiện và bổ sung trong các đợt nghiên cứu thực vật gần nay Năm 1999, Nguyễn Thiện Tịch phát hiện thêm một số giống
lan rừng mới của Việt Nam như: Cleisostoma lecongkietii Tich, N T nov.sp., Malaxis truongdaui Tich, N T nov.sp., Paphiopedilum herrmannii Fuchs &
Reisinger… Những kết quả mới này cho thấy Việt Nam là một trung tâm đa dạng và đặc hữu lan rất quan trọng ở vùng Đông Nam Á
Đáng chú ý nhất là công trình nghiên cứu “Trích yếu được cập nhật hóa về các loài Lan của Việt Nam” của Leonit V Averyanov và Anna L Averyanova (2003) Tài liệu này đã tổng kết tất cả các dẫn liệu đã được công bố cho đến nay
về Lan ở Việt Nam và cung cấp những thông tin ngắn gọn về các tên khoa học hữu hiệu, sự phân bố ở trong và ngoài nước Việt Nam, cách sống, sinh thái, độ thường gặp và tình trạng bị đe dọa tiêu diệt của chúng Tài liệu này cũng đã tổng kết một cách nay đủ đến mức cao nhất tất cả những dẫn liệu có được về thành phần chi và loài của họ Lan như là kết quả nghiên cứu các mẫu Lan được thu thập và lưu trữ chủ yếu ở tập mẫu thực vật khô của Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật Hà Nội, thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Trong tài liệu này cũng lần đầu tiên công bố và bổ sung thêm 2 chi có 1
loài – Vietorchis Aver., & Averyanova và Zeuxinella Aver., và 10 loài mới khác
đối với khoa học trong hệ thực vật Việt Nam
Tài liệu này đã cho thấy ở Việt Nam đã biết được 897 loài thuộc 152 chi Chúng chiếm khoảng 75-80 % trong tổng số 1000-1100 loài ước có tại Việt Nam Chắc chắn sẽ còn rất nhiều những bổ sung rất lý thú sắp tới tại các vùng núi cao chủ yếu nằm vùng biên giới phía Bắc và phía Tây, Tây Nam của Việt Nam
Liên quan đến nhân giống in-vitro, cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu Mai Trần Ngọc Tiếng và cộng sự (1992) đã tìm hiểu sự trổ
hoa ở lan Dendrobium Walter Oumae Mai Trần Ngọc Tiếng (1993) tìm hiểu sơ
khởi về hiệu ứng cảm quang kỳ và một số điều kiện môi trường khác trên sự ra
hoa của phong lan Dendrobium Mai Thị Tân (2000) nghiên cứu „Ảnh hưởng
Trang 18của saccaroza, nước dừa, a-NAA và axit nicotinic đến sự phát sinh chồi từ
protocorm và sự sinh trưởng của cây lan Dendrobium E.R nuôi cấy mô‟
Bùi Trang Việt và cộng sự (2006) đã nghiên cứu vai trò của các chất
điều hòa tăng trưởng thực vật trong sự ra hoa ở lan Dendrobium sp
Tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp Công nghệ cao, cũng đã có nhiều đề tài nghiên cứu về lan rừng Vương Thị Hồng Loan (2009) trong đề tài nghiên cứu xây dựng quy trình nhân giống in-vitro một số loài lan rừng có triển vọng đã kết luận: Đối với lan Long tu, môi trường thích hợp cho
sự tái sinh chồi từ đỉnh sinh trưởng là môi trường MS có bổ sung 2 mg/l BA và 0,5 mg/l NAA; Môi trường thích hợp cho sự nhân nhanh chồi là môi trường MS
