Hà Nội, 10 - 2005LỜI CÁM ƠN Với vốn kiến thức về chuyên ngành Tâm lý học Lâm sàng và Tâm bệnh học còn hạn chế, đề tài báo cáo thực tập: “Những biểu hiện lâm sàng trong rối loạn phân ly ở
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌCXÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2Hà Nội, 10 - 2005
LỜI CÁM ƠN
Với vốn kiến thức về chuyên ngành Tâm lý học Lâm sàng và Tâm bệnh
học còn hạn chế, đề tài báo cáo thực tập: “Những biểu hiện lâm sàng trong rối loạn phân ly ở thanh niên” hoàn thành với sự giúp đơc nhiệt tình của các thày
cô giáo khoa Tâm lý học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đặcbiệt là Th s, cô Nguyễn Thị Hương hiện đang là NCS tại Pháp
Em xin chân thành cảm ơn Th.s Nguyễn Thị Hương, các bác sĩ, y tá khoaTâm thần, viện SKTT – Bệnh viện Bạch Mai, và đặc biệt là T s, B s, thày ĐinhĐăng Hoè đã giúp em hoàn thành báo cáo thực tập này
Em xin chân thành cảm ơn !
Trang 3MỤC LỤC
Phần I : PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Đối tượng nghiên cứu
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
4 Mục đích nghiên cứu
5 Khách thể và phạm vi nghiên cứu
6 Phương pháp nghiên cứu
Phần II: PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương I: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1 Lịch sử nghiên cứu hysteria ( rối loạn phân ly)
2 Khái niệm hysteria
3 Khái niệm bệnh sinh học
4 Lâm sàng các triệu chứng hysteria
Chẩn đoán xác định
Chẩn đoán phân biệt
5 Một số thể lâm sàng chính của rối loạn phân ly
9 Khái niệm thanh niên
9 1 Khái niệm thanh niên
9 2 Đặc điểm tâm lý thanh niên
Chương II: PHẦN THỰC TẾ
1.Nhiệm vụ, kế hoạch chung
2.Kết quả nghiên cứu: CA 1 CA 2
Trang 4PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Là sinh viên theo chuyên ngành Tâm lý học lâm sàng, chúng tôi đã cónhiều đợt kiến tập tại khoa tâm thần của các bệnh viện kách nhau như: bệnh việnBan ngày Mai Hương, Bv Nhi Thụy Điển, Bv 103, Bv TTTW1, Bv Bạch Mai Một thực tế rằng bệnh nhân vào các khoa này ngày càng đông với nhiều rốinhiễu tâm lý khác nhau Có ngày, bốn giường bệnh ở phòng tập thư giãn ở BvBạch Mai mà số bệnh nhân có rối loạn phân li lên đến con số 3 Điều đáng lưu
ý, những bệnh nhân hysteria này đa số là trẻ em và thanh thiếu niên
Hysteria là một bênh tâm thần có căn nguyên tâm lý Bản chất chính xáccủa bệnh đến giờ các nhà Tâm thần học thế giới vẫn chưa xác định được nhưngcác biểu hiện lâm sàng, đặc điểm nhân cách (hay loại hình thần kinh) và yếu tốsang chấn tâm lý thì đã được làm sáng tỏ Bệnh cảnh của lọai này đa dạng Đại
đa số các trạng thái rối loạn phân li khởi đầu đột ngột ( có thể có phản ứng tậpthể xảy ra nhanh chóng) Nếu được xử lý kịp thời thì bệnh cũng thoái lui nhanh,không để lại di chứng tâm thần
Theo các tài liệu nước ngoài, tỉ lệ những người mắc bệnh hysteria hàngnăm chiém tới 0, 3 – 0, 5% số dân Bệnh thường phát sinh ở tuổi trẻ, tuổi mà có
sự nhạy cảm vao và đặc biệt là tâm lý vẫn chưa vững vàng Bệnh xuất hiện ở nữnhiều hơn nam và có thể phát thành dịch
Ở Việt Nam, trong thời kháng chiến chống Mỹ, đã xuất hiện dich hysteria
ở đội thanh niên xung phong Quảnh Bình vào năm 1968 và đội thanh niên tạiLâm Đồng năm 1977, đã có tới 30 – 50% số thanh niên trong đội bị bệnh Nổibật trong thời gian vừa qua, trên các phương tiện thông tin đại chúng đã đề cậpđến các “cơn ngất phân li hàng loạt”, “cơn hysteria tập thể”
