Tính cấp thiết của đề tài Cam Citrus sinensis Osbeck là một loại quả á nhiệt đới và nhiệt đới có giá trị cao trên thị trường quốc tế, là một sản phẩm lý tưởng đã được nghiên cứu trong
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ NGỌC DIỆP
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐỐI VỚI GIỐNG CAM CANH TRỒNG TẠI HUYỆN
LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ NGỌC DIỆP
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐỐI VỚI GIỐNG CAM CANH TRỒNG TẠI HUYỆN
LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60.62.01.10
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thế Huấn
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được các thông tin trích dẫn và chỉ rõ nguồn gốc
Thái nguyên, tháng năm /2014
Tác giả luận văn
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn tốt nghiệp của mình, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình và quý báu của các cơ quan: Trường Đại học nông lâm Thái Nguyên; Ủy ban nhân dân huyện Lục Ngạn;
Ủy ban nhân dân xã ; các hộ dân và các đồng nghiệp
Đặc biệt, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thế Huấn
thầy là những người trực tiếp hướng dẫn tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo bộ môn Sinh
lý thực vật, khoa Nông học; phòng quản lý đào tạo Sau đại học, các thầy cô
đã tham gia giảng dạy chương trình cao học - Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên đã giúp đỡ và tham gia các ý kiến quý báu cho luận văn
Nhân dịp này tôi xin gửi lời cảm ơn đến các đồng chí, đồng nghiệp trong và ngoài cơ quan công tác; những người thân, bàn bè đã cổ vũ và giúp
đỡ về mọi mặt để tôi hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Lê Ngọc Diệp
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2
2
2
2
3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
4
4
4
5
1.2 Tình hình sản xuấ ế giới và Việt Nam 6
1.2.1 Tình hình sản xuấ ế giới 6
1.2.2 Tình hình sản xuấ ớc 8
1.2.3 Các vùng trồng cam quýt chính ở Việt Nam 8
1.2.4 Nguồn gốc và phân loạ 11
1.3 Yêu cầu ngoại cảnh của cây cam quýt 16
16
21
1.4 Đặc điểm ra hoa đậu quả của cam quýt 23
1.5 Một số nghiên cứu về phân bón lá và sử dụng chất điều hòa sinh trưởng cho cây cam 25
Trang 61.6 Giới thiệu về cây cam Canh 29
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Đối tượ ời gian nghiên cứu 32
32
32
33
2.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 33
2.3.1 Nội dung nghiên cứu 33
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu 33
2.4 Phương pháp xử lý số liệu và tính toán 38
N 39
- 39
3.1.2 Đánh giá hiện trạng tình hình sản xuất cây ăn quả huyện Lục Ngạn 42
3.1.3 Đánh giá hiện trạ 44
sâ 48
48
51
52
53
ống cam Canh 53
cây cam 55
ụng quả của cam Canh 56
57
3. 3 Canh 60
3 Canh 60
Trang 73 62
4.4.3 Ả 3 ụng quả 64
3 64
3.4.5 Ảnh hưởng của GA3 đến các yếu tố cấu thành năng suất cam Canh 66
cam Canh 67
68
68
3.5.3.Ảnh hưởng của thời gian khoanh cành đến các yếu tố cấu thành năng suất của cam Canh 70
73
73
73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
74
77
Trang 8: Khối lượng : Nông nghiệp và phát triển nông thôn : Năng suất
: Năng suất trung bình : Nhà xuất bản
: Phát triển nông thôn : Trung bình
: Thứ tự : Ủy ban nhân dân
Trang 9
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tình hình sản xuất cam quýt trên thế giới năm 2013 6
Bả 41
Bả 43
Bảng 3.3: Số hộ, tỷ lệ hộ áp dụng biện pháp kỹ thuật chăm sóc cam Canh 48
49
cam Canh 50
51
53
ống cam Canh 54
55
Bảng 3.10 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến động thái rụng quả của cam Canh 56
57
Bảng 3.12: Ảnh hưởng của phân bón lá đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của cam Canh tại Lục Ngạn - Bắc Giang 59
3 61
3 63
63
Bảng 3.15: Ảnh hưởng của GA3 đến động thái rụng quả của cam Canh tại Lục Ngạn, Bắc Giang 64
3 65
Bảng 3.17 : Ảnh hưởng của GA3 đến các yếu tố cấu thành năng suất cam Canh 66
68
cam Canh 68
Canh 69
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
58 Hình 3.2.Ảnh hưởng của phân bón lá đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của cam Canh tại Lục Ngạn – Bắc Giang 59
Trang 11MỞ ĐẦU ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cam (Citrus sinensis Osbeck) là một loại quả á nhiệt đới và nhiệt đới
có giá trị cao trên thị trường quốc tế, là một sản phẩm lý tưởng đã được nghiên cứu trong mậu dịch thương mại và ở Việt Nam cây cam đã trở thành một cây trồng phổ biến trong các vườn cây ăn trái
Cây ăn quả là loại cây trồng đã có từ rất lâu, gắn liền với đời sống sản xuất của người dân Ngày nay cây ăn quả chiếm một vị trí quan trọng trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng và đang trở thành một phong trào rộng lớn ở các tỉnh trung du miền núi, do đã khai thác phát huy được tiềm năng lợi thế của những vùng đất đồi núi và mang lại thu nhập cao, giúp người nông dân xoá đói giảm nghèo và nhiều hộ đã đi đến làm giàu Lục Ngạn là huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang, có tổng diện tích đất tự nhiên là 101.223 ha và 45,6 nghìn