bổ sung 3 mg/l BA; Môi trường thích hợp cho sự phát triển của cây con là môi trường ½ MS có bổ sung các thành phần tự nhiên như chuối 35g/l, khoai tây 35g/l, cà rốt 35g/l, nước dừa 50ml/l Nghiên cứu về giá thể trồng lan con ngay khi đưa ra vườn, Hoàng Đắc Hiệt (2009) cho rằng loại giá thể phù hợp đối với lan con Mokara là xơ dừa mịn đặt trong khay xốp
Trang 19CHƯƠNG II NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 NỘI DUNG 1: Điều tra, đánh giá hiện trạng, thu thập và trồng duy trì các giống lan rừng thu thập được ở khu vực TP Hồ Chí Minh và vùng phụ cận
- Điều tra hiện trạng với các chỉ tiêu theo phiếu (xem phụ lục)
- Đánh giá hiện trạng: Tiến hành phỏng vấn và quan sát trực tiếp theo mẫu phiếu điều tra Từ số liệu điều tra được, tổng kết viết báo cáo theo các chỉ tiêu
cụ thể
- Thu thập: Đề tài đã thu tối thiểu mỗi chi 5 loài lan thuộc những chi quan trọng Mỗi loài thu khoảng 5 mẫu cây Trong quá trình thực hiện, phương châm của đề tài là thu được càng nhiều mẫu càng tốt Mẫu cây thu thập được trồng trong vườn sưu tập và tiến hành định danh Để định danh các loài lan thu thập được, Đề tài đã mời chuyên gia GS Trần Hợp và một số nhà khoa học và nghệ nhân đến vườn quan sát và tiến hành định danh Phương pháp định danh chủ yếu dựa vào cấu tạo hoa và đặc điểm hình thái của cây, đối chiếu theo tài liệu Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ, các tài liệu liên quan khác của các tác giả trong và ngoài nước và tham khảo thêm trang Web Hoa Lan Việt Nam và một số trang Web khác
Địa điểm thu thập: tại Vườn quốc gia Cát Tiên (Đồng Nai), rừng Lộc Ninh (Bình Phước) và tại các vườn lan thành phố Hồ Chí Minh
- Tuyển chọn: Từ những loài thu thập được, đánh giá chọn ra 5 loài có đủ tiêu chuẩn với những đặc tính quý (thuộc các chi khác nhau) để nhân giống Tiêu chuẩn chọn như sau:
+ Thích hợp với điều kiện khí hậu thành phố Hồ Chí Minh
+ Hoa có màu sắc đẹp hoặc có hương thơm
Theo tiêu chuẩn đã nêu thì 5 loài lan được chọn là (1) Quế lan hương, (2) Thập hoa, (3) Thủy tiên trắng, (4) Ngọc điểm, (5) Khiết sơn Việt Nam và
Trang 20một loài chọn bổ sung là Kim điệp Đặc điểm của những loài này được mô tả trong phần Kết quả và thảo luận
2.2 NỘI DUNG 2: Nghiên cứu phương pháp nhân giống một số loài lan rừng có triển vọng
2.2.1 Thí nghiệm 1: Nghiên cứu môi trường khoáng cơ bản lên sự nảy mầm
và phát triển của cây con
Giai đoạn 1: Ảnh hưởng của các môi trường khoáng cơ bản lên sự nảy mầm của hạt Trong giai đoạn này chúng tôi chỉ quan sát và nhận xét sơ bộ về sự nảy mầm và màu sắc cũng như sức sống của mầm mọc từ hạt
- Vật liệu: các trái lan đã chín sinh lý của các loài lan rừng được chọn
(nêu trên)
- Phương pháp thí nghiệm: Quả lan được lau sạch bằng cồn 70o, sau đó đốt sơ trước khi lấy hạt bên trong để gieo Hạt lan được gieo vào các môi trường khoáng khác nhau, tương ứng với 5 công thức: Murashige & Skoog (MS), Vaccin & Went (VW), Knudson C (KC), 1/2 MS, 1/3 MS Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp hoàn toàn ngẫu nhiên (RCD) với 3 lần nhắc lại Mỗi nhắc lại 5 bình, mỗi bình 6 cây
