1. Lí do chọn đề tài Tiếng Việt là một trong những môn học chính có vai trò vô cùng quan trọng trong chương trình Tiểu học (TH) với mục tiêu nhằm hình thành và phát triển ở HS các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết). Đây là mục tiêu hàng đầu gắn với việc rèn luyện tư duy cho HS. Môn Tiếng Việt cung cấp những kiến thức cơ bản về tiếng Việt và những hiểu biết cơ bản về xã hội, tự nhiên và con người,… góp phần hình thành con người Việt Nam phù hợp với sự phát triển của đất nước. Nhắc đến Tiếng Việt ở TH, ta không thể không nhắc đến phân môn Luyện từ và Câu (LTVC). Phân môn LTVC của chương trình hiện nay có nhiều điểm mới so với chương trình giáo dục cũ, được xây dựng theo cấu trúc đồng tâm. Một số kiến thức sơ giản về câu được dạy ở các khối lớp. Ngay từ lớp 1, các em được học những từ và câu đơn giản, từ lớp 2 đến lớp 5 được học với tư cách là một phân môn độc lập. LTVC là một phân môn không kém phần quan trọng so với các phân môn khác như: Chính tả, Tập đọc, Tập làm văn, Kể chuyện,… muốn học tốt LTVC thì HS phải có kiến thức về từ và câu.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP ccc
TRẦN THỊ MỸ LÀNH
DẠY KIẾN THỨC SƠ GIẢN VỀ CÂU CHO HỌC SINH LỚP 4 Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TIỂU HỌC THUỘC
TỈNH ĐỒNG THÁP
Ngành đào tạo: Sư phạm Giáo dục Tiểu học
Trình độ đào tạo: Đại học
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỒNG THÁP, NĂM 2012
Trang 2MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa ……… i
Lời cam đoan ……… ii
Lời cảm ơn ……… iii
Mục lục……… 1
Danh mục các cụm từ viết tắc ……… 4
MỞ ĐẦU ……… 5
NỘI DUNG……… 11
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY KIẾN THỨC SƠ GIẢN VỀ CÂU CHO HS LỚP 4 1.1 Cơ sở lý luận……….… 11
1.1.1 Vấn đề câu tiếng Việt ……… 11
1.1.2 Quan điểm giao tiếp trong dạy tiếng Việt ……… 16
1.1.3 Đặc điểm tâm lý của HS lớp 4 với việc dạy kiến thức sơ giản về câu tiếng Việt ……… 17
1.2 Cơ sở thực tiễn ……… 20
1.2.1 Xác lập cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu ……… 20
1.2.2 Hệ thống hóa nội dung dạy học kiến thức sơ giản về câu cho HS lớp 4 ……… 21
1.2.3 Thực trạng dạy học kiến thức sơ giản về câu cho HS lớp 4 ở các trường tiểu học Thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp ……… 25
1.2.3.1 Mục đích, nội dung, địa bàn, đối tượng, phương pháp khảo sát ……… 25
1.2.3.2 Kết quả khảo sát ……… 26
1.3 Tiểu kết chương 1 ……… 39
Trang 3Chương 2
TỔ CHỨC DẠY HỌC KIẾN THỨC SƠ GIẢN VỀ CÂU CHO HS LỚP 4 Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ XÃ SA ĐÉC
TỈNH ĐỒNG THÁP
2.1 Xây dựng các bài tập dạy kiến thức sơ giản về câu cho HS lớp 4
theo quan điểm giao tiếp ……… … 41
2.1.1 Yêu cầu của việc xây dựng hệ thống bài tập dạy kiến thức sơ giản cho HS lớp 4 theo quan điểm giao tiếp ……….… 41
2.1.2 Hệ thống bài tập kiến thức sơ giản cho HS lớp 4 ……… 44
2.2 Quy trình dạy kiến thức sơ giản cho HS lớp 4 theo quan điểm giao tiếp ……… 55
2.2.1 Mục tiêu quy trình ……… 55
2.2.2 Yêu cầu của quy trình ……… 56
2.2.3 Các bước thực hiện dạy kiến thức sơ giản về câu cho HS lớp 4 58
2.3 Tiểu kết chương 2 ……… 59
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 3.1 Mục đích, nội dung, đối tượng, địa bàn, kế hoạch thử nghiệm… 61
3.1.1 Mục đích thử nghiệm ……… 61
3.1.2 Nội dung thử nghiệm ……… 61
3.1.3 Địa bàn và đối tượng thử nghiệm ……… 61
3.1.4 Kế hoạch thử nghiệm ……… 61
3.2 Tổ chức thử nghiệm ……… 61
3.3 Phân tích kết quả thử nghiệm và nhận xét ……… 62
3.3.1 Ý kiến của nhóm dự giờ ……… 62
3.3.2 Kĩ năng lĩnh hội tri thức về câu của HS ở lớp 4 ……… 63
3.3.3 Kĩ năng sử dụng câu của HS qua các giờ luyện tập ……… 65
Trang 43.3.4 Đánh giá về hoạt động tích cực học tập, hứng thú và sự chú ý
của HS qua tiết dạy ……… 65
3.4 Tiểu kết chương 3 ……… 66
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ……… 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 70 PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT
Để cho việc nghiên cứu đề tài được thuận lợi và tránh cách viết dài của một số
từ ngữ thường được dùng lặp lại, đề tài đã sử dụng một số chữ viết tắt như sau:
GV : Giáo viên
HS : Học sinh NXBGD : Nhà xuất bản Giáo dục LTVC : Luyện từ và Câu
VN : Vị ngữ
CN : Chủ ngữ
Trang 6Nhắc đến Tiếng Việt ở TH, ta không thể không nhắc đến phân môn Luyện từ vàCâu (LTVC) Phân môn LTVC của chương trình hiện nay có nhiều điểm mới so vớichương trình giáo dục cũ, được xây dựng theo cấu trúc đồng tâm Một số kiến thức sơgiản về câu được dạy ở các khối lớp Ngay từ lớp 1, các em được học những từ và câuđơn giản, từ lớp 2 đến lớp 5 được học với tư cách là một phân môn độc lập.