Đối với ta, bệnh tâm căn hysteria không còn lạ nhưng việc lây lan với sốlượng lớn như ở học sinh các trường PTTH Xuân áng, Hạ Hòa, Phú Thọ ( Ngày24/10/2004), trường THPT Ba Tơ hay trường Nguyễn Hiền – Hòa Cường, Hải
Trang 5Châu, Đà Nẵng đã thu hút sự quan tâm của mọi người đặc biệt làm đau đầu baonhà khoa học
Làm báo cáo thực tập này, với kiến thức chuyên môn còn hạn chế, tôi chỉxin đề cập đến những biểu hiện lâm sàng trong rối loạn phân ly ở thanh niên,được mô tả trong từng trường hợp chứ không mang tính chất lây lan, tập thể nhưnhững vấn đề đang nổi cộm hiện nay
1 Đối tượng ngiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của báo cáo thực tập là những biểu hiện lân sàngtrong rối loạn phân ly ở thanh niên
2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Lý luận: Xây dựng cơ cấu lý luận bao gồm tìm hiểu lịch sử nghiên cứuvaans đè và một số khái niệm liên quan
+ Khảo sát thực tế: Quan sát tìm hiểu và làm sáng rõ những biểu hiện lâmsàng trong rối loạn phân lý ở thanh niên
3 Mục đích nghiên cứu:
+Mô tả, phân tích các biểu hiện lâm sàng
+ Giúp đưa ra đựơc chẩn đoán chính xác các liệu pháp và điều trị thíchhơp đồng thời giúp gia đình, bạn bè có được thái độ đúng đắn đối với bệnh vàvới người bệnh
Trang 6PHẦN II:PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Lịch sử nghiên cứu của rối loạn phân ly ( hysteria)
Bắt nguồn từ tiếng Hy lạp “ Husteria” danh từ Hysteria có nghĩa là tửcung Trong thực tế, theo các tác gia Hy lạp cổ xưa hysteria là một bệnh của phụ
nữ trưởng thành do một sự di truyền tử cung vào mọi nơi của cơ thể tìm kiếmmột sự thăng bằng thể dịch mà nó đang không có các quan hệ tình dục hoặc rất
ít
Tại thời Trung Đại, do sự áp chế về tôn giáo, kinh tế, chính trị đã tạo nêncác căng thẳng tâm lý làm xuất hiện những dịch hysteria lớn Người ta cho rằng
đó là biểu hiện của ma quỷ xâm nhập
Vào thế kỉ XVIII, Charles Lepois bác bỏ quan niệm bệnh phụ thuộc vào
tử cung bởi vì các bé gái, phụ nữ mãn kinh và đàn ông cũng có thể mắc bệnh T.Sydenham thì cho rằng đó là bệnh bắt chước các bệnh người khác
Kết hợp các biểu hiện đa dạng của hysteria thành một đơn vị bệnh riêng,năm 1859 Charcot cho rằng hysteria là “bệnh giả vờ vĩ đại” Các triệu chứngthường tăng trên địa thế nhân cách hysteria, dễ bị tính ám thị Các triệu chứngcủa hysteria và những triệu chứng của các bệnh thực thể được ông mô tả là cơn
co giật, liệt, không nói, mù…
Babinski ( Pháp) thấy được hysteria có những nét giống với triệu chứngthần kinh của những bệnh thực thể Bệnh nhân mắc bệnh dễ chịu sự ám thị củangười thày thuốc Ông đã đề nghị thay thuật ngữ hysteria bằng thuật ngữ bệnh
Trang 7Rối loạn phân ly là những triệu chứng lâm sàng không kèm theo tổnthương thực thể Những rối loạn này thể hiện mất một phần hoặc hoàn toàn sựtổng hợp bình thừơng giữa trí nhớ quá khứ và ý thức về đặc tính cá nhân, kếthợp với những cảm giác vận động không phù hợp với tổn thương thực tổn
Theo PGS TS Võ Văn Bản: “ Rối loạn phân ly là những rối loạn thầnkinh chức năng, rất đa dạng mang tính từng cơn và thương xuất hiện sau nhữngsang chấn tâm lý ở những người có nhân cách dễ bị ám thị”
3 Khái niệm bệnh sinh học:
Có nhiều thuyết đề cập về bệnh sinh học, tuy nhiên vẫn chưa có một sựthống nhất nào:
Charcot thì xem đó là một bệnh mà một tổn thương năng động đã quyđịnh tính chất ám thị hysteria Bakinski lại phân biệt một cách có bản tính chấtchức năng với tính chất thực thể Đối với các hiện tượng chức năng, ông đưa ra
