1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bảo tồn và lưu giữ nguồn gen cây bông và cây có sợi viện nghiên cứu bông và phát triển nông nghiệp nha hố

66 631 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 611,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quỹ gen bông Việt Nam hiện đang bảo quản tại Viện Nghiên cứu Bông và Phát triển nông nghiệp Nha Hố khá phong phú về số lượng và chủng loại với 2179 mẫu hạt giống, thuộc 4 loài.. Theo báo

Trang 1

BỘ CÔNG THƯƠNG TẬP ĐOÀN DỆT MAY VIỆT NAM

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Phần 1 MỞ ĐẦU……… 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài ……… 1

1.2 Mục tiêu của đề tài ……… 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU ……… 2

2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước ……… 2

2.1.1 Về nguồn gen cây bông ……… …… 3

2.1.2 Về nguồn gen cây gai xanh ……… 7

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước ……… 10

2.2.1 Về nguồn gen cây bông ……… 11

2.2.2 Về nguồn gen cây gai xanh ……… 11

Phần 3 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ………

14 3.1 Thời gian và địa điểm ……… 14

3.2 Vật liệu nghiên cứu ……… 14

3.3 Nội dung nghiên cứu ……… 14

3.4 Phương pháp nghiên cứu ……… 15

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ……… 16

4.1 Điều tra, khảo sát và thu thập nguồn gen ……… 16

4.1.1 Điều tra, khảo sát và thu thập nguồn gen cây bông ……… 16

4.1.2 Điều tra, khảo sát và thu thập nguồn gen cây gai xanh ……… 17

4.2 Duy trì và bảo quản nguồn gen hiện có 17

4.2.1 Duy trì mẫu giống bông trên đồng ruộng 17

4.2.2 Duy trì trên đồng ruông các mẫu giống gai xanh ……… 19

4.2.3 Bảo quản nguồn gen hạt trong kho lạnh ngắn hạn ……… 20

4.3 Kết quả đánh giá nguồn gen mới thu thập ……… 23

4.3.1 Đánh giá nguồn gen cây bông mới thu thập ……… 23

4.3.2 Đánh giá sơ bộ các mẫu giống gai xanh mới thu thập ……… 34

4.4 Kết quả tư liệu hóa dữ liệu tập đoàn 36

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ……… 37

5.1 Kết luận ……… 37

5.2 Đề nghị ……… 38

TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 39

PHẦN PHỤ LỤC ……… 40

Trang 3

Phần 1 MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong các loài cây trồng lấy sợi ở Việt Nam, có thể nói bông và kế đến là gai xanh là 2 loại cây có lịch sử trồng trọt lâu đời, trong đó, theo ghi nhận của nhiều tài liệu, bông có lịch sử gieo trồng hơn 4000 năm (Vũ Công Hậu, 1978) và gai hơn 2.500 năm (Dương Thị Hoàn, Nguyễn Khắc Khôi, 2007)

Trong quá trình phát triển sản xuất, để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của công tác tạo giống, công tác thu thập bảo quản nguồn gen cây có sợi ngày càng được chú trọng, đặc biệt là cây bông Các công việc liên quan đến quỹ gen bông được bắt đầu từ thời kỳ thuộc Pháp (Vũ Công Hậu, 1978) Quỹ gen bông Việt Nam hiện đang bảo quản tại Viện Nghiên cứu Bông và Phát triển nông nghiệp Nha Hố khá phong phú về số lượng và chủng loại với 2179 mẫu hạt giống, thuộc 4 loài

Trong đó, ba loài trồng trọt chính, với 2051 mẫu giống bông Luồi (G hirsutum L.); 67 mẫu giống bông Hải đảo (G barbaceum L.); 59 mẫu giống bông Cỏ (G

arboreum L.) và 2 mẫu giống bông dại Tuy nhiên, đối với gai xanh, công tác này

chưa được chú trọng, chỉ mới bắt đầu trong một vài năm trở lại đây với số lượng mẫu giống rất ít (14 mẫu) mới thu thập và lưu giữ, chưa được khai thác

Hiện tại, phát triển bông Việt Nam cũng nằm trong xu thế chung của thế giới Năng suất bông bình quân cả nước thấp (440 – 460kg xơ/ha) và tăng chậm Hơn nữa, chi phí sản xuất cao, ước tính 11 – 12 triệu đồng/ha (570 – 600 USD/ha) Trung bình chi phí khoảng 1,1USD/1kg xơ, thuộc nhóm nước có chi phí sản xuất cao nhất (ICAC, 2008) và đang có xu hướng tăng theo giá cả vật tư, nhân công hiện tại và sắp tới Chính vì thế, các đơn vị sản xuất khó có thể dùng biện pháp tăng giá mua để kích thích người trồng, đồng thời, hiệu quả sản xuất bông thấp, rủi

ro cao, cây bông mất ưu thế cạnh tranh so với cây trồng khác Hơn nữa, một trong những hạn chế năng suất bông Việt Nam và làm tăng chi phí đầu vào là sâu hại (sâu đục quả, chích hút) và bệnh hại (như đốm lá, phấn trắng ) phổ biến ở các vùng

Trước thực tế này, tăng giá trị đầu ra của sản phẩm bông và giảm chi phí sản xuất đầu vào hợp lý là giải pháp quan trọng để tăng khả năng cạnh tranh của cây bông nhằm khôi phục và phát triển bông trong nước Theo đó, song song với bảo tồn và khai thác nguồn gen hiện có, cần thu thập bổ sung nguồn gen bông kháng sâu - rầy, chín sớm, bất dục đực và xơ màu nhằm giảm chi phí vật tư nông nghiệp, công lao động trong sản xuất bông thương phẩm, giảm chi phí chế biến; nguồn gen năng suất – tỷ lệ xơ cao, chất lượng xơ tốt và xơ có màu tự nhiên nhằm tăng năng suất, hiệu quả sản xuất bông thương phẩm, tăng giá trị của sản phẩm xơ bông và đã

Trang 4

dạng hóa các sản phẩm Dệt May Mặt khác, cần đẩy mạnh công tác thu thập, bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn gen cây gai xanh để phát triển ngành sản xuất sợi

từ gai xanh, cung cấp nguyên liệu cho ngành dệt may, góp phần tăng giá trị đầu ra,

đa dạng hóa sản phẩm và giảm dần việc nhập khẩu bông xơ, tiết kiệm ngoại tệ và chủ động sản xuất, bảo đảm ngành Dệt-May phát triển bền vững Xuất phát từ tình

hình trên, Viện chúng tôi được giao nhiệm vụ “Bảo tồn và lưu giữ nguồn gen cây bông và cây có sợi” trong năm 2012

1.2 Mục tiêu của đề tài

Duy trì và bảo quản an toàn cho nguồn gen hiện có; bổ sung nguồn gen quý

và xây dựng được cơ sở dữ liệu cho các mẫu giống mới thu thập

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Nguồn tài nguyên di truyền là hạt nhân của đa dạng sinh vật Tài nguyên di truyền có ba loại là tài nguyên di truyền thực vật, tài nguyên di truyền động vật và tài nguyên di truyền vi sinh vật Trong đó, tài nguyên di truyền thực vật có trọng số lớn nhất về thành phần loài và giống, cũng như về mục tiêu và mức độ sử dụng Tuy nhiên, nguồn tài nguyên này đang bị thách thức trước hiểm họa to lớn do các

hệ sinh thái bị phá vỡ và tốc độ tuyệt chủng của các loài động, thực vật ngày càng tăng

Nhận thức được tầm quan trọng của tài nguyên di truyền thực vật, nhiều

nước trên thế giới và nhiều tổ chức quốc tế đã tập trung cho bảo tồn ex-situ, cho đến những năm 90 thì bắt đầu quan tâm nhiều đến bảo tồn in-situ Hiện nay, chiến lược bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật là kết hợp hài hoà hai phương pháp ex-

situ và in-situ (complement strategy) Các nước kinh tế phát triển đã hình thành

đầy đủ cơ sở vật chất của bảo tồn ex-situ thì lại đang quan tâm nhiều đề bảo tồn

in-situ Ngược lại, các nước đang phát triển chưa tạo lập được ngân hàng gen thích

hợp để giữ cho không mất nguồn gen của mình lại phải ưu tiên đến bảo tồn ex-situ, đồng thời xúc tiến bảo tồn in-situ để hỗ trợ cho bảo tồn ex-situ Bảo tồn thông qua

sử dụng là giải pháp tối ưu để thúc đẩy sử dụng bền vững tài nguyên di truyền thực vật

Để có thể bảo tồn và sử dụng hiệu quả đa dạng sinh học nông, lâm nghiệp trong đó tài nguyên di truyền thực vật là hạt nhân, năm 1974, nhiều quốc gia trên thế giới sáng lập Ủy ban Tài nguyên cây trồng quốc tế (IBPGR), tiền thân của Viện nghiên cứu Tài nguyên di truyền cây trồng quốc tế (IPGRI) Đến năm 2006, IPGRI sáp nhập với Tổ chức nghiên cứu phát triển chuối thế giới (International Network for

Trang 5

the Improvement of Banana and Plantain - INIBAP) thành tổ chức nghiên cứu đa

dạng sinh học thế giới Bioversity International Hiện tại, trong ngân hàng gen ex situ

của Bioversity International có hơn 5000 mẫu giống thuộc 20.000 loài hiện có trên toàn thế giới Trong các ngày 19-21 tháng 5 năm 2009, hội nghị “ Hợp tác trong khu vực Đông Nam Á về bảo tồn Tài nguyên Di truyền thực vật (RECSEA-PRG)

đã được tổ chức tại Los Banos, Phillippines, các nước thành viên tham gia bao gồm, Malaysia, Thailand, Myanmar, Indonesia, Việt Nam và Phillippines

Theo báo cáo của FAO (2009), nguồn tài nguyên di truyền cây trồng được quan tâm thuộc 100 nghìn loài trong tổng số 7 triệu loài, đang được bảo tồn dưới

các hình thức ex-situ ngân hàng gen hạt và đồng ruộng, in- situ, bảo quản nông trại

và in-vitro Trong đó chủ yếu hình thức ex-situ ngân hàng gen hạt và đồng ruộng

với 7,4 triệu mẫu, tăng lên khoảng 20% so với năm 1996 Trong 100 nghìn loài trên, chỉ có 50 loài chính được trồng trọt sử dụng cho các nhu cầu chính của con

người với số mẫu bảo tồn ex-situ cao nhất (5,2 triệu mẫu) Trong đó, cao nhất là

lúa mì, lúa nước, lúa mạch, ngô…

2.1.1 Về nguồn gen cây bông

Nguồn tài nguyên di truyền của cây bông có 104 nghìn mẫu, xếp thứ 13 trong tổng số 100 nghìn loài được quan tâm bảo tồn; tập trung chủ yếu ở các nước như Australia, Brazil, Trung Quốc, Pháp, Ấn Độ, Nga, Mỹ và Uzbekistan (IPGRI, 2010)

Úc giảm dần và ổn định ở quy mô diện tích khoảng 175.780 ha (năm 2008); trong

đó, tại New South Wales chiếm khoảng 74% sản lượng và tại Queensland khoảng 26% sản lượng bông của Úc

Trước những năm 1980, các nhà chọn tạo giống bông tại Úc tự mua và duy trì bảo tồn nguồn quỹ gen bông Tuy nhiên, đến đầu những năm 1980, chính phủ các bang và nhà nước thành lập mạng lưới gồm 08 trung tâm tài nguyên di truyền

để bảo tồn nguồn quỹ gen quốc gia về các loại giống cây trồng và cây thức ăn gia súc Trong khoảng 15 năm đầu tiên, các trung tâm này hầu như làm việc tương đối đốc lập, ít có sự phối hợp Mãi đến năm 1995, chính phủ ban hành các quy định và

