1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu các tiêu chuẩn, quy chuẩn, hệ thống tổ chức đánh giá phục vụ công tác quản lý chất lượng của ngành công thương

94 592 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

...92 Trong quá trình nghiên cứu, nhóm thực hiện đề tài đã được lãnh đạo các tổ chức hoạt động Tiêu chuẩn hóa trong ngành Công Thương, của các đơn vị trực thuộc Tổng cục Đo lường Chất l

Trang 1

VIỆN NGHIÊN CỨU ĐIỆN TỬ, TIN HỌC, TỰ ĐỘNG HÓA

X W Y Z X W

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐỀ TÀI NCKH&PTCN CẤP BỘ NĂM 2012

Tên đề tài:

“NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CỞ SỞ DỮ LIỆU CÁC TIÊU CHUẨN, QUY CHUẨN, HỆ THỐNG TỔ CHỨC ĐÁNH GIÁ PHỤC VỤ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG

CỦA NGÀNH CÔNG THƯƠNG”

Cơ quan chủ trì: VIỆN NGHIÊN CỨU ĐIỆN TỬ, TIN HỌC, TỰ ĐỘNG HÓA Chủ nhiệm đề tài: Ths Đặng Trần Chuyên

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 4 

1 Mục tiêu của đề tài 5 

2 Phương pháp tiếp cận 6 

3 Nội dung nghiên cứu 6 

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TIÊU CHUẨN HÓA 7 

1.1.  Một số khái niệm cơ bản 7 

Theo Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật số 68/2006/QH11 đã được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua tháng 6 năm 2006: 7 

1.2.  Sự cần thiết phải chứng nhận sản phẩm phù hợp tiêu chuẩn 9 

1.3.  Sự hội nhập của Việt nam trong lĩnh vực Tiêu chuẩn 11 

1.4.  Tổng quan về tình hình áp dụng Tiêu chuẩn ở Việt Nam 13 

1.4.1.  Lĩnh vực Cơ khí - chế tạo máy .13 

1.4.2.  Lĩnh vực Điện tử 16 

1.4.3.  Lĩnh vực Thực phẩm 16 

1.4.4.  Lĩnh vực Điện 17 

1.4.5.  Lĩnh vực Đồ uống 17 

1.4.6.  Lĩnh vực Giấy 17 

1.4.7.  Lĩnh vực Thủy tinh 18 

1.4.8.  Lĩnh vực Thuốc lá 18 

1.4.9.  Lĩnh vực Hóa chất 18 

1.4.10.  Da giầy 19 

1.4.11.  Dệt may 19 

1.4.12.  Ngành Nhựa 20 

1.4.13.  Ngành Thép 20 

1.5.  Tổng quan về hoạt động đánh giá sự phù hợp 22 

1.5.1.  Tổ chức đánh giá 23 

1.5.2.  Tổ chức Giám định 28 

1.5.3.  Tổ chức Thí nghiệm 31 

1.5.4.  Hoạt động công nhận đối với phòng thí nghiệm 37 

1.5.5.  Hoạt động thỏa ước thừa nhận lẫn nhau 38 

1.5.6.  Thực trạng của các phòng thí nghiệm thuộc ngành công thương 39 

CHƯƠNG II MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VỀ KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG TIÊU CHUẨN HÓA GIAI ĐOẠN ĐẾN NĂM 2020 43 

2.1.  Về kế hoạch xây dựng Hệ thống Tiêu chuẩn, Quy chuẩn 43 

Trang 3

2.1.1.  Các yêu cầu cơ bản đối với Hệ thống Tiêu chuẩn, Quy chuẩn 43 

2.1.2.  Các nhiệm vụ chủ yếu trong kế hoạch xây dựng TCVN, QCVN 44 

2.2.  Về kế hoạch nâng cấp hoặc xây dựng mới Phòng thử nghiệm, đo lường, kiểm định, giám định thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương 56 

2.2.1.  Hiện trạng chung 56 

2.2.2.  Về kế hoạch nâng cấp, xây dựng mới hệ thống các phòng đo lường và thử nghiệm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương 62 

2.3.  Về kế hoạch kiện toàn các tổ chức đánh giá 65 

2.3.1.  Hiện trạng chung 65 

2.3.2.  Kế hoạch kiện toàn 68 

CHƯƠNG III XÂY DỰNG PHẦN MÊM CƠ SỞ DỮ LIỆU VỀ CÁC TIÊU CHUẨN, QUY CHUẨN VÀ HỆ THỐNG TỔ CHỨC ĐÁNH GIÁ 74 

3.1.  Mô hình cấu trúc làm việc của phần mềm .74 

3.2.  Lựa chọn giải pháp về công nghệ 75 

3.3.  Thiết kế cơ sở dữ liệu 76 

3.4.  Thiết kế, xây dựng các module chức năng của phần mềm 79 

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91 

4.1.  Kết luận .91 

4.2.  Kiến nghị .92 

Trong quá trình nghiên cứu, nhóm thực hiện đề tài đã được lãnh đạo các tổ chức hoạt động Tiêu chuẩn hóa trong ngành Công Thương, của các đơn vị trực thuộc Tổng cục Đo lường Chất lượng Việt Nam và các chuyên gia, các đồng nghiệp trong ngành quan tâm giúp đỡ và đóng góp nhiều ý kiến quý báu Nhóm thực hiện đề tài chân thành cảm ơn và hy vọng sau khi đã được điều chỉnh, hoàn thiện, các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị cho nhiều đối tượng .93 

Trang 4

CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

TCVN: Tiêu chuẩn quốc gia

CSDL: Cơ sở dữ liệu

QCVN: Quy chuẩn quốc gia

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Danh mục các hàng hóa có khả năng gây mất an toàn 39

Bảng 2.1 Kế hoạch xây dựng các TCVN giai đoạn đến năm 2020 56

Bảng 2.2 Kế hoạch kiện toàn, xây dựng các Tổ chức đánh giá sản phẩm 69

Bảng 2.3 Kế hoạch xây dựng nguồn nhân lực cho các Tổ chức đánh giá sản phẩm 72

DANH MỤC HÌNH Hình 3.1 Mô hình cấu trúc hệ thống triển khai qua mạng cục bộ LAN 74

Hình 3.2 Mô hình cấu trúc hệ thống triển khai qua mạng internet 74

Hình 3.3 CSDL - Sơ đồ quan hệ thực thể 76

Hình 3.4 Sơ đồ phân rã chức năng 78

Hình 3.5 Các chức năng quản lý của phần mềm quản lý văn bản chạy trên máy server 79

Hình 3.6 Mô tả quá trình đăng nhập 80

Hình 3.7 Giao diện đăng nhập hệ thống chương trình 80

Hình 3.8 Mô tả quá trình nhập thêm mới dữ liệu 82

Hình 3.9 Giao diện thêm mới dữ liệu 82

Hình 3.10 Mô tả quá trình cập nhật dữ liệu 84

Hình 3.11 Giao diện cập nhật 85

Hình 3.12 Mô tả quá trình tìm kiếm dữ liệu 86

Hình 3.13 Giao diện tìm kiếm dữ liệu theo trường mô tả 86

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

Mỗi quốc gia, không loại trừ quốc gia nào, đều cần phải có năng lực thử nghiệm và đo lường tương ứng với nhu cầu phát triển công nghiệp, đặc điểm nền kinh tế, hệ thống luật pháp và lợi ích thương mại Các quốc gia cũng cần có

cơ chế chứng nhận về việc tuân thủ các yêu cầu của thị trường cả trong và ngoài nước mà quốc gia đó đang muốn bán sản phẩm của mình Do vậy mà có nhu cầu

về các phòng thử nghiệm, đo lường của các cơ quan giám sát và chứng nhận để cung cấp các dịch vụ và các dịch vụ này phải được người sử dụng dịch vụ tại địa phương sẵn sàng chấp nhận

Hoạt động đánh giá sự phù hợp ở mỗi quốc gia đều được thực hiện thường xuyên trong quá trình sản xuất sản phẩm cũng như trong giao dịch thương mại nhằm đảm bảo cho sản phẩm được sản xuất ra hay hàng hóa được mua bán đáp ứng các yêu cầu đề ra Đánh giá sự phù hợp trực tiếp phục vụ cho các yêu cầu quản lý nhà nước về đảm bảo an toàn, bảo vệ sức khỏe và môi trường đối với các hàng hóa được xuất nhập khẩu hay mua bán trên thị trường Đánh giá sự phù hợp cũng trực tiếp giúp cho các nhà sản xuất, kinh doanh biết được mức độ chất lượng sản phẩm, hàng hóa của mình so với các yêu cầu quy định hay so với mong đợi của khách hàng, từ đó có biện pháp cải tiến, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ

Hầu hết các nước đã thiết lập hệ thống công nhận phòng thí nghiệm của mình như Hệ thống NAMAS của Anh, NATA của Úc, KOLAS của Hàn quốc, CNAS của Trung quốc, VILAS của Việt Nam Trong đó có những hệ thống đã

đi vào hoạt động từ vài chục năm nay như NAMAS của Anh từ năm 1945, DKD của Đức từ những năm 70 của thế kỷ trước

Năm 1977 ra đời Tổ chức Hợp tác Công nhận Phòng thí nghiệm Quốc tế - ILAC và năm 1992 Tổ chức Hợp tác Công nhận Phòng thí nghiệm khu vực Châu Á – Thái Bình Dương –APLAC được thành lập Kể từ đó, các hệ thống công nhận phòng thí nghiệm của các nền kỹ thuật đã hợp tác chặt chẽ với nhau theo các chương trình hoạt động nhằm thúc đẩy hoạt động công nhận ở mỗi nước, cùng nghiên cứu, đóng góp vào việc cải tiến các chuẩn mực đánh giá phòng thí nghiệm để thực hiện thống nhất ở các nước Các Thỏa ước thừa nhận lẫn nhau về công nhận phòng thí nghiệm (MRAs) của ILAC va APLAC là cơ sở

để thừa nhận lẫn nhau các kết quả đo lường và thử nghiệm, hướng tới mục tiêu

Trang 6

Một tiêu chuẩn, một lần thử nghiệm, một giấy chứng nhận, được chấp nhận

Trong xu thế toàn cầu hóa đi đôi với hội nhập vào thị trường thế giới, việc hài hòa hóa hệ thống tiêu chuẩn và đánh giá sự phù hợp với tiêu chuẩn và quy định quốc tế đã bước sang giai đoạn mới và ngày càng được các quốc gia quan tâm Các khung pháp lý mang tính quốc tế như Hiệp định WTO/TBT đã thúc đẩy sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế như là công cụ đắc lực để giảm thiểu các hàng rào kỹ thuật trong thương mại Trong khuôn khổ hợp tác khu vực như APEC, ASEAN, ASEM việc hài hòa tiêu chuẩn quốc gia của các nước thành viên được đặc biệt quan tâm, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp lớn đã nhận thức được tầm quan trọng của tiêu chuẩn đối với việc nâng cao chất lượng và tiếp cận thị trường mới Người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến vấn đề chất lượng và an toàn của sản phẩm, dịch vụ thông qua tiêu chuẩn Tại nhiều quốc gia, xu hướng sử dụng các tiêu chuẩn đồng thuận, được chấp nhận rộng rãi và cập nhập với công nghệ hiện hành trong các quy định kỹ thuật ngày càng được Chính phủ quan tâm Ngày 21 tháng 11 năm 2007, Quốc hội khóa XII thông qua Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa và ngày 31 tháng 12 năm 2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 132/2008/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa Theo tinh thần của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật, hệ thống tiêu chuẩn Việt Nam sẽ chỉ còn 2 cấp tiêu chuẩn là

Tiêu chuẩn nhà nước và Tiêu chuẩn cơ sở

1 Mục tiêu của đề tài

Hình thành và xây dựng được cơ sở dữ liệu (CSDL) về hệ thống các tiêu chuẩn (TC), quy chuẩn (QC) và các Tổ chức đánh giá sự phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất lượng sản phẩm hàng hóa của ngành Công Thương

Trang 7

2 Phương pháp tiếp cận

- Thu thập tài liệu, số liệu trong nước và ngoài nước có liên quan;

- Điều tra khảo sát đại diện một số đơn vị, kết hợp phương pháp phân tích đánh giá chuyên gia, có sử dụng một số tư liệu số liệu còn tính thời sự;

- Tổng hợp các số liệu để xây dựng Hệ thống CSDL;

3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu tổng quan về hoạt động tiêu chuẩn hóa;

- Hệ thống hóa các TC, QC hiện đang áp dụng trong các ngành công nghiệp, đánh giá tình trạng áp dụng;

- Hệ thống hóa các tổ chức đánh giá sự phù hợp, các phòng thí nghiệm,

đo lường, kiểm định hiện có của ngành Công Thương;

- Nghiên cứu, đề xuất một số nội dung về kế hoạch xây dựng các TC,

QC, các tổ chức đánh giá, nâng cấp hoặc xây dựng mới các phòng thử

nghiệm, đo lường, kiểm định, giai đoạn đến năm 2020;