LTVC là một phân môn không kém phần quan trọng so với các phân môn khácnhư: Chính tả, Tập đọc, Tập làm văn, Kể chuyện,… muốn học tốt LTVC thì HS phải
có kiến thức về từ và câu Từ và câu là hai đơn vị có vai trò quan trọng trong hệ thốngngôn ngữ Đối với GV, việc dạy kiến thức sơ giản về câu cho HSTH nói chung và cho
HS lớp 4 nói riêng, có vai trò quan trọng trong chương trình tiếng Việt ở TH với mụcđích cung cấp kiến thức sơ giản về câu, rèn kĩ năng dùng từ đặt câu, từ đó bồi dưỡngcho các em nói, viết thành câu và biết cách sử dụng từ trong hoạt động giao tiếp hằngngày Đối với HS, việc học kiến thức sơ giản về câu giúp cho các em trình bày tưtưởng tình cảm của mình một cách chính xác và giúp các em nắm quy tắc kết hợp từthành một câu hoàn chỉnh tạo điều kiện cho các em học tiếp lên cấp bậc cao hơn vàgiúp cho các em phát triển nhân cách của mình một cách toàn diện hơn
Trang 7Tuy nhiên, việc dạy học kiến thức sơ giản về câu trong phân môn LTVC ở THnói chung và cho HS lớp 4 nói riêng trên thực tế đang gặp một số vấn đề bất cập nhưmột số giáo viên (GV) chưa nắm vững nội dung chương trình sách giáo khoa (SGK),chưa nắm rõ kiến thức sơ giản về câu trong chương trình dạy LTVC, sử dụng phươngpháp và hình thức dạy học không phù hợp, dẫn đến việc dạy câu trong LTVC khôngđúng ý đồ mà SGK đưa ra và chưa khai thác hết những kiến thức các em vốn có Vì
vậy, chúng tôi chọn đề tài “Dạy kiến thức sơ giản về câu cho HS lớp 4 ở một số
Trường Tiểu học Thuộc tỉnh Đồng Tháp” để nghiên cứu nhằm giúp HS hiểu rõ về
câu và sử dụng câu một cách có hiệu quả
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Vấn đề về câu và câu tiếng Việt trong chương trình tiếng Việt ở TH đã đượcnhiều nhà giáo dục, nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm từ lâu và được thể hiện ở nhiềuphương diện khác nhau
* Vấn đề về câu tiếng Việt đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm có thể kể đếnmột số tác giả như: Diệp Quang Ban, Lê A, Đỗ Xuân Thảo, Lê Hữu Tỉnh, Bùi MinhToán, Cao Xuân Hạo, Đỗ Việt Hùng,…
- Trước hết, chúng tôi xin đề cập đến bài viết của tác giả Diệp Quang Ban (1992), trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” [5] Tác giả đã nghiên cứu về câu ở phương
diện từ loại, các thành tố nghĩa của câu Khi đề cập đến câu, tác giả đi sâu vào nghiêncứu cấu tạo ngữ pháp của câu Trong đó, tài liệu có đề cập đến vấn đề về câu và việcnghiên cứu câu trong tiếng Việt
- Trong cuốn “Tiếng Việt thực hành" [17] Các tác giả Bùi Minh Toán, Lê A, ĐỗViệt Hùng (1997) đã trình bày về việc rèn kĩ năng đặt câu, dùng từ và kĩ năng viếtchính tả Trong đó, rèn kĩ năng dùng từ đặt câu được chú trọng hơn qua các dạng bàichữa lỗi về cấu tạo câu, dấu câu, sắp xếp từ thành câu, thêm dấu câu vào để thành câuhoàn chỉnh, giải nghĩa từ hay chữa lỗi chính tả,…Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập đếnvấn đề dạy kiến sơ giản về câu trong giờ LTVC
Trang 8- Tác giả Cao Xuân Hạo (2003), trong cuốn “Câu trong tiếng Việt” [8] Tác giả
trình bày các đơn vị ngữ pháp từ thấp đến cao: từ, cụm từ, câu Đặc biệt, do vấn đề vềcâu rất phong phú và phức tạp nên tác giả dành phần lớn vào việc nghiên các thànhphần câu cũng như việc phân loại câu theo mục đích khác nhau
* Vấn đề về dạy câu và học câu ở TH được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứunhư: Lê Phương Nga, Nguyễn Trí, Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Quang Ninh, ĐinhThị Oanh, Vũ Thị Kim Dung, Phạm Thị Thanh,…
- Tác giả Lê Phương Nga, Nguyễn Trí (2007), trong cuốn “Giáo trình phương
pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học”, tập 2 [9] Tác giả trình bày chi tiết các vấn đề vềđối tượng, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học LTVC Tuy nhiên, tácgiả chưa đề cập nội dung dạy kiến thức sơ giản về câu và luyện tập – thực hành kiếnthức sơ giản về câu cho HS
- Tác giả Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên), trong cuốn “Sách giáo viên Tiếng Việtlớp 4”, tập 1 [14] Cấu trúc của sách được tác giả chia hai phần Phần 1, tác giả trìnhbày mục tiêu, quan điểm biên soạn, nội dung chương trình, phương pháp dạy học cácphân môn trong SGK tiếng Việt 4 Ở phần 2, tác giả trình bày chi tiết nội dung dạy họctheo từng bài trong từng chủ điểm của các phân môn trong SGK tiếng Việt lớp 4, tập 1như: Mục đích – yêu cầu, đồ dùng dạy học, các hoạt động dạy – học, củng cố – dặn
dò Đây là tài liệu để GV tham khảo trong việc dạy học tiếng Việt nói chung và LTVCnói riêng nhằm đạt hiệu quả cao Hơn nữa, giúp cho việc truyền tải kiến thức đến HSmột cách nhẹ nhàng tự nhiên không gây căng thẳng
- Tác giả Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên), trong cuốn “Sách giáo viên Tiếng Việtlớp 4”, tập 2 [16] Cũng được tác giả trình bày cụ thể và rõ ràng như tập 1 và tiếp tụccác chủ điểm theo chương trình học SGK đưa ra
- Tác giả Đinh Thị Oanh, Vũ Thị Kim Dung, Phạm Thị Thanh (2006), Trong cuốn
“Đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học” [11], đã nêu lên những vấn đề chung củaviệc dạy học, đặc điểm tâm sinh lí của HSTH, từ đó tác giả đưa ra những phương pháp
Trang 9và hình thức dạy học các phân môn theo chương trình đổi mới nhằm phát huy tính tíchcực của HS Điểm thuận lợi của sách, cuối mỗi phân môn yêu cầu vận dụng phươngpháp dạy học vào một bài cụ thể Điều này cho chúng ta thấy, tác giả quan tâm đến vấn
đề dạy học nhằm phát huy tính tích cực của HS Tuy nhiên, tác giả đề cập đến việc dạyhọc kiến thức sơ giản về câu cho HS theo hướng đổi mới
Tất cả những tác giả trên đều quan tâm vấn đề về câu tiếng Việt nói chung vàcâu tiếng Việt ở TH nói riêng ở nhiều phương diện khác nhau, mỗi tác giả đều có mộtthế mạnh riêng Tuy nhiên, việc tìm hiểu và vận dụng kiến thức sơ giản về câu để ápdụng vào việc dạy học trong chương trình TH và đặc biệt ở lớp 4 cần phải được quantâm Những ý kiến về câu và câu tiếng Việt trong chương trình TH của các nhà nghiêncứu có ý nghĩa quan trọng giúp ích cho chúng tôi nghiên cứu đề tài này
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này tôi nhằm vào những mục đích sau:
- Tìm hiểu sâu hơn dạy học kiến thức sơ giản về câu trong chương trình tiếng Việt
ở TH, nắm vững phương pháp cũng như hình thức dạy học
- Khảo sát thực tế dạy và học kiến thức sơ giản về câu ở một số trường TH, từ đórút ra những thuận lợi và khó khăn của GV và HS trong quá trình dạy và học các bàihọc kiến thức sơ giản về câu trong phân môn LTVC
