- Chữ viết của Tiếng Việt là chữ viết ghi âm nên nguyên tắc chính tả chủ yếu của Tiếng Việt là nguyên tắc ngữ âm học, nghĩa là mỗi âm vị được thể hiện bằng một tổ hợp chữ cái, mỗi âm tiế
Trang 1Mục lục
Trang
Phần mở đầu
1 Lí do chọn đề tài 2
2 Tổng quan vấn đề cần nghiên cứu 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng nghiên cứu 4
5 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Đóng góp của đề tài 4
B Phần nội dung 1 Cơ sở lí luận 5
1.1 Các khái niệm có liên quan 5
1.2 Vị trí, tính chất và nhiệm vụ của dạy Tập đọc 5
1.3 Mục đích, yêu cầu của phân môn Tập đọc ở lớp 1 6
1.4 Ý nghĩa của việc đọc 6
1.5 Một số cơ sở của việc đọc … 7
2 Cơ sở thực tiễn 8
2.1 Những trường hợp phát âm sai của người Quảng Nam 8
2.2 Thực trạng dạy đọc 9
3 Một số biện pháp luyện đọc đúng 11
3.1 Chú ý công tác chuẩn bị trước khi đọc 11
3.2 Yêu cầu đối với bài đọc mẫu 12
3.3 Hướng dẫn học sinh đọc 14
3.4 Áp dụng có hiệu quả các phương pháp dạy học 16
4 Một số đề xuất 18
4.1 Đối với tỉnh Quảng Nam 18
4.2 Đối với Sở Giáo Dục 19
4.3 Đối với nhà trường……… 19
4.4 Đối với giáo viên 19
4.5 Đối với phụ huynh 20
Trang 24.6 Đối với học sinh 20
C Phần kết luận 21
D Tài liệu nghiên cứu 22
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT
ĐỀ TÀI : NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC CHÍNH TẢ
TRONG DẠY HỌC TIỂU HỌC
A/ PHẦN MỞ ĐẦU I/ Lý do chọn đề tài:
Chữ viết hiện nay của người Việt là chữ viết ghi lại theo phát âm Do đĩ việc viết đúng phải dựa trên đọc đúng, đọc đúng là cơ sở viết đúng Tuy nhiên do yếu tố vùng miền, cách phát
âm mỗi nơi cĩ khác nhau Mặc dù những qui tắc, qui ước về Chính tả đã được thống nhất theo ngữ pháp chung Nhưng việc “viết đúng Chính tả” trong học sinh hiện nay nĩi chung vẫn cịn nhiều khĩ khăn, tồn tại
Vấn đề là: Cũng như tất cả các nước dùng hệ thống chữ cái Latin khác trên thế giới,
“ghi giọng nĩi” là thao tác hiển thị cơ bản của ngơn ngữ viết Trong khi trong thực tế ở nước
ta, hiện tượng khơng đồng nhất trong phát âm là khá phổ biến Do tình hình kinh tế xã hội chung, hầu như bất kỳ địa phương nào trong cả nước cũng cĩ sự pha trộn, giao thoa của nhiều vùng miền Từ giáo viên đến học sinh, “Cơ Bắc - trị Nam; Cơ Trung - trị Bắc ”
“Nghe và hiểu” được tiếng nĩi của nhau quả là khơng đơn giản Trong khi “chuẩn chính tả” của Ngữ pháp Việt Nam căn cứ vào phát âm của khu vực Hà Nội thì với các vùng miền khác việc “nhại giọng nĩi” theo phát âm tiêu chuẩn khơng hề đơn giản Một số ví dụ tiêu biểu như: Phát âm của một số vùng Bắc Bộ (Hải Dương) thì “nĩi và làm” thành ra “lĩi và nàm”, khu vực Trung Bộ (khu vực Bình Trị Thiên, Nghệ Tỉnh) hầu như khơng phân biệt nỗi các dấu thanh “sắc- nặng-hỏi - ngã” như “nĩi” lại thành “nọi”; phát âm khu vực các Tỉnh “xứ Quãng”
Trang 3thì càng gay gắt hơn với những nguyên âm chính như “ ăn” thành “eng”, “nói” thì nghe thành
“núa”, đi “làm” thì nói thành đi “lồm”, xe “đạp” thành xe “độp”… các tỉnh Miền Nam thì