- Xây dựng phần mềm CSDL hệ thống các TC, QC hiện đang áp dụng trong các ngành công nghiệp và hệ thống các tổ chức đánh giá sự phù hợp phục vụ các doanh nghiệp SXKD cũng như công tác quản lý nhà

nước của Bộ Công Thương

Trang 8

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TIÊU CHUẨN HÓA

1.1 Một số khái niệm cơ bản

Theo Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật số 68/2006/QH11 đã được

Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua tháng 6 năm 2006:

Tiêu chuẩn là quy định về đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý dùng làm

chuẩn để phân loại, đánh giá sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường

và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của các đối tượng này

Tiêu chuẩn do một tổ chức công bố dưới dạng văn bản để tự nguyện áp dụng

Quy chuẩn kỹ thuật là quy định về mức giới hạn của đặc tính kỹ thuật và

yêu cầu quản lý mà sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội phải tuân thủ để bảo đảm an toàn, vệ sinh, sức khoẻ con người; bảo vệ động vật, thực vật, môi trường; bảo vệ lợi ích và an ninh quốc gia, quyền lợi của người tiêu dùng và các yêu cầu thiết yếu khác

Quy chuẩn kỹ thuật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản để bắt buộc áp dụng

Hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn là việc xây dựng, công bố và áp

dụng tiêu chuẩn, đánh giá sự phù hợp với tiêu chuẩn

Hoạt động trong lĩnh vực quy chuẩn kỹ thuật là việc xây dựng, ban hành

và áp dụng quy chuẩn kỹ thuật, đánh giá sự phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật

Đánh giá sự phù hợp là việc xác định đối tượng của hoạt động trong lĩnh

vực tiêu chuẩn và đối tượng của hoạt động trong lĩnh vực quy chuẩn kỹ thuật phù hợp với đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý quy định trong tiêu chuẩn tương ứng và quy chuẩn kỹ thuật tương ứng

Đánh giá sự phù hợp bao gồm hoạt động thử nghiệm, hiệu chuẩn, giám định, chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy, công bố hợp chuẩn, công bố hợp quy, công nhận năng lực của phòng thử nghiệm, phòng hiệu chuẩn, tổ chức chứng nhận sự phù hợp, tổ chức giám định

Chứng nhận hợp chuẩn là việc xác nhận đối tượng của hoạt động trong

lĩnh vực tiêu chuẩn phù hợp với tiêu chuẩn tương ứng

Trang 9

Chứng nhận hợp quy là việc xác nhận đối tượng của hoạt động trong lĩnh

vực quy chuẩn kỹ thuật phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật tương ứng

Công bố hợp chuẩn là việc tổ chức, cá nhân tự công bố đối tượng của

hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn phù hợp với tiêu chuẩn tương ứng

Công bố hợp quy là việc tổ chức, cá nhân tự công bố đối tượng của hoạt

động trong lĩnh vực quy chuẩn kỹ thuật phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật tương ứng

Công nhận là việc xác nhận phòng thử nghiệm, phòng hiệu chuẩn, tổ

chức chứng nhận sự phù hợp, tổ chức giám định có năng lực phù hợp với các tiêu chuẩn tương ứng

Theo Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 05/2007/QH12 đã được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 2 thông qua tháng 11 năm 2007:

Chất lượng sản phẩm, hàng hóa là mức độ của các đặc tính của sản

phẩm, hàng hóa đáp ứng yêu cầu trong tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn

kỹ thuật tương ứng

Tổ chức đánh giá sự phù hợp là tổ chức tiến hành hoạt động thử nghiệm,

giám định, kiểm định, chứng nhận sự phù hợp của sản phẩm, hàng hóa, quá trình sản xuất, cung ứng dịch vụ phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn

kỹ thuật tương ứng

Thử nghiệm là thao tác kỹ thuật nhằm xác định một hay nhiều đặc tính

của sản phẩm, hàng hóa theo một quy trình nhất định

Giám định là việc xem xét sự phù hợp của sản phẩm, hàng hóa so với hợp

đồng hoặc tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng bằng cách quan trắc và đánh giá kết quả đo, thử nghiệm

Chứng nhận là việc đánh giá và xác nhận sự phù hợp của sản phẩm, quá

trình sản xuất, cung ứng dịch vụ với tiêu chuẩn công bố áp dụng (gọi là chứng nhận hợp chuẩn) hoặc với quy chuẩn kỹ thuật (gọi là chứng nhận hợp quy)

Kiểm định là hoạt động kỹ thuật theo một quy trình nhất định nhằm đánh

giá và xác nhận sự phù hợp của sản phẩm, hàng hóa với yêu cầu quy định trong quy chuẩn kỹ thuật tương ứng

Thừa nhận kết quả đánh giá sự phù hợp là việc cơ quan nhà nước có

thẩm quyền, tổ chức, cá nhân hoạt động tại Việt Nam chấp nhận kết quả đánh

Trang 10

giá sự phù hợp do tổ chức đánh giá sự phù hợp của quốc gia, vùng lãnh thổ khác thực hiện

1.2 Sự cần thiết phải chứng nhận sản phẩm phù hợp tiêu chuẩn

Theo quy định của pháp luật, sản phẩm, hàng hóa được quản lý trên cơ sở tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, vì vậy các sản phẩm, hàng hóa không những phải được chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn Ngoài

ra, các sản phẩm, hàng hóa phải được chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn còn do một số yếu tố chủ yếu sau đây:

Áp lực từ chủ sở hữu, cổ đông: Nhà đầu tư và các cổ đông yêu cầu tiền

vốn của họ được an toàn và hiệu quả Cải thiện hình ảnh của doanh nghiệp đối với khách hàng và các bên quan tâm

Áp lực từ thị trường: Khách hàng của doanh nghiệp yêu cầu bằng chứng

khách quan về chất lượng, đặc biệt là người tiêu dùng sản phẩm; Cơ quan quản

lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ yêu cầu,

Đặc biệt, xu thế hội nhập quốc tế với nhu cầu đưa sản phẩm vào các thị trường với nhận thức cao của người tiêu dùng và yêu cầu nghiêm ngặt về chất lượng

Tính cạnh tranh: Hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hoá và

dịch vụ phù hợp theo tiêu chuẩn ngày càng trở nên quan trọng Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay Có được hệ thống sản phẩm phù hợp tiêu chuẩn chất lượng sẽ đem đến cho doanh nghiệp lợi thế cạnh tranh Việc sản phẩm được chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn, Doanh nghiệp có bằng chứng đảm bảo với khách hàng rằng: Sản phẩm do họ sản xuất phù hợp với Tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế hiện hành Trên thực tế, tiêu chuẩn chất lượng được áp dụng định hướng bởi chính người tiêu dùng, những người luôn mong muốn được đảm bảo rằng sản phẩm mà họ sử dụng có chất lượng đúng như nhà sản xuất khẳng định Hợp đồng mua hàng thường có yêu cầu phải kèm theo hồ sơ chứng nhận chất lượng do bên thứ ba cung cấp

Tạo năng suất và giảm giá thành: Thực hiện quản lý chất lượng theo tiêu

chuẩn giúp Doanh nghiệp tăng năng suất và giảm giá thành Hệ thống chất lượng sẽ cung cấp các phương tiện giúp cho mọi người thực hiện công việc đúng ngay từ đầu và có sự kiểm soát chặt chẽ qua đó sẽ giảm khối lượng công việc làm lại và chi phí cho hành động khắc phục đối với sản phẩm sai hỏng vì thiếu

Trang 11

kiểm soát và giảm được lãng phí về thời gian, nguyên vật liệu, nhân lực và tiền bạc Đồng thời, nếu Doanh nghiệp có sản phẩm chất lượng phù hợp với tiêu chuẩn sẽ giúp giảm thiểu được chi phí kiểm tra, tiết kiệm được chi phí cho cả Doanh nghiệp và khách hàng

Tăng uy tín của Doanh nghiệp về đảm bảo chất lượng: Áp dụng quản lý

chất lượng sản phẩm theo Tiêu chuẩn sẽ cung cấp bằng chứng khách quan để chứng minh chất lượng sản phẩm, dịch vụ của Doanh nghiệp và chứng minh cho khách hàng thấy rằng các hoạt động của Doanh nghiệp đều được kiểm soát Hệ thống chất lượng sản phẩm còn cung cấp những dữ liệu để sử dụng cho việc xác định hiệu suất của các quá trình, các thông số về sản phẩm, dịch vụ nhằm không ngừng cải tiến hiệu quả hoạt động và sự thỏa mãn khách hàng

Khi sản phẩm được chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn, doanh nghiệp sẽ nhận được các lợi ích sau:

Về mặt kinh tế: Giảm thiểu chi phí rủi ro do việc phải thu hồi sản phẩm

không phù hợp và bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng; Giảm thiểu chi phí tái chế nhờ cơ chế ngăn ngừa nguy cơ sản phẩm không bảo đảm chất lượng ngay trong quy trình sản xuất

Về mặt quản lý rủi ro: Thực hiện tốt việc đề phòng các rủi ro và hạn chế

thiệt hại do rủi ro gây ra; Điều kiện để giảm chi phí bảo hiểm; Dễ dàng hơn trong làm việc với bảo hiểm về tổn thất và bồi thường

Về mặt thị trường: Nâng cao uy tín và hình ảnh của Doanh nghiệp trên thị

trường do việc được bên thứ ba chứng nhận sự phù hợp tiêu chuẩn của sản phẩm; Nâng cao năng lực cạnh tranh nhờ nâng cao sự tin cậy của người tiêu dùng với các sản phẩm của Doanh nghiệp; Phát triển bền vững nhờ đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, tác động đến môi trường của cơ quan quản lý và cộng đồng xã hội; Cải thiện cơ hội xuất khẩu và thâm nhập thị trường quốc tế yêu cầu chứng chỉ như là một điều kiện bắt buộc; Giảm thiểu các yêu cầu thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước; hạn chế hiện tượng tố cáo, khiếu nại về chất lượng sản phẩm Được sự đảm bảo của bên thứ ba; Vượt qua rào cản kỹ thuật trong thương mại; Cơ hội cho quảng cáo, quảng bá sản phẩm đến với người tiêu dùng

Trang 12

1.3 Sự hội nhập của Việt nam trong lĩnh vực Tiêu chuẩn

Trước đây, trong lĩnh vực tiêu chuẩn, quy chuẩn, chất lượng, nước ta mới chỉ là thành viên của 3 tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá là ISO năm 1977, CAC-1989 và Ban Thường trực tiêu chuẩn hoá của Hội đồng Tương trợ Kinh tế Tuy nhiên, sau những năm 90 thế kỷ trước, với những chính sách đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã phát triển nhanh chóng và chuyển từ một nền kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập quốc tế Đây là tiền đề, là cơ

sở cho hội nhập quốc tế trong nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội, trong đó

có hoạt động hội nhập về khoa học và công nghệ mà cụ thể là về tiêu chuẩn, quy chuẩn và chất lượng hàng hóa Cho tới nay, trên lĩnh vực này chúng ta đã có quan hệ hợp tác với 19 tổ chức, diễn đàn quốc tế và khu vực Việc mở rộng quan

hệ như vậy đã tạo ra cơ hội cho chúng ta nhanh chóng hơn đi vào hội nhập với quốc tế trong lĩnh vực tiêu chuẩn, quy chuẩn, chất lượng và đã tạo điều kiện thuận lợi hoá thương mại cho các doanh nghiệp

Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng là đại diện của Việt Nam tham gia trong các ban lãnh đạo chủ chốt của một số tổ chức quốc tế và khu vực lớn như: Chủ tịch Tổ chức Năng suất châu Á (APO) năm 2000, Chủ tịch Uỷ ban tư vấn về Tiêu chuẩn và Chất lượng của ASEAN (ACCSQ) năm 2002, đồng thời trong 3 nhiệm kỳ là thành viên Hội đồng Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc tế (ISO), thành viên Ban chấp hành của Tổ chức chất lượng châu Á - Thái Bình Dương (APQO), Phó Chủ tịch của Mạng lưới công nghệ châu Á (TA) và năm 2002, Việt Nam được mời tham gia thành viên Nhóm đặc nhiệm (Task force) của Tổ chức quốc tế về đo lường pháp quyền (OIML)

Sau khi tham gia APEC, Việt Nam đã công bố kế hoạch hành động quốc gia về tiêu chuẩn và sự phù hợp, trong đó, khẳng định TCVN là tiêu chuẩn quốc gia được xây dựng và ban hành theo phương pháp ban kỹ thuật, đồng thời cũng cam kết việc chấp nhận các tiêu chuẩn quốc tế thành TCVN là một trong những hướng ưu tiên Trong khuôn khổ ISO, Việt Nam tham gia với tư cách thành viên (thành viên đầy đủ) của 8 Ban, Tiểu ban kỹ thuật và với tư cách thành viên O (quan sát viên) trong 51 Ban, Tiểu ban kỹ thuật Ngoài ra còn tham gia hoạt động của các Ban chuyên môn khác của ISO như: CASCO, INFCO, DEVCO Việc tham gia các hoạt động trong khuôn khổ ASEM, APEC/SCSC, ASEAN/ACCSQ cũng có những bước phát triển mới