- Đề xuất những biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học các bài LTVC có nội dungkiến thức sơ giản về câu ở lớp 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
+ SGK Tiếng việt 4 tập 1 và tập 2
+ Việc dạy học kiến thức sơ giản về câu trong phân môn LTVC cho HS lớp 4 ởmột số trường Thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp
- Phạm vi nghiên cứu
Trang 10Nội dung dạy kiến thức sơ giản về câu cho HS lớp 4 trong phân môn LTVC ởmột số trường TH, Thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để nghiên cứu, đề tài xác định các nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu một số vấn đề lý thuyết về câu có liên quan làm cơ sở lý luận cho việc
nghiên cứu đề tài
- Tìm hiểu nội dung dạy học kiến thức sơ giản về câu trong phân môn LTVC ở
lớp 4
- Khảo sát thực tế nội dung chương trình, phương pháp và hình thức dạy học kiến
thức sơ giản về câu nói riêng và LTVC nói chung ở một số trường TH, Thị xã Sa Đéc
- Thiết kế một số giáo án các bài dạy kiến thức sơ giản về câu trong phân môn
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra: là phương pháp thu thập tư liệu thực tế bằng phiếu
phỏng vấn, phiếu bài tập chung cho GV và HS, nhằm thu thập thông tin của GV và HS
về nội dung chương trình, phương pháp dạy học trong phân môn LTVC
- Phương pháp quan sát sư phạm: là phương pháp dự giờ một số tiết dạy và học
của GV và HS trong giờ LTVC
- Phương pháp thử nghiệm: là phương pháp thiết kế giáo án dạy và học kiến thức
sơ giản về câu trong giờ LTVC để rút ra những nhận xét và đánh giá cần thiết trongviệc nghiên cứu đề tài
Trang 11- Phương pháp thống kê - phân tích - tổng hợp dữ liệu: Thống kê các bài kiến
thức sơ giản về câu trong phân môn LTVC Tổng hợp và phân tích kết quả trong quátrình điều tra khảo sát nhằm xử lí số liệu cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài
7 Giả thuyết khoa học
Nếu đề tài đề ra được những quy trình phù hợp nhằm dạy học kiến thức sơ giản
về câu cho HS lớp 4 hợp lý sẽ góp phần nâng cao kết quả dạy học tiếng Việt cho HS
8 Thời gian kế hoạch nghiên cứu
- Tháng 11/2011: Chọn Giảng viên và chọn đề tài
- Tháng 12/2011: Lập đề cương và hoàn chỉnh đề cương
- Tháng 1/2012: Duyệt đề cương
- Tháng 2 và 3/2012: Triển khai các hoạt động nghiên cứu
- Tháng 4: Hoàn thiện khoá luận
- Tháng 5/2012: Bảo vệ khoá luận
Trang 12NỘI DUNGChương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY KIẾN THỨC
SƠ GIẢN VỀ CÂU CHO HS LỚP 4 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Vấn đề câu tiếng Việt
1.1.1.1 Các quan điểm về câu tiếng Việt
Trong lịch sử ngôn ngữ học so với các đơn vị ngôn ngữ khác như: âm vị, hình
vị, từ, cụm từ, văn bản thì câu là đơn vị được nghiên cứu sớm nhất – nó được nghiêncứu từ thời cổ đại Từ trước đến nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam câu đã đượccác khuynh hướng, các trường phái ngôn ngữ học nghiên cứu về câu từ nhiều phươngdiện khác nhau và có rất nhiều định nghĩa về câu
Từ thời cổ đại các nhà ngữ pháp Ấn Độ giải thích: “Câu là đơn vị cơ bản, bởi vì
chỉ có câu mới có thể diễn đạt được tư tưởng”.
Ngôn ngữ nói chung và câu nói riêng được nghiên cứu theo quan điểm cáckhuynh hướng mà cũng có các định nghĩa về câu cũng khác nhau Theo khuynh hướnglogic – ngữ pháp (ở Nga) quan điểm câu trùng với phán đoán – logic và rút ra kết luận:
“Câu là một phán đoán được biểu thị bằng từ”, ngược với khuynh hướng trên khuynh hướng lịch sử – tâm lí lại phản đối với quan niệm trên và cho rằng: “Câu (ngữ pháp) tuyệt nhiên không trùng và không song song với phán đoán logic” Riêng khuynh
hướng hình thức ngữ pháp do quá thiên về hình thức ngôn ngữ đã định nghĩa: “ Câu là
một tổ hợp từ với ngữ điệu kết thúc”.
Ở Việt Nam, nếu tính theo năm xuất bản thì việc nghiên cứu câu mới được bắtđầu vài chục năm gần đây Đầu thế kỉ XX, việc nghiên cứu ngữ pháp mới được bắt đầu
và được mô phỏng theo tiếng Pháp và chỉ nêu biện pháp tạo thành mệnh đề
Từ sau cách mạng tháng 8, việc nghiên cứu về câu hơn hẳn ở các giai đoạntrước, ở giai đoạn này đã có nhiều định nghĩa về câu khác nhau
Trang 13Hoàng Trọng Phiến: “Với tư cách là đơn vị bậc cao của hệ thống, các đơn vị
ngôn ngữ, câu là ngữ tuyến được hình thành một cách trọn vẹn về ngữ pháp và về ngữ
nghĩa với một ngữ điệu theo các quy luật của ngữ pháp nhất định, là phương tiện diễn đạt, biểu hiện tư tưởng về thực tế và về thái độ của người nói đối với hiện thực” [8;
17] Định nghĩa mà ông đưa ra đúng với bản chất xem xét nội dung của câu, mối liên
hệ của câu với hiện thực nhưng lại bỏ qua hình thức của câu
Tác giả Cao Xuân Hạo: “Câu là một vị cơ bản của lời nói, của ngôn từ, của văn
bản (Benveniste, 1961) Nó là đơn vị nhỏ nhất có thể sử dụng vào việc giao tế Nói cách khác câu là ngôn bản (văn bản) nhỏ nhất” [8; 19].
Để có một định nghĩa hoàn chỉnh về câu cả nội dung, hình thức và cấu tạo ngữ
pháp, Diệp Quang Ban đã có định nghĩa về câu như sau: “Câu là đơn vị ngôn ngữ có
cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói hoặc có thể kèm theo thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng tình cảm Câu cũng đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ” [5; 23].
Từ định nghĩa của các tác giả trên ta thấy, trong hoạt động giao tiếp người takhông nói với nhau bằng âm vị, hình vị, từ, cụm từ Đơn vị nhỏ nhất có thể sử dụnggiao tiếp là câu Câu ở nhiều phương diện khác nhau: hình thức, nội dung nghĩa, chứcnăng, phạm vi sử dụng mà nhìn nhận về câu ở mỗi thời kì lại khác nhau Vì vậy, mà
chúng ta có thể khái quát được rằng: “Câu là đơn vị ngôn ngữ không có sẵn, dùng để
biểu thị sự tình được tạo nên từ các đơn vị nhỏ hơn theo những quy tắc ngữ pháp nhất định, có dấu hiệu hình thức ngữ pháp riêng, được sử dụng trong giao tiếp nhằm thực hiện một hành động nói” [5; 32].
1.1.1.2 Phân loại câu tiếng Việt
a Câu tiếng Việt phân loại theo cấu trúc cú pháp chủ - vị
Việc phân tích cấu trúc câu tiếng Việt theo cấu trúc cú pháp chủ – vị bắt nguồn
từ sự tiếp thu thành tựu của ngữ pháp về các ngôn ngữ Châu Âu
Trang 14Bộ phận câu là những thành tố tham gia cấu tạo nên câu với chức vụ cú phápnhất định và được phân thành hai bộ phận: bộ phận chính và bộ phận phụ.
Cấu tạo của CN
+ Về chức năng ngữ pháp và ngữ nghĩa: VN là thành phần chính thứ hai, nói về
CN, biểu thị thuộc tính (hành động, trạng thái, quá trình, đặc điểm, tính chất,…) củađối tượng nhận thức trong mệnh đề của câu
Trang 15+ Về quan hệ cú pháp: VN có quan hệ chặt chẽ với CN dùng để biểu thị nộidung mệnh đề.
