1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo dục đạo đức cách mạng cho sinh viên hiện nay ở trường CĐLTTP Đà Nẵng

93 437 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 719,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ hai, ĐĐ là phương thức điều chỉnh hành vi của con người mà những chuẩn mực khuôn phép và quy tắc ấy lại là những yêu cầu của xã hội hoặc của một giai cấp nhất định nhằm điều chỉnh m

Trang 1

A MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, nó chi phối mạnh mẽ mọi mặt của

đời sống con người, trong các quan hệ xã hội ĐĐ (đạo đức) là gốc của mọi sự tốt

đẹp, đặt nền tảng cho mọi công việc như Chủ Tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định:

"Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải

có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [44, tr 252 - 253]

Trong hoàn cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO, điều này đã tạo ra một sức sống mới cho sự phát triển kinh tế của đất nước Nhưng, ngược lại có nguy cơ cắt đứt mối dây liên hệ với các giá trị

truyền thống của dân tộc Văn kiện Đại Hội Đảng lần thứ VIII khẳng định: Đi vào

cơ chế thị trường, mở rộng giao lưu quốc tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tiếp thu những tinh hoa nhân loại song phải luôn coi trong những giá trị truyền thống và bản sắc dân tộc, quyết không tự đánh mất mình trở thành bóng mờ hoặc sao chép người khác… Trong thời gian vừa qua tình trạng suy thoái ĐĐ nói

chung và ĐĐNN (đạo đức nghề nghiệp) nói riêng ở nhiều tầng lớp nhân dân, nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, nhiều nghành nghề Đặc biệt ở thế hệ trẻ nói chung và HS,SV nói riêng đã trở thành một hồi chuông cảnh báo buộc chúng ta những người làm công tác lí luận và công tác giáo dục không thể làm ngơ

Vì vậy, Đảng ta đã mở cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương ĐĐ

Hồ Chí Minh ” Theo Chỉ thị số 06 -TC/TW ngày 17/11/2006 của Bộ Chính Trị Tại

hội nghị tổng kết năm học 2006-2007 do Bộ GD - ĐT tổ chức ngày 22-7-2007 tại

Vũng Tàu từ Cuộc vận động “hai không” năm học 2007-2008 của ngành sẽ được tiếp tục thành cuộc vận động “bốn không”: Nói không với tiêu cực trong thi cử ; nói

không với bệnh thành tích trong giáo dục; nói không với giáo viên không đạt chuẩn

và nói không với học sinh ngồi “nhầm” lớp…với những bước đột phá về nhận thức của Đảng, Bộ giáo dục sẽ giúp cho công tác giáo dục và giáo dục ĐĐ sẽ có những

Trang 2

bước chuyển biến nhất định

Ngày nay, với sự biến đổi của điều kiện kinh tế - xã hội đã tác động không nhỏ tới đời sống ĐĐ nói chung và ĐĐ của HS,SV nói riêng Sự tác động hai mặt của kinh tế thị trường đang làm cho ĐĐ xã hội biến đổi theo hai chiều hướng tích cực và tiêu cực Vì vậy, mỗi HS,SV (Học sinh, sinh viên) Việt Nam trong điều kiện hiện nay, để tiếp nối được truyền thống ĐĐ cao đẹp của cha ông, các lớp đàn anh đi trước, xứng đáng với lòng mong đợi của toàn xã hội; đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, hội nhập, phát triển thì phải không ngừng trau dồi, hoàn thiện bản thân cả đức lẫn tài để đáp ứng được những đòi hỏi và kỳ vọng của xã hội Đây cũng chính là những yêu cầu cơ bản của giáo dục và rèn luyện ĐĐ cho thế hệ trẻ ở nước

ta hiện nay

Trường Cao Đẳng LT – TP Đà Nẵng với Mục tiêu đào tạo cử nhân, công nhân công nghệ thực phẩm, công nghệ sinh học, kế toán viên, cán bộ quản trị kinh doanh, tin học ứng dụng có phẩm chất chính trị, ĐĐNN; có sức khỏe tốt; nắm vững kiến thức cơ bản, cơ sở, có kĩ năng thực hành về công nghiệp thực phẩm;

có khả năng thực hành về nghiệp vụ kế toán; các quá trình kinh doanh và quản trị ở các loại hình doanh nghiệp đủ khả năng giải quyết những vấn đề thông thường về chuyên môn và tổ chức công tác sản xuất thực phẩm ở đơn vị; đồng thời có khả năng học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ nhằm đáp ứng nghề nghiệp trong điều kiện nền kinh tế thị trường; trong điều kiện hội nhập quốc tế HS,SV sau khi tốt nghiệp có thể làm việc ở các cơ sở sản xuất, kinh doanh các mặt hàng thực phẩm thuộc các doanh nghiệp, đơn vị tổ chức; quản lí chất lượng, kiểm nghiệm tại các đơn vị sản xuất… [72, tr 5-6 ]

Song song với mục tiêu đào tạo đó thì công tác giáo dục ĐĐNN cho HS,SV

của trường là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần làm tốt công tác tư tưởng trong trường học và các cơ sở đào tạo Cùng với toàn Đảng, toàn dân, toàn

quân chống lại “Âm mưu diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch và hạn chế

những vi phạm ĐĐNN làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống con người

Như vậy, công tác giáo dục ĐĐNN cho HS,SV gắn liền với cuộc đấu tranh

Trang 3

trên mặt trận tư tưởng và là một nhiệm vụ chính trị của Đảng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc

Cùng với sự nghiệp giáo dục của cả nước nói chung, Trường Cao Đẳng LT

TP Đà Nẵng trong những năm qua đã đào tạo được rất nhiều cán bộ, kĩ sư, công nhân giỏi về chuyên môn và nghiệp vụ đáp ứng được nhu cầu của xã hội Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, trước sự tác động mạnh mẽ của công cuộc đổi mới

và nhất là cơ chế thị trường nó đã làm ảnh hưởng không nhỏ tới những biểu hiện tiêu cực trong tư tưởng và lối sống của HS,SV Đặc biệt, với những ngành nghề

mang tính chất “nhạy cảm” nếu HS,SV không được giáo dục ĐĐNN thì sau khi ra

trường có nhiều điểm đáng lo ngại khi các em bước vào nghề Việc nhìn nhận đánh giá đúng tình hình thực tế đã giúp chúng ta sớm đưa ra những biện pháp khắc phục mặt tiêu cực, phát huy mặt tích cực trong giáo dục ĐĐNN cho HS,SV để sau khi ra

trường các em sẽ trở thành những cán bộ, kĩ sư, công nhân “vừa hồng, vừa chuyên” Trên đây là những lí do thôi thúc tác giả chọn đề tài: “ Ý thức ĐĐ và vấn đề giáo dục ĐĐNN cho HS,SV Trường Cao Đẳng LT - TP Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay ” làm đề tài luận văn cao học của mình

2 Tổng quan nghiên cứu đề tài

Trong lịch sử triết học, vấn đề ĐĐ, ý thức ĐĐ, chuẩn mực ĐĐ, giáo dục ĐĐ

là những đề tài được đưa ra bàn luận rất gay gắt Mỗi trường phái có quan điểm riêng trên lập trường thế giới quan của họ Quan niệm về ĐĐ, ý thức ĐĐ và chuẩn mực ĐĐ, giáo dục ĐĐ của mỗi trường phái tuy khác nhau, chưa được đề cập một cách toàn diện và giải quyết một cách triệt để, nhưng nhìn chung đã có những đóng góp nhất định cho nhân loại

Trong những thập kỷ gần đây có rất nhiều công trình khoa học của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước bàn về vấn đề này Ở nước ngoài, các công trình viết về vấn đề này cũng chiếm một vị trí đáng kể Đó là các tác phẩm:

- “ P.R.Apecian ĐĐ và chức năng xã hội cơ bản của nó ”, Nxb khoa học, Mockva

1988

- “ Xem N.N Crutov, O.N Crutova Con người giữa những con người”, Nxb Kiến

Trang 4

thức, Mockva, 1989

- A.I Côchêtốp, Những vấn đề lí luận đạo đức, Nxb giáo dục, Hà Nội, 1995

- Vladimir Soloviev, Karol Vojtila, Albert Schweitzer, Triết học đạo đức, Nxb Văn

hóa thông tin, Hà Nội, 2004

Ở nước ta do yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước nên đã có nhiều công trình viết về ĐĐ, giáo dục ĐĐ, ĐĐNN …Nhìn chung, họ tiếp cận nghiên cứu theo nhiều hướng khác nhau Trong đó phải kể đến các công trình:

C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I Lênin (1972): “Bàn về đạo đức UB khoa học xã hội Việt Nam ”, Viện triết học, Hà Nội Đồng tác giả (1993), “Các dạng đạo đức xã hội ”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội GS TS Nguyễn Trọng Chuẩn, PGS TS Nguyễn Văn Phúc (2003): “Những vấn đề về đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay ”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội PGS TS Vũ Văn Viên: “Vấn đề giáo dục đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường”; Trần Hậu Kiêm, Đoàn Đức Hiếu (2002), “Hệ thống phạm trù đạo đức học và giáo dục đạo đức cho sinh viên, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Luận án Tiến sĩ triết học của Đỗ tuyết Bảo (2001): “Giáo dục đạo đức cho học sinh các trường phổ thông cơ sơ ở Thành Phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới hiện nay” Lê Ngọc Anh (2002)

“Vấn đề giáo dục đạo đức và nếp sống văn hoá gia đình truyền thống trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay” TS Lê Hữu Ái (chủ biên) (2007):“Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và vấn đề giáo dục thanh niên hiện nay” , Nxb Đà Nẵng

v.v…

Trên các tạp chí Triết học, xã hội học, tạp chí Cộng sản, tạp chí con người, tạp chí giáo dục, tạp chí lí luận và một số tạp chí khác cũng có rất nhiều bài viết về vấn đề này: Đặc biệt, trong tạp chí Giáo dục số 104 (2004) có bài viết của TS, Lê

Thanh Thập: “Giáo dục ý thức đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên” Trong bài viết

này tác giả đã nêu lên một số thực trạng của ý thức ĐĐNN từ đó đề cập đến việc giáo dục ý thức ĐĐNN cho Sinh viên và chỉ ra quá trình hình thành ý thức ĐĐNN Sinh viên; Trong tạp chí Triết học số 125 (2001), có bài viết của TS triết học

Nguyễn Văn Phúc: “Vấn đề xây dựng đạo đức nghề nghiệp trong nền kinh tế thị

Trang 5

trường ở nước ta hiện nay” tác giả chủ yếu đi sâu phân tích tác động của cơ chế thị

trường đến các hoạt động nghề nghiệp từ đó xây dựng ĐĐ kinh doanh; Hay trong

cuốn sách “PR kiến thức cơ bản và đạo đức nghề nghiệp” TS Đinh Thúy Hằng

(chủ biên) (2007), Nxb Lao động Xã hội, Hà Nội Tác giả đi sâu phân tích các đặc điểm của tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước Từ đó nêu lên sự cần thiết

của hoạt động chuyên nghiệp PR, và hơn hết là đặt ra các vấn đề về ĐĐNN PR

Từ những công trình nghiên cứu trên các tác giả đã đề cập tới nhiều khía cạnh của vấn đề ĐĐ, những giải pháp thiết thực nhằm định hướng cho công tác giáo dục ĐĐ đối với thế hệ trẻ nói chung và HS,SV nói riêng Đồng thời, các công trình trên cũng chính là tài liệu hết sức bổ ích khi nghiên cứu những vấn đề này Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ

thống về “Ý thức đạo đức và vấn đề giáo dục đạo đức nghê nghiệp cho HS,SV Trường Cao Đẳng LT - TP Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay” dưới góc độ triết học ở trình độ luận văn thạc sĩ

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích của luận văn:

Thông qua việc nghiên cứu nội dung cơ bản của ý thức ĐĐ trong lịch sử triết học để nhằm định hướng giá trị ĐĐ nghề nghiệp đúng đắn cho HS, SV Trường Cao đẳng LT – TP Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay

3.2 Nhiệm vụ: Để thực hiện mục đích trên, Luận văn đề ra và giải quyết

những nhiệm vụ sau đây:

- Làm rõ những nội dung cơ bản của ĐĐ, ý thức ĐĐ, giáo dục ĐĐ, giáo dục

ĐĐ và ĐĐNN

- Đánh giá những thực trạng từ đó đưa ra phương hướng và giải pháp cụ thể trong việc giáo dục ĐĐNN cho HS,SV Trường Cao đẳng LT -TP Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu về ĐĐ học nói chung, một số nội dung của ĐĐNN nói riêng

Trang 6

- Công tác giáo dục ĐĐNN đối với HS,SV Trường Cao đẳng LT – TP Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn không đề cập đến tất cả các vấn đề về ĐĐ, mà chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu một số nội dung về ĐĐNN và việc giáo dục ĐĐNN đối với HS,SV Trường Cao đẳng LT -TP Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay

5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lí luận

Luận văn dựa trên cơ sở lí luận triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử, quan điểm về ĐĐ học Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm Đảng Cộng Sản Việt Nam về con người, ĐĐ, về tồn tại và phát triển kinh tế xã hội

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp luận của phép biện chứng duy vật và các phương pháp nghiên cứu như: phân tích và tổng hợp, lịch sử và logic, đối chiếu, so sánh, phương pháp tổng hợp và xử lí tài liệu, phương pháp điều tra, phương pháp thống kê

6 Những đóng góp của luận văn

- Trình bày một cách có hệ thống về những nội dung của ĐĐNN và quá trình giáo dục cho HS,SV Trường Cao đẳng LT – TP Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay

- Vạch rõ tính đặc thù của quá trình giáo dục ĐĐNN của HS,SV trên cơ sở đó vạch

ra một số giải pháp cụ thể góp phần nâng cao hiệu quả công tác giáo dục HS,SV Trường Cao đẳng LT - TP Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay

- Làm tài liệu tham khảo cho HS,SV các trường Trung cấp chuyên nghiệp, Cao đẳng, Đại học và những ai quan tâm đến vấn đề này

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm có 2 chương, 6 tiết (ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục,

Mục lục và Tài liệu tham khảo)

Trang 7

B NỘI DUNG

CHƯƠNG 1:

QUAN NIỆM VỀ Ý THỨC ĐẠO ĐỨC TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC

Để xây dựng, rèn luyện ý thức ĐĐNN của HS,SV đòi hỏi chúng ta trước hết phải hiểu thế nào là ĐĐ, ý thức ĐĐ, chuẩn mực ĐĐ và giáo dục nghề nghiệp, ĐĐNN? Trên cơ sở đó chúng ta mới có thể đi sâu tìm hiểu thực trạng, phương hướng và đề ra những giải pháp thực tiễn để xây dựng và rèn luyện ĐĐNN cho HS,SV trong giai đoạn hiện nay

1.1 Khái niệm đạo đức và ý thức đạo đức

1.1.1 Khái niệm đạo đức

Với tư cách là một bộ phận của tri thức triết học, những tư tưởng ĐĐ học đã xuất hiện hơn 26 thế kỷ trước đây trong các trường phái triết học Trung Quốc, Ấn

Độ, Hy Lạp cổ đại Danh từ ĐĐ bắt nguồn từ tiếng La tinh là mos (moris) có nghĩa

là lề thói, và moralis nghĩa là có liên quan đến lề thói, đạo nghĩa Còn “luân lí” thường xem như đồng nghĩa với “ĐĐ” thì gốc ở chữ Hy Lạp là Êthicos nghĩa là lề

thói, tập tục Hai danh từ đó chứng tỏ rằng, khi ta nói đến ĐĐ, tức là nói đến những

lề thói, tập tục và biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người và người trong sự giao tiếp với nhau hàng ngày Sau này người ta thường phân biệt hai khái niệm moral là ĐĐ, còn Ethicos là ĐĐ học

Trong quá trình hình thành và phát triển của ĐĐ thì các nhà nghiên cứu đã đưa

ra rất nhiều định nghĩa về ĐĐ, dưới đây là một trong hai định nghĩa được nhiều nhà nghiên cứu chấp nhận đó là:

Theo Tầm nguyên từ điển viết: Đạo là nhiều tài nghệ, đức là tu hạnh tột cùng, hiểu theo nghĩa hẹp người có đạo đức là người có tài nghệ và nết hạnh tốt Còn trong từ điển triết học giản yếu lại định nghĩa: đạo đức hay luân lí là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xã hội bao gồm những nguyên lý (đạo lí), quy tắc chuẩn mực, điều tiết hành vi của con người trong quan hệ với người khác và

Trang 8

cộng đồng

Trong từ điển triết học định nghĩa: “ ĐĐ là một trong những hình thái ý thức

xã hội, một chế định xã hội thực hiện chức năng điều chỉnh hành vi của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội ” [75, tr 301]

Từ những định nghĩa trên thì tựu trung lại ĐĐ được hiểu theo hai nghĩa như sau:

Hiểu theo nghĩa hẹp: ĐĐ là luân lí, những quy định, những chuẩn mực ứng

xử trong quan hệ của con người với con người Nhưng trong điều kiện hiện nay, chính quan hệ của con người cũng đã mở rộng và ĐĐ bao gồm những quy định, những chuẩn mực, ứng xử của con người, với công việc và với bản thân, kể cả với thiên nhiên và môi trường sống Như việc phá hoại môi trường đang dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng đe doạ sự tồn vong của nhân loại thì nội dung của ĐĐ không chỉ là lòng yêu tổ quốc, yêu đồng bào, yêu con người, lòng nhân ái nói chung mà nội dung của ĐĐ còn bao gồm những vấn đề như: giữ gìn và phát huy những truyền

thống tốt đẹp của dân tộc đó là lòng yêu nước, nhân ái, tự lực, tự cường, cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư, hiếu học, thuỷ chung, tình nghĩa, tôn trọng người già…;

bảo vệ môi trường sinh thái; vấn đề dân số và kế hoạch hoá gia đình; chống bạo lực

và tệ nạn xã hội; đấu tranh cho một thế giới hoà bình, ổn định và bình đẳng, dân chủ

và phát triển bền vững

Theo nghĩa rộng: định nghĩa ĐĐ liên quan chặt chẽ đến phạm trù chính trị,

pháp luật, lối sống thì ĐĐ là thành phần cơ bản của nhân cách nó phản ánh bộ mặt của nhân cách, của một cá nhân đã được xã hội hoá ĐĐ được biểu hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh, trong sáng ở hành động góp phần giải quyết hợp lý, có hiệu quả những mâu thuẫn Khi thừa nhận ĐĐ là một hình thái ý thức xã hội thì ĐĐ của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi tầng lớp, giai cấp trong xã hội cũng phản ánh ý thức chính trị của họ đối với các vấn đề đang tồn tại

Còn trong thời đại ngày nay thì ĐĐ được xem xét ở ba phương diện chủ yếu sau:

Thứ nhất, ĐĐ với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, bao gồm toàn bộ

những quan điểm, nguyên tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh đánh giá cách ứng xử trong quan hệ con người với con người, con người với xã hội nhằm bảo đảm quan

Trang 9

hệ lợi ích của cá nhân và cộng đồng

Thứ hai, ĐĐ là phương thức điều chỉnh hành vi của con người mà những

chuẩn mực (khuôn phép) và quy tắc ấy lại là những yêu cầu của xã hội hoặc của một giai cấp nhất định nhằm điều chỉnh mỗi hành vi của cá nhân trong quan hệ với nhau và với xã hội Những chuẩn mực và quy tắc, hành vi nhất định được công luận

xã hội, hay của một giai cấp, dân tộc thừa nhận, hướng dẫn các cá nhân hoạt động trong khuôn khổ được phép và tránh những hành vi không được phép

Thứ ba, ĐĐ là một hệ thống giá trị: đó là các giá trị vật chất tinh thần, giá trị

sản xuất và tiêu dùng, các giá trị chính trị - xã hội, nhận thức, ĐĐ, thẫm mỹ, tôn giáo

1.1.2 Chuẩn mực đạob đức

Từ những nghiên cứu trên cho thấy ĐĐ còn liên quan chặt chẽ đến các giá trị chuẩn mực của cá nhân, làm cơ sở cho các hành vi và những lựa chọn ĐĐ của một

cá nhân trong tình huống cụ thể Theo Học viện vì sự tiến bộ của ĐĐ Josenphson

cho rằng: “Những giá trị ĐĐ được đánh giá là cần thiết đối với cuộc sống là tính trung thực, tính chính trực, sự giữ lời hứa, lòng trung thành, tính thẳng thắn, sự quan tâm đến người khác, tôn trọng đến người khác, một công dân có trách nhiệm, mưu cầu sự xuất sắc và có trách nhiệm giải trình” (Học viện Josephson 2003)

ĐĐ với tư cách là một hình thái ý thức xã hội là tổng số các nguyên tắc, các quy tắc định hướng hành vi con người trong giao tiếp xã hội Những nguyên tắc và quy tắc ấy là sự biểu hiện những quan hệ hiện thực xác định của con người với nhau, những cộng đồng người khác nhau như (gia đình, giai cấp và dân tộc…)

Về bản chất, ĐĐ thực chất là những hành vi của con người trong đời sống hiện thực được nhận thức, những đánh giá qua lăng kính đó không giống nhau qua các thời đại, các trình độ kinh tế - xã hội và bản sắc văn hoá khác nhau… Như vậy,

ĐĐ là chuẩn mực trong ứng xử xã hội Nó được nhận thức từ rất sớm, trãi qua các thời kỳ khác nhau trong lịch sử, với những bước ngoặt của sự thay thế các hình thái

ý thức xã hội và được luận giải theo những chuẩn mực khác nhau, theo cách nhìn của từng nhóm, từng cộng đồng người trong xã hội (giai cấp, dân tộc, tôn giáo…)

Trang 10

Đương nhiên trong xã hội có giai cấp, chuẩn mực ĐĐ phù hợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền bao giờ nó cũng chi phối mạnh mẽ đời sống xã hội và được pháp luật bảo vệ

ĐĐ là một phạm trù của nhận thức và ứng xử (dưới hình thức của các hoạt động hay hành vi) có tính xã hội Thói quen hay tập tính của một người luôn được xem xét, được xét đoán bằng suy nghĩ, đánh giá của số đông, của cộng đồng Vì vậy, khi nghiên cứu ĐĐ không nên dừng ở cách giải thích là thói quen hay tập tính thuần tuý mà là thói quen, tập tính của một cá nhân thông qua cách đánh giá của cộng đồng ( là đúng hay là sai, là nên làm hay không nên làm, có được sự đồng tình, được nhiều người làm theo hay bị phê phán, phản đối,…) Bên cạnh đó ĐĐ còn là

hệ thống giá trị mà chuẩn mực ĐĐ có khả năng điều khiển hành vi mang tính động

cơ, có khi mang tính “mệnh lệnh” đối với bản thân con người ( như khi ta gặp tình

huống của sự thôi thúc lương tâm) Với đặc trưng đó, ĐĐ được nhận thức như là sự định hướng trong hệ thống các quan hệ xã hội

Với tư cách là một hiện tượng tinh thần của xã hội, các chuẩn mực ĐĐ là một thành tố của nền văn minh, ở đó có chứa đựng những vấn đề về lý tưởng xã hội,

về các giá trị tinh thần khác, về tự do ý chí, về tôn trọng quyền và phẩm giá con người, về công bằng và bình đảng, về chống tội ác và bạo lực… Thì ĐĐ được hình thành trong các quan hệ xã hội và suy cho cùng là do hoạt động xã hội mà trong đó

lao động xã hội của con người giữ vai trò là nền tảng Vì vậy, ĐĐ là một “tiểu” hệ

thống hợp thành hệ thống giá trị nói chung, mọi cá nhân trong xã hội đều nằm trong mối quan hệ đa chiều với các cá nhân khác và với cả cộng đồng Hành vi của họ bị chi phối bởi các yếu tố bên ngoài và được thúc đẩy bởi yếu tố nội tâm là lương tâm,

là trách nhiệm, dục vọng của cá nhân và cùng với đó là cộng đồng xã hội thông qua các chuẩn mực xã hội, tập quán ĐĐ, các quy phạm pháp luật và niềm tin Những chuẩn mực ấy gắn với các chủ thể khác nhau cùng tồn tại trong xã hội

Trong quá trình phát triển của lịch sử loài người, của đời sống con người, chuẩn mực ĐĐ như một hệ thống phát triển biện chứng, biến đổi cùng với sự phát triển của các mối quan hệ xã hội Theo thời gian có những chuẩn mực nó mất ý

Trang 11

nghĩa, biến dạng, nhưng cũng có những chuẩn mực tiếp tục phát triển, đổi mới và

nó được coi là bộ luật của xã hội, chi phối và quyết định hành vi ĐĐ của con người Các chuẩn mực ĐĐ giúp con người hiểu được rằng, trong cuộc sống có những việc

có thể làm được, có những việc không nên làm giúp con người nên hành động như thế nào, điều đó con người lại phải tự kiềm chế…Nghĩa là nó làm cho con người khi hành động phải tuân theo những yêu cầu, những ràng buộc hoặc những điều ngăn cấm của xã hội Tuy nhiên việc tuân theo những chuẩn mực ĐĐ khác với việc tuân thủ pháp luật Trong ĐĐ việc hành động theo các chuẩn mực là do sự tự nguyện,

hay nói cách khác, “ Các chuẩn mực đạo đức phản ánh tính tất yếu đạo đức mà không có các sắc luật đặc biệt để hợp pháp hoá sự hoạt động của nó” [40, tr.46]

Ngược lại, pháp luật được ấn định dưới dạng các sắc luật do nhà nước ban hành Mặt khác, chủ thể của sự sáng tạo các chuẩn mực trong luật pháp bao giờ cũng được xác định dưới dạng người sáng tạo ra luật pháp; còn chủ thể của việc sáng tạo ra các chuẩn mực ĐĐ là toàn thể xã hội Và nếu như trong ĐĐ, tự ý thức của con người hoặc dư luận xã hội bảo đảm cho việc tuân thủ các chuẩn mực thì trong luật pháp, ngoài điều đó ra, việc tuân thủ các chuẩn mực được bảo đảm bởi một hệ thống

cưỡng chế của nhà nước

Như vậy, chuẩn mực ĐĐ còn gọi là ( giá trị ĐĐ) là những phẩm chất ĐĐ có

tính chất chuẩn mực, được nhiều người thừa nhận, được dư luận xác định như một đòi hỏi khách quan, là thước đo giá trị cần có ở mỗi người Những chuẩn mực ĐĐ

ấy được coi như là mục tiêu giáo dục, rèn luyện ở mỗi người, ở nhiều bậc học, cấp học, lứa tuổi, ngành nghề Đồng thời, chuẩn mực ĐĐ đó lại có giá trị định hướng, chi phối, chế ước quá trình nhận thức, điều chỉnh thái độ, hành vi của mỗi người Trên cơ sở những chuẩn mực ĐĐ cần thiết, phải có cơ sở xác định hệ thống giá trị ĐĐ của mỗi nhóm người, cộng đồng, dân tộc, mỗi nước, trong thời kỳ lịch sử

có những nội dung và định hướng khác nhau Việc xác định những giá trị ĐĐ không phải là ý muốn chủ quan của mỗi cá nhân Những giá trị ĐĐ của một thời kỳ lịch sử phải xuất phát từ những yêu cầu khách quan của sự phát triển xã hội và phải góp phần phát triển nhân cách, phát triển con người, góp phần vào việc thiết lập quan hệ

Trang 12

con người với con người, con người với tự nhiên, với môi trường sống nhằm làm cho xã hội phát triển Xuất phát từ những yêu cầu đó thì hệ thống những chuẩn mực

ĐĐ của con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay phải xuất phát từ những nguyên tắc sau:

Thứ nhất: Kế thừa và phát triển những truyền thống ĐĐ tốt đẹp của dân tộc

vì ĐĐ truyền thống là sức mạnh nội sinh của mỗi người Song điều quan trọng là phải biết kế thừa những truyền thống tốt đẹp và phải thổi vào đó những nội dung mới, phù hợp với thời đại thì truyền thống mới có ý nghĩa sức mạnh tinh thần

Thứ hai: Trong thời đại hội nhập, để cùng phát triển và tồn tại không thể

không tiếp thu những giá trị ĐĐ nhân văn chung của nhân loại mà chúng ta cần phải tiếp thu những chuẩn mực ĐĐ nhân văn và kinh nghiệm của thời đại một cách có chọn lọc Trong khi thực hiện đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện chính sách mở cửa, phát triển kinh tế thị trường có sự quản lý và điều tiết của Nhà nước Điều đó liên quan đến những giá trị kinh tế, văn hoá của thời đại Vì vậy, tiếp thu những giá trị ĐĐ chung của thời đại là điều kiện để con người Việt Nam có khả năng hội nhập một cách năng động, sáng tạo trong sự phát triển chung của xã hội