Trang 13

Đổi mới hệ thống Tiêu chuẩn Việt nam (TCVN) là một nhiệm vụ trọng tâm trong hội nhập với quốc tế và khu vực Việt Nam đã xây dựng Luật Tiêu chuẩn

và Quy chuẩn Kỹ thuật được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ đầu năm

2007, thay thế cho Pháp lệnh Tiêu chuẩn hoá Theo tinh thần của luật mới được ban hành, chúng ta đang tích cực tiến hành rà soát, loại bỏ các TCVN đã lạc hậu, hoặc không phù hợp với đối tượng của tiêu chuẩn hoá theo yêu cầu phát triển Đẩy mạnh việc nghiên cứu để dần dần đưa những vấn đề kỹ thuật, nghiệp vụ trong xây dựng tiêu chuẩn tiếp cận với thông lệ quốc tế Hài hoà các TCVN với tiêu chuẩn quốc tế cũng được đặc biệt chú trọng, trong đó ưu tiên hàng đầu là các tiêu chuẩn thuộc chương trình hài hoà tiêu chuẩn của ASEAN, APEC và ASEM Trong tổng số các TCVN đã được ban hành, cho đến nay đã có khoảng 25% được hài hoà với tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực và tiêu chuẩn nước ngoài tiên tiến Để trực tiếp tham gia nghiên cứu xây dựng các TCVN và góp ý cho các tiêu chuẩn quốc tế, đã có trên 800 nhà khoa học, các chuyên gia từ các viện nghiên cứu, các trường đại học, các cơ quan quản lý và các doanh nghiệp tham gia làm thành viên của các Ban kỹ thuật và Tiểu ban kỹ thuật Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng là thành viên chính thức của CAC từ 1989 và

Uỷ ban Codex Việt Nam đã được thành lập để phối hợp với CAC chỉ đạo hoạt động của 10 Ban kỹ thuật tiêu chuẩn thực phẩm, trong việc góp ý cho các TCVN theo các qui định của Codex và các tiêu chuẩn ISO có liên quan tới thực phẩm Các tài liệu, chỉ dẫn và quy định của CAC đã được phổ biến cho các cơ quan có liên quan, làm cơ sở để Việt Nam hội nhập với thế giới trong việc quản lý vệ sinh, an toàn thực phẩm sản xuất trong nước cũng như nhập khẩu

Việc Việt Nam tham gia các tổ chức quốc tế về Công nhận Phòng thử nghiệm (ILAC), Hợp tác châu Á - Thái Bình dương về công nhận phòng thử nghiệm (APLAC), Hợp tác công nhận Thái Bình Dương (PAC) và ký kết các Thoả thuận thừa nhận lẫn nhau (MRA) của ILAC, APLAC là cơ hội và điều kiện để hoạt động công nhận, chứng nhận chất lượng của Việt Nam phù hợp với

xu hướng hội nhập với các thông lệ và tập quán quốc tế Là thành viên của các

tổ chức năng suất, chất lượng khu vực như APO, APQO, phong trào hoạt động năng suất chất lượng của Việt Nam đã được đẩy mạnh và hội nhập dần với quốc

tế Cho đến nay, Việt Nam đã có hàng ngàn tổ chức/doanh nghiệp được chứng nhận phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế như ISO 9.000, ISO 14.000, SA

Trang 14

8.000 Nhiều công cụ quản lý chất lượng tiên tiến được giới thiệu và phổ cập tại Việt Nam như TQM, KAIZEN, 5S, Giải thưởng Chất lượng châu Á - Thái Bình Dương

Tiếp theo Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá đã được Quốc hội thông qua tháng 11/2007; Luật Đo lường được soạn thảo vào năm 2008 đều dựa trên những nguyên tắc cơ bản là đổi mới hoạt động tiêu chuẩn, quy chuẩn, chất lượng theo yêu cầu hội nhập kinh tế quốc

tế

Việt Nam đẩy mạnh việc ký kết các hiệp định và thoả thuận hợp tác với nhiều nước khác nhau, như trong lĩnh vực tiêu chuẩn, quy chuẩn, chất lượng với Ucraina (năm 2000), với Liên bang Nga (2001), Trung Quốc (2002), Hàn Quốc (2005, 2006), Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (2003), Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất (2007), Bê-la-rút (2007) Đặc biệt, năm 2004, đã ký MOU với cơ quan Tiêu chuẩn và thử nghiệm vật liệu của Hoa Kỳ (ASTM), năm

2006 ký MOU với cơ quan Tiêu chuẩn quốc gia Hoa Kỳ (ANSI) là các tổ chức tiêu chuẩn lớn có uy tín trên thế giới và đã triển khai được một số hoạt động có ý nghĩa Việc hợp tác với 2 cơ quan tiêu chuẩn hàng đầu của Hoa Kỳ mang lại cho Việt Nam sự hỗ trợ về tri thức, về thông tin để chúng ta nâng cao năng lực trong lĩnh vực tiêu chuẩn, quy chuẩn, đo lường, chất lượng, phục vụ kịp thời cho yêu cầu của doanh nghiệp trong nước tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc

tế khi Việt Nam đã là thành viên WTO, đặc biệt là thâm nhập vào thị trường Hoa Kỳ Hợp tác quốc tế giúp cho lĩnh vực TCĐLCL tiếp cận, hội nhập được với khu vực và quốc tế và góp phần thúc đẩy thương mại giữa Việt Nam và các nước trên thế giới

1.4 Tổng quan về tình hình áp dụng Tiêu chuẩn ở Việt Nam

Cơ khí là ngành công nghiệp chế tạo ra các máy, thiết bị, phương tiện, hệ thống cho các ngành công nghiệp khác và phục vụ sản xuất và đời sống Khoa học kỹ thuật về Cơ khí là một lĩnh vực rộng lớn và phức tạp, có quan hệ mật thiết với nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật khác như Điện, Điện tử viễn thông, Công nghệ thông tin, Công nghệ vật liệu, Công nghệ sinh học,… Sự phát triển của ngành Cơ khí đóng vai trò nền tảng và có ảnh hưởng lớn, góp phần quan

Trang 15

trọng thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật cũng như các ngành công nghiệp khác

Trong giai đoạn những năm trước năm 2000, khi mà ngành công nghiệp cơ khí gặp nhiều khó khăn, các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam chủ yếu chế tạo những sản phẩm phi tiêu chuẩn, mức độ phức tạp không cao Những năm gần đây, ngành cơ khí đã có nhiều tiến bộ về công nghệ, sản xuất được nhiều loại thiết bị đồng bộ cung cấp cho các ngành công nghiệp quan trọng như điện lực, xi măng, mía đường, giấy và bột giấy, phân bón, chế biến thực phẩm Ví dụ, trong lĩnh vực điện lực, ngành cơ khí Việt Nam đã đủ sức cung cấp toàn bộ phần thiết

bị thủy công cho các nhà máy thủy điện, là sản phẩm mà trước đây không lâu còn phải nhập từ nước ngoài Những thiết bị lò hơi do Lilama chế tạo chẳng những được nhà thầu quốc tế chọn để lắp đặt trong các nhà máy nhiệt điện trong nước, mà còn cho cả những dự án ở nước ngoài Riêng turbine phát điện, thiết bị quan trọng trong các nhà máy điện, Việt Nam đã có thể chế tạo được loại có công suất đến 50MW, sử dụng cho những nhà máy thủy điện nhỏ Ngoài ra còn phải kể đến những dây chuyền sản xuất xi măng công suất một triệu tấn/năm, trong đó có trên 70% khối lượng thiết bị được chế tạo trong nước Để thực hiện được các việc sản xuất các sản phẩm đó cần đòi hỏi có các tiêu chuẩn kỹ thuật chung

Đạt được những thành quả trên, không thể không kể đến vai trò của tiêu chuẩn hóa Tiêu chuẩn hóa không những làm thước đo chất lượng sản phẩm mà còn là yếu tố thúc đẩy sự phát triển sản xuất, hiện đại hoá các ngành công nghiệp cơ khí, chế tạo thiết bị của Việt Nam So với các ngành công nghiệp khác, vai trò của Tiêu chuẩn hóa đối với ngành cơ khí chế tạo máy thể hiện khá

rõ nét Ví dụ, bulông, đai ốc có cùng kích thước lại không lắp lẫn được với nhau, xích xe đạp được chế tạo tại Trung Quốc hoặc Nhật Bản lại không lắp được với các xe đạp chế tạo tại Việt Nam hoặc đầu máy xe lửa chế tạo tại Ấn Độ lại không chạy được trên đường sắt của Trung Quốc hoặc bất kỳ quốc gia nào khác, v.v

Lợi ích của Tiêu chuẩn hóa đối với chế tạo các chi tiết máy và máy là:

- Thống nhất hoá được nhiều chi tiết, bộ phận trong sản xuất các sản phẩm cơ khí;

- Giảm được số lượng các kiểu loại;

Trang 16

- Nâng cao chất lượng sản phẩm;

- Nâng cao năng suất lao động;

- Đáp ứng tốt yêu cầu lắp ráp, sửa chữa, thay thế phụ tùng trong ngành chế tạo máy

Tiêu chuẩn hóa là tiền đề không thể thiếu được cho sản xuất hàng loạt lớn nhằm tạo ra sản phẩm có giá thành rẻ và có chất lượng cạnh tranh Công nghiệp thế giới đã bước qua thời kỳ cơ khí hoá, tự động hoá trên nền tảng truyền dẫn cơ khí và đang ở giai đoạn phát triển cao của cơ - điện tử (mechatronics) Các máy móc, thiết bị hoặc dây chuyền thiết bị được cấu thành từ các môdun Sự tương hợp giữa các hệ truyền động cơ khí - Thủy lực - Điện - Điện tử, giữa các môdun đòi hỏi phải có TCH, và sự hài hoà của các tiêu chuẩn quốc gia với các tiêu chuẩn quốc tế và khu vực sẽ đáp ứng rất tốt yêu cầu trên

Trước đây, Tiêu chuẩn hóa chỉ áp dụng phần nhiều cho các chi tiết, cụm chi tiết nhỏ lẻ và một số thiết bị máy móc công nghiệp cơ khí truyền thống (Ví dụ, các máy gia công kim loại bằng cắt gọt, máy động lực, các phương tiện cơ giới giao thông đường bộ, các máy móc thiết bị điện ) Hiện nay, TCH trong ngành

Cơ khí Chế tạo không còn bó hẹp như trên nữa mà tác động đến phạm vi rộng các ứng dụng và đem lại lợi ích, hiệu quả và ý nghĩa kinh tế không nhỏ (Ví dụ, trong khâu tư vấn, tính toán và thiết kế các hệ thống thiết bị cơ khí, nhờ có TCH

mà có thể đơn giản và giảm bớt từ 10 đến 15% khối lượng công việc do sử dụng các chi tiết và cụm chi tiết được tiêu chuẩn, được thống nhất Trong công nghiệp chế tạo cơ khí, quá trình lắp ráp và đặc biệt việc thay thế sửa chữa các phụ tùng

cơ khí đòi hỏi sử dụng tiêu chuẩn, không thể thiếu tiêu chuẩn và thực hiện công tác tiêu chuẩn hoá khá cao, hiệu quả mang lại có ý nghĩa kinh tế rất lớn)

Tiêu chuẩn hóa chỉ thực sự phát triển cùng với cuộc cách mạng cơ khí Trong số 13000 tiêu chuẩn ISO đã có trên 4000 tiêu chuẩn về cơ khí hoặc liên quan đến cơ khí, chiếm khoảng 25% tổng số các tiêu chuẩn Ở Việt Nam, trong

số khoảng 6000 TCVN được ban hành thì đã có khoảng 2000 tiêu chuẩn về cơ khí, chiếm gần 1/3 tổng số TCVN Ngoài ra còn có trên 500 tiêu chuẩn ngành và nhiều tiêu chuẩn cơ sở khác liên quan đến cơ khí

Hiện nay số lượng các Tiêu chuẩn đang áp dụng trong ngành Công thương

là 218 TCVN

Trang 17

Một số vấn đề còn tồn đọng đối với ngành cơ khí trong lĩnh vực TCH cần phải khắc phục như sau:

- Hoàn chỉnh, bổ sung các mảng tiêu chuẩn còn thiếu trong lĩnh vực cơ khí, đặc biệt cần khai thác tiêu chuẩn hóa ở khía cạnh CAD, CAM, CNC – một lĩnh vực chưa được tiêu chuẩn hóa, ở khía cạnh liên quan đến an toàn thiết bị, dây chuyền thiết bị, vệ sinh môi trường

- Bổ sung các mảng tiêu chuẩn liên quan đến tự động hoá quá trình cơ khí

- Có kế hoạch hợp tác nghiên cứu, làm việc với các tổ chức tiêu chuẩn hóa trong nước, kể cả khu vực và quốc tế

