ĐẶT VẤN ĐỀ Sốt rét là một bệnh do ký sinh trùng Plasmodium gây nên và do muỗi Anopheles truyền từ người bệnh sang người lành. Bệnh sốt rét tác hại trực tiếp đến thể chất, tính mạng con người và ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế, xã hội của cộng đồng, của Quốc gia, thậm chí cả một khu vực trên Thế giới [1],[21], [22]. Theo báo cáo của WHO (1991): Sau 36 năm tiến hành tiêu diệt sốt rét và phòng chống sốt rét (1954-1991), trên toàn thế giới vẫn còn trên 2 tỉ người sống trong vùng sốt rét (gần 50% dân số thế giới) ở 100 nước, tử vong do sốt rét hàng năm từ 1- 2 triệu người và số mắc sốt rét mới hàng năm là 110 triệu người [2]. Trong thập kỷ qua, chương trình tiêu diệt sốt rét và phòng chống sốt rét tuy có mang lại một số kết quả. Song hơn 10 năm trở lại đây chương trình gặp một số khó khăn nên sốt rét vẫn được coi là một trong những bệnh xã hội gây tác hại hàng đầu cho nhân loại [37]. Tại Việt Nam vào những năm đầu thập kỷ 90, hàng năm cả nước có trên một triệu người mắc sốt rét, hàng nghìn người chết và hàng trăm vụ dịch sốt rét xẩy ra. Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự chỉ đạo trực tiếp của Bé Y tế, Chương trình Phòng chống sốt rét cùng với mạng lưới chuyên khoa các tuyến từ Trung ương đến thôn bản và cộng đồng đã tích cực thực hiện các biện pháp phòng chống sốt rét, tình hình sốt rét đã được cải thiện rõ rệt [22]. Việt Nam nằm ở vùng nhiệt đới có nhiều điều kiện thuận lợi để bệnh sốt rét phát triển, có tới 2/3 diện tích cả nước với khoảng 50% dân số sống trong vùng sốt rét lưu hành[38]. Chương trình Phòng chống sốt rét Quốc gia trong những năm qua đã thu được thành tựu đáng kể. Từ năm 1991 đến năm 2004, số ca sốt rét dương tính đã giảm từ 187.904 xuống 24.909. Số ca chết giảm từ 4.646 xuống còn 24 ca. Tuy nhiên, trong năm 2004 ở 61 tỉnh thành của cả nước vẫn có những ca sốt rét dương tính. Trong đó có 23 tỉnh tình hình sốt rét vẫn còn rất nghiêm trọng với 43 triệu dân nằm trong vùng có nguy cơ mắc sốt rét. Các điều tra cho thấy, người dân sống ở vùng sâu vùng xa ít tiếp cận với các dịch vụ y tế và ít sử dụng màn, chịu gánh nặng sốt rét lớn nhất. Bệnh sốt rét có ảnh hưởng đáng kể đến nghèo đãi và phát triển xã hội ở những vùng này. [9],[17].[23]. Điện Biên là một tỉnh miền núi, vùng cao, biên giới, có đầy đủ các điều kiện về địa lý tự nhiên, kinh tế xã hội và những khó khăn về dịch vụ y tế ... Vì vậy tình hình sốt rét luôn phức tạp và trầm trọng với đỉnh cao là những năm 1980-1990 [2]. Bằng nhiều sự cố gắng trong tất cả các lĩnh vực, đến nay tình hình sốt rét tại Điện Biên đã tạm thời ổn định. Tuy vậy, Chương trình phòng chống sốt rét triển khai tại tỉnh Điện Biên chưa xây dựng và duy trì được các yếu tố bền vững để tiến tới đẩy lùi bệnh sốt rét. Các yếu tố dịch tễ bệnh sốt rét còn nhiều nguy cơ tiềm ẩn và có xu hướng diễn biến phức tạp. Vì vậy, việc mô tả một số đặc điểm dịch tễ bệnh sốt rét và đánh giá công tác phòng chống sốt rét tại tỉnh Điện Biên giai đoạn từ năm 2005 - 2008 là hết sức cần thiết. Với những lý do trên chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Một số đặc điểm dịch tễ và công tác phòng chống sốt rét tại tỉnh Điện Biên từ năm 2005-2008” với mục tiêu sau: 1. Mô tả một số đặc điểm dịch tễ bệnh sốt rét tại tỉnh Điện Biên từ năm 2005 - 2008. 2. Đánh giá kiến thức, thực hành phòng chống sốt rét của Trưởng trạm y tế xã và nhân viên y tế thôn, bản, lãnh đạo chính quyền các cấp. 3. Mô tả thực trạng công tác quản lý, phòng chống sốt rét tại tỉnh Điện
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Sốt rét là một bệnh do ký sinh trùng Plasmodium gây nên và do muỗiAnopheles truyền từ người bệnh sang người lành Bệnh sốt rét tác hại trực tiếpđến thể chất, tính mạng con người và ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh
tế, xã hội của cộng đồng, của Quốc gia, thậm chí cả một khu vực trên Thế giới[1],[21], [22]
Theo báo cáo của WHO (1991): Sau 36 năm tiến hành tiêu diệt sốt rét
và phòng chống sốt rét (1954-1991), trên toàn thế giới vẫn còn trên 2 tỉ ngườisống trong vùng sốt rét (gần 50% dân số thế giới) ở 100 nước, tử vong do sốtrét hàng năm từ 1- 2 triệu người và số mắc sốt rét mới hàng năm là 110 triệungười [2]
Trong thập kỷ qua, chương trình tiêu diệt sốt rét và phòng chống sốt réttuy có mang lại một số kết quả Song hơn 10 năm trở lại đây chương trình gặpmột số khó khăn nên sốt rét vẫn được coi là một trong những bệnh xã hội gâytác hại hàng đầu cho nhân loại [37]
Tại Việt Nam vào những năm đầu thập kỷ 90, hàng năm cả nước cótrên một triệu người mắc sốt rét, hàng nghìn người chết và hàng trăm vụ dịchsốt rét xẩy ra Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự chỉ đạo trực tiếpcủa Bé Y tế, Chương trình Phòng chống sốt rét cùng với mạng lưới chuyênkhoa các tuyến từ Trung ương đến thôn bản và cộng đồng đã tích cực thựchiện các biện pháp phòng chống sốt rét, tình hình sốt rét đã được cải thiện rõrệt [22]
Việt Nam nằm ở vùng nhiệt đới có nhiều điều kiện thuận lợi để bệnh sốt rétphát triển, có tới 2/3 diện tích cả nước với khoảng 50% dân số sống trong vùng sốtrét lưu hành[38]
Chương trình Phòng chống sốt rét Quốc gia trong những năm qua đãthu được thành tựu đáng kể Từ năm 1991 đến năm 2004, số ca sốt rét dương
Trang 2tính đã giảm từ 187.904 xuống 24.909 Số ca chết giảm từ 4.646 xuống còn 24
ca Tuy nhiên, trong năm 2004 ở 61 tỉnh thành của cả nước vẫn có những casốt rét dương tính Trong đó có 23 tỉnh tình hình sốt rét vẫn còn rất nghiêmtrọng với 43 triệu dân nằm trong vùng có nguy cơ mắc sốt rét Các điều tracho thấy, người dân sống ở vùng sâu vùng xa ít tiếp cận với các dịch vụ y tế
và ít sử dụng màn, chịu gánh nặng sốt rét lớn nhất Bệnh sốt rét có ảnh hưởngđáng kể đến nghèo đãi và phát triển xã hội ở những vùng này [9],[17].[23]
Điện Biên là một tỉnh miền núi, vùng cao, biên giới, có đầy đủ các điềukiện về địa lý tự nhiên, kinh tế xã hội và những khó khăn về dịch vụ y tế Vìvậy tình hình sốt rét luôn phức tạp và trầm trọng với đỉnh cao là những năm1980-1990 [2]
Bằng nhiều sự cố gắng trong tất cả các lĩnh vực, đến nay tình hình sốt réttại Điện Biên đã tạm thời ổn định Tuy vậy, Chương trình phòng chống sốt réttriển khai tại tỉnh Điện Biên chưa xây dựng và duy trì được các yếu tố bền vững
để tiến tới đẩy lùi bệnh sốt rét Các yếu tố dịch tễ bệnh sốt rét còn nhiều nguy cơtiềm ẩn và có xu hướng diễn biến phức tạp Vì vậy, việc mô tả một số đặc điểmdịch tễ bệnh sốt rét và đánh giá công tác phòng chống sốt rét tại tỉnh Điện Biêngiai đoạn từ năm 2005 - 2008 là hết sức cần thiết Với những lý do trên chúng tôi
tiến hành đề tài nghiên cứu “Một số đặc điểm dịch tễ và công tác phòng chống sốt rét tại tỉnh Điện Biên từ năm 2005-2008” với mục tiêu sau:
1 Mô tả một số đặc điểm dịch tễ bệnh sốt rét tại tỉnh Điện Biên từ năm
2005 - 2008.
2 Đánh giá kiến thức, thực hành phòng chống sốt rét của Trưởng trạm
y tế xã và nhân viên y tế thôn, bản, lãnh đạo chính quyền các cấp.
3 Mô tả thực trạng công tác quản lý, phòng chống sốt rét tại tỉnh Điện Biên
Trang 3- 1889 – 1890: Celli và Marchiafava (Italy) phát hiện ra một loài ký
sinh trùng sốt rét ở người là Plasmodium.
- 1922: Stepphens, phát hiện một loại ký sinh trùng sốt rét: P.ovale.
- 1897: Ronald Ross (Anh) lần đầu tiên phát hiện ký sinh trùng sốt rétphát triển ở cơ thể muỗi (An.Stephensi) tại Ên Đé
- 1898: Ronald Ross thí nghiệm ký sinh trùng sốt rét ở người và chim,xác định muỗi Anopheles là trung gian truyền bệnh sốt rét cho người
- 1898 Grassi, Bignami, Bastianelli (Ý) thí nghiệm toàn bộ chu kỳ pháttriển của ký sinh trùng sốt rét ở muỗi và người, họ đã khẳng định nghiên cứucủa Ronald Ross
Từ kết quả trên, người ta đã tìm ra nguyên nhân của bệnh sốt rét là do
ký sinh trùng sốt rét (mầm bệnh phát triển trong máu bệnh nhân) Và đượcmuỗi Anopheles (trung gian truyền bệnh) đốt truyền từ người bệnh sang ngườilành (cơ thể cảm thụ) Như vậy nguyên nhân gây bệnh sốt rét do 3 yếu tố:
- Ký sinh trùng sốt rét (Plasmodium): Mầm bệnh
- Muỗi sốt rét Anopheles: Trung gian truyền bệnh
- Con người: Cơ thể cảm thô
Trang 4Thiếu 1 trong 3 yếu tố trên thì không thể có quá trình sinh bệnh SR.Tuy nhiên những đặc điểm riêng biệt của mỗi yếu tố đều có liên quan đến quátrình sinh bệnh SR.