Thứ ba: Coi trọng và kết hợp chuẩn mực ĐĐ với tri thức pháp luật, giáo dục

ĐĐ với giáo dục pháp luật là việc làm cần thiết Vì chúng ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền nên việc trang bị kiến thức pháp luật, hình thành thái độ, hành vi

tự giác tuân thủ pháp luật là đòi hỏi bức xúc đối với mỗi công dân hiện nay Thực hiện quá trình CNH, HĐH phải giáo dục tinh thần công dân Song cần nhận thức

đầy đủ mối quan hệ giữa ĐĐ và pháp luật, phải thấy được “đạo đức là cái gốc”,

nhất là những giá trị nhân bản, có tác dụng điều chỉnh hành vi pháp luật của mỗi cá nhân Hành vi ĐĐ được điều chỉnh bằng lương tâm và dư luận xã hội, bằng truyền thống Còn hành vi pháp luật được điều tiết bằng cơ chế quản lý và giám sát của cơ

quan chức năng

1.1.3 Ý thức đạo đức

Khi nghiên cứu ĐĐ chúng ta đều biết rằng, mỗi hành động ĐĐ đều xuất phát

từ những cơ sở nhất định của một ý thức ĐĐ Trên cơ sở của ý thức ĐĐ, chủ thể

Trang 13

hành động đưa ra những nhận định và phán quyết của mình cho một sự kiện cần phải có sự đánh giá về mặt ĐĐ Do vậy, việc hiểu những cơ sở ý thức đó là gì và bản chất của nó như thế nào? Đó là điều có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng xây dựng, đồng thời giúp chúng ta có được những lí giải về rất nhiều vấn đề

ĐĐ phức tạp trong thực tiễn, nhất là trong bối cảnh phức tạp của một giai đoạn đang

có sự chuyển đổi những giá trị ĐĐ ở nước ta khi bước vào cơ chế thị trường, toàn cầu hoá kinh tế tri thức và hội nhập thế giới

Trong lịch sử tư tưởng ĐĐ đã có nhiều quan điểm khác nhau về cơ sở ý thức của ĐĐ Trong số những quan điểm khác nhau đó, nổi lên hai khuynh hướng đối lập nhau giữa một bên đề cao tình cảm, xúc cảm và một bên là lý trí trong ý thức ĐĐ Theo quan điểm thứ nhất, G Rutxô cho rằng khởi nguyên của ý thức là tình thương

Đối với ông, tình thương là loại tình cảm nguyên thuỷ của “ con người tự nhiên ”,

và chính sự mở rộng tình thương nguyên thuỷ này sẽ tạo nên cơ sở ĐĐ của xã hội Coi tình thương là hiện tượng thứ nhất của ĐĐ, là đầu nguồn của những nghĩa vụ pháp lý nghiêm ngặt và nghĩa vụ ĐĐ, là ngọn nguồn của chính nghĩa lẫn lòng nhân, ông đã cho rằng nhờ có tình cảm nguyên thuỷ này mà con người mở rộng lòng độ lượng, khoan dung, nhân ái với những kẻ yếu, những người phạm tội và cả loài người nói chung

ĐĐ là sự thống nhất biện chứng giữa ý thức về hệ thống những nguyên tắc, chuẩn mực, hành vi phù hợp với những quan hệ ĐĐ, nó đều có những ranh giới của hành vi và những quan hệ ĐĐ đang tồn tại Mặt khác, nó còn bao trùm cả những cảm xúc, những tình cảm ĐĐ con người Trong quan hệ giữa người và người về mặt

ĐĐ đều có những ranh giới của hành vi và giá trị ĐĐ Đó là ranh giới giữa cái thiện

và cái ác, giữa chủ nghĩa cá nhân ích kỷ và tinh thần tập thể Về mặt giá trị của hành

vi ĐĐ cũng có ranh giới: lao động là hành vi thiện, ăn bám bóc lột là vô nhân đạo Ngay cả trong một hành vi thiện mức độ giá trị của nó không phải lúc nào cũng ngang nhau, mà có những thang bậc nhất định (cao cả, tốt, được) Ý thức ĐĐ là sự thể hiện thái độ nhận thức của con người trước hành vi của mình trong sự đối chiếu với hệ thống chuẩn mực hành vi và những qui tắc ĐĐ xã hội đặt ra, nó giúp con

Trang 14

người tự giác điều chỉnh hành vi và hoàn thành một cách tự giác, tự nguyện những nghĩa vụ ĐĐ Trong ý thức ĐĐ còn bao hàm cảm xúc, tình cảm ĐĐ của con người

Ý thức ĐĐ (về mặt cấu trúc) gồm tri thức ĐĐ, thực tiễn ĐĐ ( là hoạt động của con người do ảnh hưởng của niềm tin, ý thức ĐĐ là quá trình hiện thực hoá ý thức ĐĐ trong cuộc sống) thực tiễn ĐĐ và quan hệ ĐĐ là một yếu tố tạo nên cấu trúc ĐĐ Mỗi yếu tố không tồn tại độc lập, mà liên hệ tác động nhau, tạo nên sự vận động, phát triển và chuyển hóa bên trong của hệ thống ĐĐ

“Tri thức chỉ có thể trở thành một bộ phận của văn hoá nếu như nó định thường và được định hướng cho các ứng xử của con người và cộng đồng người Vai trò định hướng ấy thuộc về đạo đức, mà cái gốc của nó là cái thiện, một trong ba giá trị phổ quát nhất trong đời sống tinh thần của nhân loại: chân, thiện, mỹ ” [86,

tr 2] Thiện là ĐĐ, hay nói đúng hơn, bản chất ĐĐ là cái thiện Chỉ nói cái thiện

không thôi thì con người nhận thức vẫn còn nông cạn, nó phải được phát triển thành thông điệp, hay thậm chí thành một quy chế, để cho con người nhận thức ra nó dưới dạng thức cụ thể và có tính thực hành Không có cái thiện thì không thể có ĐĐ và không có cái thiện thì người ta gọi là ĐĐ giả

Con người chỉ có thể là con người xã hội, trong đó các cá nhân, ở những mức

độ khác nhau, đều được xã hội hoá Họ sống, làm việc, hành động theo những qui tắc ứng xử đã hình thành trong xã hội Như thế, chúng ta có thể nói rằng, mỗi cá nhân đã tiếp nhận một hệ thống các qui tắc và các thước đo văn hoá của xã hội và thể hiện chúng trong những lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Những thước

đo này về bản chất là những tiêu chuẩn lý tưởng mang tính chất qui ước mà mỗi cá nhân cần phải tuân theo ĐĐ có cấu trúc của nó và các thành tố của ĐĐ là: ý thức

ĐĐ, hành vi ĐĐ và quan hệ ĐĐ

Như vậy, ý thức phản ánh lĩnh vực nào của xã hội? Với tư cách là một hình

thái ý thức, ĐĐ không là kết quả riêng biệt của bất kỳ một tác động nào, mà tính phức tạp và thống nhất của hiện tượng cũng như biện chứng của sự phát triển của

nó luôn đặt ra và gắn liền với chính các tác động đa tầng và đa hướng đó Nhưng vấn đề đặt ra là: vậy phải chăng trong sự hình thành và phát triển của ĐĐ, các yếu

Trang 15

tố đã tác động vào xã hội khác nhau đều mang vai trò và ý nghĩa như nhau? Về thực chất chúng bao gồm những yếu tố nào? Về vấn đề này theo sự nhận định của các tác

giả Xô viết trong công trình “đạo đức học macxit ” là tương đối hợp lý đó là: Sự

hình thành và phát triển của ĐĐ ở đây được xác định gắn liền với các yếu tố là hướng vận động của các lợi ích hiện có trong xã hội; là hệ thống các giá trị ĐĐ đang tác động; là sự thay đổi các tình huống của sự lựa chọn ĐĐ (chẳng hạn sự thay đổi các chuẩn mực trong cách mạng khoa học kỹ thuật); là sự tác động của các phương tiện điều chỉnh xã hội khác (quy định của pháp luật, các thiết chế hành chính ); là điều kiện giao tiếp, dư luận xã hội, kinh nghiệm ĐĐ cá nhân; là trạng thái tâm lý xã hội; là sự tác động của các yếu tố trong lĩnh vực văn hóa tinh thần: khoa học, nghệ thuật, tôn giáo… Và xét đến cùng đó là sự tự quy định của các điều kiện kinh tế, xã hội Trong hệ thống các yếu tố kể trên thì sự tác động của các lợi ích được coi là một trong những yếu tố có vai trò trực tiếp và gần gũi nhất trong việc tạo ra các định hướng ĐĐ ở con người

Tóm lại: Ý thức ĐĐ như ở trên chúng ta đã xem xét, con người không thể

sống bên ngoài các mối quan hệ xã hội Cốt lõi của những mối quan hệ đó là tương quan của những quyền lợi cá nhân và những quyền lợi cộng đồng Để tồn tại, con người phải dựa vào nhau trên cơ sở những lợi ích cá nhân phải phù hợp với những lợi ích của cộng đồng Những nguyên tắc bảo đảm cho sự phù hợp của những quyền lợi ấy khi đã trở thành tình cảm, quan điểm, quan niệm sống chính là ý thức ĐĐ

1.2 Quan điểm về đạo đức trong lịch sử triết học

Trong lịch sử triết học, vấn đề ĐĐ và giáo dục ĐĐ luôn được các nhà triết học quan tâm sâu sắc kể cả triết học Phương Đông và triết học Phương Tây Nhưng mỗi quan điểm triết học về ĐĐ dù ở phương Đông hay Phương Tây mặc dù có khác nhau nhưng tựu trung lại đó là sự hướng con người đến với cái thiện, cái nhân văn cao cả Tất cả đều hướng tới một xã hội tốt đẹp cho con người

1.2.1 Quan điểm triết học Phương đông về đạo đức

Ở Phương Đông, các học thuyết về ĐĐ của người Trung Quốc cổ đại bắt

nguồn từ cách hiểu về “Đạo” và “Đức” của họ “Đạo” là một trong những phạm

Trang 16

trù quan trọng nhất của triết học Trung Quốc cổ đại, “Đạo” có nghĩa là con đường, đường đi Theo Thuyết văn giải tự, về sau có thêm nghĩa là con đường có chí hướng

nhất định, hướng dẫn hành vi con người theo một phương hướng nào đó

Như vây, “Đạo” còn có nghĩa là con đường sống của con người trong xã hội, “Đức” trong nghĩa thông dụng của người Trung Quốc cổ đại chỉ đức hạnh tốt, phần tốt đẹp, thẳng thắn của con người “Đức” thường được hiểu là biểu hiện của

“Đạo” và khi nói “đạo đức” liền nhau thường để chỉ những yêu cầu, những nguyên

tắc Khái niệm ĐĐ được vận dụng trong triết học để chỉ con đường của tự nhiên Khái niệm ĐĐ đầu tiên xuất hiện trong kinh văn đời nhà Chu và từ đó trở đi

nó được người Trung Quốc cổ đại sử dụng nhiều Đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính và nhìn chung đức là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân lý Như vậy, có thể nói ĐĐ của người Trung Quốc cổ đại chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà mỗi người phải tuân theo

Theo Lão tử , “Đạo” là bản nguyên, là con đường sinh thành, biến hoá của vạn vật, cũng còn có nghĩa là đạo lý Mở rộng phạm trù “đạo trong quan hệ chính trị - xã hội”, Lão Tử đã đề ra thuyết “vô vi”, có nghĩa là “con người cần phải hành động theo lẽ tự nhiên, thuần phác, không hành động có tính chất giả tạo, gò ép trái

với bản tính tự nhiên của mình” [78, tr.52] Để làm được điều đó con người phải

sống từ ái, khoan dung, khiêm nhường, không phô trương, thái quá, phải thâu suốt mọi lẽ của tự nhiên

Trong triết học Trung Quốc cổ đại, phạm trù “đạo” luôn được xem xét trong mối quan hệ với phạm trù “Đức”, đức là biểu hiện của đạo, đức đó chính là “biểu hiện khát vọng được trời ban cho điều tốt lành” hay “điều tốt lành mà các thế hệ trước để lại cho con cháu” Theo Khổng Tử làm người thì phải “khắc kỷ tu thân”,

có nghĩa là để đạt được đức con người phải tu dưỡng, phải hoàn thiện về mặt ĐĐ, làm những việc chính đáng mà không gượng ép, đây cũng chính là hạnh kiểm của nhân cách con người

Trong hệ thống triết học Trung Quốc nói chung, đều lấy ĐĐ – luân lý làm nội dung chủ yếu cho các luận thuyết, xem nó là yếu tố chi phối toàn bộ đời sống

Trang 17

tinh thần của xã hội, thậm chí luân lý còn nằm trong cả vạn vật Vì vậy, những

nguyên tắc ĐĐ được xem như là “khuôn vàng, thước ngọc” [74, tr 66] để đánh giá con người và vạn vật Trong cuộc sống con người phải “tồn kỳ tâm, dưỡng kỳ tính”,

có nghĩa là phải rèn luyện ĐĐ, nhân cách Khi có được phẩm chất ĐĐ cao đẹp thì lúc đó con người không chỉ biết mình mà còn biết được cả thiên hạ, sẵn sàng chấp nhận gian khổ, hy sinh để đạt được luân lý - ĐĐ và khi đó sẽ được xã hội đánh giá cao Mặc dù, ở một khía cạnh nào đó quan niệm trên có ý nghĩa tích cực trong việc điều chỉnh hoạt động ĐĐ của con người, xây dựng mẫu hình nhân cách lý tưởng cho thời đại, nhưng xét về góc độ triết học các quan niệm về ĐĐ, đạo lý của triết học Trung Quốc cổ đại với hạn chế là: đều mang tính chất duy tâm và quá đề cao

ĐĐ - luân lý, coi đây là phương thức chủ yếu để xây dựng xã hội Nhưng, trong xã hội đương thời hay ngay cả thời đại hiện nay thật khó khi chỉ dùng ĐĐ, luân lí để điều chỉnh, xây dựng trật tự xã hội mà không cần đến những quy định của pháp luật Trong triết học Kitôgiáo, dựa vào Kinh thánh đã khẳng định ĐĐ có nguồn gốc từ thượng đế Trong vũ trụ bao la này, con người là thực thể duy nhất có khả năng điều chỉnh hành vi của mình thông qua sự cảm nhận về ý nghĩa của hành vi

