1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nâng cao chất lượng giai cấp công nhân việt nam trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước

32 524 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 505,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nêu lên thực trạng của GCCN trong giai đoạn hiện nay đồng thời đưa ramột số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng của GCCN Việt Nam, giúpthích nghi với sự thay đổi của xã hội vượt qua nhữ

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 / Lí do chọn đề tài :

Trong xu thế toàn cầu hoá, với nền kinh tế tri thức và sự bùng nổ của côngnghệ thông tin, chuyển giao từ nền văn minh công nghiệp sang văn minh trítuệ, tất cả các nước trên thế giới đang thực hiện cuộc chạy đua để đạt đến cáiđích đó Quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá ( CNH-HĐH ) đất nướcđang diễn ra rầm rộ ở các quốc gia và tiếp cận ngày càng sâu văn minh trítuệ - một sự đầu tư vô cùng lớn cho tương lai Và trong sự nghiệp phát triển

đó, yếu tố về con người là yếu tố quan trọng bậc nhất chi phối các yếu tốkhác và cả quá trình đổi mới Con người là trung tâm và động lực của vậnhội đất nước, giai cấp công nhân (GCCN) lại là trung tâm của trung tâm đó Đất nướcViệt Nam chúng ta cũng đang trên con đường hội nhập cùng bạn

bè quốc tế, tiếp tục xây dựng và phát triển GCCN Việt Nam trong thời kìhiện nay là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của Đảng, nhà nước, của cả hệthông chính trị, của mỗi công dân và của toàn xã hội Nước ta đã chính thức

là thành viên của WTO, sức ép cạnh tranh và chuyển dịch lao động diễn rarất phức tạp và quyết liệt Đến năm 2020 ta cơ bản hoàn thành CNH-HĐH

để có một đất nước “ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh “ Vì thế yêu cầu đặt ra là phải có một GCCN đủ mạnh cả về số lượnglẫn chất lượng, có trình độ tay nghề cao, có kỉ luật và tác phong công nghiệp.GCCN chiếm giữ một vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp

Trang 2

đổi mới của đất nước, là trung tâm của xã hội GCCN Việt Nam có mặttrong tất cả các thành phần kinh tế, các ngành nghề đồng thời là lực lượngsản xuất cơ bản nắm giữ cơ sở vật chất quan trọng, quyết định phươnghướng phát triển của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Là lực lượng nòng cốt củaliên minh công – nông – trí thức, là nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc.

Do đó, GCCN cần có những thay đổi tích cực nhằm thích ứng với nhữngthay đổi của xã hội hiện đại cũng như không để mình bị tụt hậu và thực hiệntốt vai trò lãnh đạo của mình

Thực trạng của GCCN Việt Nam hiện nay đòi hỏi phải có những thayđổi, chuyển biến cụ thể, thiết thực Nếu không họ vẫn mãi là những conngười nghèo khổ không chỉ về vật chất mà còn nghèo cả về tư duy, kiếnthức Như thế họ sẽ dần mất đi vai trò tiên phong của Đảng cộng sản ViệtNam, không còn là lực lượng nòng cốt của Đảng, của khối đại đoàn kết toàndân tộc

Vấn đề về phương hướng nâng cao chất lượng của GCCN Việt Nam trongthời kì CNH-HĐH đất nước là một vấn đề quan trọng mang tính chất thờiđại cần được quan tâm sâu sắc và nếu giải quyết tốt thì nước ta sẽ nhanhchóng thành công trên con đường sự nghiệp trong tương lai Với tất cảnhững lí do trên, tôi chọn vấn đề này để làm đề tài cho bài nghiên cứu củamình

2 / Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 3

theo định hướng XHCN.

2.2) Nhiệm vụ

Nêu lên những vấn đề lí luận chung về GCCN

Làm rõ thực trạng của GCCN Việt Nam hiện nay

Đưa ra những phương hướng nhằm nâng cao chất lượng của GCCN ViệtNam trong giai đoạn CNH-HĐH đất nước

3) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

3.1) Đối tượng nghiên cứu

Giai cấp công nhân Việt Nam

3.2) Phạm vi nghiên cứu

Vấn đề về GCCN Việt Nam hiện nay là một vấn đề nóng cần được quantâm, nghiên cứu về vấn đề này là một việc làm mang tính xã hội cao Tuynhiên do trình độ kiến thức có hạn và thời gian không cho phép nên phạm vinghiên cứu còn hạn chế Ở đây chúng ta chủ yếu chú trọng vào tình hìnhGCCN Việt Nam từ những năm đổi mới (1986) đến nay và chủ trương pháttriển GCCN hiện nay của Đảng và nhà nước ta

4) Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu.

