Xây dựng một số tuyến điểm du lịch của Thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới và đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả các tuyến điểm đó.. Xuất phát từ thực tế đó, tôi đ
Trang 1Xây dựng một số tuyến điểm du lịch của thành
phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới
Abstract Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn để vận dụng vào việc xây dựng các tuyến
điểm du lịch của Thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới Phân tích tiềm năng, khảo sát thực trạng khai thác các tuyến điểm du lịch của Thành phố Hà Nộisau khi mở rộng địa giới Xây dựng một số tuyến điểm du lịch của Thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới và đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả các tuyến điểm đó
Keywords Du lịch; Thành phố Hà Nội; Địa giới
Content
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thủ đô Hà Nội là trung tâm kinh tế, văn hoá, xã hội, là trái tim của cả nước, nhận được rất nhiều sự quan tâm, đầu tư về mọi mặt trong đó du lịch là lĩnh vực được ưu tiên phát triển Sau khi chính thức mở rộng điạ giới vào tháng 1 năm 2008, thủ đô Hà Nội mới có diện tích lớn gấp 3,6 so với trước khi mở rộng, bao gồm: Thành phố Hà Nội cũ, toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện
Mê Linh (Vĩnh Phúc) và 4 xã của huyện Lương Sơn (Hòa Bình) Tổng diện tích của thủ đô mới
là hơn 3.300 km2 Sự mở rộng ấy đã đem lại cho Hà Nội thêm rất nhiều tài nguyên du lịch, là những nguồn lực quan trọng trong sự phát triển du lịch Không còn bó hẹp trong ba mươi sáu phố phường vốn đã quá quen thuộc với du khách, du lịch Hà Nội ngày nay đem đến nhiều lựa chọn hơn với những chương trình du lịch phong phú đáp ứng nhu cầu thẩm nhận của nhiều tập khách khác nhau như du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch lễ hội, du lịch làng nghề, du lịch nông nghiệp… Tiềm năng to lớn là vậy song trên thực tế sự mở rộng ấy mới chỉ ở góc độ hành chính, chưa có được những bước đột phá đối với du lịch Thủ đô Việc nghiên cứu để xây dựng các tuyến điểm du lịch mới là một việc làm hết sức cần thiết nhằm tạo nên những sản
Trang 2phẩm du lịch độc đáo, thu hút ngày càng đông đảo du khách đến Hà Nội, góp phần phát huy được những lợi thế, tương xứng với tiềm năng du lịch của Thủ đô
Xuất phát từ thực tế đó, tôi đã lựa chọn đề tài: “Xây dựng một số tuyến điểm du lịch của Thành phố Hà Nộisau khi mở rộng địa giới” làm đề tài luận văn thạc sỹ với mong muốn
đóng góp một phần nhỏ bé mà ý nghĩa đối với sự phát triển du lịch của Thủ đô Hà Nội
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là xây dựng một số tuyến điểm du
lịch của Thành phố Hà Nộisau khi mở rộng địa giới nhằm góp phần tạo ra những sản phẩm du lịch độc đáo, thu hút ngày càng nhiều du khách đến với Hà Nội
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn để vận dụng vào việc xây dựng các tuyến điểm du lịch của Thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới
- Phân tích tiềm năng, khảo sát thực trạng khai thác các tuyến điểm du lịch của Thành phố
Hà Nộisau khi mở rộng địa giới
- Xây dựng một số tuyến điểm du lịch của Thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới và
đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả các tuyến điểm đó