- Theo dõi các chỉ tiêu về tỷ lệ nảy mầm và nhận xét khả năng sinh trưởng (màu sắc chồi)
b/ Giai đoạn 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của các môi trường khoáng cơ bản lên
sự phát triển của cây con từ hạt
- Vật liệu: Cây mầm của các loài đã chọn thu được sau khi gieo hạt 10 tuần
- Phương pháp: Cây mầm được cấy vào 5 môi trường khoáng: MS, VW, KC, ½
MS, 1/3 MS (thay vì 3 môi trường như trong đề cương) Lấy một lượng mầm đồng nhất về kích thước để thực hiện thí nghiệm
- Chỉ tiêu theo dõi:
+ Chiều cao cây (cm)
+ Số lá
Trang 21+ Số lượng rễ
+ Chiều dài rễ (cm)
+ Khối khối lượng tươi của chồi (g)
+ Màu sắc chồi
Thời gian theo dõi: sau 2 tháng làm thí nghiệm
- Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thu thập được xử lý theo các chương trình phần mềm Excel và MSTAT hoặc MSTATC
2.2.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của nồng độ các chất điều hòa sinh trưởng thực vật lên sự phát triển của chồi (thu được từ hạt gieo) trên các môi trường
cơ bản
a) Đối tượng thí nghiệm:
Cây lan con được gieo từ hạt của 5 loài lan rừng đã chọn
b) Phương pháp thí nghiệm: 4 liều lượng của BA, 3 liều lượng NAA, bố trí theo phương pháp hoàn toàn ngẫu nhiên (RCD), với 12 công thức và 3 nhắc lại, như sau:
Kí hiệu công thức BA (mg/l) NAA (mg/l)
Trang 22Thí nghiệm được thực hiện trên 3 môi trường khoáng cơ bản (MS, VW
và KC) với các chất bổ sung: Adenin 10mg/lít + Pepton 1,0mg/lít + đường sacaro 30g/lít và nước dừa 150ml/l Môi trường đặc có agar (7,5g/lít) Mỗi nhắc lại 5 bình, mỗi bình 6 cây
Chỉ tiêu theo dõi: Theo dõi sau khi chồi đã cấy được 2 tháng
+ Tỷ lệ mẫu tạo chồi (%) + Số lượng chồi (cái)
+ Khối lượng chôi tươi (gr)
+ Màu sắc cụm chồi
Như vậy, tổng số thí nghiệm sẽ là 3 môi trường x 5 loài lan = 15 thí nghiệm
2.2.3 Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của nồng NAA và than hoạt tính lên sự hình
thành rễ và sự phát triển của cây lan con
a) Đối tượng thí nghiệm:
Chồi của cây lan từ giai đoạn trước (nhân chồi) sau khi cấy chuyền lần 2 được dùng thí nghiệm tạo rễ, nhân cây con
b) Bố trí thí nghiệm:
Điều kiện thí nghiệm: Thí nghiệm được giữ trong phòng nhiệt độ phòng
25oC, cường độ chiếu sáng 1000 lux, 16 giờ/ngày
c) Phương pháp nghiên cứu: thí nghiệm được bố trí theo phương pháp hoàn toàn ngẫu nhiên, với 10 công thức, 3 nhắc lại
+ 4 liều lượng của NAA: 0; 0,1; 0,2; 0,5; 1,0 mg/lít
+ 2 liều lượng than hoạt tính: 0; 1,0 mg/lít
Thí nghiệm được thực hiện trên môi trường khoáng cơ bản tốt nhất trong các thí nghiệm trước với các chất bổ sung: đường sacaro 30g/lít, dịch nấm men, chuối 30g/lít và nước dừa 150ml/l Môi trường đặc có agar (7,5g/lít)
Trang 23Tên công thức NAA (mg/lít) Than hoạt tính
Chồi được cấy trong bình tam giác loại 250ml, mỗi bình 20 chồi Tổng
số mỗi thí nghiệm/môi trường gồm 10 công thức x 3 nhắc lại = 30 bình (đối với
+ Chiều dài rễ (cm) + Khối lượng tươi của chồi (gr) + Màu sắc lá
Tiến hành thí nghiệm trên 5 loài lan rừng đã được chọn từ vườn thu thập (tổng số: 5 thí nghiệm)