Trang 6

thành lập các cơ sở kiểm dịch giống cây trồng trong toàn quốc, các trung tâm tài nguyên di truyền tại Úc mới bắt đậu được hệ thống và thành lập hệ thống điều hành chung

Hiện tại, nguồn quỹ gen cây bông tại Úc được đặt tại 02 địa điểm: i) tại Tổ chức khối thịnh vượng chung nghiên cứu khoa học công nghệp (Commonwealth Scientifi c and Industrial Research Organisation - CSIRO Plant Industry) và ii) tại Trung tâm giống ngũ cốc nhiệt đới (Australian Tropical Grains Germplasm Centre – ATGGC) (IPGRI, 2010) Trong đó:

- Tại CSIRO: Hầu hết các giống bông lưỡng bội của Úc được khai thác và phát triển tại CSIRO, tuy nhiên hướng nghiên cứu này tạm ngừng từ khoảng năm

2000 Chương trình nghiên cứu giống bông tại CSIRO thực sự bắt đầu từ năm

1972 Theo thời gian, thông qua việc trao đổi vật liệu giữa các nhà chọn tạo giống,

hiện tại số mẫu giống tại đây gồm có 542 mẫu bông Luồi (G hirsutum), 63 mẫu giống bông hải đảo (G barbadense) và 30 chủng bông dại lưỡng bội Tập đoàn

quỹ gen được bảo quản trong điều kiện nhiệt độ 7oC, ẩm độ tương đối 50% Ngoài

ra, mỗi mẫu giống được đưa đi bảo quản 02 mẫu dự trữ (mỗi mẫu 10 gram) tại 02 kho lạnh tại CSIRO và tại một Viện nghiên cứu gần đó Mỗi lô giống của các nguồn gen được nhân tái tạo lại sau khoảng 10 năm hoặc có thể sớm hơn Tại CSIRO, cơ sở dữ liệu nguồn gen cũng đã được xây dựng nhưng chỉ sử dụng để trao đổi thông tin nội bộ hoặc trao đổi giống giữa các nhà tạo giống

- Tại ATGGC: Từ năm 1994, ATGGC thường xuyên thực hiện công tác thu thập các mẫu nguồn gen của các loài họ hàng với các giống cây trồng và cây thức

ăn gia súc cho vùng nhiệt đới Đến nay, tại ATGGC có khoảng 1080 mẫu giống bông, trong đó có khoảng 90% số mẫu thuộc loài bông Luồi, số còn lại thuộc các loài bông tứ bội khác và các loài bông lưỡng bội được thu thập tại 22 quốc gia khác Tất cả các mẫu giống bông tại ATGGC đều được bảo quản trong điều kiện kho lạnh dài hạn, trong đó: ẩm độ hạt được hạ xuống chỉ còn 6% trước khi bảo quản (hạt bông được đặt trong điều kiện nhiệt độ 15oC, ẩm độ tương đối là 15% cho đến khi ẩm độ hạt hạ xuống đến mức yêu cầu) Sau đó, các mẫu giống này được đóng gói trong các túi nhôm và tàng trữ ở điều kiện nhiệt độ -20oC Trong điều kiện như vậy, hạt của hầu hết các loại cây trồng đều có thể tàng trữ được khoảng 50 năm

* Tại Braxin:

Trang 7

Tập đoàn giống bông được duy trì bởi Tổng công ty nghiên cứu nông nghiệp Braxin (The Brazilian Agricultural Research Corporation) tại Trung tâm quốc gia

về tài nguyên di truyền và công nghệ sinh học (National Center for Genetic Resources and Biotechnology - NCGRB) Năm 1974, đây cũng là năm Trung tâm tài nguyên nông nghiệp quốc tế (CGIAR) thành lập Trung tâm tài nguyên di truyền cây trồng quốc tế (IPGRI), tại Braxin đã thành lập NCGRB Cho đến nay, tại Braxin có nguồn quỹ gen cây bông khá lớn với 4361 mẫu giống, trong đó có 39%

số mẫu thuộc loài bông Luồi, 35% số mẫu thuộc bông hải đảo; số còn lại thuộc 26 loài bông lưỡng bội và 03 loài bông tứ bội khác Hiện tại, Braxin có 05 kho bảo quản dài hạn có khả năng tàng trữ lên đến 250.000 mẫu giống, điều kiện nhiệt độ -

20oC, ẩm độ kho bảo quản khoảng 5±2% Hạt giống được kiểm tra sức sống sau định kỳ khoảng 10 năm 1 lần (phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên hỗn hợp) Khi tỷ

lệ nảy mầm <85% hoặc mẫu giống với số lượng hạt còn rất ít thì tiến hành nhân tái tạo cho chu kỳ kế tiếp (IPGRI, 2010)

* Tại Trung Quốc:

Hiện tại, ngân hàng quỹ gen cây bông của Trung Quốc rất lớn, với 8868 mẫu

giống thuộc các loài bông trồng trọt (Bông cỏ châu Á - G arboreum; Bông cỏ châu Phi - G herbaceum; Bông Luồi - G hirsutum và bông hải đảo - G barbadense) và

41 mẫu thuộc các loài bông dại Trong đó, có 7221 mẫu giống được bảo quản trong kho lạnh dài hạn tại Bắc Kinh (nhiệt độ kho -18oC, ẩm độ tương đối 57%) Tập đoàn giống công tác tại Anyang có khoảng 8344 mẫu được bảo quản ở điều kiện nhiệt độ 0oC, ẩm độ 50% Tại đảo Hải Nam bảo quản ex-sitiu trên đồng ruộng 391 mẫu giống thuộc các loài bông dại và một số chủng bông Luồi Đối với tập đoàn giống công tác, tuỳ thuộc vào yêu cầu khác nhau mà chu kỳ nhân lại có sự thay đổi giữa các giống Để hạn chế áp lực thụ phấn cưỡng bức do phải nhân lại nhiều lần, thường khi tỷ lệ nảy mầm của mẫu giống <65% thì tiến hành nhân tái tạo hạt (IPGRI, 2010)

* Tại Ấn Độ:

Trang 8

Tại Ấn Độ, việc thu thập mẫu giống mới và duy trì tập đoàn giống công tác

được Viện nghiên cứu bông trung tâm (CIRC) tại Nagpur và Coimbatore thực hiện; việc bảo quản dài hạn được tiến hành bởi Văn phòng quốc gia về tài nguyên

di truyền cây trồng (NBPGR) tại New Dehli Quỹ hoạt động cho công tác này được cung cấp bởi Hội đồng nghiên cứu nông nghiệp Ấn Độ (Indian Council for Agricultural Research) – một tổ chức độc lập thuộc quyền lãnh đạo của Bộ Nông nghiệp Ấn Đến nay, Ấn Độ có tổng số 10.227 mẫu giống với đa số thuộc 04 loài

bông trồng trọt (Bông cỏ châu Á - G arboreum; Bông cỏ châu Phi - G

herbaceum; Bông Luồi - G hirsutum và bông hải đảo - G barbadense), số còn lại

thuộc 26 loài bông dại và 32 dòng lai tổng hợp và các dòng phái sinh Bảo quản dài hạn được tiến hành tại NBPGR, điều kiện kho lạnh -40oC Tập đoàn công tác của tất cả các mẫu giống bông trồng trọt (ngoại trừ loài bông hải đảo được lưu trữ tại Coimbatore) được lưu trữ tại Nagpur; với điều kiện kho lạnh 4oC Các loài bông dại và các dòng phái sinh được lưu trữ trên đồng ruộng tại Nagpur (IPGRI, 2010)

* Tại Nga:

Hiện tại, tập đoàn giống bông của Nga có 6322 mẫu giống thuộc 24 loài lưỡng bội, 03 loài tứ bội và một số mẫu giống lai thuộc loài lưỡng bội và tứ bội Công tác bảo tồn quỹ gen bông được thực hiện bởi viện VIR tại St Petersburg Các mẫu giống bông được bảo quản ngắn hạn ở điều kiện nhiệt độ 4oC, ẩm độ 6%; điều kiện bảo quản dài hạn là -10oC, ẩm độ 3,5% (IPGRI, 2010)

* Tại Mỹ:

Hiện tại, Mỹ có khoảng 10.000 mẫu giống thuộc 45 loài bông khác nhau Hằng năm, khoảng 10% số mẫu giống (khoảng 1000 mẫu) được tiến hành nhân tái tạo, như vậy mỗi mẫu giống có chu kỳ nhân lại khoảng 10 năm Hầu hết tập đoàn giống bông của Mỹ đều được bảo quản trong kho lạnh dài hạn (IPGRI, 2010)

* Tại Uzbekistan:

Tập đoàn giống bông tại Uzbekistan được lưu trữ tại 03 địa điểm: i) Viện chọn tạo giống bông trực thuộc Bộ Nông nghiệp Uzbekistan; ii) Viện tài nguyên di truyền và thử nghiệm sinh học cây trồng – thuộc Viện khoa học hàn lâm Uzbekistan và iii) tại Trường đại học quốc gia Uzbekistan tại Tashkent Hiện tại, Uzbekistan có khoảng > 20.000 mẫu giống bông các loại bao gồm cả những dòng đẳng gen (isogenic), các dòng cận giao (inbred), các dòng cận giao tái tổ hợp (RIL)… Trong đó, có khoảng gần 12.000 mẫu giống thuộc loài bông Luồi được lưu trữ tại Viện chọn tạo giống bông trực thuộc Bộ Nông nghiệp Uzbekistan; khoảng 7500 mẫu giống được bảo quản lại Viện tài nguyên di truyền và thử

Trang 9

nghiệm sinh học cây trồng – thuộc Viện khoa học hàn lâm Uzbekistan với hơn 40 loài thuộc các kiểu genome từ A đến G và K (có khoảng 4500 mẫu bông luồi, 971 mẫu giống hải đảo, 857 mẫu giống bông cỏ châu Phi và 547 mẫu giống bông cỏ châu Á, 200 mẫu giống đột biến phản ứng quang chu kỳ)… Trung bình, từ sau 8 –

10 năm phải tiến hanh chu kỳ nhân lại cho các mẫu giống (IPGRI, 2010)

2.1.2 Về nguồn gen cây gai xanh

Cây gai xanh lấy sợi (Boehmeria nivea L Gaud) còn có tên tiếng Anh là Green Ramie, Chinese grass… thuộc họ tầm ma (Urticaceae), chi gai (Boehmeria),

có nguồn gốc từ vùng bán đảo Mã Lai Cây gai là cây trồng dùng lấy sợi dệt vải lâu đời nhất trong các loại cây lấy sợi

Cây gai xanh là cây lâu năm, cao khoảng 1-2,5 m lá hình trái tim dài 7-15

cm, rộng 6-12 cm, mặt dưới lá phủ một lớp lông trắng bạc dày Sợi gai có nhiều đặc tính tốt như độ bền cao, sợi rất dài và là sợi thực vật có độ bền tốt nhất trên thế giới hiện nay Tuy vậy, sản xuất gai vẫn còn ở mức hạn chế vì một số nhược điểm trong quá trình canh tác và chế biến Gần đây, nhờ những tiến bộ mới, việc canh tác, trồng cây gai có dấu hiệu phát triển hơn ở các nước trên thế giới