4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu đánh giá một số điểm du lịch chính của Thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới dựa vào hệ thống các chỉ tiêu cụ thể Từ đó đề xuất xây dựng, đánh giá một số tuyến du lịch của Thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới
- Giới hạn về không gian: Thành phố Hà Nội sau khi mở rộng điạ giới bao gồm: Hà Nội (cũ), toàn bộ tỉnh Hà Tây (sau khi tách xã Tân Đức – Ba Vì về Phú Thọ), huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc) và 4 xã thuộc huyện Lương Sơn – Hoà Bình (nay đã sát nhập vào huyện Thạch Thất và Quốc Oai) Như vậy, Hà Nội hiện nay bao gồm 29 đơn vị hành chính: 1 thị xã, 10 quận, 18 huyện ngoại thành Trong luận văn, tác giả chủ yếu nghiên cứu đề xuất xây dựng các tuyến điểm
du lịch ở khu vực Hà Nội mở rộng, do đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về khu vực nội thành Hà Nội cũ Các tuyến du lịch được xây dựng lấy trung tâm Hà Nội làm điểm xuất phát, từ đó có thể xây dựng được các tuyến du lịch nội vùng, liên vùng…
- Giới hạn về thời gian: Đề tài tập trung điều tra, thu thập, phân tích các số liệu trong giai đoạn từ 2005 – 2010 và định hướng phát triển giai đoạn 2011 – 2020
Trang 35 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trên Thế giới
Ở Việt Nam
6 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
a Quan điểm nghiên cứu
Quan điểm hệ thống
Quan điểm lãnh thổ tổng hợp và chuyên môn hóa
Quan điểm viễn cảnh lịch sử
Quan điểm phát triển bền vững
Quan điểm kế thừa
b Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
Phương pháp khảo sát, điều tra thực địa
Phương pháp thang điểm tổng hợp
Phương pháp chuyên gia
Phương pháp dự báo
7 Những đóng góp mới của luận văn
- Tổng quan có chọn lọc các nghiên cứu trong và ngoài nước các vấn đề lý luận, phương pháp luận, hệ thống chỉ tiêu cho việc xây dựng các tuyến điểm du lịch và vận dụng chúng vào điều kiện cụ thể của Thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới
- Điều tra, khảo sát, đánh giá tiềm năng, thực trạng khai thác một số tuyến điểm du lịch trên địa bàn Thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới, từ đó đưa ra nhận xét về điểm mạnh, những hạn chế và khả năng khai thác của chúng
- Xây dựng một số tuyến điểm du lịch của Thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới dựa trên tổ hợp chỉ tiêu bằng phương pháp thang điểm tổng hợp và đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác các tuyến điểm đó
8 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn gồm 3 chương:
Trang 4CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHO VIỆC XÂY DỰNG CÁC TUYẾN
ĐIỂM DU LỊCH
CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG KHAI THÁC CÁC TUYẾN ĐIỂM DU LỊCH CỦA THÀNH
PHỐ HÀ NỘI SAU KHI MỞ RỘNG ĐỊA GIỚI
CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG VÀ KHAI THÁC MỘT SỐ TUYẾN ĐIỂM DU LỊCH CỦA
THÀNH PHỐ HÀ NỘI SAU KHI MỞ RỘNG ĐỊA GIỚI
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHO VIỆC
XÂY DỰNG CÁC TUYẾN ĐIỂM DU LỊCH
1.1.1.2 Vị trí của điểm, tuyến du lịch trong hệ thống lãnh thổ du lịch
Điểm du lịch
Theo Luật Du lịch Việt Nam: “Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục
vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch” [14] Điểm du lịch là nơi tập trung một loại tài nguyên nào đó (tự nhiên, văn hoá – lịch sử hoặc kinh tế - xã hội) hoặc một loại công trình riêng biệt phục vụ du lịch hoặc kết hợp cả hai ở quy mô nhỏ Vì thế, điểm du lịch có thể được phân thành