Ngành công nghiệp điện tử Việt Nam ra đời muộn hơn nhiều so với sự ra đời của ngành công nghiệp điện tử thế giới và ngành công nghiệp điện tử Việt Nam chỉ mới tham gia vào giai đoạn đầu (gia công, lắp ráp) trong chuỗi giá trị toàn cầu Các doanh nghiệp điện tử Việt Nam hầu hết là các công ty 100% vốn của nước ngoài hoặc liên doanh với nước ngoài, một số rất ít là doanh nghiệp nội địa cũng chỉ lắp ráp theo các đơn hàng của nước ngoài, nên các sản phẩm điện tử đều phải đạt các tiêu chuẩn của nước ngoài theo những đơn hàng

Từ năm 1975 đến năm 2004 có 190 TCVN thuộc ngành Điện tử được ban hành Hầu hết các tiêu chuẩn này đều được chuyển đổi từ các tiêu chuẩn quốc gia của Liên Xô cũ và đã lạc hậu Hơn nữa, do các sản phẩm điện tử hầu hết được sản xuất theo công nghệ nhập từ nước ngoài nên được sản xuất theo tiêu chuẩn của nước cung cấp công nghệ hoặc cung cấp phụ tùng, chi tiết, linh kiện…

Hiện nay số lượng các Tiêu chuẩn về điện tử viễn thông đang áp dụng trong ngành Công thương là 78 TCVN và 62 QCVN do Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành

Các tiêu chuẩn ngành kỹ nghệ thực phẩm của Việt Nam được hiệu chỉnh theo các tiêu chuẩn ISO, CODEX Các Quy chuẩn kỹ thuật công nghiệp thực phẩm nói chung và của ngành kỹ nghệ thực phẩm nói riêng liên quan đến vấn đề chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP)

Trang 18

Hiện nay số lượng các Tiêu chuẩn đang áp dụng trong ngành Công thương

là 51 TCVN và 34 QCVN về VSATTP do Bộ Y tế ban hành

Các TCVN về Điện rất nhiều và phong phú, chủ yếu được chuyển từ các tiêu chuẩn IEC, ISO Hiện nay đã có khoảng hơn 507 TCVN về lĩnh vực điện, các Tiêu chuẩn điện hiện nay đang tiếp tục được xây dựng do sự phong phú của

các mặt hàng điện

Hiện nay số lượng các Tiêu chuẩn đang áp dụng trong ngành Công thương

là 507 TCVN về lĩnh vực điện và 05 QCVN về Kỹ thuật điện do Bộ Công Thương Ban hành

Hiện nay cả nước có khoảng 300 cơ sở sản xuất bia với công suất thiết kế khoảng 1,7 tỷ lít/ năm Các thương hiệu bia có tên tuổi trên thế giới như Heineken, Carlsberg … đều có đầu tư vào Việt Nam

Đối với ngành sản xuất rượu thì cả nước có khoảng 72 đơn vị sản xuất với công suất 103 triệu lít/ năm

Hiện nay số lượng các Tiêu chuẩn đang áp dụng trong ngành Công thương

là 32 TCVN và 03 QCVN về đồ uống

Theo thống kê, nước ta có khoảng 300 cơ sở sản xuất bột giấy, giấy và các tông với các loại mặt hàng đa dạng như: giấy in, giấy viết các loại, giấy và các tông bao gói, giấy vệ sinh, giấy khăn ăn…Việc áp dụng các TCVN trong ngành sản xuất giấy và bột giấy trước đây còn hạn chế, chủ yếu được chuyển từ các Tiêu chuẩn quốc gia của Liên xô cũ (GOST) Hiện nay các tiêu chuẩn áp dụng trong lĩnh vực giấy đã được hài hòa theo tiêu chuẩn của ISO

Hiện nay số lượng các Tiêu chuẩn đang áp dụng trong ngành Công thương

là 87 TCVN về Giấy và Bột giấy

Trang 19

1.4.7 Lĩnh vực Thủy tinh

Ngành sành sứ thủy tinh công nghiệp là một trong các ngành bao gồm nhiều chủng loại hàng hóa và đã xuất hiện khá sớm trong lịch sử phát triển công nghiệp nước ta

Hiện nay số lượng các Tiêu chuẩn đang áp dụng trong ngành Công thương

là 50 TCVN về Thủy tinh

Thuốc lá không phải là mặt hàng thiết yếu, nhưng có đóng góp vào ngân sách Nhà nước rất cao, doanh thu khoảng hơn 11.000 tỷ đồng/ năm Cả nước có khoảng 17 doanh nghiệp sản xuất thuốc lá điếu, trực thuộc các cấp, các ngành và địa phương quản lý Hiện tại các doanh nghiệp sản xuất thuốc lá áp dụng cả các TCVN và TCN Các TCVN áp dụng trong ngành thuốc lá được xây dựng chủ yếu dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế, còn TCN chủ yếu dựa vào các tiêu chuẩn kỹ thuật của các tập đoàn, các doanh nghiệp sản xuất thuốc lá tại Việt Nam và hầu hết là các tiêu chuẩn về qui phạm kỹ thuật liên quan trực tiếp đến chất lượng sản phẩm và đánh giá chất lượng sản phẩm

Hiện nay số lượng các Tiêu chuẩn đang áp dụng trong ngành Công thương

Hiện nay số lượng các Tiêu chuẩn đang áp dụng trong ngành Công thương

là 17 TCVN về phân bón

b) Ngành sản xuất Pin - ác quy

Công nghiệp điện hóa là 1 phân ngành sản xuất quan trọng trong công nghiệp hóa chất, phân chia thành 4 mảng hoạt động lớn theo các công nghệ sản xuất cơ bản như sau: Công nghệ sản xuất các hợp chất Vô cơ và Hữu cơ; Công

Trang 20

nghệ chế tạo sản xuất nguồn điện hóa học; Công nghệ xử lý, hoàn thiện bề mặt Kim loại; Kiểm soát ăn mòn - bảo vệ Kim loại chống ăn mòn;

Thực tế, việc xây dựng tiêu chuẩn cho các sản phẩm điện hóa đã không được quan tâm đúng mức

Hiện nay số lượng các Tiêu chuẩn đang áp dụng trong ngành Công thương

là 10 TCVN cho sản phẩm Pin - ác quy

c) Ngành sản xuất Hóa chất vô cơ

Hóa chất vô cơ được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực sản xuất, đây là những vật tư nguyên liệu chủ yếu cho nhiều ngành công nghiệp

Hiện nay số lượng các Tiêu chuẩn đang áp dụng trong ngành Công thương

là 37 TCVN cho các Hóa chất vô cơ

d) Ngành sản xuất cao su, chất dẻo

Các sản phẩm cao su phục vụ trực tiếp cho nhu cầu tiêu dùng của xã hội: lốp

ô tô, băng tải, … kể cả phục vụ trong y tế

Hiện nay số lượng các Tiêu chuẩn đang áp dụng trong ngành Công thương

là 170 TCVN về các sản phẩm cao su

Hiện nay sản phẩm của ngành Da giầy rất đa dạng, năm 2011 kim ngạch xuất khẩu đạt 6,5 tỷ USD (Toàn ngành đạt 7,8 tỷ USD - số liệu của Viện nghiên cứu Da giầy), đứng thứ tư thế giới, với 03 thị trường chính là EU, Mỹ và Nhật Bản, giá trị trong nước đạt 1,5 tỷ USD

Hiện nay số lượng các Tiêu chuẩn đang áp dụng trong ngành Công thương

là 70 TCVN về các sản phẩm Da giầy

Ngành dệt may luôn là một trong những ngành đi đầu, có vai trò quan trọng trong chiến lược xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam ra thị trường thế giới Với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu khá cao, ngành dệt may đã có những đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa nói riêng và tăng trưởng kinh tế nói chung ở Việt Nam Kim ngạch xuất khẩu năm 2011 đạt gần 14 tỷ USD (Thông tin từ Tập đoàn Dệt may Việt Nam) tăng 38 % so với năm 2010

Hiện nay số lượng các Tiêu chuẩn đang áp dụng trong ngành Công thương

là 227 TCVN về các sản phẩm Dệt may

Trang 21

1.4.12 Ngành Nhựa

Ngành nhựa là một trong những ngành tăng trưởng ổn định của thế giới, trung bình 9% trong vòng 50 năm qua Mặc dù cuộc khủng hoảng kinh tế 2008 tác động lớn tới nhiều ngành công nghiệp, nhưng ngành nhựa Việt Nam vẫn tăng trưởng 3% trong năm 2009, năm 2010 tăng trưởng trên 20% về giá trị và 18.75% về sản lượng so với 2009 Trong bối cảnh ngành Nhựa thế giới đang chững lại sau khủng hoảng kinh tế, tăng trưởng của ngành Nhựa Việt Nam cho thấy nhu cầu trong nước vẫn duy trì ở mức cao Hiện nay, nhu cầu tiêu thụ nhựa trong nước đã đạt 32 kg/người/năm, tăng 15% so với năm 2009 và gấp đôi năm

2006 (16kg/người/năm), xấp xỉ mức trung bình thế giới (40kg/năm) Nhu cầu nhựa bình quân trong nước có nhiều khả năng sẽ lên cao hơn nữa, góp phần cải thiện sản lượng sản xuất và kim ngạch xuất khẩu của nhựa Việt Nam Ngành nhựa có tỷ trọng 4.48% so với toàn ngành công nghiệp nội địa và giữ vai trò một ngành phụ trợ thiết yếu cần phát triển trong các kế hoạch kinh tế của Nhà Nước Ngành Nhựa là một trong 10 ngành được Nhà Nước ưu tiên phát triển do có tăng trưởng tốt và ổn định, xuất khẩu khá mạnh và có khả năng cạnh tranh tốt với các nước trong khu vực

Hiện nay số lượng các Tiêu chuẩn đang áp dụng trong ngành Công thương

là 67 TCVN về các sản phẩm Nhựa

Nhận biết được tầm quan trọng của ngành thép, hầu hết các quốc gia đã dành nhiều chính sách ưu đãi để phát triển ngành thép Với mục tiêu đưa đất nước trở thành nước công nghiệp, có trình độ sản xuất hiện đại, Việt Nam đã coi ngành sản xuất thép là ngành công nghiệp trụ cột của nền kinh tế, luôn luôn phấn đấu để đáp ứng tối đa nhu cầu về các sản phẩm thép của các ngành công nghiệp khác và tăng cường xuất khẩu Để đạt được mục tiêu, Chính phủ đã dành nhiều chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế khác đầu tư vào ngành thép nhằm tận dụng tối đa nguồn vốn và nhân lực nhàn rỗi của các ngành, thúc đẩy phát triển kinh tế, đảm bảo công ăn việc làm cho người lao động

Cũng giống với các nước đang phát triển khác, sự phát triển của ngành Thép Việt Nam bị coi là đi theo chiều ngược khi công nghiệp cán có trước công nghiệp luyện, phần lớn do hạn chế về vốn đầu tư, do chính sách phát triển

Trang 22

ngành Ý kiến khác lại cho rằng ngành Thép sở dĩ phát triển ngược là do Việt Nam không có chính sách bảo hộ đúng mức cho phần gốc là luyện phôi thép, cho nên mặc dù thời gian gần đây ngành Thép phát triển được là nhờ nguồn phôi nhập khẩu, không tận dụng được lợi thế giàu tài nguyên của Việt Nam Quy hoạch tổng thể phát triển ngành Thép đến năm 2010, ban hành năm 2001, đặt ra mục tiêu năm 2005 ngành Thép đạt sản lượng sản xuất 1,2 – 1,4 tấn phôi thép; 2,5 – 3,0 tấn thép cán các loại; 0,6 triệu tấn sản phẩm thép gia công sau cán và đến năm 2010 ngành Thép sẽ đạt sản lượng sản xuất 1,8 triệu tấn phôi thép; 4,5 – 5,0 triệu tấn thép cán các loại và 1,2 – 1,5 triệu tấn sản phẩm thép gia công sau cán Tính đến hết 2007, về căn bản ngành thép Việt Nam đã đạt được chỉ tiêu so với kế hoạch đề ra Sản lượng phôi thép năm 2007 đạt 782.000 tấn, thép cán đạt 2,2 triệu tấn thấp hơn so với quy hoạch phát triển ngành phải đạt đến năm 2005 Tuy sản lượng sản xuất chưa đạt được so với mục tiêu đề ra, nhưng sản lượng thép tiêu thụ trong nước năm 2007 đã tăng từ 10 – 14% so với mức tiêu thụ năm

2006 Năm 2007, mức bình quân tiêu thụ thép của Việt Nam đạt xấp xỉ 100 kg/người/năm, mức được coi là điểm khởi đầu giai đoạn phát triển công nghiệp các quốc gia Mức tiêu thụ này đã vượt xa dự báo về mặt tăng trưởng, đưa Việt Nam trở thành thị trường có mức tiêu thụ thép cao nhất thế giới

Theo thông tin từ hiệp hội Thép Việt Nam, hiện ngành Thép Việt Nam có các chủng loại sản phẩm sau :

