Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (Vùng KTTĐPN) gồm 8 tỉnh, thành phố: thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Long An và Tiền Giang. Với định hướng tập trung đầu tư phát triển những ngành, lĩnh vực, sản phẩm mũi nhọn có lợi thế so sánh của từng khu vực trong vùng, huy động cao nhất các nguồn lực, chủ yếu là nội lực, trước hết là nguồn lực tại chỗ để khai thác có hiệu quả tiềm năng và lợi thế của vùng, thúc đẩy sự phát triển của các tỉnh trong vùng, nhanh chóng đưa Vùng KTTĐPN trở thành một vùng động lực, đi đầu trên các lĩnh vực công nghiệp, thương mại, dịch vụ, từng bước hiện đại hóa trong từng lĩnh vực cụ thể; lôi kéo sự phát triển chung của cả nước, đặc biệt là khu vực phía Nam, trước mắt cũng như dài hạn Vùng KTTĐPN vẫn là một vùng công nghiệp chủ lực của cả nước. Trong những năm vừa qua các KCN đã đóng góp phần không nhỏ cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam, giúp đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước. Trong giai đoạn mới, tại Đại hội lần thứ IX Đảng ta một lần nữa đã khẳng định “Phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhiệm vụ trung tâm” và phải “Xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”, thì vai trò của các KCN càng được củng cố như một cầu nối kinh tế Việt Nam với kinh tế quốc tế. Đại hội X tiếp tục nhấn mạnh: “Hoàn chỉnh quy hoạch phát triển các khu, cụm, điểm công nghiệp trên cả nước; hình thành các vùng công nghiệp trọng điểm; gắn việc phát triển sản xuất với bảo đảm các điều kiện sinh hoạt cho người lao động. Chuyển các cơ sở công nghiệp trong nội thành, nội thị, gần khu đông dân cư không bảo đảm tiêu chuẩn môi trường vào các KCN tập trung hoặc vùng ít dân cư”.
Trang 11.1.3 Vai trò của khu công nghiệp trong phát triển kinh tế 81.1.4 Phân loại các KCN ở Việt Nam hiện nay 91.1.5 Tình hình phát triển các khu công nghiệp của nước ta hiện nay 101.1.5.1 Quy mô, số lượng các khu công nghiệp 101.1.5.2 Về tình hình thu hút đầu tư vào khu công nghiệp 121.1.5.3 Về tình hình sản xuất kinh doanh 121.1.5.4 Về tình hình xử lý nước thải, bảo vệ môi trường KCN 131.2 Khái quát chung về vùng kinh tế trọng điểm 13
1.2.2 Ý nghĩa của việc xây dựng các vùng kinh tế trọng điểm ở nước ta15
Trang 21.2.3 Các vùng kinh tế trọng điểm ở nước ta 16CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ TỔ CHỨC KHU CÔNG NGHIỆP Ở VÙNG KINH TẾ
2.1 Tình hình phát triển kinh tế ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam 24
2.1.3 Quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế của Vùng KTTĐPN 292.1.4 Cơ cấu kinh tế Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam 302.2 Vấn đề tổ chức lãnh thổ khu công nghiệp ở Vùng KTTĐPN 322.2.1 Quy mô và cơ cấu ngành các khu công nghiệp ở vùng kinh tế trọng
Trang 32.3.1 Sự cần thiết phát triển các khu công nghiệp trong vùng KTTĐPN60 2.3.1.1 Phát triển các KCN là nội dung không thể tách rời trong tổng thể phát triển kinh tế xã hội của các địa phương vùng KTTĐPN 60
2.3.1.2 Quy hoạch khu công nghiệp Vùng KTTĐPN phù hợp với quy hoạch phát triển hệ thống khu công nghiệp trong cả nước 612.3.1.3 Phát triển khu công nghiệp - nhân tố quan trọng nhằm tăng năng lực cạnh tranh của công nghiệp Vùng KTTĐPN 622.3.2 Những đóng góp tích cực của KCN ở Vùng KTTĐPN 63
2.3.2.3 Tăng nguồn thu ngoại tệ, góp phần cải thiện cán cân ngoại
2.3.2.4 Du nhập kỹ thuật và công nghệ mới 65
2.3.2.5 Góp phần xoá đói giảm nghèo và phát triển nguồn nhân lực
65 2.3.3. Những hạn chế và tác động tiêu cực của các KCN ở Vùng
2.3.3.2 Ô nhiễm môi trường tại các địa phương có KCN 682.3.3.3 Diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp 692.3.3.4 Di chuyển lao động làm phức tạp một số vấn đề xã hội 69
2.3.3.5 Ảnh hưởng của việc thành lập các KCN đến cuộc sống người
Trang 4CHƯƠNG III- CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG
3.1 Định hướng, khả năng phát triển trong tương lai các KCN của Vùng
3.2 Một số biện pháp phát triển KCN của Vùng KTTĐPN 74
3.2.3 Không ngừng hoàn thiện bộ máy quản lý các KCN 763.2.4 Cải thiện môi trường sản xuất và môi trường làm việc 76
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (Vùng KTTĐPN) gồm 8 tỉnh, thành phố: thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Long An và Tiền Giang Với định hướng tập trung đầu tư phát triển những ngành, lĩnh vực, sản phẩm mũi nhọn có lợi thế so sánh của từng khu vực trong vùng, huy động cao nhất các nguồn lực, chủ yếu là nội lực, trước hết là nguồn lực tại chỗ để khai thác có hiệu quả tiềm năng và lợi thế của vùng, thúc đẩy sự phát triển của các tỉnh trong vùng, nhanh chóng đưa Vùng KTTĐPN trở thành một vùng động lực, đi đầu trên các lĩnh vực công nghiệp, thương mại, dịch vụ, từng bước hiện đại hóa trong từng lĩnh vực cụ thể; lôi kéo sự phát triển chung của cả nước, đặc biệt là khu vực phía Nam, trước mắt cũng như dài hạn Vùng KTTĐPN vẫn là một vùng công nghiệp chủ lực của cả nước
Trong những năm vừa qua các KCN đã đóng góp phần không nhỏ cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam, giúp đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước Trong giai đoạn mới, tại Đại hội lần thứ
IX Đảng ta một lần nữa đã khẳng định “Phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhiệm vụ trung tâm” và phải “Xây dựng một nền kinh tế độc lập
tự chủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”, thì vai trò của các KCN càng được
củng cố như một cầu nối kinh tế Việt Nam với kinh tế quốc tế Đại hội X tiếp
tục nhấn mạnh: “Hoàn chỉnh quy hoạch phát triển các khu, cụm, điểm công nghiệp trên cả nước; hình thành các vùng công nghiệp trọng điểm; gắn việc phát triển sản xuất với bảo đảm các điều kiện sinh hoạt cho người lao động Chuyển các cơ sở công nghiệp trong nội thành, nội thị, gần khu đông dân cư không bảo đảm tiêu chuẩn môi trường vào các KCN tập trung hoặc vùng ít dân cư”.