2 loại: Điểm tài nguyên và điểm chức năng Thời gian lưu trú của khách tương đối ngắn (không quá 1-2 ngày) vì sự hạn chế của đối tượng du lịch, trừ một vài trường hợp ngoại kệ (điểm du lịch với chức năng chữa bệnh, nhà nghỉ của cơ quan…)
Các điểm du lịch nối với nhau bằng tuyến du lịch
Tuyến du lịch
Theo Luật Du lịch Việt Nam: “Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không” [14]
Trang 51.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng tuyến điểm du lịch
1.1.2.1 Vị trí địa lý
Vị trí địa lý là một trong những nguồn lực quan trọng để phát triển du lịch cũng như xây dựng các tuyến điểm du lịch Vị trí địa lý bao gồm: Vị trí địa lý về mặt tự nhiên (phạm vi lãnh thổ có giới hạn và toạ độ địa lý), vị trí về kinh tế xã hội và chính trị
1.1.2.2 Tài nguyên du lịch
Theo Điều 4, Luật Du lịch của Việt Nam thì “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử-văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.” [14]
Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác
Tài nguyên du lịch tự nhiên
Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn,
hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch
Nguồn nước
Tài nguyên nước bao gồm nước chảy trên mặt và nước ngầm Đối với du lịch thì nước mặt có ý nghĩa quan trọng Nó bao gồm nước đại dương, biển, sông, hồ (tự nhiên, nhân tạo), suối phun, thác nước… nhằm mục đích du lịch, nước được sử dụng theo nhu cầu cá nhân, theo độ tuổi
và nhu cầu quốc gia
Trang 6 Sinh vật
Về tài nguyên sinh vật, rừng không chỉ có ý nghĩa lớn về mặt kinh tế, sinh thái, mà còn có giá trị đối với du lịch, nhất là rừng nguyên sinh hoặc thuần chủng
Tài nguyên du lịch nhân văn
Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch
Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học
Mỗi một dân tộc có những điều kiện sinh sống, những đặc điểm văn hoá, phong tục tập quán, hoạt động sản xuất mang những sắc thái riêng của mình và có những địa bàn cư trú nhất định Những đặc thù của từng dân tộc có sức hấp dẫn riêng đối với khách du lịch Các đối tượng
du lịch gắn với dân tộc học có ý nghĩa với du lịch là các tập tục lạ về cư trú, về tổ chức xã hội, về thói quen ăn uống, sinh hoạt, kiến trú, trang phục, ca múa nhạc…
Các đối tượng văn hoá – thể thao và hoạt động nhận thức khác
1.1.2.3 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch
Cơ sở hạ tầng
Mạng lưới và phương tiện giao thông vận tải
Thông tin liên lạc
Trong hoạt động du lịch, nếu mạng lưới giao thông và phương tiện giao thông vận tải phục
vụ cho việc đi lại của con người thì thông tin liên lạc đảm nhiện việc vận chuyển các tin tức một cách nhanh chóng và kịp thời, góp phần thực hiện mối giao lưu giữa các vùng trong phạm vi cả nước và quốc tế
Trang 7 Các công trình cung cấp điện, nước
Cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ du lịch
Cơ sở vật chất kỹ thuật đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo ra và thực hiện sản phẩm du lịch cũng như quyết định mức độ khai thác tiềm năng du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch Chính vì vậy nên sự phát triển của ngành du lịch bao giờ cũng gắn liền với việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật
1.1.3 Các tiêu chí để xây dựng tuyến điểm du lịch
1.1.3.1 Các tiêu chí để xây dựng điểm du lịch
Để có thể xây dựng điểm du lịch trên địa bàn nghiên cứu, trước hết phải phân tích để tìm ra những khu vực tập trung tài nguyên có thể phục vụ khai thác du lịch, sau đó đánh giá tổng hợp theo các chỉ tiêu phù hợp, kết hợp với những đặc trưng của điểm du lịch để xây dựng các điểm