Trang 242.3 NỘI DUNG 3 Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố giá thể trồng đến khả
năng sinh trưởng và phát triển của cây con từ nhân nuôi cấy mô trong vườn ươm tại TP HCM
a) Đối tượng thí nghiệm:
Cây lan từ giai đoạn ra khỏi ống nghiệm đến 6 tháng
c) Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng các nguyên liệu để làm giá thể như sau:
Trang 259 Than củi 30% + Dớn cọng 30% + Vỏ dừa miếng 40%
10 Than củi 40% + Dừa miếng 40% + Dớn mềm 20%
Tiến hành thí nghiệm trên 5 loài lan rừng được chọn từ vườn thu thập Trước khi đưa vào giá thể, cây lan trong chai được đưa ra khỏi phòng lạnh, tiếp xúc với ánh sáng tán xạ ngoài trời khoảng 20 ngày (tránh gây sốc khi chuyển từ trong chai ra môi trường bên ngoài), sau đó bó phần rễ cây lan con bằng một lượng nhỏ (2-3g) xơ dừa để giữ ẩm và để cây 15-20 ngày trên mặt giá thể xơ dừa cho cây ổn định mới chuyển ra giá thể làm thí nghiệm Các điều kiện chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh đồng đều trên các công thức (theo quy trình chăm sóc lan rừng mà các nghệ nhân đang áp dụng)
Các chỉ tiêu theo dõi :
Số liệu được xử lý theo chương trình phần mềm MSTAT hoặc MSTATC
Trang 26CHƯƠNG III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều tra, đánh giá hiện trạng, thu thập và trồng duy trì các giống lan rừng thu thập được ở khu vực TP Hồ Chí Minh và vùng phụ cận.
3.1.1 Tình hình trồng lan rừng tại các hộ gia đình tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh
Kết quả điều tra trong bảng 1.1 cho thấy có tới 13 chi lan rừng với 31 loài được trồng tại các nhà vườn của khu vực thành phố Hồ Chí Minh Trong
đó phổ biến là lan Ngọc điểm (Rhynchostylis gigantea), Đuôi cáo (Rhynchostylis retusa), Quế lan hương (Aerides odoratum), Hỏa hoàng (Ascocentrum miniatum), Trường kiếm (Cymbidium aloifolium), Thạch hộc (Dendrobium crumenatum) Loài lan Thủy tiên trắng (Dendrobium farmeri)
xuất hiện trên nhiều hộ trồng lan, nhưng chỉ có một vài giò để chơi, không nhiều cho mục đích kinh doanh Vì vậy, chúng tôi không đưa vào danh sách nhưng loài lan rừng phổ biến trong bảng 1.2
Bảng 1.1 Các loài lan rừng được trồng tại các hộ gia đình đã điều tra
STT
Tên loài lan Nơi và mức độ phổ biến Tên khoa học Tên tiếng Việt Địa phương
Số hộ trồng/ số
hộ đ.tra
2
Aerides crassifolia Par &
9 Christensonia vietnamica Khiết sơn Việt Nam Bình Chánh 1/65
Trang 27Vanda lilacina Teijsm &
Trang 28Bảng 1.2 Tỷ lệ hộ trồng và các loài lan rừng chủ yếu
Chỉ tiêu
Loại lan
Tỷ lệ
hộ trồng (%)
Hộ trồng từ
≥ 500 chậu (hoặc giò)
Hộ trồng từ 100-<500 chậu (hoặc giò)
Hộ trồng
< 100 chậu (hoặc giò)
Số lượng
Ghi chú: (a) Số hộ trồng lan rừng/số hộ điều tra; (b) Số hộ trồng 1 loài/số hộ trồng lan rừng Số liệu điều tra chủ yếu tại các huyện Bình Chánh, Củ Chi, Hóc Môn
Tiến hành điều tra tại các cơ sở trồng lan kinh doanh và các hộ nông dân chơi lan, số liệu bảng 1.2 cho thấy có tới 72,53% số hộ có trồng lan trong tổng