Đó không phải là kết quả hợp thành từ thực tiễn sinh tồn của con người mà là sự mặc định sẵn bởi Thiên chúa Con người là hình ảnh của chúa nhưng là một hình ảnh không hoàn chỉnh, vì con người đã tự đánh mất cái chân, thiện, mỹ vĩnh cửu, những tặng vật của Thiên chúa chỉ có ban cho con người và trong quá trình sáng tạo

ra muôn loài, do không vâng lời Chúa nên đã phạm “tội tổ tông” Chính vì thế, ĐĐ

ở trần gian và ĐĐ của loài người tuy cùng cái tâm nhưng có khác biệt với ĐĐ của Đức chúa Theo quan niệm của Kitôgiáo, cuộc sống của con người trên hành tinh này chỉ là cái bắt đầu cho sự quy hồi vĩnh cửu Bởi vậy, con người phải toàn tâm, một lòng hướng về Thiên chúa Một trong những nhân tố hợp thành lực đẩy cho sự quy hồ đó là con người phải biết gột sạch mình khỏi những cám dỗ của bụi trần, để

ĐĐ bén rễ về Nước chúa và trở thành đức tin Quan điểm về ĐĐ của Kitôgiáo mang đậm màu sắc duy tâm, họ không nhận ra được ĐĐ phải tự rèn luyện, tự tu dưỡng mới có chứ không phải do yếu tố thần linh nào sáng tạo ra cả Một quan điểm duy

Trang 18

tâm ngớ ngẩn và xa rời hiện thực của Kitôgiáo đó là: khi con người mất đi thì lúc đó mới có ĐĐ

Nếu như Kitôgiáo sống là cứu chuộc tội tổ tông thì với vai trò, chức năng và những giá trị nhân văn sâu sắc của mình, Phật giáo trở thành chỗ dựa trong đời sống văn hóa, tinh thần của một bộ phận quần chúng Các chuẩn mực của ĐĐ Phật giáo

có tác dụng điều chỉnh hành vi, nhân cách con người, ảnh hưởng tích cực đến quần chúng Phật giáo lấy con người là trung tâm, thấy được nỗi khổ của chúng sinh và mong muốn chúng sinh thoát khỏi vòng trầm luân biển khổ Bằng chủ trương cứu nhân độ thế, từ bi, hỷ xả, vô ngã, vị tha, đạo Phật hướng con người tu tập nhân tâm, vượt qua mọi cám dỗ để hoàn thiện dần nhân cách Những chuẩn mực trong giá trị

ĐĐ của Phật giáo mang tính triết lý nhân văn sâu sắc ngoài việc hoàn chỉnh ĐĐ, nó còn ăn sâu vào suy nghĩ, hành vi, lối sống của mỗi người dân, góp phần vào việc giữ gìn và nâng cao ĐĐ truyền thống

Phật giáo khẳng định: “Nghiệp” là cái đeo đẳng và là chuẩn mực để định

đoạt các kiếp của sinh linh người Sống là trả nợ và tháo nghiệp, chúng sinh được hợp thành từ ngũ uẩn và biến đổi trong từng Shatna, nên cái thống ngự ở thế giới

này là vô thường Đời mỗi nguời chỉ là:“Thân như điện ảnh hữu hoàn vô - có nghĩa

là người như một ánh chớp có đó, không đó” Với quan niệm nền tảng đó Phật giáo

nguyên thuỷ đã tuyên truyền tư tưởng ĐĐ hướng nội song hành với chủ trương xuất thế Mặc dù, chứa đựng những luận điểm hợp lý trong quan niệm về ĐĐ như khuyến khích con người làm điều thiện, xa lánh điều ác, điều chỉnh hành vi của cá nhân bằng những giới luật của tôn giáo Nhưng, Phật giáo cũng như Kitôgiáo không thể cắt nghĩa một cách đúng đắn về nguồn gốc và bản chất của hình thái ý thức ĐĐ khi dùng lăng kính của tôn giáo để thay thế cho thế giới quan khoa học, và vẫn xa rời thực tiễn của cuộc sống con người

1.2.2 Quan điểm triết học Phương Tây về đạo đức

Ngay từ thời cổ đại, các nhà triết học Phương Tây kể cả trường phái duy vật và duy tâm, đều bàn về ĐĐ, khác với ở Phương Đông họ coi ĐĐ là nội dung chủ yếu trong các học thuyết chính trị - xã hội, và là khuôn mẫu để cả xã hội tuân theo thì ở

Trang 19

Phương Tây, ĐĐ được bàn đến như là một bộ phận của hệ thống triết học, có mối quan hệ mật thiết với triết học

Khi bàn về ĐĐ, Democrit (460-370 TCN) nhà triết học cổ đại Hy lạp đã cho rằng: ĐĐ đã trở thành nhân tố quyết định đời sống của con người, chính vì thế mà khi đứng trên lập trường duy vật thì ông lại tìm thấy đúng đối tượng nghiên cứu của ĐĐ

học là cuộc sống của con người, ông viết: “Cuộc sống, hành vi, số phận của mỗi con người cụ thể là đối tượng nghiên cứu của ĐĐ học và để nhận biết một người trung thực và nhận biết một người không trung thực, không những căn cứ vào việc làm của

họ mà còn phải căn cứ vào ý muốn của họ” [ 36, tr.65]

Với luận điểm nổi tiếng “con người hãy nhận thức chính mình”, Socrate đã bàn

nhiều vấn đề liên quan đến con người trong đó có ĐĐ Ông cho rằng, ĐĐ không phải

tự nó có mà phải do mỗi con người tự ý thức, mà muốn có điều này thì phải có tri thức Vì vậy, tri thức là cái cốt lõi của ĐĐ, tri thức chính là cái thiện Còn Aristote thì cho rằng, ĐĐ là cái vốn có của con người, sống trong xã hội con người phải tuân theo

những quy tắc, để hướng tới cái cao cả, cái thiện: “Chúng ta không bất tử, song chúng ta không nên phục tùng những điều xấu xa mà hãy vươn tới sự bất tử sống phù

hợp với những gì tốt nhất ở nơi ta, ta đang có” [36, tr 68] Theo Aristote, phẩm

hạnh là cái quan trọng nhất của ĐĐ, phẩm hạnh có được một mặt là do kết quả của

giáo dục khi con người có tri thức, mặt khác, kinh nghiệm còn là “con đẻ” của thói

quen, tập quán Như vậy, Aristote đã nhìn thấy ảnh hưởng của hoàn cảnh đối với sự hình thành ĐĐ, nhân cách của con người, và nhân cách đó không chỉ thuần tuý phụ thuộc vào sự tác động của hoàn cảnh mà còn phụ thuộc vào khả năng con người tiếp nhận nó như thế nào Tuy nhiên, đứng trên lập trường giai cấp chủ nô, ông lại biện

hộ cho trật tự xã hội có đẳng cấp, và cũng từ đó chúng ta nhận thấy rằng, trong xã hội có giai cấp đối kháng ĐĐ không thể là yếu tố chung, chuẩn mực chung cho mọi giai cấp mà những chuẩn mực đó nó chỉ phù hợp với một giai cấp nào đó mà thôi Đến thời Trung cổ, các nhà triết học bàn đến ĐĐ chủ yếu bằng đức tin và coi đức tin là nền tảng của mọi hành động, theo đó Chúa đã thiết định tất cả, mọi sự vùng vẫy, níu kéo của con người chỉ là hiện tội tổ tông, con người cần phải tin vào

Trang 20

Chúa, Chúa là đấng tối cao, không có ĐĐ nào ngoài sự tuân theo ý Chúa Vì vậy, con người phải sống khổ hạnh, chấp nhận xã hội hiện tại để có thể về với Chúa, lên Thiên đường sau khi chết Thật là thiếu xót khi cho rằng con người chỉ cần tin theo Chúa là con người có ĐĐ

Quan niệm về ĐĐ trong các thời kỳ triết học trước Mác không thể không đề cập đến hệ thống triết học cổ điển đức Bởi vì, khi bàn về ĐĐ những triết gia tiêu biểu như : Lessing, I.Kant, Hegel, Feurbach, v.v…đó là những đại biểu triết học bàn

về ĐĐ một cách cơ bản và có hệ thống

Với I.Kant (1724-1804), người đặt nền móng cho triết học cổ điển Đức Ông

đã tự đặt nhiệm vụ cho mình là khám phá ra những động lực ẩn chứa đằng sau những hành vi ĐĐ của con người và ông cho rằng ĐĐ của con người là do con người tự tạo nên chứ không phải tự nhiên mà có Trong những bài giảng về ĐĐ học, ông khẳng định tình cảm ĐĐ là một loại tình cảm đặc biệt được nảy sinh ra từ chủ thể Bởi vậy, hành vi ĐĐ không chịu chi phối của luật nhân quả, không mang tính nguyên nhân và cũng không phải là hành động nói chung (vì hành động chung là do nguyên nhân quy định) mà là những hành vi chuyển tải ý đồ, động cơ và nghĩa vụ

mà chủ thể do thôi thúc của ý chí ĐĐ làm nảy sinh ra Như vậy, với logíc đó theo ông lý tính vẫn là nguồn gốc của ĐĐ và là những năng lực bẩm sinh của chủ thể Tuy chưa thoát khỏi lối đi của các nhà duy tâm chủ quan, thường tìm nội lực của ĐĐ từ thần linh, tôn giáo nhưng ở Kant đã có sự khác biệt khi lí giải về mối

quan hệ giữa ĐĐ và niềm tin tôn giáo với quan niệm Tôn giáo chỉ tồn tại trong khuôn khổ của lý tính (và đây cũng chính là nhan đề của một tác phẩm của ông) Vì

vậy ông cho rằng những ảo giác của những giáo sĩ cần được làm sáng tỏ qua những

ảo giác của nhà siêu hình học Khi xét về bản chất của mối quan hệ giữa ĐĐ và tôn giáo, ông vẫn đánh giá cao vai trò của ĐĐ, ông cho rằng tôn giáo dựa trên ĐĐ, chứ không phải ĐĐ dựa trên tôn giáo

Là một nhà triết học duy lý ông cho rằng, chỉ có lý tính mới có thể kìm nén

và hạn chế các nhu cầu cảm tính, bởi những nhu cầu này sẽ đưa con người tới sự hưởng thụ cá nhân, thực hiện những hành vi phi ĐĐ, ích kỷ Ông cũng cho rằng,

Trang 21

nguyên tắc ĐĐ là phải tuân theo mệnh lệnh tuyệt đối và chính mệnh lệnh này sẽ hướng con người vào hoạt động cộng đồng, tôn trọng bản thân, tôn trọng người khác, sống đúng với trách nhiệm công dân trong xã hội Phạm trù trung tâm của ĐĐ

học của Kant là phạm trù “Tự do”, tự do đó chính là sự bất diệt của linh hồn, là

những chuẩn mực lý tưởng mà con người phải luôn hướng tới, tự do cũng chính là niềm tin để con người thực hiện các nguyên tắc và chuẩn mực ĐĐ

Trong hệ thống triết học của Kant, các quy tắc ĐĐ có quyền uy tối thượng, là mệnh lệnh tuyệt đối mà con người phải tuân theo Bởi theo ông, nhiệm vụ của triết học không gì khác hơn là phải giải quyết các vấn đề mà con người băn khoăn, trăn trở trong suốt quá trình tồn tại của mình Tuy nhiên, so với các nhà triết học duy tâm chủ quan thời bấy giờ, quan điểm ĐĐ của Kant có những nhân tố hợp lý nhưng khi lý giải bản chất của vấn đề ông vẫn chưa thoát được khỏi ngưỡng thời đại mà ông đang sống, mặc dù ông có đề cao vai trò của chủ thể ĐĐ thì ĐĐ cũng mới chỉ

là điểm hội tụ của kinh nghiệm mà thôi

Tuy thấm đượm tính nhân văn sâu sắc, lên án chế độ phong kiến, hướng con người tới một xã hội tốt đẹp hơn, mong muốn cuộc sống tự do cho con người, v.v

…nhưng những quan niệm của Kant đã thể hiện lập trường duy tâm rõ rệt, thể hiện tính phi lịch sử, phi giai cấp, thiếu cơ sở thực tiễn trong các quan niệm về ĐĐ Hegel (1770-1831) nhà triết học Đức và là đỉnh cao của chủ nghĩa duy tâm khách quan trước Mác Mặc dù có thế giới quan duy tâm, nhưng ông vẫn được lịch

sử tư tưởng thế giới thừa nhận là một nhà biện chứng lỗi lạc Hệ thống triết học của ông được coi là một hệ thống quan trọng để hình thành triết học Mác

Nếu như Platon cho rằng ĐĐ của con người là sự mô phỏng ý niệm thiện thì khi bàn về ĐĐ Hegel cho rằng, ĐĐ có nguồn gốc từ pháp luật, một ý niệm phát sinh

từ ý niệm tuyệt đối Giống như ý niệm tuyệt đối, ý niệm pháp lý vận động từ trừu

tượng đến cụ thể Quá trình vận động của ý niệm pháp luật có ba nấc thang đó là : điểm xuất phát, với tên gọi là pháp luật trừu tượng, là cơ sở khách quan của quan hệ

giữa người với người Sự vận động và phát triển của ý niệm pháp luật trừu tượng sẽ

dẫn đến nấc thang thứ hai đó là pháp luật chủ quan, giữ vai trò điều chỉnh hành vi

Trang 22

của cá nhân, ông gọi là luân lý ĐĐ là nấc thang phát triển thứ ba của ý niệm pháp

luật, theo ông ĐĐ là sự thống nhất giữa pháp luật khách quan và pháp luật chủ quan Như vậy, với Hegel hình thái ý thức ĐĐ, một trong những tấm gương phản chiếu tồn tại xã hội đã bị xoá đi cái cơ sở tồn tại chân thực của nó, chỉ còn là một trắc diện biểu hiện của ý niệm tuyệt đối Bên cạnh đó ông còn cho rằng, con người chỉ thực hiện các hành vi ĐĐ khi có sự thôi thúc bên trong, từ niềm tin của chính mình, mà không ai có thể ra lệnh hay cưỡng bức Hay nói cách khác, trong quan hệ

ĐĐ Hegel đề cao vai trò chủ thể của con người

Phạm trù trung tâm trong ĐĐ học của Hegel là “Lương tri”, theo ông, con

người có lương tri thì mới hành động phù hợp với các quy tắc khách quan và các nguyên tắc ĐĐ Các nguyên tắc này chỉ thực sự được coi là nguyên tắc ĐĐ khi tồn

tại trong cộng đồng xã hội và được xã hội thừa nhận Trong sách Lịch sử triết học phương Tây hiện đại, tác giả đánh giá: “Trong quan niệm về ĐĐ mặc dù cách luận giải có tính chất duy tâm chủ nghĩa, nhưng Hegel cũng đã nêu lên được một số

quan niệm hợp lí về quy tắc ĐĐ, về ý nghĩa của đời sống con người” [36, tr 405]