từ pithiatisme hàm chứa sự lệ thuộc của chúng vào tính ám thị cũng như trongkhi làm thôi miên và được chữa khỏi bằng thuyết phục Theo ông, bản chất củahysteria (pithiatisme) là tính tự ám thị, điều này khác hẳn với sự giả vờ
Freud cho rằng hysteria liên quan chủ yếu đến một sự thoả mãn thân thể(cọmlaisance somatique) của cá nhân để diễn đạt bằng cơ thể những xung độttâm lý của mình, tập trung chặt chẽ vào mặc cảm Oedip Người bị hysteria cócùng mọt sự sợ hãi dữ dội về bản năng sinh dục và những xung lực sinh dục rấtmạnh Các xung lực bản năng này đưa người bệnh đến tình yêu Oedipe và cũng
là đối tượng của sự kiểm duyệt bên trong nhưng do cường độ của chúng, chúng
có vượt qua hàng rào của sự dồn nén (refoulement) Để thoả mãn các xung lựccủa mình dưới một dạng không làm cho mình sợ, người hysteria đã làm kích dụctất cả những mối quan hệ mà bình thường ít nhuốm màu tính dục (các giao tiếp
xã hội) nhưng lại tránh mọi sự phong toả tính dục ỏn định và sâu
Để lẩn tránh mặc cảm Oedipe, sự dồn nén không còn đủ nữa và ngườibệnh lại cần đến một sự thoái lui về giai đoạn môi miệng trong đó toàn bộ cơ thể
bị vây hãm bởi một chức năng tình dục khát vọng dương vật để bù trừ lại sự
Trang 8thiếu (ở phụ nữ) hoặc sự kém cỏi của đàn ông Sự thiếu cơ bản này là nguồn gốccủa sự suy yếu của cái tôi, do sự thành thục sớm về tình dục, một mặt là nguồngốc có thể có của trầm cảm (trầm cảm hysteria)và về mặt khác dẫn đến một sựtùy thuộc lớn vào các đối tượng bên ngoài, ở các đối tượng này người hysterialuôn luôn đòi hỏi sự khôi phục những cơ sở ái kỉ của mình Mối quan hệ đốitượng như vậy có đặc trưng là sự luân phiên khộng ngừng giữa sự tìm kiếmquyền hành ( khát vọng dương vật) và motj nhu cầu chịu phục tùng ( vị thế môimiệng)
Theo thuyết tập nhiễm của Wolpe bệnh phát sinh theo cơ chế cảm ứng vàbắt chwuwocs trong quá trình tiếp xúc với môi trường xã hội
Trường phái Pavlov về hoạt động thần kinh cấp cao đã làm sáng tỏ hơnvấn đề bệnh sinh Chính sự hỗn loạn hoạt động thần kinh cấp cao ở những ngườihoạt động hệ thống tín hiệu thứ hai bị suy yếu trong khi hoạt động của hệ thốngtín hiệu thứ nhất cũng như của phần dưói vỏ não chiếm ưu thế và cuộc sốngthiên về tình cảm hơn lý trí là điều cốt yếu dẫn tới bệnh tâm căn hysteria Sựkhông thăng bằng giữa hai hệ thống tín hiệu là những đặc điểm của nhân cách,một mặt do bẩm sinh, mặt khác được hình thành trong cuộc sống
Đặc điểm cơ bản của hysteria là tăng tính cảm xúc và tăng tính ám thị.Tăng cảm xúc ở những người nhân cách yếu là do võ não suy yếu, do vỏ nãothoát ly sự kiềm chế của vùng dưới vỏ trước kích thích mạnh của sang chấnkhông tự kiềm chế được của vỏ não bị lâm vào trạng thái ức chế, bảo vệ cảmứng dương tính vùng dưói vỏ Do không có sự điều hòa của vỏ não, hoạt độngvùng dưới vỏ tăng do đó có những triệu chứng như cười, khóc, gào thét, kíchđộng, lên sơn co giật, đôi khi rối loạn ý thức, tính ám thị và tự ám thị phát triểncao trong trạng thái thôi miên, ám thị và tự ám thị là do sự kích thích tập trungvào một số vùng nhất định của võ não kèm theo cảm ứng âm tính mạnh làmcách ly hoàn toàn những triệu chứng cho bệnh nhân hysteria cũng như chữa cáctriệu chứng này
Trang 9Pavlov cho rằng cần xem người bệnh hysteria như người bị thôi miên nhẹ.