số 91 hộ điều tra Loài lan rừng được trồng phổ biến là Ngọc điểm
(Rhynchostylis gigantea) với 92,42% số hộ điều tra Trong đó có tới 8,2% số hộ
trồng trên 500 chậu và 11,48% số hộ trồng từ 100-<500 chậu Những loài khác
chiếm tỷ lệ cao là Giả hạc (Dendrobium anosmum), Hỏa hoàng (Ascocentrum miniatum), Hải yến (Rhynchostylis coelestis) Nhưng, những loài lan này cũng
chỉ chiếm từ 16,9%-29,3% số hộ trồng và hầu hết trồng dưới 100 chậu mỗi hộ
Xét về mức độ phổ biến, số liệu bảng 1.2 còn cho thấy số hộ trồng lan rừng các loại với trên 500 giò chiếm tới 10,77% số hộ
Qua đây cho thấy, chỉ có loài lan Ngọc điểm là được trồng phổ biến cho mục đích kinh doanh, các loài còn lại chủ yếu là trồng chơi làm hoa cảnh Có
nhiều hộ chỉ trồng vài 3 chậu trong vườn lan lai Dendrobium, Catlleya hoặc Mokara
Trang 293.1.2 Thu thập các loài lan rừng tạo vườn sưu tập nguồn gen
Cho đến nay, đề tài đã thu thập được 117 loài lan rừng thuộc 39 chi lan Trong đó đã định danh được 110 loài (Bảng 1.3) Những loài còn lại chưa ra hoa nên chưa định danh được
Trong số những loài thu thập được, qua theo dõi hơn 3 năm, chúng tôi thấy có khá nhiều loài ra hoa được tại điều kiện khí hậu của Củ Chi, thành phố
Hồ Chí Minh Trong đó, có những loài tương đối dễ ra hoa và có những đặc điểm hấp dẫn với người chơi lan, đó là:
1 Quế lan hương (Aerides odoratum Lour.),
2 Khiết sơnViệt Nam (Christensonia vietnamica Haager),
3 Kim điệp (Dendrobium capillipes Rchb.f.),
4 Thủy tiên trắng (Dendrobium farmeri Paxt.),
5 Long tu (Dendrobium primulinum Lindl.),
6 Hải yến (Rhynchostylis coelestis Rchb.f.),
7 Ngọc điểm (Rhynchostylis gigantea (Lindl.) Ridl.),
8 Thập hoa (Dendrobium hercoglossum Rchb.f.) và một số loài khác
Trong số những loài trên thì có 4 loài ra hoa vào dịp tết nguyên đán là Kim điệp, Long tu, Thủy tiên trắng và Ngọc điểm Ngọc điểm còn có hương rất thơm Khiết sơn Việt Nam có màu xanh quý phái, nhưng không ra hoa đúng tết, chúng có thể trồng thưởng thức hoặc dùng làm vật liệu lai tạo Loài Quế lan hương ra hoa vào vụ hè thu, kích cỡ hoa lớn và có hương thơm ngát
Qua quan sát, chúng tôi thấy rằng với sự đa dạng sinh học của các loài lan rừng thì hầu như thời gian nào trong năm cũng có loài nở hoa Từ đó, chúng
ta có thể đề xuất một bộ giống lan rừng phong phú để khuyến cáo cho người chơi hoa theo mùa trong năm
Trong phạm vi của đề tài, với những giống lan đã thu thập được, chúng tôi đã chọn những giống sau đây để đưa vào làm thí nghiệm nhân giống:
Trang 30Bảng 1.3 Danh sách các loài lan thu thập được lưu giữ trong vườn sưu tập của Khu Nông nghiệp Công nghệ cao, Củ Chi
Tình hình sinh trưởng
Thời gian
ra hoa (Tháng…) Ghi chú
Giáng hương quế
7 9 Agrostophyllum
plamicaule (Wall ex
Trung bình
Trang 31Seidenf
Trung
22 275 Bromheadia aporoides Rchb.f Lan đầm lầy trắng Đa thân
24 27 Christensonia vietnamica Haager Khiết sơn Việt Nam Đa thân Mạnh 4-5, 8-10
Downie
Syn fuerstenbergianum
racemiferum (Lindl.)