“về” thành ra “dề” hay “lan” và “lang” nghe như nhau, đặc biệt vùng Đồng bằng Nam bộ còn có phát âm như ngọng “Con cá rô bỏ vô rổ giãy rột rột” thành “ Con cá gô bỏ vô gổ dảy gột gột” “Ông Nội” thành “Ông Nậu”, “Con người, số mười” lại nghe thành “con ngừ, số mừ”, “bên ngoài” thành “bên quài”, “đàng hoàng” thành “đàng quàng”
Nhưng “vùng nào hiểu theo vùng nấy” nên thật ra trong từng địa phương có kiểu phát âm như vậy đã thành “quen tai” nên không có gì đáng nói Có điều là hiện nay, sự sống chung pha trộn trong các vùng cả nước hiện nay là phổ biến nên khó khăn trong việc “nghe và viết” sao cho đúng là một vấn đề lớn đối với Chính tả Việt Nam là rất rõ nét
Chính vì vậy, học sinh hiện nay mắc lỗi chính tả rất nhiều Điều này ảnh hưởng tới kết quả học tập của các em ở môn Tiếng Việt nói chung cũng như các môn học khác Vì vậy, trong quá trình còn ngồi trên ghế nhà trường sư phạm tôi đã tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra đề tài : “Nâng cao chất lượng dạy học chính tả trong dạy học tiểu học”
B/ NỘI DUNG
I.CƠ SỞ LÝ LUẬN
I.1 Cơ sở về ngữ âm học.
a Mối quan hệ giữa âm chữ và nghĩa.
- Chữ viết của Tiếng Việt là chữ viết ghi âm nên nguyên tắc chính tả chủ yếu của Tiếng Việt là nguyên tắc ngữ âm học, nghĩa là mỗi âm vị được thể hiện bằng một tổ hợp chữ cái, mỗi
âm tiết, mỗi từ có một cách viết nhất định Do đó việc viết đúng phải dựa trên đọc đúng, đọc đúng là cơ sở viết đúng Để phát huy một cách có ý thức đặc biệt là những vùng phương ngữ, việc dạy chính tả phải theo sát nguyên tắc này Nghĩa là phải tôn trọng việc phát âm, lấy phát
âm để điều chỉnh chữ viết
b Những bất hợp lý của chữ quốc ngữ.
Trang 4Ở Tiếng Việt, nguyên tắc cơ bản là nguyên tắc ngữ âm học, ngoài ra chính tả Tiếng Việt còn được xây dựng trên một số nguyên tắc như: Nguyên tắc truyền thống lịch sử, nguyên tắc khu biệt… Khi viết chính tả phát âm thế nào thì viết thế ấy Hiện tượng cách phát âm ở những vùng miền khác nhau (phương ngữ), trong khi đó hệ thống ghi âm tiêu chuẩn của Tiếng Việt lại chưa được xác định một cách chính thức Do đó khó có thể phổ biến rộng rãi hệ thống ấy được Hơn nữa trong Tiếng Việt việc phát âm không phù hợp với tiêu chuẩn lại có trường hợp trong
đó một từ đồng thời mang hai biến thể phát âm, khó có thể nói biến âm nào là chuẩn
Ví dụ: chong chóng – trong tróng
Hoặc có khi cùng một cách phát âm nhưng lại có hai cách viết
Ví dụ: /z/
/i/
Bản thân hệ thống âm vị Tiếng Việt còn một số vị âm không ghi thống nhất, một âm có thể ghi bằng nhiều con chữ
/k/
Hoặc trong bộ chữ cái Tiếng Việt còn chữ “h” là một hiện tượng đặc biệt Nó vừa sử dụng độc lập làm đại diện cho phụ âm /h/ thể hiện bằng con chữ “h”, vừa được sử dụng theo cách ghép với các con chữ khác làm đại diện cho 7 âm nữa đó là: ch, gh kh, nh, ngh, ph, th Do vậy khi sử dụng cần chú ý không nên lầm tưởng là trong Tiếng Việt có phụ âm kép Dù “h” đứng một mình hay “h” đứng sau các chữ khác (c, g, k, n, ng, p, t) thì ch, gh, kh, nh, ngh, ph, th
d: dải lụa gi: giải thích
i: lí luận y: Lý Thường Kiệt
c (con cuốc)
k (cái kim)
q (tổ quốc)
Trang 5đều có giá trị như nhau Mỗi hình thức trong 7 hình thức đó đều chỉ thay thế cho 1 âm mà thôi.
