Những năm qua ngành chăn nuôi, đặc biệt là ngành chăn nuôi bò sữa đã có những tiến bộ vượt bậc nhờ áp dụng thành tựu của công nghệ sinh học như: công nghệ lai tạo giống, công nghệ trồng,
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Từ khi chuyển sang cơ chế thị trường, nền nông nghiệp nói chung và ngành chăn nuôi nói riêng đã có được nhiều thành tựu to lớn: Sản lượng lương thực tăng nhanh và đảm bảo độ an toàn cao, hình thành một số vùng chuyên canh nông nghiệp, cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch một cách đáng kế,
tỷ trọng ngành chăn nuôi trong nông nghiệp ngày một tăng Mô hình sản xuất trang trại đạt hiệu quả kinh tế cao Đã xuất hiện một nền nông nghiệp hàng hoá Các Nghị quyết của Đảng và Nhà nước chỉ ra rằng: phải phấn đấu đưa ngành chăn nuôi thành ngành sản xuất chính trong nông nghiệp Những năm qua ngành chăn nuôi, đặc biệt là ngành chăn nuôi bò sữa đã có những tiến bộ vượt bậc nhờ áp dụng thành tựu của công nghệ sinh học như: công nghệ lai tạo giống, công nghệ trồng, chế biến bảo quản thức ăn gia súc áp dụng kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến, kỹ thuật bảo quản và chế biến sản phẩm chăn nuôi đây là một điều kiện thuận lợi để ngành chăn nuôi bò sữa phát triển Ngoài ra, sữa là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, rất cần thiết cho con người đặc biệt là đối với trẻ con, người già, người bệnh và người lao động nặng nhọc Ở các nước phát triển mức tiêu thụ sữa rất cao (bình quân 250 lít/ người/ năm) và ngay cả các nước Đông Nam Á như Malaysia, Indonexia, Philipin, Thái Lan cũng đạt mức tiêu thụ bình quân đầu người từ 20- 30 lít/ năm Trong khi đó ở nước ta do kinh tế chậm phát triển, đời sống còn nhiều khó khăn nên tình trạng thiếu dinh dưỡng ở mọi lứa tuổi là khá phổ biến và trầm trọng
Thanh Hoá là tỉnh có dân số đông do đó nhu cầu tiêu thụ sữa và các sản phẩm của sữa là rất lớn Trong tương lai sẽ là thành phố công nghiệp, trung tâm thương mại lớn của cả nước mà nó là điểm hội tụ của các khách du lịch Trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội cần quan tâm đến chương trình chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa, hiện nay nước ta gần 80% kà nguồn sữa bột nhập từ nước ngoài, chỉ khoảng 20% là nguồn nguyên liệu sữa trong nước
Trang 2Hàng năm, Nhà nước đã phải chi hàng chục triệu đô la để nhập sữa bột, dầu, bơ cho nhà máy chế biến sữa.
Trong khi đó Thanh Hoá cũng mới xây dựng nhà máy chế biến sữa tươi với công suất 12.000 tấn/ năm Chính vì vậy, đã hình thành ngành chế biến sữa của công ty Đây là ngành chăn nuôi có quy mô lớn, do vậy cần hình thành vùng chuyên môn hoá như giống, sản xuất thức ăn sơ chế và chế biến sữa ra các sản phẩm tiêu thụ ngoài thị trường như sữa hộp, sữa tười tiệt trùng, thanh trùng, sữa chua, bơ, cà phê sữa, hộp bánh kẹo sữa Chăn nuôi bò sữa là một ngành "ích nước- lợi nhà" vừa cải thiện, ổn định đời sống nhân dân vừa góp phần làm giảm lượng ngoại tệ mà Nhà nước ta hàng năm phải chi ra hàng chục đô la để nhập sữa bột Tuy vậy, những vấn đề nảy sinh trong quá trình sản xuất hàng hoá như: cạnh tranh, chất lượng và giá thành sản phẩm sữa, vấn
đề về tổ chức khâu thu mua, chế biến tiêu thụ sản phẩm sữa, vấn đề về chính sách giá cả như thế nào để đảm bảo hài hoà lợi Ých của người chăn nuôi bò sữa với người tiêu thụ Do vậy cần đưa ngành chăn nuôi bò sữa là ngành sản xuất có hiệu quả, cần tăng cả số lượng đàn bò sữa và quy mô đần bò Vậy cần
có "Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển chăn nuôi bò sữa của công ty TNHH Lam Sơn- Sao Vàng" là rất cần thiết.
Đối tượng nghiên cứu sự phát triển đàn bò sữa, sản lượng sữa của công
ty TNHH Lam Sơn- Sao Vàng
Phạm vi nghiên cứu chăn nuôi bò sữa của công ty TNHH Lam Sơn - Sao Vàng
Chuyên đề được hoàn thành trên cơ sở vận dụng nhiều phương pháp: phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp so sánh, phương pháp lôgic, phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp và tham khảo một số tài liệu khác có liên quan
Chuyên đề bao gồm các nội dung chính sau:
Chương I: Cơ sở lý luận về phát triển chăn nuôi chăn bò sữa.
Trang 3Chương II: Thực trạng phát triển chăn nuôi bò sữa ở công ty TNHH Lam Sơn- Sao Vàng.
Chương III: Một số biện pháp đẩy mạnh phát triển chăn nuôi bò sữa của công ty TNHH Lam Sơn - Sao Vàng.
Trang 4CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI
BÒ SỮA
I Ý nghĩa kinh tế của ngành chăn nuôi và chăn nuôi bò sữa
1 Ý nghĩa kinh tế của ngành chăn nuôi
Chăn nuôi và trồng trọt là hai ngành sản xuất chính của nông nghiệp Chăn nuôi có vị trí rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, vì chăn nuôi là ngành cung cấp những thực phẩm quý có nhiều chất dinh dưỡng như thịt, trứng, sữa để nâng cao sức khoẻ của nhân dân Chăn nuôi là ngành cung cấp nhiều phân hữu cơ và sức kéo cho trồng trọt, cung cấp những nguyên liệu như
da, lông, sừng, móng, xương cho công nghiệp; cung cấp nhiều nông sản cho xuất khẩu Chăn nuôi là ngành kinh doanh mang lại nhiều lãi, vì có nhiều điều kiện để tăng năng suất lao động và sử dụng hợp lý các loại đất đai Nó còn có tác dụng chuyển hoá những sản phẩm nông nghiệp Ýt có giá trị, những phụ phẩm, phế phẩm thành những sản phẩm có giá trị cao như thịt, trứng, sữa Với những ý nghĩa trên thì ngành chăn nuôi có một số vai trò chủ yếu sau:
1.1 Ngành chăn nuôi cung cấp nhiều thực phẩm quý, có thành phần dinh dưỡng cao cho nhu cầu của con người
Ngành chăn nuôi là ngành sản xuất ra sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao (như thịt, trứng, sữa ) trong khi đó 30% năng lượng và 60% lượng đạm của con người chủ yếu là thu được từ sản phẩm của ngành chăn nuôi, do đó việc tiêu thụ ngày càng nhiều sản phẩm chăn nuôi cho nhu cầu đời sống của con người là một trong những dấu hiệu quan trọng biểu hiện sự tiến bộ trong việc cải thiện sinh hoạt, nâng cao mức sống của nhân dân, tăng cường sức khoẻ đáp ứng mọi nhu cầu của sự nghiệp xây dựng đất nước
Ở nước ta nói chung và đặc biệt là tỉnh Thanh Hoá, cùng với xu hướng phát triển của sản xuất, ngành chăn nuôi cũng không ngừng phát triển, làm tăng khả năng đáp ứng nhu cầu của thị trường, điều này được thể hiện trong
cơ cấu bữa ăn: thịt, cá, trứng, sữa sẽ được chiếm nhiều hơn gạo
1.2 Chăn nuôi và trồng trọt có mối quan hệ mật thiết với nhau
Trang 5Sự gắn bó của hai ngành này là do sự chế ước bởi quy trình công nghệ, những vấn đề kinh tế- kỹ thuật và tổ chức sản xuất quyết định Ngành chăn nuôi cung cấp phân bón và sức kéo cho ngành trồng trọt, làm tăng độ phì nhiêu của đất, đáp ứng nhu cầu thâm canh trong trồng trọt Trước hết, là dựa vào việc cung cấp ngày càng nhiều phân bón, trong đó chủ yếu là phân chuồng thu được từ ngành chăn nuôi Phân chuồng không những có khả năng cung cấp cho cây trồng tương đối đầy đủ những yếu tố dinh dưỡng cần thiết
mà còn có tác dụng rất tốt trong việc cải tạo đất đai Điều này cũng phù hợp với mô hình nền nông nghiệp sinh thái bền vững trong tương lai Sức kéo của đại gia súc đóng góp rất tích cực trong các công việc làm đất, chăm sóc cây trồng kịp thời vụ, vận tải hàng hoá Đặc biệt trong nền nông nghiệp cơ giới hoá thấp, sản xuất còn tiến hành chủ yếu bằng công cụ thủ công thì sức kéo đại gia súc là vô cùng quan trọng Tuy nhiên, trong những năm gần đây, cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật công nghệ thì nước ta nói chung và Thanh Hoá nói riêng sức kéo của trâu, bò có tầm quan trọng không lớn so với các địa phương khác
1.3 Chăn nuôi còn là ngành cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp nh: dệt, da, len, dạ và nhiều ngành công nghiệp khác Do đó, phát
triển chăn nuôi không những đảm bảo cân đối trong nội bộ ngành nông nghiệp mà còn thúc đẩy mạnh mẽ nhiều ngành công nghiệp khác Đối với công nghiệp chế biến, chăn nuôi giữ vai trò tồn tại của các xí nghiệp, các nhà máy chế biến sản phẩm của ngành chăn nuôi vì nó cung cấp nguyên liệu cho ngành chăn nuôi Trước hết chăn nuôi được coi là ngành phụ, ngành tận dụng của trồng trọt thì vai trò của công nghiệp chế biến còn bị lu mờ, nhưng chăn nuôi được coi là ngành sản xuất chính trong nông nghiệp thì vai trò của công nghiệp chế biến là vô cùng quan trọng
1.4 Ngành chăn nuôi phát triển sẽ cung cấp nhiều sản phẩm cho xuất khẩu phù hợp với yêu cầu của nhiều nước trên thế giới
Trang 6Vai trò cả ngành chăn nuôi cũng được nâng lên một bước khi dạng sản phẩm xuất khẩu thay đổi từ sản phẩm thô sang sản phẩm đã qua chế biến, giúp cho ngành đã có khả năng thâm nhập vào những thị trường khó tính như
EU, Mỹ, Nhật Bản Việc xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi nói riêng, hàng hoá nói chung còn tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế, ngoại giao với các nước nhằm trao đổi các trang thiết bị khi phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
1.5 Chăn nuôi là một ngành kinh doanh có thể thu nhiều lãi, vì nó là
điều kiện để tăng năng suất cao (nhất là việc cơ giới hoá các quy trình sản xuất) và sử dụng hợp lý các loại đất đai, tận dụng triệt để các loại phế phẩm của ngành trồng trọt và chế biến nông sản là những sản phẩm có giá trị dinh dưỡng thấp tổng hợp thành các loại thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao thông qua chế biến cung cấp cho gia súc Đây cũng là một trong các yếu tố để làm cho giá thành sản phẩm chăn nuôi gia súc hạ, sẽ có khả năng phát triển nhanh chóng và rộng rãi tạo điều kiện thuận lợi cho việc tăng thu nhập, tích luỹ và cải thiện đời sống Ngoài ra, chăn nuôi là ngành cung cấp những sản phẩm vô hình nhưng mang lại tính nhân văn như: chọi trâu, chọi gà, chim cảnh hay những động vật góp phần quan trọng trong bảo vệ mùa màng như chó, mèo
Với vai trò như vậy, ngành chăn nuôi nó chung, chăn nuôi bò nói riêng
có vị trí hết sức quan trọng trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp và trong đời sống xã hội, phát triển chăn nuôi và phối hợp đúng đắn với ngành trồng trọt là cơ sở để phát triển nông thôn toàn diện và bền vững trên cơ sở sử dụng đầy đủ, hợp lý ruộng đất, sức lao động và cả tư liệu sản xuất khác Việc phát triển ngành chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá gắn với thị trường và công nghiệp chế biến là rất cần thiết cho nền kinh tế quốc dân Là cơ sở khoa học của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi
2 Ý nghĩa của chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam và Thanh Hoá
Trang 7Chăn nuôi là một ngành trong hai ngành sản xuất chủ yế của nông nghiệp Sản phẩm chính của chăn nuôi không những đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của con người mà còn là nguồn nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp chế biến và là nguồn hàng xuất khẩu quan trọng cho mỗi quốc gia Theo quan niệm hiện đại, vai trò ngành chăn nuôi được đánh giá bởi bị thế của nó trong việc biến đổi cơ cấu kinh tế quốc dân nói chung và cơ cấu nông nghiệp nói riêng.