graminifolia Rchb.f
Trang 3232 30 " lawrenceana Rolfe Thanh đạm vàng Đa thân Mạnh 2-4
massangeana Ridl
Trung bình
Trung bình
virescens Rolfe
Trung bình
42 300 " amabile (Lour.) O‟Brien Thủy tiên tím Đa thân Mạnh
Trung
bệnh đốm
lá
bệnh đốm
lá
Trang 3352 44 " delacourii Guill Điểu Lan Đa thân
Trung bình 4-5 & 9-10
Trung
Hoàng thảo
Hoàng thảo hoa
pachyglossum Parish &
Trung bình
Đa thân
Trang 3470 279 " signatum Rchb.f Hoàng phi lạc Đa thân Mạnh 7
71 36a sulcatum Lindl Thủy tiên dẹt Đa thân Mạnh
73 302 " venustum Teijs & Binn Hoàng thảo môi tơ Đa thân Mạnh 8-10
Trung
84 317 Flickingeria albopurpurea Seidenf Đa thân Mạnh
85 168 Gastrochilas calceolaris Buch Ham Hàm lân cứng Đơn thân
Trung bình
Trang 3589 135 Renanthera imschootiana Rolfe Huyết nhung Đơn thân Mạnh 4 (N0:242)
92 79 Rhynchostylis gigantea (Lindl.) Ridl Ngọc điểm Đơn thân Mạnh
Nhiều bệnh
Trung
103 318 " convallariae Hook.f Đa thân
Trung bình
105 85 Pteroceras
semiteretifolium
Trung
Trang 36107 86 Smitinandia
micrantha (Lindl.)
110 92 Thecostele
alata (Roxb) Par &
Trung
Trung bình
113 95 Vanda
lilacina Teijsm &
denisoniana Benson &
Trang 37+ Quế lan hương (Aerides odoratum),
+ Thập hoa (Dendrobium hercoglossum),
+ Thủy tiên trắng (Dendrobium farmeri),
+ Ngọc điểm (Rhynchostylis gigantea),
+ Khiết sơn Việt Nam (Christensonia vietnamica),
Ngoài ra Đề tài còn chọn thêm loài lan Kim điệp (Dendrobium capillipes)
dự phòng cho thí nghiệm Lý do chọn những loài lan trên (6 loài), nhiều hơn số lượng đã nêu trong đề cương 01 loài vì:
+ Quế lan hương: sinh trưởng mạnh, phù hợp với điều kiện khí hậu thành phố Hồ Chí Minh Kích thước hoa trung bình nhưng chùm hoa lớn, màu trắng khá đẹp và đặc biệt là có hương thơm quế
+ Thập hoa là loài lan có khả năng sinh trưởng và phát triển mạnh, có thể
ra hoa nhiều lần trên thân và nhiều lần trong năm, mà rất ít loài có khả năng này Mặc dù kích thước hoa nhỏ
+ Thủy tiên trắng, cây khỏe, có thể ra hoa tại thành phố Hồ Chí Minh, nhưng tỷ lệ cây ra hoa thấp hơn các loài được chọn Tuy nhiên, chúng có phát hoa lớn, mang nhiều hoa, kích thước hoa trung bình, có màu trắng hơi vàng rất đẹp, hương thơm nhẹ dễ chịu
+ Ngọc điểm, đây là loài hoa được nhiều người dân trồng làm cảnh và kinh doanh Hoa nở vào dịp tết, chùm hoa lớn, với nhiều bông hoa trắng đốm tím Đặc biệt, hoa có hương rất thơm Cây sinh trưởng khá tốt tại thành phố Hồ Chí Minh
+ Khiết sơn Việt Nam, là loài lan đặc hữu Việt Nam, cây sinh trưởng tương đối tốt, phù hợp với điều kiện khí hậu thành phố Hồ Chí Minh Hoa lớn vừa phải, có màu sắc đẹp, cánh màu xanh, môi trắng Đặc biệt là dễ ra hoa, thời gian ra hoa kéo dài 2-3 tháng trong năm
