1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tư tưởng nguyễn trãi dưới cái nhìn hội nhập văn hóa

50 444 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 88,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nói đến Nguyễn Trãi là nói đến “con người khổng lồ của thế kỉ XV” Phạm Văn Đồng, nói đến một thiên tài nhiều mặt mà bất cứ lĩnh vực nào có bước chân của ông cũng để lại những dấu son khô

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

I Lí do chọn đề tài

Những bước tiến đáng khích lệ trên hành trình hội nhập: Tháng 11/2006, Việt Nam gia nhập WTO; tại New York, Việt Nam được các nước châu Á đề cử duy nhất vào thành viên không thường trực Hội đồng bảo an liên hiệp quốc nhiệm kì 2008-2009; Việt Nam tổ chức thành công APEC 14 với chủ đề: “Hướng tới một cộng đồng năng động vì phát triển bền vững và thịnh vượng”… Đó là sự ghi nhận của quốc tế về vị thế của Việt Nam trong bối cảnh mới của thế kỉ XXI.Con thuyền Việt Nam đã chính thức ra đại dương cùng bạn bè năm châu bốn biển trong một “thế giới phẳng” Chúng ta đến với thế giới bằng chính cái lợi thế của một nước “vốn xưng nền văn hiến

đã lâu” Văn hiến tức là văn hoá và hiền tài, là nhân tố trước tiên để xác lập

vị thế của một quốc gia, sau đó mới đến lãnh thổ,phong tục và triều đại Đó

là sự khẳng định của Nguyễn Trãi, anh hùng dân tộc và là danh nhân văn hoá của thế giới Nói đến Nguyễn Trãi là nói đến “con người khổng lồ của thế kỉ XV” (Phạm Văn Đồng), nói đến một thiên tài nhiều mặt mà bất cứ lĩnh vực nào có bước chân của ông cũng để lại những dấu son không hề phai nhạt cùng năm tháng, nói đến một trái tim yêu nước thương dân lớn lao, thâm trầm, sâu sắc; nói đến tư tưởng nhân nghĩa với tầm cao và chiều sâu giá trị xuyên suốt mấy trăm năm và cũng là nói đến án oan Lệ Chi Viên đã giết chết một con người, một tài năng, một tu tưởng kết tinh từ tinh hoa dân tộc Hơn sáu thế kỉ qua, cả dân tộc đau xót đi tìm Nguyễn Trãi Những thập niên cuối cùng của thế kỉ XX, nhân loại đi tìm Nguyễn Trãi, phong tặng danh nhân văn hoá thế giới Sách lịch sử tư tưởng Việt Nam viết:

“Tên tuổi của ông sáng chói trên cuốn sử vàng của dân tộc Có được vị trí đó, không những do cuộc đời, đức độ và ý thức vì dân, vì nước của ông,

mà quan trọng hơn là do tư tưởng của ông đã đạt tới tầm cao của thời đại,

Trang 2

ông đã khái quát được những vấn đề có tính quy luật của công cuộc cứu nước và dựng nước, chỉ ra được tầm quan trọng của nhận thức lý luận trong hoạt động thực tiễn, từ đó nâng tư duy của dân tộc lên một trình độ mới”

(Nguyễn Tài Thư)

Chính hoàn cảnh lịch sử, hoạt động thực tiễn, thiên tài trí tuệ và nhân cách vĩ đại của Nguyễn Trãi đã làm cho tư tưởng của ông có nhiều giá trị không chỉ đương thời mà còn có ý nghĩa mãi về sau Nhất là trong bối cảnh toàn cầu hoá ngày hôm nay, khi mọi vấn đề đều có tính hai mặt: cơ hội và thách thức, phát triển phải mang tính bền vững, hoà nhập với “ngôi nhà chung” của thế giới chứ không là hoà tan Đâu là “cái chất Việt Nam”? Điều

gì làm nên cội nguồn sức mạnh và bản lĩnh Việt Nam? Đọc lại Nguyễn Trãi của sáu trăm năm xưa, kết tinh “khí phách và tinh hoa của dân tộc” như lời đánh giá của thủ tướng Phạm Văn Đồng, sẽ cho chúng ta một cái nhìn thấu đáo xuất phát từ cội nguồn bản thể Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Trãi

đã để lại nhiều bài học quý báu về tinh thần nhân đạo, quan điểm mạnh dạn đổi mới, sáng tạo

Với mong muốn tiếp cận những tư tưởng tiến bộ, tích cực của Nguyễn

Trãi dưới một cái nhìn mới, chúng tôi mạnh dạn đưa ra đề tài “tư tưởng Nguyễn Trãi dưới cái nhìn hội nhập văn hóa”, để làm sáng rõ thêm những

cống hiến của tư tưởng Nguyễn Trãi vào sự nghiệp phát triển của lịch sử dân tộc Từ cái nhìn hội nhập văn hóa, chúng tôi sẽ trình bày giá trị tư tưởng của Nguyễn Trãi đối với sự phát triển của thời đại chúng ta ngày nay

II Lịch sử vấn đề

Việc nghiên cứu tư tưởng Nguyễn Trãi diễn ra sôi nổi, nghiêm túc kể

từ ngày ông mất đi cho đến ngày nay và cả mai sau nữa “Cây đại thụ thế kỉ XV” tỏa bóng rợp mát bốn thế kỉ về trước mà còn trên cả những chặng đường về sau, luôn có sức hấp dẫn nhà nghiên cứu các thời đại khác nhau

“khơi những nguồn chưa ai khơi” Có rất nhiều những ý kiến, quan điểm

Trang 3

khác nhau, song nhìn chung các thế hệ nhà nghiên cứu đều nhất trí rằng, Nguyễn Trãi là “người anh hùng dân tộc”, “người văn sĩ song toàn”, ngôi sao Khuê giữa bầu trời Đại Việt…Đỉnh cao của sự đánh giá là việc UNESCO công nhận Nguyễn Trãi là “Danh nhân văn hóa thế giới”, được tổ chức kỉ niệm trọng thể vào năm 1980 – nhân 600 năm ngày sinh của ông

Việc nghiên cứu và đánh giá Nguyễn Trãi ở nước ta đã có từ thế kỉ

XV Lê Thánh Tông có thể nói là người đầu tiên tổ chức sưu tập tài liệu, đánh giá đúng về Nguyễn “Lòng Ức Trai sáng tựa sao Khuê” Tiếp đó vào thời Hậu Lê, thời nhà Nguyễn, tư tưởng lớn lao, nhân cách cao đẹp của Nguyễn Trãi được Lê Quý Đôn, Ngô Thế Vinh, Phan Huy Chú, Nguyễn Năng Tĩnh… tiếp cận và khám phá Các trí giả này đã tập trung làm sáng tỏ tài văn chương của Nguyễn Trãi, một thứ văn chương “tải đạo”, “văn chương mạnh hơn vũ bão”, “sắc hơn gươm dao”, “văn chương sửa sang việc đời”

Đó cũng chính là tư tưởng và tác dụng của tư tưởng Nguyễn Trãi đối với sự phát triển của lịch sử dân tộc

Trong thời Pháp thuộc, vào thập kỉ 20-40 của thế kỉ XX trên các tạp chí Nam Phong, Tri Tân có những bài nghiên cứu về Nguyễn Trãi và một số sách tìm hiểu các khía cạnh hoạt động yêu nước và thơ văn về ông

Phải từ sau cách mạng tháng Tám 1945 đến nay, việc nghiên cứu, giới thiệu về Nguyễn Trãi mới đạt được những thành tựu cao về khoa học, tập trung ở một số công trình có giá trị như: “Nguyễn Trãi” của Trần Huy Liệu (1966), “Nguyễn Trãi đánh giặc cứu nước” của Nguyễn Lương Bích (1973),