1.1.1 Mầm bệnh [24],[31].
- Nguyên nhân gây bệnh sốt rét là do KSTSR có gần 100 loại nhưng
đến nay người ta mới biết có 4 loại ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum P.vivax, P.ovale và P.malariae.
Người mang KSTSR có thể biểu hiện các triệu chứng lâm sàng điểnhình như rét run, sốt nóng, ra mồ hôi và khát nước Cũng có thể biểu hiện cáctriệu chứng không điển hình như: sốt cao, nhức đầu, ớn lạnh, đau toàn thân, vàcòng cã thể không biểu hiện triệu chứng gì cả, đó là trường hợp người mang
ký sinh trùng lạnh Tuỳ theo loại ký sinh trùng sốt rét mang trong người mà
bệnh nhân sốt mỗi ngày một cơn (P.falciparum) Hai ngày Một cơn (P.vivax).
Ba ngày một cơn (P.malariae) Cơn sốt thường xuất hiện đúng giê, có tính
chu kỳ rõ rệt ăn khớp với quá trình phát triển của KSTSR Trong máu ngườimang KSTSR ta thường gặp hai thể Thể vô tính (tư dưỡng phân liệt) và thểhữu tính (giao bào hay giao tử) Ký sinh trùng sốt rét trong cơ thể người bệnhrất nhỏ và chỉ thấy được bằng kính hiển vi Chu kỳ sống của KSTSR phảihoàn thành qua hai vật chủ:
- Giai đoạn sinh sản hữu tính ở cơ thể muỗi (vật chủ chính)
- Giai đoạn sinh sản vô tính ở cơ thể người (vật chủ phụ) và gây ranhững hiện tượng bệnh lý
Đời sống của KSTSR trong cơ thể người có hạn định, tuỳ theo loại kýsinh trùng sốt rét mà chúng tồn tại trong cơ thể người từ 6 tháng đến 3 năm
Một số trường hợp có thể tồn tại lâu hơn, trên 10 năm như (P.malariae).
Trang 5Một người nào đó muốn biết mình có mắc bệnh sốt rét hay không? cáchchẩn đoán chính xác nhất là dựa vào kết quả xét nghiệm tìm ký sinh trùng sốtrét trong máu bằng kính hiển vi.
1.1.2 Trung gian truyền bệnh [24],[31].
Muỗi Anopheles là vật chủ trung gian truyền bệnh sốt rét Trên thế giới
có khoảng 420 loài Anopheles khác nhau Trong đó có khoảng 70 loài được
xác định là vector truyền bệnh sốt rét Do các đặc điểm về địa lý khí hậu vàsinh thái của muỗi mà ở mỗi vùng mỗi nước có các loại truyền bệnh sốt rétchính khác nhau Những yếu tố để xác định một loại muỗi là vector truyềnbệnh sốt rét bao gồm: Nhiễm thoa trùng ở tuyến nước bọt; Ưa đốt người; Tần
số đốt ngắn; Mật đé cao ở mùa sốt rét Dưới đây là các loại vector truyền bệnhsốt rét ở Việt Nam:
- Loại truyền bệnh chính:
+ An minimus: Muỗi sống ở bìa rừng, trong rừng, rừng savan, bọ gậy
sống ở ven suối quang, nước chẩy chậm
+ An.dirus : Muỗi ở rừng rậm, bìa rừng, rừng thưa, bọ gậy sống ở vũng
nước đọng, dưới bóng râm trong rừng
- Loại truyền bệnh phụ:
+ An.aconitus , An.maculaus , An.jeyporiensis (vùng nói)
+ An.sundaicus , An.subpictus (ven biển nước lợ)
Trang 6Về giới tính: Không liên quan đến yếu tố cảm thụ sốt rét nên tỉ lệ mắcsốt rét tương đương giữa nam và nữ
Một số ngành nghề có liên quan đến rừng núi (làm việc trong rừng, ngủlại trong rừng), thường có tỉ lệ mắc sốt rét cao Dân cư từ vùng thành thị, đồngbằng vào vùng SR lưu hành dễ nhiễm bệnh SR và khi mắc bệnh SR, bệnhthường nặng vì chưa có miễn dịch sốt rét
1.1.4 Định nghĩa ca bệnh
Để chẩn đoán bệnh sốt rét người ta dựa vào định nghĩa ca bệnh bao gồm:
- Bệnh nhân sốt rét: Có KSTSR thể vô tính trong máu, xét nghiệm bằngphương pháp giêm sa dương tính, hoặc dùng que thử chẩn đoán nhanh dươngtính (nếu không có kính hiển vi) Bao gồm bệnh nhân sốt rét thường, bệnhnhân sốt rét ác tính và người mang ký sinh trùng lạnh (hiện tại không có sốt
và không có sốt trong vòng 7 ngày gần đây)
- Bệnh nhân nghi sốt rét (sốt rét lâm sàng) trường hợp không được xétnghiệm máu, hoặc xét nghiệm máu âm tính, hoặc chưa có kết quả xétnghiệm) Nhưng có 4 đặc điểm sau
- Không giải thích được nguyên nhân gây sốt khác
- Đang ở hoặc có qua lại vùng sốt rét trong vòng 9 tháng gần đây
- Điều trị bằng thuốc sốt rét có đáp ứng tốt trong vòng 3 ngày
1.2 DỊCH TỄ HỌC BỆNH SỐT RÉT
1.2.1 Các yếu tố của quá trình dịch
Trang 7Dịch tễ học bệnh sốt rét là một phức hợp các yếu tố liên quan mắt xíchvới nhau:
Nguồn bệnh: Là người mang ký sinh trùng sốt rét, có thể là bệnh nhânhoặc người mang ký sinh trùng không có triệu chứng (ký sinh trùng lạnh)
Trung gian truyền bệnh (vector): Muỗi Anopheles đốt người có ký sinhtrùng thể giao bào, muỗi phải sống đủ lâu để giao bào phát triển thành thoatrùng và phải đốt được một hoặc nhiều người
Cơ thể cảm thụ: Người lành, chưa có miễn dịch SR hoặc đã có miễn dịchnhưng đã giảm thấp
Nhiệt độ: Thời gian Một chu kỳ phát triển của Plasmodium trong cơ thể
tuần kể cả khi có nhiễm ký sinh trùng sốt rét Muỗi càng sống lâu càng thuậnlợi cho chu kỳ phát triển ký sinh trùng trong cơ thể muỗi Điều này có liênquan đến sự phát triển của muỗi theo mùa, hay mùa truyền bệnh Những nước
ôn đới, muỗi không phát triển vào những tháng lạnh, những nước nhiệt đới,cận nhiệt đới, muỗi phát triển quanh năm với đỉnh cao vào đầu và cuối mùamưa Rất hiếm tìm thấy muỗi Anophenles ở độ cao từ 2.000 - 2.500m
Thời gian mỗi chu kỳ tiêu sinh tuỳ thuộc vào nhiệt độ, nhiệt độ thuận
Độ Èm: Ảnh hưởng đến tuổi thọ của Anophenles Anophenles sống lâu
khi có độ Èm tương đối cao (ít nhất > 60%) [41],[42]
Lượng mưa và mùa mưa: Ảnh hưởng đến sự phát triển của quần thể
muỗi Khí hậu nhiệt đới thuận lợi cho cả P.falciparum, P.malariae và P.ovale
Trang 8Vùng cận nhiệt đới thuận lợi cho P.falciparum và P.vivax Vùng ôn đới,P.vivax nhiều hơn P.falciparum, và P.malariae hầu như không có.
Sinh cảnh: Ảnh hưởng chủ yếu đến vector truyền bệnh sốt rét, tạo nên
những hình thái sốt rét khác nhau: Sốt rét rừng núi, sốt rét ven biển, sốt rét caonguyên, sốt rét đô thị [41],[45]
Sinh học: Động vật rừng, động vật nuôi, thuỷ sản, tuỳ nơi, tuỳ lúc động
vật có tác dụng là mồi thu hút muỗi đốt, do vậy làm giảm tiếp xúc người muỗi Nhiều loài thuỷ sản ăn bọ gậy và có thể làm phương tiện sinh học đểchống muỗi
-Các hoạt động của con người có tác động lớn đến tất cả các khâu lantruyền bệnh Các hoạt động đó có thể làm tăng nguy cơ sốt rét Giao lưu dân
cư các vùng như di dân tự do, xây dựng, đường giao thông, nhà máy thủyđiện, thói quen ngủ đêm tại nương rẫy không nằm màn đều có khả năng làmlan truyền bệnh sốt rét [41],[42]
Tuy nhiên có những hoạt động làm giảm sốt rét như khai thông mươngmáng, lấp hồ ao, phát quang bụi rậm, tăng đàn gia sóc, đô thị hóa, nâng caomức sống của dân vv Ngoài ra, nhận thức và thu nhập kinh tế của người dân
có tác động lớn đến công tác phòng chống sốt rét [36]
1.2.2 Giám sát dịch tễ bệnh sốt rét [19], [24],[29],[32].
Giám sát dịch tễ bệnh sốt rét cần theo dõi liên tục tất cả các yếu tố, biến
cố và sự tiến triển của bệnh có liên quan đến hiệu quả các biện pháp phòngchống, từ đó xem có đạt được mục tiêu của chương trình không Cụ thể giámsát dịch tễ bệnh SR là:
- Một hệ thống công việc cố định, thường xuyên nhằm cung cấp cácthông tin về bệnh sốt rét và các hoạt động phòng chống
Trang 9- Cơ sở để giải quyết vấn đề, lập kế hoạch và tổ chức các biện pháp kỹthuật cho chương trình PCSR.