Theo Ridley (1967) trong hơn 100 loài gai thuộc chi gai, chủ yếu tập trung vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, trong đó, một số loài thân bụi, thân thảo và thân

gỗ Theo Lawrence (1963) Boehmeria Jacq có 80 loài, Berger (1954) có khoảng 50 loài Những thông tin này được đưa ra dựa trên thông tin có ít nhất 13 loài ở Tây Bán Cầu đã được công bố trước đó (Anon 1948) Nhật Bản có Khoảng 40 loài (Kirby 1963), Ấn Độ 45 loài (Hooker, 1885), Ceylon 45 loài (Triman, 1974) và 50 loài từ Đông Á (Ridley, 1967) Ở Mỹ chỉ tồn tại một loài (B cylindrica) (Anon., 1948), tuy nhiên, theo Lawrence thì ở Mỹ có 5 loài Tại Ấn Độ, khoảng 19 loài đã được công bố từ Assam, Meghalaya, Arunachal Pradesh, Sikkim và Kumaun (Hooker, năm 1885, Kanjilal và cộng sự 1940) Fischer (1926) 4 loài từ vùng núi phía Tây, trong khi Cook (1958) 5 loài từ bán đảo phía Tây Prain (1958) cũng công bố 2 loài từ vùng đồng bằng Bengal B nivea là giống địa phuơng vùng Đông Á, có nguồn gốc từ Nhật Bản di chuyển xuống phía đông của Trung Quốc đến Malaysia, nhưng theo Vavilow (1951) gai là giống bản địa tại miền Trung và miền Tây Trung Quốc (dẫn theo Dr D.P Singh, 2009)

Trung Quốc, Brazil và Philippin là những nước có diện tích trồng cây gai ở phạm vi thương mại hoá Các nước khác như: Nhật Bản, Ấn Độ, Đài Loan, Hàn Quốc, Indonesia, Columbia, Malaysia, Việt Nam, Pháp, Anh cũng có trồng gai nhưng phạm vi nhỏ

Trang 10

Tại Trung Quốc: Cây gai xanh được trồng từ nhiều thế kỹ trước khi cây

bông được trồng từ 1300 năm trước Công nguyên Hiện nay, Trung Quốc là nước

có diện tích trồng cây gai xanh cao nhất thế giới Theo Lu Chunxiao (2008), sản lượng gai toàn thế giới là 350.000 tấn/năm Trong đó, 80% là của Trung Quốc với sản lượng 250.000 tấn/năm Gai xanh của Trung Quốc có chất lượng cao, sợi bền Qua chế biến sẽ cho vải chất lượng cao, nhẹ, bền và sáng bóng như lụa Lượng sợi này đáp ứng được nhu cầu trong nước và xuất khẩu sang các nước khác như Mỹ, Châu Âu, Nhật, Hàn Quốc Tỉnh Hunan được xem là thủ đô sợi gai thế giới Chỉ riêng công ty Hunan Insunte Co.Ltd có khả năng xuất khẩu đạt 1 tỷ RMB (khoảng

2300 tỷ VND)

Tại Brazil: Brazil bắt đầu trồng cây gai xanh từ cuối những năm 1930, sản

xuất đạt đỉnh cao vào năm 1971 với khoảng 30.000tấn/năm, sau đó giảm mạnh do

sự cạnh tranh của các cây trồng như đậu nành và sự phát triển của sợi tổng hợp

Tại Philippin : Philippin bắt đầu trồng cây gai xanh từ đầu những năm 1950,

sản xuất phát triển mạnh nhất và giữa những năm 1960 với 5.500tấn/năm và rồi sau đó, sản xuất giảm rất mạnh

Tại Ấn Độ: Cây gai xanh có nguồn gốc lâu đời ở Ấn Độ nhưng thực sự bắt

đầu phổ biến chỉ từ những năm 1960 và hiện nay diện tích trồng cây gai xanh vẫn còn rất hạn chế Nước này cũng đánh giá rằng, loại cây trồng lấy sợi thay thế cho cây bông hiện nay là cây gai xanh và có hẳn chương trình nghiên cứu để phát triển sản xuất gai xanh trên diện rộng tại Ấn Độ Trong đó, vùng Đông bắc Ấn được đánh giá là thích hợp để phát triển cây gai xanh

Tại Úc: Cây gai xanh được trồng tại một số nơi ở bang Queenland nhưng

cũng chỉ mới đang ở dạng nghiên cứu thử nghiệm

Hiện tại, có khoảng hơn 20 loài gai xanh được được quan tâm bảo tồn tại ngân hàng gen của 15 nước trên thế giới với hơn 2.500 mẫu giống (D.P Singh, 2009) Trong đó, bộ sưu tập nguồn gen gai xanh lớn nhất chủ yếu tập trung ở

Trung Quốc và Ấn Độ Tuy nhiên, chỉ có các mẫu giống thuộc 02 loài Boehmeria

nivea L và Boehmeria Ultilis L được quan tâm hơn cả trong bảo tồn và khai thác

thương mại hoá Phương pháp bảo tồn chủ yếu bằng hình thức Exsitu ngân hàng

gen đồng ruộng với chu kỳ bảo quản 8 – 10 năm và cắt tạo thân mới 3 – 4 lần/năm

Hình thức bảo quản Exsitu ngân hàng gen hạt chỉ mới áp dụng ở Trung Quốc,

nhưng thường tốn kém chi phí nhân giống, dễ gây biến dị và thoái hoá (D.P Singh, 2009)

Trang 11

Cây gai được nhân giống từ thân ngầm (nhân giống vô tính) để phục vụ sản xuất thương mại trên khắp thế giới Thân ngầm được cắt thành những đoạn dài khoảng 6 inch được trồng thẳng góc hoặc vuông góc với đường cày và sâu 1 – 2 inch dưới mặt đất (Brittain B Robinson, 1940) Khoảng 250 đến 275 kg thân ngầm (3.750 – 4.000 đoạn thân ngầm dài 10 – 15 cm) có thể trồng được 1 ha đất (D.P Singh, 2009) Theo tài liệu của trung tâm tiền sử Đông Nam Á, ưu điểm của phương pháp này là đơn giản, dễ trồng, tránh khâu vườn ươm, giữ được các đặc tính của giống tốt, không bị tạp giao, gai sinh trưởng nhanh chóng, ngay năm đầu

đã có thể cho sản lượng cao Tuy nhiên, phương pháp này cũng có một số nhược điểm như hệ số nhân giống thấp, trọng lượng thân ngầm lớn, kềnh càng vận chuyển giống khó khăn, giá thành lớn

Cây gai là cây trồng mọc lan rộng, vì vậy cần tạo khoảng cách để cây có thể sinh trưởng và phát triển tốt Tuy nhiên, mật độ có thể khác nhau đáng kể phụ thuộc vào độ màu mỡ của đất, loại đất và giống (Dutta and Sanyal, 1958) Trạm nghiên cứu cây gai ở Sorbhog đã tiến hành nhiều thí nghiệm và kết luận rằng nên trồng với khoảng cách cây 45 cm và khoảng cách hàng 60 cm (Sarma, 1981)

Ở Philipin, cây gai có thể được trồng thuần hoặc trồng xen với dừa (Petruszka, 1977) Việc bón phân cho gai nên được chia làm nhiều lần trong năm, nên bón vào giữa các kỳ thu hoạch Theo D.P Singh, 2009, trong năm đầu tiên trồng gai nên bón 2 lần với liều lượng mỗi lần là 20 kg N + 15 kg P2O5 + 15 kg

K2O/ha, các năm sau đó bón liều lượng 30:15:25 kg NPK/ha/lần vào sau các kỳ thu hoạch (2 – 4 lần/năm) Các thí nghiệm tiến hành tại trạm nghiên cứu ở Sorbhog, Assam chỉ ra rằng để cây sinh trưởng tốt cho năng suất sợi cao, thì cần bón lượng phân 30 kg N + 15 kg P2O5 + 15 kg K2O/ha/1 lần thu hoạch trong 3 năm đầu và bón 60 kg N + 30 kg P2O5 + 60 kg K2O/ha/1 lần thu hoạch trong những năm tiếp theo (Sarma and Ghosh, 1981)

Cây gai cũng phản ứng tốt với phân hữu cơ và những chất thải nông nghiệp khác giúp làm tăng năng suất sợi Những chất thải sau khi tách sợi có giá trị cao để làm phân xanh (Kirby, 1963) Những chất này không giúp thu được năng suất cao nhưng cũng góp phần duy trì cải tạo tính chất vật lý của đất (Berger, 1968) Các chất thải đồng ruộng cũng cung cấp 1 lượng các chất dinh dưỡng như K và N cho đất (de Geus, 1967)

Theo D.P Singh, 2009, thông thường có thể thu hoạch gai 4 lần/năm, lần đầu khi cây được 50 ngày tuổi, các lần tiếp theo sau đó 45, 45 và 50 ngày Tổng lượng sợi gai thu hoạch được trong năm vào khoảng 1.200 đến 1.800 kg/ha Tuy nhiên, năng suất phụ thuộc nhiều vào loại đất, khí hậu, giống và tình hình quản lý sâu bệnh

Trang 12

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Sự đa dạng, giàu có về tài nguyên di truyền thực vật là tiền đề để nước ta phát triển nông nghiệp nói riêng và các nhiệm vụ kinh tế xã hội nói chung Tuy nhiên, do sức ép gia tăng dân số và sự thâm canh nông nghiệp không hợp lý, nguồn gen cây nông nghiệp đã và đang bị xói mòn, mất mát với tốc độ rất nhanh Nhiều giống cây trồng đặc sản bị các giống mới năng suất cao nhưng nền di truyền hẹp thay thế, dẫn tới việc mất đi các giống địa phương tuy năng suất thấp nhưng phẩm chất lại cao và có tính thích nghi bền vững do nền di truyền rộng Nạn phá rừng, việc thay đổi phương thức sử dụng đất, mở mang đô thị, giao thông và các công trình công cộng đã và đang đe dọa nghiêm trọng tài nguyên di truyền thực vật cổ truyền quý giá của nước ta Vì vậy tìm biện pháp tổ chức và quản lý hợp lý nhiệm

vụ bảo tồn để phục vụ cho khai thác, sử dụng có hiệu quả tài nguyên cây nông nghiệp là nhiệm vụ khoa học cấp bách của nước ta hiện nay Cũng như nhiều nước

đang phát triển khác, nước ta đã ưu tiên đầu tư cho bảo tồn ex-situ để lưu giữ an

toàn và ngăn chặn mất mát nguồn gen đang diễn ra rất nhanh, đồng thời từ năm

2001 đã xúc tiến bảo tồn in-situ để hỗ trợ cho bảo tồn ex-situ trong việc duy trì quá

trình tiến hóa tự nhiên của cây nông nghiệp

Nhiệm vụ bảo tồn tài nguyên di truyền cây nông nghiệp ở nước ta được tiến hành từ sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất Sau Hiệp định Geneve, bảo tồn quỹ gen cây trồng được tiến hành ở cả 2 miền Nam, Bắc Ở miền Bắc, từ năm 1952 (Viện Khảo cứu trồng trọt), năm 1955 (Học Viện nông lâm), bắt đầu từ năm 1956 (Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam) đã thu thập, đánh giá một số tập đoàn giống cây trồng, trong đó nhiều giống được lưu giữ đến ngày nay Đến năm

1987, sau khi Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà Nước (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) ban hành quy chế lâm thời về bảo tồn nguồn gen, thì công tác này trở thành nhiệm vụ thường xuyên cấp Nhà Nước Từ năm 1985- 1992 với sự giúp đỡ của Bộ Nông nghiệp và Viện Hàn lâm nông nghiệp Liên Bang Nga, đã tiến hành thu thập và lưu giữ hàng vạn mẫu giống thuộc 72 loài cây trồng khác nhau Năm 1989 Ngân hàng gen Quốc gia được thành lập, có phương tiện để bảo quản giống trong

kho lạnh, duy trì trên đồng ruộng và bảo tồn in vitro

Năm 1996, thành lập Trung tâm Tài nguyên di truyền thực vật trực thuộc Viện Khoa học nông nghiệp Việt nam, là đầu mối của hệ thống bảo tồn quỹ gen cây nông nghiệp của cả nước Để tăng cường hơn nữa cong tác bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên di truyền thực vật, tháng 9 năm 2005 thành lập Trung Tâm Tài nguyên Thực vật trực thuộc viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam trên cơ sở Trung tâm Tài nguyên di truyền thực vật của Viện Khoa học nông