4.2) Phương pháp nghiên cứu :

Sử dụng những nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử nhằm nghiên cứu hệ thống lí luận về GCCN của chủnghĩa Mác- Lênin, vận dụng nó để đề ra phương hướng nhằm nâng cao chất

Trang 4

lượng của GCCN Việt Nam trong giai đoạn CNH-HĐH đất nước.

Đọc và phân tích những tài liệu liên qua đến GCCN thế giới nói chung vàGCCN Việt Nam nói riêng

Sử dụng các qui tắc diễn dịch, qui nạp nhằm trình bày nội dung bài tiểuluận

5) Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn.

5.1) Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu lí luận về GCCN trong điều kiện CNH-HĐH đất nước theođịnh hướng XHCN để thấy được vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng củaGCCN trong giai đoạn hiện nay

5.2) Ý nghĩa thực tiễn

Nêu lên thực trạng của GCCN trong giai đoạn hiện nay đồng thời đưa ramột số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng của GCCN Việt Nam, giúpthích nghi với sự thay đổi của xã hội vượt qua những khó khăn đưa đất nước

đi lên

6) Kết cấu tiểu luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận , mục lục và danh mục tài liệu tham khảo,tiểu luận gồm 2 chương và 5 tiết

Trang 5

1.1.1) Quan điểm của Mác – Ănghen về GCCN.

Trong hai tác phẩm “Tuyên ngôn Đảng cộng sản” của CacMác (1848)

và “CácMác”của Ănghen (1877) , hai ông đã nêu ra được những nét tổngquát, chỉ rõ sự khác nhau về địa vị , đặc điểm, sứ mệnh của từng giai cấptrong lịch sử Trên cơ sở đó, hai ông đã có những nhận định về GCCN

Thứ nhất : Về phương thức lao động của GCCN:

Hai ông cho rằng ,họ là những tập đoàn người lao động trực tiếp hay giántiếp vận hành những công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày cànghiện đại và có trình độ xã hội hóa cao Đặc trưng này phân biệt người côngnhân hiện đại với người thợ thủ công “Trong công trường thủ công và trongnghề nghiệp thủ công, người công nhân sử dụng công cụ của mình, còntrong công xưởng thì người công nhân phải phục vụ máy móc”

Trong xã hội tư bản thì “ tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêuvong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, còn GCVS lại là sản phẩmcủa bản thân nền đại công nghiệp”

Từ đặc trưng này mà Mác và Ănghen gọi GCCN là GCCN hiện đại hayGCCN đại công nghiệp

Thứ hai: Về địa vị của GCCN trong hệ thống quan hệ sản xuất TBCN:

Trang 6

Về mặt này, hai ông đã thấy được người công nhân không có tư liệu sảnxuất buộc phải bán sức lao động cho nhà tư bản để kiếm sống, khiến họ trởthành giai cấp lao động làm thuê cho giai cấp tư sản (GCTS) và là lực lượngđối kháng của GCTS Từ đặc trưng thứ hai này mà Mác và hen gọi GCCN làGCVS.

Trong tác phẩm “Những nguyên lí của chủ nghĩa cộng sản” , Ăghen cóđịnh nghĩa : “GCVS là giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ kiếm sống bằng việcbán sức lao động của mình chứ không phải sống bằng lợi nhuận của bất cứ

tư bản nào, đó là một giai cấp mà hạnh phúc và đau khổ, sống và chết, toàn

bộ sự sống của họ đều phụ thuộc vào số cầu về lao động, tức là vào tình hìnhdiễn biến tốt hay xấu của công việc làm ăn, vào những sự biến động củacuộc cạnh tranh không gì ngăn cản nổi Nói tóm lại, GCVS hay những người

vô sản là giai cấp lao động trong thế kỉ XIX”

1.1.2) Quan điểm của Lênin về GCCN.