- Dự báo và phát hiện sớm nguy cơ dịch và dịch sốt rét để có biện phápcan thiệp sớm và hiệu quả
Mục đích của giám sát dịch tễ bệnh sốt rét bao gồm:
- Xác định số ca mắc và hiện mắc là bao nhiêu ?
- Xác định mức độ nghiêm trọng của ca bệnh và tử vong?
- Xác định tác động của các ca mắc, chết do SR? (ảnh hưởng đến laođộng, sản xuất xã hội, chi phí dịch vụ y tế v v )
- Xác định các yếu tố trực tiếp, gián tiếp, ảnh hưởng đến việc làm tăng
số ca bệnh và lý giải nguyên nhân
- Đề xuất biện pháp can thiệp nào để thay đổi trạng thái?
1.3 PHÂN VÙNG DỊCH TỄ SỐT RÉT VÀ BIỆN PHÁP CAN THIỆP
Hiện nay có nhiều cách phân vùng dịch sốt rét đã được áp dụng trongphòng chống SR:
- Một sự tăng vọt chỉ số mắc mới trong một quần thể dân cư, mà trước
đó bệnh chưa được phát hiện ở quần thể này (L.J Bruce Chawatt, 1986)
- Số ca mắc mới vượt quá bình thường tại một thời điểm, một địa dưnhất định (L.Molineaux, 1988)
- Sự tăng nhanh đột ngột ca bệnh bất thường và có lan truyền bệnh tạichỗ (C Delacollette,1996)
Xác định được các vùng dịch tễ sốt rét theo mức độ lưu hành khác nhau
và dân số nguy cơ của từng vùng Xây dựng chiến lược, biện pháp can thiệpphù hợp làm cơ sở lập kế hoạch phòng chống sốt rét (phòng chống vector,điều trị và quản lý bệnh nhân sốt rét theo từng vùng) là một công việc hết sứcquan trọng [27],[32],[34], [35],[38]
Trang 10- Không có muỗi An.minimus, An.dirus, An.sundaicus
- Không có KSTSR nội địa (không có lan truyền bệnhSR) )
+ Biện pháp can thiệp:
- Phát hiện, chẩn đoán, điều trị, quản lý bệnh nhân SR, đặc biệt ngườimang KSTSR từ nơi khác về
- Quản lý dân di biến động đi và về từ vùng sốt rét lưu hành, cấp thuốcsốt rét và tẩm màn cho người đi vào vùng sốt rét
- Truyền thông giáo dục sức khoẻ cho cộng đồng
Vùng nguy cơ sốt rét quay trở lại
+ Đặc điểm :
Là các vùng SR lưu hành cũ, không còn ký sinh trùng nội địa trongvòng 5 năm trở lại đây
+ Biện pháp can thiệp:
- Giám sát dịch tễ SR thường xuyên
- Có biện pháp phòng chống vector thích hợp khi có KSTSR nội địa
- Phát hiện, chẩn đoán, điều trị, quản lý bệnh nhân SR
- Quản lý dân di biến động đi và về từ vùng sốt rét lưu hành, cấp thuốc
SR và tẩm màn cho người đi vào vùng SR
- Truyền thông giáo dục sức khoẻ cho cộng đồng
Vùng sốt rét lưu hành nhẹ
Trang 11- Bắt đầu có muỗi An.minimus, hoặc An.dirus, An.sundaicus
- Có ký sinh trùng sốt rét nội địa
- Chỉ số bệnh nhân sốt rét 1-5 người/1000 dân/năm
+ Biện pháp can thiệp:
- Phát hiện chẩn đoán điều trị, quản lý bệnh nhân SR, người mangKSTSR
- Vận động nhân dân nằm màn chỉ tẩm màn ở các nơi giáp với các vùng
SR lưu hành vừa và nặng
- Giám sát dịch tễ SR thường xuyên
- Củng cố màng lưới y tế cơ sở, quản lý y, dược tư nhân
- Quản lý di biến động dân di cư đi và về từ các vùng không có hoặc có
Trang 12- Có ký sinh trùng sốt rét nội địa
- Chỉ số bệnh nhân sốt rét 5-10 người/1000 dân /năm
- Tỉ lệ P.falciparum < 70%
+ Biện pháp can thiệp:
- Phát hiện chẩn đoán điều trị, quản lý bệnh nhân SR, người mangKSTSR
- Vận động nhân dân nằm màn, tẩm màn hoá chất diệt muỗi ở nhà vàkhi đi rừng Phun tồn lưu nơi dân không nằm màn hay tỉ lệ nằm màn < 80%
- Truyền thông giáo dục sức khoẻ cho cộng đồng
- Giám sát dịch tễ SR thường xuyên
- Củng cố màng lưới y tế cơ sở, điểm kính hiển vi, quản lý y, dược tư nhân
- Phối hợp đa ngành quân dân y
Vùng sốt rét lưu hành nặng
+ Đặc điểm:
- Địa lý núi rừng nước chảy, rừng bằng nam bé
- Sinh cảnh: Rừng rậm, bìa rừng, rừng tái sinh, rừng cây công nghiệp(cao su, cà phê ) Nhiều khe suối vũng nước đọng
- Muỗi An.minimus có điều kiện sinh sản phát triển tốt.Trú cả trong và ngoài nhà Từ Thanh Hoá trở vào có An.dirus có điều kiện phát triển mạnh.
- Có KSTSR nội địa
- Chỉ số bệnh nhân sốt rét >10 người/1000 dân /năm
- Tỉ lệ P.falciparum > 70%
+ Biện pháp can thiệp:
- Phát hiện chẩn đoán điều trị, quản lý bệnh nhân SR, người mangKSTSR (ưu tiên thuốc hiệu lực cao)
- Vận động nhân dân nằm màn tẩm hoá chất ở nhà và cả khi ngủ trong rừng
Trang 13- Ưu tiên phun vùng có điểm nóng (nguy cơ xẩy ra dịch) Giám sát dịch
tễ SR thường xuyên, truyền thông giáo dục sức khoẻ cho cộng đồng Củng cố
y tế cơ sở, và các điểm kính hiển vi, quản lý y dược tư nhân Sớm phát hiện và
có biện pháp bảo vệ dân vùng không có SR lưu hành đến Cấp thuốc SR chonhững đối tượng đi rừng ngủ rẫy Phối hợp đa ngành quân dân y
1.4 TÌNH HÌNH BỆNH SỐT RÉT TRÊN THẾ GIỚI
Theo báo cáo sốt rét toàn cầu của tổ chức y tế Thế giới(WHO) (World
malaria repots WHO/RBM/2005) "Sốt rét là bệnh phổ biến nghiêm trọng trên
Thế giới, hàng năm có khoảng hơn 3.200 triệu người (40% dân số) có nguy cơnhiễm sốt rét Ước tính hàng năm có 350 - 500 triệu người mắc và hơn 1 triệungười chết do sốt rét, trong đó đa số là trẻ em dưới 5 tuổi chủ yếu ở châu Phi
và Nam Sahara Việt Nam là một trong những nước có mức độ KSTSRkháng thuốc cao Tình trạng KSTSR đa kháng thuốc đã được báo cáo từnhững năm đầu của thập kỷ 80 Artemisinin và dẫn chất của Artemisinin (nhartesunat ) được sử dụng rộng rãi để điều trị SR ở tuyến đầu (first- linetreatment) sau đó là các thuốc SR phối hợp (ACT), nhờ vậy đã làm giảm tỉ lệchết do SR [77]
1.4.1.Chương trình tiêu diệt SR trên Thế giới 1955 – 1968 [1],[15],[44].
Nhờ những tiến bộ khoa học kỹ thuật, những năm 1950 con người đãhiểu biết cơ bản về bệnh sốt rét Năm 1955, cuộc họp lần thứ XIV của Tổchức Y tế Thế giới (WHO) đã đề ra chương trình PCSR trên toàn Thế giới cóthời hạn 10 – 12 năm với 4 giai đoạn:
+ Giai đoạn chuẩn bị (2 năm): Chuẩn bị cán bộ ,vật tư làm thí điểm (điều
tra cơ bản, phân vùng dịch tễ sốt rét, nghiên cứu muỗi truyền bệnh )
+ Giai đoạn tấn công (4 năm): Tiến hành các biện pháp diệt muỗi truyền
bệnh bằng cách phun hóa chất (DDT) triệt để trong cả nước, kết hợp với điều
Trang 14trị toàn dân trong vùng sốt rét lưu hành nhằm đạt tỉ lệ KSTSR hàng năm chỉcòn 1/1 vạn dân, tỉ lệ KSTSR ở trẻ em < 2 tuổi bằng 0.
+ Giai đoạn củng cố (3 năm): Ngõng phun hóa chất (DDT) và điều trị
rộng rãi, thực hiện giám sát dịch tễ, quản lý thanh toán các ổ bệnh còn lại.Trong 3 năm liền nếu không phát hiện được BNSR nào mắc tại địa phương thìkết thúc giai đoạn củng cố
+ Giai đoạn bảo vệ (nhiều năm): Là giai đoạn cuối cùng của Chương trình
tiêu diệt sốt rét Trong giai đoạn này chỉ cần phun hóa chất diệt muỗi truyềnbệnh ở vùng biên giới với các nước chưa tiêu diệt sốt rét Triệt để quản lýnguồn bệnh sốt rét từ ngoài xâm nhập vào
Trong 10 năm đầu (1956-1965) Chương trình này tiến hành thuận lợi,
vì vậy bệnh sốt rét đã được tiêu diệt ở các nước Châu Âu, một phần Châu Ácủa Liên Xô (cò), một số nước Cận Đông, Bắc Mỹ, Châu Úc, một số nước củaChâu Á (Nhật Bản, Triều Tiên, Singapore)
Từ 1966 trở đi chương trình tiến chậm, có nơi sốt rét quay trở lại(Srilanka, Nam Mỹ, Đông Nam Á) Vì vậy tại cuộc họp lần thứ 17 của Hộiđồng chuyên viên sốt rét – WHO đã tìm ra 12 khó khăn trong việc tiến hànhchương trình tiêu diệt sốt rét, trong đó có 3 khó khăn về kỹ thuật
- Muỗi sốt rét kháng hóa chất diệt (53 loại kháng DDT)
- Muỗi sốt rét trú ẩn ngoài nhà (tránh DDT)
- KSTSR kháng thuốc (P.falciparum kháng nhóm 4-aminoquinolein) và 9
khó khăn về tổ chức kinh tế xã hội
1.4.2 Chương trình phòng chống sốt rét trên Thế giới [15].
Tại kỳ họp 22, WHO đã xét lại tình hình và đưa ra chiến lược mới Mộtchương trình phòng chống sốt rét không có hạn định về thời gian và mục tiêu
Trang 15lâu dài là tiến tới tiêu diệt sốt rét, trên phạm vi toàn Thế giới Tùy theo từngbước đề ra chương trình phòng chống hay thanh toán sốt rét cho phù hợp.