Trang 13

nghiệp Việt nam Đến nay, Trung tâm Tài Nguyên thực vật và mạng lưới 19 cơ quan của hệ thống Tài nguyên Di truyền thực vật quốc gia tiếp tục duy trì, lưu giữ các tập đoàn quỹ gen của hơn 300 loài cây trồng với tổng số trên 22.500 nguồn gen

2.2.1 Về nguồn gen cây bông

Công tác thu thập bảo quản nguồn gen cây bông được bắt đầu từ thời kỳ thuộc Pháp (Vũ Công Hậu, 1978) Công tác này ban đầu được thực hiện tại Trạm Nghiên cứu Bông Gia Lâm - Hà Nội, sau đó chuyển vào Định Tường Thanh Hoá Khi đất nước thống nhất (1975), trạm nghiên cứu Bông Định Tường Thanh Hoá chuyển vào trạm thí nghiệm Nông nghiệp Nha Hố - Phan Rang (nay là Viện nghiên cứu Bông và Phát triển nông nghiệp Nha Hố), nguồn gen cây bông lúc đó chủ yếu

là các giống bông cỏ (Gossypium arboreum L.) và một số giống bông luồi di thực (Gossypium hirsutum L.) Từ năm 1975, thông qua các chương trình viện trợ phát

triển bông của Liên Hiệp Quốc và mối quan hệ hợp tác với một số Viện/cơ quan Nghiên cứu bông nước ngoài như Ấn Độ, Trung Quốc, Nga (Viện cây trồng Vavilov- VIR, Liên Xô cũ)……Công tác bảo tồn nguồn gen cây bông ngày càng được đẩy mạnh và phát triển liên tục Hiện tại, Viện Nghiên cứu Bông và Phát triển nông nghiệp Nha Hố, đang bảo quản 2179 mẫu hạt giống, thuộc 4 loài Trong

đó, ba loài trồng trọt chính, với 2051 mẫu giống bông Luồi (G hirsutum L.); 67 mẫu giống bông Hải đảo (G barbaceum L.); 59 mẫu giống bông Cỏ (G arboreum

L.) và 2 mẫu giống bông dại

Công tác bảo tồn và lưu giữ nguồn gen cây bông chủ yếu là bảo quản trong kho lạnh ngắn hạn và nhân lại theo chu kỳ trên đồng ruộng để tái tạo hạt cho chu

kỳ bảo quản tiếp theo Công tác đánh giá giống được thực hiện ba hình thức: đánh giá ban đầu (15 tính trạng/giống), đánh giá chi tiết (35 tính trạng/giống) và đánh giá một số đặc điểm di truyền (9 tính trạng/giống) Công tác tư liệu hoá chủ yếu là bản mẫu mô tả theo Viện Tài nguyên và Di truyền Quốc tế và quản lý trong máy tính dưới dạng bảng số liệu trên phần mềm EXCEL Về khai thác sử dụng, bằng việc bình tuyển trực tiếp từ tập đoàn giống bông, chúng ta đã phóng thích được một số giống tốt như TH1, TH2, MCU9, LRA, D16-2…Đặc biệt, những năm gần đây, công tác tạo giống bông đã có nhiều thành công, trong đó, nổi bật nhất là khai thác và sử dụng nguồn gen làm vật liệu ban đầu Kết quả đã lai tạo được một số giống bông lai cho sản xuất như L18, VN20, VN35, VN15, VN01-2, VN02-2, VN04-3, VN04-4, VN04-5, và nhiều giống có triển vọng mang nhiều tính trạng tốt

2.2.2 Về nguồn gen cây gai xanh

Ở nước ta, cây gai xanh có từ khá lâu, mọc hoang dại hoặc trồng rãi rác trong nhân dân ở các tỉnh miền Bắc, miền Trung và cực Nam Trung Bộ Thân dùng

Trang 14

lất sợi làm lưới, dệt vải; lá dùng để làm bánh, rễ cây còn có tác dụng chữa được nhiều loại bệnh Trước kia, người Nhật cũng đã bắt nhân dân ta phá lúa để trồng gai Theo tờ Việt Báo (2004), trong khi khai quật các khu mộ thuyền ở Hải Dương

và Hà Tây, có niên đại cách đây hơn 2500 năm, TS Nguyễn Việt tìm thấy các vải liệm thi thể vẫn còn khá bền chắc Các loại vải này sau đó đã được xác định là được dệt từ sợi cây gai

Dương Thị Hoàn, Nguyễn Khắc Khôi (2007), ở Việt Nam họ Gai

(Urticaceae) có 23 chi và 94 loài, phân bố khắp các vùng trên cả nước, trong đó có

34 loài được sử dụng làm thuốc, phân bố chủ yếu ở miền Bắc Việt Nam, dạng sống thường là cây bụi, cây cỏ hoặc cây mọng nước, ít khi là cây gỗ

Theo Dương Thị Hoàn và Hà Thị Vân Anh (2009), Họ Gai (Urticaceae) có khoảng 45 chi và trên 1000 loài, phân bố rộng trên thế giới, chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Ở Việt Nam có 21 chi và gần 100 loài, phân bố khắp các vùng trên cả nước Bên cạnh giá trị về phân loại, các loài trong họ Gai còn được sử dụng rộng rãi trong cộng đồng để lấy sợi, làm thuốc, làm rau ăn, làm cảnh và làm các nguyên liệu khác

Một số loài trong họ gai được sử dụng để lấy sợi vì sợi gai bền, chắc, chịu lực, chịu mặn Người ta dùng sợi gai để sản xuất các loại hàng như dệt vải, may mặc, lưới đánh cá, vải lót lốp xe đạp, ô tô, dây cua roa, chỉ khâu giày Trong công nghệ dệt, sợi gai thường được pha trộn với sợi polyeste, sợi bông và tơ tằm Một số

loài được trồng để lấy sợi như Boehmeria nivea (L.) Gaudich., Boehmeria

holosericea Blume, Maoutia puya (Hook.f.) Wedd., Oreocnide frutescens (Thunb.)

Miq (Theo Dương Thị Hoàn và Hà Thị Vân Anh (2009))

Những năm 60-80 của thế kỷ 20, một số nơi như: Nam Định, Hải Dương, một số tỉnh miền núi phía Bắc như Điện Biên, Lào Cai, Sơn La có trồng cây gai nhưng ở quy mô nhỏ tự cung, tự cấp, lấy sợi dệt vải, đan võng, lưới đánh cá Đến khi sợi tổng hợp phát triển nghề trồng gai ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng không tồn tại nữa

Trước nhu cầu ngày càng lớn về nguyên liệu của ngành Dệt-May trong nước, việc phát triển cây nguyên liệu khác ngoài cây bông nhằm bổ sung cơ cấu nguyên liệu cho ngành dệt may là cần thiết, trong đó cây gai xanh là một trong những cây lấy sợi có tiềm năng phát triển Từ trước đến nay ở Việt Nam cây gai xanh chưa được nghiên cứu theo hướng lấy sợi nên việc nghiên cứu đồng bộ các biện pháp kỹ thuật nhằm nhằm triển cây gai xanh ở Viêt Nam theo hướng hàng hóa là rất cần thiết

Trang 15

Nhận thức được vấn đề này, từ năm 1998 ngoài nghiên cứu cây bông, Viện Nghiên cứu Bông và Phát triển Nông nghiệp Nha Hố được Bộ Công thương giao nhiệm vụ bảo tồn và phát triển nguồn gen các cây lấy sợi khác như, dứa sợi, gai xanh,… đặc biệt, sau khi Bộ Nông nghiệp và PTNT có công văn số 4183/BNN-

TT ngày 16 tháng 12 năm 2010 về chủ trương phát triển cây lá gai (ramie leaf) tại Việt Nam,Viện Nghiên cứu Bông và Phát triển Nông nghiệp Nha Hố đã đẩy mạnh công tác thu thập và chọn tạo giống cây gai xanh Cho đến nay, quỹ gen cây gai xanh hiện có 29 mẫu giống, gồm 22 mẫu giống bản địa và được di thực từ thời Pháp thuộc và 7 mẫu giống được thu thập từ Trung Quốc Trên cơ sở đó, việc đánh giá và chọn tạo đã và đang triển khai kết hợp với tăng cường nhập nội giống thông qua trao đổi và hợp tác với các nước Qua đánh giá sơ bộ đã xác định được

2 mẫu giống bản địa vượt trội về khả năng sinh trưởng, phát triển tốt và cho năng suất sợi đó là Phú Yên và Thanh Hóa

Hiện tại, quỹ gen cây gai xanh hiện có 14 mẫu giống bản địa và được di thực từ thời Pháp thuộc Trên cơ sở đó, việc đánh giá và chọn tạo đã và đang triển khai kết hợp với tăng cường nhập nội giống thông qua trao đổi và hợp tác với các nước Qua đánh giá sơ bộ đã xác định được 2 mẫu giống bản địa vượt trội về khả năng sinh trưởng, phát triển tốt và cho năng suất sợi đó là Phú Yên và Thanh Hóa Đến nay, quy mô sản xuất gai xanh hàng hóa ở nước ta còn nhỏ, chủ yếu sản xuất tự cung tự cấp Việc khai thác và sử dụng nguồn gen cây gai xanh ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu tính hệ thống và đồng bộ do sự giới hạn về mặt kỹ thuật cũng như các điều kiện vật chất Trong thời gian qua, những nỗ lực trong công tác chọn tạo giống mới chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu hiện tại Bên cạnh đó, nguồn gen cây gai xanh của Việt Nam tính đến thời điểm hiện tại vẫn còn nghèo nàn và chưa phong phú về chủng loại so với nhiều quốc gia trồng gai trên thế giới

Trên cơ sở đó, việc tiếp tục đánh giá bổ sung, tuyển chọn và phát triển nguồn gen cây gai xanh trên cung cấp nguyên liệu cho ngành dệt may là hết sức cần thiết, góp phần tăng giá trị đầu ra, đa dạng hóa sản phẩm và giảm dần việc nhập khẩu bông xơ, tiết kiệm ngoại tệ và chủ động sản xuất, bảo đảm ngành Dệt-May phát triển bền vững

Trang 16

Phần 3 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG

PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thời gian và địa điểm

• Đánh giá nguồn gen cây bông: tiến hành trong vụ mưa 2012, bắt đầu gieo vào tháng 7, tại Nha Hố – Ninh Thuận;

• Đánh giá nguồn gen gai xanh: tiến hành trong vụ mưa 2012, tại Nha Hố – Ninh Thuận;

• Duy trì nguồn gen bông trên đồng: tiến hành trong vụ khô 2011 - 2012, bắt đầu gieo vào tháng 12 năm 2011;

• Bảo quản nguồn gen bông tại kho lạnh ngắn hạn của Viện, duy trì nguồn gen gai xanh trên đồng

3.2 Vật liệu nghiên cứu

• Nguồn gen sử dụng đánh giá và tư liệu hóa:

- 45 mẫu giống bông thuộc loài bông luồi (G hirsutum L.);

- 12 mẫu giống gai thuộc loài gai trắng (Boehmeria nivea L.)