Feurbach (1804-1872), nhà triết học duy vật kiệt xuất người Đức Khi đánh giá về con người ông đã có cái nhìn mới như: xem con người là trung tâm của hệ thống triết học của mình và thừa nhận quan hệ ĐĐ chỉ tồn tại trong mối quan hệ giữa người với người Tuy nhiên, ông lại không thấy được tính quy định của các mối quan hệ kinh tế - xã hội đối với ĐĐ mà theo ông, nguyên tắc và nền tảng của

ĐĐ là tình yêu thương chân thành giữa con người với con người Với quan niệm trên thì nó lại mang tính phi thực tế, bất khả thể không thể xảy ra trong xã hội đề cao tuyệt đỉnh quyền tư hữu, thân phận con người Do vậy, xét đến cùng ĐĐ trong quan niệm của ông cũng vẫn chỉ là năng lực bẩm sinh Engel đã nhận xét:

Tình yêu luôn luôn và bất cứ ở đâu, đối với Feurbach cũng là ông thần có lắm phép lạ…và điều đó có ở cả trong xã hội đã phân chia thành các giai cấp với những quyền lợi hoàn toàn đối lập nhau Do đó mà những di tích cuối cùng của tính chất cách mạng đã biến khỏi triết học của ông và chỉ còn lại bài hát cổ: Hãy yêu nhau đi, hãy hôn nhau đi không không phân biệt trai gái và địa vị

Trang 23

Thật say sưa hoà thuận khắp nơi [ 27, tr 365 ]

Tóm lại, những quan điểm về ĐĐ trong lịch sử triết học, tuy được rất nhiều

các nhà triết học bàn đến nhưng những quan niệm đó vẫn mang đậm tính chất duy tâm, họ cho rằng ĐĐ là cái nằm ngoài và là cái có trước con người và nó tách ra khỏi đời sống thực tiễn, xã hội của con người và không mang tính khoa học Để khắc phục những hạn chế của các nhà triết học trong lịch sử về vấn đề ĐĐ thì đây là nhiệm vụ của triết học Mác – Lênin

1.2.3 Quan điểm triết học Mác – Lênin về đạo đức

Từ những quan điểm triết học trước Mác về ĐĐ đã cho chúng ta thấy rằng dù

là quan điểm triết học duy tâm hay duy vật về ĐĐ đều rơi vào quan niệm duy tâm khi xem xét vấn đề xã hội và ĐĐ Họ không thấy được tính quy định của nhân tố kinh tế đối với sự vận động của xã hội nói chung và ĐĐ nói riêng Do vậy, với tính cách là một lĩnh vực hoạt động đặc thù của con người và xã hội, ĐĐ được nhìn nhận một cách tách rời bởi cơ sở kinh tế - xã hội sinh ra và quy định nó Các nhà triết học cho rằng, ĐĐ trước Mác đã tìm nguồn gốc, bản chất của ĐĐ hoặc ở ngay chính bản tính của con người, hoặc ở một bản thể siêu nhiên bên ngoài con người, bên ngoài xã hội Nét chung của các lý thuyết này là không coi ĐĐ phản ánh cơ sở

xã hội và hiện thực khách quan

Các nhà triết học, thần học coi con người và xã hội chẳng qua chỉ là những hình thái biểu hiện cụ thể khác nhau của một đấng siêu nhiên nào đó Những chuẩn mực ĐĐ, do vậy là những chuẩn mực do thần thánh tạo ra để răn dạy con người Mọi biểu hiện ĐĐ của con người do vậy đều là sự thể hiện cái thiện tối cao từ đấng siêu nhiên và tiêu chuẩn tối cao để thẩm định cái thiện, cái ác chính là sự phán xét của đấng siêu nhiên đó

Những nhà duy tâm khách quan tiêu biểu như Platon, sau là Hêghen tuy

không mượn tới thần linh, nhưng lại nhờ tới “ý niệm” hoặc “ý niệm tuyệt đối”, về

các lý giải nguồn gốc và bản chất ĐĐ suy cho cùng cũng tương tự như vậy Những

nhà duy tâm chủ quan nhìn nhận ĐĐ như là những năng lực “tiên thiên” của lý trí con người Ý chí ĐĐ hay là “thiện ý” theo cách gọi của Kant, là một năng lực có

Trang 24

tính nhất thành bất biến, có trước kinh nghiệm, nghĩa là có trước và độc lập với những hoạt động mang tính xã hội của con người

Những nhà duy vật trước Mác, mà tiêu biểu là L.Feurbach đã nhìn thấy ĐĐ trong quan hệ con người (người với người) Nhưng với ông, con người chỉ là một thực thể trừu tượng, bất biến nghĩa là con người ở bên ngoài lịch sử, đứng trên giai cấp, dân tộc và thời đại Phải chăng, những người theo quan điểm Đác-Uyn xã hội

đã tầm thường hóa chủ nghĩa duy vật bằng cách cho rằng những phẩm chất ĐĐ của con người là đồng nhất với những bản năng bầy đàn của động vật Đối với họ, ĐĐ

về thực chất cũng chỉ là những năng lực được đem lại từ bên ngoài con người, từ xã hội

Khác với tất cả các quan niệm trên, Mác và Ăngghen đã quan niệm ĐĐ nảy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội, là kết quả của sự phát triển lịch sử Mác,

Ăngghen cho rằng con người khi sống phải có “quan hệ song trùng” vì một mặt,

con người quan hệ với tự nhiên, tác động vào tự nhiên để thỏa mãn cuộc sống của mình Tự nhiên không thỏa mãn con người, điều đó buộc con người phải tác động vào tự nhiên để thỏa mãn mình Mặt khác, khi tác động vào tự nhiên, con người không thể đơn độc, con người phải quan hệ với con người để tác động vào tự nhiên

Sự tác động lẫn nhau giữa người và người là hệ quả của hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần mà cơ bản là hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức

Khi bàn về vai trò của lao động đối với sự hình thành, tồn tại và phát triển

của xã hội loài người Mác và Ăngghen cho rằng: “lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người”, rằng “người ta phải ăn, ở, mặc, đi lại trước khi làm chính trị, khoa học, nghệ thuật…” [ 29, tr 641] Xuất phát từ con người

thực tiễn, chứ không phải con người thuần túy ý thức hay con người sinh học, hai ông đi đến quan niệm về phương thức sản xuất quyết định đối với toàn bộ các hoạt

động của con người, xã hội loài người Trong “Lời tựa” của tác phẩm “Góp phần phê phán chính trị - kinh tế học”, Mác viết: “Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung Không phải ý thức của con người quyết định sự tồn tại của họ; trái lại chính sự tồn tại xã

Trang 25

hội của họ quyết định ý thức của họ” [28, tr.15] Luận điểm này chính là chìa khóa

để khám phá tất cả các hiện tượng xã hội trong đó có ĐĐ

Như vậy, ĐĐ không phải là sự biểu hiện của một sức mạnh nào đó ở bên ngoài xã hội, bên ngoài các quan hệ con người; cũng không phải là sự biểu hiện của

những năng lực “tiên thiên”, nhất thành bất biến của con người mà với tư cách là sự

phản ánh tồn tại xã hội, ĐĐ là sản phẩm của những điều kiện sinh hoạt vật chất của

xã hội và cơ sở kinh tế “Xét cho cùng, mọi học thuyết về ĐĐ đã có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ” [ 29, tr 137]

Những phong tục ĐĐ của người nguyên thủy được thể hiện trong đời sống của xã hội văn minh, là sản phẩm của hoạt động thực tiễn và các hoạt động nhận thức của xã hội đó Mà, sự phát triển từ phong tục ĐĐ của người nguyên thủy đến ý thức ĐĐ của xã hội văn minh là kết quả của sự phát triển từ thấp đến cao của hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức của con người

Xã hội Cộng sản nguyên thủy là bước đầu tiên con người thoát khỏi trạng thái động vật Hoạt động thực tiễn của xã hội hết sức thấp kém, chưa tạo nên sản phẩm thặng dư, và do đó, tư hữu và chế độ tư hữu chưa có tiền đề khách quan để xuất hiện Trong xã hội chưa có hiện tượng áp bức xã hội, nhưng con người vẫn bị

nô dịch bởi những lực lượng tự phát của tự nhiên Tuy nhiên, xã hội nguyên thủy đã

đem lại nội dung “ngây thơ”, “thuần phác” nhưng “tốt đẹp thơ mộng” cho ĐĐ

người nguyên thuỷ ĐĐ này chưa biết nói đến thói xấu, cái ác trong xã hội văn minh

vì đây là “ý thức bầy đàn đơn thuần” của “bản năng được ý thức” Ý thức ĐĐ chưa

tách ra thành hình thái độc lập mà ĐĐ của con người nguyên thuỷ là hình thái sinh thành trừu tượng của ĐĐ và không có tính duy lý

Những hình thái kinh tế - xã hội có đối kháng giai cấp tạo nên những cơ sở kinh tế, xã hội và tinh thần cho sự phát triển ý thức ĐĐ Những hệ thống ĐĐ của

các giai cấp khác nhau và đối nghịch nhau đều lấy “những quan niệm ĐĐ của mình

từ những quan hệ thực tiễn đang làm cơ sở cho vị trí giai cấp của mình, tức là từ những quan hệ kinh tế trong đó người ta sản xuất và trao đổi” [29, tr.136 ] Những

hệ thống ĐĐ đó phản ánh và điều chỉnh những quan hệ xã hội đa dạng, phong phú

Trang 26

và phức tạp, trong khi ý thức nói chung và ĐĐ nói riêng của người nguyên thủy chỉ phản ánh hoàn cảnh gần nhất có thể cảm giác được ĐĐ đã tự khẳng định mình là một hình thái ý thức xã hội, là lĩnh vực sản xuất tinh thần của xã hội Đây là một bước tiến, làm ĐĐ phát triển so với xã hội nguyên thủy Tuy nhiên, bước phát triển này cũng làm nảy sinh những cái ác, tham lam, ích kỷ, lừa dối… mà loài người phải đấu tranh hàng ngàn năm nay để chống lại nó

Về mặt hình thức, ĐĐ của xã hội văn minh đã phát triển vượt bậc Do nhận thức của loài người vượt bỏ tư duy cụ thể, chuyển sang xây dựng lý luận Nội dung

ĐĐ được thể hiện dưới hình thức kinh nghiệm, khái niệm, lý tưởng, chuẩn mực và đánh giá ĐĐ, do đó ĐĐ ngày càng phát triển về cấu trúc Và đến lượt mình, sự hoàn thiện cấu trúc làm cho phản ánh và điều chỉnh ĐĐ trở nên sâu sắc, tự giác Nội dung của ĐĐ được thể hiện dưới những hình thức cụ thể

Tuy nhiên, trong xã hội có giai cấp, nội dung và hình thức của ĐĐ phát triển nhưng chưa thật nhân đạo, chưa hoàn thiện Sự hoàn thiện của nội dung ĐĐ (thật sự nhân đạo) chỉ có thể đạt được khi con người chiến thắng được tình trạng đối kháng

giai cấp và tạo ra những điều kiện để có thể “quên được tình trạng đối kháng giai cấp” Điều kiện đó chỉ có thể bắt đầu có được bằng ĐĐ cộng sản trong xã hội cộng

sản mà giai đoạn đầu là xã hội xã hội chủ nghĩa Sự hoàn thiện ĐĐ được bắt đầu từ

ĐĐ của giai cấp công nhân “có nhiều nhân tố hứa hẹn” để dẫn tới một kiểu ĐĐ

“thật sự có tính nhân đạo” Như vậy, xã hội cộng sản nguyên thủy với trình độ bắt

đầu làm nảy sinh ĐĐ do hoạt động thực tiễn và nhận thức đã phát triển ĐĐ Xã hội cộng sản chủ nghĩa trong tương lai mà hiện thực hôm nay đang bắt đầu xây dựng sẽ hoàn thiện ĐĐ cả về nội dung lẫn hình thức

Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, ĐĐ sinh ra trước hết là

từ nhu cầu phối hợp hành động trong lao động sản xuất vật chất, trong đấu tranh xã hội, trong phân phối sản phẩm để con người tồn tại và phát triển Cùng với sự phát triển của sản xuất, các quan hệ xã hội, hệ thống các quan hệ ĐĐ, ý thức ĐĐ, hành vi

ĐĐ cũng theo đó mà ngày càng phát triển, ngày càng nâng cao, phong phú, đa dạng

và phức tạp

Trang 27

ĐĐ là sản phẩm tổng hợp của các yếu tố khách quan và chủ quan, là sản phẩm của hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người Những quan hệ người – người,

cá nhân - xã hội càng có ý thức tự giác, ý nghĩa và hiệu quả của chúng càng có tính

chất xã hội rộng lớn thì hoạt động của con người càng có ĐĐ Đạo đức, “đã là một

sản phẩm xã hội, và vẫn là như vậy chừng nào con người còn tồn tại” [26, tr 43]

Với ý nghĩa ĐĐ là sản phẩm của xã hội nên nó là lĩnh vực quan hệ thật sự của con người Trong khi phát triển với tính cách là thực thể xã hội, con người lựa chọn và chịu trách nhiệm với sự lựa chọn, với hậu quả của những sự lựa chọn đối với hành vi ứng xử giữa người với người Tự do lựa chọn và sự lựa chọn có trách nhiệm nảy sinh trong quan hệ giữa người - người, trong quan hệ cá nhân và xã hội Mỗi người chấp nhận kiểm tra những yêu cầu của xã hội để nhận được sự đánh giá,

sự ủng hộ của xã hội Còn xã hội thì với những chuẩn mực của nó, yêu cầu các cá nhân điều chỉnh các hành vi phù hợp với lợi ích của xã hội

ĐĐ là một bộ phận phản ánh tồn tại xã hội và mang bản chất xã hội nên ĐĐ

do hoạt động thực tiễn và tồn tại xã hội quyết định Nhận thức xã hội đem lại các hình thức cụ thể của phản ánh ĐĐ, làm cho ĐĐ, tồn tại như một lĩnh vực độc lập về sản xuất tinh thần của xã hội Sự hình thành, phát triển, hoàn thành bản chất xã hội của ĐĐ được qui định bởi trình độ phát triển và hoàn thiện của thực tiễn và nhận thức xã hội của con người Nói cách khác, nội dung khách quan của các quan niệm, quan điểm, các nguyên tắc, các chuẩn mực ĐĐ chính là biểu hiện của trạng thái, một trình độ phát triển nhất định của những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, của cơ sở kinh tế