“Nguyễn Trãi” của Bùi Văn Nguyên (1980), “Nguyễn Trãi khí phách và tinh hoa dân tộc”, “Sáu trăm năm Nguyễn Trãi”, “Kỉ niệm 600 năm sinh Nguyễn Trãi” (1980) của nhiều tác giả nhân dịp Nguyễn Trãi được công nhận “danh nhân văn hóa thế giới”

Có những công trình chung nghiên cứu về tư tưởng Nguyễn Trãi như

“Nguyễn Trãi nhà tư tưởng lỗi lạc của dân tộc” (Nguyễn Tài Thư), “Về căn

Trang 4

bản tư tưởng Nguyễn Trãi” (Trần Văn Giàu) đã đi sâu và làm sáng tỏ nhiều vấn đề về nguồn gốc tư tưởng Nguyễn Trãi và khẳng định giá trị tư tưởng Nguyễn Trãi trên nhiều lĩnh vực khác nhau Nhiều công trình khác đi sâu vào từng mặt của tư tưởng Nguyễn Trãi như “Nguyễn Trãi, người đứng đầu một văn phái yêu nước, thân dân, có lý tưởng xã hội cao cả” (Trần Văn Giàu),

“Nguyễn Trãi, nhà văn chiến đấu vì nền độc lập và văn hiến dân tộc” (Nguyễn Minh Tuân)… Ở các góc độ khác nhau, các nhà nghiên cứu đã cho

ta phần nào thấy được sự phong phú, toàn bích trong sự nghiệp và sáng tác của Nguyễn Trãi Tiếp cận Nguyễn Trãi từ phương diện văn hóa thì có

“Nguyễn Trãi trên tiến trình lịch sử văn hóa nước nhà” của Lê Văn Lan,

“Nguyễn Trãi trong bối cảnh văn hóa Việt Nam” của Trần Quốc Vượng là những công trình có cái nhìn từ chiều sâu, xuyên suốt quá trình diễn tiến của lịch sử nước nhà Ngoài ra có một số tác giả cũng đề cập đến vấn đề văn hóa trong phạm vi tác phẩm như báo cáo khoa học “Tìm hiểu và đánh giá cáo bình Ngô từ phương diện văn hóa” của Trần Hữu Hưng Nói chung, chưa có một công trình nào đề cập đến tư tưởng Nguyễn Trãi từ góc độ văn hóa một cách có hệ thống, đặc biệt là từ cái nhìn hội nhập văn hóa – một vấn đề vừa mang tính thời sự, vừa mang tính vĩnh hằng trong văn chương Nguyễn Trãi

III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Với giới hạn của một báo cáo, chúng tôi không thể đi sâu vào nội hàm văn hoá, không thể xem xét, khảo sát và đánh giá một cách hệ thống toàn bộ thơ văn Nguyễn Trãi mà chỉ trên cái nhìn hội nhập văn hoá để tiếp cận những phương diện chủ đạo trong tư tưởng Nguyễn Trãi

IV Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện báo cáo này, trên cơ sở vận dụng phương pháp duy vật biện chứng, chúng tôi còn kết hợp sử dụng các phương pháp:

- Phương pháp khảo sát

- Phương pháp lịch sử

Trang 5

-Phương pháp phân tích, so sánh…

Trang 6

B PHẦN NỘI DUNG

I Khái quát chung

1 Giới thuyết khái niệm

1.1 Khái niệm “Văn hóa”

Có thể nói trong thời đại ngày nay, văn hóa lên ngôi và được trao cho một thứ vương miện về tinh thần Có đến hàng trăm định nghĩa về văn hóa Người ta có khi quy chụp cho văn hóa những cái mũ rực rỡ màu sắc, kích cỡ dài ngắn khác nhau Nói như A.A.Migolat’ev: “Văn hóa là cái mà khi nhắc đến, ai cũng có thể hình dung ra được nói như thế nào nhưng lại không nói được chính xác nó là cái gì” Khó có một định nghĩa chuẩn xác về văn hóa

có lẽ bởi văn hóa không chỉ là một lĩnh vực riêng biệt của đời sống xã hội

mà luôn có mặt trong mọi lĩnh vực của đời sống nó xuyên suốt cơ thể xã hội, thấm sâu vào mọi hoạt động của đời sống con người Văn hóa ở đây là văn hóa theo nghĩa rộng, nghĩa gốc của từ, đó là “sự vun trồng” (Culture)

Theo Tổng giám đốc UNESCO Federico:

“Đối với một số người, văn hóa bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo Đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những cái làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất, cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động Cách hiểu thứ hai này đã được Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa họp và thông qua năm 1970 tại Venise”

(“Người đưa tin UNESCO”, số 11- 1989, trang 5)

Định nghĩa trên đã chỉ ra đặc trưng nội hàm của văn hóa là từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất, cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động Tuy nhiên, phải chăng văn hóa chỉ là những cái làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác? Theo chúng tôi, văn hóa còn bao gồm cả những yếu tố làm cho dân tộc này tương đồng với dân tộc khác, liên thông

Trang 7

với dân tộc khác, bình đẳng với dân tộc khác Chính điều đó đã tạo nên những hằng số chung của nhân loại, đồng thời cũng nói lên được tính phổ quát, tính quốc tế của văn hóa “Người Việt Nam tạo nên bản sắc văn hóa của mình không phải chỉ bằng những gì họ vốn có, sẵn có, mà bằng tất cả những gì mà họ thu nhận được, tái tạo và sáng tạo được từ các nền văn hóa khác” (Nguyễn Bá Thành) Hay nói cách khác, chối từ sự đô hộ của nước ngoài, không chối từ phần đóng góp rất có thể là quan trọng về nhiều mặt của các yếu tố văn hóa ngoại sinh: đó là cái đặc điểm hằng xuyên của đất Việt, người Việt, văn hoa Việt Nho giáo sở dĩ không đóng khung trong biên giới Trung Hoa vì các tư tưởng tiến bộ của nó đã được nêu lên thành chuẩn mực đạo đức cho toàn thể các thành viên Một xã hội mà quan hệ vua – tôi, thầy – trò, cha – con… đã được chuẩn hóa, đã trở thành những nguyên tắc có tính quy phạm và được các thành viên tuân theo thì đó là một xã hội văn minh, có tổ chức Khổng Tử là người Trung Quốc nhưng cái mẫu hình về trật

tự xã hội mà ông vẽ ra mang tính thế giới, tính nhân loại Nằm bên cạnh một nền văn minh lớn như Trung Hoa, Việt Nam đã có những ứng xử văn hóa phù hợp với đặc điểm dân tộc mình Và Nguyễn Trãi chính là người có công dẫn nhập Nho giáo, biến nó thành một mẫu hình mang màu sắc dân tộc vào đầu thế kỉ XV ở nước ta Đánh giá những cống hiến của Nguyễn Trãi với lịch

sử tư tưởng Việt Nam và sự phát triển nhân văn nhân loại, vào năm 1980, UNESCO đã ghi nhận ông là danh nhân văn hóa và được kỉ niệm rộng rãi trên toàn thế giới

2.1 Khái niệm “Tư tưởng”

Tư tưởng (tiếng Hy Lạp là Idéa có nghĩa là hình tượng) là một hình thái ý thức của con người phản ánh thế giới hiện thưc Bất cứ tư tưởng nào cũng do điều kiện sinh hoạt vật chất, do chế độ xã hội quy định và là sự phản ánh những điều kiện sinh hoạt vật chất của chế độ xã hội nhất định