Cấu tạo của VN
- Khởi ngữ là bộ phụ đứng trước nòng cốt, nêu và nhấn mạnh chủ đề của câu
- Giải ngữ là bộ phận phụ bổ sung một điều chú thích cho nòng cốt hoặc bộphận nào đó trong câu
- Hô ngữ là bộ phận phụ biểu thị sự gọi đáp
- Tình thái ngữ là bộ phận phụ biểu thị trạng thái, tình cảm, cảm xúc chủ quanhoặc hành vi ngôn ngữ của người nói
- Liên ngữ là bộ phận có chức năng liên kết với câu phía trước
b Câu phân loại theo cấu trúc cú pháp
Theo giới Việt ngữ việc phân loại câu theo cấu trúc cú pháp có hai loại câu
Trang 16Dựa vào tính đầy đủ hai bộ phận chính (CN và VN) của nòng cốt câu, câu ghépđược chia thành câu ghép bình thường và câu ghép đặc biệt.
Câu ghép bình thường là câu ghép có nòng cốt đầy đủ bộ phận CN và VN
Ví dụ: Những chiếc chân vàng //giẫm trên thảm lá vàng // và // sắc nắng //
- Câu ghép chính phụ là câu ghép mà hai vế câu có quan hệ chính phụ
Câu ghép đặc biệt là câu ghép mà nòng cốt có ít nhất một vế không xác địnhđược bộ phận CN và VN
Trang 17Ví dụ: Chim, thu, nhụ, đé.
Lụt thì lút cả làng
b3 Rút gọn câu
Do hoàn cảnh giao tiếp cụ thể có thể rút gọn bộ phận cấu tạo như CN và VN
c Câu phân loại theo mục đích nói
Gồm có câu kể, câu khiến, câu hỏi, câu cảm
Bên cạnh phân loại câu còn có dấu câu Dấu câu là hình thức chữ viết chủ yếubiểu thị ngữ điệu của câu, là kí hiệu có chức năng phân cách các câu và biểu thị ý nghĩatình thái của câu
Chữ Quốc ngữ có 10 dấu câu: Dấu chấm, Dấu chấm hỏi, Dấu chấm than, Dấuphẩy, Dấu chấm phẩy, Dấu hai chấm, Dấu ba chấm, Dấu gạch ngang, Dấu ngoặc đơn
và Dấu ngoặc kép
1.1.2 Quan điểm giao tiếp trong dạy tiếng Việt
Giao tiếp là hoạt động giao tiếp giữa con người và con người trong xã hội, ở đódiễn ra sự trao đổi thông tin, sự trao đổi nhận thức, tư tưởng, tình cảm với những vấn
đề cần giao tiếp Khi sử dụng tiếng Việt (nói, viết) chính là chúng ta dùng tiếng Việtvào một hoạt động giao tiếp nhất định Hoạt động giao tiếp gồm hành vi giải mã (nhậnthông tin) và kí mã (phát thông tin) trong ngôn ngữ, trong mỗi hành vi đó đều thể hiện
ở hai hình thức khẩu ngữ (nghe, nói) và bút ngữ (đọc, viết) Vì thế, học môn tiếng Việtchính là học để sử dụng tốt một phương tiện giao tiếp, một công cụ học tập, nghiên cứu
và làm việc Vì vậy, khi dạy tiếng Việt cho HS chúng ta không những cung cấp kiếnthức sơ giản về câu, mà rèn cho HS sử dụng từ đặt câu vào trong hoat động giao tiếphằng ngày và muốn giao tiếp các em phải biết sử dụng ngôn ngữ Vì vậy, SGK tiếngViệt nói chung, trong đó có phân môn LTVC lấy quan điểm giao tiếp làm định hướng
cơ bản cho việc dạy kiến thức sơ giản về câu cho HSTH nói chung và HS lớp 4 nóiriêng trong chương trình tiếng Việt ở TH Dựa trên quan điểm này được thể hiện cả vềnội dung và hình thức dạy học trong LTVC
Trang 18- Về nội dung: chương trình tiếng Việt đã thể hiện rõ quan điểm giao tiếp có chọn
lọc phù hợp với cuộc sống thực làm cho vốn từ của các em thêm phong phú hơn Cácnhiệm vụ học tập được thực hiện thông qua hệ thống các bài tập thực hành giao tiếp vềcác kiểu câu, dấu câu,… Điều này thể hiện ở sự phân bố nội dung thực hành nhiều, lýthuyết ít Trong số các bài thực hành, đích cuối cùng là rèn kĩ năng mang tính tìnhhuống sinh động, hấp dẫn, phù hợp với tình huống giao tiếp tự nhiên, kích thích HStham gia, bộc lộ bản thân, trang bị tri thức nền và phát triển kĩ năng sử dụng tiếng Việttrong giao tiếp
- Về hình thức: các kĩ năng giao tiếp được rèn luyện thông qua hệ thống các bài
học lý thuyết và các bài tập thực hành Trong đó, được chú trọng nhiều đến các bài tậpmang tính tình huống giao tiếp phù hợp với đặc điểm tâm lí ngôn ngữ của HS Các bàitập này thực chất là các bài tập tình huống giao tiếp yêu cầu HS phải thực hiện Khi tổchức dạy các hoạt động giao tiếp GV phải dạy các kĩ năng thông qua hoạt động giaotiếp cho HS, làm sao cho mỗi HS, em nào cũng được hoạt động và bằng nhiều hìnhthức khác nhau, các em được nói ra, trao đổi, trình bày suy nghĩ riêng để nâng cao nănglực diễn đạt phù hợp với nhu cầu học tập và giao tiếp
Trong quá trình thực hiện yêu cầu của các bài tập trong giờ LTVC thì GV có thể
tổ chức cho HS hoạt động theo nhóm hoặc cá nhân,… để các em trao đổi thảo luậntrình bày ý kiến với nhau Để tạo tính tích cực của HS, GV phải luôn thay đổi phươngpháp và hình thức dạy học để các em khắc sâu thêm kiến thức đã học và sử dụng chúng
- Tri giác: Tri giác của HSTH mang tính chất đại thể, ít đi sâu vào chi tiết không
chủ động Do đó, các em phân biệt những đối tượng chưa chính xác, dễ mắc sai lầm, có
Trang 19khi còn lẫn lộn Tuy nhiên, HS lớp 4 khi tri giác, các em có sự phân tích một cách có tổchức và sâu sắc hơn, các em thường thâu tóm sự vật về toàn bộ, về đại thể để tri giác.Tri giác và đánh giá về thời gian và không gian của HSTH còn hạn chế và gặpkhó khăn khi phải quan sát các sự vật có kích thước quá lớn hoặc quá nhỏ HS lớp 4các em có thể tri giác các sự vật có hình dáng khác nhau hoặc tri giác về thời gian.Tri giác không tự bản thân nó phát triển Trong quá trình học tập khi tri giác trởthành hoạt động có mục đích, đặc biệt trở nên phức tạp và sâu sắc, trở thành hoạt động
có phân tích Điều này rất cần thiết cho việc hình thành các khái niệm về câu cho HS
- Chú ý: Ở lứa tuổi HSTH, chú ý có chủ định của các em còn yếu, khả năng điều
chỉnh một cách có ý thức chưa mạnh Sự chú ý của HS đòi hỏi một động cơ gần nhưthúc đẩy HS ở các lớp đầu bậc thường chú ý khi có động cơ gần (điểm cao, được côgiáo khen,…) Đối với HS lớp 4, chú ý được duy trì ngay cả động cơ xa (các em chú ývào công việc khó khăn nhưng không hứng thú vào kết quả chờ đợi trong tương lai)
Sự tập trung chú ý của HSTH thiếu bền vững là do quá trình ức chế bộ não củacác em còn yếu Do vậy, chú ý của các em bị phân tán Vì vậy, mà các em sẽ quên điều
cô giáo dặn cuối buổi học Nhưng HS lớp 4 thì khác, các em có thể duy trì chú ý gầnnhư hết tiết học nếu như trong quá trình dạy học GV biết tổ chức các hoạt động mộtcách liên tục vì sự chú ý của các em phụ thuộc vào nhịp độ học tập nhanh hoặc chậmđều không có lợi cho sự tập trung và chú ý
Khả năng chú ý có chủ định, bền vững, tập trung ở HSTH trong quá trình học làrất cao Bản thân của quá trình học tập bắt buộc các em phải thường xuyên chú ý rènluyện ý chí của mình Sự chú ý có chủ định phát triển cùng với động cơ học tập cũngđược phát triển Từ đó các em có ý thức trách nhiệm trước kết quả học tập của mình
- Trí nhớ: Do hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất của HS ở lứa tuổi này tương
đối chiếm ưu thế nên trí nhớ trực quan – hình tượng của HS được phát triển hơn trí nhớ
từ ngữ – logic Các em nhớ và giữ gìn chính xác những sự vật, hiện tượng cụ thể nhanhhơn và tốt hơn những định nghĩa hay những lời giải thích dài dòng HSTH ghi nhớ một
Trang 20cách máy móc bằng cách lặp đi lặp lại có khi chưa hiểu hết mối liên hệ, ý nghĩa của tàiliệu mà nó được học.