• Nguồn gen duy trì, bảo quản:

- Nguồn gen bông: 2179 mẫu giống thuộc ba loài bông trồng trọt là bông

luồi (G hirsutum L), bông hải đảo (G barbaceum L.), bông cỏ (G

arboreum L.) và các mẫu thuộc loài bông dại;

- Nguồn gen gai xanh: 25 mẫu giống thuộc loài gai trắng

3.3 Nội dung nghiên cứu

• Nội dung 1: Điều tra, khảo sát, thu thập nguồn gen mới

• Nội dung 2: Bảo tồn và lưu giữ nguồn gen

- Duy trì các mẫu nguồn gen cây bông và cây gai xanh trên đồng ruộng;

- Bảo quản nguồn gen hạt cây bông trong kho lạnh

Trang 17

• Nội dung 3: Đánh giá (sơ bộ và chi tiết) nguồn gen

- Đánh giá đặc điểm hình thái, nông sinh học và khả năng kháng một số loại sâu bênh hại chính của các mẫu giống cây bông;

- Đánh giá chất lượng xơ của các mẫu giống cây bông;

- Đánh giá sơ bộ đặc điểm hình thái các mẫu giống gai xanh mới thu thập

• Nội dung 4: Xây dựng cơ sở dữ liệu cho nguồn gen

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp bảo quản và duy trì nguồn gen hiện có

• Bảo quản nguồn gen hạt cho các mẫu giống bông: Các mẫu giống được bảo

quản dưới dạng ex-situ nhân hàng gen hạt trong điều kiện kho lạnh ngắn hạn

ở nhiệt độ 17-180C, ẩm độ 60-70%, dưới dạng hạt thô, mỗi mẫu giống được đựng trong một túi nylon tráng bạc, dán kín

• Duy trì, bảo quản nguồn gen gai xanh: Các mẫu giống được bảo quản dưới

dạng ex-situ ngân hàng gen cây trồng trong điều kiện đồng ruộng

• Duy trì các mẫu giống bông trên đồng ruộng: Các mẫu giống được gieo tạm

thời 01 vụ để tái tạo hạt cho kỳ bảo quản tiếp theo

3.4.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm đồng ruộng

• Thí nghiệm đánh giá các mẫu giống bông mới: Bố trí tuần tự không lặp lại

cứ 10 công thức kèm 1 đối chứng (VN36P.KS)

• Thí nghiệm duy trì các mẫu giống bông và gai xanh trên đồng ruộng: Bố trí tuần tự không lặp

3.4.3 Phương pháp thu thập, xử lý số liệu:

Tất cả các chỉ tiêu của các mẫu giống bông và gai xanh được đánh giá sơ bộ

và chi tiết theo quy định của IPGRI và của ngành Bông Số liệu được xử lý thống

kê trên máy tính, sử dụng phần mềm EXCEL

Trang 18

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Điều tra, khảo sát và thu thập nguồn gen

4.1.1 Điều tra, khảo sát và thu thập nguồn gen cây bông

Trong năm 2012, thông qua các chuyến tham quan, học tập cũng như trao đổi vật liệu nghiên cứu với các tổ chức ngoài nước, 45 mẫu giống bông đã được

thu thập, nhập nội Tất cả các mẫu giống đều thuộc loài bông luồi (Gossypium

hirsutum L.), có nguồn gốc chủ yếu từ 2 nước Úc (14 mẫu) và Trung Quốc (31

mẫu) Dạng thu thập đều là mẫu hạt thô hoặc bông hạt (bảng 4.1)

Bảng 4.1 Số lượng, và nguồn gốc các mẫu giống bông mới thu thập trong năm 2012(*)

TT Tên giống Nguồn gốc MSTĐ TT Tên giống Nguồn gốc MSTĐ

1 SC.ĐR1 Úc 1997 24 Không tên Trung Quốc 2020

15 C1 Trung Quốc 2011 38 Không tên -nt- 2037

16 C2 Trung Quốc 2012 39 Không tên -nt- 2038

17 C3 Trung Quốc 2013 40 Không tên -nt- 2039

18 C4 Trung Quốc 2014 41 Không tên -nt- 2040

19 C5 Trung Quốc 2015 42 Không tên -nt- 2041

20 HT328 Trung Quốc 2016 43 Không tên -nt- 2042

21 HT329 Trung Quốc 2017 44 Không tên -nt- 2043

22 HT330 Trung Quốc 2018 45 Không tên -nt- 2044

23 HT331 Trung Quốc 2019

Trang 19

4.1.2 Điều tra, khảo sát và thu thập nguồn gen cây gai xanh

quan, học tập ở nước ngoài, chúng tôi đã thu thập được 12 mẫu giống gai xanh

mới; trong đó, 10 mẫu có nguồn gốc ở địa phương trong nước và 2 mẫu thu thập

tại Hồ Bắc – Trung Quốc Bộ phận thu thập chủ yếu là thân ngầm và hạt Theo số

liệu quan sát thực địa, các mẫu đều thuộc loài gai trắng (Boehmeria nivea L Gaud)

với đặc trưng mặt dưới lá có lớp lông dày, tạo thành màu trắng bạc (bảng 4.2) Kết

quả nhân sơ bộ cho thấy thân ngầm và hạt của các mẫu giống đều mọc tốt

Bảng 4.2 Số lượng và nguồn gốc các mẫu giống gai xanh mới thu thập trong năm 2012

(*)

TT hiệu Ký Địa điểm Bộ phận thu thập

1 BĐ.1 Buôn Đôn – Đắc Lắc Thân ngầm và hạt

2 BĐ.2 Buôn Đôn – Đắc Lắc Thân ngầm

3 EAS.1 Easieng – Đắc Lắc Thân ngầm

4 EAS.2 Easieng – Đắc Lắc Thân ngầm

5 MĐ.1 MaDrak – Đắc Lắc Thân ngầm và hạt

6 MN.1 Mũi Né – Bình Thuận Thân ngầm

7 LS.1 Lương Sơn – Bình Thuận Thân ngầm

8 BD.1 Thủ Dầu Một – Bình Dương Thân ngầm

9 PY.3 Tuy An – Phú Yên Thân ngầm và hạt

10 PY.4 Tuy Hòa – Phú Yên Thân ngầm

11 TQ.1 Vùng núi Võ đang – Hồ Bắc – Trung Quốc Thân ngầm

12 TQ.2 Vườn thí nghiệm Đại học Nông nghiệp Hoa Trung,

Hồ Bắc – Trung Quốc

Hạt

4.2 Duy trì và bảo quản nguồn gen hiện có

4.2.1 Duy trì mẫu giống bông trên đồng ruộng

Căn cứ kết quả thử tỷ lệ này mầm cuối chu kỳ 2001 – 2007 và trong chu kỳ

2008 – 2012, các mẫu giống bông có tỷ lệ này mầm dưới 85 % và một số mẫu

giống có hiện tượng suy giảm tỷ lệ này mầm nhanh được tiến hành nhân tái tạo lại

hạt trên đồng trong vụ khô 2011 - 2012 (gieo vào tháng 12/2011) Tổng số mẫu

giống được tiến hành nhân lại gồm 202 mẫu; trong đó có 143 mẫu giống bông luồi

(tỷ lệ nảy mầm trong phòng 47 – 83%) và 59 mẫu giống bông cỏ (tỷ lệ nảy mầm

trong phòng 53 – 81%)

Trang 20

4.2.1.1 Tình hình mọc trên đồng ruộng của các mẫu giống nhân lại

Trong điều kiện gieo 2 hạt/1 hốc, kết quả điều tra cho thấy cho thấy các mẫu

giống có tỷ lệ hốc mọc biến động từ 50,7-100,0% Trong đó, 26/202 mẫu giống có

tỷ lệ hốc mọc thấp (20,0-80%) chiếm 12,9%; 39/202 mẫu giống có tỷ lệ hốc mọc

trung bình từ (80,1- 90%) chiếm 19,3% và 137/202 mẫu giống có tỷ lệ hốc mọc

cao (từ 90-100,0%) chiếm 67,8% (bảng 4.3)

Bảng 4.3 Tỷ lệ hốc mọc của các mẫu giống tham gia thí nghiệm vụ khô 2012 tại

Nha Hố - Ninh Thuận

4.2.1.2 Độ thuần của các mẫu giống nhân lại

Nhìn chung, đa số các mẫu giống có độ thuần cao và tương đối ổn định qua

thời gian bảo quản; cụ thể, trong 143 giống bông luồi, có 141 mẫu giống thuần

chiếm tỷ lệ 98,6% và trong 59 mẫu giống bông cỏ, có 58 mẫu giống thuần, chiếm

98,3% (bảng 4.4)

Bảng 4.4 Độ thuần của các mẫu giống tham gia thí nghiệm tham gia thí nghiệm

vụ khô 2012, tại Nha Hố

Loài Số mẫu Số giống

thuần

Số giống không thuần

Tỷ lệ giống thuần (%) Bông luồi 143 141 2 98,6 Bông cỏ 59 58 1 98,3

4.2.1.3 Tình hình bệnh xanh lùn và cấp rầy hại

Trong vụ khô 2012, bệnh xanh lùn không xuất hiện trên tất cả các mẫu

giống Rầy xanh chích hút xuất hiện sớm và mức độ gây hại rất nặng; trong đó, ở

giai đoạn 90 ngày sau gieo, đa số các mẫu giống bị rầy hại ở mức độ thấp từ cấp 2

đến cấp 3 (81/202 mẫu giống chiếm tỷ lệ 40,1%); 35 mẫu giống (chiếm tỷ lệ

17,3%) bị rầy hại nặng ở cấp 4; 86/202 mẫu giống nhiễm rầy nặng cấp 5 (chiếm tỷ

lệ 42,6%) tham gia thí nghiệm (bảng 4.5)

Trang 21

Bảng 4.5 Tình hình bệnh xanh lùn và mức độ rầy hại của các giống trong

vụ khô 2012 tại Nha Hố – Ninh Thuận

Sau gieo 90 ngày Chỉ tiêu

Số giống bị hại Tỷ lệ (%) Cấp rầy hại : 1 0 0,0

4.2.1.4 Khối lượng hạt của các mẫu giống

Trong vụ khô 2012, việc nhân tái tạo hạt cho 202 mẫu giống bông luồi và

bông cỏ được tiến hành theo phương pháp tự thụ cưỡng bức Số hạt thu được tuỳ

theo từng giống, dao động từ 10,3-50,7g đối với bông luồi và 20,1-120,8g với bông

bông cỏ, đảm bảo đủ số lượng cho chu kỳ bảo quản tiếp theo; đồng thời chất lượng

hạt tốt với tỷ lệ nảy mầm trên 91 %, đảm bảo chất lượng theo quy định (bảng 4.6)

Bảng 4.6 Khối lượng và chất lượng hạt của các mẫu giống các giống trong vụ khô

2012 tại Nha Hố – Ninh Thuận

trong phòng (%)

4.2.2 Duy trì trên đồng ruông các mẫu giống gai xanh

Hiện tại, tổng số mẫu gai xanh hiện có gồm 25 mẫu, trong đó, 13 mẫu giống

gai xanh thu thập từ các năm trước và 12 mẫu mới thu thập trong năm 2012 đang

được duy trì dưới dạng ex-situ ngân hàng gen cây trồng tại vườn lưu giữ quy gen

gai xanh thuộc khu thí nghiệm nhà kính của Viện Nghiên cứu bông và Phát triển

nông nghiệp Nha Hố – Ninh Thuận

Trong 25 mẫu trên, số cây lưu giữ cho nguồn gen cũ từ 9 – 20 cây, định kỳ

cắt tái tạo thân mới 3 – lần/1 năm; riêng 12 mẫu giống mới thu thập, do số lượng

mẫu thu thập ít, hiện mới được trồng để mô tả sơ bộ và nhân giống cho đủ số lượng

quy định (bảng 4.7)