Võ não bị suy yếu nên các yếu tố kích thích trong cuộc sống trở thành quá mạnhkhông chịu nổi, dẫn tới các giai đọan khác nhau của trạng thái thôi miên Cơ chế
ám thị do cảm xúc và lo sợ khác nhau gây nên cũng giống hệt như vậy Vậybệnh dễ gây cảm ứng dây chuyền tập thể
4 Lâm sàng các triệu chứng hysteria
Chẩn đoán xác định:
Chẩn đoán xác định dựa vào các đặc điểm người có nhân cách yếu và loạihình thần kinh nghệ sĩ yếu, có chấn thương tâm thần hay hoàn cảnh xung độtgây bệnh, triệu chứng xuất hiện đột ngột, phát triển lên mức tối đa sau khi cóchấn thương, không có quá trình tiến triển theo quy luật thông thường của mộtbệnh Triệu chứng xuất hiện đơn độc, không có các triệu chứng khác kèm theo
để trở thành một hội chứng nhất định
Có các nét lâm sàng biệt định cho các rối loạn phân ly biểu hiện bằngnhững cơn hoặc trạng thái khác nhau:
+ Các cơn phân ly:
-Cơn co giật phân ly ( hay cơn vật vã phân ly): Thường xảy ra do các tácđộng trực tiếp của các yếu tố sang chấn tâm thần
Biểu hiện bằng nhiều động tác không tự ý thức, lộn xộn như vùng vẫychân tay, đập chân tay xuống sàn, giường, uốn cong người, gào thét, có bệnhnhân giật xé quần áo, rứt tóc, tự cào cấu, lăn lộn khắp sàn nhà Trong cơn ý thức
bị thu hẹp mà không bị mất hoàn toàn, vẫn còn khả năng phán ứng với các tácđộng của môi trườn, mặt không tím tái, không bao giờ cắn lưỡi, không có rốiloạn đại tiểu tiện Nếu vạch mắt của bệnh nhân vẫn thấy nhãn cầu đưa lại Lưu
ý, cơn thường xuất hiện khi có người ở xung quanh, không bao giờ xuất hiện khingười bệnh ở một mình hay đang ngủ Bệnh nhân biết trước là cơn sắp xảy ranen thường không va ngã mạnh gây chấn thương
Cơn co giật mất nhanh nếu điều trị liệu pháp ám thị lời nói hay kích thíchmạnh Nếu không được điều trị cơn có thể kéo dài hơn 15 phút tới vài giờ
Trang 10Tuy vậy, có những cơn xuất hiện rất ngắn nên có thể dễ nhầm với cơnđộng kinh Sau sơn hỏi bệnh nhân vẫn nhớ về và có thể mô tả lại được mọt phầncủa cơn
-Cơn kích động cảm xúc phân ly: Trong cơn người bệnh cười, khóc, cảmxúc hỗn độn, nói linh tinh, vùng chạy, leo trèo, gào thét, đôi khi kèm theo cơn cogiật ý thức không bị rối loạn nặng, chịu ám thị xung quanh Cơn có thể kéo dàinhiều ngày
-Cơn ngất lịm phân ly: Bệnh nhân cảm thấy người mềm yếu dần, từ từngã ra và nằm như ngủ, hai mắt chớp nhẹ, mặt không tím tái, mạch và huyết áp
ổn định Cơn kéo dài từ 15 phút đến 1h
-Cơn ngủ phân ly: Trường hợp này gặp ít hơn, người bệnh lên cơn co giậtnhẹ rồi nằm yên và ngủ, vạch mi mắt thấy nhãn cầu vẫn đưa đi đảo lại, trong lúcngủ thỉnh thoảng thở dài, thổn thức
+ Các rối loạn vận động phân ly:
- Các rối loạn vận động phân ly rất đa dạng, như lắc đầu, đạt đầu, nháymắt, múa giật, múa vờn Thường gặp nhất là run, liệt và các rối loạn phát âm
- Run: Run không đều, không có hệ thống, run ở một phần cơ thể hoặcrun toàn thân, run tăng lên khi được chú ý
- Liệt: Liệt cứng hay liệt mềm với những mức độ nặng nhệ khác nhau ởmột chi, hai chi hoặc tứ chi nhưng khám thấy trương lực cơ bình thường, không
có phản xạ bệnh lý, không có bị teo cơ, không có dấu hiệu tổn thương bó tháp,không rối loạn cơ tròn Trẻ có thể không đi, không đứng được nhưng vẫn cửđộng bình thường