Hiện nay vấn đề tổ chức lãnh thổ công nghiệp của cả nước nói chung và
Trang 6tổ chức khu công nghiệp của các vùng kinh tế trọng điểm nói riêng đã đạt những hiệu quả nhất định, nổi bật về những thành tự đó là các KCN ở vùng KTTĐPN Tuy nhiên, nên cạnh những kết quả đã đạt được thì các KCN ở vùng KTTĐPN cũng bộc lộ một số hạn chế trong vấn đề tổ chức Vậy những thành tự đạt được
là gì? Những hạn chế cụ thể như thế nào? Và nguyên nhân từ đầu? Để trả lời những câu hỏi này chính là lí do tác giả đã chọn đề tài: Vấn đề tổ chức các KCN
ở Vùng KTTĐPN làm đề tài tiểu luận.
2 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tổ chức lãnh thổ các khu công nghiệp ở các vùng kinh
tế trọng điểm; tập trung đi sâu và trình bày, phân tích và đánh giá các đặc điểm của các khu công nghiệp ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Dựa trên quan điểm phát triển tổng hợp, xem xét thêm các vấn đề ảnh hưởng của phát triển công nghiệp tới phát triển kinh tế cùng với vấn đề xã hội và môi trường của cả vùng nói chung và từng tỉnh và thành phố trong vùng nói riêng
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu phát triển các KCN trong vùng
4 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp thu thập số liệu:
- Do điều kiện hạn chế, nên tôi chủ yếu tiến hành thu thập số liệu thứ cấp từ các nguồn:
+ Những thông tin, số liệu được thu thập từ các báo, tạp chí, luận văn có liên quan tử thư viện tổng hợp, thư việc ĐHSP TP Hồ Chí Minh, một số thư
Trang 7viện online Từ đó chọn lọc những kiến thức, những kết quả có thể sử dụng được
+ Thu thập từ các trang web có liên quan trên mạng Internet
* Phương pháp xử lý số liệu:
- Căn cứ vào mục đích của đề tài, tôi tiến hành thu thập những số liệu cần
có bên trên và phân tích các số liệu đó Tuy nhiên, để phân tích được, tôi sẽ phân tích các số liệu đó ra theo thời gian, sau đó sắp xếp chúng lại để tạo thành một chuỗi thời gian nhằm cho thấy sự thay đổi qua từng năm về KCN vá công nghiệp của vùng Từ đó có thể nhận biết được những thành tựu đã đạt được và những hạn chế cần khắc phục để đưa công nghiệp của vùng thông qua sắp xếp tổ chức lãnh thổ được hoàn thiện hơn và phát triển theo hướng hiện đại đáp, ứng được vai trò động lực trong phát triển công nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế
cả nước nói chung
Một phương pháp nữa phục vụ tôi trong quá trình phân tích và xử lý số liệu là phương pháp so sánh, nhằm so sánh giữa các năm với nhau và so sánh giữa giữa các tỉnh trong vùng, giữa vùng với các vùng kinh tế trọng điểm khác
trong vấn đề tổ chức lãnh thổ các KCN
5 Cấu trúc của tiểu luận
Cấu trúc của tiểu luận gồm 3 phần:
Trang 8PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1- MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ KHU CÔNG NGHIỆP VÀ VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM
1.1/ Khái quát chung về khu công nghiệp
1.1.1 Khái niệm
Khu công nghiệp (hay còn gọi là khu công nghiệp tập trung) được hiểu là khu vực tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp; có ranh giới xác định, không có dân
cư sinh sống, có chung hướng sản xuất hàng hóa, có ban quản lý điều hành kế hoạch chung toàn khu, có sử dụng hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông và các dịch
vụ công ích
Do Chính phủ hoặc thủ tướng quyết định thành lập (theo nghị định Chính phủ số 34/CP ngày 24/4/1999)
1.1.2 Đặc điểm của khu công nghiệp
- Tập trung tương đối nhiều xí nghiệp công nghiệp trên một khu vực
có ranh giới rõ ràng, sử dụng chung kết cấu hạ tầng sản xuất và xã hội
- Các xí nghiệp nằm trong khu công nghiệp được hưởng quy chế ưu đãi riêng (vốn, liên kết, sử dụng đất… ), công bằng, bình đẳng…
- Có ban quản lý thống nhất để thực hiện quy chế quản lý, điều hành
kế hoạch chung
- Có phân cấp về quản lý và tổ chức sản xuất theo các cấp độ, thuộc các lĩnh vực đặc thù của từng xí nghiệp
1.1.3 Vai trò của khu công nghiệp trong phát triển kinh tế
- Tăng cường năng lực cạnh tranh cho nền kinh tế
Trang 9- Góp phần quan trọng trong sự tăng trưởng kinh tế và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Góp phần thúc đẩy năng lực khoa học – công nghệ của đất nước
- Góp phần giải quyết việc làm, tạo thu nhập ổn định, tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả cho lao động nước ta
- Các khu công nghiệp thúc đẩy sự phát triển kinh tế của địa phương, đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, góp phần giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội qua FDI
1.1.4 Phân loại các KCN ở Việt Nam hiện nay
Mặc dù có những đặc điểm chung, những KCN còn có những nét đặc thù thể hiện tính đa dạng của nó, một cách tổng quát có thể chia KCN thành 4 loại:
Một là: các KCN được thành lập trên khuôn viên đã có một số doanh
nghiệp công nghiệp đang hoạt động, KCN Tân Tạo, Bình Chiểu (TP Hồ Chí Minh) nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển KCN theo đúng quy hoạch mới, đồng thời tạo hạ tầng kỹ thuật phục vụ tốt việc phát triển KCN, có điều kiện xử lý chất thải công nghiệp
Hai là: các KCN được hình thành nhằm đáp ứng yêu cầu cho việc di dời
các nhà máy, xí nghiệp đang ở trong nội thành các đô thị lớn, do nhu cầu chỉnh trang đô thị và bảo vệ môi trường, môi sinh mà phải chuyển vào KCN Việc mở rộng các cơ sở, đổi mới công nghệ khó thực hiện do không còn diện tích đất và
xử lý hạ tầng, bảo vệ môi trường tốn kém, không phù hợp với mô hình đô thị hiện đại, do đó việc hình thành các KCN phục vụ nhu cầu di dời các cơ sở sản xuất là yêu cầu khách quan, cấp thiết
Ba là: Các KCN hiện đại và có quy mô lớn, xây dựng mới Các KCN
thuộc loại này do các công ty nước ngoài đầu tư xây dựng và phát triển hạ tầng theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, như KCN Hải Phòng - Nomura, KCN Việt Nam - Singapore, KCN Long Bình - Amata, Nhìn chung các KCN
Trang 10này có tốc độ xây dựng hạ tầng tương đối nhanh, chất lượng hạ tầng đạt tiêu chuẩn quốc tế, hệ thống xử lý chất thải công nghiệp tiên tiến, đồng bộ và một số khu vực có nhà máy phát điện riêng, tạo điều kiện hấp dẫn các nhà đầu tư trong
và ngoài nước muốn lỡm ăn lâu dài tại Việt Nam, có khả năng tài chính, công nghệ tiên tiến cần KCN đạt tiêu chuẩn quốc tế
Bốn là: Các KCN có quy mô nhỏ gắn liền với nguồn nguyên liệu nông,
lâm, thủy sản được hình thành ở một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng Trung du Bắc Bộ và Duyên hải miền Trung
Quá trình phát triển kinh tế nói chung và công nghiệp nói riêng trong thế