Chăn nuôi bò sữa là ngành sản xuất quan trọng của hầu hết các nước nông nghiệp trên thế giới Sữa bò là một trong những thực phẩm cao cấp có giá trị dinh dưỡng cao và tương đối hoàn chỉnh, dễ tiêu hoá, nó có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường thể lực và cải tạo nòi giống đặc biệt là đối với những nước kinh tế đang phát triển như Việt Nam, nơi có tỷ lệ suy dinh dưỡng trên 10% (năm 1997) Vì vậy, phát triển chăn nuôi bò sữa đang rất được quan tâm thông qua chương trình chống suy dinh dưỡng trẻ em của Chính phủ Chăn nuôi bò sữa là ngành sản xuất hàng hoá và là ngành có giá trị kinh tế cao, đặc biệt với những nước có tiềm năng về đồng cỏ và nguồn lao động lớn
Đối với Việt Nam, chăn nuôi bò sữa phát triển góp phần quan trọng vào vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động và thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo xu hướng ngày càng có hiệu quả
Xuất phát từ thực tế đó, việc phát triển chăn nuôi bò sữa đang trở thành vấn
đề cấp bách trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của Việt Nam Quan điểm định hướng chủ yếu là: "Nuôi bò nhằm mục đích chính là cung cấp thịt, sữa và một phần sức kéo Ngoài hướng dùng phương thức chăn nuôi bò sữa lai, cung cấp sữa tươi tại chỗ ở các địa bàn hiện nay, đặc biệt là Thanh Hoá,
Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, cần thông qua việc lai tạo, chọn lọc, mở rộng diện tích khai thác bò lai sind lấy sữa, nhằm tăng khả năng cung cấp sữa
ở các địa bàn trong chương trình sind hoá."
Trang 8Thanh Hoá cũng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội của cả nước và cũng là một thành phố lớn của đất nước, nhu cầu về sữa đặc biệt là sữa tươi tăng nhanh Trong tương lai, cùng với sự tăng trưởng về kinh tế, sự hình thành thói quen dùng sữa trong bữa ăn hàng ngày của nhân dân với tốc
độ tăng dân số cũng như tăng lượng khách du lịch tới Thanh Hoá (có khu du lịch bãi biển Sầm Sơn là một trong những khu du lịch lớn của cả nước ) Trong tương lai, cùng với sự tăng trưởng về kinh tế, sự hình thành thói quen dùng sữa trong bữa ăn hàng ngày cảu nhân dân và với tốc độ tăng dân số cũng như lượng khách du lịch tới Thanh Hoá, nhu cầu về sữa và các sản phẩm từ sữa sẽ phải tăng rất nhiều so với hiện tại Chính vì vậy, việc phát triển chăn nuôi bò sữa ở Thanh Hoá là yêu cầu cấp thiết trong những năm tới
Bên cạnh đó, tình trạng thất nghiệp và bán thất nghiệp ở Thanh Hoá đang là mối quan tâm, lo ngại của các cấp, các ngành trong thành phố Vấn đề này đã được Nghị quyết Đại hội VII của Đảng đề cập tới trong chiến lược phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của Việt Nam "phấn đấu mỗi năm thu hút thêm 1,3- 1,4 triệu lao động có việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị xuống dưới 5% và nâng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn lên 75% Thực tế, cơ cấu kinh tế của Thanh Hoá trong những năm qua còn chưa hợp lý, vì vậy phát triển chăn nuôi bò sữa còn góp phần quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp cũng như kinh tế nông thôn theo hướng ngày càng hiệu quả hơn
Ngoài ra ở nước ta đã có các nhà máy sữa như Vinamilk, ông Thọ Đặc biệt là Thanh Hoá có nhà máy đường Lam Sơn và đang xây dựng nhà máy chế biến sữa tại khu công nghiệp Lễ Môn với công suất là 12.000 tấn/ năm để thu gom toàn bộ lượng sữa tươi sản xuất ra của tỉnh và các vùng lân cận Phát triển chăn nuôi bò sảu sẽ góp phần đáp ứng nguyên liệu tại chỗ giảm ngoại tệ để nhập khẩu sữa bột, bơ cũng góp phần giảm chi phí sản xuất sữa cho nhà máy, giảm giá thành sản phẩm
Trang 9Vậy phát triển chăn nuôi bò sữa ở Thanh Hoá là vấn đề có ý nghía thiết thực trước hết là nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về sữa tươi và các sản phẩm từ sữa cho nhân dân và khách du lịch Bên cạnh đó, nó còn là giải pháp quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn từ đó góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế của tỉnh Phát triển chăn nuôi không những góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu nhập cho gia đình cà xã hội nâng cao mức sống của nhân dân mà còn là ngành sản xuất hàng hoá tạo nguồn nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp chế biến sữa còn non trẻ mới hình thành ở thành phố Thanh Hoá hạn chế việc sử dụng ngoại tệ vào việc nhập sữa bột, bơ, góp phần giảm chi phí sản xuất, chế biến sữa.
II Đặc điểm phát triển của ngành chăn nuôi bò sữa
1 Đặc điểm kinh tế- kỹ thuật của ngành chăn nuôi
1.1 Đối tượng tác động của ngành chăn nuôi là các cơ thể sống động vật Để tồn tại, các đối tượng này luôn luôn cần đến một lượng thức ăn tối
thiểu cần thiết thường xuyên Do đó, bên cạnh việc đầu tư cơ bản cho đàn vật nuôi phải đồng thời tính toán phần đầu tư thường xuyên về thức ăn để duy trì
và phát triển đàn vật nuôi này Nếu cơ cấu đầu tư giữa hai phần trên không cân đối thì tất yếu sẽ dẫn đến dư thừa lãng phí hoặc sẽ làm chậm sự phát triển, thậm chí phá huỷ cả đàn vật nuôi Đồng thời phải đánh giá chu kỳ sản xuất và đầu tư cho chăn nuôi một cách hợp lý sản phẩm tạo ra, giữa chi phí đầu tư xây dựng cơ bản và giá trị đào thải để lựa chọ thời điểm đào thải, lựa chọn phương thức đầu tư mới hay duy trì tái tạo phục hồi
1.2 Chăn nuôi có thể phát triển tĩnh tại tập trung mang tính chất nh sản xuất công nghiệp hoặc di động phân tán mang tính chất nh sản xuất nông nghiệp.
1.3 Chăn nuôi là ngành sản xuất đồng thời cho nhiều sản phẩm Do
vậy, tuỳ theo mục đích sản xuất để quyết định là sản phẩm chính hay sản phẩm phụ và lựa chọ phương hướng đầu tư
Trang 102 Đặc điểm kinh tế- kỹ thuật của ngành chăn nuôi bò sữa
2.1 Bò sữa là một loại động vật có hệ thần kinh cao cấp, được con
người thuần hoá, chăm sóc, nuôi dưỡng lai tạo theo hướng cho sữa từ nghìn năm nay, nó chịu tác động của nhiều yếu tố sinh thái môi trường Sự tạo sữa không phải là quá trình tích luỹ vật chất giản đơn mà là quá trình sinh lý phức tạp diễn ra trong tế bào tuyến sữa được tổng hợp từ các nguyên liệu trong máu Theo các nhà khoa học thì để sản xuất ra 1 lít sữa bình quân phải có 540 lít máu chảy qua tuyến vú Bò sữa được hình thành từ các vùng sinh thái khác nhau: từ vùng lạnh lẽo ở Bắc Âu đến các vùng nhiệt đới Èm ở Châu Phi, Nam
Mỹ và Châu Á Tuy nhiên các vùng sinh thái khác nhau này đã hình thành các giống khác nhau: các giống bò sữa cao sản chủ yếu được tạo thành ở xứ lạnh còn các giống bò cho năng suất sữa thấp chịu được nóng, Èm và điều kiện kham khổ hình thành ở xứ nóng Các yếu tố chủ yếu của sinh thái môi trường
có tác động rõ rệt đến bò sữa đó là: nhiệt độ, độ Èm, nguồn nước, đồng cỏ, thức ăn, điều kiện vệ sinh, chăm sóc Thực tế chăn nuôi bò sữa ở nước ta đã chứng minh đặc điểm này đó là 1960 ta đã nhập 170 bò sữa lang trắng đen Bắc Kinh (nguồn gốc Hà Lan) đem về nuôi ở Ba Vì thì do điều kiện sinh thái không phù hợp nên sinh trưởng phát triển rất kém, khả năng cho sữa giảm hẳn Từ đặc điểm này đòi hỏi trong quy hoạch phát triển chăn nuôi bò sữa cần phải nghiên cứu điều tra, khảo sát kỹ lưỡng các yếu tố sinh thái môi trường và đối chiếu với đặc điểm của từng loại giống đến xác định cơ cấu giống hợp lý cho vùng chăn nuôi khác nhau ở nước ta
2.2 Bò sữa là một loại tài sản đặc biệt có giá trị cao
Trong sản xuất chăn nuôi bò sữa thì bò vắt sữa được xác định đó là một loại tài sản cố định đặc biệt, có giá trị cao Muốn có được một con bò cái vắt sữa cần phải trải qua các giai đoạn nuôi dưỡng chăm sóc bê cái, tuyển chon bê
tơ, lỡ hoặc là phải có vốn lớn để mua bò cái sinh sản Để thu hồi vốn đòi hỏi phải qua một thời gian nhất định, trung bình từ 8- 10 năm
Trang 112.3 Đặc điểm về quy luật cho sữa
Tất cả giống bò đều có một quy luật chung:
- Bò cái sau khi đẻ thì bắt đầu cho sữa và tăng dần đến tháng thứ 2 hoặc tháng thứ 3 thì sản lượng sữa cao nhất, sau đó giảm dần đều từ tháng thứ 10 thì cạn sữa Như vâyu, một chu kỳ vắt sữa khoảng 30 ngày (1 tháng) và thời gian cạn sữa khoảng 60 ngày (hơn 2 tháng) Sau khi đẻ được 3- 4 tháng, bò cái động dục trở lại, nếu cho phối giống kịp thời thì khoảng hơn 9 tháng sau
bò lại để lứa tiếp theo khoảng cách giữa 2 lứa đẻ từ 13- 14 tháng Bò sữa có một đặc điểm đặc biệt là vừa mang thai vừa cho sữa Sản lượng sữa trong mét chu kỳ vắt sữa lại phụ thuộc vào tuổi của bò sữa
- Quy luật chung là ở chu kỳ vắt sữa thứ 2 hoặc tháng thứ 3 thì sản lượng sữa đạt cao nhất sau đó giảm dần Trong điều kiện sinh trưởng phát dục
và nuôi dưỡng bình thường một bò cái vắt sữa từ 8- 10 năm (6- 8 chu kỳ vắt sữa)
2.4 Sản phẩm chính của bò sữa là sữa tươi
Sữa tươi là một loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao nhưng rất dễ
bị hư hỏng nếu không được bảo quản, chế biến kịp thời Trong sữa tươi có đủ các chất dinh dưỡng quan trọng đối với sự phát triển của cơ thể con người Từ sữa tươi, tuỳ theo nhu cầu tiêu dùng của các nước, các vùng khác nhau mà người ta chế biến ra nhiều loại sản phẩm khác nhau (có khoảng 500 loại mặt hàng thực phẩm từ sữa) phổ biến nhất: sữa bột, sữa hộp cô đặc có đường, sữa bánh, sữa chua, bơ, fomat tươi, fomat cứng, sữa tươi tuyệt trùng thanh trùng, cazein các chất protein trong sữa rất dễ tiêu lại có hầu hết các loại axit amin không thay thế Trong sữa còn đầy đủ các chất khoáng và các nguyên tố vi lượng nh canxi, phốt pho, lưu huỳnh, sắt, cô ban Các kết quả nghiên cứu cho thấy "trong sữa tươi có tới gần 10 chất khác nhau trong đó có đạm, mỡ, đường, vitamin, muối khoáng, men Sữa có 20 loại axit amin, 18 loại axit
Trang 12béo, 25 loại muối khoáng, 12 loại vitamin, 10 loại men, 4 loại đường và một
số nguyên tố vi lượng khác " Sữa tươi giàu chất dinh dưỡng như vậy nhưng lại rất dễ bị hư hỏng vì vậy trong chăn nuôi bò sữa vấn đề đặt ra là vắt sữa và chế biến cần phải có công nghệ phù hợp, bảo quản và vận chuyển phải được đặc biệt chú ý Kết quả thí nghiệm về bảo quản sữa cho thấy: Sữa tươi khi mới vắt sữa ra thường có độ chua khoảng 16- 170T (độ tencne) Nhưng nếu không được bảo quản thì với nhiệt độ không khí 30- 350C nó rất nhanh chóng