Kế thừa và phát triển các quan điểm của chủ nghĩa Mác, trong tác phẩmsáng kiến vĩ đại” của mình, Lênin nhận định : “Người ta gọi là giai cấp,những tập đoàn người to lớn gồm những người khác nhau về địa vị của họtrong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau vềquan hệ của họ đối với những tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổchức lao động xã hội và như vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ và vềphần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng.Giai cấp là những tậpđoàn người mà tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác,

do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một thể chế kinh tế xã hộinhất định” Từ đó Lênin đã hoàn thiện thêm khái niệm về GCCN Theo ôngtrong các nước đi theo con đường XHCN về cơ bản GCCN cùng với nhândân lao động đã trở thành những người làm chủ những tư liệu sản xuất chủ

Trang 7

yếu của xã hội Địa vị kinh tế và chính trị của họ đã có những thay đổi cănbản”

Như vậy trên con đường hoàn thiện chủ nghĩa Mác, Lênin đã hé mở ra conđường giải phóng cho GCCN và nhân dân lao động khỏi áp bức bóc lột, đó

là giành quyền làm chủ cho chính mình

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa maxit cũng đã bàn về sứ mệnh lịch sử(SMLS) của GCCN, các ông cho rằng GCCN là giai cấp có SMLS lãnh đạonhân dân lao động đấu tranh xóa bỏ chế độ TBCN, xóa bỏ mọi chế độ ápbức bóc lột và xây dựng xã hội mới - xã hội XHCN và cộng sản chủ nghĩa

Đẻ thực hiện được nhiệm vụ đó thì GCCN phải là giai cấp thống trị về chínhtrị, là động lực và lực lượng lãnh đạo cuộc đấu tranh nhằm thủ tiêu mọi sự

áp bức, bóc lột và sự tha hóa của con người, sáng tạo xã hội mới, là lựclượng lãnh đạo toàn bộ cuộc đấu tranh để thủ tiêu toàn bộ giai cấp

Quá trình hoàn thành sứ mệnh đó phải trải qua hai giai đoạn là “ GCVSchiếm lấy chính quyền nhà nước và biến tư liệu sản xuất trước hết trở thànhcủa nhà nước” tiếp đó GCVS cũng tự thủ tiêu với tư cách là GCVS ,chính vìthế mà nó cũng xóa bỏ mọi sự phân biệt giai cấp và mọi đối kháng giai cấp”

Có như vậy GCCN mới xóa bỏ được xã hội có giai cấp, xóa bỏ chế độ ápbức bóc lột và hoàn thành SMLS của mình

1.1.3) Quan điểm của Hồ Chí Minh và Đảng ta về GCCN.

Trong quá trình ra đi tìm đường cứu nước, Bác Hồ đã làm rất nhiều côngviệc của người công nhân để kiếm sống và Người đã rút ra được kết luận :”Ởđâu CNTB cũng tàn ác vô nhân đạo, ở đâu GCCN và nhân dân lao độngcũng bị áp bức boác lột dã man, ở dâu người dân mất nước cũng khổ nhụcnhư nhau “.Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh thì tư tưởng về GCCNtrong sự nghiệp giải phóng dân tộc là một quan điểm nhất quán, đánh giá

Trang 8

đúng bản chất cách mạng và năng lực lãnh đạo của GCCN Trong cuốn

“Đường cách mệnh “ và các văn kiện được thông qua tại hội nghị thành lậpĐảng, các quan điểm về GCCN được Người khẳng định : “GCCN là gốccách mạng, là lực lượng, là giai cấp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đandrcộng sản Việt Nam là Đảng của GCCN Việt Nam, lấy chủ nghĩa Mác-Lêninlàm nền tảng và kim chỉ nam cho các hoạt động của Đảng, GCCN cần phảiđoàn kết với giai cấp nông dân và các thành phần dân tộc khác để đấu tranhgiải phóng dân tộc, thực hiện dân chủ và đi tới xã hội cộng sản, GCCN ViệtNam có mối liên hệ mật thiết với GCCN quốc tế” Người nhận rõ: “GCCNcác nước kể cả thuộc địa và chính quốc phải đoàn kết để chống kẻ thù chung

là CNTB, để giành lấy thắng lợi, cách mạng nhất định phải do GCCN lãnhđạo ,vì nó là giai cấp tiền tiến nhất ,giác ngộ nhất, kiên quyết nhất, có kỉ luậtnhất và có tổ chức chặt chẽ nhất”