Trang 8

So với một số nước có nền văn minh phát triển sớm như Trung Quốc,

Ấn Độ và một số nước Tây Âu thì Việt Nam không phải là nơi sản sinh ra những học thuyết tư tưởng lớn có vai trò chi phối sự phát triển xã hội như Nho gia, Đạo gia… Tuy nhiên, dân tộc Việt Nam cũng có những nhà tư tưởng tiêu biểu của mình Tư tưởng của họ tuy chưa được trình bày như những học thuyết lớn nhưng lại chứa không ít những giá trị sâu sắc những giá trị đó không những đã là cơ sở cho tư duy dân tộc trong một thời gian dài

mà còn có giá trị tích cực nhất định trong thời đại ngày nay Trong đó, Nguyễn Trãi là bộ mặt hoàn chỉnh đầu tiên về tư tưởng, ổn định nền móng cho tư tưởng Việt Nam tiếp tục phát triển về sau Qua nghiên cứu tư tưởng Nguyễn Trãi, ta không chỉ tìm thấy cột mốc đánh dấu tinh thần và trí tuệ tiêu biểu của thế kỉ XV mà còn là cả phương hướng của con đường lịch sử tư tưởng Việt Nam

2 Hội nhập văn hoá – xu thế tất yếu của lịch sử

Một con người, một dân tộc cũng như mọi cơ thể sống chỉ có thể tồn tại và phát triển được trong quá trình trao đổi giữa bản thân mình với thế giới xung quanh Cũng như thế một nền văn hóa bao giờ cũng ra đời và vận động

từ trong lòng dân tộc, phản ánh điều kiện kinh tế xã hội chính trị của đất nước Nhưng nó cũng đồng thời phải tiếp nhận những thành tựu của các nền văn hóa khác, như điều kiện tồn tại và phát triển của bản thân nó cũng như cả dân tộc

Hội nhập văn hóa là một hiện tượng phổ biến của xã hội loài người, một quy luật vận động và phát triển của các dân tộc và của mọi nền văn hóa Hội nhập văn hóa mang một nội dung cực kì lớn Nó phản ánh sự học hỏi và tiếp nhận lẫn nhau giữa các dân tộc, các quốc gia trong đó có quan hệ trên lĩnh vực vực văn hóa Xét về thực chất, hội nhập văn hóa chính là sự tác động qua lại biện chứng giữa các yếu tố nội sinh và ngoại sinh trong quá trình phát triển, trong đó các yếu tố nội sinh giữ vai trò chủ thể, có ý nghĩa

Trang 9

quyết định trong việc định hướng mối quan hệ của chúng với các yếu tố ngoại sinh Lịch sử nhân loại đã ghi lại những thành quả lớn lao của những quá trình hội nhập văn hóa Đó là ảnh hưởng của những nền văn minh lớn như Hy Lạp, La Mã, Ấn Độ, Trung Quốc đối với các nước chung quanh, trong khu vực và trên phạm vi toàn thế giới Đó là sự tiến bộ vượt của nhiều nước chậm tiến sau khi tiếp thu một cách sáng tạo trí tuệ và kinh nghiệm tiên tiến của nước ngoài Đó cũng còn là trường hợp của không ít những dân tộc

đã thất bại và diệt vong trong giao lưu văn hóa do một trong hai nguyên nhân, hoặc quá bảo thủ tự khép kín, hoặc mù quáng tiếp thu một cách nô lệ

Có thể khẳng định rằng mất nước nhiều khi còn giành lại được nhưng nếu như để mất đi bản sắc dân tộc sẽ là mất hết và mãi mãi

Hội nhập quốc tế về văn hóa bao giờ cũng đi liền với tiếp biến văn hóa (Acculturation) là sự gặp gỡ giữa hai hay nhiều nền văn hóa và kết quả của

sự gặp gỡ đối với mỗi nền văn hóa; một nền văn hóa có thể mất đi một số yếu tố và tạo ra được cái mới với những yếu tố hội nhập Nếu hiểu hội nhập quốc tế như trên thì về mặt văn hóa, Việt Nam đã có ba cuộc hội nhập trong quá trình lịch sử:

- Cuộc hội nhập quốc tế lần thứ nhất của Việt Nam là với khối Đông Nam Á, chịu ảnh hưởng của văn minhTrung Quốc Trong quá trình hội nhập

và tiếp biến văn hóa này, văn hóa Việt, Đông Nam Á vẫn giữ được và khẳng định bản sắc, trong khi tiếp thụ và cải biến những yếu tố lấy của nền văn hóa Trung Quốc Cả Việt Nam, Nhật Bản và Triều Tiên đã cùng văn hóa Trung Quốc “hòa nhi bất đồng” có những nét chung mà không đồng hóa (homogenization) do bản sắc mỗi dân tộc vững chắc

- Cuộc hội nhập lần thứ hai của dân tộc của dân tộc ta gắn với quá trình xâm lược của thực dân Pháp, bị biến thành thuộc địa, nhưng đồng thời lại gắn với một ý nghĩa là chúng ta hội nhập với một thế giới ngoài Trung Hoa Trước đó chúng ta gần như chỉ biết đến mỗi Trung Hoa Chính trong

Trang 10

cuộc hội nhập này mà chúng ta tiếp cận văn minh của một thế giới mới, đồng thời vẫn giữ được bản sắc của dân tộc và Việt Nam đã thành công Kết quả chính là thắng lợi của cách mạng tháng Tám 1945, trong suốt thế kỉ vừa giành độc lập, vừa bảo vệ độc lập.

- Cuộc hội nhập lần thứ ba chính thức được đánh dấu bằng sự kiện Việt Nam gia nhập WTO là sự khẳng định chúng ta đã hội nhập toàn diện với thế giới trong thời đại mới Làm thế nào để đứng trước “làn gió” hội nhập này, những giá trị văn hóa truyền thống không những không bị mất đi

mà còn được thăng hoa, tỏa sáng Dân tộc ta đã từng vượt lên mọi sự hủy diệt của ngoại xâm bạo tàn nhất, trên tinh thần ấy chúng ta sẽ ngày một giữ vững và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Như vậy Nguyễn Trãi ở vào giai đoạn cuộc hội nhập đầu tiên của dân tộc với những tư tưởng của Trung Quốc, cụ thể là Nho gia Và ông chính là người đã mang sứ mệnh vinh danh của lịch sử Tìm hiểu tư tưởng Nguyễn Trãi, chúng ta sẽ được chứng kiến một quá trình lựa chọn, tự trưởng thành bền bỉ trong lịch sử để tạo nên một bản sắc Việt Nam mà ông chính là một

“tập đại thành” vĩ đại của dân tộc

3 Bối cảnh văn hóa thời đại Nguyễn Trãi

3.1 Thế “lưỡng phân lịch sử” đặc trưng của thời đại

Xét ở phương diện văn hoá, Nguyễn Trãi từng sống trong một “thời kì quá độ, thời kì bản lề của hai chặng đường văn hoá Việt Nam” (Trần Quốc Vượng) Đó cũng là một trong những thời đại vẻ vang nhất trong lịch sử dân tộc- thời đại văn minh Đại Việt, lúc ý thức dân tộc đạt tới mức hoàn chỉnh, với khí thế quật khởi, tự lập, tự cường Xuyên suốt lịch sử hệ tư tưởng thời phong kiến của Việt Nam có thể chia thành ba giai đoạn:

-Giai đoạn 1: Thế kỉ X, có hai nhà sư nổi tiếng là Đỗ Pháp Thuận và Ngô Chân Lưu Các ông này được hai nhà Đinh – Lê mời tham dự chính sự

Trang 11

Ngô Chân Lưu còn được phong là Khuông Việt Đại sư Có thể coi thời kì này là thời kì quân chủ Phật giáo