bị chua và bị hư hỏng Độ chua của sữa sau thời gian bảo quản khác nhau, các loại vi sinh vật (vi trùng, men, mốc) có thể xâm nhập váo sữa thông qua: dụng
cụ, thiết bị, thức ăn, tay chân quần áo của người vắt sữa và vú của bò sữa Vì thế mà trong quá trình kỹ thuật vắt sữa bò bắt buộc phải đảm bảo các khâu vệ sinh cá nhân người vắt sữa, chuồng bò, vú bò trước khi vắt sữa và các dụng cụ chứa sữa, thiết bị chế biến sữa Việc vận chuyển sữa là hết sữa quan trọng, nếu từ nơi chăn nuôi bò đến các cơ sở chế biến quá xa hoặc phương tiện, điều kiện giao thông không thuận lợi thì việc chăn nuôi bò sữa sẽ không có hiệu quả hoặc sẽ không thể phát triển được Ví dụ điều kiện khí hậu, đất đai, đồng
cỏ thuận lợi nhưng xa nơi tiêu thụ cần có thị trường tiêu thụ sữa rộng lớn sát với khu vực sản xuất điều kiện phương tiện giao thông cho việc thu mua vận chuyển bảo quản sữa, cung ứng thức ăn và chuyển giao kỹ thuật
2.5 Chăn nuôi bò sữa là ngành kinh tế sản xuất hàng hoá
Trong sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm dùng để bán gọi là sản phẩm hàng hoá, còn việc sản xuất ra toàn bộ sản phẩm để bán ngay gọi là sản phẩm hàng hoá Sản xuất hàng hoá là một thuộc tính phổ biến của sự phát triển sản xuất nói chung, sản xuất nông nghiệp nói riêng Sản xuất hàng hoá không phải chỉ là một hiện tượng kết hợp tạm thời bên ngoài hặc nó không chỉ là chủ nghĩa tư bản mà cần khẳng đinh dứt khoát nó là một yếu tố khách quan, nó trở thành thuộc tính bên trong, lâu dài của chính bản thân sự phát triển của nền sản xuất nông nghiệp theo định hướng XHCN Theo quan điểm trên thì chăn nuôi bò sữa là một ngành kinh tế sản xuất hàng hoá Bởi vì sản phẩm của nó
Trang 13là sữa tươi và thông qua chế biến các sản phẩm của sữa được tiêu thụ rộng khắp trên thị trường trong và ngoài nước.
Đã là một ngành kinh tế sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước như hiện nay thì tất yếu thị trường và giá cả có tác động trực tiếp quyết định đến ngành sản xuất này Chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa rất cần có thị trường và giá cả ổn định Bởi vì sản phẩm của nó không phải là sản phẩm tự cung, tự cấp mà phải được tiêu thụ trên thị trường với giá cả đảm bảo đủ chi phí sản xuất và tái sản xuất mở rộng Bò sữa là một loại tài sản cố định có giá trị cần có vốn đầu tư ban đầu lớn và được thu hồi trong cả một chu kỳ sản xuất dài từ 8- 10 năm Các nhà máy chế biến cũng cần phải có vốn đầu tư lớn để đầu tư xây dựng lắp đặt các thiết bị hiện đại và việc thu hồi toàn bộ số vốn đầu tư này đòi hỏi phải có một thời gian dài Do
đó sản phẩm của ngành chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa cần có thị trường tiêu thụ và giá cả ổn định
2.6 Bò sữa là loại động vật có khả năng chuyển hoá thức ăn có giá trị dinh dưỡng thấp thành sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao Yếu tố đầu vào
của bò sữa là cây cỏ, cây ngô, rơm, các loại sản phẩm phụ của ngành trồng trọt, sau một quá trình chuyển hoá cho ra sản phẩm sữa có giá trị dinh dưỡng cao Chính vì vậy tăng cường khả năng tận dụng các phụ phế phẩm trên cũng chính là tăng hiệu quả của ngành chăn nuôi bò sữa
Tóm lại, chăn nuôi bò sữa là ngành có nhiều thuận lợi song cũng là ngành có độ rủi ro cao Những khó khăn trước mắt là chưa có kinh nghiệm cũng như còn Ýt hiểu biết về kỹ thuật chăn nuôi bò sữa nên chưa khai thác được mặt thuận lợi cũng như khắc phục những bất thuận của các đặc điểm trên Thực tế đó đã ảnh hưởng đến việc lựa chọn con giống cũng như đầu tư trang thiết bị cho nó Ngoài ra, việc tiêu thụ sản phẩm cũng là một vấn đề khó khăn đối với các hộ do thiếu những dụng cụ chuyên dùng để đựng sữa khi tiêu thụ mà khoảng cách từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ lại khá xa, điều này cũng
đã ảnh hưởng không Ýt đến chất lượng sữa Do đó, cần phát triển chăn nuôi
Trang 14bò sữa theo quy mô tập trung để có thể tiêu thụ sữa dễ dàng hơn Như vậy, để phát triển chăn nuôi bò sữa, ngoài việc nắm vững các đặc điểm của ngành để tìm tòi vận dụng, khống chế sao cho ngành đạt hiệu quả cao nhất thì việc làm tốt công tác bản quản rủi ro và có chính sách hỗ trợ giúp cho người chăn nuôi cũng là động lực quan trọng cho sự phát triển của ngành.
III Các hình thức phát triển chăn nôi bò sữa
1 Chăn nuôi theo phương thức tự nhiên (phương thức chăn thả) là
phương thức phát triển chăn nuôi xuất hiện sớm nhất trong lịch sử phát triển
xã hội loài người, cơ sở thực hiện của phương thức này là dựa vào các nguồn thức ăn tự nhiên, người ta chủ yếu sử dụng các giống vật nuôi địa phương, địa bản vốn dĩ đã thích nghi với môi trường sống, điều kiện thức ăn và phương thức kiếm ăn Phương thức này cũng chỉ tồn tại được trong điều kiện các nguồn thức ăn tự nhiên còn phong phú, dồi dào, sẵn có, mức độ tác động khai phá của con người còn Ýt Phương thức chăn nuôi này thường yêu cầu mức đầu tư thấp, chất lượng sản phẩm thường mang đặc tính tự nhiên nên cũng rất được ưa chuộng Tuy nhiên phương thức này còn có rất nhiều hạn chế đối với nhu cầu tiêu dùng cao nh hiện nay, nó không đáp ứng được chất lượng cũng
nh số lượng về thịt, sữa cho con người Do đó phương thức này dần dần không còn phù hợp Bò sữa là loài động vật thường xuyên phải theo dõi, chăm sóc, vệ sinh thì mới có thể cho năng suất sữa cao cho nên phương thức chăn thả ngày càng bộc lộ nhiều hạn chế
Việt Nam là nước có ngành chăn nuôi bò sữa phát triển khá sớm trong khu vực, song so với các nước Châu Âu thì ngành này vẫn còn khá mới mẻ Trước đây, phương thác chăn nuôi cũng chủ yếu dưới dạng chăn thả và quy
mô nhỏ, chủ yếu là giống bò vàng Cơ sở vật chất kỹ thuật nh chuồng trại, thức ăn, các dịch vụ hỗ trợ khác không được trang bị tốt do đó chăn nuôi năng suất thấp Cùng với sự tăng dân số, diện tích đất được ưu tiên cho phát triển các loại cây trồng cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người, do vậy diện tích đất chăn thả hẹp lại và chủ yếu là đất xấu, nguồn nước Ýt, số
Trang 15lượng và chất lượng cỏ thấp dẫn đến số lượng và chất lượng đàn bò giảm Các nguồn thức ăn phụ phẩm chưa được sử dụng để nuôi bò, các loại thức ăn khác như dây lang, dây lạc chỉ sử dụng khi còn tươi, do đó nguồn thức ăn đã Ýt lại kém chất dinh dưỡng, do người dân chưa có ý thức trồng cây thức ăn để nuôi
bò Với phương thức chăn nuôi quảng canh, tận dụng và kỹ thuật lạc hậu làm giảm sức sản xuất của bò Với phương thức chăn thả thì nhân dân chưa có ý thức nhận khoán trong việc phát triển chăn nuôi bò sữa, vì vậy công tác thú y chưa được đảm bảo bò sữa rất dễ bị mắc bệnh, làm giảm khả năng sống của
bò Tuy nhiên, tập quán chăn thả này dần dần thay thế bởi phương thức chăn nuôi theo kiểu công nghiệp
2 Chăn nuôi theo phương thức chăn nuôi công nghiệp
Đây là phương thức chăn nuôi hoàn toàn đối lập với chăn nuôi theo phương thức tự nhiên Phương châm cơ bản của chăn nuôi công nghiệp là tăng tối đa khả nang tiếp nhận thức ăn, giảm thiểu quá trình vận động để tiết kiệm hao phí năng lượng nhằm rút ngăn thời gian tích luỹ năng lượng, tăng khối lượng và năng suất sản phẩm
Địa bàn chăn nuôi công nghiệp tĩnh tại bằng cách nhốt suc vật chăn nuôi trong chuồng trại, với quy mô nhỏ nhất có thể được để tăng số đầu con trên một đơn vị diện tích chuồng trại và giảm tối thiểu vận động của vật nuôi
để tiết kiệm tiêu hao năng lượng Thức ăn cho chăn nuôi công nghiệp là thức
ăn chế biến sẵn theo phương thức công nghiệp có sử dụng các kích thích tố sinh trưởng để vật nuôi có thể cho năng suất sản phẩm cao và ổn định Tuy nhiên, chất lượng sản phẩm chăn nuôi công nghiệp thường khác xa nhiều so với các sản phẩm chăn nuôi tự nhiên kể cả về giá trị dinh dưỡng, hương vị và tính chất vệ sinh an toàn thực phẩm Tuy nhiên, chăn nuôi công nghiệp vẫn là một phương thức chăn nuôi đang được cả thế giới chấp nhận và phát triển vì
nó tạo ra một sự thay đổi vượt bậc về năng suất và sản lượng sản phẩm chăn nuôi cho xã hội
Trang 16Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thu nhập và đời sống của người dân ngày càng được nâng cao, tập quán chăn thả không đáp ứng được nhu cầu tiêu dụng, phương thức chăn nuôi theo kiểu công nghiệp ra đời, gia súc nuôi nhốt trong chuồng trại rất phù hợp với cuộc sống đô thị hoá, bãi chăn thả bị thu hẹp, mà gia súc lại cho năng suất chất lượng cao; riêng bò sữa như đã biết
là động vật rất mẫn cảm với thời tiết, bệnh tật đã được chăm sóc đầy đủ, do
đó đáp ứng được lượng sữa tiêu thụ trên thế giới, phương thức này càng được
áp dụng rộng rãi
Với việc được trang bị kiến thức kỹ thuật, người dân đã quan tâm đến
cơ sở vật chất, chuồng trại, thức ăn được chú trọng, công tác giống được đẩy mạnh, tận dụng tốt các loại phụ phẩm như rơm, lá dây lang, dây lạc, thân cây ngô qua chế biến để có thể đáp ứng nhu cầu thức ăn cho bò lúc trái vụ
Giống thức ăn cũng được quan tâm với việc hướng dẫn người dân trồng các loại cỏ phù hợp với khẩu phần ăn của bò, người chăn nuôi biết tận dụng nguồn lực đất đai để trồng cây thức ăn nuôi bò Chuồng trại được xây dựng đúng kỹ thuật hợp vệ sinh và công tác thú y được chú trọng Nhà nước có nhiều chính sáh hỗ trợ người dân về vốn, giá sữa, hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi, tổ chức thu mua sữa và tiêu thụ sản phẩm tại chỗ nên tạo sự yên tâm cho người dân khi tập trung phát triển chăn nuôi bò sữa theo kiểu công nghiệp làm ngành sản xuất chính và thu nhập chính của họ Hướng dẫn người dân phát triển chăn nuôi bò sữa theo phương thức công nghiẹp là một chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
3 Phương thức chăn nuôi sinh thái
Là phương thức chăn nuôi tiên tiến nhất nó kế thừa được cả những ưu điểm của 2 phương thức chăn nuôi tự nhiên và công nghiệp đồng thời cũng hạn chế, khắc phục được các mặt yếu kém và tồn tại của 2 phương thức trên Chăn nuôi sinh thái tạo điều kiện và ngoại cảnh để vật nuôi được phát triển trong môi trường tự nhiên trên cơ sở các nguồn thức ăn, dinh dưỡng mang
Trang 17tính chất tự nhiên nhưng do con người chủ động hình thành nên luôn luôn đảm bảo tính cân đối và đầy đủ chất dinh dưỡng.
Để đạt được điều đó, chăn nuôi sinh thái phải dựa trên điều kiện của sự phát triển cao của khoa học, kỹ thuật, nhất là các thành tựu trong công nghệ sinh học về tạo giống, tạo tập đoàn thức ăn sinh học và môi trường sinh thái Phương thức chăn nuôi sinh thái đang được thịnh hành phát triển ở các nước
đã phát triển và cung cấp sản phẩm cho khu vực tiêu dùng đòi hỏi sản phẩm chất lượng cao
Phát triển chăn nuôi bò sữa phải là sự phát triển bền vững Trong thời gian qua, chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam nói chung gặp nhiều khó khăn phát triển không ổn định trong khi ngành chế biến sữa phải nhập ngoại trên 90% nguyên liệu sữa thì sữa tươi sản xuất trong nước có những lúc lại tiêu thụ rất khó khăn Là ngành sản xuất "vốn to rủi ro lớn" chăn nuôi bò sữa nếu không phát triển bền vững trong cơ chế thị trường, nhất là trong kinh tế thị trường
mở cửa phát triển bền vững hiệu quả một cách tổng quát đó là "sự phát triển đáp ứng với nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai." Sản xuất ra nhiều sản phẩm chất lượng cao giá thành hạ để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội không chỉ trong ngắn hạn
mà là dài hạn Để tạo ra vùng nguyên liệu sữa tập trung ổn định cung cấp ngày càng nhiều sữa cho công nghiệp chế biến Đối với chế biến muốn có sản phẩm tiêu thụ ngày càng nhiều trên thị trường thì chất lượng sản phẩm ngày càng phải được nâng cao, mẫu mã bao bì phù hợp thị hiếu người tiêu dùng giá
cả phải chăng
IV Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển ngành chăn nuôi bò sữa
1 Nhóm các nhân tố tự nhiên
1.1 Khí hậu, thời tiết
Bò sữa là động vật cao cấp rất mẫn cảm với sự thay đổi của yếu tố khí hậu, thời tiết nhất là: nhiệt độ và độ Èm Các giống bò cao sản phần lớn được hình thành từ các nước ôn đới như giống bò Holstein Friesian (Hà Lan) là
Trang 18giống bò sữa tốt nhất hiện nay được gây tạo từ Hà Lan từ thế kỷ 14 đang được phổ biến ở nhiều nước trên thế giới nhiều nhất là Châu Âu, Bắc Mỹ, Châu úc, Niuzilan, Nhật Bản Các nước có khí hậu nhiệt đới nóng Èm việc chăn nuôi
bò sữa Hà Lan thuần rất khó khăn bởi vì nó có những yêu cầu khá khắt khe về khi hậu như nhiệt độ từ 18- 200C bò phát triển tốt, Ýt mắc bệnh và khả năng cho sữa cao Nhiệt độ thấp nhất là 90C và cao nhất là 300C ở nhiệu độ cao bò
ăn Ýt, uống nước nhiều, lượng sữa giảm Nếu nhiệt độ thấp hơn 50C hoặc cao nhất là 370C có thể coi là nhiệt độ gây hại, bò ngừng tiết sữa và có thể chết
Èm độ thích nghi nhất là 60- 75%
Một số bò có khả năng chịu nóng nh Red Sindhi (ấn Độ), Sahiwal, Shortorn có thể thích nghi với nhiệt độ 20- 300C Bò có khả năng thích nghi ứng với điều kiện nhiệt đới nóng Èm như con lai F1 (1/2 máu Holtein Friesian + 1/2 máu lai sind); F2 (3/4 HF); F3 (5/8 HF) trong đó con lai sind được lai tạo bằng cách cho lai giữa bò vàng Việt Nam với bò Redsindhi Nhìn chung những con lai này thường tỷ lệ thuật với năng suất sữa, nhưng lại tỷ lệ nghịch với khả năng thích nghi Ngoài ra, khí hậu thời tiết còn ảnh hưởng tới sản xuất
và cung cấp thức ăn tình hình dịch bệnh và thị trường tiêu thụ sữa Nếu khí hậu ôn hoà thì tập đoàn cây thức ăn sẽ phong phú, tạo nguồn thức ăn dồi dào,
bò sữa vì thế mà sẽ phát triển tốt Mặt khác, khí hậu thuận lợi cũng sẽ hạn chế những dịch bệnh phát triển và lây lan Thực tế cho thấy ở những vùng sau khi
bị lũ lụt hay hạn hán thường có những ổ dịch lớn và lây lan nhanh không có giải pháp kịp thời sẽ gây thiệt hại không nhỏ
Khí hậu, thời tiết cũng ảnh hưởng tới việc tiêu thụ sản phẩm Về mùa lạnh lượng sữa tươi được tiêu thụ Ýt hơn nhiều so với mùa hè Việc bảo quản sữa mùa hè mạnh hơn so với mùa đông Do vậy vấn đề tiêu thụ và sơ chế sản phẩm trước khi tiêu thụ sẽ là động lực hay kìm hãm sự phát triển của ngành chăn nuôi bò sữa cũng tuỳ thuộc vào khí hậu, thời tiết đặc biệt là với những nước mà mạng lưới công nghiệp chưa phát triển tốt
1.2 Đất đai, đồng cỏ và nguồn nước
Trang 19Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp nói chung và trong công nghiệp nói riêng Muốn phát triển chăn nuôi bò sữa tất yếu phải có đất đai để xây dựng chuồng trại, làm bãi chăn thả trồng cỏ và các loại thức ăn khác Do đó, để phát triển chăn nuôi bò sữa cần có một diện tích
đủ lớn theo quy mô chăn nuôi
Đồng cỏ là một yếu tố quan trọng, quyết định đến quy mô đàn bò sữa
và giá thành sản phẩm sữa, thông thường trong chăn nuôi bò sữa người ta cho
bò ăn cỏ là chủ yếu vì bò là loại động vật nhai lại có khả năng biến chất xơ thành đạm và các chất dinh dưỡng khác để nuôi cơ thể Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng năng suất sữa phụ thuộc vào mùa cỏ trong năm Vào mùa
hè, thời tiết, khí hậu thuận lợi cho cỏ phát triển năng suất sữa đạt cao nhất Vào mùa đông, cỏ tàn úa, năng suất sữa giảm đáng kể Thực tế qua tổng kết chăn nuôi bò sữa Hà Lan ở các nông trường nh: Sao Đỏ, Mộc Châu, Lâm Đồng, Ba Vì đều có chung kết luận là lượng sữa thay đổi trong năm phụ thuộc vào sự phát triển của đồng cỏ Do đó, để phát triển chăn nuôi bò sữa cần có kế hoạch sản xuất và chế biến thức ăn thô xanh
Nguồn nước cũng ảnh hưởng rất lớn tới sức khoẻ của bò sữa Nhu cầu
về nước của bò rất lớn, bình quân một con bò cái vắt sữa cần cho uống từ 6- 8 lít nước/ ngày Nguồn nước bắt buộc phải là nguồn nước sạch, đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh giống như việc cung cấp nước cho con người bao gồm: nước máy, nước giếng đào, giếng khoan Vì vậy mà các vùng chua phèn, mặn thiếu nguồn nước ngọt thì không thể bố trí chăn nuôi bò sữa được Bò sữa lại ưa cao ráo, thoáng mát, sạch sẽ cho nên các vùng thấp hay bị ngập lụt cũng không phù hợp với chăn nuôi bò sữa Ngoài ra, để đảm bảo vệ sinh sữa cần có nước để thường xuyên tắm chải cho bò, rửa các dụng cụ đựng sữa, vệ sinh chuồng trại
2 Các nhân tố kinh tế- xã hội
2.1 Nguồn lao động
Trang 20Lao động trong chăn nuôi bò sữa đòi hỏi phải có kỹ thuật cao nhất là các khâu chăm sóc, vắt sữa, các khâu khác có thể tận dụng lao động phụ nh: cắt cỏ, quét dọn vệ sinh, giao sữa Những trại chăn nuôi quy mô lớn cần thuê mướn nhân công Hầu hết các khâu đều là lao động thủ công: trồng cỏ, cắt cỏ, vận chuyển cỏ về trại, băm thái cỏ, cho ăn, vệ sinh, quét dọn, vắt sữa, vận chuyển sữa và bảo quản lạnh là những khâu công việc cuối cùng của cả dây truyền sản xuất sữa tươi nhưng nó lại rất quan trọng bởi vì riêng 3 khâu này chi phí chiếm 27,2% so với giá bán sữa tươi tại nhà máy Hiện nay lao động Thanh Hoá thiếu việc làm rất nhiều, nhưng đội ngũ lao động có kỹ thuật, có trình độ trong chăn nuôi bò sữa lại Ýt, cần nhanh chóng tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật cho nhân dân tạo thuận lợi cho sự phát triển của ngành.
2.2 Nhân tố về sản xuất
Vốn là điều kiện tiên quyết để phát triển chăn nuôi bò sữa, có vốn mới mua được con giống tốt, xây dựng chuồng trại có trang thiết bị hiện đại phù hợp với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong chăn nuôi, đầu tư thức
ăn, thuê lao động mở rộng quy mô chăn nuôi Nh vậy vốn đầu tư cho chăn nuôi bò sữa tương đối lớn, thời gian thu hồi vốn chậm (8- 10 năm) Do đó, việc phát triển chăn nuôi bò sữa không thể làm ồ ạt hay tuỳ tiện được Ngoài
ra những cơ sở chăn nuôi của Nhà nước cần phải phát triển các công ty, các trang trại
Vốn để nhập một con bò giống sữa khoảng 20 triệu đồng, vốn xây dựng chuồng trại mua sắm dụng cụ, thức ăn vốn đầu tư ban đầu phải khấu hao dần trong nhiều năm nếu là vốn vay ngân hàng phải tính nộp lãi suất tiền vay
và chi phí sản xuất Phát triển chăn nuôi bò sữa để hình thành các trại nuôi tập trung quy mô lớn cần tập trung và tích tụ sản xuất mới tiện lợi cho công tác dịch vụ, chuyển giao kỹ thuật, thu mua chế biến sữa Đặc biệt là nếu hình thành nhiều trại lớn sẽ là điều kiện thuận lợi hình thành công ty sữa mà các chủ trại đều có cổ phần trong các công ty này
2.3 Giao thông và các phương tiện vận tải
Trang 21Giao thông là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến việc
tổ chức phát triển chăn nuôi bò sữa Trước hết là khâu vận chuyển, tiêu thụ sữa Sữa tươi rất dẽ bị hư hỏng trong điều kiện nóng Èm, mưa gió thất thường
do đó sản phẩm làm ra đòi hỏi phải được vận chuyển nhanh; chế biến kịp thời Muốn đảm bảo vận chuyển nhanh (không quá 6 giê sau khi vắt sữa) thì phải có phương tiện vận tải chuyên dùng giao thông tốt, cự ly từ nơi sản xuất đến nơi chế biến không quá xa Kế đến là khâu mua thức ăn tinh, thuốc thú y
và các dịch vụ kỹ thuật khác: giao thông thuận lợi thì người chăn nuôi có thể mua thức ăn một cách dẽ dàng nhanh chóng và là một yếu tố hạ giá thành sản phẩm ở nước ta điều kiện giao thông còn khó khăn do đó sản phẩm làm ra không có thị trường tiêu thụ Vì vậy vấn đề cấp bách là phải đầu tư xây dựng các cơ sở chế biến sữa tại các vùng sản xuát xa xôi này Trong thời gian gần đây Thanh Hoá hầu như đã dải đường nhựa khắp các huyện và các xã, thôn thì đã được dải cấp phối hoặc đổ bê tông nên khá thuận lợi cho viẹc phục vụ chăn nuôi bò sữa
Sản phẩm chính của ngành chăn nuôi bò sữa là sữa tươi Sữa tươi phải thông qua chế biến mới có thể tung ra thị trường tiêu thụ sản phẩm Nh vậy đầu ra của chăn nuôi bò sữa là đầu vào của các cơ sở chế biến Đầu ra của cơ
Trang 22sở chế biến mới là các loại sản phẩm tiêu dùng Các sản phẩm này phải được người tiêu dùng chấp nhận Đây là vấn đề khá hóc búa đối với ngành chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa ở nước ta hiện nay Muốn cho người tiêu dùng chấp nhận các sản phẩm sữa sản xuất trong nước (sữa tươi, sữa hộp, bơ, fomát ) thì các loại sản phẩm này phải có chất lượng tốt và giá bán phải rẻ hơn các sản phẩm sữa nhập ngoại Muốn có chất lượng sản phẩm sữa tốt giá thành hạ thì trước hết giá nguyên liệu (sữa tươi) cũng phải rẻ Vì vậy con đường duy nhất để các sản phẩm sữa sản xuất trong nước cạnh tranh được trên thị trường là các nhà máy chế biến phải có thiết bị và công nghệ chế biến hiện đại đồng thời các trại nuôi phải áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật của ngành chăn nuôi bò sữa nhất là về giống và thức ăn để nâng cao năng suất sữa, giảm chi phí/ 1 lít sữa.
Giá sữa bột trên thị trường thế giới đang có xu hướng tăng, lý do tăng
là các nước đang phát triển có nhu cầu về sản phẩm sữa ngày càng nhiều trong khi các nước sản xuất nhiều sữa lại đang có kế hoạch điều chỉnh lượng sữa như giảm lượng sữa bán ra, ngừng trợ cấp cho các nước đang phát triển Mặc dù tổng kim ngạch của các nước vẫn tăng nhanh Trên thị trường hiện nay có đủ các sản phẩm sữa nổi tiếng trên thế giới như: Pháp, Hà Lan, Newzilan, Singapore, Thái Lan các sản phẩm này được nhập bằng nhiều con đường khác nhau, đang cạnh tranh quyết liệt với các sản phẩm sữa sản xuất trong nước Đây là một điều đáng lo ngại đối với ngành chăn nuôi bò sữa
ở nước ta mới đang hình thành và phát triển Bởi vì khi so sánh mặt bằng giá thành sản phẩm trong nước với các nước xung quanh bao giờ cũng cao hơn giá thành sản phẩm sữa từ các nước khác trong vùng (do chịu thuế bởi sản phẩm nhập khẩu) Bởi vậy để bảo hộ hàng sản xuất trong nước (trong đó có sữa) là phải nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng suất, giảm giá thành Nhà nước cần có các chính sách bảo hộ hàng hoá sản xuất trong nước nhất là phải có chính sách thuế thích hợp, linh hoạt trong từng thời kỳ và có biện pháp chống buôn lậu có hiệu quả
Trang 232.5 Các cơ sở chế biến sản phẩm
Sữa tươi nếu không bảo quản lạnh thì chỉ sau 6 giờ kể từ khi vắt sữa sẽ
bị chua sau 12 giò là bị hư hỏng hoàn toàn Khi chăn nuôi bò sữa đã trở thành ngành sản xuất hàng hoá tất yếu sẽ đòi hỏi các cơ sở chể biến sữa đáp ứng tốt Vấn đề này mang tính quyết định đến sự hình thành, phát triển và ổn định lâu dài của ngành chăn nuôi bò sữa Đương nhiên quan hệ sản xuất và chế biến sữa là quan hệ giữa vùng sản xuất và vùng nguyên liệu thực chất là quan hệ hai chiều Các cơ sở chế biến hoạt động có hiệu quả hay không một phần là
do có đủ nguyên liệu hay không? giá nguyên liệu thấp hay cao? Ngược lại các nông trang sản xuất có hiệu quả hay không chính là ổn định được thị trường hay không và giá cả "đầu ra" thế nào? Trong điều kiện tỉnh Thanh Hoá cả sản xuất và chế biến đều là những ngành mới thì việc xác lập quan hệ giữa hai bên cung và cầu nguyên liệu cần có sự trợ giúp của Nhà nước về mặt giá cả
để đảm bảo hai bên cùng có lợi Một trong những nguyên nhân làm cho đàn
bò sữa tăng chậm là do khâu tiêu thụ sữa Lượng sữa tươi tiêu thụ trong các của hàng không nhiều mặc dù giá cả, giá thu mua sữa của nhà máy nhưng người dân không thoả mãn cần có sự can thiệp của Nhà nước
2.6 Trình độ phát triển kinh tế- xã hội
Sản phẩm chăn nuôi từ trước đến nay vẫn được cơi là sản phẩm cao cấp trong bữa ăn hàng ngày, người ta chỉ nghĩ tới việc tiêu dùng thịt, sữa Khi nhu cầu về lương thực đã đảm bảo, thu nhập của người lao động tăng lên thì yêu cầu sản phẩm chăn nuôi tăng lên và xu hướng là tỷ lệ lương thực trong bữa ăn giảm xuống còn tỷ lệ thịt, sữa tăng lên Với nhu cầu tăng như vậy, tất yếu sản xuất phải phát triển để đáp ứng nhu cầu tăng lên đó, tức là ngành chăn nuôi phát triển Trình độ phát triển kinh tế xã hội không những là sự phát triển của thị trường tiêu thụ sản phẩm mà còn phải nói đến về mặt kỹ thuật Trong những năm gần đây, cùng với quy luật ngày càng tăng của nhu cầu, các nhà nghiên cứu đã đưa ra được nhiều giống mới cho năng suất cao,
Trang 24thức ăn sử dụng cho giống này không thể là thức ăn sử dụng cho chăn nuôi quảng canh mà phải thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng cao.
Nh vậy kinh tế xã hội phát triển là một điều kiện thuận lợi cho ngành chăn nuôi phát triển nhanh chóng với ngành trồng trọt và tiến tới vượt ngành này
Tóm lại, căn cứ vào những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển chăn nuôi bò sữa, ta thấy việc phát triển chăn nuôi bò sữa ở tỉnh Thanh Hoá có nhiều thuận lợi Đó là điều kiện tương đối ôn hoà, tập đoàn cây thức ăn phong phú đa dạng, đội ngũ lao động đông đảo và nhiệt tình học hỏi, một số chính sách phù hợp Tuy vậy những khó khăn về vốn đầu tư, về con giống, về giải quyết thức ăn cũng nh tiêu thụ sữa đã cản trở không Ýt tới sự phát triển của ngành Vì vậy, chúng ta cần lợi dụng thế mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế để đưa nhanh số đầu con cho sữa của toàn tỉnh nhằm tăng sản lượng sữa; chú trọng khuyến khích đầu tư cho chăn nuôi bò sữa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc vay vốn để chăn nuôi Đồng thời cần hướng dẫn đầu tư cho phù hợp với quy mô của từng trại Hiện nay đàn bò sữa của Thanh Hoá đang tập trung chủ yếu trong các hộ gia định và các cơ sở quốc doanh Để phát huy vai trò kinh tế quốc doanh trong lĩnh vực này, Nhà nước cần nhanh chóng đầu tư cho các cơ sở chăn nuôi quốc doanh giữ vũng thế chủ đạo của mình Cần phân cấp trách nhiệm cho chăn nuôi quốc doanh trong lĩnh vực lai tạo, nhân giống và nuôi thích nghi bò nhập nội để cung cấp cho các nông hộ
Mặc dù lượng sữa sản xuất ở trong nước chưa nhiều song thị trường tiêu thụ đang là mối lo ngại của người chăn nuôi Sự cạnh tranh cả về chất lượng và giá cả giữa thị trường trong nước và thế giới thực sự đã làm ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của đàn bò sữa vừa mới bắt đầu khởi sắc Trong khi giá sữa bột nhập vào Việt Nam năm 1997 là 2.220 USD/ tấn mà giá sữa tươi trong nước là 3,55 triệu đồng/ tấn (sữa chuẩn) thì các cơ sở chế biến không sử dụng sữa tươi trong nước nếu không phải là sự bắt buộc Chính vì vậy, ngoài sự cố gắng của người chăn nuôi để tăng chất lượng, giảm chi phí
Trang 25cho một đơn vị sản phẩm, Nhà nước cũng có sự can thiệp tích cực trong việc tiêu thụ sản phẩm cho họ bằng cách chính sách tài chính và các công cụ quản
lý khác, Nhà nước sẽ giúp cho người chăn nuôi đứng vững với sản phẩm của mình trong cơ chế thị trường Rõ ràng các yếu tố tự nhiên, kinh tế- xã hội có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến ngành chăn nuôi bò sữa Song nếu chúng ta biết khống chế và lợi dụng nó thì cũng hạn chế được những khó khăn cho ngành Đây chính là chức năng của người quản lý, nó thể hiện năng lực của người lãnh đạo trong việc phát triển ngành sản xuất mới này
V Các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển ngành sản xuất mới này
Trong nền kinh tế quốc dân ở nước ta sản xuất nông nghiệp giữ vai trò hết sức quan trọng và sự phát triển của nó có ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng của thu nhập quốc dân Vì vậy, đẩy mạnh phát triển nông nghiệp
là nhiệm vụ quan trọng số một trong chiến lược phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay Tuy nhiên sự phát triển nhanh hay chậm, hiệu quả cao hay thấp lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố tác động đến nó, một trong những yế tố quan trọng đó là vai trò điều tiết vĩ mô của Nhà nước Điều này đã được kiểm nghiệm ở hầu hết các nước trên thế giới quản lý kinh tế trên tầm vĩ mô của Nhà nước đối với nôngnghiệp chính là sự quản lý, định hướng điều tiết thông qua hệ thống công cụ quản lý của mình nhằm duy trì khuyến khích các quan
hệ kinh tế nông nghiệp phát triển đúng hướng và đạt hiệu quả kinh tế cao Đồng thời Nhà nước phải tạo ra những điều kiện và môi trường kinh tế thuận lợi cho sự phát triển một nền nông nghiệp hàng hoá nhiều thành phần Đối với ngành sản xuất chăn nuôi bò sữa ở nước ta hiện nay cần có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước Trước hết là chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển chăn nuôi bò sữa nh chính sách trợ giá, chính sách đầu tư, chính sách tín dụng, chính sách thuế
Ví dụ miễn thuế đối với lượng sữa hộp sản xuất từ nguồn nguyên liệu trong nước, tăng thuế đối với nguồn nguyên liệu sữa đầu tư khai thác các
Trang 26nguồn nguyên liệu nội địa đồng thời đánh thuế cao đối với các loại sữa thành phần nhập khẩu và có biện pháp chống buôn lậu một cách kiên quyết, triệt để Kinh nghiệm phát triển ở các nước Đông Nam Á cho thấy ngành sản xuất sữa muốn phát triển được phải có sự khuyến khích, trợ giá, bảo hộ của Nhà nước
ở Malaysia ngay từ năm 1975 Nhà nước đã quyết định nhập một số lượng lớn
bò giống tốt từ Óc và Newzilan về phân phối cho các hộ gia đình nuôi và cho các trại quốc doanh Người nuôi bò sữa phải được qua tập huấn kỹ thuật trước khi nhận bò ở Inđonexia, Nhà nước đã mạnh dạn thay dần nhập sữa bột bằng cách nhập bò sữa giống tốt cho dân chăn nuôi Ở Thái Lan cũng có những biện pháp khuyến nông rất cụ thể nhằm phát triển nhanh phần nguyên liệu sữa sản xuất trong nước, giảm dần phần nhập khẩu
Ở nước ta kinh tế còn nghèo nàn không thể có đủ nguồn ngoại tệ để nhập bò sữa giống tốt với số lượng lớn ngay một lúc được mà biện pháp tốt nhất là nhập tinh đóng viên bò sữa cao sản từ các nước Pháp, Canada, Mêhicô, Cu Ba, Ên Độ để cải tạo dần đàn bò Việt Nam theo hướng sữa, thịt Giá tinh đóng viên hiện tại cũng khá cao (10- 15 đô la một liều tinh, tuỳ giống bò) Nếu quy ra tiền Việt Nam tính đúng, tính đủ tất cả các khâu: nhập khẩu, vận chuyển, bảo quản thì người dân không thể có đủ chi phí Vì vậy để phát triển nhanh chóng tạo ra đàn bò lai bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo thì Nhà nước cần phải trợ giá gieo tinh (trợ 2/3) hoặc cho không, người nông dân chỉ phải trả công kỹ thuật viên gieo tinh Hiện nay, chính sách trợ giá và khuyến khích phát triển chăn nuôi bò sữa của UBND tỉnh Thanh Hoá đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển chăn nuôi theo quy mô tập trung tương đối lớn Do đó, nếu được bảo trợ về giá thì chắc chắn sẽ phát triển mạnh và ổn định Ngoài ra, chính sách thuế về các sản phẩm sữa đã và có tác dụng trực tiếp tới ngành sản xuất sữa
VI Khái quát về chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam
Trang 27Ngành chăn nuôi gia súc đặc biệt là gia súc lấy sữa đã trở thành ngành sản xuất chính trong nông nghiệp của nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước phát triển ở Châu Âu, châu Mỹ Chăn nuôi bò sữa rất được coi trọng và
là nguồn cung cấp sữa của các nước trên thế giới, sữa bò luôn chiếm 80% trong tổng sản lượng sữa trên thế giới, năm 1990 đạt trên 483 triệu tấn Năm
1997 có trên 227,6 triệu con trong đó Châu Á có 70,2 triệu con (đàn bò thế giới gần đây tăng không đáng kể 0,12%/năm) năng suất sữa bình quân 1995-
1997 là 469 triệu tấn Mức tiêu dùng sữa bình quân đầu người trên thế giới khoảng cách chênh lệch nhau rất xa, các nước phát triển mức tiêu dùng sữa cao hơn nhiều so với các nước đang phát triển Ví dụ: 1993- 1997 mức tiêu thụ sữa bình quân đầu người ở Rumani là 174,98 kg/ người; Trung Quốc là 2,98 kg/ người Đàn bò sữa ở Việt Nam còn nhiều biến động giai đoạn 1991-
1995 có tốc độ tăng bình quân nhanh (111,5%/ năm về đầu gia sóc; 122,3%/ năm về sản lượng sữa) Giai đoạn 1996- 1998 thì chăn nuôi bò sữa có phần chững lại cả về số lượng gia súc và sản lượng sữa (105,8%/ năm về số đầu con và 103,3%/ năm về sản lượng sữa) Nguyên nhân chủ yếu là quan hệ giữa chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa bò chưa được thống nhất Giá thu mua sữa tươi sản xuất trong nước tại nhà máy chế biến sữa tươi sản xuất trong nước tại nhà máy ché biến sữa ổn định 5- 6 năm mức 3.550 đồng/ kg trong khi đó giá thức ăn cho bò sữa lại tăng 40- 60%, giá các mặt hàng khác phục vụ cho tiêu thụ sữa cũng tăng như vận chuyển tăng 25- 30% cho nên giá thành sản xuất sữa tươi trong nước tăng nhanh làm cho thu nhập của người chăn nuôi bò sữa bik giảm mạnh thu nhập từ 40- 50% trong tổng giá trị sản xuất nay chỉ còn 7- 8% Giai đoạn 1996- 1998 bò sữa ở Hà Nội cũng bị giảm mạnh, tổng đàn bò sữa từ 1.266 con (năm 1995) giảm xuống chỉ còn 857 (năm 1997) Chăn nuôi
bò sữa ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận khác cũng gặp không Ýt khó khăn Giai đoạn này " đàn bò sữa phát triển chậm và có hướng chững lại,
có địa phương giảm rõ rệt" nguyên nhân mối quan hệ mua bán giữa nông dân
và nhà máy sữa cho những bất đồng không nhỏ" nhà máy sữa liên tục thay đổi
Trang 28một số tiêu chuẩn về độ bơ, độ vi sinh, độ khô, thời gian đông đặc càng về sau đòi hỏi càng cao hơn "làm cho người chăn nuôi bò sữa bị thiệt hại." Tháng 6 năm 1999 ở tỉnh Bình Dương tổng đàn bò sữa 1.000 con trong đó 75% cái sinh sản đang khai thác sữa "một ngày tồn đọng đến 1 tấn sữa tươi không nuoi tiêu thụ" do quy mô sản xuất nhỏ, tiềm lực kinh tế lại yếu nên đã ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh trang trị chăn nuôi bò sữa Quy mô chăn nuôi bò sữa trang trại ở mỗi quốc gia là khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện đồng cỏ, điều kiện chăn nuôi và phương thức hoạt động Nhìn chung các nước Mỹ, Hà Lan, Nhật Bản, úc được hoạt động trong quy trình khép kín và công nghiệp hoá, vì vậy năng suất cao, giá thành hạ.
Nhìn chung, số lượng đàn bò sữa tăng nhanh ở những nước có tiềm năng kinh tế lớn ở các khu vực châu Phi, Nam Mỹ, Nam Phi và Châu á những năm gần đây mới coi trọng việc tập trung giải quyết các vấn đề sữa cho nhân dân bằng con đường phát triển chăn nuôi bò sữa Trong những năm gần đây chăn nuôi bò sữa đã tăng lên đáng kể và năm 2001 sản lượng sữa đạt là 75.600 tấn
Biểu 1: Đàn bò sữa giai đoạn 1990- 2001
Năm Số lượng
(1.000 con)
Sản lượng sữa (tấn)
Trang 29Nguồn: Báo cáo của cục khuyến nông (Bộ NN & PTNT).
Theo bảng trên thì chăn nuôi bò sữa giai đoạn này phát triển khả nhanh mặc dù việc phân bố đàn bò sữa giữa các vùng trong toàn quốc còn chưa đồng đều Trong chuyển biến trên thì đàn bò sữa ở thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Sơn La, Hà Tây, Thanh Hoá đàn bò sữa phát triển khá nhanh trên diện rộng Đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh với số đầu con hàng năm chiếm từ 30- 33% tổng đàn bò cả nước, đưa sản lượng sữa từ 2.518 tấn lên 4.200 tấn chiếm hơn 50% sản lượng sữa của cả nước
Nhìn chung, chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam đang còn là ngành sản xuất mới mẻ, tổng đàn và năng suất sữa còn rất thấp so với nhiều nước trên thế giới Mặc dù trong những năm qua, nhiều chính sách, cơ chế của Nhà nước được ban hành nhằm khuyến khích chăn nuôi bò sữa ở các thành phần kinh tế, song điều kiện của Việt Năm còn rất nhiều khó khăn, nên đàn bò sữa chă phát triển nhanh, mạnh, vững chắc và đều khắp ở các vùng
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÒ SỮA Ở
CÔNG TY TNHH LAM SƠN - SAO VÀNG
Trang 30I Những đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội của tỉnh Thanh Hoá có ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi bò sữa của công ty TNHH Lam Sơn- Sao Vàng
1 Các điều kiện tự nhiên của tỉnh Thanh Hoá
Thanh Hoá có diện tích tự nhiên 11.168,3 km2 (đứng thứ 7/61 tỉnh thành phố trong cả nước); dân só 3.429.610 người gồm các dân tộc Kinh, Mường, Thái, Tày, Hơ mông, Dao; mật độ 307 người/ km2 xếp vào loại trung bình so với các tỉnh và thành phố khác
1.1 Vị trí địa lý và địa hình của tỉnh Thanh Hoá
Thanh Hoá năm ở vị trí của ngõ nối liền Bắc Bộ với Trung Bộ và Năm
Bộ, đó là một vị trí thuận lợi cho giao lưu hàng hoá
250; vùng trung du có độ cao trung bình 150- 200 m, độ dốc 15- 20o
- Vùng đồng bằng gồm 10 huyện, thị: Thành phố Thanh Hoá, thị xã Bỉm Sơn, Thọ Xuân, Đông Sơn, Nông Cống, Triệu Sơn, Hà Trung, Yên Định,
Trang 31Thiệu Hoá, Vĩnh Lộc; độ cao trung bình 5- 15 m xen kỹ các đồi và núi đá vôi độc lập.
- Vùng ven biển gồm 6 huyện, thị: thị xã Sầm Sơn, Quảng Xương, Nga Sơn, Hoằng Hoá, Hậu Lộc và Tĩnh Gia
Địa hình cùng đất mà công ty xây dựng là tương đối bằng phẳng, thoải dần về phía Tây Bắc- Đông Nam
1.2 Điều kiện khí hậu thời tiết của tỉnh Thanh Hoá
- Thanh Hoá nằm trong khi vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh Đặc biệt là sự xuất hiện của một thời kỳ khô nóng Tây Nam vào đầu mùa hạ (tháng 5 có tới 20- 30 ngày gió Tây) Bão đổ bộ nhiều nhất vào
bờ biển vùng này là thánh 9 gây nên gió lớn, mưa to
- Gió có tần số khác nhau xuất hiện theo các hường thịnh hành là Đông Nam, Bắc, Tây Bắc và Tây với tốc độ trung bình 1,8 m/s; tốc độ gió cực đại
có thể đạt tới 39 m/s đáng chú ý là gió Tây khô nóng thường gây bất lợi cho sản xuất và đời sống
- Nhiệt độ trung bình năm vào khoảng 23- 240C, giảm dần khi lên vùng núi (200C) Hàng năm có 4 tháng nhiệt độ trung bình dưới 200C (từ tháng 12 đến tháng 3) Tháng lạnh nhất là tháng 1 có nhiệt độ trung bình vào khoảng 17- 180C (cao hơn đồng bằng Bắc Bộ trên dưới 10C) Biên độ dao động ngày đêm của nhiệt độ không lớn, trung bình năm vào khoảng 6- 80C
- Lượng mưa trung bình năm 1.600- 2.000 mm Lượng mưa phân bố không đề trên các vùng lãnh thổ Số ngày mưa từ 130- 150 ngày, mùa mưa thường kéo dài 6 tháng, bắt đầu từ tháng 5, kết thúc vào tháng 10; các tháng mưa nhiều nhất là 8, 9, 10 Đặc biệt nổi bật là trong mùa mưa, từ tháng 8 đến tháng 10 tập trung đến 60- 80% lượng mưa của cả năm nên dễ gây ra lò lụt nhất là vùng thấp như Hà Trung
Với điều kiện khí hậu như trên, cần chú ý chăm sóc đàn bò vào những thời gian có thời tiết lạnh hoặc thời tiết nóng do ảnh hưởng của gió Lào Bò sữa rất mẫn cảm với các thay đổi của môi trường, đặc biệt là sự thay đổi của
Trang 32độ Èm và nhiệt độ môi trường Do vậy, trong chăn nuôi bò sữa ở Thanh Hoá phải chú ý khắc phục sự tăng quá cao của độ Èm và nhiệt độ, nhất là trong các tháng có độ nóng, Èm cao.
1.3 Điều kiện về đất đai
Diện tích đất tự nhiên là 1.116.833 ha gần 10 nhóm đất chính với 28 loại đất khác nhau Hiện tại đất đã sử dụng vào sản xuất nông nghiệp mới được 252.691 ha (chiếm 22,6%) diện tích đất tự nhiên trong đó đất thích hợp trồng lúa năng suất cao khoảng 100.000 ha, đất để xây dựng chuồng trại và chăn nuôi bò sữa của công ty là 10 ha Đất đai của Thanh Hoá còn nhiều tiềm năng là điều kiện thuận lợi để phát triển chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi đại gia sóc
2 Các đặc điểm kinh tế- xã hội của tỉnh Thanh Hoá
2.1 Dân số và lao động
Tính đến tháng 4/1999 dân số tỉnh Thanh Hoá là 3.467.609 người, trong đó dân số vùng đồng bằng là 1.539.462 người, vùng ven biển là 1.101.937 người và vùng núi là 826.210 người; mật độ dân số theo các tùng sinh thái tương ứng là 933, 972 và 104 người/ km2; trung bình toàn tỉnh là 307 người/ km2
Tuy nhiên do địa hình phức tạp, mà ở Thanh Hoá sản xuất phát triển không đều, số hộ sản xuất nông nghiệp chiếm phần lớn nhưng mức sống của đại bộ phận này còn thấp đặc biệt là vùng sâu vùng xa Đặc điểm này chi phối sức tiêu thụ hàng hoá, gây kìm hãm sức sản xuất
Lực lượng lao động xã hội toàn tỉnh năm 1998 là 1,465 triệu người; năm 2000 là 1.726 triệu người; lao động không có việc làm đang ngày một tăng: khu vực thành thị chiếm 6,46% và đặc biệt là khu vực nông thôn lao động việc làm là 26,4% Như vậy lao động không có việc làm khoảng 268,9 nghìn người, đến năm 2005 con số này là 170,9 ngàn người và đến năm 2010
sẽ là 102 ngàn người Do vậy nhu cầu việc làm là một nhu cầu bức bách của tỉnh Thanh Hoá
Trang 33Về chất lượng lao động: là một tỉnh có đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đông đảo và có trình độ học vấn khá (gồm 44.174 cán bộ khoa học kỹ thuật, trong đó trên 400 thạc sĩ và 60 tiến sĩ, gần 22.000 người có trình độ đại học, số còn lại có trình độ cao đẳng) Khu vực sản xuất nông nghiệp, trình độ chuyên môn của lực lượng lao động có trình độ trung cấp đến đại học còn rất thấp, đa số là lao động giản đơn Do đó cần có chính sách đào tạo nghềm chính sách đãi ngộ cho lực lượng lao động ở nông thôn để có thể tiếp cận và thích nghi với cơ chế thị trường, nhăm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh.
2.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật
- Hệ thống giao thông có 263 km đường rải nhựa, 399 km đường đá, 4.181 km đường cấp phối và đường đất Đồng thời có hệ thống đường sắt nối liền các tỉnh trong cả nước Mật độ đường bộ là 43,3 km/ 100 dân, đang ở vào mức trung bình cả nước, ở mức cao hơn so với các tỉnh ở vùng khu IV cũ Mật độ đường phân phố không đều, chất lượng giao thông còn thấp Đường huyện, đường xã và liên xã có tổng chiều dài là 2.942 km hầu hết là đường cấp phối và đường đất Hệ thống đường đô thị hiện chưa đáp ứng nhu cầu
- Hệ thống cấp và thoát nước: Hệ thống thuỷ lợi cà mức độ cơ giới hoá trong sản xuất được ưu tiên phát triển Tuy đã tăng cường hệ thống đê, kè, cống và năng lực tưới tiêu nhưng chỉ có 50,5% diện tích gieo tròng được tưới tiêu chủ động, 70% hệ thống công trình tiêu úng là tự chảy đảm bảo tiêu úng cho trên 60% diện tích Ngoài ra hệ thống nước sách như giếng khoan, nước máy cũng đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng
- Điện: mạng lưới điện Thanh Hoá đã được phát triển khá, đến nay đã
có 596 xã phường có điện lưới, số còn lại chưa có thuộc diện vùng sâu, vùng xa
Trang 34- Về thông tin liên lạc: thông tin, liên lạc đang từng bước hiện đại hoá
để phục vụ cho phát triển kinh tế và nâng cao đời sống Toàn tỉnh có bưu điện trung tâm và 71 bưu cục huyện thị và cơ sở, có 2.102 máy điện thoại, bình quan 1 vạn dân có 6,3 máy (riêng khu vực thành phố thị xã bình quân 30 máy cho 1 vạn dân) Mạng lưới điện thoại đã được nối liền từ tỉnh đến các huyện,
xã có thể liên lạc trực tiếp với các tỉnh thành trong cả nước và nước ngoài tạo điều kiện thuận lợi để phát triển chăn nuôi bò sữa đặc biệt là khâu tiêu thụ sản phẩm
- Công nghiệp chế biến: hiện nay Thanh Hoá chưa có nhà máy chế biến sữa để hoạt động mà mới chỉ có nhà máy đường Lam Sơn, nhà mày bánh kẹo
và đang xây dựng nhà máy chế biến sữa ở Lễ Môn Do đó, trong vài năm tới thì công tác tiêu thụ sữa là rất thuận lợi với công suất của nhà máy chế biến sữa là 12.000 tấn/ năm
Tóm lại, tất cả những căn cứ trên là những điều kiện để có tính quyết định để thực hiện chiến lược đầu tư phát triển bò sữa của tỉnh (đặc biệt là vùng nguyên liệu mía đường Lam Sơn) trong giai đoạn tới Do đó sự phát triển chăn nuôi bò sữa quy mô lớn của công ty TNHH Lam Sơn- Sao Vàng là rất cần thiết tạo tiền đề đáp ứng nhu cầu cung cấp sữa tươi cho nhà máy chế biến sữa và đáp ứng nhu cầu của thị trường đồng thời nâng cao mức sống của nhân dân
II Thực trạng phát triển chăn nuôi bò sữa ở công ty TNHH Lam Sơn- Sao Vàng
1 Khái quát tình hình chung của công ty
Công ty TNHH Lam Sơn- Sao Vàng là công ty liên doanh Lam Sơn - Sao Vàng gồm 2 đơn vị thành viên, đồng thời là sáng lập viên, trong đó công
ty cổ phần mía đường Lam Sơn góp 90% vốn và nông trường Sao Vàng 10% vốn Phương châm của công ty là phát triển sản xuất theo hướng kinh doanh tổng hợp phát triển nông - công nghiệp- dịch vụ thương mại Bên cạnh việc tăng cường đầu tư thâm canh nâng cao năng suất, sản lượng 750 ha mía, công
Trang 35ty đã du nhập 900 con bò sữa từ Australia, từng bước nhân rộng đàn bò, xây dựng chuồng trại, cơ sở vắt sữa tự động Hiện nay nhà máy sữa đã đi vào hoạt động, quy mô chuồng trại không ngừng mở rộng và ngày cao điểm có tới 20-
30 con bê ra đời nên tổng đàn bò sữa đã tăng lên 1.500 con Những chuyển hướng sản xuất của công ty TNHH Lam Sơn - Sao Vàng phù hợp với định hướng phát triển ngành chăn nuôi công nghiệp và chế biến sữa của tỉnh Trong thời gian qua tỉnh đã ban hành một số cơ chế chính sách phát triển đàn
bò sữa tại khu công nghiệp Lễ Môn với công suất 12.000 tấn/ năm Tuy nhiên nguyên liệu là nhân tố sống con của nhà máy để giải quyết vấn đề cấp thiết cho chăn nuôi bò sữa của tỉnh Thanh Hoá là tạo ra đàn bò giống cao sản thuần chủng Từ năm 2002 công ty cổ phần mía đường Lam Sơn đã triển khai dự án nhập khẩu đàn bò từ Australia về nuôi ở một số địa phương trong tỉnh như Quảng Phú, Xuân Thiên, Thọ Xương, Thọ Vân (Thọ Xương) Đợt 2 công ty nhập 191 con từ Australia về nuôi tập trung tại trại Thọ Sơn theo quy mô vừa
và 933 con bò sữa gốc từ Newzealand về nuôi tập trung tại trung tâm bò giống Lam Sơn- Sao Vàng với số vốn công ty cổ phần mía đường Lam Sơn
đã đầu tư là 48.445.552.411 đồng, ngân sách tỉnh đã hỗ trợ cho các hộ tham gia chương trình phát triển chăn nuôi bò sữa là 4.556 triệu đồng Trong 2 năm công ty cổ phần mía đường Lam Sơn đã nhập khẩu 1.289 con bò sữa ngoại về nuôi tập trung và trên diện rộng đồng thời ký hợp đồng đầu tư và bao tiêu sản phẩm sữa, bò giống với từng hộ chăn nuôi ở các địa phương Đến năm 2004 tổng đàn bò, bê sữa đã tăng lên 1.772 con, trong đó có 1.278 con bò cái sinh sản, 6 con bò đực giống, 357 con bò cái hậu bị và 191 con bê cái Sản lượng sữa khai thác 6 tháng đầu kỳ năm 2004 đạt 1.054.600 kg, năng suất bình quân 13- 15 kg sữa/ con/ ngày Tuy nhiên do nhà máy sữa chưa xây dựng xong nên việc bao tiêu sản phẩm cho nông dân gặp khó khăn nên một số hộ nông dân, chủ trang trại phải bán sữa cho khâu trung gian hoặc bán lẻ phục vụ nhu cầu tiêu dùng Bên cạnh đó chương trình phát triển bò lai hướng sữa chưa được nhiều, theo điều tra toàn tỉnh có khoảng 25.000 con bò lai sind trong đó các
Trang 36địa phương thuộc vùng quy hoạch dự án gồm Thọ Xuân, Thiệu Hoá, Hoằng Hoá, Yên Định, Triệu Sơn, thành phố Thanh Hoá có khoảng 11.800 con bò lai sind Trong 2 năm chương trình phát triển đàn bò lai hướng sữa bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo đã cho số bò cái nền hướng sữa là 1.589 con Đồng thời công ty còn tạo việc làm cho khoảng 87 lao động và tăng thu nhập cho người lao động góp phần phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn
Biểu 2: Nhu cầu lao động và quỹ tiền lương hàng năm
Đơn vị: người
lượng
Dự trù lươngMức lương
(ngđ/ người/
tháng)
Tổng sè (ngđ/ năm)
Nguồn: Đoàn TK- KS- QH nông nghiệp tỉnh Thanh Hoá
Như vậy, nhiệm vụ kinh doanh chủ yếu của công ty là cung cấp lượng sữa tươi lớn cho nhà máy chế biến sữa để tránh tình trạng nhà máy sữa thiếu nguyên liệu và phải ngừng hoạt động đồng thời cung cấp con giống cho các
hộ và trang trại kết hợp với việc bao tiêu sản phẩm sữa của các hộ và trang trại trong tỉnh để mở rộng quy mô đàn bò sữa nhằm cung cấp lượng sữa tươi
Trang 37lớn cho nhà máy chế biến sữa Trong tương lai sẽ trở thành trung tâm giống
bò sữa lớn nhằm đáp ứng nhu cầu về lượng sữa thiếu hụt của cả nước và cung cấp con giống chất lượng cao
Vậy với những kết quả đạt được, trong tương lai chương trình phát triển đàn bò sữa và sự xuất hiện của công ty TNHH Lam Sơn- Sao Vàng sẽ có tác động tích cực trong chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế tỉnh nhằm đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, tạo tiền đề vững chắc cho việc hình thành phát triển đô thị Lam Sơn- Sao Vàng, vùng kinh tế động lực ở miền phía tây của tỉnh Thanh Hoá
2 Thực trạng phát triển chăn nuôi bò sữa của công ty
2.1 Tình hình phát triển về số lượng đàn bò sữa
Nhìn chung phát triển nông nghiệp của tỉnh Thanh Hoá trong giai đoạn 1991- 1998 có tăng nhưng chưa ổn định, cơ cấu sản phẩm trong ngành nông nghiệp còn nặng về trồng trọt, giá trị chăn nuôi và dịch vụ còn thấp Trong khi đó chăn nuôi là ngành chăn nuôi truyền thống của nhân dân ta, đặc biệt là chăn nuôi bò sữa đang có giá trị kinh tế cao góp phần làm chuyển đổi cơ cấu kinh tế và tăng thu nhập cho người dân Đàn bò ở Thanh Hoá chủ yếu là giống bò vàng có tầm vóc nhỏ bé, năng suất thịt và sữa đều thấp Tính đến năm 1999 thì Thanh Hoá đã tạo được 2.953 con bò phối giống có chữa trong
đó nhảy trực tiếp là 741 con và thụ tinh là 2.212 con Trọng lượng đàn bò này đạt trên dưới 300 kg Bò sữa F1 đạt năng suất 8- 10 lít/ ngày; một chu kỳ (300 ngày) được 2.400- 3.000 lít sữa Đàn bò cái trên 2 tháng tuổi của toàn tỉnh Thanh Hoá trong các năm tà 1995- 1999 dao động ở mức 78.410 con (năm 1996) đến 81.367 con (năm 1999) chiếm tỷ lệ 36% tổng đàn Trong 3 vùng sinh thái thì vùng trung du miền núi có số lượng bê cái trên 2 tháng tuổi là 32.955 con (năm 1995) và đến năm 1999 con số này là 32.195 con, vùng đồng bằng tương ứng là 25.974 con và 28.399 con, vùng ven biển là 20.686
và 21.502 con Vượt qua khó khăn đến năm 2004 ngành chăn nuôi tỉnh Thanh Hoá đãđạt được những kết quả khả quan, gần 500.000 con trâu, bò hơn
Trang 3851.000 con dê Thanh Hóa đã vươn lên là một trong những tỉnh có đàn gia sóc, gia cầm lớn nhất các tỉnh phía Bắc Trong năm 2004 Thanh Hoá đã có sản lượng hàng hoá gần 103.000 tấn thịt hơi các loại, 145 triệu quả trứng và đặc biệt đã có sản phẩm mới trên 3.500 tấn sữa tươi Đây là một trong những ngành chăn nuôi Thanh Hoá có sản phẩm hàng hoá đạt giá trị cao nhất và đã đưa tỷ trọng chăn nuôi trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp đạt trên 24% (tăng 3,2%) so với năm 2003.
Hiện nay đàn bò Thanh Hoá đã có 282.300 con tăng 16% so với năm
2003 là năm có tốc độ tăng trưởng cao nhất từ trước đến nay Các huyện Yên Định, Thạch Bàn, Quan Hoá tăng từ 40% đến trên 43%, 10 huyện khác tăng trên 20% đến 30% Quan trọng là tốc độ đàn bò đã được cải thiện đáng kể Từ giống bò cóc thấp bé, nhẹ cân, tỷ lệ thịt và sữa rất thấp, Thanh Hoá đã nhanh chóng triển khai chương trình cải tạo tầm vóc đàn bò, trong đó riêng năm
2004 này mạng lưới dẫn tinh viên đã phối giống thành công gần 33.000 con
bê lai, đưa số lượng đàn bò lai zêbu lên 85.000 con (chiếm 30,1% tổng đàn) trong đó đã lai tạo được gần 7.000 bò lai F1 để làm nền cho các chương trình tạo giống bò sữa và bò thịt chất lượng cao Hiện nay Thanh Hoá đã cải tạo được 120.000 con bò cái sinh sản nhằm thỏ màn nhu cầu cải tạo giống bò cao sản sữa đáp ứng nhu cầu về thực phẩm cho tỉnh Riêng dự án phát triển đàn
bò sữa và chế biến sữa là dự án đòi hỏi vốn đầu tư lớn, yêu cầu kỹ thuật cao, UBND tỉnh Thanh Hoá đã chọn công ty cổ phần mía đường Lam Sơn làm chủ
dự án, Ngoài các chính sách khuyến khích, hỗ trợ chung của tỉnh, công ty cổ phần mía đường Lam Sơn cũng đã có nhiều cơ chế khuyến khích người chăn nuôi tổ chức giống bò ngoại, lai tạo đàn bò sữa, xây dựng nhà máy chế biến sữa Đến nay, công ty đã có đàn bò sữa và bê sữa thuần trên 1.800 con, trong
đó có 1.000 con đang có chửa lứa thứ 2 và 3 Ngoài ra tại các huyện tham gia
dự án cũng đã lai tạo được hơn 725 con bò và bê lai hướng sữa, trong đó Thọ Xuân có 380 con, huyện Thiệu Hoá có 125 con, Hoằng Hoá 130 con đưa tổng đàn bò sữa, bê sữa lên 2.525 con (tăng gấp đôi so với năm 2003) Riêng
Trang 39tại điểm nuôi tập trung Sao Vàng có gần 1.400 con bò và bê sữa thuần ngoại, trong đó có gần 1.000 con đang cho sữa, công ty đã đầu tư trên 10 tỷ đồng lắp đặt giàn vắt sữa tự động 40 con/ lượt cùng các thiết bị, phương tiện chứa sữa, chế biến thức ăn thô dự trữ Công ty cũng đang khẩn trương hoàn thiện nhà máy chế biến sữa công suất 12.000 tấn/ năm tại khu công nghiệp Lỗ Môn để đưa vào hoạt động trong quý I - 2005 Năm 2003, công ty TNHH Lam Sơn- Sao Vàng đã có tổng đàn bò sữa là 1.351 con trong đó có 928 con bò cái sinh sản Tổng lượng sữa tươi sản xuất ra cho công nghiệp chế biến sữa là 2.073 tấn/ năm
Biểu 3: Quy mô đàn bò công ty TNHH Lam Sơn- Sao Vàng năm 2003
Tổng đàn bò sữa
+ Cái sinh sản
concon
1.351928
10068,7Sản lượng sữa tươi tấn/ năm 2.073
Nguồn: Đoàn thiết kế - khảo sát - quy hoạch nông nghiệp tỉnh Thanh Hoá
2.2 Sản lượng sữa hàng năm của công ty
Cùng với sự phát triển của đàn bò sữa thì sản lượng sữa hàng năm của công ty sản xuất ra cũng chiếm một tỷ lệ khá lớn biểu hiện qua biểu số
Biểu 4: Sản lượng sữa hàng năm
Đơn vị: tấn
Nguồn: Đoàn TK- KS - QH nông nghiệp tỉnh Thanh Hoá.
Như vậy, lượng sữa của công ty mới chỉ đáp ứng 1/3 công suất của nhà máy chế biến sữa Do vậy, công ty cần phải phát triển nhanh đàn bò sữa cả về
Trang 40quy mô và chất lượng để đáp ứng nhu cầu về sữa nguyên liệu cho nhà máy chế biến sữa tránh tình trạng nhà máy chế biến sữa phải ngừng hoạt động do thiếu nguyên liệu sữa tươi để phục vụ nhu cầu tiêu dùng của nhân dân.
2.3 Tình hình thâm canh chăn nuôi bò sữa ở công ty
2.3.1 Cơ sở vật chất kỹ thuật cho chăn nuôi bò sữa của công ty
a Con giống
Năng lực sản xuất của đàn bò sữa không chỉ phụ thuộc vào số lượng mà còn phụ thuộc nhiều vào cơ cấu giống đàn bò Đàn cái sinh sản càng nhiều thì khả năg cho sữa càng lớn Tuy nhiên, để tái sản xuất đàn một cách chủ động thì nhóm bò hậu bị và bê hướng sữa cũng có vai trò đặc biệt quan trọng Do
đó, tuỳ theo yêu cầu mở rộng quy mô đàn mà có tỷ lệ thích ứng giữa các nhóm bò trong đàn Hiện nay, có rất nhiều giống bò cao sản như: bò lai trắng đen Hà Lan (Holsin Friesian - HF) các nước thường dùng bò này để lai tạo vớibò địa phương để tạo ra các con lai F1, F2 Đặc điểm của bò HF là bò đưac giống tố nặng đến 1 tấn, bò cái nặng 450- 600 kg, bê sơ sinh cân nặng 35- 40
kg Bò Jersey, bò nâu Thuỵ Sỹ (Brown Swiss), bò Zebu giống Red Sindhi, giống bò địa phương (là giống bò vàng Việt Nam) Để đạt được năng suất sữa
là thịt cao đồng thời với khả năng thích nghi tốt ở Việt Nam cần có các bò lai hướng sữa như bò lai Hà Lan F1, F2, F3 Hiện tại Thanh Hoá có 233.358 con trong đó có 63.007 con là bò lai Zebu ở các tỷ lệ máu khác nhau (chiếm 27%), trong đó bò lai này có 40% là bò cái sinh sản (25.203 con) Tuy nhiên
sự phân bố số lượng đàn bò cũng như tỷ lệ bò lai Zevu này ở các vùng, các huyện là không đều
Biểu 5: Số lượng bò giống của tỉnh Thanh Hoá