Việc khẳng định tính qui định của cơ sở kinh tế đối với ĐĐ cho phép nhìn nhận sự biến đổi của ĐĐ theo sự biến đổi của cơ sở kinh tế Phân tích mối quan hệ giữa cơ sở kinh tế với kiến trúc thượng tầng mà trong đó ĐĐ là một yếu tố của nó,

Mác viết: “ Cơ sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ cái kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng

bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng” [28, tr 15]

Tiếp tục và cụ thể hoá tư tưởng của Mác về tính qui định của cơ sở kinh tế đối với ý thức xã hội nói chung và ĐĐ nói riêng, Ăngghen đã luận chứng cho bản

Trang 28

chất xã hội của ĐĐ bằng cách cử chỉ ra tính thời đại, tính dân tộc và tính giai cấp

của ĐĐ Trong tác phẩm “ Chống Đuyrinh”, Ăngghen đã chỉ ra mối quan hệ của

các thời đại đối với các nguyên tắc, các chuẩn mực ĐĐ với tính cách là biểu hiện về mặt ĐĐ của các thời đại kinh tế Phê phán quan điểm của Đuyrinh về những chân

lý ĐĐ vĩnh cửu, Ăngghen đã khẳng định rằng, thực chất và xét đến cùng, các nguyên tắc, các chuẩn mực, các quan điểm ĐĐ chẳng qua là sản phẩm của các chế

độ kinh tế, các thời đại kinh tế mà thôi Lấy ví dụ về nguyên tắc không được “ăn cắp”, Ăngghen cho rằng đó không phải là một nguyên tắc, một chân lý vĩnh cửu

gắn liền với bản chất trừu tượng của con người Nguyên tắc này có cơ sở kinh tế của

nó và nó sẽ mất ý nghĩa khi cơ sở kinh tế của nó không còn nữa Ông cho rằng từ khi sở hữu tư nhân về động sản phát triển thì tất cả các xã hội có chế độ sở hữu tư

nhân ấy, tất phải có một lời răn chung về ĐĐ: không được trộm cắp Vậy, là chỉ từ

khi có sở hữu tư nhân, người ta mới yêu cầu bảo vệ nó Trước khi có sở hữu tư

nhân, không thể có nguyên tắc ĐĐ không được trộm cắp Cũng như vậy, “ trong một xã hội mà mọi động cơ trộm cắp bị loại trừ” nghĩa là trong xã hội cộng sản chủ

nghĩa, lời răn ĐĐ đó sẽ không có ý nghĩa nữa

Tính qui định của thời đại đối với ĐĐ cho ta quan niệm khoa học về loại hình ĐĐ Mặc dù ĐĐ có qui luật vận động nội tại, có sự kế thừa, có sự lệch pha nào

đó đối với cơ sở sản sinh ra nó nhưng về căn bản, tương ứng với một chế độ kinh tế, mỗi phương thức sản xuất và do đó mỗi hình thái kinh tế - xã hội là một hình thái

ĐĐ nhất định ĐĐ nguyên thủy, ĐĐ chiếm hữu nô lệ, ĐĐ phong kiến, ĐĐ tư sản và sau đó, ĐĐ Cộng sản chủ nghĩa là những thời đại tiến triển dần dần của ĐĐ nhân loại

Cùng với tính thời đại, tính dân tộc là một trong những biểu hiện bản chất xã hội của ĐĐ Có thể nhìn nhận tính dân tộc như là sự biểu hiện đặc thù tính thời đại của ĐĐ trong các dân tộc khác nhau Không phải các học thuyết ĐĐ trước Mác không thấy sự khác biệt trong đời sống ĐĐ của các dân tộc Có điều, việc giải thích

sự khác biệt ấy hoặc là dựa trên cơ sở tôn giáo hoặc là dựa trên các quan niệm duy tâm triết học nên chưa được lý giải một cách đúng đắn

Trang 29

Khi xem ĐĐ như là một hình thái ý thức xã hội, các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác đã dặt cơ sở khoa học cho việc luận chứng tính dân tộc của ĐĐ Là một hình thái ý thức xã hội, ý thức ĐĐ vừa bị qui định bởi tồn tại xã hội, vừa chịu ảnh hưởng của các hình thái ý thức xã hội khác (chính trị, triết học, nghệ thuật, tôn giáo

…) Tổng thể những nhân tố ấy trong mỗi dân tộc là sự khác biệt nhau, làm thành cái mà ngày nay chúng ta gọi là bản sắc dân tộc Bản sắc ấy được phản ảnh vào ĐĐ nên tính độc đáo của các quan niệm, các chuẩn mực, cách ứng xử ĐĐ, nghĩa là tạo nên tính độc đáo trong đời sống ĐĐ của mỗi dân tộc Nhìn nhận tính độc đáo và sự khác biệt ấy về mặt dân tộc trong cặp khái niệm cơ bản của ĐĐ, cặp khái niệm thiện

- ác, Ph Ăngghen chỉ ra sự biến đổi cúa chúng qua các thời đại và dân tộc đó là từ dân tộc này sang dân tộc khác, từ thời đại này sang thời đại khác, những quan niệm

về thiện và ác đã biến đổi nhiều đến mức chúng thường trái ngược hẳn nhau

Trong xã hội có giai cấp và đối kháng giai cấp, mỗi giai cấp có vai trò, địa vị khác nhau trong hệ thống kinh tế, xã hội và do đó mà họ có các lợi ích khác và đối nghịch nhau ĐĐ với tư cách là hình thái ý thức xã hội đã phản ảnh và khẳng định lợi ích của mỗi giai cấp, ý thức ĐĐ giúp mỗi giai cấp hiểu được lợi ích của nó, hiểu được những cách thức, biện pháp bảo vệ và khẳng định lợi ích giai cấp Mặt khác, mỗi giai cấp đều sử dụng ĐĐ của mình như là công cụ bảo vệ lợi ích của mình Như vậy, tính giai cấp của ĐĐ là sự phản ánh và sự thể hiện lợi ích của các giai cấp, là biểu hiện đặc trưng của bản chất xã hội của ĐĐ trong xã hội có giai cấp (vì xã hội là quan hệ người – người, quan hệ người – người không trừu tượng mà gắn với những quan hệ kinh tế - xã hội)

Mỗi giai cấp có những lợi ích riêng và cũng có những quan niệm về ĐĐ, hệ thống ĐĐ riêng Những hệ thống ĐĐ này có sự tác động khác nhau, triệt tiêu nhau (nên đối kháng), do đó mà tác động hoặc tích cực hoặc tiêu cực đến sự phát triển và tiến bộ xã hội Tuy nhiên, hệ thống ĐĐ được áp đặt cho toàn xã hội bao giờ cũng là

hệ thống ĐĐ của giai cấp thống trị (mặc dù trong cuộc sống hàng ngày, mỗi giai cấp vẫn ứng xử theo những lợi ích trực tiếp của mình) Do chiếm được địa vị thống trị trong đời sống xã hội, giai cấp thống trị đã làm cho ĐĐ của mình trở thành yếu

Trang 30

tố thống trị trong đời sống xã hội

Giai cấp thống trị nắm khâu tuyên truyền điều khiển toàn bộ quá trình sản xuất tinh thần, trong đó có sản xuất các giá trị ĐĐ phù hợp với lợi ích giai cấp của

nó, và buộc mọi thành viên trong xã hội phải tuân thủ những chuẩn mực ĐĐ này

Từ đó, nó trở thành cái phổ biến trong xã hội và được cũng cố thành thói quen, phong tục, tâm lí Vì vậy, nó có sức sống dai dẳng trong tâm lí xã hội và cá nhân Còn giai cấp bị trị, do bị tước đoạt mất những điều kiện và tư liệu sản xuất, tinh thần các giai cấp bị thống trị không thể phát triển ĐĐ của mình ngang tầm với

ĐĐ của giai cấp thống trị Hệ thống này luôn bị chèn ép và do đó kém phát triển

ĐĐ của giai cấp bị trị không đủ điều kiện để ảnh hưởng đến toàn bộ các thành viên của giai cấp mình, nó tồn tại như cái không chính thống, không phổ biến bằng ĐĐ của giai cấp thống trị Vì các giai cấp thống trị không có điều kiện để sản xuất, tuyên truyền và sử dụng ĐĐ của mình trên phạm vi toàn xã hội

Trong xã hội có giai cấp, ĐĐ mạng tính giai cấp nhưng bên cạnh đó ĐĐ còn mang tính nhân loại Tính nhân loại của ĐĐ tồn tại ở hình thức thấp là biểu hiện của những quy tắc đơn giản, thông thường nhưng lại cần thiết để bảo đảm trật tự bình thường cho cuộc sống hàng ngày của con người Biểu hiện cao hơn trong tính nhân loại của ĐĐ là ở những giá trị ĐĐ tiến bộ nhất trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử, những giá trị ĐĐ này thường thường là những giá trị đạt được ở giai cấp tiến bộ nhất trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử nhân loại Đi đến tột đỉnh các giá trị ĐĐ của giai cấp tiến bộ của từng thời kỳ lịch sử, nhân loại sẽ bắt gặp ĐĐ của mình tương ứng với các thời kỳ lịch sử đó

Tóm lại: ĐĐ ra đời nhằm mục đích gì? Nó có vai trò như thế nào trong đời sống của con người? Con người muốn vươn lên cái “chân - thiện - mỹ” bên cạnh

đó con người lại là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể của lịch sử Con người tạo ra hoàn cảnh đến mức nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra con người đến mức

ấy Chính vì vậy, con người sinh ra bắt gặp hệ thống ĐĐ của xã hội Hệ thống ấy tác động đến con người và con người tác động lại hệ thống Hệ thống ĐĐ do con người tạo ra, nhưng sau khi ra đời hệ thống ĐĐ tồn tại như là cái khách quan hoá

Trang 31

tác động, chi phối con người

Trong xã hội có giai cấp hình thành và tồn tại nhiều hệ thống ĐĐ mà các cá nhân chịu sự tác động bởi môi trường ĐĐ tác động đến ĐĐ cá nhân bằng nhận thức

ĐĐ và thực tiễn ĐĐ, nhận thức ĐĐ để chuyển hoá ĐĐ xã hội thành ý thức ĐĐ cá nhân Thực tiễn ĐĐ là hiện thực hoá nội dung giáo dục bằng hành vi ĐĐ mà các hành vi ĐĐ lặp đi lặp lại trong đời sống xã hội và cá nhân làm cả ĐĐ cá nhân và xã hội được củng cố, phát triển thành thói quen, truyền thống, tập quán ĐĐ

Mối quan hệ giữa người với người là mối quan hệ đa chiều và phức tạp nên

để thực hiện ĐĐ trong xã hội là không hề đơn giản, đòi hỏi phải giáo dục ĐĐ Vậy, giáo dục ĐĐ như thế nào để đạt được hiệu quả? Như chúng ta đã biết, hiệu quả giáo dục ĐĐ phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, cách thức tổ chức, giáo dục mức

độ tự giác của chủ thể và đối tượng giáo dục trong quá trình giáo dục Vì vậy, giáo dục ĐĐ phải gắn với tiến bộ ĐĐ mà nhân đạo hóa các quan hệ xã hội và mức độ phổ biến nhân đạo hóa các quan hệ xã hội; sự hoàn thiện của cấu trúc ĐĐ và mức

độ phổ biến của nó…sẽ giúp chủ thể lựa chọn, đánh giá đúng các hiện tượng xã hội, đánh giá đúng tư cách của người khác hay của cộng đồng cũng như tự đánh giá đúng thông qua mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ, nội dung, phương thức, hình thức và các bước đi của quá trình giáo dục sẽ giúp mỗi cá nhân và cả cộng đồng tạo ra các hành vi và thực tiễn ĐĐ đúng đắn

Như vậy, giáo dục của ĐĐ cần được hiểu một mặt “giáo dục lẫn nhau trong cộng đồng”, giữa cá nhân và cá nhân, giữa cá nhân và cộng đồng; mặt khác, là sự “

tự giáo dục” ở các cấp độ cá nhân lẫn cấp độ cộng đồng

Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, ĐĐ có chức năng nhận thức thông qua sự phản ánh tồn tại xã hội Sự phản ánh của ĐĐ với hiện thực có đặc điểm riêng khác với các hình thái ý thức khác ĐĐ là phương thức đặc biệt của sự chiếm lĩnh thế giới con người Nếu xét dưới góc độ bản thể luận, ĐĐ là hệ thống tinh thần, được quy định bởi tồn tại xã hội Nhưng xét dưới góc độ xã hội học thì hệ thống tinh thần (nhận thức ĐĐ) không tách rời thực tiễn, hành động của con người Do vậy, ĐĐ là hiện tượng xã hội vừa mang tính tinh thần vừa mang tính hành động

Trang 32

hiện thực Hành động ĐĐ tiếp liền sau nhận thức giá trị ĐĐ và đa số trường hợp có

sự hòa quyện ý thức ĐĐ với hành động ĐĐ (Khác những khoa học và ứng dụng nghiên cứu thành tựu khoa học có khoảng cách về không gian và thời gian) Nhận thức của ĐĐ là quá trình vừa hướng ngoại (hướng ra ngoài) và hướng nội (tự nhận thức có nghĩa là hướng vào chính mình, chính chủ thể)

Nhận thức hướng ngoại lấy chuẩn mực, giá trị, đời sống ĐĐ của xã hội làm đối tượng Đó là hệ thống giá trị thiện và ác, trách nhiệm và nghĩa vụ, hạnh phúc và

ý nghĩa cuộc sống…, những “cách thức và phương tiện” tạo ra các giá trị ĐĐ Nhờ

sự nhận thức này mà chủ thể nhận thức đã chuyển hóa ĐĐ của xã hội như là cái chung, thành ý thức ĐĐ của cá nhân như là cái riêng

Nhận thức hướng nội (tự nhận thức), lấy bản thân mình (chủ thể ĐĐ) làm đối tượng nhận thức Đây là quá trình tự đánh giá, tự thẩm định, tự đối chiếu những nhận thức, hành vi, ĐĐ của mình với những chuẩn mực giá trị chung của cộng đồng Từ cách nhận thức này mà chủ thể hình thành phát triển thành các quan điểm

và nguyên tắc sống: sáng tạo hay chủ động, hy sinh hay hưởng thụ, vị tha hay vị kỷ, hướng thiện hay sa vào cái ác, v.v…