Càng về sau sự phát triển trí nhớ của HSTH còn biến đổi về chất, đó là hình thành
và phát triển của ghi nhớ có chủ định được phát triển ở mức độ cao hơn trước Hiệuquả của việc ghi nhớ có chủ định do tính tích cực học tập của HS quy định Tất nhiên,điều này còn tùy thuộc vào kĩ năng nhận biết và phân biệt các nhiệm vụ ghi nhớ ỞHSTH việc ghi nhớ có chủ định và không chủ định vẫn tồn tại song song chuyển hóa
và bổ sung cho nhau trong suốt quá trình học tập của các em Bên cạnh đó ngôn ngữcủa HS lớp 4 phát triển mạnh hơn, ngôn ngữ đóng vai trò hết sức quan trọng trong việcphát triển trí nhớ có chủ định và giúp cho các em diễn đạt tri thức đã biết bằng lời nói
và chữ viết, mà nó còn thúc đẩy sự phát triển tư duy của HS
- Tưởng tượng: tưởng tượng là một trong những quá trình nhận thức quan trọng.
Tưởng tượng của HS phát triển không đầy đủ sẽ gặp khó khăn trong mọi hoạt động đặcbiệt là quá trình học tập của HS Tưởng tượng của HSTH đã phát triển và phong phúhơn so với các em chưa đến trường Lứa tuổi HSTH là lứa tuổi thơ mộng giúp chotưởng tượng phát triển, tuy vậy tưởng tượng của các em còn tản mạn, ít tổ chức, cònđơn giản hay thay đổi, chưa bền vững Đối với HS lớp 4, tưởng tượng của các em gầnhiện thực hơn Sở dĩ như vậy là vì các em đã có kinh nghiệm, đã lĩnh hội tri thức khoahọc mà nhà trường đem lại và các em biết dựa vào ngôn ngữ để xây dựng hiện tượngngôn ngữ mang tính khái quát và trừu tượng hơn Bên cạnh đó, tưởng tượng tái tạotừng bước hoàn thiện gắn liền với hình tượng đã tri giác trước hoặc tạo ra những hìnhtượng phù hợp với những điều mô tả, các biểu tượng của tưởng tượng dần trở nên hiệnthực hơn, phản ánh đúng nội dung của môn học Như vậy tưởng tượng của HSTH dầnthoát khỏi những ảnh hưởng của ấn tượng trực tiếp Mặt khác, tính hiện thực trongtưởng tượng của HS gắn liền với sự phát triển của tư duy ngôn ngữ Vì vậy, GV cầnhình thành biểu tượng thông qua sự mô tả bằng lời nói, cử chỉ, điệu bộ, ngôn ngữ chínhxác, giàu nhạc điệu và tình cảm của GV là yêu cầu bắt buộc Trong dạy học, GV sử
Trang 21dụng đồ dùng dạy học và tài liệu dạy học sinh động để làm tăng trí tưởng tượng cũngnhư phát triển trí nhớ và tư duy của HS.
- Tư duy (hay nhận thức cảm tính): Tư duy của HSTH là tư duy cụ thể, mang tính
hình thức bằng cách dựa vào đặc điểm trực quan của đối tượng và hiện tượng cụ thể.Nhờ ảnh hưởng của việc học tập các em dần dần chuyển từ hoạt động nhận thức cácmặt bên trong của hiện tượng đến nhận thức những thuộc tính và dấu hiệu bản chất củahiện tượng vào tư duy, trên cơ sở đó HS lĩnh hội khái niệm khoa học
Hoạt động phân tích – tổng hợp còn sơ đẳng, chủ yếu hoạt động phân tích – trựcquan – hành động khi tri giác trực tiếp đối tượng Tuy nhiên HS lớp 4 có thể phân tíchđối tượng mà không cần tới những hành động thực tiễn với đối tượng đó Hơn nữa các
em có thể phân biệt các dấu hiệu, những khía cạnh khác nhau của đối tượng dưới dạngngôn ngữ Khi học tiếng Việt, HS biết phân biệt âm và chữ cái, phân biệt những chữriêng biệt, tổng hợp từ thành câu Các em có thể nhận biết dấu hiệu bên trong bản chấtnhững dấu hiệu bên ngoài của sự vật, hiện tượng, các em có thể tiếp cận những kháiniệm đơn giản và nhận thấy được mối quan hệ giữa các khái niệm đó và sự kết hợp cácthao tác tư duy là cơ sở của việc hình thành các khái niệm, giúp cho HS chiếm lĩnh nộidung kiến trong quá trình học tập
Tóm lại, đặc điểm tư duy của HSTH không có ý nghĩa tuyệt đối mà có nghĩatương đối Trong quá trình học tập, tư duy của HS thay đổi rất nhiều như phân tích haytính toán, từ đó thao tác về không gian và thời gian dần được hình thành và phát triểntạo điều kiện cho các em học tập tốt hơn
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Xác lập cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
Chương trình tiếng Việt ở TH, phân môn LTVC là sự sáp nhập hai phân môn từngữ và ngữ pháp, xuất phát từ mối quan hệ giữa từ và câu trong giao tiếp và coi trọngtính chất thực hành của môn học
Trang 22LTVC cung cấp những kiến thức sơ giản về từ và câu Đặc biệt, ở TH dạy kiếnthức sơ giản về câu cho HS có ý nghĩa quan trọng Câu chi phối việc sử dụng các đơn
vị ngôn ngữ để tạo thành lời nói, làm cho ngôn ngữ thực hiện được chức năng là công
cụ giao tiếp trong đời sống hằng ngày và có vai trò quan trọng trong việc tổ chức cáchoạt động tạo lập, lĩnh hội ngôn bản và rèn bốn kĩ năng (nghe, nói, đọc, viết) Câu cũng
là một yếu tố quan trọng để phát triển năng lực, trí tuệ, phẩm chất đạo đức của HS Vìvậy, ngay từ những ngày đến trường HS đã bắt đầu làm quen với câu và câu được dạytrong tất cả các phân môn tiếng Việt, ở đâu có tiếp nhận và sản sinh lời nói thì ở đó códạy kiến thức sơ giản về câu
