ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm qua, hệ thống Y tế Việt Nam nói chung đặc biệt là hệ thống khám chữa bệnh nói riêng đã có nhiều bước phát triển tiến bộ vượt bậc. Nhiều thiết bị y tế tiên tiến và kỹ thuật mới trên thế giới được đưa vào áp dụng phục vụ cho chẩn đoán và điều trị. Trình độ nhân viên y tế không ngừng được nâng cao. Chất lượng phục vụ người bệnh của các bệnh viện đã được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên bệnh viện vẫn là cơ sở điều trị không thể thiếu trong mọi thời đại. Là nơi cung ứng các dịch vô khám chữa bệnh cho nhân dân khi dịch, bệnh xuất hiện; nơi cứu sống người bệnh; nơi tiếp xúc với người dân tại thời điểm nhạy cảm nhất. Người dân thường đánh giá, nhận xét hiệu quả nhiệm vô của ngành Y tế thông qua hệ thống bệnh viện. Chính vì vậy mà bệnh viện vẫn được nhìn nhận như là bộ mặt của ngành Y tế. Để đánh giá hiệu quả hoạt động của một bệnh viện thường căn cứ vào những tiêu chí có thể định lượng được như lưu lượng người bệnh đến khám bệnh chữa bệnh; khả năng đáp ứng cung cấp các dịch vụ y tế về khám chữa bệnh và những tiêu chí vừa có tính chất định tính lại có cả tính chất định lượng thông qua sự hài lòng của người bệnh và người nhà người bệnh (khách hàng) khi đến bệnh viện. Việc nghiên cứu, phân tích lưu lượng bệnh nhân tại bệnh viện đa khoa tuyến cuối của một tỉnh có vai trò quan trọng để xác định tần suất, tình trạng bệnh tật làm cơ sở khoa học giúp cho các nhà quản lý chủ động trong việc xác định vấn đề sức khỏe ưu tiên, xác định nguồn lực, lập kế hoạch và định hướng hoạt động khám chữa bệnh của ngành, của địa phương. Khả năng đáp ứng các dịch vụ y tế phụ thuộc vào một số nguồn lực cơ bản của bệnh viện nh nhân lực, vật lực và tài lực. Trong đó nhân lực được đánh giá thông qua cơ cấu, số lượng, trình độ, năng lực, bố trí cán bộ hợp lý; Với vật lực bao hàm cả trang thiết bị chuyên môn, hành chính và cơ sở hạ tầng kiến trúc xây dựng. Với tài lực đánh giá thông qua hoạt động tài chính của bệnh viện, khả năng tự chủ trong hạch toán kinh tế y tế, năng lực quản lý tài chính, cân đối thu chi từ các nguồn thu hợp pháp. Bên cạnh đó việc đánh giá sự phản hồi của người bệnh và người nhà người bệnh còn giúp chóng ta tìm hiểu được nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của nhân dân, trả lời được câu hỏi là tại sao khách hàng lại đến khám chữa bệnh tại bệnh viện đa khoa tỉnh nhất là khi mà các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ hoạt động trong cơ chế thị trường đang được đa dạng hóa trên cả hai hệ thống y tế: hệ thống y tế công và hệ thống y tế tư nhân. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ trong ngành Y, sự phát triển hệ thống giao thông, sự tiếp cận thông tin, nhận thức và nhu cầu tăng cao của người dân về chăm sóc sức khoẻ; sự hài lòng của người bệnh khi đến bệnh viện cũng là những lý do để quyết định đầu tư nguồn lực sao cho phù hợp và hiệu quả nhất. Nghiên cứu phân tích các nguồn lực cơ bản của bệnh viện, lưu lượng bệnh nhân và sự phản hồi của khách hàng là những tiêu chí quan trọng để đánh giá hiệu quả điều trị; khả năng cung cấp dịch vụ y tế của của bệnh viện; chất lượng phục vụ người bệnh; các dịch vụ của bệnh viện cung ứng có được chấp nhận hay không; lựa chọn giải pháp quản lý bệnh viện thế nào cho phù hợp và là cơ sở khoa học để hoạch định chính sách đầu tư mở rộng, phát triển hệ thống điều trị cho ngành, cho địa phương. Tỉnh Ninh Bình được Chính phủ và Bé Y tÕ đồng ý cho xây mới bệnh viện Đa khoa tỉnh với quy mô 700 giường bệnh thay cho bệnh viện hiện tại quy mô 450 giường bệnh và sẽ đi vào hoạt động vào đầu năm 2010. Việc phân tích lưu lượng bệnh nhân, mô tả thực trạng một sè nguồn lực cơ bản và nghiên cứu những ý kiến phản hồi từ phía người bệnh tại bệnh viện đa khoa tỉnh hiện tại sẽ là cơ sở khoa học để có kế hoạch đầu tư, phân bổ các nguồn lực phù hợp cho bệnh viện 700 giường như việc: xác định được cơ cấu, quy mô giường bệnh; nhân lực cán bộ cho từng khoa phòng; cơ số trang thiết bị, thuốc men vật tư y tế, đầu tư nguồn tài chính phù hợp với tình hình bệnh tật và điều kiện kinh tế của tỉnh Ninh Bình. Từ những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu Thực trạng hoạt động khám chữa bệnh và sự phản hồi của khách hàng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình từ 2006 - 2008.
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm qua, hệ thống Y tế Việt Nam nói chung đặc biệt là hệthống khám chữa bệnh nói riêng đã có nhiều bước phát triển tiến bộ vượt bậc.Nhiều thiết bị y tế tiên tiến và kỹ thuật mới trên thế giới được đưa vào áp dụngphục vụ cho chẩn đoán và điều trị Trình độ nhân viên y tế không ngừng đượcnâng cao Chất lượng phục vụ người bệnh của các bệnh viện đã được cải thiện
rõ rệt Tuy nhiên bệnh viện vẫn là cơ sở điều trị không thể thiếu trong mọi thờiđại Là nơi cung ứng các dịch vô khám chữa bệnh cho nhân dân khi dịch, bệnhxuất hiện; nơi cứu sống người bệnh; nơi tiếp xúc với người dân tại thời điểmnhạy cảm nhất Người dân thường đánh giá, nhận xét hiệu quả nhiệm vô củangành Y tế thông qua hệ thống bệnh viện Chính vì vậy mà bệnh viện vẫnđược nhìn nhận như là bộ mặt của ngành Y tế
Để đánh giá hiệu quả hoạt động của một bệnh viện thường căn cứ vàonhững tiêu chí có thể định lượng được như lưu lượng người bệnh đến khámbệnh chữa bệnh; khả năng đáp ứng cung cấp các dịch vụ y tế về khám chữabệnh và những tiêu chí vừa có tính chất định tính lại có cả tính chất định lượngthông qua sự hài lòng của người bệnh và người nhà người bệnh (khách hàng)khi đến bệnh viện
Việc nghiên cứu, phân tích lưu lượng bệnh nhân tại bệnh viện đa khoatuyến cuối của một tỉnh có vai trò quan trọng để xác định tần suất, tình trạngbệnh tật làm cơ sở khoa học giúp cho các nhà quản lý chủ động trong việc xácđịnh vấn đề sức khỏe ưu tiên, xác định nguồn lực, lập kế hoạch và định hướnghoạt động khám chữa bệnh của ngành, của địa phương
Khả năng đáp ứng các dịch vụ y tế phụ thuộc vào một số nguồn lực cơbản của bệnh viện nh nhân lực, vật lực và tài lực Trong đó nhân lực đượcđánh giá thông qua cơ cấu, số lượng, trình độ, năng lực, bố trí cán bộ hợp lý;
Trang 2
Với vật lực bao hàm cả trang thiết bị chuyên môn, hành chính và cơ sở
hạ tầng kiến trúc xây dựng
Với tài lực đánh giá thông qua hoạt động tài chính của bệnh viện, khảnăng tự chủ trong hạch toán kinh tế y tế, năng lực quản lý tài chính, cân đốithu chi từ các nguồn thu hợp pháp
Bên cạnh đó việc đánh giá sự phản hồi của người bệnh và người nhàngười bệnh còn giúp chóng ta tìm hiểu được nhu cầu chăm sóc sức khoẻ củanhân dân, trả lời được câu hỏi là tại sao khách hàng lại đến khám chữa bệnhtại bệnh viện đa khoa tỉnh nhất là khi mà các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ hoạtđộng trong cơ chế thị trường đang được đa dạng hóa trên cả hai hệ thống y tế:
hệ thống y tế công và hệ thống y tế tư nhân Cùng với sự phát triển của khoahọc công nghệ trong ngành Y, sự phát triển hệ thống giao thông, sự tiếp cậnthông tin, nhận thức và nhu cầu tăng cao của người dân về chăm sóc sức khoẻ;
sự hài lòng của người bệnh khi đến bệnh viện cũng là những lý do để quyếtđịnh đầu tư nguồn lực sao cho phù hợp và hiệu quả nhất
Nghiên cứu phân tích các nguồn lực cơ bản của bệnh viện, lưu lượngbệnh nhân và sự phản hồi của khách hàng là những tiêu chí quan trọng đểđánh giá hiệu quả điều trị; khả năng cung cấp dịch vụ y tế của của bệnh viện;chất lượng phục vụ người bệnh; các dịch vụ của bệnh viện cung ứng có đượcchấp nhận hay không; lựa chọn giải pháp quản lý bệnh viện thế nào cho phùhợp và là cơ sở khoa học để hoạch định chính sách đầu tư mở rộng, phát triển