-Giai đoạn 2: Thời Lý Trần, thế kỉ X-XIV, các vua Lý và vua đầu Trần đều hâm mộ Phật giáo, nhưng năm 1070 Lý Thánh Tông cho xây dựng Văn Miếu và đến năm 1075 thì mở khoa thi tam giáo Đặc trưng nổi bật của thời

kì này là “Tam giáo đồng nguyên” Văn hóa Lý Trần mang tư tưởng khai phóng, tín ngưỡng đa nguyên.Có thể gọi thời kì này là chế độ quân chủ dung hòa tam giáo

-Giai đoạn 3: từ nhà Hồ, Lê Sơ đến Nguyễn thế kỉ XV- XIX Nhà nước phong kiến tập trung quyền lực Nho giáo giữ vai trò độc tôn Đây là thời kì quân chủ Nho gia

Như vậy, trước Nguyễn Trãi là một nền văn hóa Đại Việt được cấu trúc theo mô hình Phật giáo và sau Nguyễn Trãi lại là một nền văn hóa được xây dựng theo mô hình Nho giáo Được coi là người con sống ở buổi giao thời giữa hai dòng Phật – Nho, Nguyễn Trãi đã tắm mình trong một bầu không khí văn hóa mà ở đó đang diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt giữa truyền thống và đổi mới, cuộc đấu tranh gay gắt giữa xu hướng Trung Quốc hóa và

xu hướng giải Trung Quốc hóa, xu hướng quốc hóa hay xu hướng đế chế hóa…Đó là thế lưỡng phân của lịch sử Việt Nam giữa ngã ba đường Cả nội

bộ giới cầm quyền, cả tầng lớp trí thức, tăng đồ, Nho gia, đạo sĩ… khó ai có một diện mạo nhất định đương thời mà thoát ra được cái thế lưỡng nan này

Và mặc dù chính Nguyễn Trãi “lại tỏ ra vô giác về tác động của mình đối với nền văn hóa ấy, vô giác về vị trí và vai trò của mình trên tiến trình văn hóa ấy” (“Nguyễn Trãi trên tiến trình lịch sử văn hóa nước nhà” – Lê Văn Lan), thì ông đã chính là nhân vật lịch sử đã tạo nên bước chuyển giao thời đại từ Phật giáo Lý – Trần sang Nho giáo, đồng thời đặt nền móng tư tưởng cho thời đại Nho giáo thịnh trị, đặc biệt trong buổi ban đầu còn rực ánh hào quang của tinh thần phục hưng dân tộc và ý nghĩa nhân văn, nhân đạo cao cả

Trang 12

3.2 Con đường dẫn nhập Nho giáo vào Việt Nam

Nho giáo, về thực chất, đó không phải là một tôn giáo, cũng không phải một học thuyết triết học mà là học thuyết chính trị - đạo đức của giai cấp phong kiến Trung Quốc Nó chủ trương dùng “nhân trị”, “đức trị” để quản lí xã hội, xây dựng ý thức tôn ti trật tự xã hội dựa trên các giềng mối Tam cương, Ngũ thường và chủ trương dưới phải tuyệt đối phục tùng trên Nho giáo không phải là một thứ chủ nghĩa, một ý thức hệ bởi Khổng Tử không phải là người phát kiến ra thứ tư duy đó Nho giáo cũng không phải là một thứ tôn giáo do Khổng Tử làm đạo trưởng, kiểu như Thiên chúa giáo của Giê su Tuy nhiên, người ta vẫn thường xem Nho giáo như một thứ tôn giáo bởi nó là một trong những nền tảng quan trọng hình thành nên tư tưởng dân tộc Việt, đặc biệt là trong mối quan hệ Nho - Phật – Lão “Nền văn hóa Việt Nam trong kỉ nguyên Đại Việt – như bất kì nền văn hóa khác đương thời, đều mang một hình thức tôn giáo nhất định Nói cho đúng, ngày xưa tôn giáo không chỉ là hình thức của tôn giáo, mà còn là nội dung, là chất men say, là

bộ phận cấu thành hữu cơ của văn hóa” (Trần Quốc Vượng) Ý thức thống trị

xã hội bao giờ cũng là ý thức của giai cấp thống trị Nho giáo dần từng bước bám vào những yêu cầu của xã hội và nhà nước phong kiến mà vươn lên, chiếm địa vị độc tôn vào khoảng thế kỉ thứ XV – XVI

Nho giáo được du nhập vào Việt Nam theo bước chân của kẻ xâm lược

đã gặp phải sự phản ứng từ nhân dân Suốt hơn một nghìn năm Bắc thuộc theo Nho giáo chỉ là những người thuộc tầng lớp trên, muốn thông qua học tập để thi đỗ và làm quan với giặc Trong hoàn cảnh đó, Nho giáo được coi như phương tiện nô dịch của bọn cướp nước và bán nước, đã không thể được phát triển rộng rãi như Phật giáo và Đạo giáo Đạo giáo đã hòa lẫn với những tín ngưỡng cổ truyền của nhân dân trở thành phổ biến Phật giáo với những khẩu hiệu “từ bi, bác ái” dễ tranh thủ được tình cảm của những người đang sống trong đau khổ và áp bức

Trang 13

Nửa cuối thế kỉ thứ X dưới triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Nho giáo ở nước ta vẫn chưa có vai trò gì đáng kể nhưng sang thế kỉ XI khi vương triều

Lý được thành lập, việc củng cố chế độ phong kiến và phát triển nền văn hóa phục vụ cho chế độ phong kiến trở thành một yêu cầu cấp bách thì giai cấp phong kiến cần phải đề cao Nho giáo và sử dụng Nho giáo như một vũ khí sắc bén trên lĩnh vực chính trị văn hóa và tư tưởng Nhà Lý - Trần tiếp thu tư tưởng Nho giáo trên tinh thần dung hòa các tôn giáo Nho – Phật – Lão với triết lí chính trị, triết lí sống là “hòa ánh sáng với bụi bặm” Có thể khái quát triết lí ấy bằng bốn từ “khoan – giản – an – lạc” đã tạo nên một nền văn hóa Đại Việt phát triển rực rỡ, giàu sức sống

Tuy nhiên, đến khoảng giữa và cuối thế kỉ XV, nhà Trần bắt đầu suy

vi, xuất hiện xu hướng bài xích Phật giáo Xã hội, văn hóa khủng hoảng mà không có đường lối giải quyết Thời thế đã thay đổi, cần thiết phải đổi mới Nhưng cái đề nghị đổi mới lại là xu hướng Trung Quốc hóa, bắt chước mẫu hình nhà Minh Cái truyền thống thì trở nên bảo thủ, đã mất đi tính năng động buổi đầu Trần, muốn giữ nguyên trạng nhưng lại nhân danh dân tộc:

“Nam, Bắc khác nhau không cần bắt chước nhau!” Hồ Quý Ly xuất hiện trên chính trường lịch sử, một mặt vừa muốn thanh lọc Phật giáo, một mặt vừa muốn phê xét lại Nho giáo, nhưng cũng chưa xây dựng nổi một ý thức

hệ Việt Nam làm cốt lõi cho nền văn hóa Việt Nam Hai mươi năm Minh thuộc, với chủ trương và âm mưu tái đồng hóa dân tộc ta một lần nữa, càng làm gay gắt và phức tạp thêm cuộc đấu tranh nhằm xây dựng một nền văn hóa Việt Nam, lối sống của người Đại Việt

Lúc bấy giờ, tồn tại lịch sử đặt ra cho Việt Nam một xu thế ứng xử phức tạp trong mối quan hệ với Trung Quốc: xa các trung tâm văn minh khác, lại là quốc gia có diện tích lãnh thổ và dân cư nhỏ hơn nhiều lần, nằm

án ngữ xuống con đường Đông Nam Á, nước Đại Việt hoặc trở thành bàn đạp cho các đế chế phương Bắc tràn xuống phương Nam, hoặc trở thành