Trang 23

1.5 Tổng quan về hoạt động đánh giá sự phù hợp

Hầu hết các nước trên thế giới đều có một hoặc một số tổ chức công nhận

có thẩm quyền công nhận phòng thí nghiệm ở cấp quốc gia Tổ chức công nhận quốc gia có thể là cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hoặc tư nhân được nhà nước thừa nhận Hầu hết các tổ chức công nhận quốc gia đều sử dụng tiêu chuẩn ISO/IEC 17025 “Yêu cầu chung về năng lực của các phòng thử nghiệm và hiệu chuẩn” và tiêu chuẩn ISO 15189 “Phòng xét nghiệm y tế - yêu cầu cụ thể về năng lực và chất lượng” làm chuẩn mực để đánh giá và công nhận chất lượng phòng thí nghiệm của quốc gia mình Việc sử dụng ISO/IEC 17025 và ISO

15189 đã giúp cho các nước có cùng một cách tiếp cận để xác định chất lượng phòng thí nghiệm Cách tiếp cận đồng nhất này cho phép các quốc gia thiết lập các thoả ước dựa trên việc đánh giá lẫn nhau và chấp nhận hệ thống công nhận chất lượng phòng thí nghiệm của các quốc gia khác Thoả ước quốc tế này được gọi là Thoả ước thừa nhận lẫn nhau (MRA) và hệ thống MRA quốc tế giữa các

tổ chức công nhận đã tạo điều kiện cho các phòng thí nghiệm được công nhận đạt được một hình thức thừa nhận quốc tế và cho phép kết quả thử nghiệm, hiệu chuẩn đi kèm của hàng hoá xuất khẩu hoặc báo cáo kết quả xét nghiệm dễ được chấp nhận hơn trên thị trường nước ngoài Điều này làm giảm đáng kể chi phí cho cả nhà sản xuất, nhà nhập khẩu và người sử dụng dịch vụ thí nghiệm bởi vì

nó làm giảm hoặc loại bỏ yêu cầu phải được thử nghiệm, hiệu chuẩn và xét nghiệm lại tại quốc gia khác

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, việc sử dụng các kết quả của hoạt động đánh giá và công nhận sẽ ngày càng phổ biến trong đời sống hàng ngày, đặc biệt trong các hoạt động thương mại Công nhận là hoạt động kỹ thuật phục

vụ công tác quản lý chất lượng (bao gồm xây dựng, ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và đánh giá phù hợp tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật) Đây là những hoạt động quan trọng cần thiết để thực hiện mục tiêu của Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế là “Một tiêu chuẩn - một lần thử nghiệm - được chấp nhận ở mọi nơi”

Hoạt động đánh giá và công nhận giữ một vai trò quan trọng trong việc phát triển của thị trường nội địa và gia tăng thương mại xuất nhập khẩu Cùng với hoạt động đánh giá và công nhận nói chung, hoạt động đánh giá và công

Trang 24

nhận chất lượng phòng thí nghiệm là yếu tố quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế của một nền kinh tế

Ở Việt Nam trong những năm qua, hoạt động đánh giá và công nhận hệ thống quản lý chất lượng và năng lực kỹ thuật của phòng thí nghiệm đã đạt được những thành tựu nhất định góp phần không nhỏ thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trong môi trường hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, trước đòi hỏi ngày càng cao của phát triển kinh tế - xã hội và những yêu cầu về thuận lợi hóa thương mại và phát triển thương mại toàn cầu, hoạt động công nhận nói chung và công nhận chất lượng phòng thí nghiệm nói riêng ở Việt Nam cần được hoàn thiện, thay đổi, cả về tổ chức hoạt động, cả về nội dung và phương thức hoạt động nhằm tạo ra nhiều giá trị gia tăng hơn nữa cho chính hoạt động công nhận của tổ chức công nhận và của các phòng thí nghiệm được công nhận Bên cạnh đó, loại hình và quy mô phòng thí nghiệm ngày càng đa dạng, số lượng các phòng thí nghiệm ngày càng nhiều và yêu cầu chất lượng hoạt động thử nghiệm, hiệu chuẩn và xét nghiệm ngày càng cao đòi hỏi hoạt động đánh giá và công nhận phải không ngừng cải tiến và nâng cao chất lượng

Sau đây là tổng quan về tình hình hoạt động của các tổ chức đánh giá, tổ chức giám định và các tổ chức thí nghiệm cũng như một số hoạt động liên quan đến đánh giá sự phù hợp ở Việt Nam:

vệ sinh động thực vật (SPS) và thủ tục đánh giá sự phù hợp Để ngăn chặn những trở ngại không đáng có của xu hướng trên, năm 1995, Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã được thành lập với mục tiêu là xây dựng một hệ thống thương mại mở, trong đó các nền kinh tế thành viên sẽ tham gia cạnh tranh tự do

và bình đẳng Tổ chức này đã nhanh chóng thu hút được sự quan tâm, tham gia

Trang 25

của các nước và Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức này vào tháng 12 năm 2006

Một trong những chức năng chính của tổ chức Thương mại thế giới WTO

là giám sát việc thực hiện các hiệp định liên quan đến tự do hoá thương mại, trong đó có Hiệp định TBT và SPS Các giải pháp mà WTO đưa ra nhằm giúp các nước đang phát triển vượt qua hàng rào kỹ thuật mà các nước phát triển dựng lên là: (1) đảm bảo minh bạch trong chính sách và cơ chế quản lý, (2) hài hoà các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và thủ tục đánh giá sự phù hợp, và (3) tăng cường năng lực hoạt động đánh giá sự phù hợp bao gồm hoạt động thử nghiệm, giám định, chứng nhận sản phẩm, chứng nhận hệ thống quản lý, tự công

bố và công nhận Mục tiêu cuối cùng của các giải pháp này là thừa nhận kết quả tương đương và không phân biệt đối xử giữa sản phẩm sản xuất trong nước với các sản phẩm đến từ các nền kinh tế thành viên khác của WTO Khẩu hiệu của tiến trình thừa nhận này là "Đánh giá một lần, cấp một Giấy chứng nhận nhưng

có giá trị ở mọi nơi"

Sự ra đời của các tổ chức đánh giá sự phù hợp ở Việt Nam mà Trung tâm Chứng nhận Phù hợp Tiêu chuẩn - QUACERT vào năm 1999 với tư cách là một

tổ chức chứng nhận độc lập theo quyết định của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học Công nghệ) là sự chuẩn bị cần thiết và đúng lúc của ngành Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng cho việc phát triển năng lực đánh giá sự phù hợp theo đúng thông lệ quốc tế tại Việt Nam, chấm dứt tình trạng "vừa đá bóng vừa thổi còi" của các đơn vị tư vấn và chứng nhận trong Tổng cục trước đó Tuy nhiên, để hình thành thị trường đánh giá sự phù hợp thực sự theo đúng thông lệ quốc tế thì việc phát triển năng lực của các tổ chức đánh giá sự phù hợp (phòng thử nghiệm, tổ chức giám định, tổ chức chứng nhận sản phẩm, tổ chức chứng nhận hệ thống quản lý) và tổ chức công nhận phải tuân thủ các tiêu chuẩn hoặc hướng dẫn tương ứng của quốc tế như ISO 17025:2005, ISO 17020: 1998, ISO/IEC Guide 65:1996, ISO 17021:2006 và ISO 17011:2004

Thực hiện định hướng thị trường hoá hoạt động đánh giá sự phù hợp nói trên, đến nay, tuy chưa phải là tổ chức chứng nhận quốc gia với quy mô và thị phần xứng tầm như SAI Global của Úc, CQC của Trung Quốc để điều tiết thị trường chứng nhận theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Nhà nước khi cần,

Trang 26

nhưng có thể nói, sự phát triển của QUACERT từ năm 1999 đến nay đã góp phần không nhỏ vào việc hình thành và thực thi các chính sách quản lý nhà nước

về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng trên phạm vi cả nước Với sự quan tâm định hướng của Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, với sự cộng tác của các Trung tâm thuộc Tổng cục, trong những năm qua, hoạt động của QUACERT đã đạt được một số mục tiêu sau:

1 Nội địa hoá hoạt động chứng nhận, khiến cho chi phí chứng nhận hôm nay đã giảm đi gần chục lần so với thời kỳ khởi thuỷ, làm cho doanh nghiệp Việt Nam được hưởng lợi về chi phí chứng nhận tự nguyện, vì thế doanh nghiệp

tư nhân nhỏ của Việt Nam giờ đây cũng có thể tham gia hoạt động chứng nhận

2 Thuận lợi hoá công tác quản lý nhà nước về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng,

vệ sinh, an toàn và môi trường thông qua việc chuyển tải các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến với doanh nghiệp, thúc đẩy việc xây dựng và công bố tiêu chuẩn sản phẩm, góp phần nâng cao vị thế của Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng trên cả 3 miền đất nước

3 Tối ưu hoá việc sử dụng nguồn lực hiện có của Việt Nam vào hoạt động đánh giá sự phù hợp bằng việc sử dụng hệ thống các phòng thử nghiệm đã được công nhận và mạng lưới các chuyên gia công nghệ, chuyên gia môi trường, chuyên gia pháp lý trong hoạt động đánh giá chứng nhận Đây chính là cách tiếp cận đang thịnh hành ở các nước phát triển, là xu thế mà Nhà nước ta đang hướng tới

4 Làm cho chứng nhận hợp chuẩn trở nên không thể thiếu đối với các sản

phẩm có khả năng xuất khẩu, góp phần thúc đẩy quá trình thừa nhận song phương và đa phương về kết quả chứng nhận trong khu vực ASEAN và thế giới

5 Góp phần nâng cao nhận thức của các cán bộ, công chức về vai trò và mục đích của việc áp dụng ISO 9000 trong cơ quan hành chính nhà nước, làm cho Quyết định 144/2006/TTg sớm đi vào thực tiễn của công cuộc cải cách hành chính ở Việt Nam

Nhằm hoàn thiện, thay đổi, cả về tổ chức hoạt động, cả về nội dung và phương thức hoạt động của các tổ chức công nhận và các phòng thí nghiệm được công nhận ở Việt Nam, từ năm 1995 đến 1997, với sự tài trợ của Chính

Trang 27

phủ Nhật Bản, Cơ quan Hợp tác Quốc tế của Nhật Bản (JICA) đã tổ chức nghiên cứu xây dựng “Quy hoạch tổng thể phát triển các hoạt động tiêu chuẩn hoá, đo lường, thử nghiệm và quản lý chất lượng ở Việt Nam cho các giai đoạn đến năm

2005 và 2010“ Bản báo cáo cuối cùng của quy hoạch này đã đưa ra một số kiến nghị về các định hướng cơ bản phát triển các hoạt động tiêu chuẩn hoá, đo lường, thử nghiệm và quản lý chất lượng ở Việt Nam phù hợp với các xu thế và tập quán quốc tế cũng như điều kiện phát triển nền kinh tế - xã hội của đất nước theo định hướng kinh tế thị trường

Trên cơ sở Quy hoạch này, một số đề tài, dự án liên quan đến các hoạt động tiêu chuẩn hoá, đo lường, thử nghiệm và quản lý chất lượng cũng như hệ thống các phòng đo lường và thử nghiệm đã được Tổng cục TCĐLCL thực hiện,

cụ thể:

1 “Dự án quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam đến 2010“ do Tổng cục TCĐLCL xây dựng, hoàn thiện vào tháng 12/1997 và đã được Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) phê duyệt theo Quyết định số 1467/QĐ-BKHCNMT ngày 08/10/1998

2 Đề tài cấp Tổng cục TCĐLCL về “Nghiên cứu xây dựng và áp dụng cơ chế công nhận“ đã được thực hiện năm 1997 Đề tài đã đề cập nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động công nhận của Việt Nam, sự phân bố phòng thí nghiệm được công nhận theo khu vực và theo lĩnh vực và tình trạng hiệu lực, tình trạng chung của các phòng thí nghiệm đã được công nhận (bao gồm sự hiểu biết của phòng thí nghiệm về tiêu chuẩn công nhận ISO/IEC Guide 25 (nay là ISO/IEC 17025), tình trạng văn bản thủ tục, nguyện vọng của phòng thí nghiệm, danh sách và thông tin chi tiết về các phòng thí nghiệm đã được đánh giá và công nhận) Kết quả nghiên cứu của

đề tài là bước chuẩn bị các điều kiện để VILAS được một số tổ chức công nhận của các nước trong khu vực và trên thế giới thừa nhận vào năm 1999 (ký APLAC MRA)

3 Đề tài cấp Tổng cục TCĐLCL“Nghiên cứu và triển khai các chương trình thử nghiệm thành thạo (TNTT) đối với các phòng thí nghiệm trong hệ thống VILAS“ đã được thực hiện năm 2004 Nội dung của đề tài đã đề cập đến phương pháp luận về tổ chức triển khai chương trình TNTT trong phòng thí

Trang 28

nghiệm, áp dụng chương trình TNTT đối với phòng thí nghiệm kiểm tra chất lượng than và vật liệu xây dựng, đồng thời cũng đã đề cập đến phương pháp xác định độ không đảm bảo đo trong lĩnh vực hóa chất