du lịch
Vị trí của điểm du lịch
+ Rất gần (rất thuận lợi - 4 điểm): khoảng cách dưới 100km, hoặc thời gian đi đường ít hơn
2 giờ, có thể đi bằng 2 - 3 phương tiện thông dụng
+ Gần (khá thuận lợi - 3 điểm): khoảng cách từ 100 đến 150 km, hoặc thời gian đi đường 2 -
3 giờ, có thể đi bằng 1 - 2 loại phương tiện thông dụng
+ Trung bình (thuận lợi trung bình - 2 điểm): khoảng cách từ 150 đến 200 km, hoặc thời gian đi đường 3 - 4 giờ, có thể đi bằng 1 loại phương tiện thông dụng
+ Xa (ít thuận lợi - 1 điểm): khoảng cách trên 200 km, hoặc thời gian đi đường trên 4 giờ, có thể đi bằng 1 loại phương tiện thông dụng
Sức hấp dẫn của điểm du lịch
+ Rất hẫp dẫn (4 điểm): có trên 5 phong cảnh đẹp, hoặc có trên 5 hiện tượng, di tích tự nhiên đặc biệt; hoặc có công trình văn hóa và di tích lịch sử có tính nghệ thuật độc đáo, được công nhận là di sản văn hóa thế giới hoặc được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận cấp quốc gia; hoặc có thể khai thác phát triển trên 5 loại hình du lịch
+ Hẫp dẫn: (3 điểm): có 3 - 5 phong cảnh đẹp, hoặc só 3 - 5 hiện tượng, di tích tự nhiên đặc biệt; hoặc có công trình văn hóa và di tích lịch sử có tình nghệ thuật độc đáo, được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận cấp quốc gia; hoặc có thể khai thác phát triển 3 - 5 loại hình du lịch
Trang 8+ Ít hấp dẫn (2 điểm): có từ 1 - 2 phong cảnh đẹp, hoặc có 2 hiện tượng, di tích đặc biệt; hoặc có công trình văn hóa và di tích lịch sử có tính nghệ thuật trung bình, được Sở Văn hóa Thông tin địa phương công nghận cấp tỉnh; hoặc có thể khai thác phát triển từ 1 đến 2 loại hình
du lịch
+ Không hấp dẫn (1 điểm): có phong cảnh đơn điệu, hoặc có công trình văn hóa, di tích lịch sử có ý nghĩa địa phương; chỉ có thể khai thác phát triển 1 loại hình du lịch
Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật của điểm du lịch
- Rất tốt: Cơ sở hạ tầng và kỹ thuật đồng bộ, đủ tiện nghi đạt tiêu chuẩn quốc tế > 3 sao
- Khá: Đồng bộ, đủ tiện nghi đạt tiêu chuẩn quốc tế 1 - 2 sao
- Trung bình: Có được một số cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật nhưng chưa đồng bộ và chưa đủ tiện nghi
- Kém: Còn thiếu nhiều cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật, nếu có thì chất lượng thấp hoặc tạm thời thiếu hẳn thông tin liên lạc
Thời gian hoạt động du lịch
+ Rất dài (4 điểm): có hơn 200 ngày trong năm có thể triển khai tốt các hoạt động du lịch và trên 180 ngày trong năm có điều kiện khí hậu thích hợp nhất đối với sức khỏe con người
+ Dài (3 điểm): có 150 - 200 ngày trong năm có thể triển khai tốt các hoạt động du lịch và
120 - 180 ngày trong năm có điều kiện khí hậu thích hợp nhất đối với sức khỏe con người + Trung bình (2 điểm): có 100 - 150 ngày trong năm có thể triển khai tốt các hoạt động du lịch và 90 - 120 ngày trong năm có điều kiện khí hậu thích hợp nhất đối với sức khỏe con người + Ngắn (1 điểm): có dưới 100 ngày trong năm có thể triển khai tốt các hoạt động du lịch và dưới 90 ngày trong năm có điều kiện khí hậu thích hợp nhất đối với sức khỏe con người
Sức chứa khách du lịch
+ Rất lớn (4 điểm): có khả năng tiếp nhận trên 1000 người/ngày, trên 250 lượt tham quan đối với điểm tài nguyên tự nhiên Đối với điểm tài nguyên nhân văn, con số tương ứng là 500 người và 100 người