hệ thống điều trị cho ngành, cho địa phương
Tỉnh Ninh Bình được Chính phủ và Bé Y tÕ đồng ý cho xây mới bệnhviện Đa khoa tỉnh với quy mô 700 giường bệnh thay cho bệnh viện hiện tạiquy mô 450 giường bệnh và sẽ đi vào hoạt động vào đầu năm 2010 Việc phântích lưu lượng bệnh nhân, mô tả thực trạng một sè nguồn lực cơ bản và nghiêncứu những ý kiến phản hồi từ phía người bệnh tại bệnh viện đa khoa tỉnh hiệntại sẽ là cơ sở khoa học để có kế hoạch đầu tư, phân bổ các nguồn lực phù hợp
Trang 3
cho bệnh viện 700 giường như việc: xác định được cơ cấu, quy mô giườngbệnh; nhân lực cán bộ cho từng khoa phòng; cơ số trang thiết bị, thuốc menvật tư y tế, đầu tư nguồn tài chính phù hợp với tình hình bệnh tật và điều kiệnkinh tế của tỉnh Ninh Bình
Từ những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu
Thực trạng hoạt động khám chữa bệnh và sự phản hồi của khách hàng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình từ 2006 - 2008.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng một sè nguồn lực cơ bản và lưu lượng người bệnhđến khám chữa bệnh tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình trong thời gian 3năm (2006-2008)
2 Đánh giá sự phản hồi của khách hàng (Người bệnh và người nhàngười bệnh) tại bệnh viện Đa khoa tỉnh năm 2009
Trang 4
chương I Tổng quan tài liệu 1.1 Sơ lược về hệ thống Y tế Việt Nam
Trong nửa thế kỷ qua, đất nước ta có nhiều đổi mới về phát triển kinh
tế – xã hội Nền kinh tế chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá theo cơ chếquan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có định hướng Quá trình chuyểnđổi này kéo theo sự chuyển đổi về nhiều mặt trong quan hệ trong xã hội, trong
đó có sự thay đổi về mô hình, cơ chế hoạt động và chủ trương đầu tư pháttriển của các đơn vị sự nghiệp trong ngành Y tế mà đặc biệt rõ nét nhất là hệ
Làm tăng tính năng động và cạnh tranh lành mạnh, kích thích sự tự vậnđộng của hệ thống Y tế công lập để nâng cao năng lực cung ứng và chất lượngcác dịch vụ y tế
Tăng thêm nguồn thu tài chính từ viện phí và BHYT, giảm gánh nặngngân sách nhà nước chi cho Y tế
Mở rộng các dịch vụ Y tế tư nhân, tạo điều kiện cho Y tế nhà nước đầu
tư chiều sâu cho phòng bệnh, phục hồi chức năng, chăm sóc sức khỏe ngườinghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, người có công và các bệnh phức tạp [38]
Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có không Ýt mặt hạn chế, đó là làm biếndạng kết cấu hệ thống dịch vụ Y tế nhà nước Nhiều cơ sở dịch vụ theo yêucầu, cơ sở bán công trong bệnh viện được ra đời Đạo đức của một sè thầy
Trang 5
thuốc phần nào bị suy giảm vì mục tiêu lợi nhuận, bởi tác động của quy luậtgiá trị trong kinh tế thị trường.
Sự thiếu hụt về tài chính của nguồn ngân sách nhà nước làm giảm khảnăng hỗ trợ ngân sách cho chăm sóc sức khỏe nhân dân và nâng cấp cơ sở hạtầng, trang thiết bị của hệ thống y tế công
Mức hưởng thụ dịch vụ y tế của tầng lớp dân cư có mức thu nhập thấp
bị suy giảm Người cận nghèo, người dân vùng sâu khó có cơ hội được thụhưởng các dịch vụ y tế chất lượng cao, chi phí lớn
Cán bé Y tế có mức tiền lương thực tế thấp và đời sống gặp nhiều khókhăn dẫn đến năng suất lao động thấp và nảy sinh những hiện tượng tiêu cựctrong các cơ sở Y tế công lập [38]
Đứng trước tình hình đó, Đảng và nhà nước ta đã có những chính sáchnhằm giải quyết các vấn đề trước mắt và tương lai Nhiệm vụ đặt ra cho ngành
Y tế là Công bằng, hiệu quả và phát triển [5] với ba mục tiêu lớn:
Một là: Giảm số mắc và tử vong do các bệnh nhiễm khuẩn quan trọng
và mét số bệnh không nhiễm khuẩn như tim mạch, ung thư, chuyển hoá, tainạn thương tích Giảm tình trạng suy dinh dưỡng cũng như các bệnh tật vềdinh dưỡng trẻ em
Hai là: Mở rộng, đa dạng hoá và nâng cao chất lượng cung cấp các dịch
vụ CSSK cho nhân dân Ứng dông khoa học công nghệ tiên tiến vào hoạt độngCSSK, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân về phòng bệnh, chữabệnh và phục hồi chức năng
Ba là: Thực hiện công bằng xã hội trong CSSK Quan tâm đến các đốitượng người bệnh là người có công, người nghèo, cận nghèo, vùng sâu vùng
xa, người cao tuổi, người tàn tật và trẻ em [3]
Trang 6
Hệ thống Y tế của nước ta hiện đang thực hiện theo mô hình 4 cấp;quản lý toàn diện các đơn vị sự nghiệp theo ngành dọc; các cơ quan quản lýnhà nước về y tế các cấp từ trung ương tới huyện như Bé Y tế, Sở Y tế vàPhòng Y tế huyện; có hai hệ thống y tế hoạt động đó là công lập và ngoài cônglập; trong hệ thống công lập có hệ Điều trị và hệ Dự phòng; chỉ đạo chuyênmôn nghiệp vụ từ tuyến trên đến tuyến dưới
Sơ đồ hệ thống Y tế Việt Nam hiện nay
Cơ quan Quản lý nhà nước; Đơn vị Dự phòng; Đơn vị Điều trị Quản lý nhà nước; Quản lý chuyên môn
Tỉnh Ninh Bình, hệ thống Y tế được thực hiện theo mô hình 3 cấp Cơ quanquản lý nhà nước bao gồm cấp tỉnh là sở Y tế, Chi cục Dân số và cấp huyện làphòng Y tế Sở Y tế thực hiện chức năng quản lý nhà nước tất cả các đơn vị Y tếtuyến tỉnh, tuyến huyện và y tế tư nhân Phòng y tế thực hiện chức năng quản lý
Y tÕ T nh©n C¸c TuyÕn
Trang 7nhà nước các đơn vị y tế tuyến huyện và tuyến xã Ngành Y tế Ninh Bình thựchiện quản lý theo ngành dọc và chỉ đạo chuyên môn theo tuyến
Sơ đồ hệ thống điều trị của ngành Y tế tỉnh Ninh Bình
Y tÕ
Y tÕ
T nh©n C¸c TuyÕn
Trang 8Với sự tiến bộ khoa học kỹ thuật ngành Y, thế giới có những bước nhảyvọt về khoa học chẩn đoán bệnh, thăm dò và can thiệp Một số nước hiện đangtồn tại mô hình các trung tâm Y tế chuyên sâu cho các khu vực ví dụ như nhưThái Lan, Nhật Bản, Mỹ
Một mô hình khác là mạng lưới Y tế theo từng cấp mà điển hình nhưTrung Quốc, Malaysia và Việt Nam cũng áp dụng mô hình này Dù mô hìnhnào thì việc đầu tư các nguồn lực cho Y tế cũng rất lớn Thái Lan là 1.000USD/người dân, Mỹ là 12.000 USD và tại Việt Nam là 300-400 USD [16] Bé
Y tế hiện đang đề xuất với Chính Phủ để trình ra Quốc hội thông qua Đề án tàichính cho Y tế để được đầu tư hàng năm 10% GDP (Hiện đang là 5-6% GDP).Nâng cao tỷ lệ cán bé Y tế có trình độ trên đại học và không còn tìnhtrạng thiếu nhân lực Trang thiết bị y tế luôn được đổi mới nâng cấp đáp ứngyêu cầu phát triển khoa học kỹ thuật ngang tầm khu vực và toàn cầu, đó là méttrong những mục tiêu của chiến lược phát triển toàn ngành Các kỹ thuật viphẫu, công nghệ sinh học, thăm dò chức năng chuyên sâu sẽ là những mũinhọn phát triển của ngành Y tế [14]
1.2.2 Nguồn lực của Y tế Việt Nam
Hệ thống KCB của nước ta có nhiều tiến bộ vượt bậc Chúng ta đã cómạng lưới bệnh viện từ trung ương đến địa phương khá hoàn chỉnh, từ cácbệnh viện chuyên khoa đầu ngành đến y tế cơ sở xã phường
Bệnh viện đa khoa tỉnh là tuyến chuyên môn cao nhất ở mỗi tỉnh thựchiện điều trị cơ bản và một số kỹ thuật chuyên sâu Thực hiện đề án 1816:Tuyến trên chuyển giao kỹ thuật cho tuyến dưới, các bệnh viện tuyến tỉnh đãthực hiện được nhiều các phẫu thuật, thủ thuật loại một và một số loại đặcbiệt
Tuy nhiên thực tế nguồn nhân lực có trình độ tay nghề cao, các trangthiết bị hiện đại còn thiếu nhiều chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển Phần lớn
Trang 9
các thiết bị công nghệ cao đều được áp dụng phương thức liên doanh liên kết,ngân sách nhà nước chưa có khả năng đáp ứng kịp thời cho bệnh viện tỉnh.Một số tỉnh vẫn còn trong tình trạng trắng bác sỹ, dược sỹ đại học ở tuyến y tế
cơ sở [9]