- Các rối loạn phát âm: Khó nói, nói lắp, không nói hoặc nói thì thào, mấttiếng trong khi cơ quan phát âm bình thường
+ Các rối loạn cảm giác phân ly:
-Mất hoặc giảm cảm giác đau: Các khu vực mất cảm giác không đúng vớivùng định khu của thần kinh cảm giác Hay gặp nhất là mất cảm giác kiểu “bíttất” ở tay và chân Thậm chí ở cả nửa người thì mất cảm giác còn lan sang bên
Trang 11kia đường giữa Giới hạn các vùng mất cảm giác rất rõ ràng Nếu khám nhiềulần có thể thấy vùng mất cảm giác di chuyển vị trí và trong vùng mất cảm giáckhông thấy hiện tượng bỏng buốt
-Tăng cảm giác đau: Rất phức tạp, khu trú khác nhau Điều này dễ làmcho nhầm lẫn với các triệu chứng đau “thực vật” và đau ngoại khoa như đauviêm ruột thừa, đau giun chui ống mật, đau vùng trước tim, đau dây thần kinhhông
+ Các rối loạn giác quan phân ly:
-Mù phân ly: Xảy ra đột ngột và mù hoàn toàn, khám đáy mắt bìnhthường, các phản xạ đồng tử với ánh sàng còn tốt Quan sát thấy mắt vẫn linhhoạt, vẫn hướng về người nói chuyện và có thể khỏi do tác động của ám thị.Ngoài ra, còn có thể gặp các chứng lưỡng thị và đa thị do phân ly
-Điếc phân ly: Những bệnh nhân điếc phân ly thường xảy ra trong thờichiến nhiều hơn Thường xuất hiện sau các chấn động mạnh và đi kèm với câmthành hội chứng câm - điếc sau chấn thương
+ Các rối loạn thực vật - nội tạng phân ly:
Được biểu hiện thành từng cơn khá phổ biến: như cơn lạnh run, cơn nóngbừng, cơn đau vùng ngực, đau bụng, cơn khó thở, cơn khó nuốt, cơn nấc hoặchòn phân ly Các cơn này qua đi nhanh dưới sự tác động của ám thị
+ Các rối loạn ngôn ngữ:
-Chứng lặng thinh ( người bệnh câm hoàn toàn): Khác với đa số trườnghợp mất vận động ngôn ngữ, ít nhiều còn di tích của ngôn ngữ, người mắcchứng bệnh này thường chỉ vào môi mình để ra hiệu là không nói được và dùngbút để diễn tả những yêu cầu của mình
-Chứng mất tiếng phân ly: Người bệnh không nói được to chỉ nói thầmnhưng có thể ho thành tiếng
-Chứng nói lắp phân ly: Không nói đứt quãng mà chỉ nói chậm và lặp lạinhièu lần những phụ âm đầu Ví dụ: t t tôi đ đi Người nói lắp thường do cơquan phát âm bị co thắt, người bệnh không thấy ngượng vì sự thiếu sót ngôn ngữ
Trang 12của mình Điều trị chứng nói lắp bằng liệu pháp tâm lý sẽ khỏi, còn chứng nóilắp khác phải chữa lâu dài ở khoa phục hồi chức năng
+ Các rối loạn tâm thần:
-Các cơn quên phân ly: Thường quên các sự kiện mới xảy ra hoặc quêncaccs sự kiện sang chấn tâm lý
-Các rối loạn cảm xúc: Dễ xúc động, cảm xúc không ổn định, dễ nhạycảm với các kích thích, dễ bị ảnh hưởng bởi cảm xúc của người khác
-Rối loạn tư duy: Lời nói mang mà sắc cảm xúc, thường nói về bản thân,
kể về bệnh tật để lôi cuốn sự chú ý của người khác kèm theo điệu bộ có tínhkích thích trí tưởng tượng phong phú, hay cố bịa chuyện hấp dẫn li kì, thích phôtrương
-Rối loạn tác phong: Hành vi điệu bộ kịch tính, tự phát, phô trương Cóthể xảy ra hiện tượng trốn nhà phân ly Người bệnh bỏ nhà hoặc nơi làm việc ra
đi, có mục đích và vẫn duy trì sinh hoạt cá nhân, tiếp xúc bình thường trong xãhội ( mua vé tàu xe, hỏi điều chỉ dẫn chuyến đi có tổ chức có thể đeens nhữngnơi trước đã biết và có ý nghĩa về mặt cảm xúc, thường chỉ đi trong vài ngày,đôi khi có thể trong một thời gian dai, trốn nhà thường kèm theo hoạt động quênphân ly