Trang 9+ Lớn (3 điểm): có thể tiếp đón 500 - 1000 người /ngày, từ 150 đến 250 người/lượt tham quan đối với điểm tài nguyên tự nhiên Đối với điểm tài nguyên nhân văn, con số tương ứng là 300 đến 500 người và 50 đến 100 người
+ Trung bình (2 điểm): có sức chứa 100 - 500 người/ngày, từ 50 đến 150 người/lượt tham quan đối với điểm tài nguyên tự nhiên Đối với điểm tài nguyên nhân văn, con số tương ứng là 100 đến 300 người và 30 đến 50 người
+ Nhỏ (1 điểm): có sức chứa dưới 100 người/ngày, dưới 50 người/lượt tham quan đối với điểm tài nguyên du lịch tự nhiên Đối với điểm tài nguyên nhân văn, con số tương tứng là dưới 100 người và dưới 30 người
Độ bền vững của điểm du lịch
+ Rất bền vững (4 điểm): trong trường hợp điểm du lịch không có thành phần hoặc bộ phận tự nhiên nào bị phá hoại, khả năng tự phục hồi cân bằng sinh thái của môi trường nhanh; công trình văn hóa lịch sử còn được bảo tồn tốt, không bị phá hoại bởi môi trường nhiệt đới ẩm và thiên tai, tài nguyên có khả năng tồn tại vững chắc trên 100 năm, hoạt đông du lịch diễn ra liên tục
+ Bền vững (3 điểm): trong trường hợp điểm du lịch có từ 1 - 2 thành phần hoặc bộ phận tự nhiên bị phá hoại nhưng ở mức độ không đáng kể, có khả năng tự phục hồi tương đối nhanh; công trình văn hóa lịch sử có bị phá hoại, có khả năng phục hồi nhanh, tài nguyên có khả năng tồn tại vững chắc từ 50 đến 100 năm, hoạt động du lịch diễn ra thường xuyên
+ Trung bình (2 điểm): trong trường hợp điểm du lịch có từ 1 - 2 thành phần tự hoặc bộ phận
tự nhiên, kinh tế - xã hội bị phá hoại đáng kể, phải có sự hỗ trợ tích cực của con người mới phục hồi nhanh được; công trình văn hóa lịch sử bị phá hoại tương đối, có khả năng sửa chữa và tôn tạo những chậm, tài nguyên có khả năng tồn tại vững chắc từ 10 đến 50 năm, hoạt động du lịch
có thể bị hạn chế
+ Không bền vững (1 điểm): trong trường hợp điểm du lịch có từ 2 - 3 thành phần tự nhiên
bị phá hoại nặng, phải có sự hỗ trợ tích cực của con người mới phục hồi được nhưng rất chậm; công trình văn hóa lịch sử bị phá hoại nặng, khả năng phục hồi nguyên trạng kém, tài nguyên có khả năng tồn tại vững chắc dưới 100 năm, hoạt động du lịch bị gián đoạn
Điểm đánh giá tổng hợp của các tiêu chí theo 4 mức độ và trọng số của chúng:
Bảng 1.1: Điểm đánh giá tổng hợp các tiêu chí điểm du lịch
Trang 10TT Tiêu chí Trọng
số
Thang bậc Rất
Thuận lợi
Thuận lợi
Ít thuận lợi
Không Thuận lợi
Qua số điểm tổng hợp trên, ta có thể xác định mức độ thuận lợi của các điểm du lịch là:
Bảng 1.2: Mức độ thuận lợi của các điểm du lịch
đánh giá
Tỉ lệ phần trăm so với
số điểm tối
đa
1 Rất thuận lợi (Điểm du lịch có ý nghĩa QT, QG) 42 - 56 75 - 100%
2 Thuận lợi (Điểm du lịch có ý nghĩa vùng) 28 - 41 50 - 74%
3 Ít thuận lợi (Điểm du lịch có ý nghĩa địa phương) 14 - 27 25 - 49%
4 Không thuận lợi (Điểm du lịch tiềm năng) < 14 < 25%
1.1.3.2 Các tiêu chí để xây dựng tuyến du lịch
Tuyến du lịch là cơ sở quan trọng để các nhà cung cấp dịch vụ xây dựng các chương trình du lịch Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu của nhiều tác giả về đánh giá, xây dựng tuyến
du lịch, trong đề tài luận văn này, tuyến du lịch được đánh giá qua các chỉ tiêu: độ hấp dẫn, độ tiện ích và mức độ, hiệu quả khai thác
Độ hấp dẫn
- Tuyến du lịch đặc biệt hấp dẫn: có ít nhất 3 điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia (hoặc quốc tế), phân bố tập trung trong vòng bán kính 50km