Ở TH, dạy kiến thức sơ giản về câu nhằm cung cấp cho HS một số kiến thức sơgiản về câu cần thiết, vừa sức với các em, trang bị các em một hệ thống khái niệm, sựhiểu biết về cấu tạo và công dụng của các kiểu câu, nắm vững quy tắc và sử dụng cáckiểu câu trong hoạt động giao tiếp
Tuy nhiên, việc nắm vững kiến thức lý thuyết về sơ giản câu và luyện tập – thựchành của các em vẫn còn nhiều bất cập Nếu như trong quá trình dạy các kiến thức sơgiản về câu ở TH, GV cung cấp một cách đầy đủ những kiến thức và cho các em luyệntập – thực hành thường xuyên, các em sẽ nắm vững kiến thức đã học và viết đượcnhững câu đúng và hay rất dễ dàng Tuy nhiên, hiện nay HSTH cũng vẫn còn viết câusai Mặt khác, khi dạy kiến thức sơ giản về câu GV thực sự chưa quan tâm nên việctruyền đạt kiến thức về câu của GV đến HS còn hạn chế làm cho HS không hứng thúkhi học kiến thức sơ giản về câu Những cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn đã nêu về việcdạy kiến thức sơ giản về câu của HSTH làm tiền đề để tôi nghiên cứu các chương sau
1.2.2 Hệ thống hóa nội dung dạy học kiến thức sơ giản về câu cho HS lớp 4
Nội dung chương trình dạy kiến thức sơ giản về câu lớp 4 nằm trong phân mônLTVC được dạy trong 26 tiết Việc HS học kiến thức sơ giản về câu, cung cấp cho HSmột số hiểu biết sơ giản về cấu tạo câu Bên cạnh đó, ôn luyện kiến thức về công dụng
và luyện tập sử dụng một số dấu câu
Trang 23Bảng 1.1 Thống kê nội dung chương trình dạy kiến thức
sơ giản về câu ở lớp 4
Tiếng sáo diều
Tiếng sáo diều
Tiếng sáo diều
Tiếng sáo diều
Tiếng sáo diều
Tiếng sáo diều
- Câu hỏi và dấu chấm hỏi
- Luyện tập về câu hỏi
- Dùng câu hỏi vào mục đích khác
- Giữ phép lịch sự khi đặt câu hỏi
6 (tập 2)1623293645576168788792110
Trang 24- Thêm trạng ngữ cho câu.
- Thêm trạng ngữ chỉ nơi chốn chocâu
- Thêm trạng ngữ chỉ thời gian chocâu
- Thêm trạng ngữ chỉ nguyên nhân cho câu
- Thêm trạng ngữ chỉ mục đích chocâu
- Thêm trạng ngữ chỉ phương tiệncho câu
120126129
+ Câu hỏi (tuần 13, 14 và 15 – 4 tiết) với các kiểu câu: câu hỏi và dấu chấm hỏi,
luyện tập về câu hỏi, dùng câu hỏi với mục đích khác nhau
Câu hỏi dùng để hỏi về những điều chưa biết và khi hỏi cần giữ phép lịch sự.Các câu hỏi dùng để hỏi người khác có khi tự hỏi mình, với các từ (ai, gì,…)
+ Câu kể (tuần 16, 17, 19, 20, 21, 22, 24, 25 và 26 – 12 tiết) dùng để kể, tả giới
thiệu về sự vật, sự việc Cuối câu kể thường có dấu chấm
Câu kể Ai làm gì? có hai bộ phận: Bộ phận thứ nhất là CN trả lời cho câu hỏi:
Ai (con gì), bộ phận thứ hai là VN trả lời cho câu hỏi: Làm gì? Vị ngữ có thể là động từ
nêu lên hoạt động của người hoặc vật
Trang 25Câu kể Ai thế nào? có hai bộ phận: Bộ phận thứ nhất là CN trả lời cho câu hỏi:
Ai (cái gì, con gì), bộ phận thứ hai là VN trả lời cho câu hỏi: Thế nào? CN do danh từ
hoặc đại từ tạo thành VN do tính từ (cụm tính từ), động từ (cụm động từ) tạo thành
Câu kể Ai là gì? có hai bộ phận: Bộ phận thứ nhất là CN trả lời cho câu hỏi: Ai (con gì), bộ phận thứ hai là VN trả lời cho câu hỏi: Là ai, là con gì? CN chỉ người hoặc
vật được giới thiệu, nhận định VN nối với chủ ngữ bằng từ “là” và do danh từ hoặccụm danh từ tạo thành
+ Câu khiến (tuần 27 và 29 – 3 tiết) với các kiểu câu: câu khiến, cách đặt câu
khiến, giữ phép lịch sự khi trình bày yêu cầu, đề nghị Cuối câu khiến có dấu chấm
than Khi đặt câu khiến ta có thể thêm các từ: hãy, đừng, chớ,… vào trước động từ; thêm các từ: lên, đi, thôi,…vào cuối câu; thêm các từ: đề nghị, xin,…vào đầu câu.
+ Câu cảm (tuần 30 – 1 tiết) dùng để bộc lộ cảm xúc, trong câu cảm có các từ:
ôi chao, chà,… cuối câu có dấu chấm than (!)
Bên cạnh việc học các kiến thức sơ giản về câu, HS cũng được học về các thành
phần chính của câu: CN và VN trong câu kể Ai làm gì? Ai thế nào? Ai là gì? Và các
thành phần phụ trạng ngữ của câu (tuần 31, 32, 33 và 34 – 6 tiết) gồm các trạng ngữ:thêm trạng ngữ cho câu, thêm trạng ngữ chỉ nơi chốn cho câu, thêm trạng ngữ chỉ thờigian cho câu, thêm trạng ngữ chỉ nguyên nhân cho câu, thêm trạng ngữ chỉ mục đíchcho câu, thêm trạng ngữ chỉ phương tiện cho câu
Hơn nữa, các kiến thức về dấu câu cũng được đưa vào chương trình nhằm cungcấp kiến thức, công dụng và luyện tập sử dụng các dấu câu
+ Dấu hai chấm (tuần 2 – 1 tiết) dùng để thông báo bộ phận đứng sau là lời nói
hoặc lời giải thích và được sử dụng cùng với dấu ngoặc kép và dấu gạch ngang
+ Dấu ngoặc kép (tuần 8 – 1 tiết) dùng để dẫn lời nói trực tiếp của nhân vật hay
đánh dấu những từ dùng để làm nổi bậc lên
+ Dấu chấm hỏi (HS được học cùng với câu hỏi ở tuần 13).
+ Dấu gạch ngang (tuần 23 – 1 tiết) dùng để dẫn lời nói của nhân vật đối thoại.