Trang 14

chướng ngại quan trọng nhất đối với các tham vọng như vậy Hoàn cảnh dân tộc thời đại đó có thể hình dung như một điện cực đang tự mình trở thành trái dấu với điện cực phương Bắc – nếu không làm được như vậy thì việc sáp nhập là không tránh khỏi Rõ ràng việc xây dựng môt đế chế vững mạnh là đảm bảo cho sự sống còn của dân tộc Sự độc tôn ngôi vua chuyên chế nhanh chóng cũng chính là để đáp ứng nhu cầu tạo ra đối trọng với đế chế phương Bắc Bởi lí do đó, việc Nguyễn Trãi là người hoàn thiện nguyên lí đế chế hóa

về mặt nhà nước đã khiến ông trở thành một trong số rất ít những cá nhân đóng vai trò định hướng lịch sử Càng khẳng định độc lập thì lại càng độc tôn Nho giáo, điều tưởng như nghịch lí đó diễn ra Mô hình Nho giáo lại càng là tất yếu nếu xét tương quan Trung Quốc – Việt Nam lúc bấy giờ

3.3 Nguồn gốc tư tưởng Nguyễn Trãi

Một học thuyết, một tư tưởng vĩ đại nào khi ra đời cũng đều có nguồn gốc xã hội của nó, với những nhân tố cơ bản hợp thành Ở Nguyễn Trãi có thể kể đến ba nhân tố sau:

Trước hết phải kể đến chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam Do hình thành sớm và phải liên tục chiến đấu với kẻ thù mạnh hơn gấp nhiều lần

để bảo tồn dân tộc và lãnh thổ đã làm nảy nở và phát triển vững chắc chủ nghĩa yêu nước Việt Nam Nếu ý thức hệ là cái cốt lõi của một nền văn hóa thì hệ tư tưởng yêu nước thương dân là sợi chỉ đỏ xuyên suốt kỉ nguyên Đại Việt, quán xuyến văn hóa Thăng Long Có thể nói, trong lịch sử nhân loại hiếm có trường hợp nào mất nước gần nghìn năm mà giành lại được độc lập như dân tộc Việt Nam Cùng với âm mưu đồng hóa, đây là cả một khoảng thời gian đằng đẵng dân tộc bị ngọn lửa Hỏa Diệm Sơn của kẻ thù thiêu đốt, hủy diệt về văn hóa Nhưng nhờ có chủ nghĩa yêu nước truyền thống, dân tộc

ta mới có sức sống mãnh liệt và liên tục phát triển Và cũng chính nhờ chủ nghĩa yêu nước truyền thống ấy đã tạo cho Nguyễn Trãi sức mạnh để vượt qua giới hạn của thời đại, của giai cấp để làm nên lịch sử, sống mãi với mai

Trang 15

sau Toàn bộ các mặt hợp thành tư tưởng vĩ đại của Nguyễn Trãi đều khơi sâu bám rễ từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam, vì “Tư tưởng yêu nước là tư tưởng chủ yếu nhất, thường xuyên nhất, quán triệt cổ kim nhất của dân tộc Việt Nam, bởi vì lịch sử của dân tộc Việt Nam trước hết là lịch sử cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, cuối cùng thắng lợi để khôi phục nền độc lập, bảo vệ chủ quyền” (Trần Văn Giàu)

Thứ hai phải nói đến sự tiếp thu có chọn lọc những yếu tố tích cực của các học thuyết Nho, Phật, Lão Do hoàn cảnh lịch sử Việt Nam, các học thuyết này khi du nhập vào Việt Nam không những không phá vỡ sự hoàn chỉnh vốn có của thế giới quan người Việt mà đã dung hòa và phát triển được trên cơ sở truyền thống dân tộc và hợp thành thế giới quan người Việt “Tam giáo đồng nguyên” là nét đặc trưng của dân tộc Việt vốn có truyền thống khoan dung, nhân ái, không thành kiến với những người khác mình về tư tưởng và quan điểm Bài học lịch sử qua các triều đại Ngô, Đinh, Lê, Lí, Trần, Lê cho thấy rằng đứng về mặt giao lưu văn hóa, nhân dân ta đã không

có lòng căm thù mù quáng đối với văn hóa của kẻ địch khi chúng đã bị đánh bại và gạt ra khỏi đất nước Nhân dân ta không đập tan, không xóa sạch cái

gì thuộc về văn hóa mà kẻ xâm lược đã xây dựng trên đất nước này Với tinh thần sáng tạo, nhân dân ta đã loại bỏ những cái lỗi thời, lệch chuẩn và mạnh dạn tiếp thu những nhân tố tích cực, biến những vũ khí của kẻ chiến bại trở thành công cụ cho người chiến thắng

Cùng với dân tộc, cùng với lịch sử, Nguyễn trãi đã kế thừa và tiếp thu tinh thần rộng mở, hòa hợp của dân tộc để tiếp thu có chọn lọc các yếu tố tích cực của các giá trị tinh thần từ bên ngoài làm cho tư tưởng của ông càng thêm sáng rõ, với những sắc thái và giá trị vĩnh cửu vượt qua giới hạn của thời đại và giai cấp

Thứ ba là thiên tài Nguyễn Trãi Đây là nhân tố chủ quan, giữ vai trò quyết định trong việc hình thành tư tưởng của ông Vì tư tưởng bao giờ cũng

Trang 16

là sản phẩm của tư duy trí tuệ con người, do con người sáng tạo và khái quát trên cơ sở nhận thức nhân tố khách quan Thiên tài của Nguyễn Trãi được phát triển trong hành động, “Tri hành hợp nhất” Bởi vì, Nguyễn Trãi khác với những nhà Nho uyên thâm cùng thời là nhận thức và hành động theo lẽ phải, đã biết dấn thân cho sự nghiệp cao cả vì nước, vì dân Cái vĩ đại của nhà tư tưởng Nguyễn trãi không chỉ dừng lại ở những học thuyết cao siêu,

mà còn biến tư tưởng thành hiện thực và đưa tư tưởng vào quần chúng để biến nó thành sức mạnh vô song

Như vậy gốc của thiên tài Nguyễn Trãi là tấm lòng vì dân, vì nước của Nguyễn Trãi Tư tưởng của ông đã đi vào quần chúng và trở thành sức mạnh

vô song

II TƯ TƯỞNG NGUYỄN TRÃI

Chương I: Văn hóa chính trị

1 Ý thức về nền văn hóa độc lập để Đại Việt trở thành một quốc gia văn hiến trường tồn

Nguyễn Trãi là người đầu tiên đưa ra khái niệm hoàn chỉnh về dân tộc- bước tiến dài của lịch sử Trên cơ sở đó, ông đã khẳng định nền văn hóa độc lập của dân tộc để Đại Việt trở thành một quốc gia văn hiến trường tồn

Trước Nguyễn Trãi đã có nhiều nhà tư tưởng tìm cách đưa ra định nghĩa về dân tộc cũng như khẳng định sự tồn tại độc lập chủ quyền của dân tộc Mầm mống có từ thời Lí Bí, dân tộc lúc đó thường được gọi là thành hay bang, quốc hay nước Sau khi quét sạch quân xâm lược ở thế kỉ VI, Lí Bí đã vứt bỏ luôn tên gọi mà Trung Quốc áp đặt cho nước ta như Giao Chỉ, Giao Châu, An Nam đô hộ phủ… và đặt tên nước là Vạn Xuân (Sau này nhà Đinh gọi là Đại Cồ Việt, nhà Lý gọi là Đại Việt) để chứng tỏ sự tồn tại ngang hàng với các nước lớn Trung Hoa Cùng với việc đổi tên nước là việc đổi niên hiệu người đứng đầu từ Vương sang Đế: từ Trưng Vương, Triệu Việt Vương sang Lý Nam Đế, Mai Hắc Đế, Đinh Tiên Hoàng Điều đó thể hiện tinh thần