Trang 22

Bảng 4.7 Hiện trạng vườn lưu giữ quỹ gen gai xanh tại Nha Hố, Ninh Thuận

TT Tên giống Nguồn gốc Số cây Số lần cắt TT Tên giống Nguồn gốc Số cây

1 SL 1 Việt Nam 10 5 14 BĐ.1 Việt Nam 3

4.2.3 Bảo quản nguồn gen hạt trong kho lạnh ngắn hạn

Hiện tại, quỹ gen bông đang được lưu giữ tại Viện tổng cộng có 2179 mẫu giống (bao gồm 2051 mẫu giống bông luồi, 59 bông cỏ, 67 bông hải đảo và 2 mẫu giống bông dại); trong đó, 2134 mẫu giống hiện có tính đến tháng 8 năm 2011 và

45 mẫu giống mới nhập sau đó

Trong điều kiện kho lạnh ngắn hạn tại Viện, các mẫu giống được bảo quản

dưới dạng Ex-situ ngân hàng gen hạt ở nhiệt độ từ 15-170C và ẩm độ từ 60-70% Quy cách bảo quản ở dạng hạt thô, đựng trong một túi nylon tráng bạc, dán kín Trước khi nhập kho lưu trữ, các mẫu giống được kiểm tra tỷ lệ nảy mầm trong phòng Mẫu đủ tiêu chuẩn lưu trữ phải có tỷ lệ nảy mầm tối thiểu trên 85% Sau

đó, việc tra định kỳ được thực hiện; trong đó, định kỳ kế tiếp sau lần đầu tối thiểu 6 tháng và tối đa không quá 18 tháng và các định kỳ sau cách định kỳ trước 6 tháng Mỗi chu kỳ kiểm tra thực hiện đều đặn trong 5 – 7 năm; sau đó, các mẫu có tỷ lệ này mầm dưới 75% được tiến hành cho nhân tái tạo hạt lại trên đồng ruộng

Trang 23

Năm 2012 là năm thứ năm của chu kỳ kiểm tra bắt đầu từ năm 2008 Kết quả kiểm tra qua các định kỳ được thể hiện trong các bảng 4.7, 4.7 và các phụ lục 4 – 8

Nhìn chung, trong điều kiện bảo quản hiện có, hạt của tất cả các mẫu giống đều suy giảm tỷ lệ nảy mầm và mức suy giảm tỷ lệ này mầm có xu hướng tăng theo độ dài thời gian bảo quản (bảng 4.8) So sánh giữa các nhóm cho thấy mức suy giảm không đáng kể đối với loại 1 năm (trung bình 1,2 – 1,3%) và loại 2 năm (2,5 – 4,9%); từ 3 năm trở đi, mức suy giảm có xu hướng cao hơn, biến động trong khoảng 4 – 9%; (bảng 4.8) Một xu hướng chung nữa cũng cần lưu ý là khi hạt giống có tỷ lệ nảy mầm ban đầu đưa vào thấp, mức suy giảm đa số cao hơn so với loại có tỷ lệ này mầm cao hơn Duy nhất chỉ có mức suy giảm bất thường (17,0%) của 3 mẫu giống loại trên 3 năm (đưa bảo quản tháng 12/2008) (bảng 4.8)

Như vậy, với chu kỳ bảo quản 3 – 5 năm, để đảm bảo tỷ lệ nảy mầm tiêu chuẩn >85%, với mức suy giảm trung bình 5 %, tỷ lệ nảy mầm ban đầu cần thiết phải đạt trên 90%

Bảng 4.8 Tỷ lệ nảy mầm ban đầu, cuối cùng và mức suy giảm tỷ lệ nảy mầm của

các mẫu giống qua các năm bảo quản tại Nha Hố, Ninh Thuận

Tỷ lệ nảy mầm lần thử cuối (%) Tỷ lệ nảy mầm ban đầu (%) Thời gian

nhập kho Nhóm Số

mẫu Thấp nhất nhất Cao Trungbình mẫu Số Thấpnhất nhất Cao Trung bình

Mức giảm trung bình (%)

<85% 5 65,9 84,9 80,0 5 85,6 94,6 88,6 8,6 Tháng

4/2008 ≥85% 79 85,0 97,4 92,4 79 89,3 100,0 96,8 4,4

<85% 3 71,6 82,4 76,0 3 91,2 95,2 93,0 17,0 Tháng

12/2008 ≥85% 72 85,5 98,6 92,0 72 89,7 100,0 96,3 4,3

<85% 11 80,4 84,8 83,0 11 86,0 97,8 89,7 6,7 Tháng

12/2009 ≥85% 53 85,0 95,7 90,5 53 86,7 100,0 95,0 4,5

<85% 3 81,3 84,9 83,5 3 85,1 90,5 88,3 4,9 Tháng

4/2010 ≥85% 87 85,9 98,5 93,9 87 85,9 100,0 96,4 2,5

<85% 1 84,7 84,7 84,7 1 85,9 85,9 85,9 1,2 Tháng

8/2011 ≥85% 67 85,2 100,0 95,5 67 85,8 100,0 96,7 1,3

Chiều hướng suy giảm tỷ lệ nảy mầm tăng theo thời gian bảo quản trên đây cũng thể hiện qua kết quả phân nhóm cho từng loại giống (bảng 4.9) Trong khi đối với loại 1 năm (nhập kho tháng 8/2011) và 2 năm (nhập kho tháng 4/2010), mức

Trang 24

suy giảm cao nhất đều dưới 10% thì loại trên 3 năm (nhập tháng 4 và 12/2008) đã xuất hiện các mẫu giống có mức suy giảm cao (trên 10%) và rất cao (trên 15%) (bảng 4.9) So sánh theo từng nhóm ứng với từng loại giống cũng cho kết quả tương tự; trong đó, bắt đầu từ năm thứ 3 trở đi, mức suy giảm ở nhóm thấp (<5%)

có xu hướng giảm đi, ngược lại, mức suy giảm ở mức trung bình (5 – 10 %) có xu hướng tăng lên và xuất hiện một số mẫu có mức suy giảm ở mức cao (10 – 15%)

mẫu

Tỷ lệ (%)

Thấp nhất

Cao nhất

Trung bình Thấp (<5%) 53 63,1 87,4 100,0 95,9 Trung bình (5-10%) 29 34,5 85,6 100,0 96,8 Cao (10-15%) 1 1,2 97,9 97,9 97,9 Rất cao (>15%) 1 1,2 88,9 88,9 88,9

Tháng

4/2008 48 6

Thấp (<5%) 50 66,7 89,7 100,0 95,9 Trung bình (5-10%) 19 25,3 91,1 100,0 97,1 Cao (10-15%) 4 5,3 92,7 100,0 97,3 Rất cao (>15%) 2 2,7 91,2 95,2 93,2

Tháng

12/2008 40 5

Thấp (<5%) 34 53,1 86,0 98,9 92,6 Trung bình (5-10%) 27 42,2 88,3 100,0 95,7 Cao (10-15%) 2 3,1 93,1 98,4 95,8 Rất cao (>15%) 1 1,6 97,8 97,8 97,8

Tháng

12/2009 28 4

Thấp (<5%) 78 86,7 85,9 100,0 96,0 Trung bình (5-10%) 12 13,3 89,4 99,2 95,8

Tháng

4/2010 24 3

Thấp (<5%) 63 92,6 85,8 100,0 96,2 Trung bình (5-10%) 5 7,4 97,6 100,0 99,0

Tháng

8/2011 9 2

Trang 25

4.3 Kết quả đánh giá nguồn gen mới thu thập

Nhằm mục đích xác định nguồn gen gen quý để khai thác và cung cấp số liệu cho tự liệu hóa, trong năm 2012, 45 mẫu giống bông được tiến hành đánh giá chi tiết với 35 chỉ tiêu và 12 mẫu giống gai xanh được đánh giá sơ bộ với 15 chỉ tiêu tại Nha Hố, Ninh Thuận

4.3.1 Đánh giá nguồn gen cây bông mới thu thập

4.3.1.1 Thời gian sinh trưởng và đặc điểm thực vật học của các mẫu giống bông

Thời gian từ gieo đến nở hoa 50% của các mẫu giống dao động từ 42- 59 ngày Trong đó, 5 mẫu giống có thời gian nở hoa sớm từ 42-50 ngày, 31 mẫu giống thời gian ra hoa trung bình từ 51-55 ngày, 8 mẫu giống có thời gian ra hoa muộn hơn từ 56-59 ngày Thời gian từ gieo đến nở quả 50% biến động từ 94-106 ngày Trong đó, 29 mẫu giống có thời gian nở quả trên 100 ngày, 14 mẫu giống

có thời gian nở quả sớm, từ 94-99 ngày (1997; 2003; 2005; 2007; 2008; 2009; 2010; 2012; 2014; 2018; 2019; 2020; 2024; 2029) (bảng 4.10)

Về một số đặc điểm thực vật học, nhìn chung, các mẫu giống thấp cây, ít cành quả, mức sinh trưởng trung bình, biến động lớn về cành đực Chiều cao cây của các mẫu giống dao động từ 51-108,8 cm Trong đó, hầu hết các mẫu giống có chiều cao cây thấp <100cm (36 giống); 3 giống có chiều cao từ 100-108,8cm

Số cành đực/cây của các mẫu giống biến động từ 0,2-5,5 cành/cây; 11 mẫu giống có số cành đực < 1,0 cành/cây, 32 mẫu giống có số cành đực trung bình từ 1-

2 cành/cây, 3 mẫu giống có số cành đực nhiều từ 2,1- 5,5 cành/cây Số cành quả của các mẫu giống biến động từ 9,4-15,0 cành/cây Trong đó, đa số (43 mẫu giống)

có số cành quả trung bình từ 10-15 cành

Vị trí đóng quả của các mẫu giống cũng biến động từ 5 - 8,8 đốt Trong đó,

31 mẫu giống có vị trí đóng quả thấp từ 5- 6 đốt; 12 mẫu giống có vị trí đóng quả cao từ 6,1-7,0 đốt và 1 mẫu giống có vị trí đóng quả cao >7 đốt

Chiều dài cành trung bình biến động từ 8-43,5cm; 2 mẫu giống có chiều dài cành trung bình rất ngắn từ 8-15 cm, 6 mẫu giống có chiều dài cành trung bình từ 15-20cm; 31 mẫu giống có chiều dài cành trung bình từ 20-30cm và 6 mẫu giống

có chiều dài cành dài từ 30-43,5cm (bảng 4.10)

Trang 26

Bảng 4.10 Thời gian sinh trưởng và đặc điểm thực vật học của các mẫu giống

trong vụ mưa 2012 tại Nha Hố - Ninh Thuận

Chỉ tiêu Biến động mẫu Số Mã số tập đoàn

42,0- 59,0 45 42,0- 50,0 5 2003; 2008; 2009; 2012; 2023

51,0- 55,0 32

1999; 2001; 2006; 2007; 2010; 2011; 2013; 2014; 2015; 2017 2018; 2019; 2020; 2021; 2022; 2024; 2025; 2026; 2027; 2029; 2030; 2031; 2032; 2033; 2036; 1997; 2040; 2041; 2042; 2043; 2044; 2039

TGST1 (ngày)

56,0- 59,0 8 1998; 2000; 2002; 2004; 2005; 2016; 2028; 2035 94,0- 106,0 45

94,0- 99,0 14 1997; 2003; 2005; 2007; 2008; 2009; 2010;

2012; 2014; 2018; 2019; 2020; 2024; 2029 TGST2 (ngày)

≥ 100,0 31

1998; 1999; 2000; 2001; 2002; 2004; 2006; 2011; 2013; 2015; 2016; 2017; 2021; 2022; 2023; 2025; 2026; 2027; 2028; 2030; 2031; 2033; 2035; 2036; 2037; 2039; 2040; 2041; 2042; 2043; 2044