4 Đề tài ”Nghiên cứu đề án xây dựng quy hoạch tổng thể về thử nghiệm trong phạm vi cả nước“ của Tổng cục TCĐLCL được thực hiện năm 2004 Nội dung của đề tài đã đề cập đến phương thức tổ chức và triển khai quy hoạch tổng thể trong lĩnh vực thử nghiệm ở 3 miền Bắc, Trung và Nam của Việt Nam

5 Đề tài “Quy hoạch xây dựng và phát triển chuẩn đo lường quốc gia giai đoạn

2002 - 2010“ do Trung tâm Đo lường Việt Nam thuộc Tổng cục TCĐLCL xây dựng năm 2002 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 165/2004/QĐ-TTg ngày 21/09/2004

6 Đề tài cấp Tổng cục TCĐLCL ”Nghiên cứu và đề xuất khai thác có hiệu quả các tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn đo lường chất lượng phục vụ cho phát triển kinh tế và quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam“ được thực hiện năm

2005 Nội dung của đề tài đã tập trung đánh giá hiệu quả việc tham gia vào các tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng của Việt Nam, đề xuất các giải pháp cho việc tham gia, khai thác có hiệu quả kinh nghiệm cũng như sự hỗ trợ về mọi mặt của các tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng

7 Đề tài cấp Bộ "Xây dựng quy chế thành lập cơ quan công nhận" đã được thực hiện năm 2005 Trong phạm vi các nội dung của đề tài, một số hội thảo

về nâng cao năng lực đánh giá và công nhận chất lượng phòng thí nghiệm của tổ chức công nhận đã được tổ chức trong nước và quốc tế

8 Đề tài cấp nhà nước về “Nghiên cứu quy hoạch hệ thống phòng thí nghiệm

đo lường và thử nghiệm chất lượng sản phẩm ở Việt Nam theo yêu cầu phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế đến 2010“ đã được thực hiện năm 2006 Nội dung của đề tài đã đề cập đến phương pháp luận về đánh giá năng lực và hiệu quả hoạt động của các phòng đo lường và thử nghiệm; phương pháp luận về xây dựng quy hoạch phát triển các phòng đo lường, thử nghiệm Đề tài cũng đã đề xuất Đề cương xây dựng quy hoạch phát triển hệ thống đo lường, thử nghiệm theo 7 vùng kinh tế và Kiến nghị cơ chế về tổ chức và cơ chế thực hiện quy hoạch

Trang 29

9 Đề tài “Nghiên cứu xây dựng hệ thống công nhận phòng thử nghiệm trong lĩnh vực y tế” đã được thực hiện năm 2007 Nội dung của đề tài tập trung xây dựng Hệ thống chất lượng để thực hiện đánh giá chất lượng phòng xét nghiệm theo tiêu chuẩn ISO 15189 và tạo tiền đề để tổ chức công nhận của Việt Nam mà đại diện là Văn phòng Công nhận Chất lượng tham gia vào các thỏa ước thừa nhận khu vực và quốc tế như APLAC và ILAC trong lĩnh vực công nhận phòng xét nghiệm theo tiêu chuẩn ISO 15189

Có thể nói, các nghiên cứu nêu trên đã đề cập đến nhiều nội dung phong phú có liên quan đến các hoạt động tiêu chuẩn hoá, đo lường, thử nghiệm và quản lý chất lượng cũng như hệ thống các phòng đo lường và thử nghiệm Tuy nhiên, việc đánh giá và công nhận chất lượng phòng thí nghiệm theo chuẩn mực quốc tế trong các nghiên cứu vẫn chưa được đề cập một cách chi tiết, toàn diện

và có hệ thống Trong một số bài viết đã có đề cập đến mối quan hệ giữa tổ chức công nhận với các tổ chức đã được công nhận như phòng thử nghiệm, phòng xét nghiệm và phòng hiệu chuẩn nhưng chưa được phân tích chi tiết cụ thể

1.5.2 Tổ chức Giám định

Vào đầu những năm 1990, khi nền kinh tế Việt Nam dần dần chuyển sang kinh tế thị trường, hoạt động giám định đã có môi trường thuận lợi để phát triển mạnh mẽ Dịch vụ giám định không những phục vụ tốt cho hoạt động thương mại mà còn phục vụ đắc lực cho công tác quản lí và những hoạt động liên quan khác, cụ thể:

• Đối với hoạt động thương mại

Trong hoạt động thương mại, hàng hóa từ khi sản xuất ra đến khi được chuyển tới tay người mua/người tiêu dùng, đều phải trải qua nhiều khâu (thu mua, vận chuyển, giao nhận, bảo quản…), không thể tránh khỏi rủi ro, sai sót, tổn thất…dẫn đến tranh chấp giữa các bên liên quan tham gia hợp đồng mua/bán Những tranh chấp thường gặp là: sai sót về số/khối lượng, phẩm chất, bao bì, nguồn gốc, chủng loại hàng hóa; về phân chia trách nhiệm, mức đền bù của các bên liên quan khi hàng hóa bị tổn thất; tranh chấp về thời gian, địa điểm giao hàng, chuyển quyền sở hữu, rủi ro đối với hàng hóa… Đối với từng giao dịch cụ thể, để trực tiếp phòng ngừa và có cơ sở pháp lí giải quyết các tranh chấp xảy ra một cách nhanh chóng khi hàng hóa bị sai hỏng, thiếu, mất, tổn

Trang 30

thất…, các bên kí kết thường đưa vào hợp đồng thương mại điều khoản chỉ định một tổ chức giám định độc lập, trung lập, có đủ năng lực/uy tín để tiến hành kiểm tra và cấp kết quả về thực trạng hàng hóa

Việc đưa điều khoản giám định vào hợp đồng không những làm tăng trách nhiệm của các bên tham gia kí kết mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho các bên liên quan trong quá trình thực hiện hợp đồng đó

• Đối với công tác quản lý

Song song với vai trò to lớn của dịch vụ giám định trong hoạt động thương mại, kể từ khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường, dịch vụ giám định còn góp phần phục vụ đắc lực cho công tác quản lí của nhà nước, cụ thể là: + Cơ quan hải quan có một tổ chức chuyên nghiệp giúp xác định chính xác số/khối lượng, chủng loại, chất lượng, giá cả… hàng hóa để làm thủ tục thông quan cho hàng hóa xuất nhập khẩu, để xác định đúng, đủ thuế, chống thất thu thuế, chống gian lận thương mại

+ Hỗ trợ các cơ quan quản lý nhà nước quản lí chất lượng hàng hóa nhằm tránh nhập về hàng hoá kém phẩm chất, phế thải cấm… ngăn ngừa thiệt hại cho doanh nghiệp, cho nguời tiêu dùng trong nước, hạn chế ảnh hưởng xấu đến môi trường; tránh xuất đi hàng kém chất lượng làm mất uy tín quốc gia hoặc xuất đi hàng tốt hơn yêu cầu của hợp đồng làm thiệt hại cho doanh nghiệp Đặc biệt, hoạt động giám định giúp kiểm soát hàng hóa lưu thông trên thị trường nội địa, đảm bảo về chất lượng, đúng giá trị, an toàn trong sử dụng, chống nạn hàng giả,

từ đó bảo vệ được quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng, bảo vệ sức khỏe của cộng đồng, ngăn chặn việc gây rối loạn thị trường nội địa

+ Giúp các cơ quan quản lí, các xí nghiệp sản xuất… làm tốt công tác môi trường: hoạt động giám định giúp các doanh nghiệp, các cơ quan đánh giá, xác định những tác động đến môi trường trong quá trình xây dựng các công trình cũng như trong quá trình sản xuất thông qua việc giám định mức độ ô nhiễm không khí, nước, đất… Đặc biệt trong quá trình công nghiệp hóa, chúng ta phải nhập khá nhiều máy móc thiết bị từ nước ngoài, giám định giúp nhà nước, giúp các doanh nghiệp nhập về những máy móc thiết bị đúng theo yêu cầu, không nhập về những máy móc thiết bị lạc hậu, tránh cho đất nước trở thành “bãi rác công nghệ” của thế giới

Trang 31

+ Liên quan đến công tác giám định còn có hoạt động thẩm định giá Đặc biệt, trong điều kiện đất nước đẩy mạnh đầu tư các công trình công nghiệp và quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước, hoạt động này có ý nghĩa rất lớn trong việc định giá tài sản, máy móc thiết bị, giá trị doanh nghiệp… Thẩm định giúp cho việc mua bán tài sản, máy móc thiết bị, định giá doanh nghiệp sát với giá trị thị trường, giảm thiểu các thiệt hại có thể xẩy ra

+ Trong nền kinh tế phát triển, một hoạt động có liên quan đến giám định là

tư vấn Tổ chức giám định có đầy đủ điều kiện để tư vấn cho khách hàng về pháp lí thương mại, về chất lượng hàng hóa, về những vấn đề liên quan đến xuất nhập khẩu, tư vấn xây dựng và áp dụng hệ thống quản lí chất lượng quốc tế nhằm vận hành công việc tốt nhất, hiệu quả nhất

+ Một chức năng quan trọng của giám định là phục vụ các cơ quan điều tra, tòa án, trọng tài kinh tế Với chuyên môn của mình, tổ chức giám định giúp xác định số/khối lượng, chất lượng, chủng loại, giá cả… hàng hóa/tài sản phục vụ cho công tác điều tra, xử án liên quan đến những vi phạm pháp luật như tham ô, buôn lậu, gian lận, trộm cắp và kể cả khi có tranh chấp giữa các bên tham gia thực hiện hợp đồng thương mại

• Đối với công tác giám định của ngành Công thương

Hoạt động giám định trong ngành Công thương hiện nay chủ yếu do các đơn vị thuộc ngành thực hiện, đó là:

- Công ty cổ phần giám định Vinacontrol (gồm 5 đơn vị: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng và Tp.HCM) Công ty hoạt động giám định trong rất nhiều lĩnh vực như: Định lượng hàng hóa; Khí, Dầu mỏ và Sản phẩm dầu mỏ; Phân bón; Hóa chất; Than; Quặng và Khoáng sản; Nông sản; Thực phẩm; Thức ăn chăn nuôi; Hàng dệt may, nguyên phụ liệu; Vật liệu xây dựng; Vật liệu kim loại; Hàng điện – điện tử gia dụng; Phương tiện vận tải đường bộ; Máy móc

Trang 32

1.5.3 Tổ chức Thí nghiệm

Hệ thống phòng thí nghiệm ở nước ta hiện nay vừa đa dạng về quy mô, trình độ kỹ thuật, lĩnh vực thí nghiệm và chủ sở hữu, vừa phân bố ở các vùng miền khác nhau trong cả nước Có thể phân loại phòng thí nghiệm theo các tiêu chí như sau:

• Phân loại phòng thí nghiệm theo trọng tâm hoạt động chính:

Ở Việt Nam hệ thống phòng thí nghiệm có thể được phân loại một cách tương đối phù hợp với thực tế và hiện trạng phát triển thành 3 loại hình là phòng thí nghiệm chuyên ngành, phòng thí nghiệm trọng điểm và phòng thí nghiệm quốc gia

Đối với các phòng thí nghiệm chuyên ngành, Nhà nước chỉ hỗ trợ đầu tư một phần, chủ yếu để tạo điều kiện và phục vụ công tác nghiên cứu KH&CN chuyên sâu cho một số nhà khoa học đầu ngành Nhà nước cũng hỗ trợ các tổ chức nghiên cứu triển khai thuộc các địa phương và bộ, ngành để hình thành hệ thống các phòng thí nghiệm chuyên ngành, ví dụ phòng thí nghiệm vật liệu tính năng kỹ thuật cao của Viện Cơ khí năng lượng và mỏ trực thuộc Bộ Công Thương là một trong những phòng thí nghiệm như vậy

Đối với các phòng thí nghiệm trọng điểm, Nhà nước đầu tư trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại như một tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ để đi đầu trong triển khai các nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu định hướng ứng dụng và phát triển công nghệ, quy tụ và bồi dưỡng cán bộ khoa học

và công nghệ trình độ cao trong môi trường trao đổi học thuật, hợp tác nghiên cứu thuận lợi như Quyết định số 08/2008/QĐ-BKHCN ngày 8/7/2008 của Bộ Khoa học và Công nghệ đã quy định Phòng thí nghiệm trọng điểm là loại hình phòng thí nghiệm mở, dùng chung cho nhiều đối tượng khác nhau và do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức tuyển chọn và công nhận Cơ cấu của phòng thí nghiệm trọng điểm phụ thuộc vào nhu cầu phát triển của kinh tế - xã hội ở Việt Nam

Hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm có thể bao gồm cả các phòng thí nghiệm được Thủ tướng chính phủ quyết định và giao cho một số bộ, ngành thực hiện, ví dụ một số phòng hiệu chuẩn của Viện Đo lường Việt Nam trực thuộc Tổng cục TCĐLCL như: phòng đo lường điện, phòng đo lường nhiệt, phòng đo lường khối lượng…