kỷ 21 đặt ra những yêu cầu mới, nhiệm vụ mới, tạo những đặc trưng mới cho bộ mặt các KCN Cách phân loại đa dạng theo quy mô, tính năng, sự hiện đại của
hạ tầng như trên sẽ phục vụ cho việc tạo ra những thông tin phong phú, hữu ích cho các cấp quản lý và hoạch định chính sách Việc phân loại cũng tạo cơ hội cho các nhà đầu tư nhanh chóng tiếp cận được thông tin cần thiết, phù hợp với nhu cầu của mình
1.1.5 Tình hình phát triển các khu công nghiệp của nước ta hiện nay
1.1.5.1 Quy mô, số lượng các khu công nghiệp
Hiện nay, cả nước đã có 255 khu công nghiệp (KCN) được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên 69.253 ha, trong đó diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt trên 45.000 ha, chiếm khoảng 65% tổng diện tích đất tự nhiên Trong đó, 171 KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên 43.580
ha và 84 KCN đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản với tổng diện tích đất tự nhiên 25.673 ha
Trang 11Mô hình khu công nghiệp
Ra đời cùng với loại hình KCX, KCN cũng sớm gặt hái được nhiều thành công ở các quốc gia khác nhau, đặc biệt là các nước đang phát triển
Tình hình phát triển các KCN nước ta thời kì 1991- 2008
(Nguồn: Bộ KH&ĐT, 2009)Theo Quyết định 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ, đến năm 2015, dự kiến thành lập mới 115 KCN và mở rộng 27 KCN với tổng diện tích gần 32.000 ha Sau một thời gian thực hiện Quyết định nêu trên,
Trang 12một số KCN đã được thành lập và một số KCN đã được bổ sung vào quy hoạch phát triển các KCN đến năm 2020
Các KCN tập trung ở 24 tỉnh, thành phố thuộc 4 vùng KTTĐ Đến cuối năm 2008, ở 4 vùng kinh tế trọng điểm có 167 KCN, tổng diện tích đất tự nhiên đạt 46.825 ha, với 74,9% tổng số các KCN và 81,8% tổng điện tích đất tự nhiên các KCN của cả nước
1.1.5.2 Về tình hình thu hút đầu tư vào khu công nghiệp
Tính 2013, các KCN trên cả nước đã thu hút được tổng cộng 4.250 triệu USD vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có 215 dự án mới với tổng số vốn đầu tư đăng ký đạt hơn 3.031 triệu USD và 212 lượt dự án tăng vốn với số vốn tăng thêm đạt 1.219 triệu USD
Tính đến 2013, các KCN cả nước đã thu hút được 3.900 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký gần 54 tỷ USD và 4.664 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký gần 310 nghìn tỷ đồng (tính tiêng cho các dự
án thứ cấp trong KCN) Tổng vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của 255 KCN trên cả nước đạt gần 3 tỷ USD và gần 110.000 tỷ đồng
Tỷ lệ lấp đầy diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê của các KCN trên
cả nước đạt khoảng 50%, riêng các KCN đã vận hành đạt tỷ lệ lấp đầy khoảng 65%
Về quy mô, trung bình mỗi KCN có diện tích xấp xỉ 219,7 ha KCN có diện tích lớn nhất là KCN Phú Mỹ I (Bà Rịa - Vũng Tàu) thành lập năm 1998 với diện tích là 954,4 ha và KCN có diện tích nhỏ nhất là KCN Bình Chiểu (TP
Hồ Chí Minh) được thành lập năm 1996 có diện tích 27,34 ha
1.1.5.3 Về tình hình sản xuất kinh doanh
Đến tháng đầu tháng 12/2010, vốn đầu tư thực hiện của các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài trong KCN đạt gần 20 tỷ USD, chiếm 37% tổng vốn đầu tư đăng ký; vốn thực hiện của các doanh nghiệp trong nước trong KCN đạt
Trang 13140 nghìn tỷ đồng, chiếm 45% tổng vốn đầu tư đăng ký Có 3.300 dự án có vốn đầu tư nước ngoài và khoảng 3.500 dự án đầu tư trong nước đang hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tổng vốn đầu tư thực hiện của các dự án phát triển kết cấu hạ tầng KCN đến tháng 12/2010 đạt khoảng 1 tỷ USD (dự án có vốn đầu tư nước ngoài) và gần 50 nghìn tỷ đồng (dự án đầu tư trong nước), chiếm tương ứng 35% và 45%
so với tổng vốn đầu tư đăng ký của các dự án có vốn đầu tư nước ngoài và các
dự án đầu tư trong nước
Trong năm 2010, các doanh nghiệp KCN đạt doanh thu gần 19 tỷ USD và 25.400 tỷ đồng, giá trị nhập khẩu 11,5 tỷ USD, giá trị xuất khẩu 10,1 tỷ USD và nộp ngân sách gần 1,4 tỷ USD
Các KCN hiện thu hút được 1,5 triệu lao động trực tiếp
1.1.5.4 Về tình hình xử lý nước thải, bảo vệ môi trường KCN
Hiện có 105 KCN đã xây dựng xong hệ thống xử lý nước thải tập trung, chiếm 61% tổng số KCN đã vận hành; 34 KCN đang xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung Nhìn chung tình hình xử lý nước thải ở các khu công nghiệp trong cả nước ngày càng được chú trọng và đầu tư, nhằm hạn chế thấp nhất ảnh hưởng gây hại tới mô trường, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được so với yêu cầu
đề ra
1.2 Khái quát chung về vùng kinh tế trọng điểm
1.2.1 Khái niệm vùng kinh tế trọng điểm
Lãnh thổ được gọi là vùng kinh tế trọng điểm phải thoả mãn các yếu tố sau:
- Có tỷ trọng lớn trong tổng GDP của quốc gia và trên cơ sở đó, nếu được đầu tư tích cực sẻ có khả năng tạo ra tốc độ phát triển nhanh cho cả nước
Trang 14- Hội tụ đủ các điều kiện thuận lợi và ở mức độ nhất định, đã tập trung tiềm lực kinh tế (kết cấu hạ tầng, lao động lỹ thuật, các trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học cấp quốc gia và vùng, có vị thế hấp dẫn với các nhà đầu tư,
có tỷ trọng lớn trong GDP của cả nước )
- Có khả năng tạo tích luỹ đầu tư để tái sản xuất mở rộng đồng thời có thể tạo nguồn thu ngân sách lớn Trên cơ sở đó, vùng này không những chỉ tự đảm bảo cho mình mà còn có khả năng hỗ trợ một phần cho các vùng khác khó khăn hơn
- Có khả năng thu hút những ngành công nghiệp mới và các ngành dịch
vụ then chốt để rút kinh nghiệm về mọi mặt cho các vùng khác trong phạm vi cả nước Từ đây, tác động của nó là lan truyền sự phân bố công nghiệp ra các vùng xung quanh với chức năng là trung tâm của một lãnh thổ rộng lớn
Vậy, Vùng kinh tế trọng điểm là vùng hội tụ đầy đủ nhất các điều kiện phát triển và có ý nghĩa quyết định đối với nền kinh tế của cả nước
- Bao gồm nhiều tỉnh, thành phố và ranh giới có thể thay đổi
- Hội tụ đầy đủ các thế mạnh, tập trung tiềm lực kinh tế, hấp dẫn đầu tư
- Có tỉ trọng lớn trong tổng GDP, đẩy nhanh tốc độ phát triển cho cả nước
Trang 151.2.2 Ý nghĩa của việc xây dựng các vùng kinh tế trọng điểm ở nước
ta
Một trong những nhân tố đột phá then chốt để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là có những chính sách hợp lý nhằm đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bao gồm cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần kinh tế và
cơ cấu vùng kinh tế Yêu cầu đổi mới cơ cấu kinh tế của đất nước là một yêu cầu khách quan cấp thiết trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế
Từ nghiên cứu các đặc điểm về vị trí địa lý; điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên; đặc điểm và thực trạng kinh tế - xã hội của mỗi tỉnh, thành phố trong cả nước; các yếu tố tác động từ bên ngoài đến nền kinh tế của đất nước như: bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội của các nước trong khu vực và trên thế giới cũng như xu hướng toàn cầu hoá nhằm rút ra kết luận về những lợi thế, thời cơ phát triển cũng như những hạn chế, thách thức đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi tỉnh, thành phố trong cả nước nhằm giúp cho việc hoạch định những chính sách phát triển mang tính đột phá trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế quốc dân
Để thúc đẩy sự phát triển chung của cả nước cũng như tạo mối liên kết và phối hợp trong phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng kinh tế, Chính phủ Việt Nam đã và đang cố gắng lựa chọn một số tỉnh, thành phố để hình thành nên vùng kinh tế trọng điểm quốc gia có khả năng đột phá, làm trụ cột, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của cả nước với tốc độ cao và bền vững, tạo điều kiện nâng cao mức sống của toàn dân và nhanh chóng đạt được sự công bằng xã hội trong cả nước; Khai thác hợp lý các tiềm năng rự nhiên và kinh tế -
xã hội ở mỗi vùng miền của đất nước Việc hình thành các vùng kinh tế trọng điểm là nhằm đáp ứng những nhu cầu của thực tiễn nói chung và đỏi hỏi của nền kinh tế nước ta nói riêng
1.2.3 Các vùng kinh tế trọng điểm ở nước ta
Trang 16Cuối năm 1997 và đầu năm 1998, Thủ tướng Chính phủ đã lần lượt phê duyệt các quyết định số 747/1997/QĐ-TTg, 1018/1997/QĐ-TTg và Quyết định
số 44/1998/QĐ-TTg về Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội ba vùng kinh tế trọng điểm quốc gia đến năm 2010, bao gồm vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, Trung bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Trong 3 vùng kinh tế trọng điểm này, có 13 tỉnh/thành phố được xếp vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội các vùng kinh tế trọng điểm
Bảng: Số tỉnh được xếp vào vùng kinh tế trọng điểm theo các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ năm 1997 và năm 1998
I-Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ
II- Vùng kinh tế trọng điểm Trung bộ
Trang 17Trong Hội nghị các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Nam bộ ngày 21/6/2003, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định mở rộng ranh giới của vùng Văn phòng Chính phủ sau đó đã ra Thông báo số 99/TB-VPCP ngày 02/7/2003
20-về kết luận của Thủ tướng Chính phủ bổ sung vào vùng kinh tế trọng điểm Nam
bộ thêm 3 tỉnh: Tây Ninh, Bình Phước, Long An Tổng diện tích vùng kinh tế trọng điểm sau khi bổ sung là 23.994,2 km2, bằng 7,3% diện tích cả nước Dân
số (tính đến năm 2002) là 12,3 triệu người, bằng 15,4% so với cả nước Với vai trò trụ cột thúc đẩy vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long trong phát triển kinh tế - xã hội
Trong Hội nghị các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ ngày 15/7/2003, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định mở rộng ranh giới của vùng; sau
14-đó Văn phòng Chính phủ đã ra thông báo số 108/TB-VPCP ngày 30/7/2003 về kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị, trong đó có quyết định "Đồng ý
bổ sung 3 tỉnh: Hà Tây, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc vào vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ" Tổng diện tích vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ sau khi bổ sung là 15.277
km2, bằng 4,64% diện tích và dân số (tính đến năm 2002) là 13,035 triệu người, bằng 16,35% so với cả nước Với vai trò trò là trụ cột của vùng kinh tế Đồng bằng sông Hồng và Trung du miền núi Bắc Bộ
Vùng kinh tế trọng điểm Trung bộ, theo quyết định phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ số 1018/1997/QĐ-TTg ngày 29/11/1997, gồm thành phố Đà Nẵng và các tỉnh Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi Nay quy mô của vùng được mở rộng thêm tỉnh Bình Định Như vậy, vùng có diện tích tự nhiên 27.879 km2, dân số năm 2002 có khoảng 6 triệu người, chiếm 8,47% về diện tích
tự nhiên và khoảng 7,49% dân số so với cả nước Với vai trò tạo động lực thúc đẩy vùng kinh tế Bắc trung Bộ và Nam Trung Bộ phát triển
Sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong những năm vừa qua có được sự tăng trưởng cao và ổn định là do đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà
Trang 18nước Song sự tăng trưởng đó một phần là do sự tác động qua lại không chỉ giữa các vùng kinh tế trọng điểm mà còn do những tác nhân quan trọng khác như: hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông bao gồm: đường bộ, đường thuỷ, sân bay, các bến, cảng v.v trong các vùng kinh tế trọng điểm và các tỉnh/ thành phố trong cả nước nhằm mục tiêu tác động cùng phát triển…
Trong quá trình hình thành và phát triển, các vùng kinh tế trọng điểm đang phát huy lợi thế, tạo nên thế mạnh của mình theo cơ cấu kinh tế mở, gắn với nhu cầu thị trường trong và ngoài nước, và không chỉ tạo ra động lực thúc đẩy sự chuyển dịch nhanh cơ cấu nền kinh tế quốc dân theo chiều hướng tích cực mà còn góp phần ổn định nền kinh tế vĩ mô, đặc biệt là hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh lân cận trong vùng Nhà nước tiếp tục thúc đẩy các vùng kinh tế trọng điểm phát huy vai trò đầu tàu tăng trưởng nhanh, đồng thời tạo điều kiện và đầu tư thích đáng hơn cho vùng nhiều khó khăn Thống nhất quy hoạch phát triển trong cả nước, giữa các vùng, tỉnh, thành phố, tạo sự liên kết trực tiếp về sản xuất, thương mại, đầu tư, giúp đỡ kỹ thuật về nguồn nhân lực, nâng cao trình độ dân trí và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của vùng và khu vực, gắn chặt phát triển kinh
tế - xã hội với bảo vệ, cải thiện môi trường và quốc phòng an ninh
Nhận thức được vị trí, vai trò và tầm quan trọng của các vùng kinh tế trọng điểm trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; để đảm bảo cho sự vận hành về phát triển kinh tế của từng vùng cũng như giữa các vùng một cách hiệu quả, ngày 18 tháng 02 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 20/2004/QĐ-TTg về việc thành lập Tổ chức điều phối phát triển các vùng kinh tế trọng điểm ở cấp Trung ương Cơ cấu, bộ máy của Tổ chức điều phối phát triển các vùng kinh tế trọng điểm bao gồm: Ban Chỉ đạo điều phối phát triển các vùng kinh tế trọng điểm (gọi tắt là Ban Chỉ đạo) và các Tổ điều phối của các Bộ, ngành và địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm
Trang 19Ngày 13 tháng 8 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các Quyết định số 145, 146, 148/2004/QĐ-TTg về phương hướng chủ yếu phát triển kinh
tế -xã hội vùng kinh tế trọng điểm đến năm 2010 và tầm nhìn năm 2020 Trong các quyết định này, quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm đã được mở rộng thêm 7 tỉnh gồm Hà Tây, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh (Bắc bộ); Bình Định (Trung bộ)
và Tây Ninh, Bình Phước, Long An (Nam bộ) Đồng thời, các quyết định này cũng thay thế cho các quyết định số 747/1997/QĐ-TTg, 1018/1997/QĐ-TTg và Quyết định số 44/1998/QĐ-TTg đã ban hành năm 1997 và năm 1998
Bảng: Số tỉnh được xếp vào các vùng kinh tế trọng điểm theo các Quyết định 145, 146, 148/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ:
I-Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
II- Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
1 Thừa Thiên - Huế
Trang 20Tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XII, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết
số 15/2008/QH12 về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội và một số tỉnh có liên quan Theo đó, từ ngày 1 tháng 8 năm 2008, hợp nhất toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của tỉnh Hà Tây vào thành phố Hà Nội Như vậy, Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ bao gồm 7 tỉnh: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh
Trang 21Ngày 16 tháng 4 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án thành lập vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long gồm 4 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là:thành phố Cần Thơ, tỉnh An Giang, tỉnh Kiên Giang và tỉnh Cà Mau Theo đó, xây dựng Vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long trở thành vùng phát triển năng động, có cơ cấu kinh tế hiện đại, có đóng góp ngày càng lớn vào nền kinh tế của đất nước, góp phần quan trọng vào việc xây dựng cả vùng đồng bằng sông Cửu Long giàu mạnh, các mặt văn hoá, xã hội tiến kịp mặt bằng chung của cả nước; bảo đảm ổn định chính trị và an ninh quốc phòng vững chắc.
Bảng Số tỉnh được xếp vào các vùng kinh tế trọng điểm cho đến nay
I - Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
II- Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
1 Thừa Thiên - Huế
Trang 22III- Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Trang 23CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ TỔ CHỨC KHU CÔNG NGHIỆP Ở VÙNG KINH
TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍA NAM 2.1./ Tình hình phát triển kinh tế ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
2.1.1 Phạm vi lãnh thổ và vai trò của vùng
2.1.1.1 Phạm vi lãnh thổ
Vùng KTTĐPN là vùng lãnh thổ có nhiều điều kiện thuận lợi, có tiềm lực
và tốc độ phát triển kinh tế cao nhất cả nước Để phát huy được những lợi thế, ngay từ những năm 1994-1995, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của vùng trong mối quan hệ với cả nước, trong đó nêu rõ những ưu tiên đầu tư và phát triển trên nhiều lĩnh vực Ngày 23/2/1998 Quy hoạch này đã được phê duyệt theo Quyết định số 44/1998/QĐ-TTg Phạm vi lãnh thổ của vùng lúc này bao gồm 4 tỉnh, thành phố
là TP Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương Vào tháng 12/2003, theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về phương hướng chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm
2020, vùng này được mở rộng thêm 4 tỉnh nữa là Long An, Tiền Giang, Tây Ninh, Bình Phước
Đến năm 2010, vùng KTTĐPN bao gồm 8 tỉnh, thành phố với diện tích 30583,2 km2 và số dân 17689,7 nghìn người, chiếm 9,2% diện tích và 20,3% dân số cả nước
2.1.1.2 Vai trò
Vùng KTTĐPN có vị trí chiến lược trong việc phát triển kinh tế và giao lưu, hợp tác quốc tế ở khu vực phía Nam nước ta Nằm trên tuyến đường hàng hải quốc tế quan trọng của khu vực có tuyến đường xuyên Á chạy qua, có TP
Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, đầu mối giao thông lớn nhất cả nước với cảng Sài Gòn, Thị Vải, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, đây là điều kiện rất thuận lợi
để vùng KTTĐPN mở rộng giao lưu liên kết với các vùng khác trong và ngoài
Trang 24nước, tạo điều kiện cho vùng cũng như cả nước nhanh chóng hội nhập vào thị trường khu vực và thế giới.
Là vùng có tiềm lực kinh tế lớn nhất, phát triển năng động nhất với các cực tăng trưởng như TP Hồ Chí Minh, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, vùng KTTĐPN
đã có những đóng góp to lớn cho quá trình cất cánh của đất nước thông qua tốc
độ tăng trưởng kinh tế cao; đẩ mạnh hoạt động xuất nhập khẩu; mở rộng thị trường hàng hóa, dịch vụ, vốn, lao động, công nghệ…
Vùng KTTĐPN luôn năng động, đi đầu trong cả nước về sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế Điều đó góp phần tạo ra động lực thúc đẩy quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa của cả nước, tạo điều kiện hỗ trợ cho các vùng khác cùng phát triển
Do phát huy được các tiềm lực, cơ cấu kinh tế của vùng chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng công nghiệp, đặc biệt là các ngành có hàm lượng kĩ thuật, công nghệ và chất xám cao Tỉ trọng các ngành công nghiệp có trình độ và công nghệ kĩ thuật thấp giảm xuống nhanh chóng Có thể coi đây là mô hình đi tiên phong trong số các vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam
Trang 25Bản đồ kinh tế Vùng KTTĐPN
Vùng KTTĐPN là của ngõ, đầu mối giao lưu quốc tế năng động Với vị trí của mình, vùng đã và sẽ góp phần làm tăng thêm sức mạnh và nâng cao vị thế của nước ta trong việc mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới, đặc biệt là các nước trong khu vực Đông Nam Á và châu Á – Thái Bình Dương
Mạng lưới kết cấu hạ tầng của vùng được tăng cường cả về số lượng và chất lượng Kết cấu hạ tầng phát triển đã rút ngắn khoảng cách giữa các vùng trong và ngoài nước đến các cửa ngõ ra vào của vùng KTTĐPN Mối liên hệ kinh tế trước hết giữa vùng này với các vùng khác trong cả nước ngày càng trở nên thuận lợi Điều đó không chỉ tạo điều kiện cho vùng mở rộng giao lưu kinh
tế, phát huy được nội lực, mà còn thúc đẩy các vùng khác cùng phát triển
Ngoài ra vùng còn tạo ra ảnh hưởng tích cực về tiến bộ xã hội, văn hóa, khoa học - công nghệ, giáo dục và đào tạo với toàn bộ với khu vực phía nam
Trang 26Đó là việc đào tạo nguồn nhân lực, đảm bảo cho sự phát triển bền vững và hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng và an sinh xã hội, thúc đẩy sự phát triển đồng đều giữa các địa phương và các vùng khác trong cả nước.