51,0- 108,8 45

51,0- 80,0 31

1997; 1998; 1999; 2000; 2001; 2002; 2006; 2008; 2013; 2014; 2015; 2016; 2017; 2019; 2020; 2021; 2022; 2027; 2028; 2030; 2031; 2032; 2033; 2040; 2041; 2042; 2043; 2044 80,1- 100,0 13 2003; 2004; 2005; 2007; 2009; 2010; 2011;

2012; 2018; 2023; 2029; 2035; 2036

Chiều cao cây

(cm)

≥ 100,0 3 2023; 2024; 2025 9,4- 15,0 45

9,4- 10,0 1 2032

Số cành quả

10,1- 15,0 44

1997; 1998; 1999; 2000; 2001; 2002; 2003; 2004; 2005; 2006; 2007; 2008; 2009; 2010; 2011; 2012; 2013; 2014; 2015; 2016; 2017; 2018; 2019; 2020; 2021; 2022; 2023; 2024;

Trang 27

Chỉ tiêu Biến động mẫu Số Mã số tập đoàn

2025; 2026; 2027; 2028; 2029; 2030; 2031; 2032; 2033; 2035; 2036, 2039; 2040; 2041; 2042; 2043; 2044

0,2- 5,8 45 0,2- 1,0 11 1999; 2003; 2004; 2005; 2006; 2009; 2010;

2015; 2022; 2025; 2028

1,1- 3,0 31

1998; 2000; 2001; 2002; 2008; 2011; 2012; 2013; 2014; 2016; 2017; 2018; 2019; 2020; 2021; 2023; 2024; 2026; 2027; 2030; 2031; 2032; 2033; 2035; 2036; 2039; 2040; 2041; 2042; 2043; 2044

Số cành đực

3,1- 5,8 3 1997; 2007; 2029 5,0- 8,8 45

5,0- 6,0 32

1999; 2001; 2002; 2003; 2004; 2005; 2007; 2008; 2009; 2010; 2012; 2013; 2014; 2015; 2016; 2017; 2018; 2020; 2024; 2025; 2027; 2028; 2029; 2030; 2035; 2036; 2040; 2041; 2042; 2043; 2044

6,1- 7,0 12 1997; 1998; 2000; 2006; 2011; 2019; 2021; 2022; 2023; 2026; 2031; 2033

Vị trí đóng quả

7,1- 8,8 1 2032 8- 43,5 45 8,0- 15,0 2 2023; 2032;

15,1- 20,0 6 2000; 2006; 2016; 2021; 2027; 2028

20,1- 30,0 31

1997; 1998; 1999; 2001; 2002; 2003; 2005; 2007; 2008; 2009; 2010; 2011; 2012; 2013; 2014; 2015; 2017; 2019; 2020; 2022; 2026; 2030; 2031; 2033; 2035; 2036; 2039; 2040; 2041; 2042; 2043; 2044

Chiều dài cành

trung bình

(cm)

30,1- 43,5 6 2004; 2010; 2018; 2024; 2025; 2029

4.3.1.2 Đặc điểm hình thái của các mẫu giống bông

Hình thái của các mẫu giống mới được đánh giá ở các bộ phận thân lá, hoa

và quả Số liệu quan trắc cho thấy các mẫu giống khá đa dạng về kiểu hình Tất cả

Trang 28

đều có dạng cây thuộc loại hình sinh trưởng vô hạn và đều có tuyến độc, tuyến mật

và không có đốm cánh hoa Màu sắc thân lá chủ yếu màu xanh, chỉ có 3 mẫu màu

đỏ tía Kích cỡ lá khác biệt gồm cả to, trung bình và nhỏ Mật độ lông/lá, một chỉ

tiêu liên quan đến tính kháng rầy xanh chích hút biến động từ không có, rất ít, ít,

trung bình Màu sắc cánh hoa và màu sắc hạt phấn bao gồm màu trắng, vàng và

tím Đặc biệt dạng quả cũng tồn tại nhiều dạng như dạng tròn, dạng trứng và dạng

hình nón (bảng 4.11)

Bảng 4.11 Một số đặc điểm hình thái của các các mẫu giống trong vụ mưa 2012

tại Nha Hố - Ninh Thuận

Chỉ tiêu Biến đông Số giống Chỉ tiêu Biến đông Số giống

Trung bình 43

Màu sắc cánh hoa

Tím 3 Lớn 1 Màu sắc hạt phấn Trắng 45

Ít 26 Trung bình 10

Độ lông/lá

Ít + Trung

4.3.1.3 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các mẫu giống

Số liệu bảng 5 cho thấy số quả/cây của các mẫu giống biến động từ 2,3-20,8

quả/cây Trong đó, 27 mẫu giống có số quả/cây ít từ 2,3-10 quả, 14 mẫu giống có

số quả/cây trung bình từ 10,1-15 quả và 3 mẫu giống có số quả/cây nhiều từ

15-20,8 quả (bảng 4.12)

Đối với các chỉ tiêu về quả, các mẫu giống hầu hết có số múi/quả từ 4-4,9,

ngoại trừ mẫu giống mang mã số 2022 (5 múi/quả) Số hạt/múi của các mẫu giống

biến động từ 6,8-8,7 hạt/múi Khối lượng quả của các mẫu giống cũng biến động

lớn từ 3,2-5,7g; 16 mẫu giống có khối lượng quả nhỏ (3,2-4,0 g), 23 mẫu giống có

khối lượng quả trung bình (4,1-5g), chỉ có 3 giống (1999, 2018 và 2025) có khối

Trang 29

lượng quả to (>5,0g) Tỷ lệ xơ của các mẫu giống tham gia thí nghiệm biến động

từ 23,3-48,9 %; 2 mẫu giống có tỷ lệ xơ thấp 23,3- 35,0%; 7 mẫu giống có tỷ lệ xơ trung bình từ 35,1-39,90%; 19 mẫu giống có tỷ lệ xơ cao 40-45,0% Đặc biệt, 14 mẫu giống có tỷ lệ xơ rất cao > 45% ( 1999; 2001; 2002; 2008; 2017; 2018; 2022; 2023; 2026; 2027; 2031; 2033; 2035; 2036 ) (bảng 4.12)

Về năng suất, năng suất bông hạt của các mẫu giống dao động từ 3,0-24,5 tạ/ha Trong đó, 15 giống có năng suất bông hạt thấp (<10tạ/ha); 14 mẫu giống có năng suất bông hạt trung bình từ 10-15 tạ/ha và 8 mẫu giống có năng suất bông hạt cao từ 15,1-20,0 tạ/ha Đặc biệt, 5 mẫu giống có năng suất bông hạt rất cao từ 20,1-24,5 tạ/ha (gồm 1997; 2023; 2024; 2025 và 2026) (bảng 4.12)

Bảng 4.12 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các mẫu giống trong

vụ mưa 2012 tại Nha Hố - Ninh Thuận

Chỉ tiêu Biến động Số

giống Mã số tập đoàn 2,3- 20,8 45

2,3- 10,0 28

1999; 2002; 2004; 2006; 2008; 2009; 2010; 2011; 2012; 2013; 2015; 2016; 2018; 2019; 2022;2027; 2028; 2030; 2032; 2033; 2035; 2036; 2039; 2040; 2041; 2042; 2043; 2044 10,1- 15,0 14 1998; 2000; 2001; 2003; 2005; 2007; 2014; 2017; 2020; 2021; 2024; 2025; 2029; 2031

Số quả/cây

15,1- 20,8 3 1997; 2023; 2026 4,0- 5,0 45

4,0- 4,0 2 2006; 2016

4,1- 4,9 42

1997; 1998; 1999; 2000; 2001; 2002; 2003; 2004; 2005; 2006; 2007; 2008; 2009; 2010; 2011; 2012; 2013; 2014; 2015; 2017; 2018; 2019; 2020; 2021; 2023; 2024; 2025; 2027; 2028; 2029; 2030; 2031; 2032; 2033; 2035; 2036; 2039; 2040; 2041; 2042; 2043; 2044

Số múi/quả

5,0 1 2022 6,6- 8,7 42 6,6- 7,0 7 1997; 2006; 2008; 2012; 2024; 2027; 2029

Số hạt/múi

7,1- 8,7 35

1998; 1999; 2000; 2001; 2002; 2003; 2004; 2005; 2007; 2009; 2010; 2011; 2013; 2014; 2015; 2016; 2017; 2018; 2019; 2020; 2021; 2022; 2023; 2025; 2026; 2030; 2031; 2033; 2035; 2036; 2040; 2041; 2042; 2043; 2044 Khối lượng 3,2- 5,7 42

Trang 30

Chỉ tiêu Biến động giống Số Mã số tập đoàn

3,2- 4,0 16 1997; 1999; 2000; 2001; 2002; 2003; 2004; 2007; 2010; 2011; 2013; 2015; 2016; 2023;

2027; 2036

4,1- 5,0 23

2005; 2006; 2008; 2009; 2012; 2014; 2017; 2019; 2020; 2021; 2022; 2024; 2026; 2029; 2030; 2031; 2033; 2035; 2040; 2041; 2042; 2043; 2044

quả (g)

> 5,0 3 1998; 2018; 2025 3,0- 24,5 42

3,0- 10,0 15 1999; 2002; 2004; 2013; 2016; 2022; 2027; 2030; 2035; 2036; 2040; 2041; 2042; 2043;

2044 10,1- 15,0 14 2000; 2001; 2005; 2007; 2009; 2010; 2011; 2012; 2014; 2015; 2017; 2021; 2031; 2033 15,1- 20,0 8 2000; 2001; 2005; 2007; 2009; 2010; 2011; 2012

Năng suất

bông hạt

(tạ/ha)

20,1- 24,5 5 1997; 2023; 2024; 2025; 2026 23,3- 48,9 42

23,3- 35,0 2 2004; 2011 35,1- 39,9 7 1997; 1998; 2005; 2009; 2016; 2024; 2029;

40,0- 45,0 19 2000; 2003; 2006; 2007; 2010; 2012; 2013; 2014; 2015; 2019; 2020; 2021; 2025; 2030;

2040; 2041; 2042; 2043; 2044

Tỷ lệ xơ (%)

45,1- 48,9 14 1999; 2001; 2002; 2008; 2017; 2018; 2022; 2023; 2026; 2027; 2031; 2033; 2035; 2036;

4.3.1.4 Chất lượng xơ bông của các mẫu giống

Nhìn chung, trong các mẫu giống thu thập được, biến động về phẩm chất xơ khá lớn, trong đó nhiều mẫu giống mang tính trạng quý như xơ dài, mịn và độ đều

xơ cao Trong đó, chiều dài xơ của các mẫu giống biến động từ 25,3- 31,4 mm, 6 mẫu giống có xơ dài trung bình (25,1- 27,9mm); 33 mẫu giống thuộc nhóm xơ dài (28,1- 29,9mm); 3 mẫu giống (1998; 2002; 2007) có xơ rất dài (> 30mm) Đa số các mẫu giống có độ đều xơ cao (83,0-87,5%), nổi bật 8 mẫu giống (gồm 1998; 2002; 2005; 2016; 2021; 2023; 2025 và 2030) có độ đều ≥ 86% (bảng 6) Độ mịn

xơ của các mẫu giống biến động từ 2,9-4,75M Trong đó, 24 mẫu giống có xơ rất mịn (2,9- 3,45 M); 15 mẫu giống có độ mịn tốt (3,5-4,5M) (bảng 4.13)

Trang 31

Bảng 4.13 Một số chỉ tiêu chất lượng xơ bông của các các mẫu giống trong vụ

mưa 2012 tại Nha Hố - Ninh Thuận

Chỉ tiêu Biến động giống Số Mã số tập đoàn

25,3- 31,4 42 25,3- 27,9 6 2004; 2010; 2011; 2022; 2026; 2029

28,0- 29,9 33

1997; 1999; 2000; 2001; 2003; 2005; 2006; 2008; 2009; 2012; 2013; 2014; 2015; 2016; 2017; 2018; 2019; 2020; 2021; 2023; 2024; 2025; 2027; 2030; 2031; 2033; 2035; 2036; 2040; 2041; 2042; 2043;