hộ dân Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới nền kinh tế đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, Lục Ngạn đã có nhiều chuyển biến tích cực trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đặc biệt là trồng cây ăn quả Hiện nay toàn huyện có 22 nghìn ha diện tích cây ăn quả Mức tăng trưởng về (GO) của các ngành kinh tế trong năm năm gần đây đạt bình quân hàng năm là 16,4%, kinh tế nông lâm nghiệp chiếm 61,18% trong cơ cấu các ngành kinh tế Tỷ trọng ngành trồng trọt chiếm 72,15% cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp, trong đó cây ăn quả chiếm 75% trong ngành trồng trọt
Thành công lớn của Lục Ngạn trước đó là phát triển cây vải thiều trên đất đồi núi đã đem lại nguồn thu nhập lớn cho người dân ở đây, không những giúp họ xóa đói giảm nghèo mà còn phát triển kinh tế Tuy nhiên,từ năm 2001 đến nay cây vải thiều đang gặp nhiều khó khăn về thị trường, hơn nữa những năm gần đây biến đổi khí hậu xảy ra thất thường nên cây vải bị mất mùa thường xuyên, gây khó khăn cho người nông dân Chính vì vậy, các hộ nông
Trang 12dân ở Lục Ngạn đã đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng chuyển từ cây vải sang các loại cây ăn quả khác, đặc biệt là cam Canh Rất nhiều người đã trồng cam Canh trên diện tích rộng thành quy mô trang trại Tuy nhiên, việc phát triển cây cam Canh tại Lục Ngạn là tự phát, chưa có các nghiên cứu cụ thể về đặc điểm sinh trưởng phát triển nên chưa có căn cứ để đánh giá khả năng tính thích nghi của cam Canh trồng tại vùng sinh thái của Lục Ngạn, Bắc Giang
Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm nông sinh học và một số biện pháp kỹ thuật đối với cam Canh trồng tại huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang”
Nghiên cứu một số đặc tính sinh học của cam Canh làm cơ sở xây dựng đặc điểm giống
Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, chất lượng của cam Canh để bổ xung, hoàn thiện quy trình trồng và thâm canh cam Canh tại Lục Ngạn, Bắc Giang
Trang 13Vì vậy việc nghiên cứu về các đặc điểm của cam Canh cùng với các biện pháp kỹ thuật tác động đến cây sẽ đem lại cho chúng ta thêm hiểu biết về cây trồng Từ đó đưa ra các biện pháp kỹ thuật mới để phát triển cam Canh lâu dài và phù hợp hơn với khu vực Lục Ngạn
Kết quả nghiên cứu giúp đánh giá được tình hình sản xuất, đặc điểm sinh vật học của cam Canh
Tìm ra các biện pháp kỹ thuật phù hợp với cây cam Canh đem lại hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất ở Lục Ngạn
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Trang 15
Gibberellin (GA3
Trang 161.2 Tình hình sản xuất cam, trên thế giới và Việt Nam
Hiện nay cam quýt được phát triển rộng khắp trên thế giới, có thể nói là chỉ đứng sau quả nho Sự mở rộng của các vùng thâm canh, chuyên canh cam quýt trên thế giới có sự tương quan với các cuộc cách mạng công nghiệp ở các vùng Vùng nào sớm phát triển công nghiệp thì nghề cam quýt cũng phát triển theo
Bảng 1.1 Tình hình sản xuất cam quýt trên thế giới năm 2013
tích
(ha)
Châu Á Châu Âu Châu Mỹ Châu Phi
Châu Đại Dương
(Nguồn FAOSTAT năm 2014)
Cam quýt nổi tiếng thế giới hiện nay được trồng phổ biến ở những vùng có khí hậu khá ôn hòa thuộc vùng Á nhiệt đới hoặc vùng khí hậu Ôn đới ven biển chịu ảnh hưởng của khí hậu Đại dương
Các nước trồng cam quýt nổi tiếng hiện nay đó là:
- Địa Trung Hải và Châu Âu bao gồm các nước: Tây Ban Nha, Italia,
Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Isaren, Tunisia, Algeria
- Vùng Bắc Mỹ bao gồm các nước: Hoa Kỳ, Mexico
Trang 17- Vùng Nam Mỹ bao gồm các nước: Braxin, Venezuela, Argentina, Uruguay
- Vùng Châu Á bao gồm các nước: Trung Quốc và Nhật Bản
- Các hòn đảo Châu Mỹ bao gồm các nước: Jamaica, Cu Ba, Cộng hòa Dominica
Qua bảng số liệu trên có thể thấy trong giai đoạn từ năm 2010 - 2011 trên thế giới không chỉ diện tích trồng các cây cam quýt tăng lên mà năng suất
và sản lượng cũng tăng dần lên theo, như năm 2011 tổng diện tích trung bình của cả thế giới đạt 3.878.121 ha, sản lượng đạt hơn 69 triệu tấn, tuy nhiê
y
Châu Mỹ
, các nước sản xuất nhiều như Mỹ, Mexico, Cuba, Costarica, Braxin, Achentina… tuy hình thành các vùng sản xuất cam, quýt của châu Mỹ có muộn hơn các châu lục khác nhưng, nhờ có điều kiện tự nhiên thuận lợi cùng với các tiên bộ khoa học kỹ thuật mà các nước châu Mỹ đặc biệt là Mỹ đã phát triển ngành sản xuất cây có múi một cách mạnh mẽ
lên: từ năm 2010 - 2012 năng suất của châu Mỹ đã tăng một cách đáng kể, từ 198.399 lên 211.166 ( tạ/h
Trang 18
1.2.2 Tình hình sản xuất cam, ớc
Ở Việt Nam cam quýt được đưa vào từ thế kỷ XVI, và phát triển hơn đến nay Qua khoảng thời gian lâu dài, những cây cam quýt ban đầu đã được thuần hóa và chọn lọc để trở thành những giống cho năng suất cao phẩm chất tốt và phù hợp với điều kiện tự nhiên của Việt Nam