Không có bằng chứng của một rối loạn cơ thể nào có thể giải thích chocác triệu chứng
Bằng chứng có các nguyên nhân tâm lý dưới dạng kết hợp rõ rệt về thờigian với sự kiện gây sang chấn hoặc các mối quan hệ bị rối loạn
Chẩn đoán phân biệt: Cần phân biệt với các bệnh thực thể và tâm thần có
biệu hiện giống với các nét lâm sàng của rối loạn phân
Trang 13Chẩn đoán phân biệt các cơn hysteria
biểu
hiện cocứng
Các cơn
kinhCác mất ý thức Các cơn lo hãitạm thời ( ngất nhẹ)
5 Một số thể lâm sàng chính của rối loạn phân ly:
Không mất ý thức, hai mắt mở hay nhắm nghiền
Không có các rối loạn cơ thể hoặc tâm thần khác nhau liên quan đến trángthái sững sờ
Khó phân biệt với sững sờ căng trương lực, sững sờ trầm cảm
Các rối loạn lên đồng và bị xâm nhập:
Bệnh nhân mất ý thức tạm thời, có rối loạn định hướng môi trường vàđịnh hướng đậc tính cá nhân Hoạt động của bệnh nhân như một nhân cách khác,một linh hồn khác, một vị thần hoặc một lực lượng nào điều khiển Sự chú ý và
ý thức của người bệnh chỉ tập trung vào một khía cạnh nào đố của môi trườngtrực tiếp ở bệnh nhân còn xuất hiện một số động tác, tư thế, lời nói hạn chế và
Các cơn hysteria Hình thái co giật Hình thái giả ngất
Trang 14lặp lại Các rối loạn này xuất hiện không tự ý, không mong muốn và xuất hiệngiữa các hoạt động thông thường xảy ra ngoài các hoàn cảnh mang tính chất tôngiáo.
Các rối loạn vận động phân ly:
Bệnh nhân mất khả năng cử động toàn bọ hoặc một phần của chi hoặcnhiều chi Liệt có thể một phần hoặc hoàn toàn làm cho các cử độngyeeusoongowts hoặc mất cử động hoàn toàn Cũng có thể có rối loạn vận độngngôn ngữ như mất tiếng, nói khó
Co giật phân ly hay giả co giật:
Người bệnh có thể bắt chước rất giống các cơn co giật động kinh nhưngkhông cắn vào lưỡi, không đái ra quần, không mất ý thức và cơn co giật có thểkéo dài vài chục phút đến hàng giờ
7 Nguyên nhân:
+ Nguyên nhân chủ yếu:
Căn nguyên chính của bệnh là những sang chấn tâm thần ( căng thẳng tâmlý) đa dạng và phức tạp hoặc hoàn cảnh xung đột Các sang chấn đó thường lànhững vấn đề mà cá nhân, tập thể không thể giải quyết được, không chịu đựngđược, khiến cho mối quan hệ cá nhân, tập thể đối với môi trường sinh hoạt hiên
Trang 15tại bị rối loạn Nếu không được giải thích, giúp đỡ thì các triệu chứng tâm thần
và cơ thể hình thành Như vậy, số người cùng môi trường sống, sinh hoạt bị tácđộng tiêu cực của cùng một sang chấn tâm lý, kết hợp với một cá nhân đã từng
có rối loạn phân ly trước đó thường gây ra phản ứng rối loạn phân ly dâychuyền
+ Yếu tố phụ trợ:
Yếu tố nhân cách: Nhân cách yếu, thiếu tụ chủ, thiếu kiềm chế, thích đượcchiều chuộng, thích phô trương, tinh thần chịu đựng khó khăn kém, thiéu lýtưởng sống lành mạnh
Các yếu tố có hại khác như: Nhiễm khuẩn, nhiễm độc, suy dinh dưỡng,chân thương sọ não Các yếu tố có hại này làm suy yếu hệ thần kinh trên nềngiảm sút hoạt động của vỏ não dễ phát sinh các rối loạn ngay trên những người
có loại thần kinh mạnh, thăng bằng
8 Điều trị và phòng bệnh:
8 1 Điều trị triệu chứng:
Điều trị triệu chứng là điều trị loại bỏ ngay các triệu chứng phân ly bằngliệu pháp giải thích hợp lý kết hợp liệu pháp ám thị Thông thường chỉ cần ámthị lúc thức là đủ: bằng những lời nói mang tính cương quyết và khẳng định củathày thuốc
Trong những trường hợp vần thiết chúng ta có thể dùng ám thị trong giấcngủ thôi miên Đó là trạng thái ức chế không hoàn toàn của vỏ não, bệnh nhânngủ nhưng trong não vẫn còn điểm thức, qua điểm cảnh tỉnh này, họ vẫn tiếp thuđược lời ám thị của thày thuốc
Cần chú ý tới thái độ tiếp xúc với bệnh nhân phân ly: phải hết sức nghiêmtúc, không coi thường cũng không chế giễu bệnh nhân, hắt hủi bệnh nhân Tuynhiên, cũng nên tránh thái độ quá chiều chuộng, quá lo lắng, vô tình ám thị làmcho bệnh nhân tưởng rằng bệnh quá nặng, điều trị sẽ ghặp nhiêu khó khăn
Ngoài ra, nên điều chỉnh hoạt động thần kinh cấp cao và tăng cường cơthể giúp chống đỡ với sang chấn tâm lý bằng các thuốc: Bromuse và Caffeine,
Trang 16thuốc diu giải lo âu ( Seduxen), an thần Aminazine, các sinh tố B1, B6, C , cácyếu tố vi lượng canxi, magie Phối hợp với các liệu pháp tâm lý khác như vuichơi nhóm, lao động, nhận thức - hành vi
8 2 Rèn luyện nhân cách:
Giúp bệnh nhân hiểu được những thiếu sót của mình và khắc phục sửachữa, động viên mặt tích cực trong tinh cách để trẻ phát huy Đưa ra những tìnhhuống để bệnh nhận tập luyện biết cách tự kiềm chế cảm xúc cà hành vi củamình, tập thích nghi, với các sự kiện tác động của cuộc sống và sẵn sàng đối đầuvới những sang chấn khác nhau
Các liệu pháp hướng tới nhân cách cần thiết điều trị lâu dài hàng thángđến hang năm, lúc đầu bệnh nhân có thể điều trị một tuần 1 buổi đến 2 buổi Vềsau bệnh nhân tự luyệ tập ở nhà, thỉnh thoảng đến bệnh viện để tư vấn với nhàtrị liệu
8 3 Phòng bệnh:
Cần phổ biến rộng rãi các kiện thức vệ sinh phòng bệnh tâm thần để mỗigia đình biết giáo dục con cái ngay từ bé, rèn luyện cho chúng có nhân cáchvững mạnh với nhiều tính cách tốt như có lý tưởng, chịu đựng được gian khổ,biết kiềm chế bản thân Trong cuộc sống gia đình và tập thể, cần tăng cườnggiáo dục tính đoàn kết và thân ái Tránh những chấn thương tâm lý trong sinhhoạt, công tác Trong hoàn cảnh gay go, khó khăn, phải tổ chức sinh hoạt tốt,tăng cường giải trí, tăng cường thể chất, giải quyết kịp thời các hiện tượng đau
ốm, mệt mỏi, mất ngủ kéo dài, các bệnh nhiễm khuẩn
9 Khái niệm thanh niên
Khái niệm thanh niên
Quan niệm vể lứa tuổi thanh niên:
+ Quan điểm sinh vật: Coi yếu tố đàu tiên xây dựng tuổi thanh niên là sựtiến hóa của vật thể Các quá trình của sự trưởng thành quy định mọi cái khác
+ Quan điểm xã hội học: Các nhà xã hội học chú ý trước hết tính xã hộihóa và coi mức độ xã hội hóa của cá thể là tiêu chí quyết định mọi cái khác
Trang 17+ Quan điểm phân tâm học: Các nhà phân tâm học quan tâm nhiều đếntính dục, nhân tố chi phối sự phát triển của lứa tuổi này
+ Quan điểm tâm lý học: Các nhà lý luận tâm lý học lại tập tru ng vào cácquy luật tiến hóa của tâm lý, ý thức là cái cơ bản quyết định sự phát triển
Vậy tuổi thanh niên là gì? Tuổi thanh niên là giai đoạn phát triển bắt đầu
từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn
Theo GS BS Nguyễn Khắc Viện: Tuổi thanh niên bắt đầu vào lúc dạy thì