1.3 Tình trạng sức khoẻ, bệnh tật và nhu cầu KCB của người dân
Tình hình sức khoẻ của người dân thể hiện qua số đợt ốm đau trong mộtnăm Hiện nay nhận thức của người dân về sức khỏe được nâng cao, do đónhu cầu được chăm sóc sức khỏe đặc biệt là sù lựa chọn các dịch vụ khámchữa bệnh có chất lượng cao, phương tiện hiện đại ngày càng tăng
Theo kết quả nghiên cứu của đơn vị CSSK (Bé Y tế) [14] điều tra 7.916
hé gia đình có 2.330 lượt người ốm Trẻ em 5 tuổi tần suất mắc bệnh từ 1,6đến 8,9 đợt/người/năm Tình hình ốm đau của người dân từ 0,7 đến 5,6đợt/người/năm Tỉnh Thái Bình tỷ lệ người dân ốm đau phải đi KCB là 1,19lượt/người/năm [38]
Nhu cầu khám chữa bệnh của người dân tăng do đó ở hầu hết các bệnhviện nhất là tuyến tỉnh và tuyến huyện số lượng bệnh nhân đến khám cũng đềutăng và tăng rất nhanh dẫn đến bệnh viện luôn ở trong tình trạng quá tải
1.4 Mét số khái niệm dùng trong nghiên cứu
1.4.1 Nguồn lực cơ bản của bệnh viện
Nguồn lực cơ bản của bệnh viện bao gồm nhân lực, vật lực, tài lực.Nhân lực là số lượng, trình độ, cơ cấu và khả năng đáp ứng các dịch vụ
y tế của nhân viên bệnh viện [20]
Vật lực là khả năng đáp ứng các dịch vụ y tế của vật tư, trang thiết bịgồm cả trang thiết bị chuyên môn và trang thiết bị hành chính, cơ sở hạ tầngnhà xưởng (Số lượng, chất lượng, chủng loại) [23]
Trang 10
Tài lực là khả năng đáp ứng các dịch vụ y tế của nguồn tài chính phục
vụ hoạt động toàn diện của bệnh viện Bao gồm các nguồn thu, chi, hoạt động
xã hội hoá trong tự chủ theo Nghị định 43 của Chính Phủ [11]
1.4.2 Bệnh
Là tình trạng tổn thương thực thể hay tổn thương cơ năng hoặc cả haicủa một cơ quan hoặc bộ phận của cơ thể do một hoặc nhiều nguyên nhân[39] Trong ICD-10 là ký tự thứ 3
Ví dụ: Bệnh viêm gan B; bệnh lao phổi; bệnh tâm thần phân liệt
1.4.4 Bảng phân loại Quốc tế bệnh tật lần thứ 10 (ICD-10)
ICD-10 là Bảng phân loại Quốc tế bệnh tật lần thứ 10 do Tổ chức Y tếthế giới (WHO) ban hành từ năm 1994 là sự tiếp nối và hoàn thiện ICD-9 banhành năm 1983 [39]
ICD-10 gồm 21 chương bệnh thay cho 17 chương bệnh của ICD-9 Thểhiện phân loại theo chương bệnh, bệnh và bệnh chi tiết với bộ mã 4 ký tù:
Chương I: Bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng
Gồm 21 nhóm bệnh và được mã hoá bệnh từ A00 đến B99
Chương II: Bướu tân sinh
Gồm 18 nhóm bệnh và được mã hoá bệnh từ C00 đến D48
Trang 11
Chương III: Bệnh của máu, cơ quan tạo máu và các rối loạn liên quanđến cơ chế miễn dịch
Gồm 6 nhóm bệnh và được mã hoá bệnh từ D500 đến D89
Chương IV: Bệnh nội tiết, dinh dưỡng và chuyển hoá
Gồm 8 nhóm bệnh và được mã hoá bệnh từ E00 đến E90
Chương V: Rối loạn tâm thần và hành vi
Chương IX: Bệnh hệ tuần hoàn:
Gồm 10 nhóm bệnh và được mã hoá bệnh từ I00 đến I99
Trang 12Chương XV: Thai nghén, sinh đẻ và hậu sản
Gồm 8 nhóm bệnh và được mã hoá bệnh từ O00 đến O99
Chương XVI: Một số bệnh lý xuất phát trong thời kỳ chu sinh
Gồm 10 nhóm bệnh và được mã hoá bệnh từ P00 đến P96
Chương XVII: Dị tật bẩm sinh, biến dạng và bất thường nhiễm sắc thểGồm 11 nhóm bệnh và được mã hoá bệnh từ Q00 đến Q99
Chương XVIII: Các triệu chứng, dấu hiệu và những biểu hiện lâm sàng
và cận lâm sàng bất thường, không phân loại ở phần khác
Bước đầu làm quen với Bảng phân loại bệnh mới này, năm 1997 Bé Y
tế quy định việc thống kê bệnh tật ở bệnh viện với bộ mã 3 ký tù: Chương,nhóm bệnh và bệnh Năm 2005 Bé Y tế tiếp tục phát hành bảng phân loại bệnhvới đầy đủ mã bệnh có 4 ký tự: Chương, nhóm bệnh, bệnh và bệnh chi tiết[39]
1.5 Sự phản hồi của khách hàng
Hiện nay, mét trong những yếu tố tạo nên sức sống và hiệu quả của hệthống KCB là phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ hai chiều giữa một bên là
Trang 13
người cung cấp dịch vụ Y tế (bệnh viện) và một bên là người sử dụng dịch vụ
tố quan trọng gây sai sè khi nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng bệnhviện Sau khi phân tích các yếu tố chính và tính giá trị, tác giả đưa ra 9 biến sốđược dùng để đánh giá mức độ hài lòng của người bệnh bao gồm môi trườngvật chất, trang thiết bị, sự thuận tiện, thời gian chờ đợi dịch vụ khám bệnh vànơi cấp thuốc, nhân viên hỗ trợ, bác sỹ khám bệnh, tính chuyên nghiệp củabác sỹ, sự giải thích của nhân viên y tế, tư vấn sức khỏe cho người bệnh {67}
1.6 Kết quả của một số nghiên cứu trước
1.6.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Các nghiên cứu mô hình bệnh tật đã cho kết quả khá rõ về sự dịchchuyển cơ cấu bệnh tật Trước những năm của thập kỷ 60, các bệnh nhiễmtrùng, ký sinh trùng; bệnh đường tiêu hoá; bệnh liên quan đến dinh dưỡng;bệnh hệ sinh sản đứng hàng đầu
Những năm của thập kỷ 80 trở lại đây các bệnh chuyển hoá; bệnh timmạch; bệnh ung bướu; tai nạn giao thông; bệnh nhiễm trùng, có sự dịchchuyển vị trí Một số nhóm bệnh xuất hiện liên quan đến kinh tế phát triển,
Trang 14
thói quen sinh hoạt, ăn uống dư thừa chất, sự ô nhiễm môi trường, ô nhiễmnguồn nước và thực phẩm [62]
Về sự hài lòng của phía sử dụng dịch vụ Y tế – khách hàng của bệnhviện, đã có rất nhiều nghiên cứu trước và cho kết quả cũng rất khác nhau
Tác giả Nguyễn Bích Lưu nghiên cứu trên 175 người bệnh xuất viện tạikhoa ngoại bệnh viện Banpong, tỉnh Ratchaburi, Thái Lan cho thấy 100%được cung cấp các dịch vụ y tế, 59,4% người bệnh đánh giá cao hoạt độngchăm sóc và 51% người bệnh rất hài lòng với những hoạt động chăm sóc đó.Những yếu tố liên quan bao gồm: tuổi, giới, thời gian nằm viện, điều kiệnchăm sóc, trình độ chuyên môn của điều dưỡng, chất lượng chăm sóc của điềudưỡng, mức độ cung cấp các thông tin y tế và giáo dục sức khỏe [25]
Mét mô hình khác của tác giả Ward R.F và cộng sự tháng 12 năm 2005tại Hoa Kỳ đưa ra 4 khía cạnh về chất lượng dịch vụ
Thứ nhất là “tiếp nhận”: người bệnh được nhận các dịch vụ chấp nhậnđược về giá cả và kịp thời bao gồm lịch hẹn, thời gian chờ đợi, chi phí, thủ tụcthanh toán viện phí và Bảo hiểm Y tế
Thứ hai “kết quả sức khỏe người bệnh được cải thiện rõ rệt”: biểu hiện
ở chỗ người bệnh khỏi bệnh sau khi ra viện và ý kiến của họ về hệ thống dịch
vụ của bệnh viện
Thứ ba là “giao tiếp và tương tác”: người bệnh được liên tục chăm sócvới thái độ tốt biểu hiện ở chỗ các nhân viên y tế có thái độ hòa nhã, thân thiệnvới người bệnh, sẵn sàng giúp đỡ và cảm thông với người bệnh Khía cạnhcảm thông được đánh giá cao trong mô hình này
Thứ tư là “những yếu tố hữu hình”: người bệnh được điều trị với cơ sở
hạ tầng, trang thiết bị, con người theo nhu cầu của họ Biểu hiện ở các mặt sựthuận tiện, sự sạch sẽ của cơ vật chất, của trang thiết bị, sự sẵn có của các dịch
vụ y tế [76]
Trang 15
1.6.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Kết quả nghiên cứu của tác giả Phạm Ngọc Khái tại 14 tỉnh tham gia dự
án Y tế nông thôn (ADB) năm 2007 cho thấy đội ngũ bác sỹ thiếu nhiều, nhất
là thiếu cán bộ có trình độ kỹ thuật cao, bác sỹ chuyên khoa sâu, chuyên khoa
lẻ, bác sỹ hồi sức cấp cứu, xét nghiệm, tỷ lệ bác sỹ có trình độ sau đại họcthấp Bệnh viện tuyến tỉnh số nhân viên y tế trên giường bệnh là 1,02; số bác
sỹ trên giường bệnh là 0,18 {17}
1.6.2.2 Về tình hình bệnh tật:
Các nghiên cứu trước cũng chỉ ra rằng mô hình bệnh tật ở các nước pháttriển có sự khác biệt rõ rệt với các nước đang phát triển Ở các nước đang pháttriển, bệnh nhiễm khuẩn và suy dinh dưỡng vẫn còn phổ biến, tuy nhiên cácbệnh này đang có xu hướng ngày càng giảm
Các bệnh không lây nhiễm như tim mạch, ung thư, dị tật bẩm sinh, ditruyền, chuyển hoá, béo phì đang ngày càng gia tăng và đặc biệt cùng với sựphát triển của xã hội hiện đại các tai nạn, ngộ độc, chấn thương có xu hướngtăng nhanh và rõ rệt [50]