Do vậy có quan niệm g đơn, g kép, ng đơn, ng kép là bất hợp lý Cách nhận biết tốt nhất về
“ng” và “ngh” là dựa vào khả năng kết hợp chung với nguyên âm
Trước những bất hợp lý trên, việc xác định những trọng điểm chính tả cần dạy cho học sinh vùng phương ngữ, một mặt phải coi trọng những biến thể phát âm địa phương, đồng thời phải giải nghĩa để sử dụng dựa vào các văn cảnh cụ thể để ghi nhớ cho học sinh cách phân biệt chính tả
Do vậy hai nhiệm vụ chủ yếu của việc đề cao nguyên tắc dạy học chính tả có ý thức là: giải quyết những vấn đề tồn tại của chữ quốc ngữ Tôn trọng nguyên tắc dạy chính tả theo khu vực, phải chú ý cách phát âm của địa phương
I.2 Nguyên tắc dạy Chính tả.
a/ Nguyên tắc dạy Chính tả gắn với sự phát triển tư duy
- Vận dụng các phương pháp thích hợp, rèn luyện các thao tác tư duy giúp cho HS chủ động tích cực lĩnh hội tri thức và rèn luyện kĩ năng chính tả tự động học
- Hướng dẫn HS hoạt động trí tuệ để hiểu chữ viết và chức năng của chữ viết trong hệ thống các phương tiện biểu hiện ngôn ngữ, hiểu tác dụng của chữ viết trong quá trình giao tiếp và tư duy bằng ngôn ngữ viết
- Luyện tập, thực hành các hình thức chính tả để củng cố kĩ năng viết và kĩ năng thao tác
tư duy khoa học cho HS
b/ Nguyên tắc dạy Chính tả hướng về dạng thức viết của hoạt động lời nói
Dạy Chính tả hướng về dạng thức viết của hoạt động lời nói yêu cầu sự phát triển phong phú và đa dạng các kiểu bài tập thực hành giao tiếp Học chữ và học viết chính tả là để viết thạo tiếng nói, để có công cụ học tập và giao tiếp, để phát triển ngôn ngữ Hướng về dạng thức viết của hoạt động ngôn ngữ, sẽ kích thích hứng thú và hình thành động cơ học tập đúng đắn của học sinh đem lại hiệu quả thiết thực và vững chắc cho phân môn Chính tả
c/ Nguyên tắc dạy Chính tả chú ý đến trình độ phát triển ngôn ngữ của học sinh
Trang 6Tức là chúng ta dựa trên cơ sở trình độ trẻ em nắm và sử dụng dạng thức nói Ở độ tuổi khác nhau, nguồn gốc địa bàn cư trú và dân tộc khác nhau, với những ảnh hưởng tiếp xúc văn hóa trong cộng đồng có nét riêng, trình độ nắm và sử dụng dạng thức nói của HS ở từng lớp và từng cấp không đồng đều Do đó, nội dung, hình thức và yêu cầu dạy học chính tả đề ra phải sát hợp với từng loạt đối tượng
d/ Nguyên tắc phát triển song song dạng thức nói và dạng thức viết của ngôn ngữ
Dạy học chính tả hướng tới đồng thời cả dạng thức nói và dạng thức viết trên cơ sở mối liên hệ âm – chữ, chữ và nghĩa, nhằm hoàn thiện kĩ năng đọc viết, viết đọc, viết đọc và hiểu Học sinh được đối chiếu, so sánh, phân biệt dạng thức nói và dạng thức viết trong các trường hợp đồng âm, khác nghĩa, đồng tự (khác âm hay khác nghĩa), những trường hợp đồng âm không đồng tự (phát âm như nhau viết khác nhau) hoặc đồng tự không đồng âm (viết như nhau đọc khác nhau), những biến thể ngữ âm trong lời nói, biến thể ngữ âm trong phương ngữ và chuẩn chữ viết, chuẩn chính tả thống nhất…
I.3 Cơ sở thực tế.
Trẻ em ở lứa tuổi Tiểu học nhận thức hiện thực khách quan mang đậm màu sắc cảm tính Các giác quan như tai, mắt được sử dụng nhiều trong nhận thức sự vật, cho nên trực quan cụ thể
là những yếu tố đặc biệt quan trọng góp phần tạo nên nhận thức và tư duy của học sinh Tiểu học “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng” Khi dạy chính tả cho học sinh Tiểu học cần vận dụng triệt để đặc điểm, nhận thức của trẻ em ở lứa tuổi này
VD: Nghe và quan sát cách phát âm đúng để phát âm đúng Quan sát cách viết đúng để viết đúng , dần dần học sinh sẽ tích luỹ được những kinh nghiệm, làm giàu thêm tri thức chính
tả cho bản thân Kết quả là các em nhận thức được những vốn kinh nghiệm một cách có ý thức, tạo nên kĩ năng kĩ xảo cho các em Từ đó giúp các em dễ dàng trong việc tiếp thu các tri thức của các môn học, nhất là trong phân môn Tập làm văn
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
Trang 71 Một số tồn tại trong thực tế:
Qua quá trình học tập ở nhà trường sư phạm và nghiên cứu tài liệu, sách báo, giáo trình phương pháp dạy học Tiếng Việt, và những quan sát tìm hiểu trên thực tế tôi thấy học sinh tiểu học thường hay mắc phải một số lỗi sau đây:
a Lỗi về dấu thanh:
Tiếng Việt có 6 thanh (ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng) thì nhiều học sinh không phân biệt được 2 thanh hỏi, ngã Số lượng tiếng mang 2 thanh này không ít và rất phổ biến
- kể cả những người có trình độ văn hoá cao
b Lỗi phụ âm đầu:
- Học sinh viết lẫn lộn một số chữ cái ghi các âm đầu sau đây:
+ c/k: Céo co…
+ng/qu: ông quại (ngoại), bên quài(ngoài)
+ g/gh: Con ghà , gê gớm…
+h/qu: quảng hốt (hoảng hốt), phá quại (phá hoại)
+ ng/ngh: Ngỉ ngơi, nge nhạc, nghành nghề…
+ ch/tr: Cây che, chiến chanh…
+ s/x: Cây xả , xa mạc…
c.Lỗi âm cuối, vần:
- Học sinh thường viết lẫn lộn chữ ghi âm cuối trong các vần sau đây:
+ at/ac- ăt/ăc - ât/âc: mác mẻ, lường gạc, gặc lúa, nổi bậc, lấc phấc…
+ an/ang- ân/âng: cây bàn, bàng bạc, khoai lan, hụt hẫn, tần lầu
+ âu/ôi : ông Nậu (nội), cái gấu (gối)
Trang 8+ ên/ênh: bấp bên, nhẹ tên, ghập ghền, khấp khển…
+ ư/ươi: con ngừ , hai mư
+ êt/êch: trắng bệt…
+ iêt/iêc: mải miếc, tiêu diệc…
+ ut/uc: chim cúc, bão lục…
+ uôn/uông: khuôn nhạc, buồn tắm…
+ uôt/uôc: rét buốc, chải chuốc…
+ ươn/ương: lươn bổng, sung sướn
2 Nguyên nhân chủ yếu:
a/ Lỗi về dấu thanh:
Thực tế qua ngôn ngữ nói, Nghệ An trở vào không phát âm phân biệt được những thanh hỏi, ngã. Nói cách khác trong phương ngữ khu vực miền Trung và miền Nam không
có thanh ngã Trong khi số lượng từ mang 2 thanh này khá lớn Do đó đây là lỗi rất phổ biến trong học sinh
b/ Lỗi khi viết âm đầu:
Trong phương ngữ Bắc và Nam có sự lẫn lộn giữa các chữ ghi âm đầu ch/tr, d/gi, s/
x Mặt khác, trong khi một số vùng miền Bắc thường lẫn lộn các âm đầu l/n thì người Miền Nam thường lẫn lộn v/d, r/g. Ngoài ra, trong quy ước về chữ quốc ngữ, một âm ghi bằng 2 hoặc 3 dạng (ví dụ: âm “cờ” ghi bằng 3 chữ cái c / k /qu , âm “ngờ” ghi bằng ng/ngh, âm “gờ” ghi bằng g/gh…) dù có những quy định riêng cho mỗi dạng khi ghép chữ, nhưng đối với học sinh tiểu học thì rất dễ lẫn lộn
c/ Lỗi khi viết âm cuối:
Đối với người Miền Nam, có thể nói việc phát âm hoàn toàn không phân biệt các vần có âm cuối n/ng và t/c Mà số từ mang các vần này không nhỏ Mặt khác hai bán âm cuối i,u/ lại được ghi bằng 4 con chữ i/y (trong: lai/lây), u/o (trong: sau/sao), ư/ươi (trong :
Trang 9tư/tươi) do đó lỗi về âm cuối là lỗi khó khắc phục đối với học sinh các tỉnh phía Nam nói chung và tại địa phương nói riêng
3.Một số biện pháp khắc phục lỗi:
a Tích cực luyện phát âm đúng:
Muốn học sinh viết đúng chính tả, giáo viên phải là người phát âm rõ tiếng, đúng chuẩn, đồng thời chú ý luyện phát âm cho học sinh để phân biệt các thanh, các âm đầu, âm cuối Việc rèn phát âm bắt đầu phải được thực hiện trong tiết Tập đọc và được thực hiện thường xuyên, liên tục, lâu dài trong tất cả các tiết học như Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn…
b Phân biệt chính tả bằng phân tích, so sánh:
Song song với việc phát âm, giáo viên có thể áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng, so sánh với những tiếng dễ lẫn lộn, phát hiện những điểm khác nhau để học sinh lưu
ý và ghi nhớ
học sinh phân tích cấu tạo hai tiếng này:
- làng = l + ang + thanh huyền
- làn = l + an + thanh huyền.