Trang 17

độc lập tự chủ của người Việt Sau này, “Chiếu dời đô” của Lí Công Uẩn đã thể hiện rõ là một quốc gia độc lập về chính thể, có quốc hiệu, niên hiệu, đế hiệu và kinh đô riêng Cùng với thời gian, khái niệm dân tộc được mở rộng

cả về chiều rộng lẫn bề sâu, cả về không gian và thời gian, cả về đất đai và văn hóa cho phù hợp với đối tượng mà nó khái quát Ở Lý Thường Kiệt, quan niệm đó còn khoác cái vẻ thần bí, trừu tượng:

“Nam quốc sơn hà nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”

Điều đó có nghĩa là Việt Nam phải được độc lập vì “sách trời” đã ghi… nhưng đến Trần Quốc Tuấn, quan niệm đó đã có sự thay đổi: phải đánh giặc để bảo vệ quyền lợi cho gia tộc, đất nước, để rửa nhục cho nước Sử gia

Lê Văn Hưu (thế kỉ XII) quan niệm Tổ quốc, dân tộc là “nhà tông miếu, nền

xã tắc”, còn trần Quốc Tuấn thế (kỉ thứ XIII) quan niệm đó là “thái ấp, bổng lộc, đền đài, miếu mạo…” Đến Nguyễn Trãi thì chúng ta đã có được một quan điểm khá toàn diện, hoàn chỉnh về vấn đề dân tộc

Trong “Đại cáo Bình Ngô” (1428), Nguyễn Trãi viết:

“Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Núi sông bờ cõi đã chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương”

Đọc áng văn trên có thể thấy Nguyễn Trãi đã tiến một bước dài trong việc tìm kiếm khái niệm dân tộc Quan niệm đó được hình thành trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, là cơ sở cho lí luận về dân tộc độc lập và quốc gia có chủ quyền Khái niệm về dân tộc có quan hệ gần gũi với một loạt các khái niệm khác như Tổ quốc, xã tắc non song, lãnh thổ, bờ cõi… đến mức trong những trường hợp nhất định chúng có thể thay thế lẫn

Trang 18

nhau Chẳng hạn Lê Văn Hưu, Trần Quốc Tuấn, Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi đều nói đến xã tắc Vậy xã tắc là gì? “xã tắc chính là thần đất (Thổ thần tức xã) phối hợp với thần lúa (tắc) để tượng trưng cho toàn thể gọi là xã tắc” Trong lễ hiến phù ở Chiêu Lăng, Trần Nhân Tông viết:

“Xã tắc hai phen chồn ngựa đá

Non sông ngàn thuở vững âu vàng”

Chính Nguyễn Trãi đã dùng từ này để khẳng định nền độc lập, hòa bình muôn thuở:

“Xã tắc từ đây bền vững

Giang sơn từ đây đổi mới”

Khái niệm Tổ quốc có mối quan hệ mật thiết với khái niệm dân tộc Chúng là hai khái niệm hầu như ngang nhau nhưng không hoàn toàn đồng nhất với nhau vì trong khái niệm thứ nhất có bao hàm những yếu tố không nằm trong khái niệm thứ hai, ví dụ như các yếu tố thuộc về thiên nhiên Đã

là một con người thì phải thuộc một tổ quốc, một dân tộc nào đó Không có

Tổ quốc và không thuộc một dân tộc nào là người bất hạnh Tổ quốc của Khổng Tử là Hoa Hạ, nhưng nó bị xâu xé bởi nhiều thế lực khác nhau nên ông phải đi hết nước này đến nước khác để mong muốn xây dựng nên một

Tổ quốc, dân tộc thống nhất Hàng chục năm “đi mòn cả dép” song ông cũng không thể nào làm được điều mình mong muốn Trung Quốc ngày xưa không có tên nước, mà theo tên triều đại thống trị Nho giáo không có khái niệm Tổ quốc, dân tộc, cũng không có khái niệm nào gắn liền với khái niệm dân tộc, có chăng chỉ là khái niệm xã tắc Nguyễn Trãi là nhà Nho đích thực, nhưng là nhà nho của Việt Nam có Tổ quốc, có dân tộc

Giới lý luận và những người quan tâm đến chính trị thế giới đã từng biết đến một khái niệm dân tộc mang tính phổ quát, lần đầu tiên được Stalin đưa ra vào năm 1913 trong tác phẩm “Chủ nghĩa Mác và vấn đề dân tộc”:

“Dân tộc là một khối cộng đồng người ổn định được thành lập trong lịch sử,

Trang 19

dựa trên cộng đồng về tiếng nói, lãnh thổ, sinh hoạt kinh tế và tâm lí biểu hiện trong cộng đồng văn hóa” Định nghĩa dân tộc của Stalin nêu lên bốn yếu tố: kinh tế, ngôn ngữ, lãnh thổ, tâm lí trong đó yếu tố kinh tế được coi là quan trọng nhất Xem xét định nghĩa dân tộc của Nguyễn Trãi, chúng ta thấy ông đã nêu lên năm yếu tố thống nhất: văn hiến, lãnh thổ, phong tục, chính quyền, nhân dân mà đại biểu là người anh tài, hào kiệt Định nghĩa của Nguyễn Trãi không nói đến yếu tố kinh tế, vì ông xuất phát từ thực tế hình thành dân tộc Việt Nam có những nét độc đáo không giống như quy luật phổ biến của sự hình thành một số dân tộc khác trên thế giới Ở một số nước phương Đông nói chung và ở nước ta nói riêng, quốc gia dân tộc không chờ đến lúc quan hệ tư bản phát triển mới hình thành Lãnh thổ chung, văn hóa chung, phong tục tập quán chung, nhất là lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước đủ làm một thứ keo sơn để tạo thành một quốc gia dân tộc bền vững Nguyễn Trãi đã xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của người Việt Nam để khái quát lên khái niệm dân tộc Có thể nhận thấy, ngoài những những yếu tố trùng hợp với khái niệm dân tộc của Stalin như lãnh thổ, tâm lí, khái niệm dân tộc của Nguyễn Trãi còn có những yếu tố khác, trong đó nổi bật nhất là yếu tố nhân dân.

Quan niệm về dân tộc của ông đã vượt xa Nho giáo để tiếp cận đến những tri thức hoàn toàn mới Đó là sự kế thừa và phát triển tư tưởng dân tộc của các vị tiền bối từ Lí Bí, Lí Thường Kiệt đến Trần Quốc Tuấn, là sự nhận thức một cách tự giác, có sự bổ sung những tri thức mới khi lịch sử thay đổi

Đó còn là kết quả của sự suy ngẫm, của những phút giây thao thức, trăn trở

“đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông”, của những thể nghiệm, những mất mát lớn lao, thậm chí phải đổi bằng máu của biết bao “dân đen, con đỏ” Sau Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ là người đã bổ sung thêm cho khái niệm dân tộc:

“Đánh cho để dài tóc

Đánh cho để răng đen

Trang 20

Đánh cho nó chích luân bất phản”

Theo nhận xét của giáo sư Phan Ngọc: “công thức ấy (công thức về dân tộc của Nguyễn Trãi) ra đời năm 1428, bốn trăm năm trước công thức dân tộc của giai cấp tư sản và năm trăm năm trước công thức dân tộc của Stalin rõ ràng là một cống hiến thế giới”