Trang 26Qua việc thống kê cho ta thấy, các kiến thức sơ giản về câu được dạy ở lớp 4 có
sự phân hóa thành hai mảng kiến thức là từ và câu Chính sự phân hóa này làm cho vốn
từ của các em phong phú để dùng từ đặt câu dễ hơn, cũng như tạo điều kiện thuận lợicho HS nhận diện các kiểu câu, phân tích cấu tạo câu, đặt câu theo mẫu, luyện tập sửdụng các dụng các kiểu câu, biết dùng dấu câu một cách chính xác Từ đó, các em vậndụng kiến thức sơ giản về câu mà các em được học vào hoạt động giao tiếp môt cáchthuận tiện, dễ dàng và đạt hiệu quả cao
1.2.3 Thực trạng dạy học kiến thức sơ giản về câu cho HS lớp 4 ở các trường Tiểu học Thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp
1.2.3.1 Mục đích, nội dung, địa bàn, đối tượng, phương pháp khảo sát
a Mục đích khảo sát
Để có tư liệu về thực trạng dạy học kiến thức sơ giản về câu cho HS lớp 4,chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực tế ở một số trường TH qua dự giờ, qua phiếu điềutra GV và HS với mục đích tìm hiểu việc dạy học kiến thức sơ giản về câu và nội dungchương trình dạy kiến thức sơ giản về câu trong phân môn LTVC
Qua khảo sát, chúng tôi có số liệu cụ thể từ đó nắm được những thuận lợi và khókhăn của GV và HS khi dạy kiến thức sơ giản về câu cho HS lớp 4
Trên cơ sở thực trạng dạy học kiến thức sơ giản về câu, chúng tôi đề xuất một sốbiện pháp nâng cao hiệu quả cho việc dạy học các kiến thức sơ giản về câu lớp 4
b Nội dung khảo sát
Nội dung khảo sát của đề tài bao gồm:
- Khảo sát ý kiến của GV về nội dung chương trình, phương pháp, hình thức dạyhọc và các vấn đề xoay quanh việc dạy kiến thức sơ giản về câu ở lớp 4
- Khảo sát thông qua phiếu bài tập cho HS lớp 4 về khả năng nhận diện và sửdụng các kiến thức sơ giản về câu
Trang 27c Địa bàn khảo sát
Thực hiện đề tài này, chúng tôi đã tiến hành khảo sát một số trường TH Thị xã SaĐéc, tỉnh Đồng Tháp
Trường TH Kim Đồng, Khóm 1, Đồ Chiểu, TXSĐ
Trường TH Trưng Vương, Phường 1, Khóm 1, Đường Hồ Xuân Hương, TXSĐ
d Đối tượng và phương pháp khảo sát
Để thực hiện đề tài chúng tôi đã tiến hành khảo sát ý kiến của GV và HS lớp 4của hai trường Tiểu học Kim Đồng và trường Tiểu học Trưng Vương
Chúng tôi dùng phiếu điều tra cho GV và HS nhằm thu thập số liệu thực tế phục
vụ cho đề tài
1.2.3.2 Kết quả khảo sát
a Khảo sát thực trạng nhận thức về câu của GV
Để tìm hiểu nhận thức về câu của GV chúng tôi đã xây dựng phiếu điều tra cho
45 GV trường TH Thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp Sau khi khảo sát chúng tôi xử lí số
liệu và thu được kết quả như sau:
Bảng 1.2 Bảng thống kê nhận thức kiến thức sơ giản về câu của GV
Câu 1 Câu là đơn vị ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp
(bên trong và bên ngoài)
32 71,11 13 28,89
Câu 2 Phân loại câu theo cấu tạo ở TH gồm có: câu
đơn, câu ghép
37 88,22 8 17,78
Câu 3 Mục đích của việc dạy câu lớp 4: cung cấp
cho HS một số kiến thức về cấu tạo câu, dấu
câu, rèn kĩ năng dùng từ đặt câu
45 100 0 0
Qua bảng thống kê trên, ta thấy không phải GV nào cũng nhận thức chính xác
và đầy đủ kiến thức về câu Cụ thể là: Ở câu 1 chỉ có 71,11% GV trả lời đúng, còn lại
Trang 2828,89% GV trả lời chưa chính xác về câu, xem câu là một cấu trúc có CN và VN làmột đơn vị cơ bản của lời nói, của ngôn từ.
Ở câu 2 việc phân loại câu theo cấu tạo có 37/45 GV trả lời đúng chiếm 88,22%,còn lại 8/45 GV chiếm 17,78% cho rằng phân loại câu theo ngữ pháp chức năng có hailoại: câu đơn và câu phức
Ở câu 3 chúng tôi thật sự bất ngờ với kết quả mà GV trả lời, trong trường hợpnày tất cả các GV đều trả lời đúng đạt tỉ lệ 100%, xác định đúng mục đích của việc dạykiến thức sơ giản về câu ở lớp 4
Bên cạnh khảo sát thực trạng nhận thức về câu của GV, chúng tôi tìm hiểu thựctrạng dạy học câu của GV
Ở câu 4, về vấn đề nội dung chương trình mới của phân môn LTVC đối với HSlớp 4, kết quả thể hiện qua bảng thống kê sau:
Bảng 1.3 Bảng thống kê thực trạng chương trình dạy kiến thức sơ giản về câu
Ở câu 5, việc khảo sát ý kiến của GV về những thuận lợi và khó khăn khi dạy
các kiến thức sơ giản về câu trong phân môn LTVC, thu được kết quả như sau:
Bảng 1.4 Bảng thống kê thực trạng dạy kiến thức sơ giản về câu cho HS lớp 4
Trang 29HS có đủ SGK và Sách VBT 5 11,11Nội dung bài học và bài tập phù hợp với trình độ của các em 12 26,67
GV đã nắm vững chương trình kiến thức mới 15 33,33Trường có đầy đủ thiết bị dạy học 5 11,11
Khó khăn:
Qua bảng thống kê ta thấy khó khăn chiếm tỉ lệ nhiều nhất 35,56% trong tổng số16/45 GV họ cho rằng HS không vững các bài trước có liên quan, tiếp đó là HS tiếpthu kiến thức chậm 14/45 GV chiếm 31,11%, có 11/45 GV cho rằng trường không đầy
đủ thiết bị dạy học chiếm 24,44% Khó khăn chiếm tỉ lệ ít nhất chỉ có 4/45 GV chiếm8,89% những GV này cho rằng HS không đủ SGK Khó khăn không chiếm tỉ lệ nào là
GV không nắm vững chương trình, vì những GV này xem mình đã nắm vững kiến thức
để dạy Từ kết quả này cho ta thấy, GV cần phải tự mình làm thêm ĐDDH phục vụ chocông tác giảng dạy theo từng bài cụ thể Hơn nữa, GV cần phải tìm hiểu đổi mớiphương pháp dạy học để đáp ứng yêu cầu giáo dục đề ra
Trang 30Ở câu 6, GV đã chuẩn bị tiết dạy kiến thức sơ giản về câu trong phân môn
LTVC lớp 4 , thể hiện qua bảng thống kê sau:
Bảng 1.5 Bảng thống kê thực trạng chuẩn bị tiết dạy kiến thức sơ giản về câu
Ở câu 7, khi được hỏi về việc hứng thú học và làm các dạng bài tập về các kiểucâu của HS, các GV đã có ý kiến trả lời khác nhau Những ý kiến mà GV trả lời đượcchúng tôi thống kê như sau:
Qua quá trình dạy học về các kiểu câu cho HS, có 22/40 GV cho rằng HS của
mình có hứng thú học và làm các bài tập về kiểu câu Ai làm gì? chiếm 48,89%, kế đó
là dạng bài tập Ai thế nào? có 15/45 GV chiếm 33,33%, còn lại 8/45 GV cho rằng HS
của mình thích làm các dạng bài tập ở các kiểu câu ngoài hai dạng bài tập trên chiếm
Trang 3117,78% Điều này chứng tỏ qua cách truyền đạt kiến thức của GV đến với HS mà làmcho HS có hứng thú học tập Vì vậy, GV phải biết tổ chức các hoạt động dạy học phùhợp với quá trình nhận thức của HS.