Trang 33

Đối với các phòng thí nghiệm quốc gia, chủ yếu được xây dựng nhằm phục

vụ cho những nhiệm vụ đặc biệt chuyên sâu mang tính quốc gia, ví dụ như phòng thí nghiệm của Viện Pasteur, một trong những phòng thí nghiệm quốc gia

đã thực hiện thử nghiệm nhanh, thành công các nhiệm vụ thử nghiệm đột xuất khi có nhu cầu như triệu chứng suy hô hấp cấp tính, giải mã virus cúm H5N1

• Phân loại phòng thí nghiệm theo sở hữu:

Ở Việt Nam hệ thống phòng thí nghiệm cũng có thể được phân loại theo hình thức sở hữu thành Phòng thí nghiệm của Nhà nước và Phòng thí nghiệm của tư nhân

• Phân loại phòng thí nghiệm theo mục đích hoạt động, bao gồm:

- Các phòng thí nghiệm của các viện nghiên cứu phục vụ cho mục đích nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ chuyên ngành như các phòng thí nghiệm của Viện Nghiên cứu hạt nhân, Viện Khoa học nông nghiệp, Viện Chăn nuôi, Viện Pasteur Tp Hồ Chí Minh, Viện Pasteur Tp Nha Trang…

- Các phòng thí nghiệm của các trường đại học phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học và giảng dạy như các phòng thí nghiệm của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học Bách khoa Tp Hồ Chí Minh, Trường Đại học Giao thông Vận tải…

- Các phòng thí nghiệm của các cơ quan quản lý nhà nước phục vụ cho các ngành quản lý, chất lượng, vệ sinh an toàn như các phòng thí nghiệm của Tổng cục TCĐLCL và các Chi cục TCĐLCL ở các địa phương, viện nghiên cứu…

- Các phòng thí nghiệm của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phục vụ yêu cầu quản lý chất lượng nguyên liệu nhập vào, thành phẩm xuất xưởng và công nghệ sản xuất

- Các phòng thí nghiệm độc lập phục vụ nhu cầu thử nghiệm, kiểm tra, giám định chất lượng sản phẩm hàng hóa như phòng thí nghiệm của Trung tâm phân tích thí nghiệm Tp Hồ Chí Minh

• Phân loại phòng thí nghiệm theo lĩnh vực thử nghiệm và hiệu chuẩn bao

gồm:

- Phòng thử nghiệm cơ học;

- Phòng thử nghiệm điện-điện tử;

- Phòng thử nghiệm hóa học;

Trang 34

- Phòng thử nghiệm sinh học;

- Phòng thử nghiệm vật liệu xây dựng;

- Phòng thử nghiệm không phá hủy;

- Phòng hiệu chuẩn; v.v

Sự đa dạng của hệ thống các phòng thử nghiệm với nhiều lĩnh vực khác nhau phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau, cũng như sự đa dạng về quản lý và chủ sở hữu dẫn đến sự phức tạp trong việc đánh giá tình hình hoạt động của hệ thống các phòng thử nghiệm ở nước ta hiện nay Các phòng thử nghiệm thuộc các lĩnh vực khác nhau đều có chung một mục đích là phải cung cấp các kết quả thử nghiệm đảm bảo tính chính xác, đúng đắn, khách quan nhằm phục vụ cho yêu cầu của quản lý nhà nước và phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh Để thực hiện được mục đích này đòi hỏi các phòng thử nghiệm phải có đủ năng lực

kỹ thuật, đội ngũ nhân sự có trình độ chuyên môn cao, am hiểu sâu sắc về từng chuyên ngành cụ thể và phải được đào tạo, đồng thời các phòng thử nghiệm cần

có phương pháp quản lý tiên tiến với hệ thống các quy trình khoa học, chặt chẽ

và hệ thống các tiêu chí cụ thể, chi tiết cho từng lĩnh vực thử nghiệm

Có thể nhận thấy hệ thống phòng thử nghiệm ở Việt Nam trong những năm qua đã tăng lên rất nhanh cả về số lượng và chất lượng Đây là cơ sở quan trọng đảm bảo chất lượng kết quả hoạt động của các phòng thử nghiệm Có thể nêu khái quát tình hình hoạt động của một số phòng thử nghiệm ở nước ta theo các lĩnh vực thử nghiệm như sau:

- Phòng thử nghiệm cơ học

Lĩnh vực thử nghiệm cơ học là lĩnh vực thử nghiệm truyền thống, cơ bản

mà ngành sản xuất công nghiệp nào cũng cần được trang bị Hiện tại, trong lĩnh vực cơ học có nhiều phòng thử nghiệm ở các doanh nghiệp được trang bị một số thiết bị tối thiểu phục vụ sản xuất, tuy nhiên phương tiện kỹ thuật của các phòng thử nghiệm này chưa đáp ứng được các yêu cầu của tiêu chuẩn đề ra đối với quy trình công nghệ sản xuất và kiểm tra chất lượng sản phẩm Có một số cơ sở sản xuất lớn như ngành đóng và sửa chữa tàu thuỷ, sản xuất xe máy và phụ kiện, một số nhà máy cơ khí, luyện kim, nhà máy xi măng, nhà máy dệt, giấy, công nghiệp cao su, nhựa, do các bộ, ngành hoặc Trung ương quản lý đã được trang

bị đồng bộ các thiết bị thử nghiệm tiên tiến có khả năng thử được hầu hết các chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm

Trang 35

Nhân sự trong phòng thí nghiệm cơ học thông thường là trẻ, được đào tạo

từ các trường đại học bách khoa và các trường kỹ thuật dạy nghề Điều kiện môi trường của các phòng thử nghiệm cơ học không đòi hỏi khắt khe về nhiệt độ và

độ Nm đối với chỉ tiêu thử nghiệm, do vậy chỉ cần lưu ý điều kiện môi trường trong một số trường hợp cần phải bảo quản thiết bị Hầu hết các phòng thử nghiệm cơ học đều đáp ứng được điều kiện môi trường

- Phòng thử nghiệm điện - điện tử

Trong lĩnh vực điện, các phòng thử nghiệm tập trung đầu tư các thiết bị: thử an toàn điện (cách điện, cao thế) và một số chỉ tiêu đặc trưng như tuổi thọ,

độ tin cậy, thử công suất, điện trở và một số chỉ tiêu cơ lý (dây và cáp điện) Năng lực thử nghiệm trong lĩnh vực điện đã đáp ứng được yêu cầu sản xuất và quản lý chất lượng

Riêng chỉ tiêu an toàn về môi trường (tương thích từ trường, EMC) hiện nay đã có phòng thử nghiệm của Tổng cục TCĐLCL (QUATEST 3) và Cục Tần

số vô tuyến điện được đầu tư một số thiết bị đủ khả năng xác định các chỉ tiêu EMC cơ bản của các thiết bị và dụng cụ

Đối với lĩnh vực điện tử, phần lớn các phòng thử nghiệm thuộc các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp sản phẩm điện tử dân dụng, phục vụ chủ yếu cho yêu cầu của doanh nghiệp Trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình đã có phòng thử nghiệm chuyên ngành của Đài tiếng nói Việt Nam và Đài truyền hình Việt Nam Đối với các thiết bị tin học (máy tính, phụ kiện) hiện có rất ít phòng thử nghiệm trong lĩnh vực này Trong lĩnh vực Bưu chính Viễn thông chỉ có một số phòng thử nghiệm trong các doanh nghiệp Nhân sự phòng thử nghiệm trong lĩnh vực điện-điện tử đều được đào tạo cơ bản và đào tạo nâng cao để đáp ứng được với yêu cầu công việc thử nghiệm Phòng thử nghiệm điện-điện tử đều áp dụng theo phương pháp tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) và tiêu chuẩn quốc tế IEC Một số phòng thử nghiệm chưa được thiết kế phù hợp với mô hình của một phòng thử nghiệm trong lĩnh vực điện-điện tử, chưa đầy đủ hệ thống tiếp đất phù hợp với yêu cầu kỹ thuật đã quy định

- Phòng thử nghiệm hoá học

Các phòng thử nghiệm hoá học trên địa bàn cả nước được đầu tư rất cơ bản, đồng bộ về thiết bị và cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh đã xây dựng phòng thử nghiệm của Trung tâm Dịch vụ Phân tích và Thí nghiệm (Sở KHCN) trở

Trang 36

thành phòng thử nghiệm trọng điểm của thành phố Công ty cổ phần kỹ thuật Hải Đăng cũng là địa chỉ mới, đang được đầu tư từ nguồn đóng góp của các nhà khoa học của thành phố Hồ Chí Minh Phòng thử nghiệm hóa học đầu tư đầy đủ các thuốc thử, hóa chất theo yêu cầu của phương pháp thử và yêu cầu khi chạy thiết bị thử nghiệm Nhân viên phòng thử nghiệm hóa học có tỷ lệ nữ nhiều hơn nam và nhân viên nữ trong một số phòng thí nghiệm hóa học chiếm hơn ¾ tổng

số nhân viên Phòng thử nghiệm hóa học tham gia rất nhiều chương trình thử nghiệm thành thạo trong và ngoài nước và thể hiện đầy đủ năng lực kỹ thuật của mình

- Phòng thử nghiệm sinh học

Sinh học là một trong bốn lĩnh vực nghiên cứu trọng điểm của Nhà nước (công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ tự động hoá, công nghệ vật liệu mới)

Nhiều tổ chức đã và đang có kế hoạch đầu tư vào công nghệ sinh học như: Viện Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Trường đại học Khoa học Tự nhiên, Trường đại học Bách khoa, Trường đại học Nông - Lâm… Các cơ sở này đã và đang được đầu tư xây dựng cơ bản và có điều kiện môi trường phù hợp đảm bảo

độ vô trùng và được kiểm soát thường xuyên, thiết bị được đầu tư hiện đại Một

số phòng thử nghiệm sinh học nằm trong chương trình phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia Phương pháp thử thường được phòng thử nghiệm sinh học sử dụng là tiêu chuẩn Việt Nam hoặc tiêu chuẩn nội bộ do phòng thử nghiệm xây dựng Nhân viên phòng thử nghiệm sinh học rất ít người được đào tạo đúng chuyên ngành sinh học mà thường được đào tạo về hóa học sau đó khi về phòng thử nghiệm được đào tạo nội bộ thử nghiệm về sinh học

- Phòng thử nghiệm vật liệu xây dựng

Phòng thử nghiệm vật liệu xây dựng thường thực hiện kiểm tra, đánh giá các đặc trưng kỹ thuật của đất xây dựng, vật liệu, kết cấu, cấu kiện… sử dụng trong các công trình xây dựng

Phòng thử nghiệm vật liệu xây dựng hầu hết thuộc các viện nghiên cứu khoa học, các trường đại học, tổng công ty, công ty xây dựng và một số đơn vị trực thuộc Liên hiệp hội khoa học, Tổng hội xây dựng, phần lớn các phòng thử nghiệm này tập trung các chuyên gia đầu ngành có kiến thức và kinh nghiệm thực tế nên chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên ở các phòng thử nghiệm trên là

Trang 37

ổn định và có uy tín Ở một số ít doanh nghiệp lớn, chuyên ngành sâu, có khả

năng tài chính và ở các viện nghiên cứu khoa học được ngân sách Nhà nước đầu

tư, được trang bị các thiết bị thử nghiệm lĩnh vực chuyên sâu tiên tiến, hiện đại

của Châu Âu, Nhật, Mỹ Hơn 46% số cán bộ nhân viên có trình độ đại học và

trên đại học, đã qua thực tế xây dựng, có nhiều kinh nghiệm thực tiễn thường

xuyên được cập nhật các thông tin khoa học công nghệ mới Đội ngũ cán bộ

nhân viên của một số phòng thử nghiệm vật liệu xây dựng đã thể hiện năng lực

phục vụ và xử lý tốt các tình huống kỹ thuật trong đảm bảo đo lường chuyên

nghiệp ngành xây dựng

- Phòng thử nghiệm không phá hủy

Các phòng thử nghiệm không phá hủy được trang bị tương đối đồng bộ các

thiết bị như: phòng thử nghiệm của Tổng cục TCĐLCL, Trung tâm Kỹ thuật An

toàn và Môi trường công nghiệp, Viện Kỹ thuật Hạt nhân, các công ty thuộc

ngành đóng tàu và hàng không Việt Nam

Hạn chế chính trong lĩnh vực không phá hủy là các thiết bị cũ, lạc hậu,

chưa phổ biến trong ngành xây dựng mà lẽ ra ngành này phải đi đầu trong việc

ứng dụng các kỹ thuật không phá hủy Phần lớn nhân viên kỹ thuật không phá

hủy chưa được huấn luyện và sát hạch theo chuẩn mực quốc tế do Cơ quan Năng

lượng nguyên tử quốc tế, ban hành và quản lý Phương pháp thử mà các phòng

thử nghiệm không phá hủy sử dụng chủ yếu theo tiêu chuẩn ISO

- Phòng hiệu chuẩn

Viện Đo lường Việt Nam và các Trung tâm Kỹ thuật thuộc Tổng cục

TCĐLCL là đơn vị được trang bị các chuẩn đo lường quốc gia, dụng cụ và trang

thiết bị đo lường hoàn chỉnh, đồng bộ Các phòng chuẩn của Viện Đo lường Việt Nam tiến hành hiệu chuẩn các chuẩn của các Trung tâm kỹ thuật, chuẩn

của các phòng hiệu chuẩn được công nhận của các doanh nghiệp, nơi thực hiện

hiệu chuẩn nội bộ một số phương tiện đo trong công nghiệp Ngoài ra, ở một số

phòng hiệu chuẩn khác cũng có những thiết bị chuyên dùng như Trung tâm đo

lường quân đội, Bộ Quốc phòng, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam thuộc