Trang 11- Tuyến du lịch rất hấp dẫn: có ít nhất 2 điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia (hoặc quốc tế) , phân bố tập trung trong vòng bán kính 50km
- Tuyến du lịch hấp dẫn: có ít nhất 1 điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia (hoặc quốc tế), phân
bố tập trung trong vòng bán kính 50km
- Tuyến du lịch ít hấp dẫn: các điểm du lịch trong tuyến có sức hấp dẫn đối với du khách nhưng chỉ có ý nghĩa địa phương (không có điểm du lịch quốc gia, quốc tế), tập trung trong vòng bán kính 50km
Tiêu chí này được tính hệ số 3 và thang điểm lần lượt là:
- 4 điểm: tuyến du lịch đặc biệt hấp dẫn
- Tiện nghi cơ sở vật chất kỹ thuật – cơ sở hạ tầng trung bình: cơ sở hạ tầng đến các điểm
du lịch trong tuyến thuận lợi trung bình, cơ sở vật chất kỹ thuật đáp ứng được mức độ trung bình nhu cầu của khách
- Tiện nghi cơ sở vật chất kỹ thuật – cơ sở hạ tầng chưa tốt: cơ sở hạ tầng đến các điểm du lịch trong tuyến ít thuận lợi, cơ sở vật chất kỹ thuật đáp ứng được mức độ thấp nhu cầu của khách
Độ tiện ích của tuyến du lịch được tính với hệ số 1 và thang điểm lần lượt như sau:
- 4 điểm: tiện nghi, cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng rất tốt
- 3 điểm: tiện nghi, cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng tốt
- 2 điểm: tiện nghi, cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng trung bình
- 1 điểm: tiện nghi, cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng chưa tốt
Mức độ khai thác
Trang 12- Mức độ khai thác rất cao: là tuyến du lịch có trên 70% số điểm du lịch trên tuyến được khai thác trong các tour du lịch
- Mức độ khai thác cao: là tuyến du lịch có từ 50 – 70% số điểm du lịch trên tuyến được khai thác trong các tour du lịch
- Mức độ khai thác trung bình: là tuyến du lịch có từ 30 – 40% số điểm du lịch trên tuyến được khai thác trong các tour du lịch
- Mức độ khai thác thấp: là tuyến du lịch có dưới 30% số điểm du lịch trên tuyến được khai thác trong các tour du lịch
Tiêu chí này được tính với hệ số 2 và thang điểm lần lượt là:
- 4 điểm: mức độ khai thác rất cao
- 3 điểm: mức độ khai thác cao
- 2 điểm: mức độ khai thác trung bình
Trang 13STT Mức độ đánh giá Điểm
đánh giá
Tỉ lệ phần trăm
so với số điểm tối đa
1 Rất thuận lợi (Tuyến du lịch có ý nghĩa QT, QG) 42 - 56 75 - 100%
2 Thuận lợi (Tuyến du lịch có ý nghĩa vùng) 28 - 41 50 - 74%
3 Ít thuận lợi (Tuyến du lịch có ý nghĩa địa phương) 14 - 27 25 - 49%
4 Không thuận lợi (Tuyến du lịch tiềm năng) < 14 < 25%
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng phát triển các điểm du lịch ở Việt Nam
Theo thống kê, cả nước hiện đang phát triển 4 khu du lịch tổng hợp, 21 khu du lịch chuyên đề quốc gia (năm 2007), nhiều khu du lịch trên địa bàn các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương, trên 60 điểm du lịch quốc gia
Các khu, điểm du lịch tập trung trong 3 vùng du lịch với những chỉ tiêu và sản phẩm du lịch đặc trưng:
- Vùng du lịch Bắc Bộ
- Vùng du lịch Bắc Trung Bộ
- Vùng du lịch Nam Trung bộ và Nam bộ
1.2.2 Thực trạng phát triển các tuyến du lịch ở Việt Nam
Các tuyến du lịch quốc gia và quốc tế phát triển theo “Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010” bao gồm:
- Tuyến du lịch xuyên Á trên cơ sở đường sắt xuyên Á, đường sắt Bắc Nam ; tuyến du lịch quốc tế bằng đường biển qua các cảng Hạ Long, Chân Mây, Đà Nẵng, Khánh Hoà và thành phố