Sau khi giải phóng đất nước cho đến những năm 60 của thế kỷ 20 cam quýt ở Việt Nam vẫn là những cây trồng hiếm, chưa được phổ biến, mà chỉ được trồng chủ yếu là trong nhà dân Cam chỉ được trồng tập trung ở một số vùng chuyên canh như Xã Đoài (Nghệ An), Bố Hạ (Bắc Giang) đây là 2 vùng chuyên canh về cam trong những năm đó Mặc dù, có vùng chuyên canh cam nhưng trên thị trường cam quýt vẫn là mặt hàng hiếm có
Từ những năm 1960 ở miền Bắc thành lập một loạt các nông trường quốc doanh, trong đó có rất nhiều các nông trường trồng cam quýt như SôngLô, Cao Phong, Sông Bồi, Thanh Hà, Sông Con đã hình thành một số vùng trồng cam chính ở nước ta như: vùng Nghệ An khoảng 1.000ha, vùng tây Thanh Hoá 500 ha, vùng Xuân Mai (Hoà Bình) 500 ha, vùng Việt Bắc
500 ha và các vùng còn lại khác 500ha [7]
1.2.3 Các vùng trồng cam quýt chính ở Việt Nam
+ Vùng đồng bằng sông cửu long
Theo Trần Thế Tục (1980), các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng và An Giang có vị trí từ 9015’ đến
10030’ vĩ bắc và 1050 đến 106045’ độ kinh đông, địa hình rất bằng phẳng, có
độ cao từ 3 - 5m so với mặt nước biển Các yếu tố khí hậu, nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa và ánh sáng ở vùng này rất phù hợp với việc phát triển sản xuất cây có múi Lịch sử trồng cam quýt ở đồng bằng sông Cửu Long có từ lâu đời nên người dân ở đây rất có kinh nghiệm trồng trọt, chăm sóc loại cây ăn quả
có múi Cam quýt được trồng chủ yếu ở các vùng đất phù sa ven sông hoặc trên các cù lao lớn nhỏ của sông Tiền, sông Hậu có nước ngọt quanh năm, nơi
Trang 19đây có tập đoàn giống cam quýt rất phong phú như: Cam chanh, cam sành, Bưởi, chanh Giấy, quýt, [24]
Theo Gurdwer, cam của Nam Bộ trái lớn, hương vị tuyệt hảo, vượt xa loại cam mang từ Trung Hoa vào cùng mùa Các giống được ưa chuộng và trồng nhiều hiện nay là: Cam sành, cam Mật, quýt Tiêu (quýt hồng), quýt Siêm, quýt Đường, bưởi Đường, bưởi Năm Roi, bưởi Long Tuyễn Năng suất các giống kể trên ở điều kiện khí hậu, đất đai vùng đồng bằng sông Cửu long tương đối cao [40]
+ Vùng khu 4 cũ
Gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh trải dài từ 180 đến 20030’
vĩ độ bắc, trọng điểm trồng cam quýt vùng này là vùng Phủ Quỳ - Nghệ An gồm một cụm các Nông trường chuyên trồng cam với diện tích hiện nay khoảng 800 ha Các giống cam ở Phủ Quỳ có khả năng sinh trưởng tốt và năng suất tương đối ổn định Hai giống Sunkiss và Xã Đoài có ưu thế về tiềm năng, năng suất và sức chống chịu sâu bệnh hại trên cả cây và quả [9], [14]
Huyện Hương Khê là một trong những vùng đất miền núi của tỉnh Hà Tĩnh Nhân dân ở đây đã có tập quán trồng bưởi lâu đời, đặc biệt là bưởi Phúc Trạch, một trong những giống bưởi đặc sản ngon nhất hiện nay [5], [14], [23] Ngoài bưởi Phúc Trạch ở vùng này còn có một giống cam quýt rất nổi tiếng đó là cam
Bù Cam Bù có quả to, ngon, màu sắc hấp dẫn, chín muộn nên có thể đưa vào cơ cấu cam quýt chín muộn ở nước ta hiện nay Cam Bù có năng suất cao nhờ có bộ
lá quang hợp tốt và số lượng lá/cây lớn, có tính chịu hạn tốt Cam Bù thường được trồng với mật độ cao (600 - 1000 cây/ha) để cho cây chóng giao tán, che phủ đất trống xói mòn và hạn chế ánh sáng trực xạ ở vùng núi thấp [4],[10]
+ Vùng miền núi Phía Bắc
Vùng này có các tỉnh trồng cam với diện tích lớn đó là: Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn và Thái Nguyên với điều kiện khí hậu hoàn toàn khác với hai vùng trên, cam quýt được trồng ở các vùng đất ven sông, suối như: Sông Hồng, Sông Lô, Sông
Trang 20Gâm, Sông Thương, Sông Chảy cam quýt được trồng thành từng khu tập trung 500 ha hoặc trên 1000 ha như ở Bắc Sơn - Lạng Sơn, Bạch Thông - Bắc Kạn, Hàm Yên, Chiêm Hóa - Tuyên Quang, Bắc Quang - Hà Giang, tại những vùng này cam quýt trở thành thu nhập chính của hộ nông dân, đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất so với các loại cây trồng khác trên cùng loại đất Do loại hình sinh thái phong phú dẫn đến có nhiều loại cam quýt, đặc biệt ở vùng núi phía bắc là nơi chứa đựng tập đoàn giống cam quýt đa dạng [1], [3], [10]
Thời kỳ này có khoảng 3.000 ha cam quýt và phát triển khá mạnh mẽ, sản lượng hàng năm đã đạt vài nghìn tấn Năng suất bình quân những năm đó
Phủ Quỳ (Nghệ An) đạt bình quân toàn nông trường 220 tạ
từ năm 1975 trở lại đây ở miền Bắc diện tích và sản lượng cam có xu hướng giảm dần, những diện tích được trồng vào thời kỳ 1960 -1965 thì nay đã già cỗi, sâu bệnh rất nặng Vì vậy, đã chuyển sang trồng các loại cây khác hoặc trồng lại Tuy nhiên vào thời điểm đó, ở miền Nam, diện tích và sản lượng cam quýt lại tăng lên nhất là khu vực tư nhân, các tỉnh có diện tích cam nhiều như Vĩnh Long, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp [4]