Bộ Khoa học và Công nghệ

Trang 38

1.5.4 Hoạt động công nhận đối với phòng thí nghiệm

Tổ chức công nhận thực hiện đánh giá và công nhận chất lượng của các phòng thử nghiệm, phòng xét nghiệm và phòng hiệu chuẩn, đồng thời tham gia vào hoạt động thúc đẩy thương mại thông qua việc xúc tiến chấp nhận toàn cầu kết quả thử nghiệm, xét nghiệm và hiệu chuẩn do các phòng thử nghiệm, phòng xét nghiệm và phòng hiệu chuẩn cấp ra khi các tổ chức công nhận được đánh giá đồng đẳng và là bên tham gia của thỏa ước thừa nhận lẫn nhau

Tiêu chí để đánh giá năng lực của tổ chức công nhận đã được quy định thống nhất trong tiêu chuẩn ISO/IEC 17011:2004 ở phạm vi toàn cầu như sau:

- Pháp nhân của tổ chức công nhận: đề cập đến yêu cầu về trách nhiệm pháp lý, cơ cấu tổ chức, tính khách quan, tính bảo mật, nghĩa vụ pháp lý và tài chính của hoạt động công nhận

- Quản lý: đề cập đến quy định chung về HTQLCL, kiểm soát tài liệu, hồ

sơ, sự phù hợp và hành động khắc phục, hành động phòng ngừa, đánh giá nội

- Trách nhiệm của tổ chức công nhận và phòng thí nghiệm: đề cập đến nghĩa vụ của phòng thí nghiệm, nghĩa vụ của tổ chức công nhận, viện dẫn việc công nhận và sử dụng các logo công nhận

Ở Việt Nam, Tổ chức công nhận là Văn phòng công nhận chất lượng (VPCNCL) (tên tiếng Anh là Bureau of Accreditation - BoA) Đây là đơn vị sự nghiệp của Tổng cục TCĐLCL do Bộ trưởng Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) thành lập theo quyết định số 1926/QĐ-TCCBKH ngày 10 tháng 11 năm 1995 để thực hiện hoạt động công

Trang 39

nhận cho phòng thử nghiệm và phòng hiệu chuẩn, tổ chức giám định, tổ chức chứng nhận

Hiện nay, hoạt động VPCNCL là tiến hành đánh giá và công nhận phòng thử nghiệm và phòng hiệu chuẩn trong hệ thống công nhận chất lượng phòng thí nghiệm (VILAS) Tiêu chí công nhận là tiêu chuẩn ISO/IEC 17025:1999 và sau này là phiên bản năm 2005 Hệ thống VILAS tiến hành cho 8 lĩnh vực công nhận: Cơ học, hóa học, sinh học, điện và điện tử, vật liệu xây dựng, thử nghiệm không phá hủy, dược phẩm, đo lường - hiệu chuẩn

1.5.5 Hoạt động thỏa ước thừa nhận lẫn nhau

Trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới, hoạt động công nhận phòng thí nghiệm để thử nghiệm chất lượng hàng hoá, chứng nhận an toàn đối với sức khoẻ và môi trường là không thể thiếu và thực sự là một công cụ cho hội nhập kinh tế và phát triển sản xuất

Các Tổ chức công nhận phải điều hành hoạt động công nhận dựa trên thủ tục quốc tế và có trình độ chuyên nghiệp có thể so sánh được ILAC kết hợp với ISO/IEC và CEN/CENELEC đã ban hành nhiều loại tài liệu khác nhau nhằm hướng dẫn thực hiện thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau, kết quả đánh giá sự phù hợp của các tổ chức công nhận quốc gia Tài liệu quan trọng nhất là ISO/IEC 17011

“Đánh giá sự phù hợp - Yêu cầu chung đối với cơ quan công nhận các tổ chức đánh giá sự phù hợp”

Thỏa ước thừa nhận lẫn nhau chính thức tạo điều kiện chấp nhận kết quả thử nghiệm và hiệu chuẩn từ các phòng thử nghiệm và phòng hiệu chuẩn do các bên tham gia thoả ước công nhận Các yêu cầu kỹ thuật ngày càng chặt chẽ hơn đòi hỏi sản phẩm được chấp nhận quốc tế, nhà công nghiệp và người sản xuất phải có khả năng chứng minh là sản phẩm và dịch vụ của họ đáp ứng được các yêu cầu đó Họ cũng phải đưa ra được các biên bản thử nghiệm và hiệu chuẩn, chứng thư giám định, chứng chỉ chất lượng hoặc chứng chỉ hệ thống phù hợp với các chuẩn mực quốc tế

Hiện nay, Văn phòng công nhận chất lượng (VPCNCL) là đại diện của Việt Nam trong các tổ chức quốc tế và khu vực sau:

- Thành viên đầy đủ của APLAC, tham gia ký Biên bản ghi nhớ (MoU) của APLAC từ năm 1995;

Trang 40

- Thành viên đầy đủ của ILAC từ năm 1997;

- Tham gia thành viên PAC từ năm 2007;

- Thành viên đầy đủ của IAF từ năm 2008

Ngoài ra, VPCNCL còn là thành viên đầy đủ của Thỏa ước thừa nhận lẫn nhau (MRA) của tổ chức APLAC và ILAC đối với 2 lĩnh vực thử nghiệm, hiệu chuẩn và mở rộng thêm lĩnh vực giám định

Việc ký kết thoả ước thừa nhận ILAC MRA và APLAC MRA xác nhận những thành quả đã thu được cũng như sự phù hợp của hệ thống công nhận Việt Nam với chuẩn mực quốc tế (ISO/IEC 17011), đánh dấu sự trưởng thành của tổ chức công nhận và năng lực của các phòng thí nghiệm, các TCĐG được công nhận, nâng cao uy tín của Việt Nam trong phạm vi khu vực và quốc tế, song cũng đòi hỏi các thành viên của cả hệ thống cần phấn đấu tích cực để duy trì sự phù hợp đã được thừa nhận

Các nước và thể chế kinh tế đã ký APLAC - MRA gồm: Úc, Canada, Trung Quốc, Hồng Kông, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Newzealand, Singapore, Đài Loan, Thái Lan, Indonesia, Philippine, Malaysia, Mỹ và Việt Nam Việt Nam

là một trong năm nước thuộc khu vực Asean được thừa nhận và là nước được thừa nhận sớm thứ 2 trong khối ASEAN sau Singapore

1.5.6 Thực trạng của các phòng thí nghiệm thuộc ngành công thương

Ngày 09 tháng 4 năm 2012, Bộ Công Thương đã ký ban hành Thông tư số 08/2012/TT-BCT về việc Ban hành Danh mục sản phẩm, hàng hóa có khả năng gây mất an toàn và quy định nguyên tắc quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa

có khả năng gây mất an toàn thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Công Thương Danh mục các hàng hóa nêu trên được trình bày trong Bảng 1.1

Bảng 1.1 Danh mục các hàng hóa có khả năng gây mất an toàn

I Hóa chất, vật liệu nổ công nghiệp

1 Nguyên liệu Amoni Nitrat (NH4NO3);

2 Thuốc nổ các loại;

3 Phụ kiện nổ các loại

II Máy, thiết bị đặc thù công nghiệp có khả năng gây mất an toàn

1 Nồi hơi nhà máy điện;

Ngày đăng: 05/02/2015, 20:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Danh mục các hàng hóa có khả năng gây mất an toàn - nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu các tiêu chuẩn, quy chuẩn, hệ thống tổ chức đánh giá phục vụ công tác quản lý chất lượng của ngành công thương
Bảng 1.1. Danh mục các hàng hóa có khả năng gây mất an toàn (Trang 40)
Bảng 2.1. Kế hoạch xây dựng các TCVN giai đoạn đến năm 2020 - nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu các tiêu chuẩn, quy chuẩn, hệ thống tổ chức đánh giá phục vụ công tác quản lý chất lượng của ngành công thương
Bảng 2.1. Kế hoạch xây dựng các TCVN giai đoạn đến năm 2020 (Trang 57)
Bảng 2.2. Kế hoạch kiện toàn, xây dựng các Tổ chức đánh giá sản phẩm - nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu các tiêu chuẩn, quy chuẩn, hệ thống tổ chức đánh giá phục vụ công tác quản lý chất lượng của ngành công thương
Bảng 2.2. Kế hoạch kiện toàn, xây dựng các Tổ chức đánh giá sản phẩm (Trang 70)
Bảng 2.3. Kế hoạch xây dựng nguồn nhân lực cho các Tổ chức đánh giá sản  phẩm - nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu các tiêu chuẩn, quy chuẩn, hệ thống tổ chức đánh giá phục vụ công tác quản lý chất lượng của ngành công thương
Bảng 2.3. Kế hoạch xây dựng nguồn nhân lực cho các Tổ chức đánh giá sản phẩm (Trang 73)
Hình 3.1. Mô hình cấu trúc hệ thống triển khai qua mạng cục bộ LAN - nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu các tiêu chuẩn, quy chuẩn, hệ thống tổ chức đánh giá phục vụ công tác quản lý chất lượng của ngành công thương
Hình 3.1. Mô hình cấu trúc hệ thống triển khai qua mạng cục bộ LAN (Trang 75)
Hình 3.3. CSDL - Sơ đồ quan hệ thực thể - nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu các tiêu chuẩn, quy chuẩn, hệ thống tổ chức đánh giá phục vụ công tác quản lý chất lượng của ngành công thương
Hình 3.3. CSDL - Sơ đồ quan hệ thực thể (Trang 77)
Hình 3.4. Sơ đồ phân rã chức năng - nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu các tiêu chuẩn, quy chuẩn, hệ thống tổ chức đánh giá phục vụ công tác quản lý chất lượng của ngành công thương
Hình 3.4. Sơ đồ phân rã chức năng (Trang 79)
Hình 3.5. Các chức năng quản lý của phần mềm quản lý văn bản chạy trên máy  server - nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu các tiêu chuẩn, quy chuẩn, hệ thống tổ chức đánh giá phục vụ công tác quản lý chất lượng của ngành công thương
Hình 3.5. Các chức năng quản lý của phần mềm quản lý văn bản chạy trên máy server (Trang 80)
Hình 3.6. Mô tả quá trình đăng nhập. - nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu các tiêu chuẩn, quy chuẩn, hệ thống tổ chức đánh giá phục vụ công tác quản lý chất lượng của ngành công thương
Hình 3.6. Mô tả quá trình đăng nhập (Trang 81)
Hình 3.9. Giao diện thêm mới dữ liệu - nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu các tiêu chuẩn, quy chuẩn, hệ thống tổ chức đánh giá phục vụ công tác quản lý chất lượng của ngành công thương
Hình 3.9. Giao diện thêm mới dữ liệu (Trang 83)
Hình 3.8. Mô tả quá trình nhập thêm mới dữ liệu - nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu các tiêu chuẩn, quy chuẩn, hệ thống tổ chức đánh giá phục vụ công tác quản lý chất lượng của ngành công thương
Hình 3.8. Mô tả quá trình nhập thêm mới dữ liệu (Trang 83)
Hình 3.10. Mô tả quá trình cập nhật dữ liệu - nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu các tiêu chuẩn, quy chuẩn, hệ thống tổ chức đánh giá phục vụ công tác quản lý chất lượng của ngành công thương
Hình 3.10. Mô tả quá trình cập nhật dữ liệu (Trang 85)
Hình 3.11. Giao diện cập nhật  3.4.4.  Chức năng tìm kiếm - nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu các tiêu chuẩn, quy chuẩn, hệ thống tổ chức đánh giá phục vụ công tác quản lý chất lượng của ngành công thương
Hình 3.11. Giao diện cập nhật 3.4.4. Chức năng tìm kiếm (Trang 86)
Hình 3.13.Giao diện tìm kiếm dữ liệu theo trường mô tả. - nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu các tiêu chuẩn, quy chuẩn, hệ thống tổ chức đánh giá phục vụ công tác quản lý chất lượng của ngành công thương
Hình 3.13. Giao diện tìm kiếm dữ liệu theo trường mô tả (Trang 87)
Hình 3.12. Mô tả quá trình tìm kiếm dữ liệu - nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu các tiêu chuẩn, quy chuẩn, hệ thống tổ chức đánh giá phục vụ công tác quản lý chất lượng của ngành công thương
Hình 3.12. Mô tả quá trình tìm kiếm dữ liệu (Trang 87)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm