Nghiên cứu quá trình hình thành và chuyển đổi các tổ chức KHCN và Doanh nghiệp KHCN tại Hungary ...104 II.3 Khảo sát, đánh giá việc thương mại hoá các sản phẩm KH&CN trong việc mở rộng t
Trang 1CƠ QUAN CHỦ TRÌ NHIỆM VỤ CHỦ NHIỆM NHIỆM VỤ
Trang 2MỤC LỤC
A THÔNG TIN CHUNG 3
1 Chủ nhiệm đề tài/dự án: 3
2 Tổ chức chủ trì đề tài/dự án: 3
3 Xuất xứ đề tài: 4
4 Mục tiêu của đề tài/dự án 4
5 Nội dung nghiên cứu 4
7 Tác động của nhiệm vụ đối với kinh tế, xã hội và môi trường 6
B TÌNH HÌNH THỰC HIỆN 6
1 Thời gian thực hiện đề tài/dự án: 6
2 Kinh phí và sử dụng kinh phí: 6
3 Các sản phẩm của đề tài/dự án (dạng kết quả III): 7
CHƯƠNG I PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN NHU CẦU VÀ HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ VÀ TRIỂN KHAI ỨNG DỤNG Ở MỘT SỐ BỘ, NGÀNH, ĐỊA PHƯƠNG VÀ CÁC ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM 8
I.1 Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động chuyển giao công nghệ và triển khai ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn tại các đơn vị thuộc Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam 8
I.2 Phân tích khả năng đáp ứng nhu cầu, điểm mạnh, điểm yếu của hoạt động chuyển giao công nghệ và triển khai ứng dụng ở Viện KHCNVN 14
I.3 Khảo sát, phân tích, đánh giá hoạt động chuyển giao công nghệ và triển khai ứng dụng ở một số bộ, ngành 27
I.4 Khảo sát, phân tích, đánh giá và nhu cầu về hoạt động chuyển giao công nghệ và triển khai ứng dụng tại một số địa phương 62
CHƯƠNG II NGHIÊN CỨU, HỌC TẬP KINH NGHIỆM CỦA HUNGARY VỀ HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ VÀ TRIỂN KHAI ỨNG DỤNG CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀO THỰC TIỄN 87
II.1 Nghiên cứu các cơ chế, chính sách thúc đẩy và khuyến khích hoạt động chuyển giao công nghệ và triển khai ứng dụng tại Hungary .87
II.2 Nghiên cứu quá trình hình thành và chuyển đổi các tổ chức KHCN và Doanh nghiệp KHCN tại Hungary 104
II.3 Khảo sát, đánh giá việc thương mại hoá các sản phẩm KH&CN trong việc mở rộng thị trường KHCN của Hungary và các tác động phi chuẩn 127
II.3 Các tiêu chí đánh giá, thẩm định trình độ công nghệ và những điều kiện đảm bảo sự thành công cho việc chuyển giao công nghệ và triển khai ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn của Hungary .130
Trang 3II.4 Nhận xét, đánh giá, kiến nghị 134 CHƯƠNG III ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ VÀ TRIỂN KHAI ỨNG DỤNG CỦA VIỆN KH&CN VIỆT NAM 137 III.1 Đề xuất các giải pháp về cơ chế tài chính hỗ trợ, khuyến khích hoạt động chuyển giao công nghệ và triển khai ứng dụng .137 III.2 Mô hình tổ chức và các nguồn lực cho hoạt động chuyển giao công nghệ và triển khai ứng dụng .143 III.3 Xây dựng hệ thống quản lý, giám sát hoạt động chuyển giao công nghệ và triển khai ứng dụng của Viện KHCNVN và Website phổ biến, tuyên truyền các hoạt động chuyển giao công nghệ và triển khai ứng dụng vào thực tiễn của ViệnKHCNVN 144 CHƯƠNG IV XÂY DỰNG QUY TRÌNH THỰC HIỆN ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ VÀ TRIỂN KHAI ỨNG DỤNG TẠI VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM THEO TINH THẦN NGHỊ ĐỊNH SỐ 115/2005/NĐ-CP VÀ NGHỊ ĐỊNH SỐ 80/2007/NĐ-CP CỦA CHÍNH PHỦ 157 IV.1 Hoàn thiện cơ chế xây dựng và tổ chức thực hiện nhiệm vụ ứng dụng, nghiên cứu và triển khai khoa học và công nghệ 157 IV.2 Đổi mới cơ chế quản lý và hoạt động của các tổ chức ứng dụng, nghiên cứu
và triển khai khoa học và công nghệ 160 IV.3 Đổi mới cơ chế, chính sách đầu tư tài chính cho hoạt động ứng dụng, nghiên cứu và triển khai khoa học và công nghệ 166 IV.4 Đổi mới cơ chế quản lý nhân lực ứng dụng, nghiên cứu và triển khai khoa học và công nghệ 169 IV.5 Phát triển thị trường công nghệ 171 IV.6 Hoàn thiện cơ chế hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước về ứng dụng, nghiên cứu và triển khai khoa học và công nghệ 174 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 175 TÀI LIỆU THAM KHẢO 178
Trang 4VIỆN KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, TƯ VẤN
VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 20 tháng 1 năm 2013
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ ĐỀ TÀI
A THÔNG TIN CHUNG
Tên đề tài: “Hợp tác nghiên cứu các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động chuyển giao công nghệ và triển khai ứng dụng của Viện Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam vào thực tiễn” với thời gian thực hiện 2 năm (2010-
2011)
Hợp tác theo Nghị định thư với Hungary
1 Chủ nhiệm đề tài/dự án:
Họ và tên: Nguyễn Thành Khôi
Ngày, tháng, năm sinh: 1/7/1955 Nam/ Nữ: Nam
Học hàm, học vị: Thạc sĩ
Chức danh khoa học: Chức vụ: Giám đốc
Điện thoại: Tổ chức: 0437913360, Nhà riêng:
Mobile: 0913221916
Fax: 84 4 37913360 E-mail: nguyenthanhkhoi@gmail.com
Tên tổ chức đang công tác: Trung tâm Đào tạo, Tư vấn và Chuyển giao công nghệ, Viện KHCNVN
Địa chỉ tổ chức: 18 Hoàng Quốc Việt, Hà Nội
Địa chỉ : 18 Hoàng Quốc Việt, Hà Nội
Họ và tên thủ trưởng tổ chức : Nguyễn Thành Khôi
Trang 5- Quyết định 2165/QĐ-BKHCN ngày 18 tháng 11 năm 2009 về việc phê duyệt danh mục và kinh phí thực hiện các nhiệm vụ hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ theo Nghị định thư thực hiện từ năm 2010 với kinh phí hỗ trợ
là 1.470 triệu đồng, thực hiện trong năm 2010-2011
- Hợp đồng thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ theo Nghị định thư số 47/2010/HĐ-NĐT ký ngày 07 tháng 5 năm 2010
4 Mục tiêu của đề tài/dự án
- Nắm vững được phương pháp luận và kinh nghiệm của Hungary trong việc xây dựng và phát triển hệ thống quản lý, theo dõi giám sát, quảng bá hoạt động chuyển giao công nghệ
- Đề xuất được các giải pháp cần thiết cho việc xây dựng và phát triển hệ thống quản lý, theo dõi giám sát , hỗ trợ, khuyến khích hoạt động chuyển giao công nghệ và triển khai ứng dụng tại Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
- Xây dựng Quy trình thực hiện để nâng cao hiệu quả hoạt động chuyển giao công nghệ và triển khai ứng dụng của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam theo tinh thần Nghị định số 115/2005/NĐ-CP và Nghị định số 80/2007/NĐ-CP của Chính phủ
5 Nội dung nghiên cứu
I Phân tích, đánh giá tổng quan nhu cầu và hiện trạng hoạt động chuyển giao
Trang 6công nghệ và triển khai ứng dụng ở một số Bộ, ngành, địa phương và các đơn vị trực thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
I.1 Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động chuyển giao công nghệ và triển khai ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn tại các đơn vị thuộc Viện KHCNVN trong thời gian qua
I.2 Phân tích khả năng đáp ứng nhu cầu, điểm mạnh, điểm yếu của hoạt động chuyển giao công nghệ và triển khai ứng dụng ở Viện KHCNVN
I.3 Khảo sát, phân tích, đánh giá hoạt động chuyển giao công nghệ và triển khai ứng dụng ở một số bộ, ngành (Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
I.4 Khảo sát, phân tích, đánh giá và nhu cầu về hoạt động chuyển giao công nghệ và triển khai ứng dụng tại một số địa phương
II Nghiên cứu, học tập kinh nghiệm của Hungary về hoạt động chuyển giao công nghệ và triển khai ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn
II.1 Nghiên cứu các cơ chế, chính sách thúc đẩy và khuyến khích hoạt động chuyển giao công nghệ và triển khai ứng dụng tại Hungary
II.2.Nghiên cứu quá trình hình thành và chuyển đổi các tổ chức KH&CN và Doanh nghiệp KH&CN tại Hungary
II.3.Khảo sát, đánh giá việc thương mại hoá các sản phẩm KH&CN trong việc mở rộng thị trường KH&CN của Hungary
II.4.Nghiên cứu những tác động phi chuẩn (không thuận chiều) đến hoạt động chuyển giao công nghệ và ứng dụng triển khai các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn của Hungary
II.5 Các tiêu chí đánh giá, thẩm định trình độ công nghệ và những điều kiện đảm bảo sự thành công cho việc chuyển giao công nghệ và triển khai ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn của Hungary
III Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động chuyển giao công nghệ và triển khai ứng dụng của Viện KHCNVN
III.1 Đề xuất các giải pháp về cơ chế tài chính hỗ trợ, khuyến khích hoạt động chuyển giao công nghệ và triển khai ứng dụng
III.2 Mô hình tổ chức và các nguồn lực cho hoạt động chuyển giao công nghệ và triển khai ứng dụng
III.3 Xây dựng hệ thống quản lý, giám sát hoạt động chuyển giao công nghệ và triển khai ứng dụng của Viện KHCNVN
Trang 7III.4 Xây dựng trang Website để phổ biến, tuyên truyền các hoạt động chuyển giao công nghệ và triển khai ứng dụng vào thực tiễn của Viện KHCNVN
IV Xây dựng quy trình thực hiện để nâng cao hiệu quả công tác chuyển giao công nghệ và triển khai ứng dụng tại Viện KHCNVN theo tinh thần Nghị định số 115/2005/NĐ-CP và Nghị định số 80/2007/NĐ-CP của Chính phủ
6 Phương pháp nghiên cứu, điều tra khảo sát
1 Phương pháp kế thừa trong nghiên cứu, đánh giá các tài liệu liên quan
2 Phương pháp thống kê trong điều tra, khảo sát đánh giá hiện trạng
3 Phương pháp chuyên gia trong nghiên cứu lựa chọn các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác chuyển giao công nghệ và triển khai ứng dụng
4 Phương pháp so sánh, mô phỏng và tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu những nền tảng công nghệ được sử dụng trong hệ thống quản lý, giám sát hoạt
động chuyển giao công nghệ và triển khai ứng dụng
7 Tác động của nhiệm vụ đối với kinh tế, xã hội và môi trường
- Bồi dưỡng, đào tạo cán bộ khoa học và công nghệ
- Bồi dưỡng các cán bộ của Viện KHCNVN nâng cao trình độ quản lý các hoạt động chuyển giao công nghệ và triển khai ứng dụng
- Đối với lĩnh vực khoa học có liên quan
- Thúc đẩy phát triển thị trường công nghệ
- Đối với kinh tế - xã hội
Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để Viện KHCNVN ban hành Quy trình thực hiện để nâng cao hiệu quả hoạt động chuyển giao công nghệ và triển khai ứng dụng, thúc đẩy phát triển thị trường công nghệ
và góp phần thực hiện thắng lợi Nghị định số 115/2005/NĐ-CP và Nghị định số 80/2007/NĐ-CP của Chính phủ
B TÌNH HÌNH THỰC HIỆN
1 Thời gian thực hiện đề tài/dự án:
- Theo Hợp đồng đã ký kết: từ tháng năm 2010 đến tháng 12 năm 2011
- Thực tế thực hiện: từ tháng năm 2010 đến tháng 12 năm 2011
- Được gia hạn (nếu có) :
- Lần 1 từ tháng 01 năm 2012 đến hết tháng 6 năm 2012
2 Kinh phí và sử dụng kinh phí:
Trang 8- Tổng số kinh phí thực hiện:1.470 tr.đ, trong đó:
+ Kính phí hỗ trợ từ SNKH: 1.470 tr.đ
+ Tỷ lệ và kinh phí thu hồi đối với dự án: Không
3 Các sản phẩm của đề tài/dự án (dạng kết quả III):
- Báo cáo khoa học về kinh nghiệm của Hungary trong việc nâng cao năng lực công nghệ cho khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Báo cáo khoa học về hiện trạng năng lực công nghệ của doanh nghiệp trong một số lĩnh vực ở Việt Nam
- Báo cáo khoa học xác định, lựa chọn và đề xuất một số giải pháp cơ chế chính sách thị trường công nghệ để nâng cao năng lực công nghệ cho khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
- Báo cáo khoa học đề xuất hai mô hình Trung tâm hỗ trợ nâng cao năng lực công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam
Trang 9CHƯƠNG I PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN NHU CẦU VÀ HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ VÀ TRIỂN KHAI ỨNG DỤNG Ở MỘT SỐ BỘ, NGÀNH, ĐỊA PHƯƠNG VÀ CÁC ĐƠN VỊ TRỰC
THUỘC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
I.1 Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động chuyển giao công nghệ và triển khai ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn tại các đơn vị thuộc Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam
Hoạt động chuyển giao công nghệ tại Việt Nam hiện nay bao gồm các hình thức chủ yếu là chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam, chuyển giao công nghệ trong nước và chuyển giao công nghệ từ Việt Nam ra nước ngoài Trong đó, hình thức chuyển giao công nghệ trong nước luôn được Nhà nước quan tâm đặc biệt và khuyến khích đầu tư Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (Viện KHCNVN) là một tổ chức khoa học và công nghệ (KH&CN) hàng đầu của đất nước, có một tiềm lực rất lớn về triển khai ứng dụng KH&CN và thương mại hóa các sản phẩm KH&CN Với phương châm hoạt động khoa học gắn với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, các đơn vị của Viện đều có định hướng ứng dụng thực tế cao Trong những năm gần đây Viện đã đẩy mạnh việc áp dụng và triển khai các kết quả nghiên cứu KH&CN vào thực tiễn sản xuất thông qua hoạt động sản xuất, kinh doanh, tư vấn, dịch vụ khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ của các đơn vị nghiên cứu, các doanh nghiệp nhà nước, các đơn vị hoạt động theo nguyên tắc tự trang trải về tài chính của Viện
Trong những năm qua nhiều kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ của các đơn vị trực thuộc Viện được đưa vào ứng dụng trong thực tế thông qua các hợp đồng nghiên cứu chuyển giao hoặc các dịch vụ khoa học công nghệ Để tạo cầu nối giữa nhà phát triển công nghệ với người sử dụng công nghệ, tạo điều kiện cho các nhà công nghệ có điều kiện nắm bắt những yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn, đồng thời thúc đẩy nhanh quá trình đưa sản phẩm vào thực tế Viện KHCNVN đã ký nhiều bản thoả thuận hợp tác nghiên cứu và triển khai công nghệ với nhiều UBND các tỉnh như Tp Hải Phòng, Thừa Thiên Huế, Bến Tre, Quảng Nam, Tp Đà Nẵng…các đơn vị như Tổng cục kỹ thuật -Bộ công an, công
ty cổ phần dược phẩm SAVI… để nhằm đưa nhanh các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn Cụ thể xin đơn cử một vài kết quả áp dụng kết quả nghiên cứu để chuyển giao và triển khai công nghệ trong một vài lĩnh vực, như Viện Hoá học, Viện Công nghệ môi trường đã nghiên cứu phát triển thành công và đưa quy
Trang 10trình công nghệ và chế tạo thiết bị xử lý các loại nước thải, rác thải y tế, các chất độc hại, xử lý các nguồn nước sinh hoạt bị ô nhiễm, nghiên cứu phát triển các công nghệ chiết tách và tổng hợp các hoạt chất sinh học từ các hợp chất tự nhiên
để bào chế các loại thuốc đặc trị các bệnh hiểm nghèo … Viện cũng đã đưa
“Quy trình dung dịch hoạt hoá điện hoá trong một số ngành trồng trọt, chăn nuôi
và chế biến thực phẩm” vào việc phòng bệnh gia cầm đạt hiệu quả rất cao, đặc biệt là các đợt dịch cúm gà; ngoài ra Viện còn đưa kết quả đó để ứng dụng vào việc kéo dài thời hạn bảo quản hoa quả nho ở Ninh Thuận, cam ở Vĩnh Long, thanh long ở Bình Thuận…giúp hạn chế rất nhiều đến những thiệt hại gây ra cho người nông dân; Viện Công nghệ thông tin đã nghiên cứu phát triển các phần mềm hiện đại như phần mềm nhân dạng chữ viết, phần mềm nhận dạng tiếng Việt, hệ thống chương trình nhận dạng chuỗi lệnh, các công nghệ tính toán và bảo mật thông tin là những kết quả nghiên cứu phát triển mới đã và đang được đưa vào áp dụng rộng dãi trong thực tế; Viện Công nghệ sinh học và Viện Công nghệ nhiệt đới đã nhiều năm phát triển và ứng dụng thành công công nghệ gen, công nghệ tế bào thực vật, công nghệ tế bào động vật, công nghệ vi sinh, công nghệ protein và enzyme để tạo ra được một số giống lúa mới, gống cây trồng và vật nuôi có tính chống trị cao đối với các điều kiện khí hậu, thời tiết khắc nghiệt, đồng thời lại có năng xuất cao, ổn định như các giống lúa DR2,DR3 đã được phát triển và trồng đại trà trên hàng ngàn hecta ở các tỉnh Tây nguyên, Trung du
và Đồng bằng Bắc bộ, loài cây xoan Ấn Độ, cây Paulownia, cây điều đã được nhân giống đại trà ở các vùng cát, vùng nắng hạn ở các tỉnh Nam Trung Bộ và vùng ven biển Trung Bộ; giống bò sữa lai cao sản đã được nhân giống bằng công nghệ cấy phôi, các chế phẩm như phân bón vi sinh, thuôc trừ sâu từ thảo mộc, các chế phẩm sinh học bảo quản nông sản để thay thế các loại hoá chất đã
và đang được ứng dụng rộng rãi ở rất nhiều địa phương trong cả nước; Viện Khoa học vật liệu, Viện Hoá học đã nghiên cứu phát triển công nghệ vật liệu mới, chế tạo thành công các vật liệu tiên tiến có tính chất đặc biệt đang được ứng dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp như vật liệu nanomet, vật liệu từ, vật liệu xúc tác, vật liệu đất hiếm…
Mức đầu tư cho KH&CN tuy đã tăng, nhưng chưa đáp ứng nhu cầu phát triển và vẫn dựa chủ yếu từ nguồn ngân sách Nhà nước, chưa huy động được các nguồn đầu tư xã hội, nhất là từ các doanh nghiệp Cơ chế, chính sách đầu tư cho KH&CN chưa được tháo gỡ để tạo nguồn lực và động lực cho các tổ chức, các nhà khoa học phát huy tối đa năng lực sáng tạo và đưa nhanh kết quả nghiên cứu vào ứng dụng trong thực tế Công tác hội nhập quốc tế về KH&CN cũng chưa
Trang 11được quan tâm đẩy mạnh để tìm kiếm, tiếp thu, làm chủ, tiến tới cải tiến công nghệ nhập từ nước ngoài phục vụ đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong xu thế hội nhập Các doanh nghiệp nhà nước lớn cũng ít quan tâm đến đổi mới công nghệ vì thường có vị thế độc quyền, không chịu sức ép cạnh tranh và có tâm lý dựa dẫm vào sự bảo
hộ của Nhà nước Phần lớn máy móc, thiết bị và công nghệ sản xuất đã lạc hậu, cần phải đầu tư nâng cấp và thay thế Do vậy, để thực hiện đổi mới hoạt động KH&CN,Chính phủ đã ban hành Nghị định số 115/2005/NĐ-CP về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN của nhà nước và Nghị định số 80/2007/NĐ-CP về doanh nghiệp KH&CN Nghị định số 115/2005/NĐ-CP đã tạo điều kiện nâng cao tính năng động sáng tạo cho các tổ chức KH&CN, tạo ra các điều kiện bắt buộc cho việc kết hợp nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với sản xuất, kinh doanh, đào tạo nguồn nhân lực và đẩy mạnh việc xã hội hoá các hoạt động KH&CN Nghị định số 80/2007/NĐ-CP quy định việc tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp KH&CN, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức và các cá nhân trong việc ứng dụng các kết quả KH&CN vào sản xuất và kinh doanh, đẩy mạnh tiến trình thương mại hoá các sản phẩm và hàng hoá được tạo ra qua quá trình nghiên cứu KH&CN và thúc đẩy phát triển thị trường công nghệ
Mặc dù trong thời gian qua việc ứng dụng và triển khai kết quả nghiên cứu của Viện KHCNVN phong phú, khá đa dạng, nhưng đa phần còn dừng lại ở mức độ ban đầu, ít có sản phẩm ở trình độ cao và chưa triển khai rộng rãi, các doanh nghiệp Nhà nước, các đơn vị chuyển giao công nghệ của Viện chưa thực
sự là cầu nối giữa các đơn vị nghiên cứu với thị trường, chưa thực sự đóng vai trò là “bà đỡ” cho các sản phẩm công nghệ Tuy nhiên, khi ý tưởng thương mại hóa, đổi mới công nghệ, triển khai ứng dụng kết quả KH&CN được hình thành
từ các nhiệm vụ nghiên cứu của các cá nhân thuộc các tổ chức KH&CN của Viện không thể trở thành hiện thực ngay trong một thời gian ngắn Thông thường các ý tưởng đổi mới đó được hiện thực hóa theo hình thức sản phẩm mẫu
và sản xuất thử nghiệm nhưng các sản phẩm mẫu đó thường không được thích ứng để thương mại hóa ngay trên thị trường bởi vì sản phẩm mẫu không thể được sản xuất với số lượng đủ để cạnh tranh, hay sản phẩm mẫu có các đặc tính chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường hay đơn giản là thiếu kênh thương mại hóa hợp lý để gia nhập thị trường Ngoài ra cơ chế chính sách của Nhà nước cũng còn rất nhiều vướng mắc như: việc ưu đãi thuế cho các hoạt động ứng dụng triển khai công nghệ hầu như chưa thực thi, chính sách thuế được vận dụng
Trang 12như đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các sản phẩm đã ổn định, chính sách khuyến khích, bảo hộ không có, thị trường khoa học công nghệ mới ở trong giai đoạn mới hình thành, còn nhỏ lẻ, manh mún, hoạt động chưa chuyên nghiệp, các nhà công nghệ sau khi có sản phẩm phải tự đi tìm người tiêu thụ, rất khó khăn trong giới thiệu, quảng bá… Do vậy, để hoạt động chuyển giao công nghệ và triển khai ứng dụng có thể đạt hiệu quả cao hơn trong thời gian tới tại Viện KHCNVN cần tiến hành tổng kết, đánh giá đầy đủ hơn về hoạt động này trong thời gian qua để rút ra những bài học thành công và chưa thành công, từ
đó nâng cao hơn nữa những nhận thức về lợi ích và chi phí trên nguyên tắc đôi bên cùng có lợi; xây dựng hệ thống quản lý, giám sát hoạt động chuyển giao công nghệ và triển khai ứng dụng theo tinh thần thần Nghị định số 115/2005/NĐ-CP và Nghị định số 80/2007/NĐ-CP của Chính phủ
Sơ lược một số tình hình hoạt động chuyển giao công nghệ của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam như sau [9]:
I.1.1 Giới thiệu Viện KHCNVN
Viện KHCNVN là cơ quan sự nghiệp thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng nghiên cứu cơ bản về khoa học tự nhiên và phát triển công nghệ theo các hướng trọng điểm của Nhà nước nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho công tác quản lý khoa học, công nghệ và xây dựng chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ có trình độ cao cho đất nước theo quy định của pháp luật
Viện là cơ quan khoa học và công nghệ hàng đầu của cả nước, có vị trí đầu tầu trong hệ thống khoa học công nghệ quốc gia, thực hiện các hoạt động nghiên cứu cơ bản về khoa học tự nhiên và phát triển công nghệ một cách toàn diện, trình độ cao
Với tiềm lực khoa học công nghệ trình độ cao sẵn có, Viện KHCNVN luôn sẵn sàng đáp ứng đòi hỏi xử lý các vấn đề phát sinh của tình hình thực tiễn Bên cạnh đó, Viện KHCNVN cũng thực hiện công tác đào tạo nhân lực trình độ cao cho đất nước
I.1.2 Chức năng nhiệm vụ
Ngày 12 tháng 5 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Nghị định
số 62/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam Theo đó, Viện KHCNVN là cơ quan sự nghiệp thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng nghiên cứu cơ bản về
Trang 13khoa học tự nhiên và phát triển công nghệ theo các hướng trọng điểm của Nhà nước nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho công tác quản lý khoa học, công nghệ và xây dựng chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế
- xã hội và đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ có trình độ cao cho đất nước theo quy định của pháp luật
Viện KHCNVN thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau đây:
1 Trình Chính phủ dự thảo nghị định quy định, sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện; trình Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập mới, đổi tên, tổ chức lại, giải thể các tổ chức, đơn vị của Viện thuộc thẩm quyền của Thủ tướng
2 Về chiến lược, quy hoạch, chương trình, kế hoạch và việc tổ chức thực hiện:
a) Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chiến lược, quy hoạch, các chương trình, kế hoạch dài hạn, năm năm và hàng năm, các dự án, đề án quan trọng của Viện; tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, chương trình, kế hoạch sau khi được phê duyệt;
b) Tham gia xây dựng chiến lược phát triển khoa học tự nhiên và công nghệ; tham gia hoạch định chính sách phát triển khoa học, công nghệ, giáo dục, đào tạo, góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường của đất nước;
c) Nghiên cứu tổng hợp các nguồn tài nguyên thiên nhiên, điều kiện tự nhiên và môi trường để cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng, ban hành chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các vùng và cả nước;
d) Tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học tự nhiên và phát triển công nghệ theo các hướng trọng điểm của Nhà nước trong các lĩnh vực: công nghệ thông tin; công nghệ sinh học; khoa học vật liệu; nghiên cứu biển, hải đảo và công trình biển; sinh thái và môi trường; tài nguyên sinh học và hợp chất thiên nhiên; kỹ thuật điện tử; thiết bị khoa học và tự động hoá; dự báo, phòng, chống
và giảm nhẹ thiên tai; công nghệ vũ trụ;
đ) Đề xuất và chủ trì thực hiện các chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp nhà nước theo sự phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;
e) Triển khai, ứng dụng và chuyển giao các kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ mới; tổ chức sản xuất, kinh doanh, tư vấn dịch vụ về các lĩnh vực chuyên môn vào thực tiễn sản xuất và đời sống, góp phần xây dựng, phát triển
Trang 14các ngành công nghiệp công nghệ cao phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước và theo quy định của pháp luật;
g) Thông tin, dự báo, cảnh báo động đất, sóng thần;
h) Thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đáp ứng yêu cầu phát triển thị trường khoa học, công nghệ;
i) Thẩm định hoặc tham gia thẩm định trình độ công nghệ, xét duyệt luận chứng kinh tế - kỹ thuật các công trình trọng điểm, quan trọng của Nhà nước và của các địa phương theo yêu cầu của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và đề nghị của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
k) Đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ có trình độ cao; tổ chức đào tạo sau đại học về khoa học tự nhiên và công nghệ theo quy định của pháp luật; Quyết định các dự án đầu tư của Viện theo quy định của pháp luật
3 Về hợp tác quốc tế:
a) Hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ theo quy định của pháp luật;
b) Tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các chương trình, dự án hợp tác quốc tế đã ký kết;
c) Tham gia các hội nghị, hội thảo, chương trình hợp tác quốc tế và quyết định tổ chức các hội nghị, hội thảo quốc tế theo quy định của pháp luật; quản lý các hội nghị, hội thảo và kế hoạch hợp tác quốc tế của các đơn vị trực thuộc
4 Quyết định và chỉ đạo việc thực hiện chương trình cải cách hành chính theo mục tiêu, nội dung chương trình cải cách hành chính nhà nước sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
5 Về biên chế, cán bộ, viên chức:
a) Lập kế hoạch biên chế của Viện gửi Bộ Nội vụ tổng hợp, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; quyết định phân bổ, quản lý chỉ tiêu biên chế sự nghiệp của các cơ quan, đơn vị trực thuộc; hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra đối với các đơn vị trực thuộc trong việc chấp hành quản lý biên chế;
b) Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp cụ thể để tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính trong cán bộ, viên chức thuộc thẩm quyền; phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền trong các hoạt động của Viện;
c) Kiểm tra việc chấp hành chính sách, pháp luật và nhiệm vụ được giao đối
Trang 15với cán bộ, viên chức và người lao động thuộc thẩm quyền quản lý; giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến cán bộ, viên chức thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật
6 Về quản lý tài chính, tài sản:
a) Xây dựng dự toán ngân sách hàng năm của Viện trình cơ quan nhà nước
có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước;
b) Quyết định phân bổ chỉ tiêu, kế hoạch; kiểm tra việc chi tiêu; chịu trách nhiệm quyết toán và có quyền điều chỉnh trong phạm vi tổng mức thu, chi tài chính được phê duyệt để thực hiện nhiệm vụ được giao nhưng không được thay đổi mục tiêu, kế hoạch đã được duyệt;
c) Quản lý tài chính, tài sản; sử dụng có hiệu quả tài sản do Nhà nước giao
và các nguồn tài sản khác; thực hiện công tác kế toán, thống kê theo quy định của pháp luật
7 Về quản lý doanh nghiệp nhà nước:
a) Chỉ đạo việc sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp thuộc quyền quản lý của Viện theo quy định của Chính phủ; tổ chức triển khai sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;
b) Thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể về đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp thuộc quyền quản lý của Viện theo quy định của pháp luật
8 Báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hoặc Bộ trưởng quản lý ngành, lĩnh vực theo quy định của pháp luật
9 Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao và theo quy định của pháp luật
(Theo Website Viện KHCNVN, http://www.vast.ac.vn)
I.2 Phân tích khả năng đáp ứng nhu cầu, điểm mạnh, điểm yếu của hoạt động chuyển giao công nghệ và triển khai ứng dụng ở Viện KHCNVN
Hoạt động ứng dụng và chuyển giao công nghệ của Viện KHCNVN đã đạt được các hiệu quả bước đầu và từng bước đưa ứng dụng vào thực tiễn Các sản phẩm khoa học đã ngày càng được thị trường chấp nhận và chuyển giao có hiệu quả
Theo các báo cáo của các đơn vị trực thuộc, trong những năm gần đây, các sản phẩm khoa học công nghệ của Viện KHCNVN có thể được kể đến như là:
Trang 16Các hoạt động nghiên cứu cơ bản của Viện KHCNVN đã và đang từng bước góp phần vào hoạt động chuyển giao công nghệ vào thực tiễn Các sản phẩm trải dài theo các hoạt động nghiên cứu cơ bản của Viện, bao gồm: Toán học, Vật lý, Công nghệ sinh học, Khoa học vật liệu, Công nghệ vũ trụ, Công nghệ thông tin,…
Các sản phẩm tiêu biểu có thể được kể đến là:
Thiết bị đo xung laser cực ngắn được phát triển tại Viện Vật lý; Thiết bị laser xung pico-giây hồng ngoại, nhìn thấy và tử ngoại được phát triển tại Viện Vật lý; Nghiên cứu tạo protein tái tổ hợp - yếu tố đông máu người trong tế bào động vật nuôi cấy; Nghiên cứu và xác định enzyme lignin peroxidase (LiP), manganese peroxidase (MnP) và laccase từ vi sinh vật phân hủy các hợp chất hữu cơ bền vững (POP) và các chất vòng thơm ô nhiễm khác; Nghiên cứu ứng dụng công nghệ RNAi tạo cây bông chuyển gen kháng bệnh virus xanh lùn; Đánh giá mức độ phiên mã một số gen hỗ trợ chẩn đoán ung thư vú bằng kỹ thuật real time RT-PCR đa gen; Nghiên cứu kháng nguyên biểu hiện sớm, đặc hiệu ung thư tuyến tiền liệt (EPCA) để tạo KIT chẩn đoán
Nghiên cứu hoàn thiên quy trình chuyển hóa sinh học phytosterol thành androstenedion trong hệ thống lên men quy mô 5-10 lít; Nghiên cứu tạo kháng nguyên tái tổ hợp Staphylococcal enterotoxin B (SEB) phục vụ cho tạo Kit phát hiện nhanh ngộ độc thực phẩm do độc tố tụ cầu vàng; Nghiên cứu tạo bộ kit – ELISA định lượng Alpha-fetoprotein (AFP) trong huyết thanh để hỗ trợ chẩn đoán bệnh ung thư tế bào gan (HCC) ở người
Nghiên cứu, thu nhận enzyme uricase từ vi khuẩn làm nguyên liệu sản xuất thuốc điều trị tăng axit uric máu
Nghiên cứu vật liệu hạt nanô nền từ và polyme ứng dụng trong sinh y học Xây dựng quy trình chế tạo ổn định các chấm lượng tử CdSe/ZnS, CdTe/CdS và InP/ZnS có hiệu suất huỳnh quang cao
Xây dựng được quy trình chế tạo các vật liệu nanô phát quang mạnh
Nghiên cứu thành công việc gắn kết các hạt vàng nanô với các kháng thể và thử nghiệm việc ứng dụng để đánh dấu các virus
Chế tạo thành công các hạt nanosilica/ormosil kích thước 20 – 80 nm chứa tâm mầu RB, R6G, Coumarin đơn phân tán trong nước với các nhóm chức NH2,
SH, OH và COOH trên bề mặt
Nghiên cứu tổng hợp phức chất PAMAM Dendrimer – Pt2+
Ống nanô carbon; Pin mặt trời; Vật liệu xúc tác; Vật liệu kim loại và công
Trang 17nghệ luyện kim mới; Vật liệu compozit; Bảo vệ vật liệu chống ăn mòn
Xây dựng một số mô hình mẫu bằng công nghệ thực tại ảo phục vụ mô phỏng các hiệu ứng và mô phỏng một số hiệu ứng cơ bản có trong các bài giảng phổ thông
Hoàn thành nghiên cứu các phương pháp cảnh báo dịch bệnh và triển khai một số các công cụ phần mềm đã có; Bước đầu thiết kế hệ thống cảnh báo và xây dựng hệ thống phần mềm hỗ trợ cảnh báo dịch bệnh
Đang phát triển dịch vụ LBS dẫn đường cho ô tô trong thành phố sử dụng cho thiết bị di động cầm tay, đã thử nghiệm cho trên khu vực nội thành, thành phố Hà Nội phục vụ du lịch
Nghiên cứu ứng dụng phương pháp đồng hóa số liệu hiệu chỉnh hệ số cho bài tóan ô nhiễm (nước mặt) hai chiều và phương pháp lọc kalman hiệu chỉnh kết quả cho bài tóan hai chiều
Nghiên cứu ứng dụng các phương pháp toán học mới nhất về công nghệ xử
lý tín hiệu số để xây dựng công cụ phục hồi chất lượng tư liệu ảnh (CINE TOOL)
Hoàn thành các nghiên cứu về hệ thống báo cáo hỗ trợ quản lý trong các hệ thống thông tin quản lý:
Thiết kế chế tạo dàn từ trường với mức năng lượng khác nhau dùng trong nuôi cấy mô tế bào tạo giống cây trồng; Chế tạo thiết bị hoạt hoá nước bằng từ trường dùng trong kích thích sinh trưởng cây con trong vườn ươm
Nghiên cứu thiết kế, hoàn thiện công nghệ chế tạo hệ thiết bị xử lý tự động quả lọc máu sau điều trị để tái sử dụng cho bệnh nhân chạy thận nhân tạo
Thiết kế tích hợp thiết bị đo thời gian sống phát quang trên cơ sở kỹ thuật
đo đơn photon tương quan thời gian
Chế tạo hệ Thiết bị ozon khử khuẩn trong môi trường Bệnh viện và đang thử nghiệm tính năng khử khuẩn các dụng cụ y tế tại Bệnh viện Hữu nghị Hà Nội, Bệnh viện Quân đội 108
Nghiên cứu công nghệ chế tạo bộ ghép tách sóng quang bằng cách tử Bragg
và giải pháp ứng dụng để tăng khả năng ghép thêm kênh quang cho mạng WDM hai chiều với tốc độ 2,5 Gbit/s trên một bước song, tách bước sóng quang thông tin trong vùng sóng 1530 – 1580 nm
Thiết bị đo ghi phân tích dao động dùng cho cân bằng rô-to BalDaq-E
Nghiên cứu ứng dụng dữ liệu vệ tinh xác định mực nước biển dâng do biến đổi khí hậu và đánh giá tác động của chúng tại một vùng đồng bằng ven biển
Trang 18của Việt Nam, tính toán mực nước biển dâng dựa theo dữ liệu vệ tinh
Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo hệ phổ kế phản xạ đặt trên máy bay cung cấp
số liệu phục vụ cho viễn thám, ứng dụng đo phổ phản xạ của các đối tượng mặt đất trong vùng sóng nhìn thấy và hồng ngoại
Ứng dụng phổ kế siêu cao tần trong đo đạc và giám sát các thông số môi trường như độ ẩm đất, sinh khối thực vật, nghiên cứu phổ phát xạ tự nhiên theo chu kỳ phát triển sinh học của đồng lúa nước, làm cơ sở để dự báo năng suất lúa Tìm kiếm và phát triển các chất có hoạt tính sinh học
(Chi tiết tham khảo phụ lục 1)
Trong thời gian qua, Viện KHCNVN cũng đã có những bước tiến quan trọng trong hoạt động ứng dụng và triển khai công nghệ, thể hiện bằng các chiến lược và quy hoạch phát triển của Viện, đó là:
a) Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
Phát triển quy mô và nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu khoa học, phát triển và chuyển giao công nghệ Đẩy mạnh các hướng nghiên cứu có tính chất đa ngành, liên ngành, trọng điểm, tích hợp nhiều chuyên môn của các viện chuyên ngành nhằm tận dụng và phát huy lợi thế so sánh của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam Ưu tiên phát triển một số hướng khoa học và công nghệ mũi nhọn, lĩnh vực nghiên cứu mới Phát triển một số công nghệ nguồn, công nghệ thích nghi và ứng dụng một số công nghệ mới nhằm tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế, phục vụ thiết thực các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tăng cường đầu tư kinh phí cho nghiên cứu cơ bản, nhất là các lĩnh vực thế mạnh của Viện KHCNVN, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước, phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ quốc gia
Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng, phát triển và chuyển giao công nghệ, phục
vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và mục đích công cộng
Tập trung phát triển công nghệ cơ bản, công nghệ nguồn góp phần phục vụ việc sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng, năng lực cạnh tranh của các sản phẩm trọng điểm, sản phẩm chủ lực quốc gia
Tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong việc ứng dụng và phát triển công nghệ cao, kỹ thuật hiện đại và công nghệ mới phục vụ trực tiếp cho việc triển khai thực hiện Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020,
Trang 19Kế hoạch phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao đến năm 2020 và các chương trình, đề án khoa học và công nghệ quốc gia đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
b) Phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ
Nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ nghiên cứu của Viện KHCNVN theo hướng tiệm cận tới trình độ quốc tế Xây dựng một số nhóm nghiên cứu mạnh, đạt trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới, có đủ năng lực giải quyết những nhiệm vụ khoa học và công nghệ quan trọng của quốc gia Ưu tiên đầu tư có trọng tâm cho các hướng nghiên cứu khoa học và công nghệ trọng điểm của Viện KHCNVN trong từng giai đoạn cụ thể
Đẩy mạnh công tác đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ Gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo với nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ theo hướng tập trung ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ Hình thành và phát triển các doanh nghiệp khoa học và công nghệ từ các viện chuyên ngành Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến chuyển giao, thương mại hóa công nghệ, hỗ trợ đăng ký bảo hộ và khai thác sáng chế
Tăng cường đầu tư nâng cấp trang thiết bị để nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của các Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia do Viện KHCNVN quản lý
Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, trang thiết bị theo các chuẩn mực quốc tế để phục vụ có hiệu quả công tác nghiên cứu phát triển của các viện chuyên ngành trực thuộc Viện KHCNVN
c) Đẩy mạnh hợp tác quốc tế
Đẩy mạnh các hoạt động hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ; nâng cao sự hiện diện của Viện KHCNVN trong các hoạt động khoa học và công nghệ quốc tế (hội nghị, hội thảo, chương trình hợp tác nghiên cứu, trao đổi khoa học, công bố quốc tế, công tác quảng bá hình ảnh…)
Tăng cường các hoạt động giao lưu, hợp tác nghiên cứu giữa Viện KHCNVN với các tổ chức khoa học và công nghệ có uy tín của các nước trong khu vực Đông Nam Á và các cơ quan nghiên cứu quốc tế khác
Tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế để phục vụ có hiệu quả việc đổi mới công nghệ quốc gia, nhất là công nghệ cao và các chương trình, đề án khoa học và công nghệ quốc gia Xúc tiến thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển công nghệ của Việt Nam ra thế giới
d) Nghiên cứu cơ bản
Trang 20Tập trung nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực khoa học tự nhiên cơ sở và các ngành có tiềm năng, lợi thế phát triển nhằm nâng cao trình độ, vị thế của Viện KHCNVN
Đầu tư kinh phí thỏa đáng cho nghiên cứu cơ bản theo yêu cầu phát triển đất nước Phát triển khoa học và công nghệ, phục vụ quốc phòng, an ninh và mục đích công cộng
Đánh giá kết quả nghiên cứu cơ bản thông qua số lượng các công bố quốc
tế trên các tạp chí chuyên ngành có uy tín
Gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu cơ bản với công tác đào tạo sau đại học
và đào tạo nguồn nhân lực khoa học và công nghệ
Ưu tiên đầu tư để xây dựng một số tổ chức khoa học và công nghệ trọng điểm, nhóm nghiên cứu mạnh về nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và công nghệ đạt trình độ tiên tiến ở khu vực Đông Nam Á
e) Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ
Tập trung đầu tư nghiên cứu vào các hướng khoa học và công nghệ mũi nhọn và trọng điểm, để đáp ứng những nhu cầu thiết thực, cấp thiết, có hàm lượng khoa học cao, có ý nghĩa then chốt đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Tự nghiên cứu để phát triển công nghệ nguồn; tiếp nhận chuyển giao công nghệ, học tập, làm lại các công nghệ tiên tiến của nước ngoài
Tập trung nguồn lực để đầu tư phát triển 7 hướng khoa học và công nghệ mũi nhọn, có ý nghĩa thiết thực đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bao gồm:
- Công nghệ thông tin, điện tử, tự động hóa và công nghệ vũ trụ electronics-automation-space technology);
(ICT Công nghệ sinh học (Biotechnology);
- Khoa học vật liệu (Material Sciences);
- Đa dạng sinh học và các chất có hoạt tính sinh học (Biodiversity and Biologically active substances);
- Khoa học trái đất (Earth Sciences);
- Khoa học và công nghệ biển (Marine Science and Techonology);
- Môi trường và Năng lượng (Environment and Energy)
Đánh giá nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ thông qua các công
bố quốc tế trên các tạp chí chuyên ngành có uy tín và các bằng độc quyền sáng
Trang 21chế, giải pháp hữu ích (patent)
e) Ứng dụng và triển khai công nghệ
Ứng dụng có hiệu quả các công nghệ mũi nhọn, công nghệ cao, như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ vũ trụ và công nghệ tự động hóa vào sản xuất và đời sống
Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao các giải pháp khoa học và công nghệ để khai thác có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, phòng chống và giảm nhẹ tác hại của thiên tai Ứng dụng các công nghệ mới trong điều tra tài nguyên, kiểm soát và xử lý ô nhiễm môi trường, bảo
vệ đa dạng sinh học Đẩy mạnh các hoạt động tư vấn thẩm định, bảo tàng thiên nhiên, thông tin xuất bản, phổ biến khoa học và công nghệ nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Đẩy mạnh thương mại hóa sản phẩm khoa học và công nghệ, góp phần phát triển thị trường khoa học và công nghệ Khuyến khích các hoạt động ươm tạo công nghệ, phát triển doanh nghiệp spin-off Đầu tư xây dựng, hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động các khu sản xuất thử nghiệm công nghệ Phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương có liên quan ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống của nhân dân, góp phần giải quyết một số vấn đề quan trọng trong các chương trình phát triển kinh
tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng
f) Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ
Thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ theo các chương trình, đề án khoa học và công nghệ quốc gia, các nhiệm vụ khoa học
và công nghệ cấp Viện, các dự án về điều tra cơ bản, bảo vệ môi trường, Biển Đông - Hải đảo và một số nhiệm vụ đột xuất khác theo chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ
Phát triển các lĩnh vực khoa học và công nghệ là thế mạnh của Viện, đồng thời có cơ chế liên kết các viện chuyên ngành để phối hợp giải quyết các vấn đề thực tiễn, tập trung vào đáp ứng những nhu cầu thiết thực của sự phát triển kinh
tế - xã hội Tự nghiên cứu để phát triển công nghệ nguồn Tiếp nhận chuyển giao công nghệ, học tập, làm lại các công nghệ tiên tiến của nước ngoài
Đổi mới phương thức lựa chọn, thẩm định, đánh giá, tổ chức nghiệm thu các đề tài nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ, đảm bảo chặt chẽ, khách quan, đúng thực chất, tránh đầu tư dàn trải, kém hiệu quả Đề tài nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ phải có mục tiêu, địa chỉ ứng dụng và sản
Trang 22phẩm cụ thể Đầu tư đủ kinh phí và thời gian cần thiết để thực hiện các đề tài có giá trị ứng dụng công nghệ cao Kiên quyết loại bỏ các đề tài nghiên cứu ứng dụng tiềm tàng, không có địa chỉ ứng dụng cuối cùng
Tập trung nguồn lực để triển khai các nội dung nhiệm vụ trong 7 hướng khoa học và công nghệ mũi nhọn, trọng điểm, có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, cụ thể như sau:
- Công nghệ thông tin, điện tử, tự động hóa và công nghệ vũ trụ (ICT, Electronics, Automation, Space technology), bao gồm:
- Hệ thống thông tin: Hệ cơ sở dữ liệu lớn, đa phương tiện, hệ thống thông tin địa lý, hệ thống thông tin quản lý;
- Trí tuệ nhân tạo: Xử lý ngôn ngữ, xử lý ảnh, hệ trợ giúp quyết định, tương tác người - máy, học máy, khai thác tri thức từ dữ liệu, các hệ thống thông minh;
- Công nghệ mạng: Mạng không dây, an ninh mạng, internet thế hệ mới;
- Công nghệ tính toán hiện đại: Tính toán hiệu năng cao, tính toán lưới, tính toán đám mây Ứng dụng mô hình hóa và mô phỏng nghiên cứu các hệ thống lớn và phức tạp trong tự nhiên và kỹ thuật;
- Tự động hóa: Hệ thống nhúng, công nghệ robot, các hệ đo và điều khiển thông minh, thị giác máy;
- Công nghệ quang tử và quang điện tử: Quang tử nano, thông tin quang, linh kiện và thiết bị quang điện tử và thiết bị quang phổ đặc chủng;
- Công nghệ sensor, công nghệ vi cơ điện tử và nano cơ điện tử NEMS);
(MEMS-Phát triển, chế tạo và ứng dụng các thiết bị điện tử, cơ điện tử và quang điện tử, các thiết bị đo lường và điều khiển, các hệ laser đặc chủng, các thiết bị hiển vi vật lý, v.v
Công nghệ vệ tinh: Nghiên cứu chế tạo và vận hành khai thác một số phân
hệ chính như các trạm thu tín hiệu vệ tinh, thiết bị chụp ảnh, xác định và điều khiển tư thế vệ tinh, thông tin, năng lượng;
Nghiên cứu và ứng dụng công nghệ viễn thám, hệ thông tin địa lý (GIS) và công nghệ định vị nhờ vệ tinh; nghiên cứu chế tạo và ứng dụng các thiết bị đo lường và quan trắc từ xa;
Nghiên cứu một số vấn đề chọn lọc trong KHCN vũ trụ: Y sinh học và vật liệu trong môi trường vũ trụ, khai thác năng lượng từ vũ trụ, động lực học và điều khiển vệ tinh, v.v
Trang 23- Công nghệ sinh học (Biotechnology), bao gồm:
Sử dụng và phát triển các công nghệ tiên tiến thuộc các ngành omics, công nghệ nano sinh học, miễn dịch học phân tử và bioinformatics nhằm đánh giá đúng đắn bảo vệ bền vững và khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên sinh học đặc hữu;
Đánh giá, bảo vệ và khai thác tài nguyên sinh vật đặc hữu, chú trọng tài nguyên sinh vật biển;
Phát triển công nghệ tế bào mô phôi trong bảo tồn và tạo giống, trong chẩn đoán và điều trị;
Phát triển các lĩnh vực omics nhằm hoàn thiện công nghệ tạo ra sinh phẩm tổng hợp và tái tổ hợp phục vụ phát triển nông lâm ngư nghiệp, bảo vệ sức khỏe con người và môi trường;
Công nghệ nano sinh học trong chẩn đoán, vận chuyển thuốc và điều trị bệnh ở người và vật nuôi;
Đưa Tin sinh học thành một lĩnh vực nghiên cứu và dịch vụ có hiệu quả
- Khoa học vật liệu (Material Sciences), bao gồm:
Khoa học và công nghệ micro và nano, bao gồm cả quang tử micro và nano;
Khoa học vật liệu lý thuyết và tính toán;
Các vấn đề khoa học vật liệu hướng tới sự phát triển năng lượng xanh;
Các vấn đề khoa học vật liệu góp phần giám sát và bảo vệ môi trường;
Các vấn đề khoa học vật liệu góp phần phát triển nông nghiệp và ứng phó với biến đổi khí hậu;
Công nghệ vật liệu bảo vệ và bảo quản;
Công nghệ các vật liệu sinh - y học;
- Đa dạng sinh học và các chất có hoạt tính sinh học (Biodiversity and Biologically active substances), bao gồm:
Điều tra, đánh giá khu hệ sinh vật Việt Nam;
Đa dạng sinh học và bảo tồn nhằm khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên sinh vật;
- Các nghiên cứu về sinh thái học và môi trường;
Nghiên cứu và phát triển các chất có hoạt tính sinh học cao từ tài nguyên sinh vật của Việt Nam;
Trang 24Nghiên cứu các phương pháp thân thiện môi trường, tiết kiệm năng lượng
để tổng hợp các chất có hoạt tính sinh học cao;
Nghiên cứu và phát triển các sản phẩm thực phẩm chức năng
- Khoa học trái đất (Earth Sciences), bao gồm:
Nghiên cứu về tai biến thiên nhiên và biến đổi khí hậu bao gồm: Nghiên cứu nguyên nhân, cơ chế hình thành, xu thế phát triển các dạng tai biến thiên nhiên trong mối liên quan tới biến đổi khí hậu; đánh giá mức độ nguy hiểm của các tai biến, đề xuất các giải pháp, chiến lược ứng phó, cảnh báo và giảm nhẹ thiệt hại do tai biến gây ra; nghiên cứu, phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ nhằm phòng tránh, giảm nhẹ và ứng phó với tai biến thiên nhiên và biến đổi khí hậu;
Nghiên cứu về sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, bao gồm: Nghiên cứu điều tra các dạng tài nguyên, phát hiện các dạng tài nguyên mới phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội; nghiên cứu, phát triển các giải pháp khoa học và công nghệ khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường; nghiên cứu, đề xuất các giải pháp, chiến lược phân vùng, quy hoạch, quản lý tổng hợp, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường
- Khoa học và công nghệ biển (Marine Science and Technology), bao gồm: Điều tra, nghiên cứu các đặc trưng cơ bản về tự nhiên, tài nguyên, môi trường, các quy luật và các quá trình động lực, tương tác phục vụ phát triển kinh
tế - xã hội, quốc phòng và chủ quyền quốc gia trên biển;
Nghiên cứu tài nguyên truyền thống và các dạng mới ở vùng biển - đảo, nhất là vùng biển sâu;
Nghiên cứu hóa sinh và dược liệu biển, công nghệ sinh học biển, các hệ sinh thái, đa dạng sinh học và bảo tồn biển;
Nghiên cứu, phát triển và ứng dụng các công nghệ cao và quy trình tiên tiến cho khảo sát và nghiên cứu, khai thác và chế biến tài nguyên, dự báo tài nguyên
và môi trường, biến đổi khí hậu và thiên tai ở vùng biển;
Nghiên cứu các vấn đề về công trình biển phục vụ phát triển kinh tế biển - đảo và quốc phòng;
Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, quản lý tổng hợp biển - vùng bờ biển và phát triển bền vững;
Ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ trao đổi, nghiên cứu và quản lý biển
Trang 25- Môi trường và Năng lượng (Environment and Energy), bao gồm:
Nghiên cứu phát triển công nghệ tiên tiến xử lý chất thải sinh hoạt và sản xuất;
Nghiên cứu công nghệ sạch, công nghệ tái chế, tái sử dụng chất thải;
Nghiên cứu phát triển công cụ kỹ thuật phục vụ trong công tác quản lý môi trường;
Nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đến môi trường và cuộc sống con người;
Nghiên cứu phát triển bền vững hệ thống năng lượng quốc gia và an ninh năng lượng;
Nghiên cứu phát triển công nghệ năng lượng mới, năng lượng tái tạo, năng lượng sinh học, điện hạt nhân;
Nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng;
Nghiên cứu giảm thiểu tác hại của hoạt động năng lượng tới môi trường
Tiếp tục triển khai thực hiện Chiến lược nghiên cứu và ứng dụng công nghệ
vũ trụ đến năm 2020 (bao gồm: Dự án chế tạo và phóng vệ tinh nhỏ quan sát trái đất; Chương trình khoa học và công nghệ độc lập về công nghệ vũ trụ); các dự
án trong “Đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên môi trường Biển đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Đánh giá nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ thông qua các công
bố quốc tế trên các tạp chí chuyên ngành có uy tín và các bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích
Đẩy mạnh hoạt động ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ vào sản xuất và đời sống xã hội; thương mại hóa các sản phẩm khoa học và công nghệ thông qua thị trường khoa học và công nghệ Khuyến khích hỗ trợ các hoạt động ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp spin-off, thành lập
và phát triển các doanh nghiệp spin-off
Phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, địa phương để tổ chức ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ vào sản xuất, kinh doanh
và đời sống của nhân dân, phục vụ các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, bảo vệ môi trường và mục đích công cộng
Ứng dụng công nghệ máy tính trong phát triển công nghiệp, nhất là các ngành công nghiệp chủ lực Ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ sinh học,
Trang 26công nghệ vật liệu mới, công nghệ vũ trụ và công nghệ tự động hóa vào sản xuất
và đời sống
Triển khai một số hoạt động ứng dụng công nghệ và chuyển giao công nghệ
để xây dựng nền nông nghiệp xanh, sạch và phát triển bền vững (tuyển chọn các giống cây trồng, vật nuôi có năng suất và chất lượng cao, ứng dụng công nghệ sinh học và các biện pháp sinh học tiên tiến để sản xuất các loại nông sản sạch) Xây dựng mô hình làng sinh thái, giải quyết nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn…
Với các thế mạnh như vậy, hoạt động ứng dụng và chuyển giao công nghệ của Viện đã từng bước đáp ứng được yêu cầu thực tế và đi vào thực tiễn
1.2.6.2 Đánh giá
- Điểm mạnh
Là một đơn vị đầu ngành của cả nước về nghiên cứu và triển khai công nghệ, Viện KHCNVN đã từng bước hình thành các tổ chức ứng dụng và triển khai công nghệ vào thực tiễn, góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Với tiềm lực khoa học công nghệ trình độ cao sẵn có, Viện KHCNVN luôn sẵn sàng đáp ứng đòi hỏi xử lý các vấn đề phát sinh của tình hình thực tiễn Bên cạnh đó, Viện KHCNVN là cơ quan sự nghiệp thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng nghiên cứu cơ bản về khoa học tự nhiên và phát triển công nghệ theo các hướng trọng điểm của Nhà nước nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho công tác quản lý khoa học, công nghệ và xây dựng chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ có trình độ cao cho đất nước theo quy định của pháp luật
Viện là cơ quan khoa học và công nghệ hàng đầu của cả nước, có vị trí đầu tàu trong hệ thống khoa học công nghệ quốc gia, thực hiện các hoạt động nghiên cứu cơ bản về khoa học tự nhiên và phát triển công nghệ một cách toàn diện, trình độ cao
Với tiềm lực khoa học công nghệ trình độ cao sẵn có, Viện KHCNVN luôn sẵn sàng đáp ứng đòi hỏi xử lý các vấn đề phát sinh của tình hình thực tiễn Bên cạnh đó, Viện KHCNVN cũng thực hiện công tác đào tạo nhân lực trình độ cao cho đất nước
- Điểm yếu
Mặc dù đã đạt được những thành tựu nhất định, nhưng nhìn chung vấn đề ứng dụng và triển khai công nghệ của Viện còn nhiều mặt yếu kém, còn có
Trang 27khoảng cách khá xa so với thế giới và khu vực, chưa đáp ứng được yêu cầu là
nền tảng và động lực phát triển kinh tế - xã hội
Năng lực khoa học và công nghệ còn nhiều yếu kém:
- Đội ngũ cán bộ KH&CN còn thiếu cán bộ đầu đàn giỏi, các "Tổng công trình sư", đặc biệt là thiếu cán bộ KH&CN trẻ kế cận có trình độ cao Cơ cấu nhân lực KH&CN theo ngành nghề và lãnh thổ còn nhiều bất hợp lý
- Đầu tư của xã hội cho KH&CN còn rất thấp, đặc biệt là đầu tư từ khu vực doanh nghiệp Trang thiết bị nhìn chung còn rất thiếu, không đồng bộ, lạc hậu so với những cơ sở sản xuất tiên tiến cùng ngành
- Hệ thống giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực KH&CN chất lượng cao, đặc biệt đối với những lĩnh vực KH&CN tiên tiến; chưa đáp ứng yêu cầu công việc
- Hệ thống dịch vụ KH&CN, bao gồm thông tin KH&CN, tư vấn chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng còn yếu kém
cả về cơ sở vật chất và năng lực cung cấp dịch vụ đáp ứng các yêu cầu của hội nhập khu vực và quốc tế
- Thiếu sự liên kết hữu cơ giữa nghiên cứu KH&CN, giáo dục - đào tạo và sản xuất - kinh doanh; thiếu sự hợp tác chặt chẽ giữa các tổ chức nghiên cứu - phát triển, các trường đại học và doanh nghiệp
Cơ chế quản lý khoa học và công nghệ chậm được đổi mới, còn mang nặng tính hành chính:
- Quản lý hoạt động KH&CN còn tập trung chủ yếu vào các yếu tố đầu vào, chưa chú trọng đúng mức đến quản lý chất lượng sản phẩm đầu ra và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn Các nhiệm vụ KH&CN chưa thực sự gắn kết chặt chẽ với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Công tác đánh giá nghiệm thu kết quả nghiên cứu chưa tương hợp với chuẩn mực quốc tế
- Cơ chế quản lý các tổ chức KH&CN không phù hợp với đặc thù của lao động sáng tạo và thể chế kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa Các tổ chức KH&CN chưa có được đầy đủ quyền tự chủ về kế hoạch, tài chính, nhân lực và hợp tác quốc tế để phát huy tính năng động, sáng tạo
- Việc quản lý cán bộ KH&CN theo chế độ công chức không phù hợp với hoạt động KH&CN, làm hạn chế khả năng lưu chuyển và đổi mới cán bộ Thiếu
cơ chế đảm bảo để cán bộ KH&CN được tự do chính kiến, phát huy khả năng sáng tạo, tự chịu trách nhiệm trong khuôn khổ pháp luật Chưa có những chính sách hữu hiệu tạo động lực đối với cán bộ KH&CN và chính sách thu hút, trọng
Trang 28dụng nhân tài, chế độ tiền lương còn nhiều bất hợp lý, không khuyến khích cán
bộ KH&CN toàn tâm với sự nghiệp KH&CN
- Cơ chế quản lý tài chính trong hoạt động KH&CN chưa tạo thuận lợi cho nhà khoa học, chưa huy động được nhiều nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước;
cơ chế tự chủ về tài chính của các tổ chức KH&CN chưa đi liền với tự chủ về quản lý nhân lực nên hiệu quả còn hạn chế
- Chưa hình thành thị trường KH&CN Hoạt động mua, bán công nghệ và lưu thông kết quả nghiên cứu KH&CN còn bị hạn chế do thiếu các tổ chức trung gian, môi giới, các quy định pháp lý cần thiết, đặc biệt là hệ thống bảo hộ hữu hiệu quyền sở hữu trí tuệ
I.3 Khảo sát, phân tích, đánh giá hoạt động chuyển giao công nghệ và triển khai ứng dụng ở một số bộ, ngành (Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,…)
I.3.1 Khoa học và công nghệ với phát triển kinh tế - xã hội
Trong phát triển kinh tế - xã hội đương đại, cải thiện nền kinh tế phần lớn
do vận dụng tri thức vào hoạt động sản xuất kinh doanh cùng với điều chỉnh thể chế xã hội Theo cách tiếp cận đổi mới, tăng trưởng kinh tế là kết quả tương tác tổng hợp của tổ chức nhà nước với khu vực công nghiệp, giới hàn lâm và xã hội dân sự Việc vận dụng công nghệ mới và tiến bộ kỹ thuật vào các hệ thống kinh
tế đã thúc đẩy nhanh việc chuyển hóa những quan hệ truyền thống Đổi mới công nghệ không chỉ là nguồn lực biến đổi kinh tế mà vai trò của nó ngày càng quan trọng trong đời sống xã hội Công nghệ không quyết định thay đổi, nhưng đồng tiến hóa cùng với những điều chỉnh xã hội Với cách tiếp cận hệ thống, khó
mà phân định rạch ròi tác động đơn lẻ của từng công nghệ Công nghệ được dùng luôn tương tác lẫn nhau, cùng tạo ra những tổ hợp sản xuất bao hàm cả sự kết hợp giữa trí tuệ với công nghệ trong nền kinh tế Thực tế này đòi hỏi chính sách khoa học và công nghệ (KH&CN) cần được dẫn dắt từ hiểu biết sâu sắc bản chất vấn đề của sản xuất chứ không bởi những vấn đề lý thuyết có hạn chế phạm vi học hỏi của toàn xã hội [2]
Sự phát triển nhanh chóng của KH&CN khiến khoa học ngày càng mang dáng dấp của một ngành kinh tế Ngành kinh tế này tập hợp những yếu tố cần thiết để hình thành “Công xưởng khoa học”, tạo ra hàng loạt sản phẩm đáp ứng nhu cầu của mọi đối tượng sản xuất, kinh doanh.Theo hướng phát triển này, nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng, KH&CN đang có xu thế kết hợp
Trang 29chặt chẽ và thời gian chuyển giao từ nghiên cứu đến sản xuất ngày càng rút ngắn Các nhà nghiên cứu từng đưa ra khái niệm “Công nghệ hóa Khoa học; Khoa học hóa Công nghệ” với hàm nghĩa, công nghệ hiện đại được xây dựng trên cơ sở lý luận khoa học, đồng thời nền khoa học hiện đại cũng được phát triển trên cơ sở thiết bị kỹ thuật hiện đại; nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng thống nhất với nhau trong quan hệ lợi ích Trong ngắn hạn, nghiên cứu cơ bản giúp cho đổi mới công nghệ và về lâu dài, nếu không có nghiên cứu cơ bản
mở đường thì đổi mới công nghệ cũng khó thực hiện Cùng với việc đưa nghiên cứu cơ bản xích gần nghiên cứu ứng dụng, một xu hướng mới đang nổi lên, đó
là cơ bản hóa khoa học ứng dụng trong các bộ môn khoa học công nghệ mới để đảm nhận vai trò nghiên cứu lý thuyết cơ bản và đưa các tiến bộ KH&CN vào ứng dụng trong thực tế
Trong thực tiễn, việc khám phá ra enzyme, cắt nối các nucleotide AND là thành tựu nổi bật của khoa học cơ bản; nhưng đã ngay lập tức, thành công này cũng tạo ra những công nghệ then chốt để hình thành ngành công nghiệp mới, công nghệ sinh học Thực tiễn cũng cho thấy, không chỉ có nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ mà ngay cả nhiều nghiên cứu cơ bản cũng đã diễn ra
ở ngay trong phòng thí nghiệm của những doanh nghiệp năng động Đây chính
là môi trường giúp cho hoạt động nghiên cứu được phát triển, tạo thuận lợi không chỉ về không gian mà quan trọng là mối quan hệ tác động tương hỗ, thống nhất giữa mục tiêu và phương thức quản lý trong nghiên cứu
Gắn kết nghiên cứu với sản xuất đang trở thành xu thế hội tụ ở nhiều quốc gia Đi theo hướng này, cùng với sự nổi lên của nghiên cứu ứng dụng, vai trò của nghiên cứu cơ bản ngày càng trở nên quan trọng; nghiên cứu cơ bản hoàn toàn có thể gắn với sản xuất và mang lại ý nghĩa thực tiễn rất cao Từ tăng cường liên kết giữa các ngành khoa học, việc thâm nhập của giới kinh doanh vào hoạt động nghiên cứu đã có tác động phá vỡ ranh giới thông thường vốn được tạo dựng trong môi trường nghiên cứu Nhóm nghiên cứu đa ngành không còn hạn chế ở khoa học tự nhiên mà đã mở rộng ra giữa khoa học tự nhiên với khoa học công nghệ để cùng giải quyết những vấn đề của sản xuất và làm nổi bật mối quan hệ liên kết của cả khoa học tự nhiên với khoa học công nghệ và khoa học xã hội Có lẽ đây vừa là định hướng, vừa là điều kiện để bảo đảm sự gắn kết bền vững giữa nghiên cứu khoa học và sản xuất[2]
Trong xu thế gắn kết khoa học với sản xuất, các doanh nghiệp toàn cầu đã tạo được những thay đổi sâu sắc Nhiều doanh nghiệp khi tổ chức lại đã gắn kết
bộ phận nghiên cứu với các bộ phận khác, nhất là với bộ phận Maketing; tổ chức
Trang 30việc hợp tác các bộ phận trong doanh nghiệp dưới hình thức nhóm theo từng dự
án cụ thể Đối với bên ngoài, doanh nghiệp cũng đã tăng cường liên kết với những lực lượng nghiên cứu khác trong khuôn khổ của hệ thống đổi mới quốc gia Theo hướng gắn nghiên cứu với sản xuất, không chỉ sản phẩm công nghệ
mà ngay cả sản phẩm nghiên cứu khoa học cũng đã trở thành hàng hóa; tính chất hàng hóa và quan hệ thị trường của sản phẩm nghiên cứu được xác định bởi nhu cầu từ phía doanh nghiệp và những nguồn sản phẩm khoa học mang tính thị trường
Gắn kết nghiên cứu với sản xuất đã thúc đẩy doanh nghiệp quan tâm tới hoạt động KH&CN; buộc các nhà khoa học phải hướng vào phục vụ thị trường, làm nảy sinh những quan hệ mới, đòi hỏi trách nhiệm và sự hỗ trợ cụ thể của quản lý Nhà nước Nghiên cứu hoạt động gắn khoa học với sản xuất ở nhiều quốc gia, các nhà phân tích nhận thấy, nghiên cứu cơ bản được đầu tư từ Chính phủ đóng vai trò nền tảng cho những nghiên cứu ứng dụng tư và khu vực khác; ngoài ra, Nhà nước cũng cần đặc biệt chú ý hỗ trợ doanh nghiệp trong đào tạo nhân lực có chất lượng cao Vai trò Nhà nước không chỉ ở chỗ ban bổ chính sách mà quan trọng là hỗ trợ điều hành tác nghiệp, điều tra tạo lập thị trường, lập
kế hoạch và giữ vai trò trung gian trong những điều phối kết hợp các tổ chức nghiên cứu, đào tạo với doanh nghiệp
I.3.2 Đổi mới công nghệ doanh nghiệp là một đòi hỏi bức xúc của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Liên quan đến mục tiêu và phương hướng phát triển đất nước giai đoạn 2006-2010, Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định, phải tạo ra những tiền đề cần thiết để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại và nhấn mạnh việc đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức Khái niệm công nghiệp hóa (CNH) được hiểu là quá trình cải biến nền nông nghiệp dựa trên nền tảng kỹ thuật của thủ công mang tính hiện vật, tự cấp, tự túc thành nền kinh tế công nghiệp - thị trường Đây chính là một nội dung kinh tế của các quá trình xây dựng một xã hội dựa trên nền văn minh công nghiệp CNH không chỉ đơn thuần là quá trình cải biến kinh tế mà còn là quá trình cải biến thể chế và cấu trúc nền kinh tế, chuyển từ kinh tế hiện vật khép kín sang nền kinh tế hàng hóa mở dựa trên sự phân công xã hội Ở mọi quốc gia, quá trình CNH đều tuân thủ theo logic tổng quát của những nguyên tắc tuần tự, song tùy thuộc vào điều kiện cụ thể lại có sự lựa chọn mô hình, nội dung chiến lược, giải pháp thực hiện và bước khác nhau
Trang 31Đối với những nước đi sau, họ có thể tiếp cận với nhiều nguồn lực về vốn, nhân lực, đặc biệt là công nghệ do những nền kinh tế phát triển tạo ra để CNH Mặt khác, rút kinh nghiệm từ các quốc gia đi trước để có thể vượt lên, bứt phá và thu hẹp nhanh khoảng cách tụt hậu
Trên một thế kỷ trước đây, khi phân tích khái niệm kinh tế-xã hội XH), người thầy của cách mạng vô sản Các-Mác đã từng dự báo, đến một lúc nào đó, khoa học sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Ngày nay, với sự ra đời của nền kinh tế tri thức, điều tiên đoán của Mác đã trở thành hiện thực và sự thay đổi của nền kinh tế tri thức đang tạo ra bước ngoặt trong lịch sử nhân loại Nền kinh tế tri thức được hiểu là nền kinh tế được dẫn dắt bởi tri thức và công nghệ cao, gắn với hệ thống kỹ thuật hiện đại, có cấu trúc không gian toàn cầu với tỷ trọng sản phẩm tri thức (cốt vật chất) chiếm trên 50% trong cơ cấu GDP Với nội hàm của kinh tế tri thức, công nghệ và trí tuệ con người sẽ là lực lượng sản xuất hàng đầu, có vai trò quyết định; đó chính là lợi thế quan trọng của thời đại Thành công trong nỗ lực công nghiệp hóa nhanh ở các quốc gia Đông Á là biết tận dụng lợi thế của nước đi sau để vượt qua logic "tuần tự" về bước đi để thể hiện sự "nhảy vọt về cơ cấu" Việc rút ngắn thời gian CNH theo những bước chuyển tuần tự là cách làm phổ biến, còn "nhảy vọt cơ cấu" chỉ diễn ra khi có sự chuyển hóa công nghệ lớn, từ thời đại công nghệ này sang thời đại công nghệ khác Thế giới ngày nay đang chuyển từ cơ khí, điện tử sang công nghệ cao, mở
(KT-ra cơ hội chưa từng có cho những nền kinh tế đi sau để thực hiện những bước
"nhảy vọt" trong thu hẹp khoảng cách phát triển Cơ hội này chỉ có thể thực hiện thành công khi tiềm lực của mỗi quốc gia với chủ thể là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có đủ năng lực nội sinh để nắm bắt, tiếp thu và vận dụng kịp thời công nghệ cao không ngừng biến động vào những hoạt động hàng ngày
Từ cuối thập niên 1980, vấn đề thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu KH&CN nhằm gắn hoạt động nghiên cứu với sản xuất kinh doanh và đổi mới công nghệ doanh nghiệp đã được các tổ chức nhà nước quan tâm nghiên cứu trên các khía cạnh khác nhau trong quan hệ khoa học với sản xuất, tài chính và
tổ chức KH&CN Trên thực tế, quan hệ giữa các tổ chức KH&CN với doanh nghiệp là mối quan hệ giữa các tác nhân trong hệ thống đổi mới quốc gia, bao gồm: doanh nghiệp, tổ chức KH&CN và các cơ quan giáo dục-đào tạo Quan hệ tương tác trong hệ thống thực chất là việc đưa sản phẩm và những dịch vụ mới vào thị trường xã hội Quá trình đổi mới công nghệ doanh nghiệp được bắt đầu
từ nảy sinh ý tưởng đến nghiên cứu thiết kế sản phẩm, sản xuất thử nghiệm rồi hoàn thiện sản phẩm để thâm nhập thị trường.Việc chuyển hóa kết quả nghiên
Trang 32cứu thành sản phẩm và các quá trình công nghiệp, việc chuyển hóa tri thức thành sản phẩm thương mại và quy trình công nghiệp sẽ tác động trực tiếp và dài hạn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Các nhà kinh tế cho rằng, trong hoạt động nghiên cứu và phát triển, nhiều vấn đề đòi hỏi Nhà nước không chỉ quan tâm về khung luật pháp, chính sách khuyến khích mà còn cần hỗ trợ cả về tài chính cho các hoạt động công nghệ Hoạt động công nghệ một dạng tri thức được sử dụng để tăng năng suất trong các nhà máy, cơ sở sản xuất kinh doanh cần được đưa vào chi phí sản xuất Với vai trò của một loại hàng hóa đặc biệt, công nghệ đem lại lợi ích xã hội thường lớn hơn nhiều lần lợi ích của nhà đầu tư, nếu được trợ cấp đổi mới hoăc khuyến khích để giảm chi phí và nâng cao lợi ích, chắc chắn người sản xuất sẽ quan tâm nhiều hơn để đổi mới công nghệ Hội nghị Trung ương lần thứ 2 khóa VIII (tháng 2 năm 1996) của Đảng đã ra Nghị quyết về định hướng chiến lược phát triển KH&CN trong thời kỳ CNH, HĐH đã khẳng định: "Lấy ứng dụng chuyển giao công nghệ là chính, tạo khả năng lựa chọn, thích nghi và làm chủ công nghệ nhập, đi thẳng vào công nghệ tiên tiến nhất, trước hết ở những ngành, những lĩnh vực có tác động chi phối nến kinh tế quốc dân, những ngành có giá trị gia tăng cao, ngành công nghiệp mới xây dựng, ngành sản xuất sản phẩm xuất khẩu chủ lực Đồng thời đổi mới công nghệ từng phần, hiện đại hóa từng khâu đối với những lĩnh vực còn cơ sở vật chất - kỹ thuật và sản xuất còn hiệu quả" Trên lĩnh vực công nghệ cao Nghị quyết xác định "Đẩy mạnh nghiên cứu
và ứng dụng các công nghệ cao như công nghệ thông tin, công nghệ sinh hoc, công nghệ vật liệu mới làm nhanh chóng hiện đại hóa công nghệ trong các ngành kinh tế quốc dân và tạo ra các ngành công nghiệp mũi nhọn có giá trị gia tăng cao " Để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ phát triển KH&CN, Nghị quyết đã đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm tạo lập thị trường cho KH&CN; chính sách đổi mới với cán bộ KH&CN; tăng cường đầu tư cho phát triển KH&CN từ nhiều nguồn, xã hội hóa hoạt động KH&CN; tăng cường kiểm soát, giám định công nghệ và chất lượng sản phẩm; tăng cường hợp tác quốc tế; đổi mới tổ chức quản lý hoạt động KH&CN và tăng cường hoạt động tuyên truyền, phổ cập kiến thức KH&CN Nét nổi bật của những giải pháp là hướng vào ưu tiên cho đổi mới công nghệ doanh nghiệp, gắn hoạt động nghiên cứu đào tạo với sản xuất kinh doanh, tư vấn và chuyển giao công nghệ
Để thúc đẩy nhu cầu đổi mới công nghệ của doanh nghiệp, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 119/1999/NĐ-CP về chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động KH&CN Nghị định này tập
Trang 33trung vào một số vấn đề cơ bản trong chính sách ưu tiên về thuế, ưu đãi sử dụng đất, tín dụng cho doanh nghiệp trong hoạt động đổi mới công nghệ Trong những quy định cụ thể, Nhà nước hỗ trợ kinh phí thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu sáng tạo công nghệ mới cho doanh nghiệp (hoặc phối hợp với tổ chức KH&CN) thực hiện tới 30% tổng chi phí; doanh nghiệp được trích 50% lợi nhuận sau thuế
do áp dụng công nghệ mới trong thời gian 3 năm để đầu tư cho KH&CN và khen thưởng; khi doanh nghiệp sử dụng kết quả KH&CN do nhà nước đầu tư nghiên cứu chỉ phải trả tiền thù lao tác giả với mức cao nhất là 30% giá trị chuyển giao công nghệ Có thể nói, hệ thống văn bản pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ là một cú hích trong vận dụng chính sách khuyến khích cộng đồng doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động KH&CN và bước đầu đã thu hút được sự quan tâm và tham gia thực hiện đổi mới công nghệ của nhiều doanh nghiệp [3]
Phân tích xu thế đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp ở Việt Nam, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) cho biết, việc hiện đại hóa dây truyền công nghệ doanh nghiệp đã có những chuyển biến đáng kể; nếu những năm 1980, tỷ lệ hiện đại hóa công nghệ trong các doanh nghiệp nhà nước
ở mức 8,6% thì sau những năm 1990 đạt được 60%, còn tại những doanh nghiệp
tư nhân tỷ lệ đã lên 46,5% Cùng với khả năng hiện đại, tính đồng bộ trong dây chuyền công nghệ được nâng lên đến 20% trong các doanh nghiệp nhà nước và chừng 16,3% đối với khu vực tư nhân Trong các loại hình doanh nghiệp, việc hiện đại hóa và đồng bộ dây chuyền công nghệ sản xuất diễn ra với mức độ cao
ở những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tiếp đó là doanh nghiệp nhà nước khu vực doanh nghiệp tư nhân có mức độ thấp nhất Những năm gần đây, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản lý, đã tạo sức ép thúc đẩy doanh nghiệp trong nước phải ứng dụng tiến bộ công nghệ Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ thì đến cuối năm 2009, trong khoảng 200 nghìn hợp đồng chuyển giao công nghệ được thực hiện, gần 90% là của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Theo các nhà phân tích, đầu tư nước ngoài vào càng nhiều thì càng có tác động tích cực đến chuyển giao công nghệ tiên tiến, thúc đẩy những ngành quan trọng như dầu khí, viễn thông, điện tử - tin học, cơ khí chế tạo Trong đó, hầu hết những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều áp dụng phương thức quản lý tiên tiến, có trình độ công nghệ đồng bộ cao Thông qua thu hút đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp có thể nhanh chóng tiếp cận công nghệ, kỹ thuật hiện đại qua các hình thức chuyển giao công nghệ Nhờ vậy, đã rút ngắn thời gian tìm kiếm và
Trang 34giảm được chi phí nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng Bên cạnh tiếp nhận công nghệ, hoạt động đổi mới còn tạo điều kiện để nhiều doanh nghiệp tiếp cận với những thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ thế giới để vận dụng trong thực hiện mục tiêu CNH
Nhìn chung, các doanh nghiệp được Nhà nước hỗ trợ kinh phí nghiên cứu đều xuất phát từ đòi hỏi bức xúc đổi mới công nghệ Ở những cơ sở thực hiện có kết quả, việc đổi mới công nghệ đã tác động mạnh đến nâng cao năng lực nội sinh, khích lệ doanh nghiệp tiếp tục đầu tư vào hoạt động KH&CN, nhiều vấn đề
kỹ thuật mới được hoàn thiện, mở ra những triển vọng tốt đẹp trong cạnh tranh hội nhập khu vựa và quốc tế Với 4% kinh phí hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, Công ty Đóng tàu Hạ Long đã xây dựng được đà bán ụ 25.000 tấn phục vụ đóng tàu container 610TEU, tầu tải trọng trên 3 vạn tấn, góp phần đưa năng lực sản xuất của Công ty lên gấp 2 lần Nhờ hỗ trợ kinh phí nghiên cứu thiết kế, nhà máy cơ khí Quang Trung tỉnh Ninh Bình đã chế tạo thành công trục 1 dầm 450 tấn Đây là việc làm có ý nghĩa để bảo vệ ngành sản xuất cơ khí siêu trường siêu trọng, giảm được trên 30% chi phí sản xuất, làm lợi hàng chục triệu USD nhập khẩu Trong nghiên cứu thiết kế thiết bị chữa cháy tự động, công ty công nghệ
An Sinh (Đà Nẵng) đã được cấp bằng sáng chế tại Việt Nam và Hoa Kỳ, thiết bị công ty làm ra được các ngành chức năng cho phép đưa vào sử dụng Công ty đã thành công trong hỗ trợ nghiên cứu thiết kế; đưa dây chuyền chế phẩm Zeolit 3.000 tấn/năm vào hoạt động phục vụ nuôi trồng thủy sản; sản xuất giống lúa lai F1-Nhị ưu với giá chỉ bằng 60% nhập ngoại; nghiên cứu nguyên liệu sản xuất thuốc chữa bệnh ở công ty TRAPHACO đã làm nổi bật vai trò trung tâm của hoạt động KH&CN trong doanh nghiệp Trên tinh thần lấy thị trường để định hướng, lấy chất lượng sản phẩm để cam kết khách hàng và dùng tăng trưởng làm động lực, nhiều sản phẩm đổi mới của các doanh nghiệp đã được tiêu chuẩn hóa, tạo ra những khác biệt để nâng cao thương hiệu ngành hàng, uy tín công ty bằng tiến bộ KH&CN đã làm rõ vai trò mở đường của cơ chế và chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ[3]
Quá trình đổi mới công nghệ nước ta đã làm mức độ hiện đại, tính chất đồng bộ trong các dây chuyền sản xuất của nhiều doanh nghiệp chuyển hóa tích cực Đổi mới công nghệ doanh nghiệp đã góp phần thay đổi bộ mặt nền kinh tế với mức tăng trưởng ngày một cao và cơ cấu kinh tế đã thay đổi theo hướng CNH, HĐH Tuy nhiên, cùng với làn sóng đầu tư nước ngoài gia tăng, năng lực quản lý điều hành giới hạn năng lực công nghệ bất cập đã đặt doanh nghiệp nội địa trước nhiều thách thức, cần có sự hỗ trợ mạnh mẽ hơn của nhà nước để nâng
Trang 35cao năng lực trong quá trình hội nhập Trong cạnh tranh phát triển, mục đích của các nhà đầu tư và hoạt động doanh nghiệp đều hướng theo lợi nhuận Những ngành, lĩnh vực có tỷ trọng sinh lời cao thường thu hút được nhiều vốn đầu tư Ở nước ta, đầu tư nước ngoài tập trung chủ yếu vào công nghiệp xây dựng và dịch vụ; những ngành cần cho dân sinh, nhưng lợi nhuận không cao thường ít hấp dẫn các nhà đầu tư Đến nay, trong 8.684 dự án FDI còn hiệu lực với số vốn đăng ký trên 85 tỷ USD, thì 88,6% dự án đều thuộc lĩnh vực công nghiệp xây dựng và dịch vụ Số liệu thống kê cũng cho thấy, đầu tư nước ngoài kéo theo là đổi mới công nghệ đã tạo sự không cân đối giữa một số lĩnh vực Cùng một ngành sản xuất, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài với trình độ công nghệ và tiềm lực tài chính mạnh hơn có nhiều lợi thế cạnh tranh hơn doanh nghiệp nội địa
Quá trình thu hút đầu tư nước ngoài thực chất là quá trình tiếp nhận khoa học kỹ thuật và công nghệ cao từ các nước đã phát triển; với mục tiêu lợi nhuận, các nhà đầu tư đều tận dụng tối đa nguồn lực của nước sở tại để tiến hành sản xuất kinh doanh và hạn chế đến mức cao nhất chi phí Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài thường có quy mô sản xuất lớn làm tăng đáng kể dư lượng chất thải Mặt khác, thông qua đầu tư trực tiếp, không ít nhà đầu tư đã chuyển những ngành sản xuất gây ô nhiễm môi trường từ những nước đã phát triển sang nước chưa phát triển hoặc xây dựng những ngành sản xuất dùng nhiều tài nguyên thiên nhiên và vận hành những công nghệ chưa thân thiện môi trường, đây cũng
là một đặc thù mà chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ doanh nghiệp cũng cần quan tâm để có những tác động cần thiết Ở nước ta hiện nay, trong 154 khu công nghiệp và khu chế xuất, mới có chừng 50% quan tâm xây xựng hệ thống
xử lý chất thải, nước thải Thực tế này đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm không khí
và nguồn nước ngày càng nghiêm trọng tại những khu dân cư gần cụm công nghiệp, đó là một vấn đề lớn cần giải quyết để đảm bảo các điều kiện phát triển bền vững hiện nay Đồng hành với xu thế của nhà đầu tư nước ngoài, việc thu hút đầu tư nước ngoài diễn ra không đồng đều giữa các tỉnh, thành và trong từng lĩnh vực kinh tế Khuynh hướng này đã ảnh hưởng không nhỏ đến thực thi chính sách đổi mới công nghệ doanh nghiệp, cùng với phân hóa thu hút đầu tư nước ngoài, mức độ biến động của doanh nghiệp dân doanh cũng khá khác nhau
Tuy nhiên, cụ thể hóa cơ chế hỗ trợ vốn đổi mới công nghệ doanh nghiệp, các nhà phân tích cho rằng, việc xây dựng và xét duyệt đề cương nghiên cứu hiện nay dường như đi theo hướng khuyến khích "càng phức tạp hóa, càng hỗ trợ nhiều" Cách làm này chưa phản ánh đúng bản chất, chưa đánh giá đúng hiệu
Trang 36quả sáng tạo và càng khó thu hồi và phát triển được nguồn vốn cho KH&CN Nếu chưa có những thay đổi về cơ chế và chính sách phù hợp thì rất khó được doanh nghiệp chấp nhận tham gia Với trên 300 ngàn doanh nghiệp, trong thời gian dài từ năm 2002 đến năm 2007, Bộ KH&CN chỉ nhận được 484 đề xuất nghiên cứu từ doanh nghiệp và cấp kinh phí hỗ trợ cho 111 đề xuất là con số quá nhỏ Thực tế này phản ánh công tác tuyên truyền phổ biến chưa sâu, rộng và ở khía cạnh khác, trong cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và tổ chức thực hiện cũng còn nhiều việc cần bàn để có giải pháp thúc đẩy mạnh mẽ hơn Hầu hết những đề xuất chủ yếu là từ phía những doanh nghiệp có vốn pháp định nhỏ, khó đáp ứng được vốn đối ứng tự có nên chỉ nhận được sự hỗ trợ không nhiều Kết quả nghiên cứu đổi mới thường chỉ đáp ứng nhu cầu trước mắt, ít có ý nghĩa lâu dài trong chiến lược kinh doanh doanh nghiệp
Muốn đổi mới công nghệ doanh nghiệp, chất lượng nguồn nhân lực là một đòi hỏi hàng đầu Nhân lực KH&CN trong đổi mới công nghệ nước ta đang là một rào cản lớn để nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp So với các nước công nghiệp mới trong khu vực, tỷ lệ lao động được đào tạo ở Việt Nam chỉ bằng 1/3 Sự thiên lệch trong đào tạo, nặng lý thuyết, yếu về kỹ năng phân tích thực tiễn và thiếu sự tham vấn của các ngành kinh tế đã buộc các nhà tuyển dụng phải đào tạo lại hoặc đào tạo bổ sung đang là hạn chế gắn đào tạo với sản xuất
và thị trường lao động Thực tế diễn ra cùng với mức giới hạn 3% lao động nước ngoài làm việc trong các khu công nghiệp, khiến thiếu hụt lao động trình độ cao trong từng doanh nghiệp ngày càng nghiêm trọng Tình trạng thiếu hụt lao động
kỹ thuật đã nảy sinh hiện tượng di chuyển lao động ngày càng phổ biến và cạnh tranh thiếu lành mạnh đã dẫn đến những vấn đề xã hội bức xúc, đặc biệt khi ưu thế giá nhân công rẻ ở Việt Nam không còn Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực hiện nay không chỉ là yêu cầu cấp bách mà còn mang ý nghĩa chiến lược lâu dài đối với đổi mới công nghệ doanh nghiệp trong sự nghiệp CNH đất nước Đề nâng cao hiệu quả hỗ trợ đổi mới công nghệ doanh nghiệp trong làn sóng đầu tư nước ngoài mở rộng, nên chăng cơ quan quản lý nhà nước cần xem xét sửa đổi một cách đồng bộ những quy định liên quan đến ưu đãi đầu tư cho hoạt động KH&CN doanh nghiệp cho phù hợp với thông lệ quốc tế Từ sự ra đời của Quỹ Phát triển KH&CN Quốc gia, Quỹ Đổi mới Công nghệ Quốc gia và tới đây là Quỹ Đầu tư mạo hiểm, tạo những kênh thông thương hỗ trợ đổi mới, hy vọng là những kênh tài chính này với những thủ tục thông thoáng, đơn giản sẽ tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong tiếp cận với những nguồn vốn để nâng cao năng lực nội sinh, đáp ứng đòi hỏi của đổi mới công nghệ doanh nghiệp Làm rõ
Trang 37việc cần làm để thúc đẩy đổi mới công nghệ doanh nghiệp, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, cần thay đổi phương thức hỗ trợ theo hướng nâng cao tính năng và hiệu quả xã hội Nhà nước không cần phải quản lý quá chi tiết những việc doanh nghiệp làm, chỉ cần nắm kết quả thực hiện, chi phí cần thiết và hiệu quả xã hội mang lại Tiêu chí cần và đủ để Bộ KH&CN đánh giá, tuyển chọn và Bộ Tài chính quản lý chặt chẽ ngân sách hỗ trợ nên tập trung vào: đáp ứng nhu cầu xã hội, có được cái xã hội cần; giải pháp cần ưu việt hơn cái đã có để không đi sau thiên hạ và nguồn tài chính đảm bảo thực hiện thành công và có lãi Với tiêu chí này, đã có nhiều đề nghị tập trung vào đơn giản hóa thủ tục đăng ký, phê duyệt
đề cương, kiểm tra, nghiệm thu và quyết toán ngân sách hỗ trợ
I.3.3 Đánh giá nhu cầu và tình hình thực hiện chuyển giao công nghệ, triển khai ứng dụng ở các bộ, ngành
Căn cứ Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam đến năm 2010 đã được phê duyệt kèm theo Quyết định số 272/2003/QĐ-TTg ngày 31/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ, trong những năm qua, các bộ, ngành Trung ương đã tập trung triển khai thực hiện các hoạt động KH&CN phục vụ phát triển KT-XH theo hướng hiện đại hóa; tập trung phát triển mạnh các ngành công nghiệp đang có lợi thế cạnh tranh, có thị trường và tạo ra nhiều lao động như chế biến nông - lâm - thủy sản, thực phẩm, gia công cơ khí, lắp ráp điện tử, vật liệu xây dựng; kết hợp phát triển có chọn lọc một số ngành công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất quan trọng (công nghiệp nền tảng) như năng lượng, hóa chất, luyện kim
để tăng khả năng tự chủ của nền kinh tế; đồng thời, tập trung phát triển năng lực nghiên cứu thiết kế sản phẩm công nghiệp và chuyển dịch mạnh sang các ngành công nghiệp chế tác có tiềm năng, hàm lượng công nghệ cao (như sản xuất chi tiết linh kiện điện tử, phần mềm, hóa dược, hóa mỹ phẩm, sản phẩm từ công nghệ mới, thiết bị viễn thông, tin học); chú trọng nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm phát huy được lợi thế cạnh tranh của Việt Nam, đáp ứng được nhu cầu phát triển của đất nước và đón đầu, tận dụng được những cơ hội mà thế giới mang lại Nhu cầu về chuyển giao công nghệ và triển khai ứng dụng của các bộ, ngành trong giai đoạn 2006-
2010 đã được xác định cho từng lĩnh vực công nghệ, cụ thể như sau:
a) Công nghệ thông tin-truyền thông (CNTT-TT)
- Các công nghệ mới, các dịch vụ băng thông rộng; các hệ thống chuyển mạch; các hệ thống truyền dẫn quang dung lượng lớn; các công nghệ truy nhập;
hệ thống thông tin di động, mạng Internet thế hệ mới; công nghệ thông tin vệ
Trang 38tinh; công nghệ quản lý mạng; công nghệ phát thanh và truyền hình số
- Công nghệ phần mềm nền tảng (hệ điều hành cho máy vi tính, các thiết bị đầu mối di động, hệ điều hành mạng thế hệ mới, …); công nghệ cơ sở dữ liệu (công nghệ cơ sở dữ liệu hướng đối tượng, cơ sở dữ liệu quan hệ thời gian thực phân tán, …); công nghệ đa phương tiện, công nghệ thông tin địa lý (GIS) và công nghệ định vị vệ tinh (GPS); xây dựng các sản phẩm phần mềm ứng dụng
- Nghiên cứu trí tuệ nhân tạo, chú trọng những vấn đề đặc thù của Việt Nam: nhận dạng chữ Việt, xử lý ảnh, nhận dạng tiếng Việt; công nghệ tri thức;
hệ chuyên gia; dịch tự động
- Nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng trong một số lĩnh vực chọn lọc như công nghệ nano, linh kiện điện tử thế hệ mới, làm cơ sở cho phát triển ứng dụng tin học cấp nano Nghiên cứu các giải pháp bảo mật và an toàn thông tin
- Trong các lĩnh vực kinh tế-kỹ thuật đòi hỏi phải sớm tương hợp với trình
độ khu vực và quốc tế, như: bưu điện, ngân hàng, tài chính, du lịch, thương mại, đặc biệt là thương mại điện tử; trong các lĩnh vực năng lượng, giao thông vận tải, quốc phòng, an ninh, v.v Thực hiện các dự án tin học hóa và dịch vụ CNTT-TT trong các doanh nghiệp, ứng dụng CNTT-TT trong khu vực nông thôn
- Phổ cập kiến thức và ứng dụng CNTT-TT trong giáo dục - đào tạo từ phổ thông trung học đến đại học; ứng dụng CNTT-TT trong nghiên cứu khoa học, trong các hoạt động điều tra, thăm dò, khảo sát tài nguyên và theo dõi biến động môi trường, trong các lĩnh vực y tế, văn hóa, du lịch
- Phát triển cơ sở hạ tầng cho ngành công nghiệp CNTT-TT hiện đại, tương hợp quốc tế
- Xây dựng công nghiệp dịch vụ CNTT-TT, công nghiệp phần mềm phục
vụ cho thị trường trong nước và xuất khẩu; đồng thời tận dụng các khả năng chuyển giao công nghệ, liên doanh, liên kết để phát triển có chọn lọc các cơ sở lắp ráp, chế tạo linh kiện và thiết bị tin học hiện đại để dành lại thị phần phần cứng trong nước và xuất khẩu Đưa công nghiệp CNTT-TT trở thành một ngành công nghiệp có tốc độ tăng trưởng nhanh, đạt kim ngạch xuất khẩu cao
b) Công nghệ vật liệu tiên tiến
- Công nghệ vật liệu kim loại: nghiên cứu lựa chọn công nghệ luyện kim phù hợp với điều kiện tài nguyên và thực tế của Việt Nam để sản xuất gang thép; nghiên cứu sản xuất thép hợp kim, kim loại màu và kim loại bột dùng ngành cơ khí chế tạo, xây dựng, giao thông vận tải, hóa chất, dầu khí, quốc phòng
Trang 39- Công nghệ vật liệu polime và compozit: nghiên cứu ứng dụng công nghệ sản xuất vật liệu compozit gia cường bằng sợi thủy tinh, sợi ba zan sợi thực vật
và sợi các-bon; các polime compozit sử dụng cho kỹ thuật điện và điện tử; polime xử lý ô nhiễm môi trường; vật liệu cômpozit các bon-các bon với cấu trúc không gian phức tạp
- Công nghệ vật liệu điện tử và quang tử: Nghiên cứu ứng dụng các công nghệ sản xuất vật liệu và linh kiện quang điện tử và quang tử, vật liệu từ tính cao cấp dạng khối, màng vô định hình và vật liệu nano ứng dụng trong công nghiệp điện, điện tử và tự động hóa
- Công nghệ vật liệu y-sinh: Nghiên cứu các công nghệ sản xuất một số loại vật liệu dùng trong y học: các polime sinh học, composit các-bon, vật liệu các-bon xốp, vật liệu bi-ô-xi-tan
- Công nghệ vật liệu nano: Nghiên cứu ứng dụng vật liệu nano để sản xuất compozit nền polime và nền kim loại, xúc tác cấu trúc nano trong lĩnh vực dầu khí và xử lý môi trường Nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng trong một số hướng công nghệ nano có khả năng ứng dụng cao ở Việt Nam và tiếp thu, làm chủ công nghệ vật liệu mới
c) Công nghệ tự động hóa và cơ điện tử
- Nghiên cứu và ứng dụng công nghệ tự động hóa, cơ điện tử nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp và nền kinh tế:
- Nghiên cứu thiết kế và chế tạo với sự trợ giúp của máy tính (CAD/CAM), công nghệ điều khiển số trong một số ngành sản xuất phục vụ xuất khẩu, như: dệt, may, da giày và ngành cơ khí
- Nghiên cứu lắp ráp, bảo trì vận hành các hệ thống điều khiển, giám sát, thu thập và xử lý số liệu (SCADA)
- Ứng dụng công nghệ tự động hóa tích hợp toàn diện nhằm nâng cao hiệu quả cho toàn bộ quá trình sản xuất của doanh nghiệp
- Nghiên cứu ứng dụng và phát triển kỹ thuật rô bốt (đặc biệt là rô bốt thông minh và rô bốt song song)
- Nghiên cứu công nghệ, thiết kế, chế tạo các hệ điều khiển cơ điện tử , đặc biệt các hệ điều khiển nhúng; ưu tiên phát triển các phần mềm ứng dụng và các giải pháp thiết kế Phát triển kỹ thuật mô phỏng, đặc biệt là công nghệ tạo mẫu
ảo, nhằm tối ưu hóa các sản phẩm công nghệ cao
- Nghiên cứu bước đầu một số hướng điện tử mới, có triển vọng, như: hệ vi
Trang 40cơ điện tử (MEMS) và hệ nano cơ điện tử (NEMS)
d) Năng lượng nguyên tử và các dạng năng lượng mới
- Ứng dụng điện hạt nhân: nghiên cứu lựa chọn công nghệ cho các dự án nhà máy điện hạt nhân, tiếp thu và làm chủ công nghệ nhập để vận hành nhà máy an toàn và hiệu quả kinh tế cao
- Nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi các kỹ thuật hạt nhân, bức xạ và đồng vị phóng xạ trong các ngành kinh tế quốc dân, trong y tế, địa chất, thủy văn và môi trường; đảm bảo an toàn bức xạ hạt nhân trong các nghiên cứu, phát triển và sử dụng năng lượng nguyên tử; quản lý chất thải phóng xạ
- Nghiên cứu phát triển và ứng dụng các dạng năng lượng mới phục vụ các vùng sâu, vùng xa, hải đảo, như: năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng sinh học, v.v
e) Công nghệ vũ trụ
- Nghiên cứu phát triển công nghệ vũ trụ: nghiên cứu tiếp thu, làm chủ công nghệ và phóng vệ tinh nhỏ quan sát trái đất, trạm thu mặt đất, phục vụ nhu cầu nghiên cứu khoa học, phát triển kinh tế-xã hội và quốc phòng an ninh Xây dựng tiềm lực khoa học và công nghệ vũ trụ của Việt Nam đến năm 2010 có đủ năng lực thiết kế, chế tạo các loại vệ tinh nhỏ, thiết kế và chế tạo các trạm thu mặt đất; phát triển một số thiết bị vũ trụ mang tính thương mại; làm chủ được công nghệ
và kỹ thuật tên lửa
- Ứng dụng công nghệ vũ trụ: Nghiên cứu tiếp nhận chuyển giao công nghệ viễn thám, công nghệ định vị toàn cầu phục vụ nghiên cứu khoa học, điều tra cơ bản điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên; giám sát môi trường; phục vụ qui hoạch sử dụng đất và vùng lãnh thổ; dự báo và giám sát thiên tai; nuôi trồng
và đánh bắt hải sản; định vị cho các phương tiện giao thông vận tải; phục vụ quốc phòng an ninh, v.v
f) Công nghệ cơ khí- chế tạo máy
- Công nghệ tạo phôi: ứng dụng công nghệ đúc tiên tiến với tiêu chuẩn hóa vật liệu làm khuôn, tự động hóa quá trình nấu luyện; công nghệ rèn khuôn dập, cán tạo phôi, ép chảy, ép và dập sau thiêu kết; công nghệ hàn điện hồ quang tự động hoặc bán tự động, hàn plasma, hàn chùm tia điện tử v.v
- Triển khai áp dụng rộng rãi công nghệ CAD/CAM/CNC …, nhằm nâng cao chất lượng và tính linh hoạt của sản phẩm; kết hợp cơ khí- điện tử phục vụ
tự động hóa thiết kế và các quá trình điều khiển, kiểm tra, đo lường
- Công nghệ xử lý bề mặt: đầu tư vào các khâu nhiệt luyện, sơn mạ, phun