Vùng KTTĐPN cũng là địa bàn chiến lược trong phòng thủ và đảm bảo
an ninh quốc phòng trên đất liền, vùng biển và vùng trời khu vực phía Nam tổ quốc nói riêng và cả nước nói chung
Như vậy, Vùng KTTĐPN với những lợi thế so sánh của mình đã có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của các tỉnh phía nam Không những thế, với
sự phát triển năng động của mình, vùng này cũng góp phần tạo nên sự chuyển biến tích cực của tình hình kinh tế - xã hội đất nước, tạo điều kiện và cục diện mới cho nước ta thời kì mới
2.1.2 Các lợi thế so sánh nổi bật của Vùng
(1) Vùng KTTĐPN nằm ở vị trí địa kinh tế độc đáo, trung tâm giao lưu, mang ý nghĩa cả nước và cả khu vực Đông Nam Á; nằm trên các trục giao thông quan trọng của cả nước, quốc tế và khu vực, có nhiều cửa ngõ vào - ra thuận lợi,
cả về đường sông, đường sắt, đường biển, đường hàng không; có thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm lớn nhất cả nước về kinh tế, công nghiệp, thương mại, dịch vụ, khoa học - kỹ thuật, đầu mối giao thông và giao lưu quốc tế lớn của cả nước; có Vũng Tàu là thành phố cảng và dịch vụ công nghiệp nằm ở "Mặt tiền Duyên hải" ở phía Nam, là cầu nối và "cửa ngõ" lớn giao lưu kinh tế với thế giới; Bình Dương, Biên Hoà và khu vực dọc theo đường 51 có điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp, có trục đường xuyên Á chạy qua ; gần các vùng nguyên liệu nông nghiệp, cây công nghiệp tập trung quy mô lớn nhất cả nước;
có nguồn tài nguyên có giá trị kinh tế cao, đặc biệt là dầu khí, tạo điều kiện cho vùng có khả năng phát triển chuyên môn hoá cao, đồng bộ, có sức cạnh tranh trong điều kiện hội nhập
(2) Vùng có lợi thế so sánh hơn nhiều vùng khác trong cả nước, lại sớm nhận được chủ trương của Chính phủ phát triển khu công nghiệp và kết cấu hạ
Trang 27tầng, do đó vùng có điều kiện cơ sở vật chất - kỹ thuật, điều kiện kinh tế - xã hội phát triển hơn hẳn các vùng khác Vùng có hệ thống kết cấu hạ tầng khá đồng
bộ, tập trung các cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học, trung tâm y tế, nguồn nhân lực dồi dào và có kỹ năng khá nhất, do đó là địa điểm có môi trường đầu tư hấp dẫn nổi trội
(3) Vùng là trung tâm đầu mối dịch vụ và thương mại tầm cỡ khu vực và quốc tế, đặc biệt là dịch vụ du lịch, dịch vụ tài chính, ngân hàng, viễn thông, dịch vụ cảng Đã hình thành mạng lưới đô thị vệ tinh phát triển xung quanh thành phố Hồ Chí Minh, liên kết bởi các tuyến trục và vành đai thông thoáng
Do đó vùng là địa bàn có sức hút mạnh đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước, và thu hút lao động từ ngoài vùng vào
(4) Là một vùng công nghiệp trọng yếu lớn nhất của cả nước, đã hình thành và liên kết mạng lưới các khu công nghiệp tập trung và phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn và cơ bản như: khai thác và chế biến dầu khí, luyện cán thép, năng lượng điện, công nghệ tin học, hoá chất cơ bản, phân bón
và vật liệu làm nền tảng công nghiệp hoá của vùng kinh tế phía Nam và của cả nước và là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của cả nước trong thời
kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
(5) Đã hình thành hệ thống đào tạo và trung tâm nghiên cứu khoa học, trung tâm y tế có trình độ cao, đảm bảo đào tạo và cung cấp dịch vụ y tế cho cả vùng Là một trong 2 vùng có khu công nghệ cao và trung tâm tin học, đào tạo
và sản xuất phần mềm của cả nước
(6) Vùng có nhiều diện tích để mở rộng, phát triển thêm các khu công nghiệp, khu đô thị mới, nhất là sau khi có quyết định bổ sung thêm 3 tỉnh, tạo điều kiện giải toả mật độ tập trung cao tại khu vực hạt nhân, đồng thời phát huy tác động đô thị hoá và công nghiệp hoá của hạt nhân sang các tỉnh lân cận Vùng cũng là thị trường tiêu thụ có quy mô lớn nhất cả nước
Trang 28Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là vùng lãnh thổ có nhiều điều kiện thuận lợi, có tiềm lực kinh tế lớn nhất, phát triển năng động nhất cả nước đang đóng góp tích cực cho phát triển của cả khu vực phía Nam Đồng thời có hệ thống đô thị, các khu công nghiệp đang trong quá trình phát triển vượt bậc Với những tiềm năng, thế mạnh kể trên, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam xứng đáng “được tập trung đầu tư cao để trở thành một trong những vùng kinh tế phát triển năng động nhất, có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh vượt trước, chuyển dịch cơ cấu nhanh so với các vùng khác trong cả nước, đi đầu trong một số lĩnh vực quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế”.