- Từ 1969- 1979, mỗi nước có chiến lược khác nhau, nhưng thực tế kháchquan đã chứng minh là những nước ở vùng nhiệt đới (Đông Nam Á, Châu Phi,Nam Mỹ) việc tiêu diệt bệnh sốt rét trong thời gian có hạn định là không thểthực hiện được
- Từ 1979, WHO đã chuyển sang chiến lược mới xác định 4 loại hình mục tiêu
- Loại hình mục tiêu 1: Giảm và đề phòng tử vong do sốt rét
- Loại hình mục tiêu 2: Giảm và đề phòng tử vong do sốt rét Giảm mắc ởnhững tập thể bị đe dọa (trẻ em, phụ nữ có thai, khách du lịch )
- Loại hình mục tiêu 3: Giảm và đề phòng tử vong do SR Giảm mắc ởnhững tập thể bị đe dọa (trẻ em, phô nữ có thai, khách du lịch ), thêm giảmmắc SR ở từng thời điểm
- Loại hình mục tiêu 4: Có chương trình phòng chống SR trong cả nướcvới mục tiêu cuối cùng là thanh toán từng bước bệnh sốt rét
Từ năm 1979 trở đi, tình hình SR trên Thế giới thay đổi rất ít, 12 khó khăntrên vẫn còn là trở ngại lớn đối với chương trình phòng chống sốt rét
Từ 1985,WHO đưa ra chương trình phòng chống SR vào nội dung chămsóc sức khỏe ban đầu
Trước tình hình SR trên Thế giới có xu hướng tăng lên, tại Hội nghị Bétrưởng y tế các nước có SR họp tại Amsterdam tháng 10/1992 đã khẳng định
lại chiến lược phòng chống SR trên toàn cầu trước kia với mục tiêu Giảm chết, giảm mắc và giảm thiệt hại do sốt rét.
1.4.3 Chiến dịch “đÈy lùi bệnh sốt rét” từ 1998 đến nay.
Mặc dù WHO phát động chiến lược PCSR từ 1979 nhưng kết quảchậm Năm 1998, Tổng giám đốc của WHO, TS.GH Brundtland phát động
Trang 16chiến dịch “Đẩy lùi sốt rét”, đây không phải là một chiến lược kỹ thuật mới,
mà là giảm gánh nặng do sốt rét
+ Các nguyên tắc chính đẩy lùi SR là
- Nhất trí với các chiến lược kỹ thuật đã được chứng minh
- Nỗ lực làm giảm gánh nặng do SR đi đôi với cải cách hệ thống y tế, tăngphân bổ kinh phí khu vực y tế Nhà nước, hợp tác giữa Nhà nước và y tế tư nhân
+ Mục tiêu đẩy lùi sốt rét là: Giảm được ít nhất 50% gánh nặng của sốt rét(bệnh nhân sốt rét, tử vong do sốt rét, dịch sốt rét) trên Thế giới vào năm 2010
- WHO đóng vai trò điều phối và giúp đỡ kỹ thuật
- Nâng cao sù cam kết của các Chính phủ trong phòng chống sốt rét
- Các chiến lược chuyên môn PSSR cơ bản không thay đổi
Các ưu tiên bao gồm:
- Có màn và hóa chất tẩm, phòng chống vector cho đối tượng nguy cơ
- Phát hiện bệnh SR sớm, điều trị kịp thời, an toàn và hiệu quả
- Điều trị dự phòng cho phụ nữ có thai ở vùng SR lưu hành nặng
- Dự báo và phòng chống tốt với dịch sốt rét
- Tăng cường giám sát sốt rét biên giới
1.5 TÌNH HÌNH SỐT RÉT Ở VIỆT NAM
1.5.1 Các giai đoạn chính [25],[45].
+ Giai đoạn 1958 - 1975: Do đất nước bị chia cắt, chương trình tiêu diệt
sốt rét được tiến hành riêng biệt ở 2 miền Nam – Bắc
- Miền Bắc 1958-1960 giai đoạn chuẩn bị, 1964 giai đoạn tấn công,1965-1975giai đoạn cuối tấn công KÕt quả đạt được 5 KSTSR/vạn dân vào năm 1975
- Miền nam:1958-1959 giai đoạn chuẩn bị, 1960-1964 giai đoạn tấn công,1965-1975 bỏ dở tấn công vì chiến tranh ác liệt KÕt quả sốt rét tăng cao dịch
nổ ra ở nhiều nơi vào năm 1975
Trang 17+ Giai đoạn 1976 - 1990: Chương trình tiêu diệt SR chuyển sang thanh
toán SR trong phạm vi cả nước theo loại hình mục tiêu 4 của WHO Tronghơn 30 năm (1958 - 1990) tiến hành chống sốt rét, Việt Nam đã đạt nhiềuthành tích, song do thiếu điều kiện để duy trì thành quả, sốt rét quay trở lạitrong phạm vi cả nước mà đỉnh cao là năm 1991 với hơn 1 triệu người mắc,
4646 người chết, gây chấn động dư luận xã hội từ năm 1992, Chính phủ đãquan tâm thật sự đến Chương trình phòng chống sốt rét
+ Giai đoạn 1991 - 2000: Mục tiêu tổng quát của Chương trình quốc gia
PCSR giai đoạn 1991-1995 là khống chÕ tốc độ tăng SR (chết, mắc, dịchsốt rét)
Mục tiêu giai đoạn 1996 - 2000 là giảm tỉ lệ chết 60%, giảm tỉ lệ mắc50% so với năm 1995, không để dịch lớn xẩy ra, từng bước phát triển các yếu
tố bền vững và không để sốt rét quay trở lại
+ Giai đoạn 2001– 2005:
Mục tiêu chung: tiếp tục đẩy lùi bệnh SR, tập trung vào vùng SR lưuhành nặng vào các nhóm dân nguy cơ cao, dân di biến động vào các vùng SRlưu hành Phát triển các yếu tố bền vững và không để SR quay trở lại
Mục tiêu cụ thể năm 2001-2005: Giảm chết SR 5% so với năm 2000.Giảm mắc SR 5% so với năm 2000 Không để dịch sốt rét lớn xẩy ra
+ Kế hoạch phòng chống sốt rét Quốc gia giai đoạn 2006-2015.
- Tiếp tục đẩy lùi SR và phát triển các yếu tố bền vững trong PCSR
- Phấn đấu đến năm 2015 bệnh SR không còn là một vấn đề sức khoẻ quantrọng trong cộng đồng, góp phần phát triển kinh tế xã hội ở Việt nam
Mục tiêu cụ thể:
- Giảm tỉ lệ mắc SR xuống dưới 1,0/1.000 dân năm 2010 và 0,05/1.000 dânvào năm 2015
Trang 18- Giảm tỉ lệ chết SR xuống dưới 0,02/100.000 dân năm 2010 và duy trì tỉ lệchết dưới 0,02/100.000 dân đến năm 2015.
- Không có dịch sốt rét lớn xẩy ra
Năm 2001, có 257.793 ca sốt rét lâm sàng (5,82/1.000 dân), 91 ca chết(0,12/100.000 dân) Năm 2002, số ca sốt rét giảm: 185.529 ca SR lâm sàng(4,19/1.000 dân) và 60 ca chết (0,06/100.000 dân) Tuy nhiên vẫn có nguy cơxảy dịch trong những năm qua
Những chỉ số này đối với toàn quốc là thấp, tuy nhiên SR ở Việt Namtập trung chủ yếu ở miền núi và dân tộc ít người, những cộng đồng sống ởvùng sâu vùng xa, gần rừng, và ở những nơi có dân di cư
Theo báo cáo của Chương trình phòng chống sốtt rét Quốc gia, sốt rét lưuhành nặng ở 23 trong số 64 tỉnh thành ở Việt Nam Năm 2000, các tỉnh trọngđiểm này chiếm 70% tổng số ca SRLS (180.767) và chiÕm 91 tổng số ca chết
do SR (86/91) Tỉ lệ mắc SR là 2,81/1.000 dân so với 0,14/1.000 dân ở 41 tỉnhcòn lại Tương tù như vậy năm 2002, tỉ lệ lưu hành sốt rét vẫn còn rất cao ở
Trang 19một số nhóm dân ở các tỉnh trọng điểm Điều tra cắt ngang do Viện Sốt rét
-Ký sinh trùng và Côn trùng Trung ương tiến hành năm 2001 cho thấy: Tỉ lệ
nhiễm P.falciparum là 10% ở một số vùng của Quảng trị, 32% ở một số vùng
của Gia Lai và 67% ở một số vùng của tỉnh Điện Biên, người dân ít tiếp cậnđược các dịch vụ y tế do khó khăn về giao thông, dân trí thấp và có tỉ lệ sửdụng màn thấp
Ký sinh trùng SR P.falciparum kháng thuốc hiện đang lan rộng ở Việt
Nam, đặc biệt ở các tỉnh miền Trung và miền Nam Tỉ lệ kháng Cloroquine invivo từ 30 - 85%, trong khi kháng sulphadoxine - pyrimethamine từ 30 - 80%bệnh nhân theo từng vùng Kháng Mefloquine và Artesunnate không nghiêmtrọng lắm, nhưng cũng phát hiện được khoảng 1-18%.[78]
Những khó khăn và tồn tại đối với chương trình PCSR [25], [45].