Trong 20 năm qua, cơ cấu bệnh tật của nước ta đã thay đổi, các bệnhtruyền nhiễm đã giảm, tỷ lệ mắc các bệnh cao huyết áp nói riêng, tim mạchnói chung và các bệnh ung thư cũng như tỷ lệ tử vong tăng lên đáng kể
Trang 16
Trước năm 1976 các bệnh truyền nhiễm chiếm 50- 56% các trường hợpmắc bệnh và tử vong Tới năm 1997 tỷ lệ này đã giảm xuống còn 27% Tuynhiên nhiều bệnh tật mới như tai nạn, chấn thương, ngộ độc, bệnh ung thư,bệnh tim mạch lại gia tăng Tỷ lệ tử vong do những nguyên nhân trên từ 2%năm 1976 lên 22% trong năm 1997 [34]
Trong 5 nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tình hình mắc bệnh và tử vongtại các bệnh viện là các bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng (chiếm 23% cáctrường hợp), bệnh đường hô hấp chiếm 17%, bệnh về bộ máy tiêu hoá 12%,bệnh về đường sinh dục, tiết niệu 5,3% và các bệnh về hệ tuần hoàn 5,1% đó
là kết quả nghiên cứu của tác giả Trần Quỵ và cộng sự tại bệnh viện Bạch Mainăm 1999 [34] Nghiên cứu của tác giả Bùi Đức Thành và Đỗ Tiến Dũng năm
2007 tại tỉnh Bình Định cho thấy những năm gần đây tình hình bệnh tật của
nước ta đã có những thay đổi đáng kể Các bệnh nhiễm khuẩn tuy tỷ lệ mắc
vẫn còn cao nhưng có xu hướng ngày càng giảm Năm 1976, tỷ lệ bị bệnhnhiễm khuẩn là 55,5% đến năm 1996 còn 37,6%, năm 2000 là 32,1% và nămđầu tiên của thế kỷ XXI chỉ còn 25,0% [44] Mặc dù tỷ lệ các bệnh nhiễmkhuẩn giảm một cách tương đối nhưng vẫn còn ảnh hưởng lớn đến sức khoẻcộng đồng
Mét số bệnh mới có xu hướng phát triển như lao, nhiễm HIV, bệnh sốtxuất huyết, viêm não Nhật Bản B và một số bệnh rối loạn tinh thần, hành vi.Các bệnh không lây như tim mạch, ung thư, dị tật bẩm sinh, di truyền, cácchấn thương, tai nạn, ngộ độc có xu hướng gia tăng rõ rệt Tai nạn, ngộ độc,chấn thương từ 1,8% năm 1976 lên đến 13,7% năm 2000 (gấp hơn 7 lần) [17].Theo niên giám thống kê Y tế năm 2007, trong 10 bệnh phổ biến nhất thìnhóm bệnh nhiễm trùng chiếm 6 bệnh, trong đó 5 bệnh đứng hàng đầu là viêmphổi, viêm họng và amidan, viêm phế quản và viêm tiểu phế quản, ỉa chảy vàviêm dạ dày, ruột có nguồn gốc nhiễm khuẩn, cúm
Trang 17
Theo Trương Việt Dũng và cộng sự, gánh nặng bệnh tật hàng đầu ở vùngnam Trung bộ là tai nạn, bệnh nhiễm trùng, bệnh chu sinh Trong các loại hìnhtai nạn, ngã sông là quan trọng nhất, các khu vực khác tai nạn giao thông đứnghàng đầu [12].
Qua đó chỉ ra rằng về cơ bản mô hình bệnh tật của nước ta vẫn là môhình bệnh tật của các nước đang phát triển
Kết quả nghiên cứu khảo sát mô hình bệnh tật của tác giả Trần Quỵ
và cộng sự tại bệnh viện Bạch Mai cho thấy chu kỳ một năm 1999 bệnh của
hệ hô hấp chiếm 22,8 %; bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh vật chiếm 15,5%;bệnh liên quan chửa đẻ và sau đẻ chiếm 11,3%; bệnh hệ tiêu hóa chiếm9,6%; bệnh hệ tuần hoàn chiếm 5,8% Chu kú hai năm 2002 bệnh hệ hôhấp chiếm 19,9%; bệnh liên quan chửa đẻ và sau đẻ chiếm 12,9%; bệnhnhiễm khuẩn và ký sinh vật chiếm 12,6%; bệnh hệ tiêu hóa chiếm 10,1%;chấn thương, ngộ độc, di chứng của nguyên nhân bên ngoài chiếm 8,6% vàbệnh hệ tuần hoàn chiếm 6,3% [34]
Hầu hết các bệnh viện đều có thống kê thường kỳ để tiến hành báo cáo
về các loại bệnh, nhóm bệnh, song để biết được tình hình bệnh tật cũng như sốlượng người bệnh đến khám và điều trị tại các bệnh viện nhiều hay Ýt, có bịquá tải hay không, cụ thể hơn là chỉ số công suất sử dụng giường bệnh hàngnăm tại một bệnh viện; còng chưa có nghiên cứu nào đề cập cụ thể công suấtgiường bệnh tới từng khoa lâm sàng để có quy hoạch cho ra đời các bệnh việnchuyên khoa tuyến tỉnh là cần thiết hay không cần thiết
Nghiên cứu của chúng tôi sẽ đưa ra con số cụ thể tại bệnh viện Đa khoatỉnh Ninh Bình về tình hình bệnh tật, chỉ số công suất sử dụng giường bệnh đểthấy được sự quả tải người bệnh và sự cần thiÕt tăng giường bệnh cho cáckhoa cụ thể trong tương lai nhằm mục đích nâng cao hiệu quả khám chữa bệnhcho nhân dân khi đưa bệnh viện quy mô 700 giường vào hoạt động
Trang 18
1.6.2.3 Chi phí khám chữa bệnh
Chi phí KCB phụ thuộc rất nhiều vào khả năng kinh tế của mỗi giađình Theo kết quả điều tra của tác giả Trương Việt Dũng và cộng sự (1994)cho thấy chi phí KCB tại trạm y tế xã tương đương với chi phí khi mua thuốcđiều trị tại nhà (6000-8000 đồng); đến y tế tư nhân khoảng 12.000 đồng; đếnbệnh viện khoảng 30.000 đồng (Sau 15 năm chỉ số giá tiêu dùng tăng 20 lần,lương tối thiểu đã được điều chỉnh 3 lần) Đa số người dân khẳng định rằng điKCB tại bệnh viện là rất tốn kém [12]
Nghiên cứu của đơn vị Chăm sóc sức khỏe ban đầu tại 9 tỉnh tháng 11năm 2005 cho thấy chi phí bình quân cho một người một lần KCB tại bệnhviện là 167.000 đồng [14]
Một nghiên cứu khác tại Long An của tác giả Nguyễn Đức An cho thấychi phí KCB tại trạm y tế xã là 44.000 đồng/người/lượt; tại y tế tư nhân là68.000 đồng/người/lượt và tại bệnh viện là 141.000 đồng/người/lượt [1]
1.6.2.4 Khả năng chi trả cho KCB của người dân
Khả năng chi trả viện phí là một yếu tố tác động đến sự quyết định lựachọn nơi KCB khi ốm đau Hiện nay, việc chi trả các chi phí dịch vụ KCBđang thực hiện theo 3 phương thức: Người bệnh chi trả trực tiếp; người bệnhđược cơ quan BHYT thay mặt chi trả hộ khi người đó tham gia đóng BHYT;người bệnh được ngân sách nhà nước chi trả nếu người bệnh thuộc đối tượngchính sách, người có công
Các chi phí KCB được tính theo từng loại phí dịch vụ y tế, dùng dịch vụnào thanh toán dịch vụ đó Chúng ta chưa thực hiện thanh toán theo phươngthức khoán định suất đầu thẻ đăng ký hoặc định mức chi phí theo nhóm bệnh
Khi luật BHYT và các văn bản hướng dẫn có hiệu lực sẽ tiến tới BHYTtoàn dân; tất cả các đối tượng đều thực hiện thanh toán chi phí KCB thông qua
Trang 19
cơ quan BHYT; sẽ thực hiện chủ yếu phương thức thanh toán khoán chi phíKCB cho bệnh viện theo định suất thẻ đăng ký tại bệnh viện hoặc theo địnhmức điều trị nhóm bệnh, loại bỏ dần cách tính theo phí dịch vụ như hiện nay;thực hiện cùng chi trả để hạn chế lạm dụng dịch vụ y tế, lạm dụng thuốc của
cả phía bệnh viện và phía người bệnh
Trong cơ chế thị trường, cách chi trả tiền KCB được thực hiện một cáchlinh hoạt mà cả hai phía là bên cung cấp và bên sử dụng đều chấp nhận Khảnăng chi trả viện phí cũng khác nhau trong cộng đồng nhân dân
Một kết quả điều tra tại Quảng Ninh của tác giả Trương Việt Dũng chothấy có 89% trường hợp có tiền trả ngay chi phí KCB; 7% phải bán gì đótrong nhà hoặc vay mượn để trả; còn 4% không trả được hoặc phải trả bằnghiện vật; khi đến y tế tư nhân hoặc đến bệnh viện tuyến trên, tỷ lệ trả sau hoặckhông trả được cao hơn, khoảng 27% [12]
1.6.2.5 Sự hài lòng của người bệnh và người nhà người bệnh
Các nghiên cứu vÒ sự hài lòng của người bệnh đối với các bệnh viện vôcùng phong phó Một nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đức Thành năm 2006 tạitỉnh Hòa Bình, với thang điểm 5 cho kết quả như sau
Sự hài lòng của người bệnh khi tiếp cận dịch vụ:
Người bệnh đến khám chữa bệnh tại các bệnh viện chưa thật sự hàilòng khi tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe với điểm trung bình hài lòng
từ 3,84 (điểm trung bình hài lòng với thời gian chờ đợi đăng ký khámchữa bệnh) đến 3,95 (điểm trung bình hài lòng với thời gian chờ đợikhám bệnh) Tỷ lệ người bệnh hài lòng đối với thời gian chờ đăng ký
Trang 20
khám chữa bệnh là 72%, thời gian chờ đợi khám bệnh dưới 15 phúttương ứng là 67,3% Điểm trung bình hài lòng về chất lượng chăm sócsức khỏe ở khía cạnh tiếp cận dịch vụ dưới 4.