Từ việc đưa ra một khái niệm tương đối hoàn chỉnh về dân tộc, Nguyễn Trãi đã khẳng định quyền độc lập tự chủ của dân tộc, đồng thời thể hiện ý thức xây dựng một nền văn hóa độc lập để Đại Việt trở thành một quốc gia văn hiến trường tồn Như vậy, ngay từ khi ý thức được lãnh thổ quốc gia thì niềm tự hào về nền văn hiến của dân tộc cũng đồng thời được khẳng định, nhưng câu hỏi thế nào là một nước văn hiến thì lại không dễ trả lời khi mà xưa nay những quân xâm lược phương Bắc bao giờ cũng nhân danh một nền “văn hiến” nhất định để đưa quân đi xâm lược đất đai, tàn phá làng mạc và nô dịch nhân dân nước khác Và cũng từ đó, bao nhiêu đau thương, tang tóc chúng đã gây ra dưới những chiêu bài “dạy dân”, “giáo hóa”, “dẹp loạn”,… còn văn hiến chỉ là cái vỏ bọc của biết bao hung tàn, bạo ngược

Trước âm mưu bành trướng và đồng hóa của kẻ thù, dân tộc ta chỉ còn một đường là kiên quyết chiến đấu Một lần nữa lại diễn ra sự đụng chạm không chỉ giữa hai đội quân mà còn giữa hai nền văn hiến, giữa hai lẽ sống của con người

Sự khẳng định dứt khoát của Nguyễn Trãi về văn hóa, về con người Việt Nam là câu trả lời cho sự phân biệt giữa “hoa hạ” và “tứ di” vốn là tư tưởng cực kì phản động của các triều đại phong kiến Trung Quốc mà ông cha

ta chống lại quyết liệt Đặc biệt đối với triều Minh, triều đại đã xâm lược tàn bạo đất nước ta, mưu toan hủy diệt toàn bộ nền văn hóa dân tộc của ta, như

đã thể hiện trong cái gọi là “Tuyên Minh giáo hóa”, hay trong mệnh lệnh của vua Minh cho Trương Phụ, nói rằng phải “lập tức hủy hoại hết”, từ “một

Trang 21

mảnh giấy, một nửa chữ cùng những bia khắc…, thì những lời đanh thép trên kia của “Bình Ngô đại cáo” có giá trị như một tuyên ngôn văn hóa dân tộc Nền “văn hiến” dân tộc được khẳng định trong “Cáo bình Ngô” được đánh dấu bằng “núi sông bờ cõi đã chia” và cả “phong tục Bắc Nam cũng khác” Bởi lẽ chỉ có nhìn vào phong tục, truyền thống lâu đời mới thấy được lối sống, cũng như sức mạnh của dân tộc ấy trong sự gắn kết bền vững qua ngàn đời, đó là tinh thần thương yêu, đùm bọc, đoàn kết của nhân dân ta từ ngàn đời Phong tục là sự thể hiện nét đặc thù của văn hóa dân tộc, không thể để cho bất kì kẻ thù nào xâm phạm đến Chính “văn hiến” cùng những truyền thống văn hóa lâu đời đã giúp cha ông ta nối đời xây dựng đất nước qua các triều đại Triệu, Đinh, Lý, Trần cùng sánh ngang với các triều đại hùng cường phương Bắc.

“Tuy mạnh yếu mỗi lúc khác nhau

Song hào kiệt đời nào cũng có”

Trong “Dư địa chí” - không phải là một cuốn địa lý đơn thuần, mà chính là cuốn địa lý – lịch sử trên lịch trình tiến hóa của dân tộc ta từ thời Kinh Dương Vương, qua Hùng Vương, Thục Vương, trải thời Bắc thuộc, cho đến khi Ngô Quyền đánh đuổi quân Nam Hán, khôi phục nền tự chủ, cuối cùng đó là khởi nghĩa Lam Sơn với công lao to lớn của Lê Thái Tổ… nêu lên địa bàn, cương vực, cư dân, lịch sử ta từ thời viễn cổ, ngang hàng với thời Tam Hoàng, Ngũ Đế bên Trung Quốc, Nguyễn Trãi muốn chứng minh bằng thực tế hùng hồn rằng dân tộc Đại Việt vốn có đất nước, con người và truyền thống văn hóa trải bao nghìn năm riêng biệt của mình, vốn định sẵn tại “sách trời” (thiên thư) với phân dã riêng biệt, theo khoa thiên văn cổ, đúng như bài thơ “Nam quốc sơn hà” đời Lý đã nói: “Tiệt nhiên định phận tại thiên thư” chứ đâu phải non sông gấm vóc này lại có thể là miếng đất phương xa của

“thiên triều” như bọn vua chúa Trung Quốc thường rêu rao một cách ngang ngược, phi công lý, phi lịch sử

Trang 22

Như vậy, bằng việc đưa ra và hoàn chỉnh khái niệm về dân tộc, cũng như tuyên ngôn văn hóa, khẳng định tính độc lập của nền văn hiến dân tộc, Nguyễn Trãi đã trở thành người Việt Nam đầu tiên ý thức cao tầm quan trọng của việc xây dựng nền văn hóa độc lập để Việt Nam trở thành một quốc gia văn hiến trường tồn Bài học lịch sử về vấn đề dân tộc, trong đó có sự đóng góp lớn của Nguyễn Trãi, vẫn giữ nguyên giá trị đối với hậu thế Trên thế giới, hàng ngày, hàng giờ chiến sự vẫn tiếp tục nổ ra xoay quanh việc tranh chấp lãnh thổ, thanh lọc sắc tộc mà thực chất là vấn đề dân tộc Đã có một thời, vấn đề này tưởng như lắng xuống và được giải quyết nhưng ngày nay

nó lại nổi lên như một vấn đề thời sự nóng hổi nhất Thiết nghĩ, có được sự hiểu biết đúng đắn và vận dụng linh hoạt vấn đề này sẽ giúp cho các nhà chính trị có thể tránh được những bước đi sai lầm làm phương hại đến sự thống nhất dân tộc, làm ảnh hưởng đến sự ổn định của khu vực và quốc tế

2 Tư tưởng nhân nghĩa sáng ngời

Tư tưởng nhân nghĩa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt thơ văn Nguyễn Trãi Qua “Nguyễn Trãi toàn tập”, chúng ta thấy khái niệm được ông đề cập đến nhiều nhất, trân trọng nhất và chân thành nhất là “nhân – nghĩa”, trong đó chữ “nhân” được nhắc tới 59 lần và chữ “nghĩa” là 81 lần

Nguyễn Trãi nói:

“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”

Cả bốn chữ “nhân nghĩa”, “yên dân”, “điếu phạt”, “trừ bạo” đều là của Trung Quốc Nhưng trong khái niệm Nho giáo không có phương trình “nhân nghĩa” = “yên dân”, “điếu phạt” = “trừ bạo” Trái lại, nhân nghĩa là “sửa mình theo lễ” của thiên tử nhà Chu Ở đây “lễ” tức là một số chế độ lễ nghi

và quy phạm đạo đức đời Tây Chu, hoặc nói cách khác, “lễ” đó là kiến trúc thượng tầng của xã hội đẳng cấp của quý tộc chủ nô “Điếu phạt” trong

“Kinh Xuân Thu” là phục hồi lại dòng họ đã mất, trừng trị kẻ cướp ngôi,

Trang 23

cũng là để phục hồi lại thể chế của thiên tử Có sự đối lập về hệ quy chiếu: Nguyễn Trãi quy chiếu về người dân, Nho giáo quy chiếu về thiên tử.