2.1.3 Quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế của Vùng KTTĐPN
Tổng sản phẩm trong nước của vùng KTTĐPN tăng khá nhanh Nếu như năm 2000 GDP của vùng đạt 156.620 tỉ đồng (tính theo giá thực tế), chiếm 35,5% GDP của cả nước thì đến năm 2010 đã tăng lên 808.062 tỉ đồng và 40,8%
Tốc độ tăng trưởng GDP của vùng giao đoạn 2001-2005 là 11,6%/năm và giai đoạn 2006-2010 đạt 10,2%/năm So với mức bình quân của cả nước (tương ứng là 7,5% và 7,02%) thì tốc độ tăng trưởng của vùng gấp 1,55 lần giai đoạn 2001-2005 và 1,45 lần giai đoạn 2006-2010
Về tốc độ tăng trưởng GDP trung bình hằng năm trong giai đoạn
2001-2010, Bình Dương có tốc độ tăng trưởng cao nhất (14,8%), tiếp theo là Tây Ninh (14,2%), Bình Phước (13,3%), Đồng Nai (13,2%), thấp nhất là Bà Rịa –Vũng Tàu (7,1%)
Trong vùng có sự chênh lệch rất lớn về GDP/người giữa các tỉnh và thành phố Bà Rịa – Vũng Tàu có GDP/người cao nhất trong vùng và cả nước với 149,2 triệu đồng, tiếp đến là tp Hồ Chí Minh là 56,2 triệu đồng, thấp nhất là Tiền Giang 21,0 triệu đồng và Bình Phước 19,2 triệu đồng
Trang 29Như vậy, trong những năm qua, vùng KTTĐPN đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội GDP bình quân cao
và liên tục tăng trong điều kiện vùng còn gặp nhiều khó khăn và thử thách là một thành quả rất đáng khích lệ Tuy vậy, khoảng cách quá xa giữa các tỉnh và thành phố có thu nhập cao với các tỉnh có thu nhập thấp lại thể hiện sự phân hóa giàu nghèo khá sâu sắc Điều đó đòi hỏi phải có những phương hướng phù hợp nhằm giảm sự chênh lệch giàu nghèo, đảm bảo cho sự phát triển bền vững
Bảng GDP bình quân theo đầu người của các tỉnh, thành phố trong
2.1.4 Cơ cấu kinh tế Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Trong cơ cấu kinh tế Vùng KTTĐPN, khu vực II và khu vực III chiếm ưu thế tuyệt đối, còn khu vực I có vai trò không đáng kể
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành của vùng trong giai đoạn
2000-2010 vẫn diễn ra theo xu hướng chung là giảm tỉ trọng khu vực I, tăng tỉ trọng khu vực III, song chưa thật sự ổn định và chậm Riêng khu vực II có nhiều biến động với tỉ trọng cao nhất năm 2005 (59,1% GDP của vùng) và thấp nhất năm
2009 (51,6%)
Trang 30Chuyển dịch cơ cấu GDP theo ngành của Vùng KTTĐPN thời kì 2000-2010
(Nguồn: Niên giám thống kê các tỉnh, thành phố Vùng KTTĐPN năm 2010)
Khác với cơ cấu ngành, sự chuyển dịch cơ cấu theo thành phần kinh tế của vùng thể hiện tương đối rõ nét với xu thế giảm tỉ trọng của khu vực kinh tế nhà nước tăng tỉ trọng của khu vực kinh tế ngoài nhà nước Vùng KTTĐPN thu hút được nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài rất lớn
Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ cũng có nhiều chuyển biến tích cực Nhiều hình thức mới theo lãnh thổ của nền kinh tế được hình thành mang lại hiệu quả cao về kinh tế - xã hội (như khu công nghiệp, khu chế xuất, trang trại ) Tuy nhiên sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các tỉnh và thành phố trong vùng này vẫn còn rất lớn Đây là vấn đề cần phải giải quyết để đảm bảo sự phát triển bền vững của vùng
2.2 Vấn đề tổ chức lãnh thổ khu công nghiệp ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
2.2.1 Quy mô và cơ cấu ngành các khu công nghiệp ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Trang 312.2.1.1 Tình hình chung
a/ Số lượng và quy mô
Đến năm 2012, vùng có 138 KCN và KCX được thành lập và đang hoạt
động (46,4% số lượng các KCN của cả nước), trong đó bao gồm 135 KCN, 2 KCX và 1 khu CNC, diện tích đất tự nhiên là 50.798 ha
Đây là vùng có số lượng KCN nhiều nhất cả nước, với quy mô các khu công nghiệp lớn, lớn nhất là KCN Phú Mĩ So với các vùng KTTĐ còn lại trong
cả nước ngoài đứng đầu về số lượng thì các KCN ở Vùng KTTĐPN đi đầu cả về chất lượng trong mỗi KCN
Nhìn chung, các KCN triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng khá nhanh, các KCN hiện đang xây dựng cơ bản chủ yếu được thành lập trong 5 năm trở lại đây Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật của các KCN trong vùng được đánh giá là hiện đại và đồng bộ váo bậc nhất nước ta
Năm 2013, công tác quản lý và hoạt động của các KCN, KKT tiếp tục thực hiện theo tinh thần Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 12/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ, tuân thủ chặt chẽ các điều kiện mở rộng, thành lập mới KCN, KKT
Các KCN nói riêng và công nghiệp vùng KTTĐPN có cơ cấu đa ngành Các KCN ở vùng có hầu hết tất cả các ngành công nghiệp Các ngành công nghiệp này đều có trình độ phát triển khá cao, trong đó nổi lên một số ngành công nghiệp mũi nhọn trên cơ sở sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ, nguồn lao động dồi dào, thị trường tiêu thụ sản phẩm và trình độ công nghệ cao Nếu căn
cứ vào giá trị sản xuất công nghiệp, các ngành công nghiệp chủ yếu trong các KCN của vùng lần lượt bao gồm công nghiệp thực phẩm - đồ uống, công nghiệp hóa chất, dệt may – da giày, cơ khí, khai thác (dầu khí), điện tử - tin học…
Trang 32Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp phân theo ngành của các KCN
đã lấp đầy 100% như Biên Hòa II, Hố Nai, Tam Phước, Nhơn Trạch II (Đồng Nai), Việt Hương (Bình Dương), Linh Trung I, Bình Chiểu, Lê Minh Xuân, Tân Bình, Vĩnh Lộc, Cát Lái II (Tp HCM), riêng các KCN đã vận hành đạt tỷ lệ 78%, xấp xỉ tỷ lệ lấp đầy các KCN đã vận hành của cả nước Hiệu quả sử dụng đất tại các KCN Vùng KTTĐPN khá cao, bình quân 1 ha đất công nghiệp đã cho thuê thu hút đựợc 3,87 triệu USD, cao hơn mức trung bình của cả nước (3,02 triệu USD/ha), so với các vùng khác trong cả nước tỉ lệ lấp đầy các KCN của Vùng đạt ở mức cao Tuy nhiên, đây chưa thể coi là một kết quả khả quan Bởi