Sự hài lòng của người bệnh với nhân viên y tế:
Cũng như ở khía cạnh tiếp cận dịch vụ, hài lòng của người bệnh đốivới nhân viên y tế ở các mức độ khác nhau, từ 3,47 đến dưới 3,86 Trong
đó người bệnh hài lòng với thái độ của y tá có điểm trung bình cao nhất3,86, sự hài lòng của người bệnh khi được hướng dẫn chăm sóc cá nhân
có số điểm trung bình thấp nhất 3,47
Sự hài lòng của người bệnh với bác sỹ:
Mặc dù điểm hài lòng của người bệnh khi giao tiếp và tương tác vớibác sỹ tương đối cao (3,66–3,96) nhưng cũng thể hiện người bệnh chưathật sự hài lòng (điểm trung bình dưới 4) với thái độ và sự quan tâm củacỏc bỏc sỹ ở cả phòng khám và khoa phòng
Sự hài lòng đối với cơ sở vật chất/trang thiết bị/mụi trường:
Người bệnh thể hiện sự hài lòng đối với sự sạch sẽ, đầy đủ của các
cơ sở vật chất/trang thiết bị/mụi trường bệnh viện ở các mức độ khácnhau, tuy nhiên không có nội dung nào người bệnh cho điểm trung bìnhhài lòng quá 3,6 Điểm trung bình hài lòng đối với tình trạng vệ sinhkhoa phòng cao nhất (3,61) và thấp nhất là 2,67 đối với nhà vệ sinh
Sự hài lòng của người bệnh với thời gian làm thủ tục ra viện:
Điểm về nội dung kết quả chăm sóc sức khỏe khác nhau, điểm thấpnhất (3,51) đối với hệ thống chuyển tuyến và cao nhất (3,81) đối với
“thời gian làm thủ tục ra viện” Tuy nhiên, không nội dung nào có điểmtrung bình hài lòng từ 4 trở lên Đa số khách hàng hài lòng với thời gian
Trang 21làm thủ tục ra viện với thời gian trong vòng 30 phút Tỷ lệ khách hànghài lòng với hệ thống chuyển tuyến tương đối thấp (56,2%), chỉ có 54,4%người bệnh sẽ quay lại hoặc giới thiệu người quen đến bệnh viện đểkhám chữa bệnh Nhìn chung, điểm trung bình hài lòng về chất lượngchăm sóc sức khỏe chung ở các bệnh viện là tương đối thấp 3,6 [45].Tác giả Lê Nữ Thanh Uyên, nghiên cứu trên 220 bệnh nhân đến khám
và điều trị tại bệnh viện Bến Lức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An năm 2006.Kết quả cho thấy 90% bệnh nhân hài lòng chung về toàn bệnh viện, trong
đó 74,5% khâu thông tin hướng dẫn, 70% khâu thủ tục hành chính, 65%khâu phục vụ ăn uống, 61,8% khâu vệ sinh, 60,9% khõu phũng lưu Không
có sự khác biệt về sự hài lòng giữa bệnh nhân ở độ tuổi, giới tính, nơi cưtrú, nghề nghiệp, số lần đến khám chữa bệnh, thời gian nằm viện và bảohiểm y tế [55]
1.7 Một số văn bản được lấy làm quy chuẩn cho sù so sánh
Hiện nay, Chính Phủ, Bộ Y tế và một số Bộ ngành trung ương đã banhành các văn bản quy định liên quan đến các nguồn lực của bệnh viện Cácvăn bản được nghiên cứu sử dụng làm căn cứ so sánh thực trạng nguồn lựccủa bệnh viện bao gồm:
Về nguồn lực: Thông tư liên bé số 08/2007/TT-LT – BYT – BNV của
Bé Y tế và Bộ Nội vụ ngày 5/6/2007 Quy định biên chế cho các cơ sở y tế(Thông Tư 08)
Danh mục trang thiết bị chuẩn cho các tuyến tại Quyết định số BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế ngày 20/2/2002 (Quyết định 473)
473/QĐ-Quy định tiêu chuẩn xây dựng các công trình y tế của Bộ Xây dựng sè365/2007QĐ-BXD năm 2007, tập 4 (Quy định 365)
Trang 22
Nguồn kinh phí hoạt động của các bệnh viện hiện tại chưa có văn bảnquy định nào của nhà nước định mức cho bệnh viện mà tuỳ theo điều kiệnthực tế của địa phương về kinh tế - xã hội mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnhquyết định phân bổ nguồn tài chính cho các bệnh viện hoạt động
Trong nghiên cứu này chúng tôi tham khảo kết quả sử dụng nguồn tàichính hợp pháp của hai bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trong khu vực đó là haibáo cáo quyết toán về tài chính năm 2008 của bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam
và bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định, bao gồm nguồn ngân sách nhà nước cấp,nguồn thu từ viện phí (gồm BHYT và nguồn thu từ người bệnh trực tiếp chitrả) và các nguồn thu hợp pháp khác để so sánh, đánh giá, đối chiếu với bệnhviện đa khoa tỉnh Ninh Bình
1.8 Một số thông tin về tỉnh Ninh Bình
Ninh Bình nằm ở cực nam đồng bằng Bắc Bộ, diện tích 1.400 km2 Dân
sè 915 ngàn người
Mật độ dân số trung bình 654 người/ km2 Trên đất Ninh Bình có 23 dântộc anh em cùng sinh sống, nhưng chủ yếu là người Kinh, tiếp đến là ngườiMường, còn các dân tộc Tày, Nùng, Ngái… chỉ chiếm gần 0,8% dân số toàntỉnh Nằm trên tuyến đường giao thông Bắc - Nam, cách thủ đô Hà Nội hơn 90
km, ngoài quốc lộ 1A, đường sắt Bắc - Nam, Ninh Bình còn có hệ thống cảngbiển, đường sông, đường biển thuận lợi, tạo điều kiện giao lưu, hợp tác, pháttriển toàn diện với các tỉnh khác trong cả nước và quốc tế
Địa hình tỉnh Ninh Bình tương đối đa dạng, bao gồm cả đồng bằng,rừng núi và ven biển Rừng núi chiếm tới 2/3, còn đồng bằng thì chỉ chiếmkhoảng 1/5 diện tích tự nhiên toàn tỉnh
Tỉnh Ninh Bình có 8 đơn vị hành chính cấp huyện gồm 1 thành phố, 1thị xã và 6 huyện Có 147 xã phường thị trấn
Trang 23
Hệ thống Y tế: Mô hình 3 cấp tỉnh, huyện, xã Mạng lưới y tế Dự phòngbao gồm các trung tâm y tế thuộc hệ dự phòng tuyến tỉnh, đội y tế dự phòngtuyến huyện và các trạm y tế xã phường.