Hồ Chí Minh; tuyến du lịch quốc tế hành lang Đông – Tây qua các cửa khẩu quốc tế Cầu Treo, Lao Bảo, Mộc Bài, Châu Đốc; tuyến du lịch quốc tế Vân Nam – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh; tuyến du lịch sông Mekong mở rộng nối Việt Nam với Campuchia, Lào, Thái Lan, Myanmar và Trung Quốc
- Các tuyến du lịch theo đường Hồ Chí Minh, qua các di sản thế giới, khu vực Tây Nguyên (tiêu biểu là các tuyến du lịch chuyên đề: “Con đường di sản”, “Con đường xanh Tây Nguyên”); tuyến du lịch đường biên vùng vúi phía Bắc (chủ yếu theo quốc lộ 4A, B, C, D) và tuyến du lịch duyên hải Bắc Bộ (theo quốc lộ 10) …
Tiểu kết chương 1
Trang 14Như vậy, việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ du lịch và xây dựng các cấp phân vị của hệ thống lãnh thổ du lịch theo không gian nhằm xác định được các điểm, tuyến du lịch trên một đơn vị lãnh thổ, góp phần sử dụng hợp lý, khai thác có hiệu quả các nguồn lực vốn có của các khu vực, vùng, địa phương, quốc gia
Việc hệ thống được các chỉ tiêu dùng để xây dựng các điểm, tuyến du lịch là hết sức cần thiết để dựa vào đó làm căn cứ đánh giá, xây dựng các điểm, tuyến du lịch cho phù hợp Các chỉ tiêu có thể kể đến ở đây đó là: độ hấp dẫn, CSHT và CSVCKT phục vụ du lịch, thời gian hoạt động du lịch, sức chứa và vị trí, khả năng tiếp cận của điểm du lịch, độ bền vững … Bộ chỉ tiêu
có được là kết quả kế thừa các công trình khoa học của chuyên gia về khoa học địa lý, du lịch học Kết quả nghiên cứu lý thuyết đó sẽ được đưa vào áp dụng trong thực tế để đánh giá các điểm du lịch, tuyến du lịch nhằm góp phần xây dựng được các tuyến du lịch mới cũng như tạo
ra những sản phẩm du lịch độc đáo, có sức thu hút du khách đến với thủ đô Hà Nội
CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG KHAI THÁC CÁC TUYẾN ĐIỂM DU LỊCH CỦA THÀNH
PHỐ HÀ NỘI SAU KHI MỞ RỘNG ĐỊA GIỚI
2.1 Tiềm năng du lịch của Thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới
2.1.1 Vị trí địa lý của Thành phố Hà Nội
Giới hạn lãnh thổ của Hà Nội trong khoảng từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02' kinh độ Đông Phía Bắc tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc Phía Nam tiếp giáp với các tỉnh Hà Nam, Hòa Bình Phía Đông tiếp giáp với các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh
và Hưng Yên Phía Tây tiếp giáp với các tỉnh Hòa Bình và Phú Thọ
2.1.2 Tài nguyên du lịch của Thành phố Hà Nội
2.1.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên của Thành phố Hà Nội
Địa hình
Đại bộ phận diện tích của Hà Nội nằm trong khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng nhưng lại được xem là khu vực chuyển tiếp giữa các dãy núi đồ sộ của vùng Tây Bắc và đồng bằng sông Hồng nên địa hình Hà Nội tuy không rõ nét đặt trưng điển hình nhưng lại mang trong mình cả đồng bằng và đồi núi
Khí hậu
Trang 15Khí hậu Hà Nội tiêu biểu cho vùng Bắc Bộ với đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mưa nhiều Thành phố Hà Nội có đủ bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông
Thủy văn
Mạng lưới sông ngòi trên địa bàn Hà Nội khá dày đặc thuộc hai hệ thống sông chính: sông Hồng và sông Thái Bình Hà Nội cũng là một thành phố đặc biệt nhiều đầm hồ, dấu vết còn lại của các dòng sông cổ
Sinh vật
Hà Nội hiện nay là vùng hiện hữu nhiều h ệ sinh thái độc đáo tiềm ẩn nguồn tài nguyên sinh vật và đa dạng sinh ho ̣c phong phú mà ít có Thủ đô nào trên thế giới có được
2.1.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn của Thành phố Hà Nội