Học thuyết của Khổng Tử tập trung vào tư tưởng trung quân Thờ vua

là điểm cao nhất của đạo làm người, là yêu cầu đạo đức đầu tiên của những đại trượng phu , của bậc đại dũng, của anh hùng Khổng Tử đã từ những tình cảm tự nhiên và gần gụi của con người trong mối quan hệ giữa cha con, chồng vợ, anh em mà gắn vào đấy mối quan hệ giữa vua tôi Theo Khổng Tử thì tình cảm giữa cha mẹ và con cái vốn là những tình cảm sẵn có thuộc về bản tính con người Từ đó Khổng Tử suy ra: trong nhà có cha đứng đầu thì trong nước có vua, vì thế đạo làm người phải tận hiếu với cha mẹ và tận trung với vua chúa “Trung với vua, hiếu với cha mẹ là cùng một gốc vậy” (“Lễ kí”) Quyền lực của vua là tối cao Vua Trung Hoa tự xưng là “con trời” (thiên tử) trị dân theo nguyên lí:

“Phổ dân chi hạ, mạc phi vương thổ

Suốt thổ tri dân, mạc phi vương thần”

(Khắp gầm trời, đất nào cũng là đất của vua

Trên mặt đất, người nào cũng là thần dân của vua)

Trong khi đó, nội dung tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là yêu nước và thương dân

Ở Nguyễn Trãi, tư tưởng yêu nước hết sức mãnh liệt “Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông” Giá trị to lớn của nó là tính chiến đấu mạnh mẽ, ở hành động cụ thể đấu tranh không mệt mỏi, không khoan nhượng với kẻ thù bên ngoài và bên trong để toàn vẹn lãnh thổ, bảo tồn nền văn hóa dân tộc và cuộc sống yên lành của nhân dân

Vượt lên các nhà trí thức Nho học đương thời, Nguyễn Trãi có một cái nhìn mới, một nhận thức mới về dân Với Nguyễn Trãi, yêu nước là yêu dân, cứu nước là cứu dân, mất nước thì dân bị dày xéo Tư tưởng này được

Trang 24

Nguyễn Trãi thể hiện và quán triệt trong cuộc kháng chiến chống quân Minh

và hòa bình xây dựng đất nước thời đầu Lê sơ

Trước Nguyễn Trãi chưa xuất hiện nhân vật lịch sử nào nhìn thấy hết sức mạnh của dân và quan tâm đến vận mệnh của nhân dân Trần Quốc Tuấn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên, bài “Hịch tướng sĩ” không một câu nói đến nhân dân mà chỉ động viên tướng sĩ, quan lại và quý tộc Trần Trần Khánh Dư đã từng nói trước triều đình nhà Trần:

“Tướng là chim Ưng, quân và dân là vịt, lấy vịt để nuôi chim Ưng thì

có gì là lạ”

Đến Nguyễn Trãi, nhân dân là một lực lượng to lớn, có sức mạnh:

“Úp thuyền mới rõ, sức dân như nước”

(“Quan hải”)

Và nhân dân có vai trò quyết định:

“Mến người có nhân là dân, mà chở thuyền và làm lật thuyền cũng là dân”

(“Chiếu về việc làm bài “Hậu tự huấn” để răn bảo thái tử”)

Trong kháng chiến cứu nước:

“Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới

Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”

(“Bình Ngô đại cáo”)

Không chỉ thấy được vai trò của nhân dân trong kháng chiến, Nguyễn Trãi còn nhận thức được vai trò quyết định việc hưng vong của các triều đại Ông đã chứng kiến những cuộc đấu tranh của nông nô, nô tỳ đã làm cho nhà Trần suy sụp, sự thất bại của nhà Hồ, của phong trào kháng chiến do các quý tộc Trần lãnh đạo, vì nhân dân không ủng hộ, vì những người lãnh đạo không biết dựa vào dân

Trong đời sống xã hội, nhân dân là người làm ra của cải vật chất để nuôi sống xã hội Trong tờ “chiếu truyền các quan không được làm những lễ

Trang 25

nghi khánh hạ”, Nguyễn Trãi viết: “Thường nghe những quy mô lớn lao lộng lẫy đều do sức lao khổ của dân và quân” và trong khi các Nho sĩ đương thời nói: “Ơn vua lộc nước” thì Nguyễn Trãi lại viết: “Ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày”

Nguyễn Trãi nhận thức vai trò của nhân dân ở một mức cao mà trước

đó và trong sau nhiều thế kỉ không ai sánh kịp Nhân dân trong tư tưởng của Nguyễn Trãi là một lực lượng lao động sản xuất, chiến đấu có thể tạo ra của cải vật chất cho xã hội, chiến đấu hy sinh cho sự nghiệp đánh giặc cứu nước với Nguyễn Trãi, nhân dân là đối tượng phải biết ơn, phải đền ơn, để ca ngợi

và khâm phục, ông nâng lên thành một mức khái quát cao: quan tâm đến nhân dân là đạo đức của vua quan, trách nhiệm của kẻ cầm quyền là phải “an dân”, “điếu dân”, phải “trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược” Hay nói cách khác, nhân nghĩa của Nguyễn Trãi chính là văn hóa của chính trị, người lãnh đạo có nhân nghĩa là người lãnh đạo có văn hóa Một nền chính trị có văn hóa là một nền chính trị mà các chủ trương, đường lối cũng như các biện phấp cụ thể đều phải thấm đượm nhân nghĩa Trong hoàn cảnh cuộc xâm lược bạo tàn mang tính chất hủy diệt và đồng hóa hết sức dã man của giặc Minh, Nguyễn Trãi đã hướng về Lê Lợi, một biểu tượng sáng ngời về nhân nghĩa lúc đó Bởi lẽ ông thương xót cho người dân:

“Ức tích Lam Sơn ngoạn võ Kinh

Đương thì chí dĩ tại thương sinh”

(Nhớ khi xưa ở Lam Sơn xem sách võ kinh

Bấy giờ chí cũng phải vì dân đen rồi)

và ông nhìn thấy những phẩm chất của Lê Lợi phù hợp với quan niệm của của mình Từ “Quân trung từ mệnh tập” qua “Bình Ngô đại cáo” đến Lam Sơn thực lục (nếu Lam Sơn thực lục do Nguyễn Trãi viết) đều có một cách hiểu thống nhất về nhân nghĩa như là văn hóa của chính trị: Người lãnh đạo trong quan hệ với dân phải có lòng xót thương khi họ bị đọa đầy đau khổ, bị chà đạp, ức hiếp, bóc lột; phải căm giận tội ác chà đạp dân

Ngày đăng: 05/02/2015, 20:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Khắc Thuần, Đại cương lịch sử văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử văn hóa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục
2. Nhiều tác giả, Nguyễn Trãi, về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trãi, về tác gia và tác phẩm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
3. Đinh Gia Khánh (chủ biên), Văn học Việt Nam thế kỷ X đến thế kỷ XVIII, Nxb Giáo dục, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ X đến thế kỷ XVIII
Nhà XB: Nxb Giáo dục
4. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại trí, Nxb Hà Nội, 1960 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại trí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1960
5. Võ Xuân Đàn, Tư tưởng Nguyễn Trãi trong tiến trình lịch sử Việt Nam, Nxb Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Nguyễn Trãi trong tiến trình lịch sử Việt Nam
Nhà XB: Nxb Hà Nội
6. Nguyễn Khiêu, Thơ văn Nguyễn Trãi, Nxb Giáo dục, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Nguyễn Trãi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
7. Hưng Hà, Nên hiểu hai từ "mưu phạt" và "tâm công" trong "Bình ngô đại cáo" như thế nào, Tạp chí Văn học, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: mưu phạt" và "tâm công" trong "Bình ngô đại cáo
8. Kim Dung, Triết lý nhân nghĩa trong thơ văn Nguyễn Trãi, Báo cáo khoa học, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết lý nhân nghĩa trong thơ văn Nguyễn Trãi
9. Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Trãi, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trãi
Nhà XB: Nxb Văn hóa
10. Trần Huy Liệu, Nguyễn Trãi, Nxb KHXH, Hà Nội, 1969 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w