+ Kim điệp, mặc dù cây sinh trưởng không được tốt trong điều kiện thành phố Hồ Chí Minh, nhưng hoa khá đẹp, có màu vàng của hoa mai, nở vào dịp tết
(Hình ảnh của những loài lan được chọn làm thí nghiệm và những loài lan rừng
đã có hoa trong vườn sưu tập được minh họa trong Phụ lục 1)
Trang 383.2 Nghiên cứu phương pháp nhân giống một số loài lan rừng có triển vọng
Nhằm xác định môi trường khoáng cơ bản phù hợp và xác định được các chất điều hòa sinh trưởng tốt nhất đối với sự sinh trưởng của cây lan con, chúng tôi đã tiến hành các thí nghiệm và thu được kết quả như sau:
3.2.1 Ảnh hưởng của các môi trường khoáng cơ bản lên sự nảy mầm và phát triển của cây con
a) Nghiên cứu ảnh hưởng của các môi trường khoáng cơ bản lên sự nảy mầm của hạt
Trong giai đoạn này chúng tôi gieo hạt trên 3 môi trường khoáng cơ bản và sau đó là môi trường MS pha loãng Thu thập số liệu trung bình của 5 bình gieo hạt đối với mỗi loài lan, quan sát và nhận xét sơ bộ về màu sắc cũng như sức sống của mầm mọc từ hạt
Thu thập những quả lan đã chín sinh lý của các loài lan rừng được chọn, lau sạch quả bằng cồn 70o, sau đó đốt sơ trước khi lấy hạt bên trong để gieo Hạt lan được gieo vào các môi trường khoáng khác nhau: Murashige & Skoog (MS), Vaccin & Went (VW), Knudson C (KC), 1/2 MS, 1/3 MS
- Kết quả: Trên các môi trường khoáng MS, VW và KC hầu hết các loài lan đưa vào thí nghiệm đều cho tỷ lệ nảy mầm rất thấp So sánh giữa 3 môi trường thì MS có số cây mọc mầm nhiều hơn Vì vậy, chúng tôi giảm hàm lượng khoáng của môi trường MS, dùng môi trường ½ MS, 1/3 MS, ¼ MS và đã thu được kết quả tương đối tốt với tỷ lệ nảy mầm cao hơn Số liệu được thể hiện trên bảng 2.1
- Loài Quế lan hương (Aerides odoratum): gieo trên môi trường MS pha
loãng, sau 25 ngày hạt bắt đầu nảy mầm, tỷ lệ nảy mầm không cao 35%), nhưng mầm to, xanh Trong khi trên môi trường MS, sau khoảng
(25-15 ngày hạt có màu vàng và sau bị chết, chỉ khoảng 1-2 % nảy mầm
- Thập hoa (Dendrobium hercoglossum): Trái to, vỏ trái còn xanh, gieo trên
môi trường MS pha loãng, sau 30 ngày hạt bắt đầu nảy mầm Tỷ lệ nảy mầm cao (90,6-95,2%), mầm hơi vàng
Trang 39Bảng 2.1: Tỷ lệ nảy mầm (%) của hạt một số loài lan trên các môi trường khoáng
Khiết sơn Việt Nam
Quế lan hương Kim điệp Thập hoa Ngọc điểm Thủy tiên trắng
- Ngọc điểm (Rhynchostylis gigantea): trái đưa vào còn xanh, không bị nứt
Sau 43 ngày gieo, hạt bắt đầu nảy mầm Hạt được gieo trên các môi trường
½ MS, 1/3 MS và ¼ MS Tỉ lệ hạt nảy mầm đạt tương ứng là 50%, 64,8%
và 59,8 % Cây mầm cao trung bình, khỏe, dạng tròn
- Thủy tiên trắng (Dendrobium farmeri): Trái đưa vào thí nghiệm chín, vỏ
