1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu thực trạng các yêu cầu kỹ thuật, chất lượng đối với sản phẩm nhập khẩu từ nguyên liệu giấy, bột giấy và từ cáctông phục vụ quản lý hàng nhập khẩu thay thế biện pháp sử dụng giấy phép nhập khẩu tự động

147 680 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, Việt Nam đã ban hành được 9 Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN về yêu cầu kỹ thuật cho các sản phẩm giấy chính của ngành: Giấy tissue giấy vệ sinh, khăn giấy; giấy bao gói, giấy viết, gi

Trang 1

BỘ CÔNG THƯƠNG TỔNG CÔNG TY GIẤY VIỆT NAM CÔNG TY TNHH VIỆN CÔNG NGHIỆP GIẤY VÀ XENLUYLÔ

VỤ QUẢN LÝ HÀNG NHẬP KHẨU THAY THẾ BIỆN PHÁP

SỬ DỤNG GIẤY PHÉP NHẬP KHẨU TỰ ĐỘNG

Cơ quan chủ quản: Bộ Công Thương

Cơ quan chủ trì: Công ty TNHH Viện Công nghiệp Giấy và Xenluylô Chủ nhiệm đề tài : KS Trần Hoài Nam

9591

HÀ NỘI, 01/2013

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN I TỔNG QUAN VỀ CÁC SẢN PHẨM BỘT GIẤY, GIẤY VÀ CÁC TÔNG 3

1.2 Các sản phẩm giấy tại mã hàng hóa HS 4818 6 1.3

Thực trạng về việc quản lý chất lượng và xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật của sản phẩm bột giấy, giấy, các tông và đặc biệt là các loại sản phẩm giấy vệ sinh, tã giấy và băng vệ sinh ở Việt Nam

11

2.2 Phương pháp kiểm tra chất lượng sản phẩm 15

3.1 Khảo sát tình nhu cầu sử dụng các sản phẩm bột giấy, giấy và các

3.2 Khảo sát nhu cầu sử dụng các sản phẩm giấy vệ sinh, khăn giấy,

tã giấy và băng vệ sinh phụ nữ (thước mã hàng hóa HS 4818) 21 3.3 Tình hình quản lý chất lượng của các sản phẩm bột giấy, giấy và

3.4 Xác định chất lượng của một số sản phẩm giấy vệ sinh và khăn

giấy đang lưu hành tại thị trường Việt Nam 26 3.5 Tiêu chuẩn chất lượng của các sản phẩm giấy vệ sinh tissue, tã

3.6 Hệ thống tiêu chuẩn hóa và đề xuất phương án quản lý mặt hàng

giấy tissue, tã giấy và băng vệ sinh phụ nữ 42

Trang 3

MỞ ĐẦU

Bột giấy, giấy và các tông là sản phẩm quan trọng không thể thiếu trong xã hội loài người, nên tất cả các nước trên thế giới rất quan tâm đến chất lượng sản phẩm Đặc biệt đối với các sản phẩm giấy vệ sinh dùng cho mục đích nội trợ, làm khăn lau tay, khăn mặt, khăn ăn, tã lót cho trẻ sơ sinh, băng vệ sinh, chất lượng sản phẩm được quan tâm hàng đầu vì nó ảnh hưởng trực tiếp tới người sử dụng Nhiều nước trên thế giới đã ban hành các tiêu chuẩn quy định về yêu cầu kỹ thuật, chất lượng đối với chủng loại sản phẩm này

Trong những năm gần đây, ngành công nghiệp sản xuất giấy Việt Nam đã có những bước phát triển lớn Ngoài việc cung cấp sản phẩm giấy phục vụ nhu cầu trong nước, sản phẩm giấy còn được xuất khẩu ra nước ngoài, trong đó có sản phẩm giấy tissue

Ngày nay, với xu hướng hội nhập, công tác tiêu chuẩn hoá càng cần được quan tâm bởi tiêu chuẩn là công cụ để quản lý chất lượng, đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm, là cơ sở phục vụ cho cơ chế quản lý và kiểm soát chất lượng Chính vì lý do

đó mà công tác tiêu chuẩn hoá được ngành giấy rất quan tâm Hiện nay, Việt Nam đã ban hành được 9 Tiêu chuẩn Quốc gia (TCVN) về yêu cầu kỹ thuật cho các sản phẩm giấy chính của ngành: Giấy tissue (giấy vệ sinh, khăn giấy); giấy bao gói, giấy viết, giấy in, giấy in báo và một Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia cho nguyên liệu dùng trong sản xuất: giấy loại Các phương pháp thử sản phẩm đã xây dựng được 59 tiêu chuẩn hoàn toàn tương thích với Tiêu chuẩn quốc tế, TAPPI,

Nhưng các tiêu chuẩn này chủ yếu áp dụng cho các sản phẩm sản xuất trong nước Hiện tại, ở Việt Nam chưa có các quy định về yêu cầu kỹ thuật, chất lượng đối với các sản phẩm từ bột giấy, giấy và cáctông nhập khẩu dùng cho mục đích nội trợ, vệ sinh, khăn giấy, băng vệ sinh, (thuộc mã HS 4818) Các nghiên cứu thực trạng các yêu cầu kỹ thuật, chất lượng đối với sản phẩm nhập khẩu từ nhóm hàng này là rất cần thiết Nghiên cứu sẽ tiến hành khảo sát đánh giá chất lượng, nhu cầu sử dụng cũng như

Trang 4

tình hình nhập khẩu của các loại sản phẩm này Từ đó sẽ đưa ra đề xuất về cơ chế quản lý đối với các mặt hàng thuộc chủng loại này Chính vì lý do đó, Công ty TNHH

Viện Công nghiệp Giấy và Xenluylo thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thực trạng các yêu

cầu kỹ thuật, chất lượng đối với sản phẩm nhập khẩu từ nguyên liệu giấy, bột giấy và

từ cáctông phục vụ quản lý hàng nhập khẩu thay thế biện pháp sử dụng giấy phép nhập khẩu tự động” Mục tiêu của đề tài là bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Nội

dung nghiên cứu chính:

- Khảo sát đánh giá nhu cầu sử dụng các sản phẩm từ giấy, từ bột giấy và từ cáctông đặc biệt sản phẩm được quy định tại chương 48 đặc biệt là mã số HS 4818 (trừ 4818500000) giấy vệ sinh và giấy tương tự, tấm lót xenluylô hoặc súc xơ sợi xenluylô dùng cho mục đích nội trợ hoặc vệ sinh, khăn lau giấy, giấy lụa lau tay, khăn mặt, khăn trải bàn, khăn ăn, tã lót cho trẻ sơ sinh, băng vệ sinh, khăn trải giường, các đồ dùng nội trợ, vệ sinh

- Hệ thống hoá hệ thống tiêu chuẩn sản phẩm, so sánh với tiêu chuẩn thế giới

Trang 5

PHẦN I TỔNG QUAN VỀ CÁC SẢN PHẨM BỘT GIẤY,

Năm 1912, nhà máy sản xuất giấy đầu tiên bằng phương pháp công nghiệp đi vào hoạt động với công suất 4.000 tấn giấy/năm tại Việt Trì Trong thập niên 60 của thế kỷ trước, nhiều nhà máy giấy được đầu tư xây dựng nhưng hầu hết đều có công suất nhỏ (dưới 20.000 tấn/năm) như nhà máy giấy Việt Trì, Nhà máy giấy Vạn Điểm, Nhà máy giấy Đồng Nai, Nhà máy giấy Tân Mai, Năm 1975 tổng công suất thiết kế của ngành giấy Việt Nam là 72.000 tấn/năm nhưng do ảnh hưởng của chiến tranh và mất cân đối giữa sản lượng bột giấy và giấy nên sản lượng thực tế chỉ đạt 28.000 tấn/năm

Năm 1982, Nhà máy giấy Bãi Bằng do Chính phủ Thụy Điển tài trợ đã đi vào sản xuất với công suất thiết kế 53.000 tấn bột giấy/năm và 55.000 tấn giấy/năm Nhà máy cũng xây dựng được vùng nguyên liệu, cơ sở hạ tầng, cơ sở phụ trợ như điện, hóa chất và trường đào tạo nghề phục vụ cho hoạt động sản xuất

Ngành giấy có những bước phát triển vược bậc, sản lượng giấy tăng trung bình 11%/năm trong giai đoạn 2000 – 2006; tuy nhiên, nguồn cung như vậy cũng vẫn chỉ đáp ứng được gần 64% nhu cầu tiêu dùng (2008) phần còn lại vẫn phải nhập khẩu

1.1.2 Nguyên liệu bột giấy

Nguyên liệu chính để sản xuất bột giấy là nguyên liệu gỗ và phi gỗ Bên cạnh đó giấy loại đang ngày càng trở thành nguồn nguyên liệu chủ yếu trong sản xuất giấy

Trang 6

Tại Việt Nam năng lực sản xuất bột giấy mới chỉ đáp ứng được ½ nhu cầu sản xuất giấy Do đó ngành công nghiệp giấy luôn phải phụ thuộc vào nguồn bột giấy nhập khẩu Trong năm 2012 nhà máy bột giấy An Hòa – Tuyên Quang đã đi vào sản xuất, đấy là nhà máy sản xuất bột giấy hóa học tẩy trắng lớn nhất tại Việt Nam với công suất thiết kế là 130.000 tấn/năm Trong các cơ sở sản xuất chỉ có Công ty giấy Bãi Bằng và Công ty cổ phần giấy Tân Mai chủ động đáp ứng được khoảng 80% tổng số bột giấy cho sản xuất giấy của mình

Giấy loại ngày càng được sử dụng nhiều làm nguyên liệu cho ngành giấy do ưu điểm tiết kiệm được chi phí sản xuất Giá thành bột giấy từ giấy loại luôn thấp hơn các loại bột giấy từ các loại nguyên liệu nguyên thủy vì chi phí vận chuyển, thu mua và xử lý thấp hơn Hơn nữa chi phí đầu tư dây chuyền xử lý giấy loại thấp hơn dây chuyền sản xuất bột giấy từ nguyên liệu thực vật Bên cạnh đó sản xuất giấy từ giấy loại có tác động bảo vệ môi trường Tính trung bình sản xuất giấy từ bột giấy tái chế giảm được 74% khí thải và 35% nước thải so với sản xuất giấy từ bột giấy nguyên thủy (tạp chí công nghiệp tháng 12/2008)

So với bột giấy nguyên thủy bột giấy tái chế có chất lượng thấp hơn do đó không thể dùng 100% loại bột này để sản xuất các loại giấy đòi hỏi chất lượng cao

Bột giấy sản xuất trong nước được chia thành 4 nhóm sản phẩm chính: Bột giấy cơ học, bột giấy hóa học chưa tẩy trắng, bột giấy hóa học tẩy trắng và bột giấy bán hóa (bột giấy kiềm lạnh) Sản lượng bột giấy bán hóa chiếm tỷ lệ lớn nhất (65, 45%), tổng công suất 142.000 tấn/năm

1.1.3 Các sản phẩm giấy và các tông

Tùy theo mục đích sử dụng khác nhau sản phẩm giấy được chia thành 4 nhóm :

- Nhóm 1: Giấy dùng cho in, viết (giấy in báo, giấy in , giấy viết, )

- Nhóm 2: Giấy dùng trong công nghiệp (giấy bao gói, giấy dùng cho sản xuất hòm hộp các tông, )

- Nhóm 3: Giấy dùng trong gia đình (giấy vệ sinh, khăn giấy, )

Trang 7

- Nhóm 4: Giấy dùng cho văn phòng và các loại giấy kỹ thuật chuyên dụng

Các sản phẩm chủ yếu của ngành giấy Việt nam vẫn chỉ là : giấy in, giấy viết, giấy

in báo, giấy tissue (giấy vệ sinh, khăn giấy), giấy bao bì công nghiệp thông thường, giấy vàng mã Các loại giấy và các tông kỹ thuật chuyển dụng thì hầu như vẫn phải nhập khẩu

1.1.4 Tiêu thụ giấy nội địa

Trong giai đoạn 2000 – 2008, nhu cầu tiêu dùng giấy của Việt Nam tăng trưởng 16,2% - tương đương với tốc độ tăng trưởng của sản xuất Tổng nhu cầu giấy năm 2008 đạt hơn 2 triệu tấn cao gấp khoảng 4 lần so với năm 2000

Về cơ cấu tiêu dùng, giấy bao bì chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng cầu về giấy của Việt Nam và có tốc độ tương đối cao Giấy bao bì chủ yếu phục vụ cho ngành công nghiệp đặc biệt là ngành sản xuất xi măng Nhu cầu về giấy tissue trong năm 2008 là trên 48 nghìn tấn, tăng 19,4% so với năm 2007 Về cơ cấu sản phẩm theo công suất của giấy tissue từ năm 2005 là 65 nghìn tấn đến năm 2010 là 148 nghìn tấn

1.1.5 Xuất nhập khẩu giấy

a) Xuất khẩu giấy

Các sản phẩm giấy xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là các sản phẩm có chất lượng trung bình Chiếm phần lớn thị phần trong các mặt hàng xuất khẩu là giấy vàng mã sang thị trường Đài Loan và Nhật Bản Ngoài ra Việt Nam cũng đã xuất được một phần giấy tissue và giấy in, giấy viết Giấy tissue xuất khẩu chủ yếu là sản phẩm của Công ty Pulpy Corelex và Công ty New Toyo Pulpy được xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản, Singapore

và Hồng Kông với sản lượng khoảng 24 đến 25 nghìn tấn/năm

Giấy in, giấy viết phần lớn được xuất khẩu dưới dạng văn phòng phẩm với sản lượng khoảng 25 – 30 nghìn tấn/năm, chủ yếu sang thị trường Mỹ Một phần rất nhỏ sản phẩm giấy testliner được xuất khẩu sang Philippine

Các số liệu tổng hợp về xuất khẩu các loại sản phẩm giấy cho thấy tỷ lệ giấy xuất khẩu là rất nhỏ và có nguy cơ giảm dần

Trang 8

là Thái Lan (chiếm 13% khối lượng 20% giá trị), Đài Loan (19% khối lượng, 20% giá trị)

và Indonesia (19% khối lượng và 29% giá trị); ngoài ra là nhập khẩu từ một số thị trường như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ,

Về cơ cấu nhập khẩu, giấy bao bì chiếm tỷ trọng cao nhất do nhu cầu của mảng sản phẩm này tăng cao trong các năm gần đây Đứng thứ hai là nhóm giấy in, giấy viết, chiếm 13% tổng sản lượng giấy nhập khẩu Hiện nay có 144 doanh nghiệp nhập khẩu giấy in, viết trong đó có khoảng 141 doanh nghiệp là công ty thương mại Các công ty sản xuất giấy in lớn không tham gia hoạt động nhập khẩu Giấy in báo chiếm khoảng 6% trong tổng sản lượng giấy nhập khẩu Các công ty tham gia nhập khẩu giấy in báo chủ yếu là các công ty thương mại

Giấy tissue có giá trị nhập khẩu thấp vì sản xuất trong nước đáp ứng được 99% nhu cầu Việt Nam còn là nước xuất khẩu giấy tissue

1.2 Các sản phẩm giấy tại mã hàng hóa HS 4818

Các sản phẩm hàng hóa thuộc mã hàng 4818 là: “Giấy vệ sinh và giấy tượng tự, tấm lót xelulo hoặc súc xơ sợi xenlulo dùng cho các mục đích nội trợ hoặc giấy vệ, dạng cuộn có chiều rộng không quá 16 cm hoặc cắt theo hình dạng, kích thước; khăn lau giấy, giấy lụa lau tay, khăn mặt, khăn trải bàn, khăn ăn, tã lót cho trẻ sơ sinh, băng vệ sinh, khăn trải gường, các đồ dùng nội trợ, vệ sinh hoặc các vật phẩm dùng cho bện viện tương tự, các vật phẩm trang trí, đồ phụ kiện may mặc bằng bột giấy, tấm lót xenlulo hoặc súc xơ sợi xenlulo”

Trong mã hàng hóa này các sản phẩm được chia thành các mã hàng như sau:

- 48181000 - Giấy vệ sinh

Trang 9

- 48182000 – Khăn tay, giấy lụa lau tay, lau mặt hoặc khăn mặt

- 48183000 – khăn trải bàn và khăn ăn

- 48184000 – Khăn vệ sinh và băng vệ sinh, khăn và tã lót cho trẻ sơ sinh và các vật phẩm vệ sinh tương tự

- 48185000 – Các vật phẩm dùng cho trang trí và phụ kiện may mặc

1.2.1 Sản phẩm giấy vệ sinh và khăn giấy

Trong hai năm gần dây, các sản phẩm khăn giấy và giấy vệ sinh sản xuất trong nước (giấy tissue) rất phát triển trong khi đa phần các sản phẩm giấy khác bị giảm thị phần Theo Tổng công ty Giấy Việt Nam, trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế hiện nay các nhà máy giấy thuộc tổng công ty đều giảm công suất, nhưng riêng đối với giấy tissue điều này không xảy ra Theo thống kê của Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt nam trong 6 tháng đầu năm 2009, dù chịu nhiều ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, mức tiêu thụ sản phẩm giấy tissue không hề giảm so với năm 2008

Mức độ trăng trưởng của sản xuất giấy tissue ở Việt Nam hàng năm là 20%.Tuy nhiên, mức này vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu trong nước cũng như xuất khẩu Thực tế thị trường giấy tissue hiện nay có sự tham gia của nhiều công ty trong và ngoài nước với

đa dạng chủng loại sản phẩm Có thể kể đến các nhãn hiệu Collex (Thái Lan); Paseo (Malaysia; AnAn, May, Pulpy (Công ty New Toyo Việt Nam); Saigon, Senton, Bless you (Công ty giấy sài Gòn) và sản phẩm Watersilk của Công ty Giấy Tisue Sông Đuống (thành viên của Tổng công ty giấy Việt nam) Song lợi thế lại thuộc về các sản phẩm sản xuất tại Việt Nam

Giấy tissue được sản xuất ở Việt Nam chủ yếu từ bột giấy hóa học tẩy trắng nguyên thủy, bột giấy tái chế và hỗn hợp của hai loại bột này, phụ thuộc vào chất lượng sản phẩm Với các mặt hàng cao cấp thì nguyên liệu dùng cho sản xuất phải là 100% bột giấy hóa học tẩy trắng nguyên thủy Nhưng với công nghệ ngày càng hiện đại, chất lượng của sản phẩm giấy sản xuất từ bột giấy tái chế sẽ ngày càng cao, song cũng chỉ đạt được khoảng 90% so với giấy sản xuất từ bột giấy nguyên thủy

Trang 10

1.2.2 Sản phẩm khăn trải bàn

Hiện tại các sản phẩm khăn trải bàn vẫn chưa được sản xuất trong nước, các sản phẩm đều được nhập khẩu Các sản phẩm được nhập khẩu về Việt Nam gồm một số loạinhư : Giấy trải bàn bằng giấy hiệu Cenzin; giấy trải bàn bằng giấy hiệu Duni; giấy trải bàn bằng giấy hiệu Loccitane; giấy trải bàn ăn hiệu Lutz Mauder Các loại sản phẩm này thường được nhập về ở dạng chiếc hoặc thành từng bộ

1.2.3 Sản phẩm tã giấy và băng vệ sinh phụ nữ

Sản phẩm tã giấy bao gồm tã giấy dùng cho trẻ em và tã giấy dùng cho người già Ngoài ra còn có các loại khăn lau ướt và các tấm lót Băng vệ sinh phụ nữa gồm có hai loại: dạng tấm (pad) và dạng ống (tempon) Băng vệ sinh phụ nữa dạng tấm gồm các loại: loại ban đêm, loại thông thường và loại hàng ngày Hiện tại, các sản phẩm này vẫn chưa

có các tiêu chuẩn Việt Nam quy định về chất lượng, do đó các sản sản phẩm này nhập khẩu vào Việt Nam, trước khi thông quan không phải chịu bất kỳ hình thức kiểm tra nào

về mặt chất lượng Đây là loại sản phẩm tiếp xúc trực tiếp với da, nếu không bảo đảm an toàn vệ sinh sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến người dùng

để làm phần lõi của tã giấy để làm tăng khả năng thấm hút của sản phẩm

Tã giấy được cải tiến rất nhiều lần, được thiết kế với các loại dành cho các lứa tuổi khác nhau, loại dành riêng cho bé trai, bé gái, tã được tẩm tinh dầu, kem, nước hoa và các nhân vật hoạt hình nghộ nghĩnh đáng yêu được in trên tã

Trang 11

Xã hội phát triển, với nhu cầu ngày càng tăng, những chiếc tã giấy không ngừng được hoàn thiện để càng ngày càng tiện lợi và an toàn hơn cho sức khỏe của bé Tã giấy phải có tính thấm hút tốt, chống thấm ngược trở lại Tã giấy còn phải có tác dụng chống hăm với mặt đáy thoát ẩm và lưu thông không khí, đẩy hơi nóng ẩm ra ngoài mặt đáy, cho

bé luôn khô thoáng, thoải mái

Trên thị trường tã giấy ngày nay có rất nhiều các loại tã giấy với các tính năng khác nhau Mùa hè, trời nóng, trẻ ra nhiều mồ hôi, có loại tã giấy siêu mỏng, nhẹ nhàng thoáng mát Mùa đông có loại tã siêu thấm để tránh phải thay tã nhiều lần cho bé, tránh cho bé không bị nhiễm lạnh

Hiện nay, tã giấy còn có loại dùng cho người già Tã có tính thấm hút tốt thoáng khí thuận tiện trong sóc và đảm bảo vệ sinh cho người lớn không thể tự di chuyển và gặp khó khăn trong việc đi vệ sinh

Hiện nay trên thế giới có khoảng 1000 nhãn hiệu tã giấy với các kiểu dáng khác nhau Tã giấy được đưa vào thị trường Việt nam vào những năm 90 của thế kỷ trước Đến nay, thị trường tã giấy dùng cho bé và người lớn hiện nay rất đa dạng với các nhãn hiệu như Bobby, Huggies, Pampers, Các sản phẩm đang lưu thông trên thị trường là các sản phẩm được sản xuất trong nước và nhập khẩu Bên cạnh các nhãn hàng có tên tuổi lớn có nhãn mác, hiện tại ở Việc Nam có những loại tã giấy trẻ em không thương hiệu có giá rẻ bằng một nửa so với các các sản phẩm chính hãng của các công ty Loại bỉm trần, không nhãn mác, nguồn gốc xuất xứ cũng được rao bán tràn lan trên mạng Việc sử dụng những loại sản phẩm kém chất lượng có thể làm cho trẻ bị hăm ngứa, lở loét,

Hiện tại, Ở Việt Nam chưa có Tiêu chuẩn Quốc gia để quản lý chất lượng của loại sản phẩm này Các nhà sản xuất trong nước sản xuất theo tiêu chuẩn cấp cơ sở, còn các sản phẩm nhập ngoại thì không được phải kiểm tra chất lượng

Một số hình ảnh về hậu quả của việc sử dụng các sản phẩm không bảo đảm chất lượng

Trang 12

Theo các bác sỹ chuyên khoa gia liễu, nếu tã giấy không được xử lý qua các quy trình nghiêm ngặt, có thể bị nhiễm rất nhiều loại vi khuẩn, nấm, nấm mốc gây bệnh thường trú trên các bề mặt trong đó có những loại vi khuẩn có khả năng sống hàng chục năm trong đất Các loại vi khuẩn này có thể gây viên da, nấm da, viêm tiết niệu, viêm phần phụ, tiêu chảy kéo dài và khó xác định được nguyên nhân, điều trị gặp nhiều khó khăn

b) Băng vệ sinh phụ nữ

Băng vệ sinh phụ nữ bắt đầu được sử dụng vào đầu thế kỷ thứ 10 Benjamin là người đã phát minh ra tấm lót dùng một lần và đầu tiên mục đích là để phục vụ cho những

Trang 13

người lính bị thương Năm 1988 sản phẩm này được thương mại Tấm lót dùng một lần đã được các nữ y tá sử dụng trong những ngày đến tháng của họ Tấm lót dùng một lần có hình chữ nhật bằng bông hoặc xơ sợi xenlulo được bao phủ bởi một lớp lót thấm Hai đầu của của lớp lót được kéo dài ra mặt trước và mặt sau thông qua các vành đai đeo bên dưới quần chíp Sau đó các tấm lót này đã được cải tiến và lớp dính được đặt phía dưới cùng của tấm lót để gắn vào quần chíp Với sự ra đời của vật liệu polyme dưới dạng các hạt siêu thấm hút và đã được đưa vào sử dụng trong thành phần của băng vệ sinh Việc sử dụng loại vật liệu này đã làm tăng tính thấm hút cũng như giảm được độ dày của sản phẩm

Hình dáng của sản phẩm cũng được thay đổi nhằm tạo độ ổn định (không bị biến dạng), độ bám dính (không bị lệch), tạo sự nhẹ nhàng thoải mái trong vận động Ngoài ra, một số loại sản phẩm còn có thêm chất khử mùi hay một vải chất chiếc xuất từ cây cỏ tự nhiên, vừa khử mùi vừa có tính khử trùng nhẹ

Băng vệ sinh được đưa vào thị trường Việt Nam vào những năm 1990 Hiện tại ở Việt Nam có hàng chục các nhãn hiệu băng vệ sinh như Diana, Kotex, Laurier, bên cạnh các sản phẩm có tên tuổi và thương hiệu, hiện tại trên thị trường cũng xuất hiện rất nhiều các sản phẩm lạ lẫm với người tiêu dùng, nhưng tất cả đều có logo giống với một nhãn hiệu nổi tiếng Các loại sản phẩm loại này thường có giá thành thấp Cũng giống như tã giấy sản phẩm băng vệ sinh phụ nữ hiện vẫn chưa có Tiêu chuẩn Quốc gia về yêu cầu kỹ thuật

Việc sử dụng các loại sản phẩm băng vệ sinh không bảo đảm chất lượng có thể sẽ gây ra các hiện tượng kích ứng da, nổi ngứa, mẩn đỏ, đặc biệt có thể dẫn tới các bệnh phụ khoa gây ung thư và vô sinh cho phụ nữ

1.3 Thực trạng về việc quản lý chất lượng và xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật của sản phẩm bột giấy, giấy, các tông và đặc biệt là các loại sản phẩm giấy vệ sinh, tã giấy và băng vệ sinh ở Việt Nam

1.3.1 Xây dựng tiêu chuẩn và quản lý chất lượng của bột giấy, giấy và các tông

Ngành giấy rất quan tâm đến công tác tiêu chuẩn hoá, nên hiện nay đã xây dựng được 59 tiêu chuẩn về phương pháp thử sản phẩm bột giấy, giấy và cáctông Các tiêu

Trang 14

chuẩn về phương pháp thử đều được xây dựng hoàn toàn tương thích với tiêu chuẩn Quốc tế (ISO), TAPPI Bộ tiêu chuẩn này gồm các phương pháp thử về tính chất vật lý, hóa học cho bột giấy, giấy và các tông Với bộ tiêu chuẩn này chúng ta có thể xác định được đầy đủ các tính chất để đánh giá được chất lượng của các loại sản phẩm

Tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm cũng đã được xây dựng cho các sản phẩm chủ yếu của ngành giấy Việt Nam gồm:

- TCVN 7062 : 2007 – Giấy làm vỏ bao xi măng

- TCVN 7063 : 2002 – Giấy bao gói

- TCVN 7064 : 2011 – Giấy vệ sinh

- TCVN 7065 : 2010 (khăn giấy (paper napkins)

Trong các tiêu chuẩn kỹ thuật trên có các quy định về: Phạm vi áp dụng, phương pháp thử sản phẩm; chỉ tiêu ngoại quan; yêu cầu về nguyên liệu; các thông số

kỹ thuật quy định cho từng mức chất lượng; ghi nhãn hàng hóa; đóng gói, bảo quản và vận chuyển Riêng hai tiêu chuẩn về giấy vệ sinh và khăn giấy, đây là loại sản phẩm tiếp xúc trực tiếp với con người, nên ngoài các quy định như trên còn có quy định về an toàn vệ sinh

Vì giấy là một loại sản phẩm quan trọng không thể thiếu trong xã hội, nên tất cả các nước trên thế giới rất quan tâm đến chất lượng của giấy và bột giấy Cho tới nay, tổ chức Tiêu chuẩn hoá ISO đã ban hành 196 tiêu chuẩn cho giấy, bột giấy và sản phẩm giấy

Ngày nay, cùng với sự phát triển của các ngành công nghiệp khác, với xu hướng hội nhập, công tác tiêu chuẩn hoá càng cần được quan tâm hơn bởi vì tiêu chuẩn là công cụ để quản lý chất lượng, đảm bảo nâng cao chất lượng và là cơ sở phục vụ cho

Trang 15

cơ chế quản lý và kiểm soát nâng cao chất lượng Hơn nữa việc áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế là một vấn đề cần thiết, nhằm tháo gỡ rào cản kỹ thuật trong thương mại giữa các quốc gia, đảm bảo cho sự hội nhập của nước ta vào nền kinh tế khu vực và thế giới

1.3.2 Xây dựng tiêu chuẩn và quả lý chất lượng của các sản phẩm giấy vệ sinh, khăn giấy, tã giấy và băng vệ sinh phụ nữ

Việt nam đã ban hành tiêu chuẩn Quốc gia (TCVN) về chất lượng của sản phẩm giấy vệ sinh và khăn giấy Nhưng TCVN chỉ có tính khuyến khích áp dụng chứ không phải là bắt buộc áp dụng

Hiện tại, trên thị trường có rất nhiều loại sản phẩm giấy vệ sinh, khăn giấy với chất lượng rất khác nhau Phần lớn các loại sản phẩm giá rẻ đều được sản xuất tại các cơ sở nhỏ Các cơ sở sản xuất này thường sử dụng thiết bị cũng như công nghệ sản xuất lạc hậu Nhà xưởng không bảo đảm các quy định về an toàn vệ sinh cho sản xuất mặt hàng giấy vệ sinh và khăn giấy Do đó các loại sản phẩm sản xuất từ các cơ sở này thường có chất

lượng thấp và không đảm bảo an toàn vệ sinh

Hiện nay trên thị trường đang rất sôi động với hàng chục nhãn hàng bỉm - tã giấy (cho trẻ em và người lớn) và băng vệ sinh, tuy nhiên trong đó trà trộn không ít hàng nhái, hàng kém chất lượng và không đảm bảo vệ sinh đang là một vấn đề gây bức xúc đối với xã hội nói chung và công tác quản lý nhà nước nói riêng Các mặt hàng tiêu dùng như muối, mắm, đồ nhựa… đều có tiêu chuẩn quốc gia, nhưng riêng tã (bỉm), băng vệ sinh - mặt hàng ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe Người tiêu dùng hiện nay mới chỉ có các Tiêu chuẩn cơ sở (TCCS) mà chưa có Tiêu chuẩn quốc gia (TCVN), các tiêu chuẩn này do doanh nghiệp tự công bố, tự chịu trách nhiệm

Việc sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng nhái thường đem lại lợi nhuận cao nên một số nhà sản xuất nhỏ, thương nhân bất chính đã bất chấp quy định của pháp luật sẵn sàng sản xuất, nhập khẩu các loại bỉm, tã giấy giả, nhái không đủ điều kiện chất lượng

để cung ứng trên thị trường không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe và tài chính của người tiêu dùng mà còn ảnh hưởng tới môi trường cạnh tranh, sản xuất trong nước, gây khó khăn tới nhà sản xuất chân chính

Trang 16

Mặt hàng giấy vệ sinh, khăn giấy đã có Tiêu chuẩn Quốc gia, nhưng tiêu chuẩn này chỉ áp dụng đối với các sản phẩm được sản xuất trong nước Đối với các sản phẩm nhập khẩu cũng chưa bị kiểm soát về mặt chất lượng Đây có lẽ cũng là một điều bất hợp lý và không công bằng đối với các nhà sản xuất tại Việt Nam Hơn nữa hai tiêu chuẩn này vẫn thiếu các quy định về chỉ tiêu vi sinh, dư lượng hóa chất Do vậy, kiến nghị soát xét hai tiêu chuẩn này, để mở rộng phạm vi áp dụng, cũng như xây dựng các mức quy định về chỉ tiêu vi sinh, dư lượng hóa chất cho sản phẩm sản xuất trong nước cũng như sản phẩm được nhập khẩu

Trang 17

PHẦN II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Phương pháp điều tra và khảo sát

2.1.1 Phương pháp kế thừa

Kế thừa có chọn lọc các số liệu trong các báo báo của Tổng cục Hải quan, Hiệp hội giấy Việt Nam và của Viện Công nghiệp giấy và xenluylo về tình hình nhập khẩu, sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm bột giấy và giấy

2.1.2 Phương pháp khảo sát bổ sung thông tin

Khảo sát thu thập thông tin tài liệu tại các doanh nghiệp sản xuất giấy, bột giấy,

tã giấy và băng vệ sinh

2.1.3 Phương pháp chuyên gia

Tham vấn các chuyên gia thuộc cơ quan quản lý Nhà nước, các cơ quan chuyên ngành, Viện Tiêu chuẩn chất lượng

Tham khảo ý kiến của các chuyên gia, các nhà quản lý để để xuất các giải pháp kiểm soát chất lượng sản phẩm bột giấy, giấy, các tông và đặc biệt là các mặt hàng giấy

vệ sinh, khăn giấy, tã giấy, băng vệ sinh phụ nữ, nhằm mục đích bảo vệ người tiêu dùng

2.1.4 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Thu thập các thông tin tổng quát về tình hình sản xuất, tiêu dùng, xuất khẩu của các sản phẩm bột giấy giấy và các tông

2.2 Phương pháp kiểm tra chất lượng sản phẩm

- Kiểm tra chất lượng sản phẩm giấy vệ sinh : theo TCVN 7064: 2011

- Kiểm tra chất lượng sản phẩm khăn giấy: theo TCVN 7065 : 2010

Trang 18

PHẦN III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Khảo sát tình nhu cầu sử dụng các sản phẩm bột giấy, giấy và các tông

3.1.1 Bột giấy

Theo các số liệu báo cáo của Tổng cục Hải quan, Báo cáo của Hiệp hội giấy Việt nam, Báo cáo quy hoạch điều chỉnh, tình hình sản xuất, tiêu dùng và nhập khẩu bột giấy ở Việt Nam trong giai đoạn 2005 đến 2010 được trình bày trong bảng 3.1

Bảng 3.1 – Tình hình sản xuất, tiêu dùng và nhập khẩu bột giấy vào Việt nam

Trang 19

Công suất bột hóa học tẩy trắng không tăng từ 2006 đến 2010 Vẫn chỉ có Tổng

công ty giấy Việt Nam sản xuất 75.000 tấn/năm và một số nhà máy quy mô nhỏ với

tổng công suất 55.000 tấn/năm

Từ 2005 đến 2010, Việt Nam chủ yếu nhập khẩu bột kraft gỗ cứng tẩy trắng

(khoảng 100.000 tấn/năm) dùng trong sản xuất giấy in, viết Bột kraft gỗ mềm tẩy

trắng, bột hóa nhiệt cơ (CTMP) được nhập rất ít (khoảng 10% trong tổng lượng bột

nhập khẩu hàng năm)

Bột hóa không tẩy được nhập khẩu chủ yếu là loại bột không tẩy gỗ mềm

(USKP) với khối lượng không lớn, dùng để sản xuất các loại giấy làm bao bì có độ bền

cao (giấy làm bao bì xi măng)

Các số liệu trong bảng 1 cho thấy lượng bột giấy sản xuất trong nước rất thấp và

phần lớn phải nhập từ nước ngoài

Để bảo vệ nguồn tài nguyên nhập và theo xu hướng chung của ngành sản xuất

giấy trên thế giới, lượng giấy loại được sử dụng trong sản xuất ngày càng tăng Các số

liệu về nhu cầu tiêu dùng và sản xuất giấy giấy từ giấy loại được trình bày trong bảng

3 Tiêu dùng bột giấy mới nội địa 249.254 298.531 353.698 316.914 311.246 345.875

- Tỷ lệ sử dụng cho sản xuất giấy;% 27,34 28,36 28,13 25,99 24,10 23,75

4 Tiêu dùng bộ giấy mới nhập khẩu 114.826 124.998 131.590 134.454 99.800 121.049

- Tỷ lệ sử dụng cho sản xuất giấy;% 12,65 11,87 10,47 11,04 7,73 7,99

5 Tiêu dùng giấy loại cho SX giấy 546.310 629.118 771.928 767.696 880.420 1.003.955

Trang 20

1 2 3 4 5 6 7

OCC (phế liệu hòm hộp làn sóng) 438.855 503.774 619.140 613.000 724.930 848.900 ONP, OMG (giấy báo, tạp chí cũ) 107.455 125.344 152.788 154.696 155.491 155.055

- Tỷ lệ sử dụng cho sản xuất giấy;% 60,01 59,77 61,4 62,97 68,17 68,26

- Tỷ lệ thu gom trong nước, % 31,00 28,00 27,00 25,13 30,00 32,00

*Nguồn số liệu: Tổng cục Hải quan, Báo cáo Hiệp hội giấy Việt Nam

Số liệu thống kê bảng trên cho thấy, tỷ lệ sử dụng giấy loại cho sản xuất giấy

tăng từ 60% lên 68% do sản xuất giấy làm bao bì tăng nhanh trong giai đoạn

2006-2010 Việc sử dụng giấy loại thay thế bột giấy nguyên thủy cho sản xuất giấy là một tín

hiệu đáng khích lệ và phù hợp với xu thế chung của thế giới về tất cả các khía cạnh

kinh tế, xã hội, tài nguyên và môi trường Tuy nhiên, một thực trạng của ngành giấy

Việt Nam hiện nay là khâu thu gom giấy loại nội địa chưa cao và chủ yếu là do dân tự

thu gom để tăng thu nhập kinh tế hộ gia đình, khâu phân loại, chế biến hiệu quả còn

thấp, chưa phân loại được các loại xơ sợi để nâng cao giá trị sử dụng

3.1.2 Giấy và các tông

Các số liệu về công suất sản xuất của các nhà máy giấy tại Việt nam, nhu cầu

tiêu dùng và nhập khẩu các sản phẩm giấy và các tông vào Việt Nam trong giai đoạn từ

2005 đến 2010 được trình bày trong bảng 3.3

Bảng 3.3: Công suất, tiêu dùng, sản lượng và nhập khẩu giấy ở Việt Nam

Trang 21

Tiêu dùng theo đầu người* 16,21 18,69 22,43 23,51 25,78 26,44

Dân số; triệu người 81,87 82,83 83,81 84,79 85,79 86,78

* Nguồn số liệu: Tổng cục Hải quan, Công văn báo cáo các tỉnh, các DN, Báo cáo Hiệp hội giấy Việt

Nam, Báo cáo Quy hoạch điều chỉnh

Tăng trưởng về tiêu dùng giấy năm sau so với năm trước trong giai đoạn 2006 -

2010 cao nhất vào năm 2007, đạt 21,39% và thấp nhất là vào năm 2010 chỉ đạt 3,75%

Tăng trưởng bình quân hàng năm về tiêu dùng giấy là 14,58%/năm

Trang 22

Tiêu dùng giấy theo chủng loại trong năm 2010: giấy làm bao bì 68%, giấy in, viết 19%, giấy in báo 2%, giấy tissue 2% và giấy khác là 9%

Sản lượng giấy năm 2008 giảm so với 2007 do tác động của suy thoái kinh tế, tuy nhiên tăng trưởng bình quân hàng năm về sản lượng giấy trong giai đoạn 2006-

2010 là 11,11%/năm Các số liệu thống kê trên cho thấy, tỷ trọng giấy bao bì trong tổng sản lượng giấy sản xuất giấy cũng như tiêu dùng là rất lớn, sản phẩm trực tiếp xuất khẩu còn hạn chế, phần lớn chúng được sử dụng làm bao bì cho các sản phẩm nông - lâm - thủy, hải sản, may mặc v.v phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng trong nước

Nhập khẩu giấy trong suốt thời kỳ 2006 - 2010 cũng luôn tăng và đạt bình quân tăng trưởng hàng năm 13,7%/năm Tỷ lệ khối lượng giấy nhập khẩu trên sản lượng giấy sản xuất dao động trong khoảng 48-52% Điều này chứng tỏ nhu cầu tiêu dùng sản phẩm giấy trong nước rất lớn và sản xuất đã chưa thể đáp ứng được nhu cầu này Mặt hàng giấy xuất khẩu chính của Việt Nam vẫn là giấy vàng mã sang Đài Loan với khối lượng khá lớn so với các loại sản phẩm khác, nhưng giá trị thấp Giấy tissue xuất khẩu chủ yếu là sản phẩm của Công ty Pulppy Corelex và Công ty New Toyo Pulppy được xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản, Singapore và Hồng Kông với sản lượng khoảng 24.000 - 25.000 tấn/năm

Giấy in, viết phần lớn được xuất khẩu dưới dạng văn phòng phẩm với sản lượng khoảng 25.000 - 30.000 tấn/năm, chủ yếu sang thị trường Hoa Kỳ Một phần rất nhỏ sản phẩm giấy testliner được xuất khẩu sang Philippines nhưng thời gian vừa qua

đã bị Philippines đánh thuế chống bán phá giá với mức 1.200 peso/tấn giấy nhập khẩu (mã sản phẩm HS 4805 2400, HS 4805 2500) nên đã tạm dừng xuất khẩu

Số liệu tổng hợp về xuất khẩu các loại sản phẩm giấy cho thấy tỷ lệ giấy xuất khẩu là rất nhỏ và nguy cơ giảm dần Điều này chứng minh rõ ràng cho sự cạnh tranh yếu thế của các sản phẩm giấy Việt Nam trên thị trường thế giới và khu vực

Trang 23

3.2 Khảo sát nhu cầu sử dụng các sản phẩm giấy vệ sinh, khăn giấy, tã giấy và băng

vệ sinh phụ nữ (thước mã hàng hóa HS 4818)

3.2.1 Giấy vệ sinh và khăn giấy

Giấy vệ sinh và khăn giấy (giấy tissue) là mặt hàng giấy có giá trị nhập khẩu thấp nhất, do năng lực sản xuất của ngành giấy trong nước đã đáp ứng được 99% nhu cầu trong nước Ngoài ra, ở một số cơ sở sản xuất đã sản xuất được các loại giấy có chất lượng cao tương đương với sản phẩm cùng loại của các nước tiên tiến trên thế giới, đáp ứng được các đòi hỏi khắc khe của người tiêu dùng khó tính Ngoài cung cấp cho nhu cầu trong nước giấy tissue còn được xuất khẩu sang nước ngoài, trong đó có các thị trường yếu cầu cao về chất lượng sản phẩm như Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc Các sản phẩm giấy tissue xuất khẩu thường ở dạng các cuộn lớn, sau đó được gia công thành dạng cuộn và gói theo các kích thước theo quy định của các nước sở tại

Các số liệu về tình hình sản xuất, tiêu dùng và nhập khẩu sản phẩm giấy tissue ở Việt nam trong giai đoạn từ năm 2005 đến 2010 được trình bày trong bảng 3.4

Bảng 3.4: Công suất, tiêu dùng, sản lượng và nhập khẩu giấy tissue

ở Việt Nam giai đoạn 2005 - 2010

Trang 24

3.2.2 Tã giấy và băng vệ sinh phụ nữ và khăn trải bàn

Tã giấy được sản xuất và nhập khẩu vào Việt Nam có hao loại chính là tã giấy dùng cho trẻ em và tã giấy dùng cho người già

Hiện nay tại Việt Nam chỉ sản xuất các loại băng vệ sinh dạng miếng với các loại thông thường, dùng ban đêm và băng vệ sinh hàng ngày Các loại băng vệ sinh dạng ống (tempon) là sản phẩm được nhập khẩu

Nguyên liệu dùng cho sản xuất các sản phẩm tã giấy băng vệ sinh bao gồm: bột giấy, các hạt polyme siêu thấm hút, vải không dệt, giấy vệ sinh, màng plastic, keo dính và giấy chống dính Phần lớn các loại nguyên liệu này đều được nhập khẩu Loại giấy vệ sinh

sử dụng trong thành phần tã giấy và băng vệ sinh các doanh nghiệp sản xuất cũng không phải hoàn toàn sử dụng sản phẩm trong nước, một số sản phẩm các doanh nghiệp vẫn sử dụng hàng ngoại nhập Loại giấy chống dính được sản xuất trong nước, nhưng giấy đế (nền) để sản xuất giấy chống dính lại được nhập khẩu, hiện tại trong nước chưa có doanh nghiệp nào sản xuất loại giấy này

Hiện tại ở Việt nam có hai doanh nghiệp sản xuất tã giấy và băng vệ sinh lớn là công ty Kimberly – Clark và Công ty Diana

Công ty Diana là một trong các công ty hàng đầu trong ngành sản xuất các sản phẩm tã giấy dùng cho trẻ em và người già, băng vệ sinh phụ nữ từ giấy và bột giấy với các nhãn hiệu như Diana, Bobby, caryn, Libera, Công ty sản xuất các sản phẩm này trên dây chuyền thiết bị và công nghệ của Italia Thị phần của Diana có mặt tại 64 tỉnh thành phố trong cả nước Sản phẩm của công ty không những cung cấp cho nhu cầu trong nước

mà còn được suất khẩu sang thị trường Quốc tế : Thái Lan, Malaysia, Philippin, Cambodia,

Công ty Kimberly – Clark là công ty nổi tiếng toàn cầu đã có mặt ở 175 quốc gia với các thương hiệu nổi tiếng như Kotex, Huggies, Kleenex, Scolt Với hơn 140 năm sáng tạo và phát triển Kimberly – Claek luôn nắm thị phần lớn tại các nước Hai thương hiệu lớn của công ty là Kotex và Huggies đã có mặt tại Việt Nam từ năm 1991 Tại Việt nam thương hiệu kotex đã chiếm hơn 52% thị phần

Trang 25

Ngoài việc nhập khẩu các nguyên liệu cho sản xuất, các mặt hàng tã giấy và băng

vệ sinh còn được nhập khẩu vào Việt Nam ở dạng thành phẩm Các sản phẩm được đóng

gói thành bịch theo các số lượng nhất định các sản phẩm nhập khẩu chủ yếu là từ các

nước ở khu vực Đông Nam Á, một lượng nhỏ từ Nhật Bản và các nước khác

Các sản phẩm khăn trải bàn bằng giấy chưa có sản phẩm được sản xuất tại Việt

Nam Các sản phẩm được nhập khẩu với số lượng nhỏ và phần lớn ở các thương hiệu danh

tiếng của Châu Âu như Duni của Ý, Loccitane của Tây Ban Nha,…

Các số liệu về tình hình nhập khẩu và xuất khẩu tã giấy tại Việt Nam trong năm

2011 và 6 tháng đầu năm 2012 tính theo giá trị tiền Việt Nam được chỉ ra trong bảng 3.5

Bảng 3.5 – Số lượng tã giấy, băng vệ sinh, khăn trải bàn nhập khẩu và xuất khẩu

trong năm 2011 và 6 tháng đầu năm 2012

Đơn vị tính, tỷ đồng

Nhập khẩu Xuất khẩu Nhập khẩu Xuất khẩu

* Nguồn số liệu: Tổng cục Hải quan

Các số liệu cho thấy sản lượng tã giấy và băng vệ sinh nhập khẩu thấp hơn rất

nhiều so với số lượng xuất khẩu Các sản phẩm nhập khẩu là các sản phẩm có thương hiệu

nổi tiếng Nhưng các số liệu do Tổng cục Hải quan cung cấp là số liệu về các sản phẩm

được nhập khẩu chính ngạch Nhưng trên thực tế có rất nhiều các dạng sản phẩm có nhãn

mác không rõ ràng, không có nguồn gốc xuất xứ vẫn được bầy bán tràn lan trên thị trường,

nhất là tại các vùng nông thôn

Các sản phẩm tã giấy và băng vệ sinh xuất khẩu là các sản phẩm của Công ty

Diana và Công ty Kimberly – Clark Việt Nam

Trang 26

3.3 Tình hình quản lý chất lượng của các sản phẩm bột giấy, giấy và các tông

3.3.1 Các sản phẩm bột giấy, giấy và các tông

Hiện tại về bột giấy ở Việt Nam chỉ có Tiêu chuẩn Quốc gia (TCVN) và Quy chuẩn Quốc gia cho mặt hàng giấy loại Các loại bột giấy khác như bột giấy hóa học tẩy, bột giấy cơ học chưa có tiêu chuẩn chất lượng Chất lượng của sản phẩm bột giấy thường

là theo thỏa thuận giữa người mua và người bán Tại Việt Nam hiện giờ đã có Công ty CP bột giấy An Hòa sản xuất bột giấy thương phẩm, chất lượng bột giấy theo tiêu chuẩn của Công ty (TCCS)

Tiêu chuẩn và quy chuẩn giấy loại của Việt Nam hiện nay được áp dụng cho giấy loại nhập khẩu Việc áp dụng tiêu chuẩn và quy chuẩn đã giúp cho các nhà quản lý ngăn chặn được việc nhập rác thải về Việt Nam cũng như giúp cho các nhà nhập khẩu có được căn cứ kỹ thuật khi nhập khẩu loại vật liệu này

Các tiêu chuẩn kỹ thuật cũng đã được xây dựng cho các mặt hàng: giấy viết, giấy photocopy, giấy in báo, giấy bao gói và giấy làm bao xi măng Nhưng TCVN là tự nguyện

áp dụng, nên đến nay các nhà máy sản xuất các mặt hàng nói trên ở Việt Nam vẫn chưa có nhà máy nào đăng ký chất lượng sản phẩm của đơn vị mình hợp chuẩn TCVN Một đơn vị sản xuất giấy in, giấy viết lớn như Tổng công ty giấy Việt Nam cũng chỉ công bố chất lượng sản phẩm theo TCCS

Mặt hàng giấy làm bao xi măng hầu như được nhập khẩu từ nước ngoài do năng lực sản xuất của các nhà máy ở Việt Nam chỉ cung cấp được một lượng nhỏ, hơn nữa chất lượng sản phẩm chỉ ở dạng trung bình và thấp Do mặt hàng này, nếu chất lượng sản phẩm đạt mức như quy định trong TCVN sẽ được hưởng mức giá ưu đãi, nên hầu như tất cả các sản phẩm nhập khẩu đều được kiểm tra chất lượng Do có TCVN mà đã hạn chế được các sản phẩm cùng loại có chất lượng thấp hơn các sản phẩm sản xuất trong nước được nhập vào Việt Nam.Việc làm này đã góp phần bảo vệ cho các nhà sản xuất trong nước

Trang 27

3.3.2 Các sản phẩm giấy vệ sinh, khăn giấy, tã giấy và băng vệ sinh phụ nữ

a) Giấy vệ sinh và khăn giấy

Hiện nay ở Việt Nam có rất nhiều các cơ sở sản xuất giấy vệ sinh và khăc giấy với quy mô sản xuất và chất lượng rất khác nhau Với các cơ sở nhỏ, thường sản xuất các mặt hàng có chất lượng trung bình và thấp Nguyên liệu sử dụng phần lớn là giấy tái chế với công nghệ tái chế lạc hậu và không đảm bảo vệ sinh Hiện đã có TCVN về khăc giấy và giấy vệ sinh, nhưng do tiêu chuẩn là khuyến kích áp dụng nên rất khó trong việc kiểm soát chất lượng sản phẩm

Với việc dùng các sản phẩm giấy vệ sinh kém chất lượng sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe người tiêu dùng Các triệu chứng lâm sàng có thể gặp phải như bị đỏ da, dị ứng, chàm da có điều trị Các loại khăn giấy nhiễm khuẩn có thể gây ra các bệnh về đường tiêu hóa

Hiện nay, ở Việt Nam chỉ có hai công ty là Công ty giấy Tissue Sông Đuống và Công ty CP giấy Sài Gòn là có đăng ký chất lượng sản phẩm khăn giấy và giấy vệ sinh hợp chuẩn TCVN Do trong TCVN về hai sản phẩm này không có quy định cụ thể về mặt

vệ sinh an toàn, hơn nữa Bộ Y tế cũng chưa có được các quy định cụ thể về các chỉ tiêu vi sinh và nấm mốc cho loại sản phẩm này nên việc kiểm tra được tiến hành đối với điều kiện công nghệ sản xuất và vệ sinh nhà xưởng Với việc đảm bảo quy trình công nghệ sản xuất giấy, quy trình tái chế giấy loại phù hợp, chất lượng nước dùng cho sản xuất bảo đảm vệ sinh, nhà xưởng thành phẩm đúng theo quy định về vệ sinh thì chất lượng sản phẩm sẽ hoàn toàn đảm bảo về chất lượng vệ sinh an toàn

Các sản phẩm khăn giấy và giấy vệ sinh nhập khẩu hiện nay khi thông quan không phải kiểm tra chất lượng Đây cũng là một lỗ hổng để cho các sản phẩm kém chất lượng được tuồn vào Việt Nam

b) Tã giấy và băng vệ sinh phụ nữ

Hai loại mặt hàng này chưa có TCVN quy định về chất lượng sản phẩm Các công

ty sản xuất theo TCCS và công bố chất lượng theo TCCS Do chưa có TCVN nên việc kiểm soát chất lượng của mặt hàng này gặp rất nhiều khó khăn Để bảo vệ người tiêu dùng

Trang 28

các nhà quản lý và những người có trách nhiệm cũng chỉ biết khuyên người dân nên sử

dụng các sản phẩm của các công ty có ưu tín, các loại sản phẩm có nhãn mác và nguồn

gốc xuất xứ rõ ràng

Các chuyên gia y tế đã đưa ra những dẫn chứng xác thực khi sản phẩm không bảo

đảm chất lượng ảnh hưởng đến người tiêu dùng và gây ra hậu quả to lớn, liên quan trực

tiếp tới sức khỏe của người lớn, trẻ em và phụ nữ Theo các bác sỹ việc sử dụng các loại

băng vệ sinh kém chất lượng có thể làm cho người dùng bị viêm nhiễm phần phụ, tắc vòi

trứng, viêm nội mạc tử cung và lâu dài có thể dẫn tới vô sinh Ngoài ra còn có thể gây ưng

thư cổ tử cung

Do chưa có tiêu chuẩn Quốc gia cho các mặt hàng này nên các sản phẩm nhập

khẩu vào Việt Nam cũng chưa được kiểm định về mặt chất lượng Đây cũng chính là

một khe hở để các sản phẩm kém chất lượng ở các nước có thể được đưa về Việt Nam

tiêu thụ Như trường hợp một lô hàng băng vệ sinh dạng ống hiệu Kotex được sản xuất

ở Mỹ do không bảo đảm chất lượng bị mang đi tiêu hủy nhưng đã bị đánh cắp và đưa

vào các nước khác để tiêu thụ Nếu như không có một Tiêu chuẩn kỹ thuật để làm rào

cản thì rất có thể các loại sản phẩm tương tự như vậy sẽ được chuyển vào Việt Nam

theo đường nhập khẩu chính ngạch

3.4 Xác định chất lượng của một số sản phẩm giấy vệ sinh và khăn giấy đang lưu

hành tại thị trường Việt Nam

3.4.1 Sản phẩm giấy vệ sinh

Chất lượng của một số sản phẩm giấy vệ sinh nhập khẩu và sản xuất trong nước

được kiểm tra theo TCVN 7064: 2011 – Giấy vệ sinh Kết quả được chỉ ra trong bảng 3.6

Bảng 3.6 – Chất lượng giấy vệ sinh

Định lượng,g/m 2

Độ bền kéo, N/m (một lớp)

Khả năng hút nước,

Độ trắng Tên mẫu

(cho 1 lớp giấy)

Chiều dọc

Trang 29

khẩu từ Mỹ được gia công

đóng gói tại Công ty Phú

Quý TP HCM

Giấy sản xuất trong nước

6 Comfy (2 lớp)– Cty giấy

Trang 30

Kết quả trong bảng 1 cho thấy một số sản phẩm giấy vệ sinh trong nước có chất lượng không hề thua kém sản phẩm cùng loại được nhập khẩu

3.4.2 Sản phẩm khăn giấy

Kiểm tra chất lượng sản phẩm khăn giấy sản xuất trong nước và nhập khẩu theo

TCVN 7065 : 2010 – Khăn giấy Kết quả được chỉ ra trong bảng 3.7

Bảng 3.7 – Chất lượng khăn giấy Tên mẫu Định Độ bền kéo, N/m Khả năng Độ trắng

lượng, g/m2 Chiều dọc ngang Chiều hút nước, g/g ISO,%

3 Tessa – Indonesia (loại 2lớp) 28,6 165 58,0 8,3 88,1

5 Cellox – Thái Lan (loại 2

Sản phẩm sản xuất trong nước

1 Waterrsilk loại 1 lớp (Cty

giấy tissue Sông Đuống) 18,1 218 57,4 7,4 86,0

2 Blessyou loại 1 lớp (Công ty

3 Sài Gòn Extra loại 1 lớp

(Công ty Cp giấy Sài Gòn)

22,5 217 54,0 7,8 75,1

4 Sài Gòn Eco loại 1 lớp

( Công ty Cp giấy Sài Gòn)

TNHHNew Toyo PulppyVN) 17,4 219 63,1 7,8 80,2

7 Apple loại 1 lớ p(Công ty

CP Huy Phong – Hà Nội)

18,7 216 62,3 8,1 80,7

8 Lency loại 1 lớp(Cty

TNHHXNK Thuận Phát HN)

16,0 113 51,6 11,7 82,9

9 Waterslik loại 2 lớp (Cty

giấy tissue Sông Đuống) 27,2 164 75,5 8,8 83,8

Trang 31

14 Apple loại 2 lớp (Công ty

cp Huy Phong – Hà Nội) 27,6 312 125 8,2 81,3

15 Orchid loại 2 lớp (Công ty

Cũng như sản phẩm giấy vệ sinh, một số sản phẩm khăn giấy sản xuất tại Việt nam

có chất lượng không thua kém sản phẩm cùng loại được nhập khẩu từ các nước Đông

Nam Á vào Việt Nam

3.5 Tiêu chuẩn chất lượng của các sản phẩm giấy vệ sinh tissue, tã giấy và băng vệ

sinh phụ nữ

3.5.1 Tiêu chuẩn Quốc gia (TCVN)

Trong những năm qua Việt Nam đã xây dựng được TCVN về yêu cầu kỹ thuật cho

sản phẩm khăn giấy , giấy vệ sinh, đồng thời cũng xây dựng được các phương pháp thử

cho loại sản phẩm này hoàn toàn tương tích với tiêu chuẩn Quốc tế ISO:

- TCVN 8209-4:2010 - Giấy Tisue và sản phẩm tisue – Phần 4: Xác định độ bền

kéo, độ giãn dài khi đứt và năng lượng kéo hấp thụ

- TCVN 8209-5: 2010 Giấy Tisue và sản phẩm tisue – Phần 5: Xác định độ bền kéo

ướt

- TCVN 8209-6:2010 Giấy Tisue và sản phẩm tisue – Phần 6: Xác định định lượng

- TCVN 8209-8:2010 Giấy Tisue và sản phẩm tisue – Phần 8: Xác định thời gian

hấp thụ nước và khả năng hấp thụ nước theo phương pháp giỏ ngâm

Trang 32

- TCVN 8209-9:2010 Giấy Tisue và sản phẩm tisue – Phần 9: Xác định độ chịu bục

Chỉ tiêu ngoại quan

Giấy có màu trắng, nhuộm màu hoặc các hình in theo yêu cầu của khách hàng Giấy trắng có độ trắng ISO lớn hơn 70%

Bề mặt giấy phải sạch, không có khuyết tật như lỗ thủng, bột giấy vón cục lớn, gây khó khăn khi sử dụng

Giấy phải đồng đều, mềm mại và dễ tan trong nước

Giấy được làm chun hoặc dập nổi

Giấy vệ sinh không được có mùi khó chịu khi ở trạng thái khô và trạng thái ẩm

Chỉ tiêu cơ lý

Trang 33

Chỉ tiêu cơ lý của giấy vệ sinh theo quy định trong bảng 1

Bảng 1 – Chỉ tiêu cơ lý

2 Độ bền kéo, N/m, không nhỏ hơn

Chú thích: Các quy định trong bảng 1 được áp dụng cho một lớp giấy trong các sản

phẩm giấy vệ sinh hai lớp hoặc nhiều lớp

- Tên và địa chỉ của nhà sản xuất;

- Số lớp của cuộn giấy;

- Chiều rộng và chiều dài cuộn giấy;

Trang 34

- Số lượng cuộn trong mỗi kiện;

- Ngày sản xuất;

- Hạn sử dụng

Vận chuyển

Phương tiện vận chuyển phải sạch, có mui hoặc bạt che mưa nắng

Bốc xếp phải nhẹ nhàng, không làm ảnh hưởng đến chất lượng giấy, bảo vệ được bao

bì, nhãn hiệu

Bảo quản

Kho chứa giấy phải khô ráo, thoáng khí, có mái che và phải được phòng chống mối mọt

Các kiện giấy phải được sắp xếp để dễ vận chuyển bằng xe cơ giới

Kho phải có hệ thống phòng chống cháy và thường xuyên được kiểm tra theo quy định hiện hành

Trang 35

CHÚ THÍCH Một số kích thước thông dụng hiện nay ngoài thị trường là 195mm x

210 mm; 330mm x 330 mm

Chỉ tiêu ngoại quan

Bề mặt giấy phải sạch, không có khuyết tật như lỗ thủng, bột giấy vón cục lớn, gây

khó khăn khi sử dụng

Giấy phải đồng đều, mềm mại Giấy được làm chun hoặc dập nổi

Khăn giấy có thể có màu trắng, nhuộm màu hoặc in hình theo yêu cầu của khách hàng

Khăn giấy phải có độ trắng ISO lớn hơn 75 %

Khăn giấy không được có mùi khó chịu khi ở trạng thái khô và trạng thái ẩm

Chỉ tiêu cơ lý

Chỉ tiêu cơ lý của khăn giấy theo quy định trong bảng 1

Bảng 1 – Chỉ tiêu cơ lý

Mức STT Tên chỉ tiêu

Các hoá chất, phẩm màu sử dụng để sản xuất khăn giấy phải đảm bảo an toàn vệ sinh

theo quy định hiện hành của Bộ Y tế

Trang 36

Bao gói, ghi nhãn, vận chuyển, bảo quản

Bao gói

Khăn giấy được đóng thành hộp, túi, gói; cáchộp, túi, gói có thể được đóng thành kiện

Số lượng tờ trong mỗi hộp, túi, gói theo thoả thuận giữa khách hàng và nhà sản xuất

Ghi nhãn

Trên mỗi hộp, túi, gói, kiện khăn giấy phải có nhãn, được in rõ ràng bằng mực không phai ở vị trí dễ nhìn, với nội dung như sau:

- Tên sản phẩm;

- Tên và địa chỉ của nhà sản xuất;

- Số lượng tờ trong mỗi hộp, túi, gói;

- Số lớp;

- Ngày sản xuất

- Hạn sử dụng

Vận chuyển

Phương tiện vận chuyển phải sạch, có mui hoặc bạt che mưa nắng

Bốc xếp phải nhẹ nhàng, không làm ảnh hưởng đến chất lượng giấy, bảo vệ được bao

bì, nhãn hiệu

Bảo quản

Kho chứa giấy phải khô ráo, thoáng khí, có mái che và phải được phòng chống mối mọt

Các kiện giấy phải được sắp xếp để dễ vận chuyển bằng xe cơ giới

Kho phải có hệ thống phòng chống cháy và thường xuyên được kiểm tra theo quy định hiện hành

Trang 37

Trong TCVN về khăn giấy và giấy vệ sinh có các quy định cụ thể về các chỉ tiêu cơ

lý của phẩm, chỉ tiêu ngoại quan, ghi nhãn bao gói, bảo quản và vận chuyển Nhưng tiêu chuẩn về vệ sinh lại không đưa ra mức quy định cụ thể Đây là một trong các lỗ hổng cho việc kiểm soát chất lượng, để cho các sản phẩm không bảo đảm về mặt vệ sinh vẫn được lưu thông trên thị trường Về các hóa chất sử dụng trong quá trình sản xuất giấy vệ sinh và khăn giấy đều không nằm trong danh mục cấm và phải kiểm soát của Bộ Y tế Hiện nay trong ngành giấy, chất tăng trắng quang học được sử dụng rất phổ biến để làm tăng độ trắng của giấy Trong sản xuất giấy vệ sinh và khăn giấy chất tăng trắng quang học ít được

sử dụng hơn Nhưng với loại sản phẩm sản xuất từ bột giấy tái chế thì hầu như đều có chứa chất tăng trắng quang học Tuy chất tăng trắng quang học không phải là loại cấm sử dụng, nhưng hiện nay tác động của chất này đối với con người đang có rất nhiều tranh cãi Đặc biệt theo các nhà sản suất giấy tissue, muốn cho sản phẩm được nhập khẩu vào Mỹ thì đều không được có chất tăng trắng quang học

Để cho TCVN về khăn giấy, giấy vệ sinh thực sự an toàn và để bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng thì việc soát xét lại hai tiêu chuẩn này là rất cần thiết

3.5.2 Tiêu chuẩn cấp cơ sở

Các tiêu chuẩn về tã giấy và băng vệ sinh phụ nữ chỉ có tiêu chuẩn cấp cơ sở do các Công ty tự xây dựng Các tiêu chuẩn cấp cơ sở gồm có:

- Tiêu chuẩn cấp cơ sở TCCS 41 : 2009/DIANA – Tã giấy trẻ em Bobby Fresh siêu thấm

- Tiêu chuẩn cơ sở TCCS 43: 2008/DIANA – Tã giấy người lớn Caryn Active

- Tiêu chuẩn cơ sở TCCS 18:2009/DIANA – Băng vệ sinh phụ nữ Diana Mama Các tiêu chuẩn này gồm các nội dung: phạm vi áp dụng, kích thước, yêu cầu kỹ thuật, phương pháp thử, bảo quản, vẫn chuyển và ghi nhãn Đặc biệt trong các tiêu chuẩn này đều có các quy định cụ thể về chỉ tiêu vi sinh và nấm mốc, cụ thể với từng tiêu chuẩn như sau:

Trang 38

Sản phẩm tã giấy trẻ em Bobby Frech siêu thấm

TT Tên chỉ tiêu ĐV Mức chất lượng theo từng cỡ

1 Khối lượng miếng: g 24,2 31,2 36,1 38,3 41,0

Dung sai cho phép theo

200

6 Tổng số nấm mốc không

lớn hơn

khuẩn lạc/g

100

Tã giấy người lớn Caryn Active, do Công ty cổ phần Diana sản xuất

TT Tên chỉ tiêu ĐV Mức chất lượng theo từng cỡ

Dung sai cho phép theo khối lượng % 10 10 10

2 Khả năng thấm hút không nhỏ hơn ml 900 1000 1400

5 Tổng số vi khuẩn hiếu khí không

lớn hơn

khuẩn lạc/g

200

6 Tổng số nấm mốc không lớn hơn khuẩn

lạc/g

100

Trang 39

Băng vệ sinh phụ nữ Diana Mama, do công ty cổ phần Diana sản xuất

TT Tên chỉ tiêu Đơn vị tính Mức chất lượng

5 Tổng số vi khuẩn không gây bệnh không lớn hơn Khuẩn lạc/g 200

6 Tổng số nấm mốc không lớn hơn Khuẩn lạc/g 100

Do đây là tiêu chuẩn cấp cơ sở, nên chỉ áp dụng cho chính đơn vị sản xuất đó,

không thể áp dụng cho các sản phẩm cùng loại do đơn vị khác sản xuất

Trong các tiêu chuẩn cấp cơ sở này có các quy định về chỉ tiêu vệ sinh, nhưng mức

chất lượng của cả 3 sản phẩm khác nhau lại như nhau và phương pháp kiểm tra cũng giống

nhau Điều này có thể là một mức quy định chưa thực sự hợp lý với các sản phẩm khác

nhau và đối tượng sử dụng cũng khác nhau

3.5.3 Tiêu chuẩn các nước trên thế giới

Nhìn chung không phải nước nào trên thế giới cũng có các bộ tiêu chuẩn quy định

chất lượng cho các loại sản phẩm bột giấy, giấy và các tông Đối với mặt hàng giấy vệ

sinh, khăn giấy tã giấy và băng vệ sinh phụ nữ là các mặc hàng tiếp xúc trực tiếp với con

người, cũng ít có các tiêu chuẩn quốc gia được công bố

Một số các tiêu chuẩn của các nước đã được ban hành:

Tiêu chuẩn về giấy vệ sinh và khăn giấy:

- Tiêu chuẩn của Nhật Bản: JIS P 4501: 2006 – Giấy vệ sinh toilet

- Tiêu chuẩn của bang Texas (Mỹ): Texas Specification No 640 – 75 – 016 : 1996

Giấy vệ sinh tissue

- Tiêu chuẩn Kenia KS 2000: 2006 Giấy khăn ăn /napkin – Yêu cầu kỹ thuật

Trang 40

Tiêu chuẩn về tã giấy trẻ em

- Tiêu chuẩn của Cộng hòa Liên bang Nga ΓOCT P 52557 : 2011 – tã giấy trẻ em

- Tiêu chuẩn của Trung Quốc GB/T 28004 : 2011

- Tiêu chuẩn của Nam Phi EAS 154 : 2000

- Tiêu chuẩn của Nauy NS 3304 : 1996

Tiêu chuẩn về băng vệ sinh phụ nữ

- Tiêu chuẩn Uganda EAS 96 : 2008 – Băng vệ sinh – Yêu cầu kỹ thuật

- Tiêu chuẩn Australian AS 2869: 2008 – Băng vệ sinh – Tampons

- Tiêu chuẩn của Nam Phi EAS 96: 2009

- Tiêu chuẩn của Trung Quốc GB/T 8939 : 2008

- Tiêu chuẩn của Ấn Độ IS 5405 : 1997

Các tiêu chuẩn về phương pháp thử liên quan

- Bộ Tiêu chuẩn Quốc tế ISO 17190 (11 phần) quy định các phương pháp thử cho polymer siêu hút thấm dùng trong các sản phẩm thấm hút

- Tiêu chuẩn Quốc tế ISO 11343 : 2003 quy định phương pháp xác định khả năng kết dính của keo dán

- Bộ Tiêu chuẩn của Pháp NFQ 34 (14 phần) quy định các phương pháp thử cho tã giấy và băng vệ sinh phụ nữ

Khuyến cáo và quy định của một số tổ chức trên thế giới cho sản phẩm giấy vệ sinh khăn giấy, tã giấy, băng vệ sinh và các mặt hàng giấy tiếp xúc với thực phẩm

- Cộng đồng Châu Âu – Ủy ban sức khỏe cộng đồng công bố những điều khoản liên quan tới giấy tissue dùng trong nhà bếp và giấy khăn ăn Nội dung chính trong công bố này là đưa ra các quy định chung về nguyên liệu sử dụng, các hóa chất và phụ gia được phép sử dụng và mức sử dụng tối đa cho phép sử dụng

Ngày đăng: 05/02/2015, 19:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
46. Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật 47. Nghị định 132/2008/NĐ-CP Khác
48. Báo cáo quy hoạch phát triển ngành công nghiệp giấy Việt Nam đến năm 2020, có xét đến năm 2025 Khác
49. Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 7064: 2011 – Giấy vệ sinh 50. Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 7065 : 2010 – Khăn giấy Khác
58. ГOCT P 52557 : 2011 – Paper children’s diapers – General specifications Khác
59. Coucin of Europe, Puplic Health Commttee, Committee of experts on material coming into contact with food, policy Statement Concerving – Tissue paper kitchen towels anh napkin, Version 1 - 22.09.2004 Khác
60. U.S Food and Druf Administration – Gaidance for industry and FDA Staff – Menstrual Tampons and Pads: Information for premarket notification submissions, 27.7.2005 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2: Nhu cầu tiêu dùng và sản xuất giấy từ giấy loại - nghiên cứu thực trạng các yêu cầu kỹ thuật, chất lượng đối với sản phẩm nhập khẩu từ nguyên liệu giấy, bột giấy và từ cáctông phục vụ quản lý hàng nhập khẩu thay thế biện pháp sử dụng giấy phép nhập khẩu tự động
Bảng 3.2 Nhu cầu tiêu dùng và sản xuất giấy từ giấy loại (Trang 19)
Bảng 3.3:  Công suất, tiêu dùng, sản lượng và nhập khẩu giấy ở Việt Nam - nghiên cứu thực trạng các yêu cầu kỹ thuật, chất lượng đối với sản phẩm nhập khẩu từ nguyên liệu giấy, bột giấy và từ cáctông phục vụ quản lý hàng nhập khẩu thay thế biện pháp sử dụng giấy phép nhập khẩu tự động
Bảng 3.3 Công suất, tiêu dùng, sản lượng và nhập khẩu giấy ở Việt Nam (Trang 20)
Bảng 3.4:  Công suất, tiêu dùng, sản lượng và nhập khẩu giấy tissue - nghiên cứu thực trạng các yêu cầu kỹ thuật, chất lượng đối với sản phẩm nhập khẩu từ nguyên liệu giấy, bột giấy và từ cáctông phục vụ quản lý hàng nhập khẩu thay thế biện pháp sử dụng giấy phép nhập khẩu tự động
Bảng 3.4 Công suất, tiêu dùng, sản lượng và nhập khẩu giấy tissue (Trang 23)
Bảng 3.5 – Số lượng tã giấy, băng vệ sinh, khăn trải bàn nhập khẩu và xuất khẩu - nghiên cứu thực trạng các yêu cầu kỹ thuật, chất lượng đối với sản phẩm nhập khẩu từ nguyên liệu giấy, bột giấy và từ cáctông phục vụ quản lý hàng nhập khẩu thay thế biện pháp sử dụng giấy phép nhập khẩu tự động
Bảng 3.5 – Số lượng tã giấy, băng vệ sinh, khăn trải bàn nhập khẩu và xuất khẩu (Trang 25)
Bảng 3.6 – Chất lượng giấy vệ sinh - nghiên cứu thực trạng các yêu cầu kỹ thuật, chất lượng đối với sản phẩm nhập khẩu từ nguyên liệu giấy, bột giấy và từ cáctông phục vụ quản lý hàng nhập khẩu thay thế biện pháp sử dụng giấy phép nhập khẩu tự động
Bảng 3.6 – Chất lượng giấy vệ sinh (Trang 28)
Bảng 1 – Chỉ tiêu cơ lý - nghiên cứu thực trạng các yêu cầu kỹ thuật, chất lượng đối với sản phẩm nhập khẩu từ nguyên liệu giấy, bột giấy và từ cáctông phục vụ quản lý hàng nhập khẩu thay thế biện pháp sử dụng giấy phép nhập khẩu tự động
Bảng 1 – Chỉ tiêu cơ lý (Trang 33)
Bảng 1 – Chỉ tiêu cơ lý - nghiên cứu thực trạng các yêu cầu kỹ thuật, chất lượng đối với sản phẩm nhập khẩu từ nguyên liệu giấy, bột giấy và từ cáctông phục vụ quản lý hàng nhập khẩu thay thế biện pháp sử dụng giấy phép nhập khẩu tự động
Bảng 1 – Chỉ tiêu cơ lý (Trang 35)
Bảng 3 – Giới hạn vi khuẩn - nghiên cứu thực trạng các yêu cầu kỹ thuật, chất lượng đối với sản phẩm nhập khẩu từ nguyên liệu giấy, bột giấy và từ cáctông phục vụ quản lý hàng nhập khẩu thay thế biện pháp sử dụng giấy phép nhập khẩu tự động
Bảng 3 – Giới hạn vi khuẩn (Trang 42)
Bảng 3.5 – Số lượng  khăn trải bàn nhập khẩu và xuất khẩu trong năm 2011 và 6 - nghiên cứu thực trạng các yêu cầu kỹ thuật, chất lượng đối với sản phẩm nhập khẩu từ nguyên liệu giấy, bột giấy và từ cáctông phục vụ quản lý hàng nhập khẩu thay thế biện pháp sử dụng giấy phép nhập khẩu tự động
Bảng 3.5 – Số lượng khăn trải bàn nhập khẩu và xuất khẩu trong năm 2011 và 6 (Trang 71)
Bảng 3.5 – Số lượng tã giấy, băng vệ sinh  bàn nhập khẩu và xuất khẩu trong năm - nghiên cứu thực trạng các yêu cầu kỹ thuật, chất lượng đối với sản phẩm nhập khẩu từ nguyên liệu giấy, bột giấy và từ cáctông phục vụ quản lý hàng nhập khẩu thay thế biện pháp sử dụng giấy phép nhập khẩu tự động
Bảng 3.5 – Số lượng tã giấy, băng vệ sinh bàn nhập khẩu và xuất khẩu trong năm (Trang 87)
Bảng 3.1 – Chất lượng giấy vệ sinh - nghiên cứu thực trạng các yêu cầu kỹ thuật, chất lượng đối với sản phẩm nhập khẩu từ nguyên liệu giấy, bột giấy và từ cáctông phục vụ quản lý hàng nhập khẩu thay thế biện pháp sử dụng giấy phép nhập khẩu tự động
Bảng 3.1 – Chất lượng giấy vệ sinh (Trang 105)
Bảng 3.2 – Chất lượng khăn giấy - nghiên cứu thực trạng các yêu cầu kỹ thuật, chất lượng đối với sản phẩm nhập khẩu từ nguyên liệu giấy, bột giấy và từ cáctông phục vụ quản lý hàng nhập khẩu thay thế biện pháp sử dụng giấy phép nhập khẩu tự động
Bảng 3.2 – Chất lượng khăn giấy (Trang 106)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w