Cam quýt của nước ta phong phú về chủng loại giống, có nhiều giống nổi tiếng đặc trưng cho vùng Tuy nhiên việc mở rộng diện tích cam quýt còn gặp nhiều khó khăn, đó là do điều kiện thời tiết thất thường, cơ sở hạ tầng yếu kém, tiếp cận thị trường khó khăn, trình độ thâm canh thấp, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn chậm chạp do trình độ dân trí không đồng đều giữa các vùng, công tác bảo vệ thực vật chưa được quan tâm chu đáo, công tác tuyển chọn giống và sản xuất cây giống chất lượng chưa được chú trọng đúng mức [7], [30]
Phát triển cam quýt ở nước ta phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước là chủ yếu và một phần dùng cho xuất khẩu Hiện nay với khoảng trên 60 triệu dân sống ở các thành phố, thị xã, thị trấn, mức tiêu thụ quả đang có xu hướng tăng lên
Trang 21Tập quán tiêu thụ quả của nhân dân ta từ xưa đã thành truyền thống Quả là nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của dân đô thị Trong các ngày giỗ chạp, ngày hội, ngày tết, thăm hỏi lẫn nhau nhân dân cũng dùng đến quả tươi, với mức sản xuất hiện tại mới đạt 48 kg quả các loại bình quân cho một đầu người/năm (kể cả hơn 1-1,5 vạn tấn quả có múi nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam theo số liệu của tổng cục Hải Quan) [25]
Nhìn chung, cam quýt là một trong những cây ăn quả rất quan trọng ở Việt Nam Dự báo trong những năm tới, diện tích và sản lượng cam quýt sẽ tiếp tục phát triển; các vùng cam quýt trọng yếu trên cả nước đã và đang tiếp tục chuyển giao khoa học kỹ thuật cho nhân dân để áp dụng sản xuất theo hướng chuyên canh, tập trung Điều này cho thấy, mặc dù có một số hạn chế về mặt sinh thái, khoa học kỹ thuật song cam quýt vẫn được quan tâm phát triển mạnh ở Việt Nam
1.2.4 Nguồn gốc và phân loạ
ở Trung Quốc đều là nguyên sản (trừ bưởi, song cũng đã được nhập vào
nghề trồng cam quýt đã có cách đây 3.000-4.000 năm, từ thời Hán đã khá phát triển sang thời Tống đã có cuốn “Quýt lục” của Hàn Ngạn Trực, ghi chép
tỉ mỷ về phân loại, cách trồng và chế biế
, chanh (Citrus sinensis Obeck
, Tanaka (1954) [42]
Trang 22(Citrus nobilis
Trang 23chanh, bưởi đều thuộc họ cam (Rutaceae), họ phụ cam, quýt (Aurantoideae) Theo
Varoxop, Steiman - 1982 có gần 250 loài được chia ra làm nhiều chi và loài khác nhau
Trong đó có 3 chi được trồng từ lâu đời để lấy quả là chi cam quýt (Citrus), chi cam 3
Trang 24lá (Poncirus), chi quất (Fortunella) Chi Citrus là quan trọng nhất được chia thành 2 chi phụ là Eucitrus (các loài quan trọng là : Cam, chanh, quýt, bưởi) và Papeda [49]
Cây có múi thuộc nhiều chủng loại khác nhau, ngoài chi Citrus chỉ có 2 chi khác đã được trồng là chi Poncirus (cam ba lá) và chi Fortunnella (quất)
do đó công tác phân loại có gặp nhiều khó khăn nhất là phân loại nông nghiệp
Có nhiều tác giả phân loại trên thế giới như: Swingle, Hodgson, Bailey, Tanaka, Scora, Reece Qua bảng phân loại cam quýt cho thấy cam quýt hiện nay có mối quan hệ họ hàng với tổ tiên của chúng
Cam quýt thuộc họ Rutaceae (có khoảng 130 giống), họ phô Aurantioideae (có khoản 33 giống), téc phô citrinae (có khoảng 28 giống), téc phô tritrinae Việc phân loại các giống trong họ phô Aurantioideae hiện nay là do W T Swingle (Swingle và Reece, 1967) Téc phô Citrinae có khoảng 13 giống, trong đó có 6 giống quan trọng là:
Citrus, Poncirus, Fortunella, Erenmocitrusm, Microcitrus và Clymenia Đặc điểm
chung của 6 giống này là cho trái có con tép (phần ăn được ở trong múi) với cuống thon nhỏ mọng nước Số nhị đực nhiều bằng hay hơn 4 lần số cánh hoa
Ngoại trừ giống Poncius có lá rụng theo mùa, các giống còn lại có lá
xanh quanh năm Hai trong 6 giống này có khả năng chịu lạnh tốt, đó là
Ponicitrus (rông lá hàng năm, lá có 3 lá chét) và Fortunella (kim quất) Giống Eremocitrus và Microcitrus được tìm thấy ở dạng hoang dại, hầu hết ở Úc và Euremocitrus là giống chịu lạnh tốt, cả hai đều được lai thành công với Ctrus
và Ponicitrus Giống thứ 6 là Clymenia được biết duy nhất từ đảo Thái Bình
Dương của New Izeland, không được lai tạo với các giống khác
Giống Citrus được chia làm 2 nhóm nhỏ là Eucitrus và Papeda Nhóm
Papeda có 6 loài, thường dùng làm gốc ghép hay lai với các loài khác và đã
lai tạo được nhiều giống nổi tiếng
t (Citrus reticula) cây cao ch
Trang 25
-(Italy), Tây Ba Nha, nam California [16]
Trang 26Cam chanh (Citrus sinensis osbbeck)
Theo Trần Thế Tục (1980) [24], và nhiều tác giả khác cho rằng cây cam, quýt, chanh, bưởi sinh trưởng được trong phạm vi nhiệt độ từ 12 - 39o
C,
Trang 27nhiệt độ thích hợp nhất từ 23-27oC Tại nhiệt độ thấp -5oC có một số giống có thể chịu được trong thời gian rất ngắn Khi nhiệt độ cao 400C kéo dài trong thời gian dài trong nhiều ngày cam quýt sẽ ngừng sinh trưởng, biểu hiện bên ngoài là lá rụng, cành khô héo Tuy nhiên cũng có giống chỉ bị hại khi nhiệt
độ không khí lên đến 50 - 570
C [2], [3], [8]
Nhìn chung nhiệt độ đất và nhiệt độ không khí ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của cam quýt như: Sự phát lộc, quá trình quang hợp, sự hoạt động của bộ rễ, sự lớn lên của quả.v.v Bằng những nghiên cứu của mình Vũ Công Hậu (1960) cho rằng rễ cam quýt hoạt động tốt khi nhiệt độ tăng dần từ 9 -
23oC Khi nhiệt độ tới 26oC cây hút đạm mạnh Ngoài ra sự chênh lệch nhiệt
độ giữa ngày và đêm lớn làm quả phát triển mạnh, đồng thời có ảnh hưởng đến khả năng tích luỹ, vận chuyển đường bột và axit trong cây vào quả Tuy nhiên, khi nhiệt độ ban đêm quá thấp làm cho hoạt động này kém đi [8]
12 - 390
Nhìn chung, nhiệt độ là yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng tới toàn
bộ hoạt động sống của cây cũng như năng suất, chất lượng quả (Frederick and GeneAlbrigo, 1998) [38]
Ở vùng á nhiệt đới cây có múi thường có 2 - 5 đợt sinh trưởng, còn ở vùng nhiệt đới thấp, một số vùng á nhiệt đới và vùng duyên hải có thể có nhiều đợt sinh trưởng (Mendel, 1969) [50] Nhiệt độ để bắt đầu phát sinh một đợt lộc là >12,50C, thời gian sinh trưởng lộc khác nhau ở mỗi vùng sinh, nhiệt độ tốt nhất cho sinh trưởng các đợt lộc là từ 25-300C, cho hoạt động của bộ rễ từ 17-300
C
Sự hút nước và các chất dinh dưỡng tăng khi nhiệt độ tăng tro
17 - 300 (Cassinetal, 1968)[34]
Trang 28Trên cây có múi thường có 5 loại cành hoa: (i) cành hoa không có lá; (ii) cành hỗn hợp có một vài hoa và nhiều lá; (iii) cành hỗn hợp có nhiều hoa và một vài lá; (iv) cành hỗn hợp có một vài hoa, một vài lá; và (v) chồi sinh dưỡng chỉ có lá Những cành có tỷ lệ hoa, lá như loại (iv) có tỷ lệ đậu quả và giữ được tỷ lệ quả đến thu hoạch cao nhất Số lượng hoa không lá, có
lá liên quan đến nhiệt độ Những vụ có nhiệt độ mùa đông thấp, kéo dài dẫn đến sự phát triển cành nhiều hoa không lá và ngược lại nhiệt độ cao sẽ tạo ra nhiều cành hoa có lá Số hoa tạo ra có tương quan thuận với thời gian cảm ứng nhiệt độ thấp (Erner and Bravdo, 1983) [37]
Nhiệt độ có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả thụ phấn, hoặc gián tiếp đến hoạt động của côn trùng (ong sẽ không hoạt động khi nhiệt độ xuống
-
Ẩm độ không khí cũng ảnh hưởng tới thụ phấn và thụ tinh, ẩm độ cao làm tốc độ nảy mầm cũng như sinh trưởng của ống phấn nhanh hơn tốc độ mở của vòi nhụy gây vỡ ống phấn và quá trình thụ tinh không được thực hiện Ngoài ra ẩm độ không khí có liên quan tới số ngày mưa làm hạn chế sự hoạt động của côn trùng cũng như sự tung phấn của hoa, ẩm độ thích hợp cho thụ phấn từ 80 - 85% (Pinhas Spiegel - Roy, 1996) [54]
Rụng quả sinh lý là sự rối loạn liên quan đến sự cạnh tranh hydrat cacbon, nước, hoocmon và các chất trao đổi chất khác giữa các quả non, tuy nhiên vấn đề này rõ nhất lại là do tác động của các Stress, đặc biệt là nhiệt độ cao và thiếu nước Nhiều tác giả đã chứng minh được rằng khi nhiệt
Trang 29độ khô 400
(Davies, 1986) [36]; (Garcia - Luis, 1992)[39]
Theo Hoàng Ngọc Thuận (2000 a), lượng mưa thích hợp cho các vùng trồng cam quýt trên dưới 2.000mm, Cam cần 1.200 - 1.500, quýt cần nhiều hơn từ 1.500 - 2.000, chanh cần ít nước hơn quýt, lượng nước trong đất có ảnh hưởng rõ rệt đến hoạt động của bộ rễ, lượng nước được coi là đủ khi nước
tự do bằng 1% và độ đất bằng 60% độ ẩm bão hòa đồng ruộng [20]
Như vậy, nhiệt độ và ẩm độ là các yếu tố khí hậu quan trọng đối với sinh trưởng, phát triển cũng như năng suất chất lượng cây có múi nói chung, những thay đổi của nhiệt độ, ẩm độ có ảnh hưởng
Mức độ đồng hoá CO2 thực ít hơn 2µmol m-2 s-1
( Mendel, 1960) [50]; ( Kriedmann and Brars,1981) [46]
-
Cây có múi là loại cây ưa ẩm nhưng không chịu được úng vì rễ thuộc loại rễ nấm (hút dinh dưỡng qua một hệ nấm cộng sinh), do đó nếu ngập nước đất bị thiếu ôxy rễ sẽ hoạt động kém, ngập lâu sẽ bị thối chết làm rụng lá và quả non (Bevington and Castle, 1985) [33]
Trang 30Những nghiên cứu trên thế giới chỉ ra rằng: Nước đóng vai trò quan trọng trong sự điều tiết thời gian ra hoa và thúc đẩy sự ra hoa ở cây có múi Lượng mưa trung bình năm thích hợp cho trồng cây có múi là 1.250 - 1.850 mm Lượng mưa phân bố đều trong năm được cho là thích hợp hơn lượng mưa lớn tập trung vào một số ít tháng Cây có múi cần nhiều nước ở
thời kỳ bật mầm, ra hoa và quả phát triển (Frederick et al, 1998) [38]
Thiếu nước được sử dụng như là một phương tiện để tạo nên cảm ứng ra hoa ở cây có múi trong nhiều năm trở lại đây Phương pháp gây hạn cũng đã được sử dụng để cho cây có múi ra hoa trái vụ ở nhiều vùng sản xuất (Castle and Krezdorn, 1973) [35], (Inoue, 1990) [44]
Tại Việt Nam biện pháp xiết nước đã được thực hiện khá phổ biến trên một số giống bưởi trồng ở các tỉnh phía Nam (Da xanh, Năm Roi, ) nhằm tạo quả trái vụ Tuy nhiên biện pháp này khó thực hiện ở nhữ
-
t Tốc độ gió vừa phải có ảnh hưởng tốt tới việc lưu thông không khí, điều hoà độ ẩm trong vườn, giảm sâu, bệnh hại Tuy nhiên tốc độ gió lớn ảnh hưởng đến khả năng đồng hoá của cây đặc biệt những vùng hay bị gió bão sẽ làm cây gẫy cành rụng quả ảnh hưởng tới sinh trưởng và năng suất
[20],[12]
-
Trang 31[1],[24] -
Thực vật nói chung và cam quýt nói riêng, muốn sinh trưởng và phát triển tốt cần phải được cung cấp đầy đủ và cân đối các chất dinh dưỡng đa lượng cũng như vi lượng
+ Đạm (Nitơ): là nguyên tố vô cùng quan trọng và không thể thiếu được trong quá trình sinh trưởng đặc biệt trong sự hình thành bộ lá và có vai trò quyết định đến năng suất, phẩm chất của quả Nitơ tham gia vào quá trình hình thành và phát triển cành lá, xúc tiến hình thành các đợt lộc mới trong năm, có tác dụng giữ cho bộ lá xanh lâu Nhiều nghiên cứu cho thấy một quả cam Washington Navel muốn phát triển bình thường cần có 45 lá, cam Chanh cần 50 lá, bưởi Chùm cần 60 lá cho một quả.Tuy nhiên nếu thừa đạm sẽ làm cho lá và lộc sinh trưởng quá tốt, quả lớn nhanh nhưng vỏ dày, quả bị nứt và phẩm chất quả kém, mầu sắc quả đậm hơn, hàm lượng vitamin C có chiều hướng giảm Nhưng nếu thiếu đạm lộc non không phát sinh đúng lúc hoặc ra
ít, lá nhỏ, lá mất diệp lục, bị ngả vàng, cành quả nhỏ, mảnh và bị rụng lá, quả nhỏ, vỏ mỏng, năng suất giảm
+ Phân lân (Phospho): là nguyên tố dinh dưỡng rất cần cho cây sinh trưởng và phát triển đặc biệt là giai đoạn phân hóa mầm hoa Phân lân có
Trang 32ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng quả, đủ lân lượng axit trong quả giảm, tỷlệ đường/ axit cao, hàm lượng vitamin C giảm, vỏ quả mỏng, mã đẹp, lõi quả chặt, màu sắc quả hơi kém nhưng chuyển màu nhanh
Nếu thiếu lân cành, lá sinh trưởng phát triển kém, rụng nhiều, bộrễ kém phát triển, do đó năng suất, phẩm chất quả giảm ở mỗi thời kỳ sinh trưởng và phát triển khác nhau cây có nhu cầu về lượng lân cũng khác nhau, ví dụ ở giai đoạn kiến thiết cơ bản cây cần lân để phát triển bộ rễ, còn ở thời kỳ kinh doanh cây cần lân để phân hóa mầm hoa Tuy nhiên nếu dư thừa lân vừa gây lãng phí mà lại làm cho cam lâu chín vàng
+ Kali: theo Vũ Công Hậu (1996) kali rất cần cho sự sinh trưởng và phát triển của cam quýt, đặc biệt là thời kỳ ra lộc non và thời kỳ quả phát triển mạnh Kali ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất và phẩm chất quả cam quýt, vì kali tham gia vào quá trình vận chuyển các sản phẩm quang hợp về các cơ quan tích lũy trên cây Nếu cây được cung cấp đầy đủ kali quả to, ngọt, nhanh chín, có khả năng chịu được lâu dài khi vận chuyển đi xa hoặc cất giữ lâu ngày Tuy nhiên nếu thừa kali cây sinh trưởng kém, đốt ngắn, cây còi cọc, đặc biệt nếu quá nhiều kali sẽ gây nên hiện tượng hấp thu caxi, magie kém, quả to nhưng xấu mã, vỏ quả dày, lâu chín [7]
Ngoài các nguyên tố đa lượng N,P,K, các nguyên tố trung lượng và vi lượng cũng có vai trò quan trọng đối với sự sinh trưởng phát triển, năng suất
Trang 331.4 Đặc điểm ra hoa đậu quả của cam quýt
Cam quýt có 2 loại hoa, hoa đủ và hoa dị hình Hoa đủ cánh dài màu trắng mẫu 5, mọc thành chùm hoặc đơn độc Nhị có thể có phấn hoặc không có phấn,
số nhị thường gấp 4 lần số cánh hoa Bầu nhụy thường có 10-14 ô (múi), hoa có mùi thơm hấp dẫn Quả có từ 8-14 múi và có thể có 0-20 hạt Cam quýt đậu quả nhờ thụ phấn chéo hoặc tự thụ Hoa dị hình là hoa phát triển không đầy đủ, cuống hoặc cánh hoa ngắn, thường có số lượng ít Hạt cam phần lớn là đa phôi (0-13 phôi); chỉ riêng các giống lai củ [9]
Cây họ cam quýt thường ra hoa đồng thời với cành non và ra tập chung,
số lượng hoa rất nhiều Một cây cam có thể ra tới 60.000 hoa chỉ với 1% đậu trái cũng có thể cho năng suất 100kg/cây Tỷ lệ đậu quả phụ thuộc vào đặc tính di truyền, đặc điểm sinh lý của cây và điều kiện ngoại cảnh Cần chọn cây khỏe, phù hợp với điều kiện môi trường sinh thái, chăm sóc tốt, phòng trừ sâu bệnh kịp thời, tăng cường phân hữu cơ, giảm tối đa lượng phân bón vô cơ
và thuốc hóa học… để tăng tỷ lệ đậu quả và cho sản phẩm sạch, an toàn đáp ứng nhu cầu thị hiếu người tiêu dùng[9],[10]
Các yếu tố sinh thái có ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ đậu quả và sự phát dục của quả cam quýt Muốn tỷ lệ đậu quả cao, sinh trưởng tốt, phẩm chất cao thì trong kỹ thuật tròng trọ cần tác động sao cho bộ lá cây luôn xanh, chuyển lục đều và không bị rụng lá sớm (tu thọ lá dài)[11]
a) Cơ sở sinh lý của hiện tƣợng rụng quả
Trong đợi sống của cây trồng thường xảy ra hiện tượng rụng hoa, rụng quả, đâylà một hiện tượng sinh lý hoàn toàn bình thường do quá trình hình thành tầng rời ở cuống Sự rụng quả là sự thích ứng của cây khi thiếu dinh dưỡng, nước và hoocmon cho sự sinh trưởng của chúng, buộc chúng phải rụng đi một lượng nhất định quả non, để tập trung dinh dưỡng và hoocmon cho những quả khác Sự rụng quả thưởng mạnh mẽ vào lúc phôi sinh trưởng nhanh và lúc phình to của quả Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này là do 2 yếu tố đó là yếu tố môi trường và yếu tố nội tại
Trang 34ố môi trường ảnh hưởng đến sự rụng
Các nghiên cứu về môi trường ảnh hưởng đến sự rụng của các bộ phận cây như: lá, hoa, quả đã được quan tâm từ lâu Trong triết học Hy Lạp đã có nhận xét: điều kiện ẩm sẽ làm cho cây giữ lá tốt hơn nơi khô hạn Nói chung đất bạc màu lá rụng sớm hơn hoặc cây già lá rụng sớm hơn cây non [13]
Theo Addoicott, Lynch (1957), [32], thì nhệt độ có ảnh hưởng rõ rệt đến sự rụng, khi cây gặp nhệt độ thấp sẽ kích thích sự hình thành tầng rời ở cuống, nhiệt độ quá cao thúc đẩy nhanh chóng sự rụng
Theo Lockhart, JA (1960) [48], [49] cho rằng ánh sáng liên quan sự rụng theo nhiều cách khác nhau Khi cây thiếu ánh sáng sẽ hình thành tầng rời
ở cuống, lá, hoa, quả Theo Heninicke (1919) [42], sự rụng ở cây còn liên quan chặt chẽ đến độ chiếu sáng trong ngày, chế độ ánh sáng ngày dài sẽ làm hạn chế sự rụng
Theo Reuther W Smith PE (1973) [57], thì hạn cũng là một nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng đến sự rụng Khi bị hạn các bộ phận c cây sẽ rụng vì hạn liên quan đến sự thoái hóa của lá, tuy nhiên thừa nước cũng thúc đẩy sự rụng ở cây
Theo Trần Thế Tục(1980) [24], cho rằng rụng quả là do hạn hán, khi mưa đột ngột làm cho tốc độ lớn của quả mạnh hơn so với vỏ quả do đó làm cho quả nứt và quả bị rụng
ần không khí trong khí quyển cũng ảnh hưởng đến sự rụng Hàm lượng oxygen như một nhân tố thiết yếu liên quan đến sự rụng, do vậy nếu thiếu oxy sẽ kìm hãm sự rụng
Vai trò của etylen ảnh hưởng đến quá trình rụng đã được xác nhận Hiện nay do không khí ô nhiễm, hàm lượng etylen tăng cao làm tăng sự rụng hoa, rụng quả trên cây Ngoài ra khí NH3 cũng là một trong những nhân tố điển hình cảm ứng sự rụng của cây [10],[12],[25]
Trang 35Ngoài ra theo Addicott sự thiếu hụt một số chất như : N,Zn,Ca, S, Mg,
Bo, Fe sẽ kích thích sự rụng Tuy nhiên khi quá dư thừa Zn, Fe, Cl, nhất là khi phun lên lá sẽ làm cho quá trình rụng tăng nhanh [20], [24], [32]
Theo Hoàng Minh Tấn, Nguyễn Quang Thạch và các đồng sự khi chúng
ta đã hiểu được bản chất của sự rụng chũng ta có thể điều chỉnh các cơ quan có lợi cho sản xuất Muốn kìm hãm sự rụng thì người ta phun các hợp chất có chữa auxin hoặc GA3 cho lá hoặc hoa, quả non đồng thời kết hợp với việc cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cho cây sinh trưởng và phát triển thuận lợi [29]
c) Các yếu tố nội tại ảnh hưởng đến sự rụng
Như chúng ta đã biết quá trình quang hợp giúp cây tích lũy chất khô về các sản phẩm thu hoạch, cung cấp nguyên liệu cho hô hấp và cấu tạo thành tế bào, làm cho thành tế bào vững chắc và ngăn cản sự rụng
Hiệu quả của quang chu kỳ đến quá trình rụng có liên quan đến các phytocrom, qua các phytocrom tác động đến quá trình tổng hợp các hoocmon Theo Nitsch (1963) [52] dưới điều kiện ngày dài thì auxin và GA3 được tổng hợp nhiều hơn axit abxixic, tổ hợp các chất này làm tăng sinh trưởng và chống lại sự rụng Trong điều kiện ngày ngắn thì cân bằng này theo hướng làm tăng sự rụng [29],[43],[51],[52],[53]
Các yếu tố nội tại đựoc sản sinh nhờ tác động của yếu tố môi trường, ví
dụ nhiệt độ gây ra sự rụng là do nhiệt độ có ảnh hưởng đến quá trình hô hấp
và các qúa trình tổng hợp enzyme [29] Vì vậy việc tạo mọi điều kiện thuận lợi để cho cây trồng sinh trưởng phát triển tốt là việc làm cần thiết có tác dụng ngăn cản quá trình rụng của cây
1.5 Một số nghiên cứu về phân bón lá và sử dụng chất điều hòa sinh trưởng cho cây cam
Nghiên cứu về việc cung cấp phân bón qua lá cho cây cam
Phân bón lá thực chất là các chế phẩm mà trong đó chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng dạng đa lượng, trung lượng và vi lượng, nhằm cung cấp kịp thời cho
Trang 36cây Mỗi chất có vai trò khác nhau đối với cây trồng nhưng nếu thiếu cây trồng sẽ sinh trưởng và ph triển kém, năng suất, chất lượng nông sản giảm rõ rệt
Theo Hoàng Minh Tấn [29], trong thế giới thực vật nói chung và cam quýt nói riêng, lá cây ng chức năng là thoát hơi nước, quang hợp còn có vai trò quan trọng trong việc hấp thu các chất dinh dưỡng cho cây, sự hấp thu này được thực hiện qua lỗ khí khổng và qua các khoảng gian bào, các chất dinh dưỡng được di chuyển theo hướng từ trên xuống với tốc độ 30cm/h, chất dinh dưỡng di chuyển một cách tự do trong cây
Các kết quả nghiên cứu đều khẳng định rằng khi bón phân qua lá dạng hòa tan thì lá cây sẽ hấp thu hết 95% lượng phân Vì vậy việc cung cấp các chất dinh dưỡng dạng vi lượng cho cây thông qua lá là việc làm đem lại hiệu quả rất cao, có thể nói cao gấp 8-10 lần so với cung cấp vào đất Ngoài tác dụng bổ xung các chất dinh dưỡng kịp thời cho cây, phân bón lá còn tăng cường khả năng chống chịu sâu bệnh và các điều kiện ngoại cảnh bất lợi khác như nóng, lạnh, khô, hạn… Tuy nhiên, hiệu quả của phân bón lá phụ thuộc vào các giống cây trồng, các giai đoạn sinh trưởng của cây, loại phân, nồng
độ phân, liều lượng và thời gi dụng Các loại phân bón lá đang được
dụng rộng rãi hiện nay là Komix FT, Komix, Superzin K, Thiên nông Poster (Nguyễn Thị Thuận, et , al, 1966) [21]
ững vườn cây ăn quả không thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của bộ rễ, thì việc cung cấp các loại phân bón qua lá giúp cây sinh trưởng mạnh hơn, ngăn ngừa các bệnh về thiếu dinh dưỡng và giúp cây sinh trưởng tốt hơn