83,0- 85,0 31

1997; 1999; 2000; 2001; 2003; 2006; 2007; 2008; 2009; 2010; 2012; 2013; 2014; 2015; 2017; 2018; 2019; 2020; 2024; 2026; 2027; 2029; 2031; 2033; 2035; 2036; 2040; 2041; 2042; 2043; 2044

0,73 0,85 26

1997; 1999; 2000; 2001; 2002; 2004; 2005; 2010; 2011; 2012; 2013; 2014; 2015; 2016; 2022; 2027; 2030; 2031; 2033; 2035; 2036; 2040; 2041; 2042; 2043; 2044

Chỉ số độ chín

(%)

0,86- 0,93 16 1998; 2003; 2006; 2007; 2008; 2009; 2017; 2018; 2019; 2020; 2021; 2023; 2024; 2025; 2026; 2029

Trang 32

4.3.1.5 Tình hình sâu bệnh hại của các mẫu giống tham gia thí nghiệm

Trong điều kiện vụ mưa 2012 tại Nha Hố, bệnh xanh lùn không xuất hiện trên các mẫu giống Riêng rầy xanh xuất hiện sớm, tồn tại trên đồng suốt vụ Vì vậy, các mẫu giống đều nhiễm rầy nặng, đặc biệt ở giai đoạn 90 ngày, hầu hết bị rầy xanh gây hại từ từ cấp 4 đến cấp 5 Trong các mẫu giống, chỉ có 3 mẫu 1997,

1998 và 2023 mặc dù độ lông không nhiều nhưng chỉ bị hại ở mức cấp 2 và 3 ở giai đoạn 70 và 90 ngày sau gieo tương ứng (bảng 4.14)

Bảng 4.14 Tình hình sâu bệnh hại của các các mẫu giống trong vụ mưa 2012 tại

Nha Hố - Ninh Thuận

Cấp rầy hại Cấp rầy hại

TT

MSTĐ Tỷ lệ bệnh xanh lùn (%) 70

ngày ngày 90

TTMSTĐ xanh lùn (%) Tỷ lệ bệnh 70

Trang 33

Đặc biệt, trong 45 mẫu giống, theo thông tin thu thập ban đầu, có 10 mẫu có khả năng kết hợp tính kháng cả sâu xanh đục quả và kháng thuốc trừ cỏ phun qua đỉnh

Về tính kháng sâu xanh đục quả, kêt quả nuôi sâu trong phòng cho thấy cả 8 mẫu giống đánh giá (2007, 2008, 2009, 2010, 1998, 1999, 2000 và 2003) đều biểu hiện khả năng diệt sâu xanh cao với tỷ lệ chết hiệu đính 94,7 – 100% (bảng 4.15) Kết quả thu được tương tự khi thả sâu trên đồng Trong 10 mẫu đánh giá, chỉ có mẫu giống 2001 kháng thấp (tỷ lệ nụ xòe 37,0 và 61,9%), các mẫu còn lại đều biểu hiện khả năng kháng cao với loại sâu này (tỷ lệ nụ xòe 0,0 – 7,7%) (bảng 4.16)

Về tính kháng thuốc trừ cỏ Roundup phun qua đỉnh, với liều lượng phun 2,0; 2,5 và 3,0 llít/ha qua 3 lần phun giai đoạn 35, 50 và 65 ngày sau gieo, trong 10 mẫu nghiên cứu, chỉ có mẫu giống 2001 nhiễm (tỷ lệ chết 100%); 9 mẫu giống còn lại đều biểu hiện khả năng kháng cao với tỷ lệ cây sống bình thường 100%

Bảng 4.15 Tỷ lệ sâu chết trong phòng qua các tuổi tại Nha Hố - Ninh Thuận

Số sâu chết qua các tuổi

Mã số

Tên giống 1 2 3 4 5 Tổng

Số sâu sống

Tỷ lệ sâu chết (%)

Tỷ lệ sâu chết hiệu đính (%)

Ghi chú: Ngày nuôi sâu 11/9/2012; Số sâu: 20 con/giống

Ngày đăng: 05/02/2015, 17:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Số lượng, và nguồn gốc các mẫu giống bông mới thu thập trong năm 2012 (*)  TT Tên  giống Nguồn gốc MSTĐ TT  Tên  giống Nguồn gốc MSTĐ - bảo tồn và lưu giữ nguồn gen cây bông và cây có sợi  viện nghiên cứu bông và phát triển nông nghiệp nha hố
Bảng 4.1. Số lượng, và nguồn gốc các mẫu giống bông mới thu thập trong năm 2012 (*) TT Tên giống Nguồn gốc MSTĐ TT Tên giống Nguồn gốc MSTĐ (Trang 18)
Bảng 4.4.  Độ thuần của các mẫu giống tham gia thí nghiệm tham gia thí nghiệm  vụ khô 2012, tại Nha Hố - bảo tồn và lưu giữ nguồn gen cây bông và cây có sợi  viện nghiên cứu bông và phát triển nông nghiệp nha hố
Bảng 4.4. Độ thuần của các mẫu giống tham gia thí nghiệm tham gia thí nghiệm vụ khô 2012, tại Nha Hố (Trang 20)
Bảng 4.5.  Tình hình bệnh xanh lùn và mức độ rầy hại của các giống trong  vụ khô 2012 tại Nha Hố – Ninh Thuận - bảo tồn và lưu giữ nguồn gen cây bông và cây có sợi  viện nghiên cứu bông và phát triển nông nghiệp nha hố
Bảng 4.5. Tình hình bệnh xanh lùn và mức độ rầy hại của các giống trong vụ khô 2012 tại Nha Hố – Ninh Thuận (Trang 21)
Bảng 4.7. Hiện trạng vườn lưu giữ quỹ gen gai xanh tại Nha Hố, Ninh Thuận. - bảo tồn và lưu giữ nguồn gen cây bông và cây có sợi  viện nghiên cứu bông và phát triển nông nghiệp nha hố
Bảng 4.7. Hiện trạng vườn lưu giữ quỹ gen gai xanh tại Nha Hố, Ninh Thuận (Trang 22)
Bảng 4.8. Tỷ lệ nảy mầm ban đầu, cuối cùng và mức suy giảm tỷ lệ nảy mầm của  các mẫu giống qua các năm bảo quản tại Nha Hố, Ninh Thuận - bảo tồn và lưu giữ nguồn gen cây bông và cây có sợi  viện nghiên cứu bông và phát triển nông nghiệp nha hố
Bảng 4.8. Tỷ lệ nảy mầm ban đầu, cuối cùng và mức suy giảm tỷ lệ nảy mầm của các mẫu giống qua các năm bảo quản tại Nha Hố, Ninh Thuận (Trang 23)
Bảng 4.9. Tỷ lệ nảy mầm ban đầu và mức suy giảm qua các năm bảo quản tại Nha  Hố - Ninh Thuận - bảo tồn và lưu giữ nguồn gen cây bông và cây có sợi  viện nghiên cứu bông và phát triển nông nghiệp nha hố
Bảng 4.9. Tỷ lệ nảy mầm ban đầu và mức suy giảm qua các năm bảo quản tại Nha Hố - Ninh Thuận (Trang 24)
Bảng 4.10.  Thời gian sinh trưởng và đặc điểm thực vật học của các mẫu giống  trong vụ mưa 2012 tại Nha Hố - Ninh Thuận - bảo tồn và lưu giữ nguồn gen cây bông và cây có sợi  viện nghiên cứu bông và phát triển nông nghiệp nha hố
Bảng 4.10. Thời gian sinh trưởng và đặc điểm thực vật học của các mẫu giống trong vụ mưa 2012 tại Nha Hố - Ninh Thuận (Trang 26)
Hình thái của các mẫu giống mới được đánh giá ở các bộ phận thân lá, hoa  và quả. Số liệu quan trắc cho thấy các mẫu  giống khá đa dạng về kiểu hình - bảo tồn và lưu giữ nguồn gen cây bông và cây có sợi  viện nghiên cứu bông và phát triển nông nghiệp nha hố
Hình th ái của các mẫu giống mới được đánh giá ở các bộ phận thân lá, hoa và quả. Số liệu quan trắc cho thấy các mẫu giống khá đa dạng về kiểu hình (Trang 27)
Bảng 4.11. Một số đặc điểm hình thái của các các mẫu giống trong vụ mưa 2012  tại Nha Hố - Ninh Thuận - bảo tồn và lưu giữ nguồn gen cây bông và cây có sợi  viện nghiên cứu bông và phát triển nông nghiệp nha hố
Bảng 4.11. Một số đặc điểm hình thái của các các mẫu giống trong vụ mưa 2012 tại Nha Hố - Ninh Thuận (Trang 28)
Bảng 4.12. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các mẫu giống trong  vụ mưa 2012 tại Nha Hố - Ninh Thuận - bảo tồn và lưu giữ nguồn gen cây bông và cây có sợi  viện nghiên cứu bông và phát triển nông nghiệp nha hố
Bảng 4.12. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các mẫu giống trong vụ mưa 2012 tại Nha Hố - Ninh Thuận (Trang 29)
Bảng 4.13. Một số chỉ tiêu chất lượng xơ bông của các các mẫu giống trong vụ  mưa 2012 tại Nha Hố - Ninh Thuận - bảo tồn và lưu giữ nguồn gen cây bông và cây có sợi  viện nghiên cứu bông và phát triển nông nghiệp nha hố
Bảng 4.13. Một số chỉ tiêu chất lượng xơ bông của các các mẫu giống trong vụ mưa 2012 tại Nha Hố - Ninh Thuận (Trang 31)
Bảng 4.14. Tình hình sâu bệnh hại của các các mẫu giống trong vụ mưa 2012 tại  Nha Hố - Ninh Thuận - bảo tồn và lưu giữ nguồn gen cây bông và cây có sợi  viện nghiên cứu bông và phát triển nông nghiệp nha hố
Bảng 4.14. Tình hình sâu bệnh hại của các các mẫu giống trong vụ mưa 2012 tại Nha Hố - Ninh Thuận (Trang 32)
Bảng 4.15. Tỷ lệ sâu chết trong phòng qua các tuổi tại Nha Hố - Ninh Thuận   Số sâu chết qua các tuổi - bảo tồn và lưu giữ nguồn gen cây bông và cây có sợi  viện nghiên cứu bông và phát triển nông nghiệp nha hố
Bảng 4.15. Tỷ lệ sâu chết trong phòng qua các tuổi tại Nha Hố - Ninh Thuận Số sâu chết qua các tuổi (Trang 33)
Bảng 4.16. Số sâu sống và tỷ lệ nụ bị hại trên các mẫu giống trong vụ khô 2012 tại  Nha Hố - Ninh Thuận - bảo tồn và lưu giữ nguồn gen cây bông và cây có sợi  viện nghiên cứu bông và phát triển nông nghiệp nha hố
Bảng 4.16. Số sâu sống và tỷ lệ nụ bị hại trên các mẫu giống trong vụ khô 2012 tại Nha Hố - Ninh Thuận (Trang 34)
Bảng 4.17. Một số mẫu giống mang tính trạng quý trong vụ mưa 2012 tại Nha Hố -  Ninh Thuận - bảo tồn và lưu giữ nguồn gen cây bông và cây có sợi  viện nghiên cứu bông và phát triển nông nghiệp nha hố
Bảng 4.17. Một số mẫu giống mang tính trạng quý trong vụ mưa 2012 tại Nha Hố - Ninh Thuận (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w