Trong tự nhận thức, vai trò của dư luận xã hội và lương tâm là to lớn Dư luận xã hội là sự bình phẩm, đánh giá từ phía xã hội đối với chủ thể, còn lương tâm

là sự phê bình Cả hai đều giúp chủ thể tái tạo lại giá trị ĐĐ của mình đó là giá trị

mà xã hội mong muốn

Từ nhận thức giúp chủ thể ý thức được trách nhiệm của mình và sẵn sàng để hoàn thành trách nhiệm đó và trong cuộc sống có vô số những trách nhiệm như vậy

Nó luôn đặt ra trong quan hệ phong phú giữa chủ thể ĐĐ với xã hội, gia đình, bạn

bè, đồng chí, đồng đội, tập thể, dân tộc, giai cấp và Tổ quốc

Nhận thức ĐĐ (ĐĐ phản ánh hiện thực) ở hai trình độ: trình độ thông thường và trình độ lý luận:

Nhận thức ĐĐ ở trình độ thông thường là ý thức thông thường, những giá trị riêng lẻ Nó đáp ứng nhu cầu ĐĐ thông thường đủ để chủ thể xử lý kịp thời trong cuộc sống và sự phát triển bình thường của xã hội Mọi cá nhân đều có thể và cần

Trang 33

phải phản ánh ĐĐ ở trình độ này

Nhận thức ĐĐ ở trình độ lý luận là những nhận thức có tính nguyên tắc được chỉ đạo bởi những giá trị ĐĐ có tính tổng quát Trình độ này đáp ứng những đòi hỏi của sự phát triển ĐĐ và tiến bộ xã hội và đây là yếu tố không thể thiếu được trong

hệ tư tưởng và hành vi của các giai cấp cầm quyền

Nhận thức ĐĐ đưa lại tri thức ĐĐ, ý thức ĐĐ mà các cá nhân, nhờ tri thức

ĐĐ, ý thức ĐĐ xã hội đã nhận thức (trở thành ĐĐ cá nhân) Cá nhân hiểu và tin ở các chuẩn mực, lý tưởng giá trị ĐĐ xã hội trở thành cơ sở để cá nhân điều chỉnh hành vi, thực hiện ĐĐ (hiện thực hóa ĐĐ)

ĐĐ có vai trò rất lớn trong đời sống xã hội, đời sống của con người nên ĐĐ

là vấn đề thường xuyên được đặt ra và giải quyết nhằm đảm bảo cho cá nhân và cộng đồng tồn tại phát triển Sống trong xã hội, người ta ai cũng phải suy nghĩ về những vấn đề ĐĐ để tìm ra những con đường, cách thức và phương tiện hoạt động nhằm kết hợp lợi ích của mình và cộng đồng, từ đó bảo đảm cho sự tồn tại, phát triển của chính mình và cộng đồng

Trong sự vận động phát triển của xã hội loài người suy cho cùng nhân tố

kinh tế là cái chủ yếu quyết định Tuy nhiên, nếu tuyệt đối hóa cái “chủ yếu” này thành cái “duy nhất” thì sẽ dẫn tư duy và hành động đến những lầm lạc đáng tiếc

Sự tiến bộ, phát triển của xã hội không thể thiếu vai trò của ĐĐ và một khi xã hội loài người có giai cấp, có áp bức, có bất công, chiến đấu cho cái thiện đẩy lùi cái ác

đã trở thành ước mơ, khát vọng, đã trở thành chất men, thành động lực kích thích,

cổ vũ nhân loại vượt lên, “xốc lên” thì ĐĐ lại trở thành mục tiêu đồng thời cũng là

động lực để phát triển xã hội

Vai trò của ĐĐ còn được biểu hiện thông qua các chức năng cơ bản đó là: Chức năng điều chỉnh hành vi, chức năng giáo dục, chức năng nhận thức như đã trình bày ở phần trên

Tóm lại: quan điểm triết học Mác- Lênin về ĐĐ, đó là một hệ thống quan

điểm hoàn chỉnh về ĐĐ, nó được xây dựng trên cơ sở của phép biện chứng duy vật

và là sự kế thừa vượt qua di sản tư tưởng ĐĐ của nhân loại, làm cho nhu cầu ĐĐ

Trang 34

của con người trở nên lành mạnh, tình cảm ĐĐ trở nên trong sáng, tri thức ĐĐ phản ánh chân thực đời sống ĐĐ, lí tưởng ĐĐ trở nên cao đẹp và hiện thực

1.3 Giáo dục đạo đức và đạo đức nghề nghiệp

Từ lâu vấn đề ĐĐ, giáo dục ĐĐ là vấn đề không phải của riêng ai, và đó là vấn

đề của tất cả mọi người nói chung và của những người làm công tác giáo dục nói riêng Song song với vấn đề giáo dục ĐĐ thì giáo dục ĐĐNN là vấn đề mang ý nghĩa thực tiễn Bởi vì con người trong quá trình sinh tồn của mình không thể tách

khỏi hoạt động nghề nghiệp để mưu sinh và đóng góp vào sự phát triển xã hội 1.3.1 Giáo dục đạo đức

Ngày nay, việc tiến vào nền văn minh tri thức sẽ đặt ra những thách thức mới, câu hỏi mới về người đại diện của nền văn minh mới đó là ai, phải chăng là con người có giáo dục? Một thuật ngữ của Peter F Drucker, tác giả của những công trình nghiên cứu nổi tiếng thế giới về kinh tế và xã hội mà chúng ta có thể tham

khảo Theo P Drucker: Sự thay đổi vĩ đại nhất sẽ là sự thay đổi về tri thức, về hình thức và nội dung, về ý nghĩa của tri thức, về những trách nhiệm của tri thức và về những đặc điểm của con người có giáo dục Con người đó là một “nguyên mẫu xã hội”, theo cách nói của các nhà xã hội học, “Con người có giáo dục sẽ quyết định khả năng hoạt động của xã hội Con người này cũng là hiện thân của các giá trị, niềm tin và trách nhiệm của xã hội” [ 71, tr.240-250]

Dồn sức cho giáo dục - đào tạo, liệu có phải là quá sớm khi đặt vấn đề nói trên khi chúng ta đang đối diện với tầng tầng lớp lớp những khó khăn về kinh tế và

xã hội trước thách thức của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế? Chẳng những không sớm mà còn là quá muộn khi chúng ta đang phải bức xúc về chất lượng của sự nghiệp giáo dục và đào tạo của nước ta Nếu không nhanh chóng bứt lên khỏi thực trạng yếu kém và lạc hậu của hệ thống giáo dục và đào tạo hiện tồn thì khó mà nói đến sự phát triển bền vững của kinh tế và xã hội

Chúng ta đang ngày ngày phải trả giá cho sự không tương thích giữa nguồn nhân lực chưa được đào tạo có bài bản, có chất lượng với những đòi hỏi ngày càng cao của công việc phải đảm đương và sẽ đảm đương Chúng ta đang thiếu và quá

Trang 35

thiếu những con người thành thạo về chuyên môn và nghiệp vụ ở trình độ cao Đây không là chuyện ngày một ngày hai, mà là hậu quả của cả một thời đoạn của những

sai lầm, hạn hẹp của cách phê phán một chiều cái gọi là “chuyên môn thuần túy” và

đề cao một cách cực đoan quan điểm “chính trị là thống soái”, mà quên rằng khi

bàn về chính sách kinh tế mới, Lênin đã từng đòi đổi hàng tá những anh chính trị

suông chỉ biết làm hỏng việc để lấy những “chuyên gia tư sản” thành thạo nghiệp

vụ Khi đi vào thời đại của những bước tiến như vũ bão của khoa học và công nghệ thì vấn đề giáo dục và đào tạo lại càng trở nên bức xúc, chỉ khi xã hội cảm nhận

được sâu sắc sự bức xúc ấy thì vấn đề “con người có giáo dục” mà trước hết là

giáo dục ĐĐ, hiện thân của giá trị, niềm tin và trách nhiệm của xã hội mới có thể hình thành và phát triển Có lẽ đó chính là vấn đề của mọi vấn đề cho giai đoạn lịch

sử mới

Ở thời đại nào, dưới chế độ nào, việc giáo dục ĐĐ cho thế hệ đang lớn cũng

là trung tâm chú ý của mọi thành viên trong xã hội Trước đây nhiều người vẫn cho rằng khi kinh tế phát triển, con người giàu có thì ĐĐ, quan hệ giữa người và người

sẽ tốt đẹp hơn Nhưng có lẽ thật thiếu sót khi cho rằng như vậy, bởi một khi con người chưa tự ý thức bản thân mình, chưa có trách nhiệm với bản thân mình, gia đình, cộng đồng và xã hội thì vấn đề giáo dục ĐĐ vẫn là quan trọng và rất cần thiết

ở bất kỳ thời đại nào

Giáo dục ĐĐ là một nội dung quan trọng trong giáo dục nhân cách con người phát triển toàn diện Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở mọi người phải

có đức, có tài mới đóng góp được nhiều lợi ích cho xã hội Mỗi giai đoạn lịch sử phát triển xã hội có mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp, hình thức giáo dục cụ thể nhằm xây dựng nhân cách toàn diện cho thế hệ trẻ, đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi phát triển của xã hội

Ngày nay, xã hội đã giàu lên rất nhiều, nhưng đâu đâu cũng báo hiệu về sự suy thoái ĐĐ thể hiện dưới những hình thức khác nhau, đang làm vẩn đục cuộc sống yên lành của xã hội loài người Ở nước ta, từ ngày chuyển sang nền kinh tế thị trường, đời sống nhân dân tăng lên, nhiều người đã trở thành giàu có, nhân cách con

Trang 36

người đã có những biến đổi, nhưng bên cạnh mặt tích cực, đã xuất hiện những biểu hiện tiêu cực Vì vậy, nghiên cứu giáo dục ĐĐ đang đựơc đặt ra trong những điều kiện mới Để có được những nghiên cứu cụ thể chúng ta phải nêu được thực trạng, đặc điểm, yêu cầu và phương pháp giải quyết vấn đề giáo dục ĐĐ nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác quan trọng này

1.3.2 Quan niệm về đạo đức nghề nghiệp

Khi bàn về ĐĐNN có nhiều quan niệm khác nhau, theo quan niệm của quốc tế

về ĐĐNN không giống với quan niệm của Việt Nam Từ trước tới nay ở Việt Nam, nói đến ĐĐNN, chúng ta thường liên tưởng tới việc một người có dối trá, lừa gạt, vi phạm pháp luật, v.v hay không? Trong khi đó theo quan niệm của quốc tế, nói đến ĐĐNN là nói đến các tiêu chuẩn nghề nghiệp như trình độ, năng lực chuyên môn, kinh nghiệm thực tế, v.v hoặc các quan hệ về kinh tế tài chính như góp vốn, đầu

tư, vay nợ, v.v Tuân thủ nguyên tắc ĐĐNN là đảm bảo được sự độc lập, khách quan và không lệ thuộc vào các quan hệ kinh tế tài chính trong quá trình hành nghề Nhưng tổng hợp những quan niệm ĐĐNN lại có hai khuynh hướng sau:

Với tư cách là phương thức kiếm sống, hoạt động nghề nghiệp là hoạt động

cơ bản của con người Trong hoạt động nghề nghiệp, những lợi ích trực tiếp và thiết yếu nhất của con người được thực hiện Nhưng khi thực hiện lợi ích của mình, con người không thể không có quan hệ về mặt lợi ích đối với người khác, với xã hội Vì thế, hoạt động nghề nghiệp cũng là hoạt động mà ở đó, những quan hệ ĐĐ cơ bản giữa con người và con người, giữa con người và xã hội được thể hiện Do tính đặc thù của hoạt động nghề nghiệp mà xã hội có những yêu cầu, những đòi hỏi cụ thể về nghề nghiệp cũng như về ĐĐ đối với từng dạng hoạt động nghề nghiệp nhất định

Vì thế, từ lâu ĐĐNN, dưới những hình thức và mức độ nhất định, đã hình thành như một lĩnh vực đặc thù của ĐĐ xã hội

Có thể nhận thấy những biểu hiện đầu tiên của ĐĐNN trong hoạt động của các phường hội thủ công hay trong việc hành nghề của các thầy thuốc Trong các phường hội thủ công (ở Phương Tây cũng như Phương Đông), những yêu cầu về chữ tín, về chất lượng sản phẩm luôn được đề cao Ban đầu, những yêu cầu đó bị

Trang 37

quy định bởi chính yêu cầu và quá trình của sản xuất và trao đổi hàng hoá, nhưng cùng với thời gian, việc tuân thủ chúng đã trở thành danh dự và nghĩa vụ ĐĐ của các thành viên trong phường hội nghề nghiệp Tương tự như vậy, y tế cũng là một trong những lĩnh vực mà từ lâu đã xuất phát những yêu cầu của ĐĐNN Do có liên quan trực tiếp đến sinh mệnh của bệnh nhân, lĩnh vực này đòi hỏi một trách nhiệm

cao, một sự tận tâm, một tình thương “lương y như từ mẫu” Chính vì thế, ngay từ

thời cổ đại Hipôrát, người được coi là ông tổ của ngành y, đã đề xuất những yêu cầu

y đức mà về sau, những yêu cầu đó đã trở thành nội dung lời tuyên thề nghề nghiệp mang tên ông đó là lời thề Hipôcrát :

Tôi sẽ chỉ dẫn mọi chi tiết có lợi cho người bệnh tuỳ theo khả năng và sự phán đoán của tôi, tôi sẽ tránh mọi điều xấu và bất công Tôi sẽ không trao chất độc cho bất kỳ ai, kể cả khi họ yêu cầu và không tự mình gợi ý cho họ Tôi suốt đời hành nghề cho sự vô tư và thân thiết Dù vào bất cứ nhà nào, tôi cũng chỉ vì lợi ích của người bệnh, tránh mọi hành vi xấu xa, cố ý, nhất là tránh cám dỗ phụ nữ thiếu niên, tự do hay nô lệ Dù tôi có nhìn hoặc nghe thấy

gì trong xã hội trong và cả ngoài lúc hành nghề của tôi, tôi sẽ xin im lặng trước những điều không bao giờ cần để lộ ra và coi sự kín đáo trong trường hợp đó như một nghĩa vụ [84, tr.121]