Mở đầu nghị quyết 6 (khóa 10), Trung ương Đảng đã đưa ra khẳng định :

“GCCN là một lực lượng xã hội to lớn đang phát triển, bao gồm nhữngngười lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hìnhsản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh vàdịch vụ có tính chất công nghiệp”

Bác Hồ và Đảng ta đã có những nhận định đúng đắn về GCCN quốc tếnói chung và GCCN việt Nam nói riêng.Người cũng đã đề ra những đườnglối, chủ trương phát triển GCCN nước nhà Trong thời đại CNH-HĐH,Đảng ta cũng đã và đang lãnh đạo tiếp tục xây dựng và phát triển GCCNtheo chủ trương của Bác

Dựa trên quan điểm của các nhà triết học và tình hình của GCCN trong

sự phát triển khoa học công nghệ rút ra được định nghĩa : “GCCN là một tậpđoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển

Trang 9

của nền công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất

có tính xã hội hóa ngày càng cao, là lực lượng sản xuất cơ bản, tiên tiến, trựctiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vậtchất và cải tạo các quan hệ xã hội, là lực lượng chủ yếu của tiến trình lịch sửquá độ từ CNTB lên CNXH Ở các nước TBCN, GCCN là những ngườikhông có hoặc về cơ bản không có tư liệu sản xuất phải làm thuê cho GCTS

và bị GCTS bóc lột giá trị thặng dư Ở các nước XHCN, họ là những người

đã cùng nhân dân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu và cùngnhau hợp tác lao động vì lợi ích chung của toàn xã hội trong đó có lợi íchchính đáng của chính bản thân họ”

1.2.1) Nguồn gốc ra đời.

GCCN Việt Nam ra đời từ rất sớm, là sản phẩm trực tiếp của cuộc khaithác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp (1897) Thời kì này giai cấpnông dân chiếm trên 90% số dân, bị đế quốc phong kiến bóc lột nặng nềbằng các thủ đoạn sưu cao, thuế nặng, tô tức, phu phen, tạp dịch, tước đoạtruộng đất…Họ bị bần cùng hóa và phá sản trên qui mô lớn Trong lúc đó,thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam, chúng tước đoạt , phá hoại mọi thứ,thành lập các xưởng công nghiệp, xí nghiệp,đồn điền, hầm mỏ…và ngườinông dân phá sản phải vào làm việc ở đó rồi trở thành GCCN GCCN ViệtNam phát triển khá nhanh cả về số lượng lẫn chất lượng trong cuộc khai tháclần hai (1924-2929) của thực dân Pháp ở Việt Nam Họ thật sự trở thànhGCCN Việt Nam và là một bộ phận của GCCN thế giới

1.2.2) Đặc điểm.

Áp dụng chính sách khai thác thuộc địa trên toàn thế giới vào Việt Nam,thực dân Pháp khai thác nước ta một cách triệt để và bóc lột dân ta một cách

Trang 10

thậm tệ Bọn đế quốc thực dân sử dụng những cách thức bóc lột giống nhautrên toàn cầu nên GCCN trên toàn thế giới đều chịu tác động của những môitrường giống nhau do đó họ hình thành những đặc điểm chung giống nhau.GCCN Việt Nam cũng mang những đặc điểm chung của GCCN quốc tế như

là đại biểu cho lực lượng sản xuất tiến bộ nhất của xã hội, có điều kiện laođộng và sinh sống tập trung…Nhưng bên cạnh đó do ảnh hưởng của nhữngđiều kiện lịch sử của đất nước, những bản chất và truyền thống của dân tộcnên GCCN Việt Nam còn mang những đặc điểm riêng của mình Đó là :