So sánh để thấy sự khác nhau: Tiếng “làng” có âm cuối là “ng”, tiếng “làn” có âm cuối là “n” Học sinh ghi nhớ điều này, khi viết, các em sẽ không viết sai
c.Phân biệt bằng nghĩa từ:
Một biện pháp khác để khắc phục lỗi chính tả cho học sinh là giúp học sinh hiểu nghĩa chính xác của từ Việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong tiết Tập đọc, Luyện
từ và câu…nhưng trong tiết Chính tả cũng là một biện pháp tích cực, khi học sinh không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm hoặc phân tích cấu tạo tiếng
Trang 10Ví dụ: *Phân biệt bàn và bàng (trong từ đơn): Bàn= cái bàn , bàng =cây bàng
hoặc phân biệt Bác và bát : bác=anh của ba, Bác Hồ , bát = đồ dùng ăn cơm (bát đũa)
*Phân biệt chiêng và chiên
+ Giải nghĩa từ chiêng: Giáo viên có thể cho học sinh quan sát tranh ảnh cái chiêng hoặc miêu
tả đặc điểm (chiêng là nhạc cụ bằng đồng, hình tròn, đánh bằng dùi, âm thanh vang dội) + Giải nghĩa từ chiên: Giáo viên có thể cho học sinh đặt câu với từ chiên hoặc giải thích bằng định nghĩa (chiên là làm chín thức ăn bằng cách cho thức ăn vào chảo dầu, mỡ, đun trực tiếp trên bếp lửa)
Với những từ nhiều tiếng, từ nhiều nghĩa giáo viên phải đặt từ đó trong văn cảnh cụ thể để gợi lại nghĩa từ hoặc giúp học sinh giải nghĩa từ
d Ghi nhớ một số mẹo luật chính tả:
Một số hiện tượng chính tả mang tính quy luật đối với hàng loạt từ có thể giúp cho học sinh khắc phục lỗi chính tả một cách rất hữu hiệu Ngay từ lớp 1, các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản như: các âm đầu k, gh, ngh chỉ kết hợp với các nguyên
âm i, e, ê, iê, ie.
Để phân biệt dấu thanh hỏi/ngã: Các từ gộp âm chỉ mang thanh hỏi không mang thanh ngã:
- Trong + ấy = trỏng
- Trên + ấy = trển
- Cô + ấy = cổ
- Chị + ấy = chỉ
- Anh + ấy = ảnh
- Ông + ấy = ổng
- Hôm + ấy = hổm
- Bên + ấy = bển
Luật bổng - trầm: Qui luật về dấu hỏi, ngã trong các từ láy (mát mẻ, vui vẽ, sạch sẽ ) Trong các từ láy điệp âm đầu, thanh (hay dấu) của 2 yếu tố ở cùng một hệ bổng
(ngang/sắc/hỏi) hoặc trầm (huyền/ngã/nặng) Để nhớ được 2 nhóm này, giáo viên chỉ cần dạy cho học sinh thuộc nguyên tắc : Ngang- sắc = hỏi/ Huyền- nặng = ngã