từ 14, 15 tuổi đến 25 tuổi, chia làm 2 thời kì:
-Từ 14, 15 tuổi đến 17, 18 tuổi: giai đoạn đầu tuổi thanh niên ( còn gọi làthanh niên mới lớn)
- Từ 17, 18 tuổi đến 25 tuổi: giai đoạn 2 tuổi thanh niên
9 2 Một số đặc điểm tâm sinh lý của thanh niên:
- Về sinh lý: Là thời kì dần hoàn thiện sự chín muồi về thể chất Đa sốthanh niên bước vào thời kì này đã sau dậy thì những vẫn phải hoàn thành mộtnhiệm vụ khắc phục tình trạng mất cân đối do sự chín muồi về thể chất
- Về tâm lý: Trong sự phát triển của ý thức về lứa tuổi thanh niên là mộtquá trình lâu dài và trải qua các mức độ khác nhau
Sự tự ý thức của họ xuất phát từ yêu cầu cuộc sống và hoạt động với địa
vị mới mẻ trong tập thể Thanh niên thể hiện rõ mình ở phẩm chất nhân cáchnhư: tinh thần trách nhiệm, tình cảm, lòng tự trọng
Trong tuổi thanh niên mới lớn sự hình thành thế giới quan là một nét chủyếu trong sự phát triển tâm lý ở lứa tuổi này Các em cố gắng xây dựng nhữngquan điểm riêng hình thành thế giới quan tích cực cho bản thân trong giao tiếp
và trong đời sống tình cảm cũng là một yếu tố quyết định ảnh hưởng đến sự pháttriển tâm lý ở lứa tuổi này sự mở rộng phạm vi giao tiếp Và sự phức tạp trongcác mối quan hệ cũng như nhu cầu cao trong đời sống tình cảm có nhiều khácbiệt so với lứa tuổi trước đó Như vậy ta có thể thấy đây là lứa tuổi có nhiều biếnđổi quan trọng không chỉ về mặt thể chất mà còn đời sống tâm lý của thanh niên
Trang 18một măt nó là tiền đề vững chắc cho sự phát triển về sau nhưng nó cũng là mộttrong những nguyên nhân dấn đến những khuyến khuyết tâm lý ở lứa tuổi này
Trang 19CHƯƠNG II: PHẦN THỰC TẾ
I NHIỆM VỤ, KẾ HOẠCH CHUNG:
* Sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp quan sát lâm sàng: Vì mục đích của báo cáo thực tạp là
mô tả, phan tích được các biểu hiện lâm sàng trong rối loạn phân ly ở lứa tuổithanh niên nên việc đánh giá phải dựa vào việc quan sát các biểu hiện bên ngoàicủa bệnh nhân Chính vì vậy, phương pháp quan sát là phương pháp quan trọnghàng đầu của đề tài
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tìm kiếm thông tin trong hồ sơ bệnh
án Để xác minh hóa các thông tin thu được, hỏi thêm các bác sĩ trực tiếp phụtrách trường hợp đó
+ Hỏi chuyện lâm sàng: Tiếp xúc trực tiếp với trẻ hoặc với người thân hỏi
về các thông tin cần thiết
* Kế hoạch cụ thể:
+ Nhóm thực tập dưới sự hướng dẫn của cô Nguyễn Thị Hương, bao gồm
7 thành viên
+ Địa điểm: Viện Sức khỏe Tâm thần – Bệnh viện Bạch Mai
+ Thời gian: Từ ngày 01/08/05 đến 09/08/05
Buổi sáng: 8h ->11h
Buổi chiều: 2h->4h30’
II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Điều kiện làm việc:
Như mọi người đã biết, bệnh viện Bạch Mai là một trong những bệnh viện
có số lượng bệnh nhân đến khám và điều trị không phải là ít Tại Vện Sức khỏetâm thần, khoa thần kinh có rất nhiều bệnh nhân với đủ các bệnh và rối loạnkhác nhau Tuy nhiên, khách thể không phải lúc nào cũng phù hợp với đề tài củasinh viên Do vậy mà có một số sinh viên phải chuyển đổi để tài
Theo sự chuẩn bị ban đầu, tôi dự kiến đề tài: “ Những biểu hiện lâm sàng
trong rối loạn phân ly ở trẻ em” Nhưng qua thu thập thông tin và chẩn đoán