- Dân sống trong vùng sốt rét rất lớn (35 triệu người) chiếm gần 50% dân
số toàn quốc, trong khi đó đé bao phủ còn hạn chế (mới chỉ phòng chốngmuỗi đốt cho 12 triệu người), và chất lượng các biện pháp phòng chống sốt rétchưa đảm bảo như mong muốn
- Hoạt động của màng lưới y tế cơ sở còn yếu, đặc biệt là y tế thôn bản, dochất lượng thấp, ở nhiều tỉnh trọng điểm SR, y tế thôn bản còn quá mỏng, phổbiến ở khu vực miền núi và Tây Nguyên
- Mạng lưới y tế chuyên khoa SR ở các cấp tuy đã có nhiều cố gắng, nhưngcòn một số hạn chế về kiến thức chuyên khoa sâu và kỹ thuật phòng chống SR
- Công tác giáo dục truyền thông phòng chống sốt rét tuy có nhiều tiến bộnhưng chưa đi vào chiều sâu và thực hiện thường xuyên cho đồng bào dân tộc,vùng sâu vùng xa
- Di biến động dân lớn, dân có thói quen ngủ lại trong rừng, nương rẫy
- Kinh tế, tập quán, nhận thức, hành vi PCSR của nhân dân còn thấp
Trang 20- Nguồn lực PCSR không ổn định, các dự án hợp tác quốc tế đã kết thúc từnăm 2002.
- Những nhu cầu thiết yếu như phương tiện đi lại (ô tô, xe máy, xe đạp ), trangthiết bị y tế cho giám sát dịch tễ, giám sát côn trùng, phòng chống dịch còn thiếunhiều Chế độ chính sách cho cán bộ làm công tác phòng chống SR chưa tươngxứng với thực tế Chính quyền, y tế địa phương một số nơi còn chủ quan
Việt Nam là nước đang phát triển có tổng số hơn 80 triệu người (Theo niên giám thống kê - Tổng cục thống kê năm 2002) Tốc độ tăng trưởng kinh
tế trung bình hàng năm từ 8-9% trong những năm 1990 và trên 7% nhữngnăm gần đây Do đó thu nhập của người dân tăng dần tỉ lệ người nghèo đóigiảm từ 58% năm 1993 xuống còn 37% năm 1998 và còn 14,5% năm 2001.Tính riêng 23 tỉnh có 612 xã đặc biệt khó khăn chiếm 37% tổng số xã đặc biệtkhó khăn trên toàn quốc
Hiện nay Việt Nam là nước xếp thứ 101 trên 162 nước trên thế giới về
chỉ số phát triển con người (Human Development Index (HDI) UNDP/2001).
Tổng thu nhập quốc dân trên đầu người năm 2001 dưới 400 đô la Mỹ Chiếnlược xoá đói giảm nghèo mới của Việt Nam (5/2002) ưu tiên tăng cường tiếpcận các dịch vụ y tế, nâng cao chất lượng phục vụ và giảm chi phí cho các hộgia đình nghèo và những vùng nghèo nhất, ổn định và nâng cao mức sống chođồng bào dân tộc thiểu số cũng như là một trong những ưu tiên đã được xácđịnh rõ ràng Ngoài ra, trong quá trình thực hiện để đạt được các mục đíchphát triển Thiên niên kỷ, Chính phủ Việt Nam nhận thấy sự cần thiết phảiphòng chống các bệnh lây nhiễm, trong đó có bệnh sốt rét, ưu tiên cho vùngsâu vùng xa, vùng biên giới và dân tộc ít người
Từ năm 1990, Chương trình PCSR đổi thành chương trình Quốc giaPCSR Năm 1996, Chính phủ Việt Nam đã quyết định thành lập Chương trình
Trang 21mục tiêu Quốc gia ưu tiên để tăng cường các chính sách hỗ trợ và đầu tư là:Chương trình mục tiêu phòng chống một số bệnh xã hội và bệnh dịch nguyhiểm – Trong đó có Dự án Quốc gia PCSR Giai đoạn 2001 – 2005, Chươngtrình mục tiêu quốc gia ưu tiên mang tên “Chương trình mục tiêu quốc giaphòng chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm, HIV/AIDS”, Dự án
Quốc gia PCSR là một trong 10 dự án thành phần (Quyết định của thủ tướng Chính phủ số 190/QĐ-TTg ngày 13/12/2001 về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm, HIV/AIDS giai đoạn 2001-2005) Năm 2001, Bé trưởng Bé Y tÕ đã có quyết
định số 4238/QĐ/BYT ngày 15/10/2001 thành lập Ban điều hành Dự án Quốcgia phòng chống bệnh sốt rét và quy định chức năng, nhiệm vụ, quy chế làmviệc của Ban giai đoạn 2001-2005
Mục tiêu và các chỉ tiêu chính của kế hoạch PCSR giai đoạn 2001-2005
đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (Quyết định số 35/2001/QĐTg ngày 19/3/2001) Bé trưởng Bé Y tÕ đã ký duyệt thể hiện trong công văn số
826/YT- KH ngày 26/10/2000 về chiến lược chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhândân giai đoạn 2001- 2005 và định hướng chiến lược y tế dự phòng giai đoạn
2001- 2010 của Bộ Y tÕ Việt Nam: Đến năm 2005 giảm tỉ lệ chết do sốt rét xuống còn 0,15/100.000 dân, giảm tỉ lệ mắc SR dưới 3,5/1.000 dân
Chính phủ Việt Nam có chủ trương tù cung cấp đủ cho công tác PCSRvào cuối thập kỷ Đặc biệt chú trọng việc năng cao năng lực cho Chương trìnhQuốc gia PCSR ở tất cả các tuyến
Tổng ngân sách Nhà nước chi cho ngành Y tế năm 2001 là 249,2 triệuUSD chiếm 3,25% tổng chi của ngân sách Nhà nước Trong đó kinh phí chicho Chương trình Quốc gia phòng chống sốt rét 5 năm gần đây đã giảm từ
100 tỉ đồng năm 2000 xuống còn 70 tỉ đồng năm 2004
Trang 221.6 TÌNH HÌNH SỐT RÉT TẠI TỈNH ĐIỆN BIÊN.
Điện Biên là một tỉnh miền núi biên giới thuộc vùng Tây Bắc của Tổ
Phía Tây Bắc giáp với tỉnh Vân Nam của nước Cộng Hoà Nhân Dân TrungHoa Đường biên giới Việt – Trung dài 38,5km Phía Tây giáp với nước CộngHoà Dân Chñ Nhân Dân Lào Đường biên giới Việt – Lào dài 360km PhíaĐông và Đông Nam giáp với tỉnh Sơn La Dân số toàn tỉnh năm 2008 trên
472 000 người, có 21 dân téc anh em cùng chung sống Tỉnh Điện Biên có 9đơn vị hành chính gồm 7 huyện, 1 thị xã và 1 thành phố, với 112 xã, phường,thị trấn Trong đó có 68 xã đặc biệt khó khăn (chiếm 60,71% tổng số xã,phường, thị trấn) Tỉ lệ hộ đói nghèo năm 2007 là 33,91 % và tỉ lệ phát triểndân số số tù nhiên trung bình 2,01%/năm Tình hình kinh tế xã hội kém pháttriển, thu nhập bình quân tính theo đầu người năm 2007 là 263USD/người/năm Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2007 đạt 10,86% Trong giaiđoạn từ năm 2005 - 2012, trên địa bàn tỉnh triển khai dự án tái định cư lòng hồthủy điện Sơn La Nên có sự biến động tương đối lớn về dân cư Công tác giáodục và y tế luôn được quan tâm và đầu tư Tuy nhiên là một tỉnh miền núi,biên giới có nền kinh tế kém phát triển nên đời sống của nhân dân còn gặpnhiều khó khăn, trình độ dân trí còn thấp, phong tục tập quán còn lạc hậu,giao thông đi lại khó khăn Tỉnh Điện Biên có 2 cửa khẩu Quốc tế 1 vớinước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào và 1 cửa khẩu với nước Cộng hoàNhân dân Trung Hoa
Tình hình dịch tễ SR tại Điện Biên trong nhiều năm qua rất phức tạp vì
là một tỉnh vùng cao biên giới, sù giao lưu của nhân dân vùng biên giới chưaquản lý hết được, trong đó tình hình sốt rét của nhân dân biên giới nước Cộnghòa Dân chủ Nhân dân Lào còn rất nặng nề và phức tạp Vì vậy công tác giám
Trang 23sát, phát hiện sớm điều trị sớm còn gặp nhiều khó khăn, dịch sốt rét vẫn có thểxẩy ra bất cứ lúc nào Tình hình sốt rét năm 2004 tại tỉnh Điện Biên cho thấy:Mắc sốt rét /1000 dân (9,43%o), tỉ lệ ký sinh trùng/lam (0,17%) không có tửvong do sốt rét và dịch sốt rét không xẩy ra[9]
1.7 SỰ CẦN THIẾT TIẾP TỤC ĐẦU TƯ CHO CHƯƠNG TRÌNH PCSR[38]
Tình hình SR của Việt Nam trong thập kỷ qua (1992-2002) đã thu đượckết quả tốt đẹp, giảm số người mắc, người chết và số vụ dịch SR vì đã tăngcường đầu tư và thực hiện tốt các chiến lược phòng chống SR
Mặc dù được sù quan tâm chỉ đạo của Nhà nước, chính quyền các cấp
từ Trung ương đến địa phương cho việc phòng chống sốt rét, tuy nhiên, bệnh
SR ở Việt Nam vẫn còn là một nguy cơ lớn, khả năng SR quay trở lại vẫn còncao Dịch SR vẫn có nguy cơ xẩy ra ở nhiều nơi tại Việt Nam vì nhữngnguyên nhân sau:
+Trên 35 triệu dân đang sống trong vùng SR lưu hành, trong đó có 15triệu người sống trong vùng SR lưu hành nặng Chính những vùng SR lưuhành nặng này đang được đưa dân lên xây dựng vùng kinh tế mới, có nhữngcông trình phát triển các khu công nghiệp, cây công nghiệp như chè, cà phê,cao su, thuỷ điện, làm đường…
+ Chưa có cơ sở đảm bảo duy trì thành quả PCSR một cách bền vững vìviệc giám sát dịch tễ và quản lý bệnh tại chỗ ở tuyến cơ sở còn yếu, hiện tạivẫn dựa vào tuyến trên hỗ trợ Lực lượng tại chỗ (y tế xã, thôn bản) ở vùngsâu vùng xa chưa đủ năng lực quản lý, giám sát nguồn bệnh và điều trị kịpthời Kiến thức và hành vi PCSR của cộng đồng các dân tộc ít người còn thấpnên huy động nguồn lực phục vụ mục tiêu PCSR vẫn chủ yếu dựa vào Nhànước Về lâu dài, PCSR phải gắn liền với phát triển kinh tế xã hội, nâng cao
Trang 24đời sống nhân dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc ít người, vùng sâu vùng xa,nâng cao dân trí phòng chống sốt rét Chưa có đủ nguồn lực và các nhu cầucần thiết khác để thực hiện các biện pháp PCSR với độ bao phủ lớn (bảo vệ 35triệu dân sống trong vùng SR lưu hành).