lẽ tỉ lệ diện tích được lấp đầy ở các KCN là không đồng đều giữa các khu và giữa các địa phương
c/ Cơ sở hạ tầng –Lao động- Trình độ khoa học kĩ thuật
Trang 33Trình độ kĩ thuật ở các KCN ngày càng được nâng cao với nhiều máy móc thiết bị hiện đại được nâng cấp và nhập ngoại Cơ sở vật chất kĩ thuật và cơ
sở hạ tầng cở các KCN Vùng KTTĐPN hiện đại bậc nhất cả nước với sự vượt trội về hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc, khả năng cung cấp điện, nước
Các KCN ở vùng KTTĐPN nguồn lao động với khoảng trên 750.00 người hoạt động ở nhiều ngành nghề khác nhau, chiếm khoảng 30% lao động trong cơ cấu lao động của vùng, chất lượng nguồn lao động luôn được nâng cao và được đánh giá cao hàng đầu cả nước
d/ Thị trường
Thị trường của các khu công nghiệp ở vùng KTTĐPN rất đa dạng và ngày càng mở rộng Vùng có dân số đông nên thị trường tại chỗ lớn và nhu cầu ngày càng lớn, nhu cầu ngày càng đa dạng và phát triển mạnh mẽ
Thị trường xuất khẩu các sản phẩm từ các KCN của vùng đã phát triển rất mạnh mẽ trong thời gian qua Không gian thị trường luôn được mở rộng, ngoài các thị trường quen thuộc như các nước Đông Nam Á, Đông Bắc Á, Đông Âu, hoạt động xuất khẩu sản phẩm công nghiệp của vùng đã vươn tới nhiều thị trường mới như khu vực Trung Đông, châu Đại Dương, châu Phi, đặc biệt trong
đó có cả thị trường 1 số nước khó tính như Nhật Bản, Hoa Kì, EU…
2.2.1.2 Thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM) với 17 KCN các loại Gồm 3 KCX
và khu 1 CNC đầu tiên và hiện đại hàng đầu cả nước: KCX Linh Trung 1, 2, Tân Thuận, KCNC TP.HCM, và 13 khu công nghiệp Tổng diện tích của các khu này là 4172,64ha hiện đã thu hút được 1200 dự án đầu tư vào sản xuất, với tổng số vốn đầu tư gần 4 tỉ USD, tỉ lệ lấp đầy tới năm 2013 đạt khoảng gần 90% Các KCN ở đây không chỉ có vai trò to lớn tới phát triển kinh tế - xã hội ở TP
Hồ Chí Minh mà còn ảnh hưởng tới cả vùng KTTĐPN
Trang 34KCN Tân Tạo – Tp Hồ Chí Minh
(Nguồn: Ảnh vệ tinh 2009, TCMT tổng hợp)Vốn đầu tư nước ngoài thu hút tăng chủ yếu là do một số dự án đầu tư
mở rộng sản xuất có kế hoạch từ trước Các doanh nghiệp này được hỗ trợ từ Công ty mẹ và sản phẩm có khách hàng thường xuyên, ít bị tác động bởi sự suy giảm của thị trường
Danh sách các khu công nghiệp, khu chế xuất ở thành phố Hồ Chí Minh
(năm 2013)
(ha)
Tỉ lệ lấp đầy
1 Khu chế xuất
Linh Trung I
Quận Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh (cách trung tâm thành phố 16 km)
2 Khu chế xuất
Linh Trung II
Quận Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh (cách trung tâm thành phố 15 km)
3 Khu chế xuất
Tân Thuận
Quận 7, TP Hồ Chí Minh (cách trung tâm thành phố 4 km)
4 Khu CNC Đường D1 Tân Phú – Quận 9- 913 100%
Trang 35311,4 (giai đoạn 1) và 597 (giai đoạn 2)
91,61% (giai đoạn 1)
và 6% (giai đoạn 2)
10 Khu công
nghiệp Hòa
Phú
Tỉnh lộ 8, xã Hòa Phú, xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi, Tp.HCM
Trang 3611 Khu công
nghiệp Lê
Minh Xuân
Huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh (cách trung tâm thành phố
- giai đoạn 2: 21,04 )
Vĩnh Lộc (giai đoạn 1): 203,18 Vĩnh Lộc (mở
rộng): 506
100%
Các dự án mới trong và ngoài nước chủ yếu là những dự án vừa và nhỏ với ngành nghề chủ yếu thuộc lĩnh vực phụ trợ, chủ yếu là thuê nhà xưởng xây sẵn của Công ty phát triển hạ tầng hoặc thuê nhà xưởng dư thừa của doanh
Trang 37nghiệp đang hoạt động khó khăn Do đó, vốn đầu tư của dự án thấp để hạn chế rủi ro đầu tư hoặc đầu tư để tìm hiểu thị trường mới tại Việt Nam.
Về quốc gia đầu tư, các dự án mới nước ngoài chủ yếu là những dự án tại những quốc gia đã có dự án đầu tư tại Việt Nam, tiếp thu kinh nghiệm quản
lý của những doanh nghiệp đi trước và được hỗ trợ từ những doanh nghiệp trong cùng tập đoàn Các dự án cấp mới có quốc gia đầu tư là Singapore, Úc, Đức, Nhật và Mỹ với ngành nghề đầu tư thuộc lĩnh vực: cơ khí, dược phẩm, nhựa và thực phẩm và hiện nay phát triển mạnh một số ngành mới là điện tử,
hóa chất, tin học… Các quốc gia khác vẫn đang trong giai đoạn tìm hiểu môi
trường và cơ hội đầu tư
Các doanh nghiệp trong KCX tiếp tục phát triển ổn định Kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2013 tăng 12% so với cùng kỳ năm 2012 Tuy nhiên, do tình hình kinh tế trong nước vẫn còn khó khăn, các doanh nghiệp gặp khó khăn về vốn và thị trường tiêu thụ, tập trung vào các doanh nghiệp nội địa vừa và nhỏ ở các KCN
Nổi bật trong các KCX, KCN có vai trò quan trọng hàng đầu trong các KCN ở thành phố Hồ Chí Minh là KCX Tân Thuận KCX Tân Thuận là 1 trong những KCX, KCN đầu tiên được hình thành ở nước ta Hiện nay đã và đang đạt được những hiệu quả lớn về kinh tế - xã hội trong thành phố, trong vùng và cả nước
Trang 38KCX Tân Thuận – Tp Hồ Chí Minh, KCX đầu tiên của Việt Nam,
thành lập năm 1991
KCX Tân Thuận thành lập năm 1991, có vị trí địa lý rất thuận lợi cho phát triển kinh tế, nằm trên địa bàn quận 7 với diện tích 300ha, tỉ lệ lấp đầy đạt 81% Vốn đầu tư đăng kí đạt gần 1 tỉ USD năm 2010, với 11 quốc gia đầu tư, chủ yếu
là Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng Kông…
KCX Tân Thuận đã giải quyết hơn 60 nghìn việc làm cho người lao động với nhiều ngành nghề hiện đại khác nhau, trong đó chủ yếu là lao động nữ Cái được lớn hơn của việc thu hút việc làm cho người lao động chính là điều kiện đào tạo, nâng cao trình độ tay nghề, trình độ cho người công nhân, khả năng quản lý cho cán bộ Việt Nam
Riêng năm 2010, kim ngạch xuất khẩu của KCX đạt trên 1 tỉ USD Hiện nay KCX Tân Thuận được bình chọn là 1 trong những KCN, KCX hấp dẫn các nhà đầu tư hàng đầu khu vực châu Á – Thái Bình Dương
Những thành tựu trong hình thành, phát triển các KCN, thu hút đầu tư của
Tp HCM trong thời gian qua là rất đáng ghi nhận Tp HCM vừa là đầu tàu, vừa