Ở nước ta danh y Lê Hữu Trác cũng đòi hỏi người thầy thuốc chân chính

phải là người nêu cao tám đức tính: Nhân, Minh, Trí, Đức, Thành, Lượng, Khiêm, Cần; và tránh xa tám điều tội lỗi: Lười, Tham, Keo, Lừa dối, Bất nhân, Hẹp hòi, Thất đức, Dốt Với một ý nghĩa nhất định, có thể coi: Tu, Tề, Trị, Bình, nêu gương

như là một chuẩn mực ĐĐNN mà Nho giáo đòi hỏi ở những nhà quản lý xã hội

Như vậy, có thể thấy, những yêu cầu, những chuẩn mực ĐĐNN là sự thể

hiện đặc thù những yêu cầu ĐĐ chung của xã hội trong những lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp cụ thể Chúng bị quy định bởi chính đặc thù của từng hoạt động nghề nghiệp nhất định Tuy nhiên, tính đặc thù này không có nghĩa là mỗi lĩnh vực hoạt động của xã hội và con người có những chuẩn mực hoàn toàn riêng biệt Thực ra, tính đặc thù của ĐĐNN là ở chỗ, mức độ và quy mô những yêu cầu, những đòi hỏi

Trang 38

của xã hội đối với con người trong những lính vực hoạt động nghề nghiệp khác nhau là khác nhau Do đó, với mỗi loại hình hoạt động nghề nghiệp có một số chuẩn mực ĐĐ thể hiện một cách nỗi bật, làm thành tính đặc thù ĐĐ của nghề nghiệp đó Như đã nêu trên, tình thương, lương tâm, trách nhiệm…là yêu cầu đồng thời là chuẩn mực ĐĐ của người thầy thuốc ; giữ chữ tín, trung thực là yêu cầu ĐĐ của người kinh doanh chân chính; tận tụy với công vụ, thanh liêm gương mẫu là yêu cầu

ĐĐ của người quản lý xã hội, độc lập; khách quan và chính trực; bảo mật; năng lực chuyên môn và tính thận trọng; tư cách nghề nghiệp; tuân thủ chuẩn mực chuyên môn là yêu cầu của người làm kế toán và kiểm toán viên…Những yêu cầu, chuẩn mực đó một mặt, là sự phản ánh cụ thể những đòi hỏi của xã hội; mặt khác, lại là động lực tinh thần để con người có được hiệu quả tích cực trong hoạt động nghề nghiệp

Trong xã hội truyền thống, do kém phát triển về kinh tế, sự phân công lao động chưa sâu, nên chỉ có một số ít hoạt động tách ra khỏi nông nghiệp để trở thành hoạt động nghề nghiệp đặc thù với số lượng người không nhiều Đồng thời, định

hướng ĐĐ truyền thống “trọng nghĩa khinh lợi”, như một điều chỉnh, góp phần làm

giảm thiểu những mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội Vì thế, ĐĐNN tuy hình thành từ lâu đời, nhưng trên bình diện quản lý xã hội, nó không trở thành vấn đề mang tính phổ biến và cấp bách như trong điều kiện xã hội hiện đại

Ngày nay, trong điều kiện kinh tế thị trường, sự phân công lao động trở nên

cực kỳ sâu sắc, nhiều hoạt động trước đây không mang tính nghề nghiệp nay trở thành phương thức kiếm sống của con người, nhiều ngành nghề mới xuất hiện Những đặc thù của hoạt động nghề nghiệp gây ra những khó khăn cho con người khi phải ứng xử trước những tình huống ĐĐ Các chuẩn mực chung của ĐĐ xã hội không còn đủ để giải quyết những vấn đề nảy sinh trong hoạt động nghề nghiệp Đặc biệt, tác động của kinh tế thị trường đang làm cho những đặc trưng và yêu cầu ĐĐNN thể hiện rõ hơn Do đó, việc xây dựng và giáo dục ĐĐNN trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết

Khác với mọi loại hình kinh tế trước thị trường, kinh tế thị trường hoạt động

Trang 39

dưới sự tác động cuả các quy luật: giá trị, cung cầu, cạnh tranh Những quy luật này đảm bảo cho nguyên tắc tối đa hoá lợi ích cá nhân được thực hiện Khi thực hiện nguyên tắc tối đa hoá lợi ích cá nhân, các chủ thể tham gia vào quan hệ thị trường

có thể làm tổn hại đến lợi ích của người khác, của xã hội Chính vì thế mà ĐĐ kinh doanh đang trở thành điểm nóng của việc xây dựng ĐĐNN hiện nay

Xây dựng ĐĐ kinh doanh chính là chế định và giáo dục những nguyên tắc, những chuẩn mực ĐĐ điều chỉnh hoạt động kinh doanh nhằm giải quyết một cách hợp lý nhất quan hệ giữa lợi ích cá nhân (chủ thể kinh doanh) và lợi ích xã hội (lợi ích của các chủ thể khác, lợi ích xã hội nói chung) Tuy nhiên, hiện vẫn còn những cách nhìn nhận khác biệt nhau xung quanh việc giải quyết một cách hợp lý quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội trong hoạt động kinh doanh

Không ít người vẫn cho rằng, hành vi kinh tế (mà trong điều kiện kinh tế thị trường là hành vi kinh doanh) và hành vi ĐĐ là hai loại hành vi hoàn toàn khác biệt nhau, thậm chí đối lập nhau Sự khác biệt hay sự đối lập chủ yếu giữa hai loại hành

vi này là ở chỗ, hành vi kinh tế giả định lợi ích cá nhân, còn hành vi ĐĐ lại hướng vào lợi ích của người khác Vì thế, không thể đòi hỏi sự điều chỉnh ĐĐ trong kinh doanh Do tính đặc thù của mình, kinh doanh chỉ có thể thực hiện và phát triển được thông qua cạnh tranh kinh tế Việc giải quyết một cách hợp lý, quan hệ lợi ích giữa

cá nhân và xã hội chỉ có nghĩa là chủ thể kinh doanh, trong khi thực hiện lợi ích của mình, không làm tổn hại đến lợi ích được đảm bảo bằng pháp luật của người khác Như vậy theo cách nhìn này, vấn đề đặt ra không phải là xây dựng ĐĐ kinh doanh với tư cách một loại hình ĐĐNN, mà là xây dựng, hoàn thiện và phát huy hiệu quả điều chỉnh của pháp luật, đặc biệt là luật kinh tế, luật kinh doanh

Sự tiến bộ của xã hội đòi hỏi người hành nghề trong bất cứ lĩnh vực nào cũng phải tuân thủ ĐĐNN cơ bản Những người hành nghề đều dựa vào đặc thù và những nguyên tắc chuẩn mực cơ bản có ảnh hưởng trọng yếu đến nghề nghiệp để làm nền tảng xây dựng ĐĐ nhằm đảm bảo cho nghề nghiệp và sản phẩm của ngành nghề được xã hội trọng dụng, tôn vinh

Nghề dạy học, các thầy giáo, cô giáo không chỉ dạy cái chữ để chống lại sự dốt

Trang 40

nát, mà mục tiêu cao cả của nghề dạy học là dạy cách làm người Làm người phải

đạo, làm người có đủ phẩm chất, Chân, Thiện, Mỹ Do mục tiêu cao cả ấy ''nhất tự

vi sư, bán tự vi sư”, ''Tôn sư trọng đạo” đã trở thành truyền thống của mọi dân tộc

Nghề chữa bệnh, các thầy thuốc cầu cho con người thoát khỏi cảnh ốm đau, bệnh tật, chống lại thần chết, kéo dài tuổi thọ, góp phần cho mọi người, mọi nhà được khoẻ mạnh, hạnh phúc Với mục tiêu cao cả ấy, người làm nghề chữa bệnh không bao giờ coi trọng đồng tiền hơn việc cứu người Chính vì thế, cả xã hội tôn

vinh “Thầy thuốc như mẹ hiền”

Nghề sản xuất, kinh doanh, người làm nghề đương nhiên phải tính toán sao cho

có lợi nhuận Những khoản lợi nhuận ấy phải do bàn tay khéo léo và khối óc thông minh tạo ra, nó không thể có sự gian dối Đó là ĐĐ của người làm nghề chân chính Người làm nghề luật sư cũng giống như mọi người làm nghề khác ở chỗ: có học, được đào tạo thành người có đủ phẩm chất Chân, Thiện, Mỹ, cũng đòi hỏi có khối óc thông minh và tấm lòng ngay thẳng, nhân hậu Nhưng nghề luật sư lại có đặc thù riêng, đó là phải gắn liền với mọi lĩnh vực pháp luật của Nhà nước Các ngành nghề khác chỉ quan hệ đến một vài lĩnh vực pháp luật có liên quan mà thôi.v.v…

ĐĐNN của nhà báo là một bộ phận hữu cơ trong ĐĐ của người làm báo đó

là phải trung thực không ba hoa, không nên chỉ viết cái tốt mà giấu cái xấu Khi

cầm bút viết phải đề ra mục tiêu: viết cho ai? Viết để làm gì? Viết thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn, dễ đọc

Ai cũng biết rằng, người ta bất cứ làm nghề gì cũng đều phải có lương tâm, trách nhiệm đối với việc làm của mình Nhưng, do quy luật sinh tồn và phát triển không đồng đều nên mỗi ngành nghề khác nhau đều có tính chất khác nhau, đòi hỏi lương tâm, trách nhiệm, ĐĐ của người làm nghề có sự khác nhau, không ai có thể đánh đồng được mà ĐĐNN được tuân theo trong hoạt động nghề nghiệp, có chuẩn mực và quy phạm ĐĐ đặc trưng của bản thân nghề nghiệp ĐĐNN xuất hiện theo

sự phân công mà từng bước hình thành, theo sự phát triển của phân công mà không ngừng phát triển Trong xã hội có bao nhiêu nghề nghiệp, thì có bấy nhiêu ĐĐNN

Ngày đăng: 04/02/2015, 21:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A.I. Côchêtốp (1995), Những vấn đề lý luận đạo đức, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr .12-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận đạo đức
Tác giả: A.I. Côchêtốp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
2. Lê Hữu Ái (Chủ biên) (2008), Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và vấn đề giáo dục thanh niên hiện nay, Nxb Đà Nẵng, tr.108-116 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và vấn đề giáo dục thanh niên hiện nay
Tác giả: Lê Hữu Ái (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2008
3. Lê Ngọc Anh (2002), “Vấn đề giáo dục đạo đức và nếp sống văn hóa gia đình truyền thống trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”, tạp chí Triết học, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giáo dục đạo đức và nếp sống văn hóa gia đình truyền thống trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”
Tác giả: Lê Ngọc Anh
Năm: 2002
4. Lê Thị Tuyết Ba (1999), “Vấn đề bảo vệ các giá trị đạo đức truyền thống trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”, tạp chí Triết học, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề bảo vệ các giá trị đạo đức truyền thống trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam"”, tạp chí Triết học
Tác giả: Lê Thị Tuyết Ba
Năm: 1999
5. Lê Thị Tuyết Ba (1999), “Vai trò của đạo đức đối với sự phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường”, tạp chí Triết học, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của đạo đức đối với sự phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường”, "tạp chí Triết học
Tác giả: Lê Thị Tuyết Ba
Năm: 1999
6. Đỗ Tuyết Bảo (2001), Giáo dục đạo đức cho học sinh các trường phổ thông cơ sở ở Thành Phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới hiện nay, Luận án Tiến sĩ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: iáo dục đạo đức cho học sinh các trường phổ thông cơ sở ở Thành Phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới hiện nay
Tác giả: Đỗ Tuyết Bảo
Năm: 2001
7. Đặng Quốc Bảo (1997), Tuổi trẻ cống hiến và trưởng thành, Nxb Thanh niên, Hà Nội, tr. 15-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuổi trẻ cống hiến và trưởng thành
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 1997
8. Đề án Quy hoạch mạng lưới trường TCCN Thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2005 – 2010, Ban hành kèm theo Quyết định số 71/2005/QĐ-UB ngày 10/06/2005 của UBND Thành phố Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án Quy hoạch mạng lưới trường TCCN Thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2005 – 2010
9. Ban Chấp Hành Trung Ương, Chỉ thị của Ban Bí thư về việc nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục, Số 40 – CT/TW ngày 15 tháng 06 năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị của Ban Bí thư về việc nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục
11. G. Bandzeladze (1985), ĐĐ học (2 tập), Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.35-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ĐĐ học
Tác giả: G. Bandzeladze
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1985
12. Nguyễn Thị Bình, Báo cáo về công tác HS,SV, Lưu tại trung tâm thông tin tư liệu khoa học, Ban khoa giáo Trung Ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về công tác HS,SV, Lưu tại trung tâm thông tin tư liệu khoa học
13. Trần Thái Bình (2007), Hồ Chí Miinh Sự hình thành một nhân cách lớn, Nxb Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Miinh Sự hình thành một nhân cách lớn
Tác giả: Trần Thái Bình
Năm: 2007
14. Bộ Giáo dục & Đào tạo (1991), Đạo đức học, Nxb Đại học và Giáo dục chuy ên nghiệp, Hà Nội, tr. 35-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức học
Tác giả: Bộ Giáo dục & Đào tạo
Nhà XB: Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp
Năm: 1991
15. Bộ giáo dục & Đào tạo (1996), Phương pháp dạy học đạo đức, Nxb Giáo dục, tr.16-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học đạo đức
Tác giả: Bộ giáo dục & Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
16. Bộ Giáo dục & Đào tạo (1999), Lịch sử triết học (Giáo trình dùng cho các trường Đại học và Cao đẳng), Nxb Giáo dục, tr. 39-52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học
Tác giả: Bộ Giáo dục & Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
17. Bộ Giáo dục & Đào tạo (2001), Chiến lược và phát triển giáo dục 2001 – 2010, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược và phát triển giáo dục 2001 – 2010
Tác giả: Bộ Giáo dục & Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
18. Bộ Giáo dục & Đào tạo (2007), Hội nghị tổng kết năm học 2006 – 2007, Vũng Tàu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị tổng kết năm học 2006 – 2007
Tác giả: Bộ Giáo dục & Đào tạo
Năm: 2007
19. Bộ Giáo dục Đào tạo và Trung Ương Đoàn TNCSHCM (2008), Nghị quyết liên tịch “Về tăng cường công tác giáo dục toàn diện HS,SV và xây dựng tổ chức Đoàn, Hội trong nhà trường giai đoạn 2008 - 2012” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tăng cường công tác giáo dục toàn diện HS,SV và xây dựng tổ chức Đoàn, Hội trong nhà trường giai đoạn 2008 - 2012
Tác giả: Bộ Giáo dục Đào tạo và Trung Ương Đoàn TNCSHCM
Năm: 2008
20. Bộ Chính trị (2006), Chỉ thị số 06 – TC/TW về “Học tập và làm theo tấm gương ĐĐ Hồ Chí Minh”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học tập và làm theo tấm gương ĐĐ Hồ Chí Minh”
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2006
87. Truy cập các trang web: http://ebook.edu.net http://w.w.w.chungta.com Link

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w