+ Năng lực hoạt động của hệ thống chuyên khoa SR mặc dù đã đượctăng cường, nhưng vẫn chưa đủ sức đáp ứng nhu cầu mới về nâng cao chấtlượng hoạt động chương trình
+ Chưa đủ điều kiện để giải quyết các vấn đề chuyên sâu như vai tròcủa các loài muỗi truyền bệnh, KSTSR kháng thuốc, vấn đề sinh thái môitrường, chủng tộc… tác động đến bệnh SR và biện pháp phòng chống Sựphức tạp của vấn đề di biến động dân cư, sốt rét biên giới, vấn đề kinh tế xãhội
+ Tình trạng chung của hệ thống bệnh viện đang xuống cấp, thiếu cácphương tiện phục vụ chẩn đoán và xử lý hồi sức cấp cứu cho BNSR ác tính
1.8 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PCSR Ở VIỆT NAM HIỆN NAY [25]
- Định hướng của Chương trình Quốc gia Phòng chống Sốt rét (CTQGPCSR) hiện nay là tập trung ưu tiên cho dân nghèo hoặc nhóm dân di biếnđộng SR ở Việt Nam gắn liền chặt chẽ với nghèo đói Những nhóm dân tộc ítngười sống trong rừng và bìa rừng thường chịu gánh nặng nghèo đói và bệnhtật Bởi vậy, những nỗ lực phòng chống sốt rét tập trung cho các nhóm đốitượng này cần được cung cấp những nhu cầu cần thiết
Theo đánh giá của tổ chức Y tế thế giới: Chính phủ Việt Nam có chủtrương tù cung cấp nguồn lực cho công tác PCSR vào cuối thập kỷ Đặc biệtchú trọng việc nâng cao năng lực cho Chương trình PCSR ở tất cả các tuyến.Tiếp tục quan tâm và đầu tư cho công tác PCSR ở Việt Nam nhằm đảm bảotất cả những người nghèo sống trong vùng SR lưu hành đều có màn tránh
Trang 25muỗi và được tiếp cận tốt các dịch vụ y tế Nâng cao chất lượng chẩn đoán vàđiều trị bệnh và giảm chi phí cho các hộ nghèo, ổn định và nâng cao mức sốngcho đồng bào dân tộc ít người cũng là một trong những ưu tiên hàng đầu đãđược xác định.
Hệ thống chuyên khoa PCSR chịu trách nhiệm về công tác PCSR trênphạm vi toàn quốc Tuyến Trung ương có Ban chủ nhiệm Dự án Quốc giaPCSR, Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương chỉ đạo kỹ thuậttrên phạm vi toàn quốc và trực tiếp phụ trách các tỉnh phía Bắc Viện Sốt rét –
Ký sinh trùng – Côn trùng Quy Nhơn phụ trách các tỉnh miền Trung và ViệnSốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng thành phố Hồ Chí Minh phụ trách các tỉnhNam Bé – Lâm Đồng Tuyến tỉnh các Trung tâm PCSR tỉnh (hoặc Trung tâm
y tế dự phòng)
Tuyến huyện có Đội y tế dù phòng huyện phân công cán bộ chuyêntrách công tác PCSR, có các điểm kính hiển vi liên xã Tuyến xã có cán bộ y
tế xã theo dõi công tác PCSR và có điểm kính hiển vi xã Thôn bản có nhân
viên y tế thôn, bản Hầu hết các thôn, bản đều có y tế thôn, bản nhưng còn thiếu ở vùng sâu vùng xa, vùng biên giới [10].
Từ năm 2001, 2002 tổng ngân sách chi cho PCSR hàng năm khoảng12,9 triệu USD, trong đó 45% (5,83 triệu USD) từ ngân sách Nhà nước chimua thuốc SR, màn, bình phun, hoá chất, kính hiển vi, lam kính, tiêm chíchmáu và các hoá chất xét nghiệm chẩn đoán, số còn lại chi cho các hoạt độnggiáo dục truyền thông, đào tạo lại về PCSR, công phun tẩm, điều tra giám sát
và các hoạt động thực địa khác Hàng năm Dự án PCSR đã bảo vệ 12 triệungười ở vùng SR lưu hành bằng hoá chất diệt muỗi (9,5 triệu người được bảo
vệ bằng tẩm màn, 2,5 triệu người được bảo vệ bằng phun tồn lưu) Số lượng
Trang 26thuốc SR sử dụng trong điều trị bệnh nhân SR và cấp để uống thuốc dự phòng
khoảng 2,5 triệu liều thuốc SR các loại [24].
Kinh phí PCSR do Chính phủ Việt Nam cấp, người dân không phải trảtiền cho việc khám, chẩn đoán bệnh và thuốc SR cũng như cÊp màn và hoáchất phun tẩm [6]
Tuy nhiên, ngân sách Nhà nước dành cho PCSR còn hết sức hạn hẹp,trong đó một số phần không nhỏ dành cho mua vật tư, trang thiết bị, màn vàhoá chất Kinh phí dành cho hoạt động giám sát, đào tạo nâng cao chất lượngcán bộ làm công tác PCSR, nâng cao chất lượng quản lý và hướng dẫn nghiệp
vụ cho cán bộ chuyên trách còn hạn chế Về hệ thống quản lý đối với nguồnngân sách Nhà nước cho CTQG PCSR: Sau khi kế hoạch PCSR hàng nămđược nhà nước phê duyệt, Bộ Tài chính trực tiếp chuyển kinh phí cho Sở Tàichính tỉnh Sở Tài chính tỉnh căn cứ vào kế hoạch của tỉnh đã được duyệtchuyển kinh phí cho Trung tâm PCSR tỉnh và phòng tài chính các huyện trongtỉnh Phòng tài chính sẽ chi kinh phí cho Trung tâm y tế xã hoạt động theo kếhoạch đã được phê duyệt Tại Trung tâm PCSR tỉnh và Trung tâm y tế huyệnđều có một đơn vị tài chính kế toán để giúp giám đốc quản lý chi tiêu và quyếttoán kinh phí được phân bổ Việc quản lý và phân phối vật tư trang thiết bịPCSR: Sau khi kế hoạch mua sắm vật tư trang thiết bị PCSR hàng năm đượcphê duyệt, Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương tổ chức muasắm theo quy chế hiện hành của Việt Nam và phân phối về các Trung tâmPCSR tỉnh căn cứ vào kế hoạch phân phối cho các Trung tâm y tế huyện.Trung tâm y tế huyện phân phối cho các xã, và các hoạt động do Trung tâm y
tế huyện trực tiếp triển khai Một phần kinh phí khác được Bộ Tài Chính vàCTQG PCSR uỷ quyền cho địa phương tự mua như thuốc sốt rét thôngthường, chi cho hoạt động giáo dục truyền thông, đào tạo, giám sát, hỗ trợ
Trang 27phun tẩm, vận chuyển… Theo dõi giám sát việc quản lý và sử dụng vật tưtrang thiết bị PCSR được thực hiện bởi Trung tâm y tế huyện, Trung tâmPCSR tỉnh, Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương và các ViệnSốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng Trung khu vực Vai trò của y, dược tưnhân trong PCSR: Hiện nay hệ thống y, dược tư nhân ngày càng phát triểnrộng khắp trên phạm vi toàn quốc Riêng trong lĩnh vực SR, y, dược tư nhânphát triển mạnh và tham gia chẩn đoán điều trị bệnh nhân SR (Bệnh nhân phảitrả tiền) Qua điều tra nghiên cứu y, dược tư nhân tham gia PCSR năm 1998 ở
3 tỉnh Sông Bé, Gia Lai và Sơn La cho thấy y, dược tư nhân là cơ sở y tế gầndân nhất (95% - 97% có bán thuốc SR) nhưng còn chẩn đoán sai (5% - 17%),điều trị SR không đủ liều so với phác đồ quy định (9%) Do vậy Chương trìnhQuốc gia PCSR cần đạo tạo cho họ về chẩn đoán điều trị và các biện phápPCSR để họ có thể khám và điều trị SR có hiệu quả hơn, đồng thời tham giavận động nhân dân thực hiện các biện pháp PCSR ở cộng đồng [21]
Trang 28Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các bệnh án, sổ sách ghi chép, tài liệu lưu trữ
- Nhân viên y tế thôn bản
- Trưởng trạm y tế xã
- Lãnh đạo ngành y tế (bao gồm: Lãnh đạo Trung tâm phòng chống sốt réttỉnh, trưởng phòng y tế huyện, giám đốc, phó giám đốc, đội trưởng đội y tế dựphòng, thư ký chương trình PCSR huyện)
- Lãnh đạo chính quyền xã, huyện, tỉnh
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu.