Mạng lưới khám chữa bệnh bao gồm tuyến tỉnh có 1 bệnh viện Đa khoaquy mô 450 giường bệnh và 4 bệnh viện chuyên khoa (bệnh viện Tâm Thần,bệnh viện Điều dưỡng- Phục hồi chức năng, bệnh viện Y học cổ truyền, bệnhviện Lao và bệnh phổi) quy mô 100 giường/ bệnh viện Tuyến huyện có 7bệnh viện Đa khoa tương ứng với 8 huyện (thành phố Ninh Bình không cóbệnh viện đa khoa) tổng sè 720 giường và 12 phòng khám khu vực với 180giường Mỗi trạm y tế xã có 5 giường lưu theo dõi và điều trị các bệnh thôngthường, sơ cấp cứu tai nạn ốm đau đột xuất Phòng khám đa khoa khu vựchoạt động như một khoa của bệnh viện huyện, là cánh tay nối dài của bệnhviện đến vùng sâu, vùng xa của địa phương Tổng số giường bệnh được giaotheo kế hoạch của các cơ sở điều trị từ tuyến tỉnh đến trạm y tế xã, phường là2.430 giường Ngoài ra hệ thống y tế tư nhân tuy chưa có bệnh viện song cácloại hình phòng khám đa khoa, phòng khám đăng ký cá thể hộ gia đình, phòngchẩn trị y học cổ truyền có tổng số trên 500 cơ sở
Trang 24
Chương II Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu
Địa bàn nghiên cứu là Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình: đây là bệnhviện đa khoa tuyến tỉnh có quy mô 450 giường bệnh Là đơn vị điều trị tuyếncuối của tỉnh với 20 khoa lâm sàng, 5 khoa cận lâm sàng và 6 phòng chứcnăng Tổng số nhân viên 515 người
Là bệnh viện được Bé Y tế phê duyệt là bệnh viện Đa khoa hạng hai.Bệnh viện thu dung điều trị người bệnh từ các bệnh viện đa khoa tuyến huyệntrong tỉnh gửi về, các trạm y tế của các cơ quan xí nghiệp trung ương và địaphương đóng trên địa bàn Ngoài ra bệnh viện còn nhận điều trị trực tiếpngười bệnh của các đơn vị y tế công an, quân đội và các huyện lân cận nhưLạc Thủy, Yên Thủy của tỉnh Hòa Bình; huyện Nga Sơn của tỉnh Thanh Hóa,huyện Thanh Liêm của tỉnh Hà Nam và huyện Ý Yên của tỉnh Nam Định
Bệnh viện thực hiện 7 chức năng nhiệm vụ do Bé Y tế quy định đó làkhám chữa bệnh; phòng bệnh; chỉ đạo tuyến; nghiên cứu khoa học; đào tạocán bé; hợp tác quốc tế, quản lý kinh tế trong Y tế
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
2.1.2.1 Đối với nguồn lực:
Hệ thống quản lý nhân lực, quản lý trang thiết bị, quản lý tài chính vàtài sản cố định của bệnh viện; các phòng chức năng, các khoa khám chữabệnh, các khoa cận lâm sàng và bộ phận phục vụ của bệnh viện
Nhân lực: Các cán bộ làm công tác quản lý như: Ban Lãnh đạo bệnhviện, phòng phòng Tổ chức - Cán bé, các cán bộ và nhân viên làm công táccung cấp dịch vụ khám chữa bệnh (thầy thuốc, điều dưỡng, dược, )
Trang 25
Vật lực: Tất cả các sổ sách và các báo cáo thống kê có liên quan tại cácphòng chức năng: phòng Hành chính - Quản trị, phòng Vật tư - Trang thiết bị
Y tế KÕt quả kiểm kê cuối năm 2008 cũng như kế hoạch nhập trang thiết bịnăm 2009 của bệnh viện
Cơ sở hạ tầng: Các bản vẽ thiết kế của bệnh viện qua các giai đoạn từkhi bắt đầu xây dùng cho tới hiện nay: Số liệu được tổng hợp và tính diện tíchkhuôn viên bệnh viện; diện tích sàn; diện tích trong buồng bệnh tính bình quântrên đầu giường bệnh kế hoạch
Nguồn tài chính: nghiên cứu sử dụng toàn bộ sổ sách báo cáo tài chínhđịnh kỳ tháng, quý và báo cáo quyết toán hoạt động tài chính của bệnh việnnăm 2008 Ngân sách nhà nước cấp; nguồn thu viện phí (Thu từ BHYT vàngười bệnh trực tiếp chi trả); các nguồn thu hợp pháp khác
2.1.2.2 Lưu lượng người bệnh tại bệnh viện Đa khoa tỉnh trong 3 năm
2.1.2.3 Sự phản hồi của khách hàng:
Bao gồm người bệnh và người nhà người bệnh đÕn KCB tại bệnh viện
Đa khoa tỉnh Ninh Bình ở thời điểm nghiên cứu, cụ thể là từ tháng 4 đến tháng
6 năm 2009 Khách hàng được chọn phỏng vấn ở 05 khoa lâm sàng cơ bản đó
là khoa Nội tổng hợp, khoa Ngoại, khoa Chấn Thương, khoa Sản và khoaTruyền Nhiễm
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01 đến tháng 8 năm 2009
Trang 26
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:
Áp dụng phương pháp dịch tễ học mô tả qua cuộc điều tra cắt ngang cóhồi cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang tại thời điểm nghiêncứu từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2009 đối với khảo sát thực trạng nguồn lực vàđánh giá sự hài lòng của khách hàng
Sử dụng phương pháp nghiên cứu hồi cứu đối với thu thập số liệu lưulượng người bệnh đến KCB trong 3 năm (2006 – 2008)
2.2.2 Chọn mẫu nghiên cứu
Với nghiên cứu ngang
Chọn mẫu toàn bộ sổ sách, báo cáo thống kê nhân lực của bệnh viện,quyết toán tài chính, bản vẽ thiết kế xây dựng đối với khảo sát các nguồn lực
cơ bản của bệnh viện và chọn mẫu thuận tiện đối với đối tương khách hàngtham gia phỏng vấn
Riêng trang thiết bị: chủ định chọn điều tra khảo sát trang thiết bị Y tế.Tuy nhiên trang thiết bị y tế có rất nhiều chủng loại từ đơn giản rẻ tiền nhưpince, kéo, nhiệt kế, ống nghe đến các trang thiết bị hiện đại đắt tiền như dụng
cụ phẫu thuật nội soi, máy chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ Do đócác trang thiết bị chủ định lựa chọn để khảo sát ưu tiên chọn các trang thiết bị
có đặc tính khoa học công nghệ cao Các trang thiết bị phù hợp quy mô củabệnh viện đa khoa tuyến tỉnh hạng II theo tiêu chuẩn xếp hạng bệnh viện của
Bộ Y tế ban hành và đã được Ủy ban nhân dân tỉnh tỉnh phê chuẩn
Các trang thiết bị y tế trong nghiên cứu được chủ định chia 3 nhóm.Nhóm trang thiết bị của khối lâm sàng, nhóm trang thiết bị của khối cận lâmsàng, chẩn đoán hình ảnh và nhóm trang thiết bị của khối thăm dò chức năng
Trang 27
Với nghiên cứu hồi cứu
Chọn mẫu toàn bộ sổ sách báo cáo và toàn bộ hồ sơ, bệnh án lưu tạiphòng Kế hoạch tổng hợp của bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình, chọn mẫutoàn bộ người bệnh đến khám bệnh và vào điều trị nội trú tại bệnh viện đượcnhập vào phần mềm quản lý bệnh viện trong 3 năm (2006, 2007 và 2008)
Với điều tra phỏng vấn khách hàng
Để phỏng vấn người bệnh và người nhà người bệnh chúng tôi tiến hànhchọn chủ định 5 khoa lâm sàng chính đó là các khoa: Nội tổng hợp, khoaNgoại, khoa Sản, khoa Chấn Thương và khoa Truyền Nhiễm Đây là nhữngkhoa có quy mô giường bệnh kế hoạch cao, lưu lượng người bệnh lớn Thờigian nằm viện khá dài Người bệnh và người nhà người bệnh có đủ điều kiện
để trả lời phỏng vấn
Một số nội dung phản hồi có thể người bệnh biết rõ và trả lời tốt nhưngcũng có một sè nội dung phải phỏng vấn qua người nhà trực tiếp chăm sócngười bệnh như mua thêm thuốc điều trị, nộp thêm tiền, hướng đẫn vào thăm
và tham gia chăm sóc dinh dưỡng hộ lý Do vậy chúng tôi chọn chủ định cảngười bệnh và người nhà người bệnh phỏng vấn để bổ sung cho những đánhgiá phản hồi của phía nhận dịch vụ y tế
2.2.3 Cỡ mẫu nghiên cứu
Cho nghiên cứu ngang
Với nguồn lực: chọn mẫu toàn bộ nguồn nhân lực hiện có, cơ sở hạ tầngxây dựng tại thời điểm điều tra Nguồn thu chi tài chính của năm 2008
Với trang thiết bị: nhãm trang thiết bị của khối lâm sàng chủ định chọn
20 chủng loại Nhóm trang thiết bị cận lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh và nhómtrang thiết bị thăm dò chức năng mỗi nhóm chủ định chọn 10 chủng loại
Để chọn số lượng người bệnh và người nhà người bệnh phỏng vấn,chúng tôi sử dụng công thức điều tra ngang:
Trang 28
2
) 2 / 1 (
) 1
(
e
p p
Áp dụng vào công thức trên tính được n = 384 làm tròn bằng 400
Như vậy sẽ có 400 người bệnh và 400 người nhà người bệnh được điềutra phỏng vấn Với cỡ mẫu này chúng tôi sẽ phỏng vÊn tại mỗi khoa 80 ngườibệnh và 80 người nhà người bệnh
Cỡ mẫu cho nghiên cứu hồi cứu
Cỡ mẫu khảo sát lưu lượng người bệnh tại bệnh viện Đa khoa tỉnh là cỡmẫu toàn bé số lượng người bệnh đến khám bệnh, toàn bộ người bệnh vàođiều trị nội trú tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình từ 01/01/2006 đến31/12/2008 theo mẫu báo cáo của Bộ Y tế
2.2.4 Tiêu chuẩn chọn người bệnh và người nhà người bệnh phỏng vấn
Những người bệnh được lựa chọn để phỏng vấn là những người bệnh đãnhập viện và đang nằm điều trị nội trú tại các khoa Nội tổng hợp, khoa Ngoại,khoa Sản, khoa Chấn Thương và khoa Truyền Nhiễm Người bệnh sắp ra việnhoặc đã được điều trị Ýt nhất từ 3 ngày trở lên
Tương tự cách chọn người bệnh chúng tôi chọn người nhà đang trựctiếp chăm sóc người bệnh cũng phải đảm bảo tiêu chuẩn sắp ra viện hoặc đãnằm điều trị từ 3 ngày trở lên Với thời gian nằm viện của người bệnh tối thiểu
là 3 ngày như trên thì người bệnh và người nhà mới có đủ thông tin, nhận xétchất lượng cung cấp dịch vụ y tế của bệnh viện
Trang 29
Như vậy người nhà người bệnh được chọn phỏng vấn có thể trùng làngười nhà của người bệnh được phỏng vấn hoặc không.