Các loại phân bón lá như: Komix FT, Komix, Superzin K, Thiên nông, FoFer và Pomior, đã có tác dụng tốt trên một số cây trồng như: rau, cà phê và một số cây ăn quả Theo kết quả nghiên cứu của Bùi Thị Nhuận, Bùi Thi Mỹ Hồng, Nguyễn Trịnh Nhất Hồng, Huỳnh Văn Tần tại Tiền Giang (1995-1996)
Trang 37cho thấy chúng đều có tác dụng hạn chế rụng quả non, góp phần làm tăng năng suất đồng thời không làm ảnh hưởng đến chất lượng và mẫu mã quả [21]
Trong những năm qua, sự ra đời của phân bón lá đã giúp cây trồng ngăn ngừa được các loại bệnh hại trên cây ngay cả trong giai đoạn cây đang sinh trưởng Phân bón lá ngoài cung cấp chất dinh dưỡng cho cây còn bổ xung thuốc bảo vệ thực vật được áp dụng rộng rãi trong việc trồng cây ăn quả, đặc biệt là họ cây cam quýt Tuy nhiên, hiện nay khi việc áp dụng rộng rãi phương pháp phòng trừ sâu bệnh hại tổng hợp qua phân bón lá cần được quan tâm hơn
Tác giả Hoàng Ngọc Thuận (2000) cho biết phân bón lá dạng phức hữu cơ Pomior là một loại phân tổng hợp có chứa nhiều nguyên tố đa, trung
và vi lượng với 20 axitamin cùng với một số chất điều hòa sinh trưởng Loại phân này đã được tiến hành thử nghiệm và đạt hiệu quả cao trên nhiều loại cây trồng Đặc biệt một số kết quả thử nghiệm gần đây Pomior đã thể hiện tác dụng xúc tiến rõ rệt đến khả năng sinh trưởng, tăng khả năng ra hoa, tăng khả năng đậu quả, tăng trọng lượng và phẩm chất quả trên cây có múi [20]
-
α-,
[29]
+ Một số nghiên cứu về sử dụng chất điều hòa sinh trưởng cho cam
Các chất điều hòa sinh trưởng hay còn gọi là hoocmon thực vật, nó có tác dụng điều hòa sự sinh trưởng và phát triển của cây.Các hoocmon thực vật
là các chất hữu cơ được tổng hợp một lượng nhỏ trong các bộ phận nhất định của cây và vận chuyển đến các bộ phận khác để điều hòa các họat động sinh
Trang 38lý, các quá trình sinh trưởng và duy trì mối quan hệ hài hòa giữa các cơ quan,
bộ phận thành một thể thống nhất [29]
Do chức năng điều chỉnh sự hình thành các cơ quan sinh sản và cơ quan dự trữ hoocmon nên có tác dụng quyết định sự hình thành năng suất thu hoạch Bằng việc xử lý các chất điều tiết các csinh trưởng ngoại sinh cho các đối tượng cây trồng khác nhaucon người có thể năng cao năng suất và phẩm chất các sản phẩm nông nghiệp (Phạm Văn Côn, 2004)[3],[12],[20]
Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của thực vật, sự hình thành hoa là dấu hiệu cây chuyển từ giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng sang giai đoạn sinh trưởng sinh sản, chuyển hướng từ quá trình hình thành mầm lá sang hình thành mầm hoa Sau thụ phấn thụ tinh là quá trình đậu quả, tuy nhiên sự đậu quả còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố nội tại và ngoại cảnh
Theo Hoàng Ngọc Thuận (2000.b) [20], phun chất kích thích sinh trưởng thực vật cho cam, quýt để nhằm:
- Nâng cao tỷ lệ đậu quả
- Làm quả to hơn
- Làm cho quả ít hạt hay không có hạt
- Làm rụng bớt hoa những năm cây ra quả nhiều, tránh hiện tượng ra quả cách năm
- Hạn chế rụng quả
Theo Lockhanrt, J.A (1961) [47], trong nhiều trường hợp GA3 kích thích sự ra hoa rõ rệt, ảnh hưởng đặc trưng của GA3 đến sự ra hoa là kích thích sự sinh trưởng và phát triển của trụ nằm dưới hoa (ngồng), nó được coi
là thành phần hoocmon ra hoa, có thể xử lý GA3 để có hoa quả trái vụ
Trang 39GA3 cũng có tác dụng trong việc phân hóa các cơ quan sinh sản đặc biệt là sự phân hóa giới tính đực và cái, kích thích sự hình thành hoa đực và
ức chế quá trình hình thành hoa cái, chính vì vậy mà người ta đã sử dụng GA
để điều khiển số lượng hoa đực của các cây họ bầu bí [24], [29] , [48]
GA3 có vai trò đối với sự sinh trưởng của cây non, thúc đẩy các lộc cành phát triển, tăng tỷ lệ đậu quả, làm quả nhanh lớn, giúp cho quả chín muộn, ức chế quá trình phân hoá mầm hoa, đặc biệt là tạo quả không hạt Tuy nhiên cần khảo nghiệm đối với từng giống cụ thể, ở các địa phương khác nhau Ngoài ra cần nắm vững nồng độ, thời kỳ phun, liều lượng và kỹ thuật phun thích hợp, trong đó nồng độ và thời kỳ phun có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng tỷ lệ đậu quả [24]
1.6 Giới thiệu về cây cam Canh
Cam Canh (cam đường Canh, cam Giấy) được trồng nhiều ở vùng Canh-Diễn (Từ Liêm, Hà Nội) nên có tên là Cam Canh Cam Canh chính là một loại quýt, vỏ mỏng và bóc dễ Cây sinh trưởng khoẻ, tán cây hình dù, lá màu xanh đậm, cao 3-3,5 m, đường kình 3-4 m, ra hoa tháng 2-3, thu hoạch tháng 11-12 Quả hình cầu dẹt, chín màu đỏ, vỏ mọng, ruột màu vàng, ăn ngọt, thơm Trọng lượng trung bình 80 gr-120 gr/quả Cam Canh thích nghi rộng, trồng được ở nhiều nơi, năng suất cao, nếu chăm sóc tốt, 1ha có thể thu 40-50 tấn quả Hiện nay, cam Canh đã được trồng nhiều ở Từ Liêm (Hà Nội), Văn Giang (Hưng Yên)
* Kỹ thuật trồng và chăm sóc cam Canh
Trang 40Thường xuyên kiểm tra vườn cây, phát hiện sâu bệnh kịp thời
Sử dụng các biện pháp canh tác (xén tỉa cành lá sâu bệnh ) sử dụng các loại thuốc BVTV sinh học, thuốc hoá học ít độc, không dùng thuốc cấm và chú ý sử dụng thuốc theo nguyên tắc 4 đúng và chú ý một số loại sâu bệnh