Hà Nội không chỉ có nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên phong phú mà còn phải kể đến nguồn tài nguyên du lịch nhân văn trải suốt chiều dài lịch sử với các di tích, danh thắng, phong tục tập quán, lễ hội, làng nghề thủ công truyền thống của vùng đất Kinh kỳ xưa và vùng đất nổi tiếng với các làng nghề Hà Tây nay đã sát nhập vào thành Hà Nội mới
Di tích lịch sử, văn hóa
Thống kê sơ bộ, Hà Nội đã có trên 5.000 di tích Tỷ lệ này chiếm tới 40% số di tích của cả nước Khoảng 1.000 di tích trong số đó được cấp bằng di tích cấp Quốc gia [39]
Lễ hội
Thăng Long – Hà Nội xưa và Hà Nội hiện nay là một trong những vùng tập trung nhiều hội
lễ của miền Bắc Việt Nam
Trang 162.1.3 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật của thành phố Hà Nội
2.1.3.1 Giao thông
Hà Nội là một trong những thành phố có số dân và mật độ dân cư cao của cả nước, ở khu vực trung tâm của miền Bắc, bên cạnh con sông Hồng, giao thông từ Hà Nội đến các tỉnh khác của Việt Nam tương đối thuận tiện, bao gồm cả đường không, đường bộ, đường thủy và đường sắt
2.1.3.2 Thông tin liên lạc
2.2.1.2 Hiện trạng doanh thu du lịch
Theo số liệu thống kê, lượng khách quốc tế đến Hà Nội tăng bình quân 15,2%/năm, lượng khách nội địa đến Hà Nội tăng 14,5% Thu nhập xã hội từ du lịch tăng bình quân
14,5%/năm
2.2.1.3 Hiện trạng lao động của ngành du lịch
Theo số liệu thống kê năm 2008, khu vực Hà Nội cũ có khoảng 45.000 lao động trực tiếp trong ngành du lịch (24.000 cho khối nhà hàng – khách sạn, 6000 cho khối lữ hành và 15.000 cho các dịch vụ khác) và khoảng 120.000 lao động du lich gián tiếp
2.2.1.4 Hiện trạng cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất – kỹ thật phục vụ du lịch
2.2.1.5 Hiện trạng đầu tư vào lĩnh vực du lịch
Hà Nội luôn tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư vào Hà Nội nói chung và lĩnh vực du lịch nói riêng Việc kêu gọi đầu tư vào du lịch Hà Nội luôn gắn kết chặt chẽ với định hướng phát triển bền vững, thân thiện với môi trường, với mục đích khai thác tối ưu các giá trị tài nguyên tự nhiên và các giá trị di sản văn hóa - lịch sử để xây dựng sản phẩm du lịch đặc trưng của Thủ đô
2.2.2 Hiện trạng khai thác một số tuyến điểm du lịch tại Hà Nội
Trang 172.2.2.1 Hiện trạng khai thác một số điểm du lịch tại Hà Nội
Những mặt đạt được Những mặt hạn chế Văn Miếu – Quốc
Tử Giám
Văn Miếu-Quốc Tử Giám là trường đại học cổ nhất Việt Nam, có lịch sử gần 1000 năm và là nơi thờ Khổng Tử Đặc biệt, 82 bia tiến sĩ tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám được công nhận là Di sản tư liệu thế giới đồng thời được tổ chức UNESCO ghi danh
là Ký ức thế giới Theo thống kê trong 7 tháng đầu năm 2011, Trung tâm hoạt động văn hóa khoa học Văn Miếu-Quốc Tử Giám đã đón trên 700.000 lượt khách tới tham quan, trong đó khách quốc tế chiếm 60%
Là một điểm du lịch thường xuyên, gần như cố định trong các chương trình city tour Hà Nội, Văn Miếu – Quốc Từ Giám là một điểm đến hấp dẫn với du khách Không có nhiều những vấn đề hạn chế đối với điểm du lịch lớn này của thủ đô
Về Lăng viếng Bác, đối với mỗi người dân Việt Nam như một nhu cầu tình cảm, nhiều người từ những miền xa xôi vẫn thiết tha mong mỏi một lần được về thủ đô thăm Lăng Bác Đây là một cụm công trình có ý nghĩa đặc biệt đối với người dân Hà Nội và cả nước Do lượng người tập trung quá đông vào các ngày lễ lớn nên việc thăm quan đối với du khách tương đối vất vả do phải xếp hàng chờ đợi rất lâu