Người bệnh đã được điều trị khá ổn định, không bị mắc các chứng bệnhcủa rối loạn tâm thần hay trí nhớ
Những người nhà người bệnh là những người thân trong gia đình củangười bệnh Có sức khoẻ hoàn toàn bình thường, tuổi từ 18 trở lên, thườngxuyên chăm sóc và theo dõi người bệnh trong khi người bệnh đang nằm viện
Tất cả người bệnh và người nhà người bệnh đồng ý tự nguyện tham gianghiên cứu trả lời các câu hỏi của nghiên cứu viên
2.2.5 Tiêu chuẩn loại trừ người bệnh và người nhà người bệnh
Những người có biểu hiện về rối loạn tâm thần kinh
Những người không đồng ý tự nguyện tham gia nghiên cứu
Những người nhà không thường xuyên theo dõi người bệnh
Người bệnh và người nhà dưới 18 tuổi
2.2.6 Các kỹ thuật áp dông trong nghiên cứu và thu thập thông tin
Các số liệu về nguồn lực của bệnh viện được tổng hợp thông qua kếtquả kiểm kê cuối năm 2008 và bổ sung trong năm 2009; phân tích và đem sosánh với các quy định được lấy làm chuẩn như về nhân lực so sánh với Thông
tư liên bộ số 08/2007/TT-LT – BYT – BNV của Bé Y tế và Bộ Nội vụ ngày5/6/2007 Quy định biên chế cho các cơ sở y tế
Trang thiết bị so sánh với Danh mục trang thiết bị chuẩn cho các tuyếnban hành tại Quyết định số 473/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế ngày20/2/2002 Số lượng trang thiết bị thiếu so với quy định được thể hiện trongbảng kết quả là số âm (-), số lượng thừa là số dương (+), nếu đủ thể hiện sè 0
Diện tích xây dựng được so sánh với Quy định tiêu chuẩn xây dựng cáccông trình y tế của Bộ Xây dựng số 365/2007QĐ-BXD năm 2007, tập 4
Riêng nguồn tài chính của bệnh viện hiện tại không có quy định chuẩn
về định mức thu chi ngân sách cho các bệnh viện, do vậy số liệu tài chính
Trang 30
được tổng hợp qua báo cáo quyết toán tài chính của bệnh viện năm 2008 và sosánh với hoạt động thu chi tài chính của hai bệnh viện tỉnh bạn cùng khu vực
đó là bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Nam và bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định
Số liệu được phân tích trên tổng số nguồn thu và tính bình quân trên đầugiường bệnh theo kế hoạch
Về lưu lượng người bệnh đến khám chữa bệnh của bệnh viện: Thu thập
và phân tích các số liệu trên sổ sách, báo cáo, hệ thống quản lý bệnh viện bằngphần mềm công nghệ thông tin của bệnh viện về tất các các mặt có liên quanđến lưu lượng bệnh nhân khám chữa bệnh tại bệnh viện trong 3 năm 2006-
2008 Số liệu người bệnh đến khám chữa bệnh được phân tích theo cơ cấubệnh, theo nhóm bệnh, theo chương bệnh của ICD-10, trẻ em và người lớn,theo huyện, theo nghề nghiệp và theo thời gian
Theo bảng phân loại quốc tế bệnh tật lần thứ 10 (ICD-10) một số tìnhtrạng không phải là bệnh nhưng được mã hóa như một bệnh, ví dụ như đẻ mộtthai tự nhiên, đẻ thường Một số bệnh được mã hóa ở nhiều chương bệnh ví
dụ như vết thương phần mềm vùng mặt sẽ được mã hóa bệnh ở cả chương vếtthương phần mềm vùng đầu mặt cổ và mã hóa cả ở chương tai nạn, ngộ độc,chấn thương do nguyên nhân bên ngoài Do vậy tổng số bệnh theo ICD-10 baogiờ cũng lớn hơn tổng sè người bệnh thực tế
Đối với nghiên cứu sự phản hồi của khách hàng: người bệnh sau khiđược giải thích rõ mục đích của nghiên cứu và họ tự nguyện đồng ý tham gianghiên cứu, khi đó họ sẽ ký vào bản cam kết tự nguyện tham gia
Nghiên cứu viên sẽ sử dụng bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn và tiến hànhphỏng vấn trực tiếp người bệnh và người nhà người bệnh Các câu hỏi phỏngvấn tập trung vào nội dung sự hài lòng của khách hàng với tinh thần thái độphục vụ của nhân viên bệnh viện, sự thuận tiện và tiện nghi khám chữa bệnh,
vệ sinh bệnh viện, nộp tiền ngoài quy định, mua thêm thuốc cho người bệnh,
Trang 31
công khai thuốc, hướng dẫn quy trình thủ tục khám chữa bệnh, sắp xếp đủ chỗngồi chờ khám bệnh
Sẽ chọn toàn bé số người bệnh đủ tiêu chuẩn hiện có mặt tại khoa trongngày điều tra, tập trung về một phòng và tiến hành phỏng vấn Phát trước chomỗi người bệnh một tờ phiếu phỏng vấn và bút, đọc và hướng dẫn, giải thíchtừng câu phỏng vấn để người bệnh tự trả lời bằng cách khoanh tròn vào ôtương ứng Mức độ trả lời được mã hóa phân thành bốn cấp độ: Tốt là số 1;bình thường là số 2; không tốt là số 3 và không trả lời là số 0
Tương tự như thế đối với phỏng vấn người nhà người bệnh Nghiên cứuviên sẽ tìm, chọn người nhà người bệnh có đủ tiêu chuẩn để phỏng vấn Nhưvậy người nhà người bệnh có thể trùng hoặc không trùng đối với người bệnhđược chọn phỏng vấn
Tiến hành phỏng vấn người bệnh vào buổi chiều những ngày thứ thứ 2,thứ 4 và thứ 6 trong tuần vì đây là những ngày bác sỹ khám bệnh cho thuốcnên người bệnh có mặt đầy đủ tại khoa
Người nhà người bệnh được phỏng vấn vào buổi chiều những ngày thứthứ 3, thứ 5 và thứ 7 là những ngày bác sỹ không khám bệnh, đi buồng nênngười nhà người bệnh có thể ở lại trong khoa nhiều hơn và để không ảnhhưởng đến công tác điều trị của các khoa, phòng
Trong suốt quá trình phỏng vấn không có sự hiện diện của nhân viênbệnh viện để người được phỏng vấn trả lời khách quan
Mỗi ngày tiến hành chọn và phỏng vấn tất cả các đối tượng đủ tiêuchuẩn có mặt tại khoa (mỗi ngày chỉ lựa chọn được khoảng 10 người bệnh; 10người nhà của người bệnh) cho đến khi đủ số mẫu thì dừng lại
Nhóm phỏng vấn và điều tra gồm 10 điều tra viên cho 5 khoa lâm sàng
và khảo sát các nguồn lực Đây là cán bộ nhân viên của văn phòng sở Y tếNinh Bình, độc lập với bệnh viện Đa khoa tỉnh
Trang 32
Nghiên cứu có sự tham gia của phòng nghiệp vụ Y, phòng Kế hoạchtổng hợp sở Y tế; giám đốc bệnh viện Đa khoa tỉnh, nhân viên quản trị mạngcủa sở Y tế và của bệnh viện Đa khoa tỉnh.