Điện Biên thuộc vùng Tây Bắc của Tổ quốc, diện tích tự nhiên là
Vân Nam của nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa Đường biên giới Việt –Trung dài 38,5km Phía Tây giáp với nước Cộng Hoà Dân Chủ Nhân DânLào Đường biên giới Việt – Lào dài 360km Phía Đông và Đông Nam giápvới tỉnh Sơn La Dân số toàn tỉnh năm 2008 trên 472 000 người, có 21 dântộc anh em cùng chung sống Tỉnh Điện Biên có 9 đơn vị hành chính gồm 7huyện (Tuần Giáo, Tủa Chùa, Mường ảng, Điện Biên, Điện Biên Đông,Mường Chà, Mường Nhé), 1 thị xã (Thị xã Mường Lay) và 1 thành phố (TPĐiện Biên Phủ) với 112 xã, phường, thị trấn Trong đó có 68 xã đặc biệt khókhăn (chiếm 60,71% tổng số xã, phường, thị trấn) Tỉ lệ hộ đói nghèo năm
2007 là 33,91 % và tỉ lệ phát triển dân số số tự nhiên trung bình 2,01%/năm.Tình hình kinh tế xã hội kém phát triển, thu nhập bình quân tính theo đầu
Trang 29người năm 2007 là 263USD/người/năm Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2007đạt 10,86%
Với đặc thù của tỉnh Điện Biên, trong nghiên cứu này chúng tôi chọnchủ định 4 huyện đại diện cho các vùng đặc trưng của tỉnh Điện Biên (vùngthấp và vùng cao)
Khu vực 1: Hai huyện đại diện cho vùng thấp
- Huyện Điện Biên
- Huyện Tuần Giáo
Khu vực 2: Hai huyện đại diện cho vùng cao
- Huyện Tủa Chùa
- Huyện Mường Nhé
Huyện Điện Biên
Là một huyện có 19 xã và thị trấn tổng số nhân khẩu 108.497 người có
434 bản với lực lượng cán bộ y tế xã 111 người, y tế bản 377 người/434 bản làmột huyện có đời sống văn hóa xã hội và kinh tế đứng đầu trong toàn tỉnh cóđường biên giới với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
Huyện Tuần Giáo
Là 1 huyện có 14 xã và thị trấn Dân số 74.284 có 204 bản hiện có 82cán bộ y tế xã y tế bản có 193 người/204 bản Là một huyện vùng thấp xen kẽcác xã vùng cao đặc biệt khó khăn, đời sống của nhân dân đa số còn khó khăntình hình sốt rét còn tiềm ẩn nguy cơ xẩy ra dịch
Huyện Tủa Chùa
Là một huyện vùng cao khó khăn của tỉnh Huyện có 12 xã và thị trấn.Dân số của huyện 46.118 người Số cán bộ y tế xã là 60 người, số nhân viên y
tế thôn bản là 118 người/ 137 thôn bản Điều kiện văn hóa kinh tế của huyệncòn nhiều khó khăn
Trang 30Huyện Mường Nhé
Là 1 huyện vùng cao, biên giới đặc biệt khó khăn có đường biên giớivới 2 nước là Cộng hòa Nhân dân Trung hoa và Cộng hòa Dân chủ Nhân dânLào Huyện có 11 xã với tổng số nhân khẩu là 46.668 người, số bản là 137,
số cán bộ y tế xã là 60 người, y tế bản có 92 người
2.1.3 Thời gian nghiên cứu:
Từ tháng 1/2009 – tháng 4 năm 2009
2.2 Phương pháp nghiên cứu:
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu:
Sử dụng phương pháp nghiên cứu dịch tễ học với thiết kế mô tả cắt ngangngang, kết hợp nghiên cứu định lượng với nghiên cứu định tính và hồi cứu sốliệu sẵn có, bao gồm:
+ Thực hiên cuộc điều tra cắt ngang với đối tượng điều tra là NVYTTB vàlãnh đạo ngành y tế từ xã đến huyện và tỉnh, lãnh đạo chính quyền xã, huyện
và tỉnh để xác định :
- Kiến thức thực hành của NVYT bản, Trưởng trạm y tế xã về PCSR
- Công tác chỉ đạo PCSR của lãnh đạo các cấp
+ Hồi cứu lại sổ sách, tài liệu, báo cáo về tình hình SR từ tháng1/2005 –tháng 12/2008 tại tỉnh Điện Biên
- Một số đặc điểm dịch tễ SR tại tỉnh Điện Biên
- Thực trạng công tác PCSR tại tỉnh Điện Biên từ năm 2005 - 2008
2.2.2 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu trong nghiên cứu
Việc chọn 4 huyện vào nghiên cứu được áp dụng theo phương pháp chọnchủ định, với 2 huyện đại diện cho vùng thấp là Điện Biên và Tuần Giáo, 2huyện đại diện cho vùng cao là Mường Nhé và Tủa Chùa
Trang 31+ Với nhân viên y tế thôn bản :
- Cách chọn mẫu: tiến hành chọn toàn bộ nhân viên y tế thôn, bản hiện có
và đang hoạt động của 4 huyện được chọn Gồm có 780 người trong đó:(Huyện Điện Biên = 377, huyện Tuần Giáo = 193, huyện Tủa Chùa = 118,huyện Mường Nhé = 92)
+ Với Trưởng trạm y tế xã:
Tiến hành điều tra toàn bộ số Trưởng trạm y tế xã của 4 huyện Số trạm y
tế xã của 4 huyện như sau:
+ Với lãnh đạo y tế huyện:
Tại mỗi huyện, tiến hành phỏng vấn sâu 4 đối tượng (chọn có chủ định)đại diện cho lãnh đạo y tế huyện, bao gồm: Trưởng phòng y tÕ huyện, giámđốc trung tâm y tế, Đội trưởng đội y tế dự phòng, thư ký chương trìnhPCSR Tổng số lãnh đạo y tế huyện sẽ được điều tra là: 4 người x 4 huyện
= 16 người
+ Với lãnh đạo Trung tâm phòng chống sốt rét tỉnh: Tiến hành phỏng
vấn sâu Giám đốc và Phó giám đốc Trung tâm (3 người)
+ Với lãnh đạo chính quyền:
- Cấp xã: Tiến hành phỏng vấn sâu mỗi huyện 2 đồng chí Chủ tịch và 2đồng chí BÝ thư Đảng uỷ của 2 xã bằng cách lập danh sách và bốc thămngẫu nhiên
Trang 32- Cấp huyện: Tiến hành phỏng vấn sâu đồng chí Chủ tịch (hoặc Phó chủtịch phụ trách văn xã) và đồng chí BÝ thư (hoặc Phó bí thư) huyện uỷ.
- CÊp tỉnh: Tiến hành phỏng vấn đồng chí Phó chủ tịch phụ trách các vấn
đề văn hoá xã hội của tỉnh
+ Với tài liệu lưu trữ: Tiến hành điều tra hồi cứu toàn bộ các sổ sách, báo
cáo về bệnh sốt rét và chương trình phòng chống sốt rét hiện có tại Trung tâm
y tế huyện, Trung tâm phòng chống sốt rét tỉnh từ năm 2005-2008
2.2.3 Các kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu.
- Điều tra định lượng: Sử dụng phiếu điều tra đÓ phỏng vấn trực tiếp nhânviên y tế thôn, bản theo những nội dung đã được chuẩn bị sẵn Điều tra viên làcán bộ Trung tâm phòng chống sốt rét tỉnh đã được tập huấn
- Điều tra định tính: Số liệu được thu thập bằng phương pháp phỏng vấnsâu cán bé y tế (xã, huyện, tỉnh) Cán bộ chính quyền các cấp bằng phiếuphỏng vấn với các câu hỏi đã chuẩn bị sẵn Ghi chép đầy đủ vào phiếu phỏngvấn sau đó tổng hợp và phân tích kết quả
2.2.4 Phương pháp thu thập thông tin:
+ Với điều tra cán bộ y tế thôn bản: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp với
bộ câu hỏi được chuẩn bị trước Bộ câu hỏi này được xây dựng dựa vào mụctiêu nghiên cứu, có tham khảo các bộ câu hỏi điều tra kiến thức, thái độ, thựchành trong các cuộc điều tra trước đây Bộ câu hỏi này cũng sẽ được gửi xin ýkiến của các chuyên gia về phòng chống sốt rét và chỉnh lý hoàn chỉnh sau khi
đã tiến hành điều tra thử (Phụ lục1- Phiếu điều tra nhân viên y tế thôn bản)
+ Với Trưởng trạm y tế xã: Tiến hành phỏng vấn kiến thức về bệnh sốtrét cũng nh việc thực hiện Chương trình phòng chống sốt rét tại xã Các thôngtin được ghi nhận bằng phiếu điều tra được chuẩn bị trước (Phụ lục 2 -Phiếuphỏng vấn Trưởng trạm y tế xã)
Trang 33+ Với cán bộ lãnh đạo y tế huyện và Trung tâm phòng chống Sốt réttỉnh: Tiến hành phỏng vấn sâu về tình hình bệnh sốt rét và việc thực hiệnChương trình phòng chống sốt rét tại địa phương ( Phụ lục 3 - Phiếu phỏngvấn sâu về chương trình phòng chống sốt rét.)
+ Với lãnh đạo chính quyền (các cấp: xã, huyện và tỉnh): Tiến hànhphỏng vấn sâu về tình hình SR tại địa phương, chủ trương, đường lối củaĐảng chính quyền và sự chỉ đạo công tác phòng chống SR tại địa phương.(Phụ lục 4 Phiếu phỏng vấn cán bộ lãnh đạo xã và huyện, tỉnh)
+ Với các số liệu về bệnh nhân nhiễm ký sinh trùng sốt rét và mắc sốtrét: Hồi cứu số liệu từ các báo cáo hàng tháng về tình hình sốt rét của các xã,huyện và tỉnh theo mẫu in sẵn của Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùngTrung ương (Phụ lục 5 - Phiếu thu thập số liệu tại xã, huyện, tỉnh)
+ Với cán bộ lãnh đạo y tế huyện và Trung tâm phòng chống Sốt réttỉnh: Tiến hành phỏng vấn sâu về tình hình bệnh sốt rét và việc thực hiệnChương trình phòng chống sốt rét tại địa phương (Phụ lục 3 - Phiếu phỏngvấn sâu về chương trình phòng chống sốt rét.)
+ Với lãnh đạo chính quyền (các cấp xã, huyện và tỉnh): Tiến hànhphỏng vấn sâu về tình hình SR tại địa phương, chủ trương, đường lối củaĐảng, chính quyền và sự chỉ đạo công tác phòng chống SR tại địa phương.(Phụ lục 4 - Phiếu phỏng vấn cán bộ lãnh đạo xã và huyện, tỉnh)
+ Với các số liệu về bệnh nhân nhiễm ký sinh trùng sốt rét và mắc sốtrét: Hồi cứu số liệu từ các báo cáo hàng tháng về tình hình sốt rét của các xã,huyện và tỉnh theo mẫu in sẵn của Viện sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùngTrung ương (Phụ lục 5 - Phiếu thu thập số liệu tại xã, huyện, tỉnh)
Trang 34+ Muỗi Anophelinae tại tỉnh Điện Biên được thu thập qua báo cáo điềutra của Trung tâm phòng chống SR tỉnh (Phụ lục 6 - Kết quả điều tra muỗiAnophelinae).