có màu hơi vàng Sau 40 ngày hạt bắt đầu nảy mầm Hạt được gieo vào môi trường MS pha loãng, tỷ lệ nảy mầm đạt 70-72% Cây mầm nhỏ, có màu hơi vàng
- Loài Khiết sơn Việt Nam (Chritensonia vietnamica): Gieo trên môi trường
MS pha loãng, hạt bắt đầu xuất hiện hạt nảy mầm ngày sau 36 ngày Ở cả những môi trường này, tỷ lệ hạt nảy mầm cũng không cao (20-22%), nhưng lại cho mầm to khỏe, màu xanh rất tốt
- Kim điệp (Dendrobium capillipes): Trái đưa vào nhỏ, còn xanh, không bị
nứt, gieo trên môi trường MS pha loãng, sau 30 ngày hạt bắt đầu nảy mầm, với tỷ lệ khá cao, 1/2MS đạt 80,4% trên môi trường 1/3 MS, tỷ lệ khoảng 93,0%; môi trường ¼ MS, tỷ lệ nảy mầm 91,2%, mầm to, khoẻ
Nhìn chung, trong 5 môi trường khoáng cơ bản MS, VW và KC (đầy đủ)
và MS pha loãng thì môi trường khoáng đầy đủ dùng gieo hạt không phù hợp cho hạt lan nảy mầm so với môi trường khoáng MS pha loãng Kết quả này phù hợp
Trang 40với nghiên cứu của Chen và Chang (2006) đã sử dụng môi trường MS nồng độ
thấp để gieo hạt lan Phalaenopsis và cho thấy hạt nảy mầm tốt trong môi trường
½ MS Riêng đối với 2 loài Thập hoa và Kim điệp môi trường có hàm lượng khoáng giảm ½, 1/3MS, 1/4MS cho tỷ lệ nảy mầm cao (80-95%) Loài lan khó
nảy mầm trên các môi trường khoáng là Khiết sơn Việt Nam (Christensonia vietnamica) Điều này có lẽ do đặc điểm của giống, liên quan đến yếu tố di
truyền Chính vì vậy, nó tạo ra đa dạng sinh học trong tự nhiên
b) Nghiên cứu ảnh hưởng của các môi trường khoáng cơ bản lên sự phát triển của cây con từ hạt
Sử dụng cây mầm của các loài đã chọn thu được sau khi gieo hạt 10 tuần Cây mầm được cấy vào 5 môi trường khoáng: MS, VW, KC, ½ MS, 1/3 MS (thay
vì 3 môi trường như trong đề cương) Lấy một lượng mầm đồng nhất về kích thước để thực hiện thí nghiệm
Kết quả sau 8 tuần nuôi cấy, sự phát triển của cây mầm được ghi nhận như sau:
* Quế lan hương:
Số liệu bảng 2.2 cho thấy tất cả các môi trường đều phù hợp cho phát triển của cây mầm Trên môi trường MS thu được các giá trị tuyệt đối cao nhất về chiều cao cây, số lá, số rễ, chiều dài rễ, khối lượng rễ so với các môi trường khác Nhưng số liệu sai khác không ý nghĩa khi xử lý thống kê
Thông qua quan sát bằng mắt, thì môi trường MS và ½ MS có màu lá xanh sậm hơn, thể hiện ưu thế của 2 công thức môi trường này
* Thập hoa:
Hầu như các công thức môi trường đều thu được số liệu tương tự về các chỉ tiêu về chiều cao cây, số lá, số rễ, khối lượng rễ Những số liệu này sai khác nhau không ý nghĩa thống kê Duy chỉ có chiều dài rễ có sự sai khác có ý nghĩa Nhưng khi quan sát sự sinh trưởng của chồi thì thấy môi trường MS, ½ MS, 1/3
MS mầm cây xanh và thể hiện sức sống tốt hơn