2.3 Khống chế sai sè trong nghiên cứu
Chọn điều tra viên không phải là nhân viên bệnh viện, Cán bé điều traphỏng vấn là nhân viên văn phòng sở Y tế Ninh Bình
Tổ chức tập huấn cho điều tra viên và tổ chức điều tra thử 10 ngườibệnh, 10 người nhà cho mỗi nhóm, rót kinh nghiệm và điều chỉnh bộ câu hỏi
Lựa chọn đối tượng phỏng vấn tỉnh táo tiếp xúc tốt và độ tuổi từ 18 đến
60 tuổi; người nhà chăm sóc thường xuyên (được phát áo người nhà) loại trừcác đối tượng không đủ tiêu chuẩn
Khi tiến hành điều tra phỏng vấn, không có mặt nhân viên bệnh viện,chỉ có người bệnh người nhà người bệnh và điều tra viên để tránh sự nể nanghoặc sợ bị trù dập của người được phỏng vấn
2.4 Các chỉ số nghiên cứu
2.4.1 Với nghiên cứu ngang
Nguồn lực tại bệnh viện:
+ Nhân lực: Bác sỹ; dược sỹ; Điều dưỡng; cán bộ khác + Trang thiết bị sử dụng trong khối lâm sàng, cận lâm sàng vàthăm dò chức năng
+ Kinh phí của bệnh viện: Trong ngân sách nhà nước được cấp,ngoài ngân sách nh thu viện phí từ BHYT, từ người bệnh và các nguồn thu phí
và lệ phí hợp pháp khác
+ Cơ sở hạ tầng xây dựng của bệnh viện: Diện tích khuôn viênchung, diện tích xây dựng, diện tích sử dụng bệnh viện và các khoa phòng,diện tích buồng bệnh nhân được tính trên đầu giường bệnh kế hoạch
Các chỉ số nghiên cứu về phía người sử dụng dịch vụ (người bệnh vàngười nhà người bệnh): Khoảng cách từ nhà đến bệnh viện, thời gian chờ đợi
Trang 33
khám bệnh, sự hài lòng với thái độ nhân viên y tế, thuốc mua thêm để điều trịngoài phần đóng viện phí, các khoản tiền phải nộp ngoài quy định, vệ sinhbệnh viện, kết quả điều trị và khả năng chi trả viện phí của người bệnh vớimức thu viện phí được tính bình quân một đợt điều trị của năm 2008
Đặc biệt thực tế hiện nay nhiều bệnh viện có nhà vệ sinh giành chongười bệnh rất đẹp và tiện nghi, đây là một trong những tiêu chuẩn chấm điểmkiểm tra bệnh viện cuối năm song thường xuyên khóa không mở vì sợ phảităng chi phí vệ sinh, do đó chúng tôi đưa chỉ số phỏng vấn khách hàng về vấn
đề mở cửa nhà vệ sinh có thường xuyên hay không vào nghiên cứu
2.4.2 Với nghiên cứu hồi cứu
Sè lượng người bệnh đến khám bệnh và điều trị trong 3 năm 2006-2008:Tổng số hàng năm, phân theo tháng, theo khu vực địa lý (huyện), đối tượngBHYT và đối tượng thu viện phí, theo nghề nghiệp, theo nhóm người lớn vàtrẻ em, theo các chuyên khoa, theo bệnh và theo nhóm bệnh, theo bảng phânloại Quốc tế bệnh tật lần thứ 10 (ICD -10) Các bệnh, nhóm bệnh có tần suấtmắc cao, tình trạng bệnh tật gặp tại bệnh viện đa khoa tỉnh
2.5 Phương pháp xử lý số liệu trong nghiên cứu
Số liệu các nguồn lực được tổng hợp, phân tích thống kê thông thường Đối với sổ sách, các báo cáo hoạt động khám chữa bệnh, hồ sơ bệnh áncủa người bệnh trong 3 năm 2006-2008 được thống kê tổng hợp trên phầnmềm quản lý bệnh viện Medisof 2003 của Bộ Y TÕ và phần mềm VIMEDhiện bệnh viện đang sử dụng
Với số liệu phỏng vấn khách hàng được xử lý theo thuật toán thống kê ysinh học bằng phần mềm EPI-INFO 6.04 của WHO và chương trình SPSS
- Tính tỷ lệ %,
- So sánh 2 tỷ lệ dùng Test χ2 thông qua giá trị p (p value)
- Các số liệu thu thập được qua cuộc điều tra ngang và hồi cứu đượctrình bày trên các bảng số liệu và biểu đồ
Trang 34
Riêng phần phỏng vấn khách hàng những câu hỏi có cùng nội dung,chúng tôi lồng ghép kết quả trả lời của người bệnh và người nhà vào một bảng
và chỉ đưa số liệu của một cấp độ trả lời cần bàn luận Các kết quả trả lời củacâu hỏi có nội dung khác nhau, được trình bày bảng riêng và sử dụng cả 4 cấp
độ trả lời
2.6 Đạo đức trong nghiên cứu
Tất cả các phiếu phỏng vấn đều không ghi họ tên người được phỏngvấn, khoa phòng được phỏng vấn Khi phỏng vấn không có mặt nhân viênbệnh viện và người được phỏng vấn không phải ký tên, chỉ có chữ ký của điềutra viên Người điều tra là nhân viên của một đơn vị độc lập với bệnh viện
Các khoa được chọn điều tra gồm khoa Nội tổng hợp, khoa Ngoại, khoaChấn Thương, khoa Sản và khoa Truyền Nhiễm chúng tôi mã hóa thành 5nhóm từ số 1 đến số 5 để đảm bảo bí mật và đạo đức trong nghiên cứu như đãcam kết Chỉ có tác giả mới được trực tiếp mã hóa và giữ bí mật này
Mọi thông tin và số liệu nghiên cứu được bảo mật theo chế độ quy định.Chỉ những thành viên nhóm nghiên cứu, người hướng dẫn và hội đồng chấmluận văn mới được sử dụng bộ tài liệu này
Trang thiết bị y tế có rất nhiều tiêu chí đánh giá, tuy nhiên trong phạm
vi nghiên cứu này chỉ đề cập đến số lượng và mét số chủng loại cơ bản củatrang thiết bị y tế;
Trang 35
Các chỉ số về xây dựng mới đề cập đến diện tích xây dùng, sử dụng chokhuôn viên bệnh viện và buồng điều trị cho người bệnh chứ không đề cập sâuvào các tiêu chí thiết kế, hiệu quả công năng sử dông và các tiêu chí khác
Nguồn nhân lực: nghiên cứu chỉ đề cập đến số lượng, cơ cấu và trình độcán bộ So sánh với các quy định của Chính Phủ, của Bộ Y TÕ, Bộ Nội Vụ,chưa phân tích sâu chất lượng nguồn nhân lực
Khảo sát sự hài lòng của khách hàng: nghiên cứu đưa ra một sè nộidung phỏng vấn liên quan trực tiếp đến sự hài lòng của người bệnh và ngườinhà khi đến khám chữa bệnh tại bệnh viện Chưa thể đi sâu nghiên cứu tất cảtiêu chí của sự hài lòng Mỗi vấn đề trên đều có thể thành một nội dung riêng
rẽ để nghiên cứu sâu hơn Trong khuôn khổ phạm vi của nghiên cứu này chưa
có điều kiện đạt được mong muốn rộng lớn đó Nhóm nghiên cứu rất mongmuốn được phát triển nghiên cứu trong giai đoạn sau
Chương III Kết quả nghiên cứu 3.1 Thực trạng nguồn lực và lưu lượng người bệnh đến khám chữa bệnh tại bệnh viện Đa khoa Ninh Bình trong 3 năm (2006-2008).
Trang 36KÕt quả bảng 3.1 cho thấy tổng số cán bộ của bệnh viện là 515 Có
136 cán bộ đại học, trong đó trên đại học 66, dược sỹ đại học 04, đại học điềudưỡng 04
Bảng 3.2 Cơ cấu nhân lực của bệnh viện
3.1.2 Trang thiết bị Y tế
Bảng 3.3 Trang thiết bị y tế sử dụng cho khối lâm sàng
STT Trang thiết bị Số lượng Thực có Số lượng quy định quy định So với
Trang 379 Monitor theo dõi người bệnh 14 30 -16
số lượng và 2/20 thiết bị không có
Bảng 3.4 Trang thiết bị y tế sử dụng cho khối cận lâm sàng
STT Trang thiết bị Số lượng Thực có Số lượng quy định quy định So với
Trang 38Kết quả bảng 3.4 cho thấy có 4/10 thiết bị đạt số lượng theo quy địnhcòn 6/10 thiết không có
Bảng 3.5 Trang thiết bị y tế sử dụng cho khối thăm dò chức năng
STT Trang thiết bị Số lượng Thực có Số lượng quy định quy định So với
Kết quả bảng 3.5 cho thấy trang thiết bị thăm dò các chức năng sốngcủa người bệnh, cã 3/10 thiết bị đủ về số lượng, có 7/10 loại không có
Bảng 3.6 Danh mục các trang thiết bị từ nguồn xã hội hoá
1 Máy chụp cắt lớp điện toán (CT Scaner) HT 01
2 Máy xét nghiệm sinh hoá tự động Chiếc 01
Kết quả bảng 3.6 cho thấy 6 loại trang thiết bị hiện đại được sử dôngbằng nguồn vốn xã hội hoá
3.1.3 Nguồn tài chính của bệnh viện
Trang 39
Biểu đồ 3.1 Kinh phí của bệnh viện thu tính trên mét giường bệnh
Biểu đồ 3.1 cho thấy trong một năm kinh phí của bệnh viện thu tínhbình quân trên giường bệnh theo kế hoạch từ nguồn ngân sách nhà nước cấp36.486 ngàn đồng; thu từ khám chữa bệnh BHYT là 49.269 ngàn đồng; thuviện phí trực tiếp từ người bệnh là 24.430 và thu khác là 2.829 ngàn đồng
3.1.4 Cơ sở hạ tầng xây dựng của bệnh viện
Bảng 3.7 Diện tích khuôn viên và diện tích sử dụng tại bệnh viện
Trang 40Kết quả bảng 3.7 cho thấy diện tích mặt bằng của bệnh viện là 33.319
m2, diện tích sử dụng tính trên một giường bệnh kế hoạch là 28,7 m2
Biểu đồ 3.2 Diện tích buồng bệnh/giường bệnh tại mét số khoa
Nhìn vào biểu đồ 3.2 diện tích buồng điều trị cho người bệnh tính bìnhquân trên giường bệnh của khoa sản phụ 2,6m2, khoa Nội tổng hợp là 3,8m2
3.1.5 Lưu lượng người bệnh đến khám chữa bệnh tại bệnh viện
Bảng 3.8 Lưu lượng người bệnh đến khám bệnh trong 3 năm
Số lượng 110.978 110.717 128.677 116.791
Tỷ lệ %
Kết quả bảng 3.8 cho thấy số lượng người bệnh đến khám bệnh tăng sovới kế hoạch Năm 2006 và 2007 khám bệnh đạt 111%, năm 2008 đạt 129%,bình quân cả ba năm là 117%