Đối với câu 8, khi được hỏi GV thường sử dụng phương pháp nào để dạy cácbài tập kiến thức sơ giản về câu, kết quả chúng tôi nhận được như sau:
Bảng 1.7 Bảng thống kê thực trạng sử dụng phương pháp dạy kiến thức sơ giản
về câu của GV
Phương pháp lí thuyết, thực hành 45 100Nêu và giải quyết vấn đề 45 100
Ở câu 9, khi được hỏi GV các bài tập về các kiểu câu có khó với sự tiếp thu kiếnthức của HS Với câu hỏi này, 100% GV cho rằng các bài tập về các kiểu câu khôngkhó đối với sự tiếp thu của HS Tuy nhiên, những bài tập về các kiểu câu này thườnggây ra sự nhàm chán đối với HS khá giỏi Vì vậy, GV phải đặt ra các yêu cầu bài tập về
Trang 32các kiểu câu ở mức độ cao hơn để cho các em suy nghĩ và tránh sự lười biếng trongquá trình học tập.
Với câu hỏi 10, khi GV trả lời sử dụng những hình thức dạy học khi dạy các bài
tập kiến thức về câu cho HS Kết quả mà chúng tôi nhận được 45/45 GV đồng ý kiếnvới nhau chọn tất cả các hình thức trên đạt tỉ lệ 100% Điều này chứng tỏ, GV xemtrọng việc tổ chức hình thức dạy học phù hợp nội dung bài học cũng như phù hợp vớiđặc điểm tâm lí của HS vì trong một tiết học nếu chỉ đưa vào một hình thức dạy học thì
sẽ không gây hứng thú làm cho tiết học trở nên nhàm chán, nhưng nếu đưa quá nhiềuhình thức mà không biết cách tổ chức sẽ không hoàn thiện một tiết học đúng theo quytrình dạy học hiện nay
Ở câu 11, Thầy (cô) sử dụng thiết bị đồ dùng để dạy HS các bài tập về các kiểucâu để dạy học, được chúng tối thống kê như sau:
Bảng 1.8 Bảng thống kê thực trạng sử dụng đồ dùng dạy kiến thức sơ giản về
Trang 33dụng các thiết bị này vào dạy học chưa cao mặc dù nhiều GV đã được tập huấn soạngiáo án điện tử song việc vận dụng vào dạy găp khó khăn do GV chưa thành thạo vànhà trường chưa có đầy đủ cơ sở vật chất để đáp ứng nhu cầu dạy và học.
Ở câu 12, khi được nghe Thầy (cô) trả lời để tạo hứng thú và tránh sự nhàmchán cho HS khi làm các bài tập kiến thức sơ giản về câu có 45/45 GV đạt tỉ lệ 100%
GV đều tổ chức cho HS thi đua làm các bài tập, tuyên dương HS làm tốt, tổ chức chơitrò chơi để cho các em tiếp thu bài một cách tích cực Điều này cho chúng ta thấy, tất
cả GV quan tâm đến việc học của HS trong lớp mình
Ở câu 13, Thầy (cô) thường hướng dẫn HS làm bài tập kiến thức sơ giản về câuđược thống kê qua bảng sau:
Bảng 1.9 Bảng thống kê thực trạng hướng dẫn HS làm bài tập kiến thức sơ giản
về câu của GV
Cho các em tự suy nghĩ 8 17,78Cho các em thảo luận nhóm 12 26,67Tất cả các hình thức trên 9 20
Từ kết quả trên, GV thường hướng dẫn HS làm bài tập về các kiểu câu là đặtcâu hỏi gợi ý cho các em với tỉ lệ cao nhất 16/45 GV chiếm 35,55%, kế đó là thảo luậnnhóm 12/45 GV chiếm 26,67% Các em tự suy nghĩ chỉ có 8/45 chiếm 17,78%, Còn lại9/45 GV chọn tất cả hình thức trên chiếm 20% Điều đó chứng tỏ, mỗi GV có một cáchriêng để hướng dẫn HS của mình làm bài tập để cho các em hiểu và vận dụng vàoluyện tập thực hành ở các bài tiếp theo
Trang 34Ở câu 14, khi được nghe đánh giá của Thầy (cô) về kĩ năng vận dụng kiến thức
về câu của HS lớp 4, đa số GV cho rằng khoảng 85% HS nắm được các kiểu câu vàbiết vận dụng, còn 15% HS chưa nắm vững các kiểu câu hoặc nắm vững mà không biếtvận dụng Với kết quả này, đa số HS đều nắm vững kiến thức sơ giản về các kiểu câu
và biết cách vận dụng vào trong học tập cũng như trong giao tiếp Bên cạnh đó, có một
số ít HS chưa nắm vững các kiến thức sơ giản về các kiểu câu nên không vận dụngđược Vì vậy trong quá trình dạy học GV cần phải tìm ra những phương pháp để các
em học tốt hơn và giúp cho các em thấy được những kiến thức sơ giản về câu rất quantrọng trong học tập cũng như trong hoạt động giao tiếp hằng ngày
Ở Câu 15, Thầy (cô) đề xuất những biện pháp để dạy tốt các bài tập kiến thức sơgiản về câu lớp 4 như sau:
Nhà trường cần mở các chuyên đề về LTVC để GV có thể học hỏi kinh nghiệmlẫn nhau
Nhà trường cần tạo điều kiện để GV thao tác giảng dạy bằng giáo án điện tử.Hơn nữa, nhà trường và GV cần trang bị thêm ĐDDH như thiết bị, tranh ảnhminh họa,… cho các hoạt động phù hợp với các kiểu câu để việc giảng dạy đạt hiệuquả hơn Bên cạnh đó, khi dạy kiến thức sơ giản về mỗi kiểu câu GV khắc sâu cho HScâu kể dạng đó thường có mấy bộ phận, bộ phận thứ nhất là gì?, trả lời cho câu hỏi gì?,
bộ phận thứ hai tương tự Hơn nữa, các bài học kiến thức sơ giản về các kiểu câu nàyphải liên tiếp để cho HS dễ dàng tiếp thu, so sánh sự giống nhau và khác nhau giữa cáckiểu câu, từ đó các kiến thức sơ giản về câu sẽ được các em tiếp thu sâu sắc và biết vậndụng vào hoạt động giao tiếp
b Khảo sát thực trạng sử dụng câu của HS lớp 4
Khối 4 trường TH Kim Đồng có 7 lớp có trên 320 HS Chúng tôi chỉ tiến hànhkhảo sát ngẫu nhiên 90 HS Khối 4 trường TH Trưng Vương có 4 lớp với 98 HS.Chúng tôi tiến hành khảo sát ngẫu nhiên 60 HS Sau khi khảo sát chúng tôi thu đượckết quả như sau:
Trang 35Với câu hỏi 1, cho HS làm bài tập đặt và trả lời câu hỏi cho bộ phận in đậm dướiđây Chúng tôi lập bảng thống kê như sau:
Bảng 1.10 Bảng thống kê lỗi xác định các kiểu câu trong dạng bài tập
đặt và trả lời câu hỏi
TH Kim Đồng có 7/90 HS làm sai chiếm 7,8%, trường TH Trưng Vương có 13/60 HSlàm sai chiếm 21,6% Điều này chứng tỏ, khả năng đặt và trả lời câu hỏi của các emcòn hạn chế
Ở câu 2, bài tập yêu cầu HS đặt câu, chúng tôi thống kê được kết quả như sau:
Bảng 1.11 Bảng thống kê lỗi đặt câu theo kiểu câu