- Với kết quả hoạt động phòng chống sốt rét: Thu thập thông tin từ sổsách báo cáo lưu trữ trong 4 năm (2005-2008) tại tỉnh, huyện, xã
2.2.5 Xác định các biến số và chỉ số trong nghiên cứu
Mô tả một số đặc điểm dịch tễ bệnh sốt rét tại tỉnh Điện Biên:
Xác định tỉ lệ nhiễm, tỉ lệ mắc, tỉ lệ chết theo 3 góc độ: Con người, khônggian và thời gian Đó là mô tả theo các đặc trưng về nhân khẩu học (tuổi, giới,nghề nghiệp, dân tộc, tôn giáo ), mô tả theo vùng, địa dư và mô tả theo tháng,mùa trong năm
Tình hình phát hiện và điều trị bệnh nhân sốt rét:
- Nhóm biến số về công tác phòng chống muỗi đốt bằng tẩm màn
và phun hóa chất
- Nhóm biến số về công tác đào tạo cán bộ làm công tác PCSR
- Nhóm biến số về công tác truyền thông phòng chống bệnh sốt rét
- Nhóm biến số về tình hình cung cấp thuốc vật tư và kinh phí
- Nhóm biến số về công tác giám sát dịch tễ bệnh sốt rét
Thông tin về đối tượng nghiên cứu là các nhân viên y tế thôn bản
- Tuổi, giới, dân tộc của đối tượng nghiên cứu
- Trình độ học vấn, nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu
- Kiến thức về phòng chống sốt rét của đối tượng nghiên cứu (Nguyênnhân, tác hại của bệnh sốt rét, sự lan truyền bệnh sốt rét, biết cách phát hiệnbệnh sốt rét, biết các biện pháp diệt muỗi, )
- Thực hành về phòng chống bệnh sốt rét của đối tượng nghiên cứu
Thực trạng công tác quản lý phòng chống sốt rét
Trang 35- Tình hình sốt rét tại địa phương: Bệnh nhân sốt rét, KSTSR, dịch sốtrét, tử vong do sốt rét.
- Tác động của bệnh sốt rét đến sức khỏe cộng đồng
- Hệ thống tổ chức cán bộ phòng chống SR
- Việc thực hiện công tác phòng chống sốt rét tại địa phương
- Sù quan tâm và chỉ đạo của chính quyền các cấp về công tác PCSR
- Hoạt động truyền thông vận động cộng đồng phòng chống sốt rét
- Khó khăn trong hoạt động phòng chống sốt rét tại địa phương
Các chỉ số:
- Tỉ lệ mắc sốt rét /1.000 dân
- Tỉ lệ chết sốt rét /100.000 dân
- Tỉ lệ bệnh nhân mắc sốt rét trung bình theo tháng trong năm
- Tỉ lệ mắc bệnh sốt rét ở đối tượng nguy cơ cao (phụ nữ có thai, trẻ em
<15 tuổi)
- Tỉ lệ từng loại ký sinh trùng sốt rét
- Một số yếu tố thuận lợi cho bệnh sốt rét phát triển
- Tình hình muỗi truyền bệnh sốt rét tại Điện biên
- Tình hình phát hiện và điều trị bệnh nhân sốt rét
- Kết quả công tác phòng chống muối đốt bằng tẩm màn và phun hóa chất
- Kết quả công tác đào tạo cán bộ làm công tác PCSR
- Kết quả công tác truyền thông phòng chống bệnh sốt rét
- Tình hình cung cấp thuốc vật tư và kinh phí
- Kết quả công tác giám sát dịch tễ bệnh sốt rét
2.2.6 Tổ chức thực hiện đề tài nghiên cứu:
+ Hoàn chỉnh bộ công cụ nghiên cứu (các phiếu phỏng vấn điều tra, cácbiểu mẫu thu thập thông tin)
Trang 36+ Chọn và tập huấn cho điều tra viên: Các điều tra viên được chọn dựavào các tiêu chuẩn sau: Trung thực, nhiệt tình có trách nhiệm, cã kinh nghiệmtrong công tác điều tra, hiểu được mục tiêu của việc điều tra.
+ Lập kế hoạch chi tiết, phân công cụ thể cho từng nhóm nghiên cứukhi thực hiện nghiên cứu tại 4 huyện
2.2.7 Phương pháp xử lý số liệu
- Với số liệu định lượng: Toàn bé số liệu được xử lý thô, đánh mã phiếunhập máy tính và phân tích thống kê bằng phần mềm Epi-info 6.04 Kết quảđược trình bày bằng các bảng tần số và biÓu đồ theo quy định Sử dụng các thuậttoán thống kê để so sánh các kết quả theo các nhóm khác nhau
- Các số liệu trong nghiên cứu định tính sử lý theo phương pháp tổnghợp ý kiến người được phỏng vấn và phân tích theo phương pháp xã hội học
- Các số liệu hồi cứu sẽ được tổng hợp phân tích đánh giá theo tiêuchuẩn của Viện sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương
- Việc phân vùng dịch tễ sốt rét : Dựa vào tiêu chuẩn phân vùng củachương trình PCSR Quốc gia trên cơ sở 5 đặc điểm (của phân vùng dịch tễ sốtrét và can thiệp) gồm: Địa lý, sinh địa cảnh, sự có mặt của muỗi A.minimus, tỉ
lệ ký sinh trùng P.faciparum/tỉ lệ ký sinh trùng sốt rét và tỉ lệ sốt rét/1000 dân.
Tiêu chuẩn này sẽ phân vùng dịch tễ sốt rét thành 5 vùng cụ thể như sau:
Trang 37- Việc tính toán các chỉ số được thực hiện theo quy định của CT PCSR: Bệnh nhân sốt rét
Phụ nữ có thai bị sốt rét
+ Tỉ lệ sốt rét ở phụ nữ có thai (%) = - x 100 Bệnh nhân sốt rét
về nguyên nhân, đối tượng, tác hại và cách phòng tránh bệnh SR Người cókiến thức tốt là người trả lời đúng cả 5 câu từ câu 23 đến câu 27 (phụ lục 1)
+ Mức độ xử trí BNSR của NVYT thôn, bản được tính căn cứ vào kếtquả trả lời các câu hỏi từ câu 28 đến câu 33 trong bộ phiếu điều tra nhân viên
y tế thôn, bản (phụ lục 1) và được phân loại như sau:
Kém: trả lời đúng từ 3 câu trở xuống
Trung bình: trả lời đúng 4-5 câu
Tốt: trả lời đúng cả 6 câu,
+ Phân loại khả năng chuyên môn trong công tác phòng chống sốt rétcủa Trưởng trạm y tế xã Khả năng chuyên môn được tính căn cứ vào kết quảtrả lời các câu hỏi từ câu 9 đến câu 19 trong bộ phiếu điều tra Trưởng trạm y
tế xã (phụ lục 2) và được phân loại như sau:
Tốt: trả lời đúng 9-11 câu
Khá: trả lời đúng 7- 8 câu
Trang 38Trung bình: trả lời đúng 5- 6 câu
Kém: trả lời đúng ≤ 4 câu
2.2.8 Các biện pháp khắc phục sai số
Để tránh các sai số thông tin trong quá trình nghiên cứu các điều traviên phải được tập huấn kỹ nắm chắc nội dung, mục đích của cuộc điều tra.chỉ phỏng vấn với người sẵn sàng hợp tác Tập huấn kỹ cho điều tra viên,giám sát viên Thiết kế bộ công cụ hợp lý, thử nghiệm trước khi triển khai ởthực địa Giám sát chất lượng việc thu thập số liệu ở thực địa, làm sạch số liệutrước khi nhập và phân tích
2.29 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu.
Đây là nghiên cứu đánh giá chất lượng hoạt động chuyên môn PCSR vàkiến thức thực hành của cán bộ y tế và cán bộ lãnh đạo các cấp tại tỉnh ĐiệnBiên Kết quả nghiên cứu góp phần giúp các nhà quản lý có sự đánh giá đúngđắn, thấy được hiệu quả các biện pháp can thiệp trong PCSR, và các tồn tại đểkhắc phục Phấn đấu trong những năm tới hiệu quả của công tác PCSR đạt đượcmục tiêu đề ra Tiến tới đẩy lùi bệnh SR, và bệnh SR không còn là vấn đề lớnlàm ảnh hưởng đến chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của địa phương
Trang 39Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Một số đặc điểm dịch tễ bệnh SR từ năm 2005 - 2008 tại 4 huyện nghiên cứu của tỉnh Điện Biên.
B ng 3.1 T l b nh nhân s t rét v t vong do s t rét/dân s ảng 3.1 Tỉ lệ bệnh nhân sốt rét và tử vong do sốt rét/dân số ỉ lệ bệnh nhân sốt rét và tử vong do sốt rét/dân số ệ bệnh nhân sốt rét và tử vong do sốt rét/dân số ệ bệnh nhân sốt rét và tử vong do sốt rét/dân số ốt rét và tử vong do sốt rét/dân số à tử vong do sốt rét/dân số ử vong do sốt rét/dân số ốt rét và tử vong do sốt rét/dân số ốt rét và tử vong do sốt rét/dân số
Biểu đồ 3.1 Tỉ lệ bệnh nhân sốt rét/1.000 dân
Trang 40Kết quả bảng 3.1 và biểu đồ 3.1 cho thấy: Bệnh nhân sốt rét tại 4 huyệnnghiên cứu của tỉnh Điện Biên đã giảm dần qua các năm từ 7,8 % năm 2005xuống còn 4,8 % năm 2008 Trong 4 năm gần đây không có bệnh nhân bị tửvong do sốt rét
B ng 3.2 S l ảng 3.1 Tỉ lệ bệnh nhân sốt rét và tử vong do sốt rét/dân số ốt rét và tử vong do sốt rét/dân số ượng bệnh nhân mắc sốt rét theo tháng trong năm ng b nh nhân m c s t rét theo tháng trong n m ệ bệnh nhân sốt rét và tử vong do sốt rét/dân số ắc sốt rét theo tháng trong năm ốt rét và tử vong do sốt rét/dân số ăm