Bị ba tầng áp bức bóc lột : Lúc bấy giờ, nước ta là một nước thực dân nửaphong kiến nên tồn tại nhiều tầng lớp trong xã hội, những tầng lớp thống trịđua nhau áp bức GCCN để làm giàu cho mình,đó là bọn thực dân xâm lược,bọn địa chủ phong kiến và cả bọn tay sai bán nước Nhân dân Việt Nam lúcbấy giờ nằm trong tình trạng “một cổ ba tròng”

Có quan hệ gắn bó tự nhiên mật thiết với giai cấp nông dân và các tầnglớp lao động khác : Người dân Việt Nam phần lớn là những người nông dânchất phác đi ra từ gốc ruộng, GCCN hầu hết xuất phát từ những người nôngdân, họ cùng có chung một nguồn gốc với nhau lại cùng chịu cảnh cực khổ

và sự bóc lột của giai cấp thống trị nên họ có sự gắn bó mật thiết với nhau.Đây là nguồn gốc để hình thành liên minh công nông vững mạnh và và khốiđại đoàn kết dân tộc trong đó GCCN là lực lượng đi đầu lãnh đạo trong côngcuộc đấu tranh tự giải phóng mình và giải phóng xã hội

Kế thừa truyền thống yêu nước anh hùng ,bất khuất của dân tộc : Sinh ratrong lòng một dân tộc có truyền thống đấu tranh bất khuất chống ngoạixâm, có truyền thống yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc và dần lớn lên trongkhông khí sục sôi của các phong trào yêu nước, các cuộc khởi nghĩa chốngthực dân, GCCN chịu sự ảnh hưởng và tiếp thu những nét tinh hoa đó tạo

Trang 11

thành bản chất quí báu luôn được nung nấu trong mình.

Tất cả những đặc điểm đó tạo thành nét đặc trung cho GCCN Việt Nam,góp phần thúc đẩy lực lượng phát triển và thực hiện nhiệm vụ cách mạngcủa mình

Từ khi trở thành giai cấp cầm quyền, GCCN Việt Nam luôn phát huy bảnchất cách mạng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, luôn là lực lượng đi đầu

và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp đẩy mạnh CNH-HĐH, xây dựng

và phát triển nền kinh tế công nghiệp và nền kinh tế tri thức hiện đại

Hiện nay, quá trình trí thức hóa GCCN diễn ra mạnh mẽ, từng bước hìnhthành GCCN trí thức Việt Nam

1.2.3) Vai trò lãnh đạo – sứ mệnh lịch sử.

Nói về SMLS của GCCN toàn thế giới, Ănghen đã khẳng định : “Thựchiện sự nghiệp giải phóng ấy đó là SMLS của GCVS hiện đại” SMLS củaGCCN do những điều kiện lịch sử quyết định :

Địa vị kinh tế - xã hội của GCCN là yếu tố quyết định đầu tiên : trongnền sản xuất đại công nghiệp, GCCN vừa là chủ thể trực tiếp nhất, vừa làsản phẩm căn bản nhất của nền sản xuất đó Họ đại diện cho lực lượng sảnxuất có trình độ công nghiệp hóa ngày càng cao và tiêu biểu cho phươngthức sản xuất mới tiến bộ hơn phương thức sản xuất TBCN, tiêu biểu cho xuthế phát triển của xã hội loài người Hơn nữa GCCN có những lợi ích cơ bảnthống nhất với lợi ích của đại đa số quần chúng nhân dân lao động là xóa bỏchế độ tư hữu TBCN, giành lấy chính quyền, tổ chức xây dựng xã hội mớikhông còn tình trạng áp bức bóc lột Trong xã hội TBCN, GCCN là nhữngngười vô sản , không có hoặc có rất ít tư liệu sản xuất, họ phải đi làm thuêcho nhà tư bản và bị bóc lột nặng nề, lâm vào tình trạng không còn gì đểmất Từ đó GCCN quyết đấu tranh và có khả năng tập hợp, đoàn kết các lực

Trang 12

lượng quần chúng lao động để giải phóng mình và toàn xã hội.

Về mặt chính trị, GCCN là giai cấp tiên phong cách mạng và có tinh thầncách mạng triệt để nhất ,là giai cấp có ý thức tổ chức kỉ luật cao và có bảnchất quốc tế Do đó GCCN mang trong mình sứ mệnh cao cả lãnh đạo nhândân lao động xóa bỏ chế độ TBCN, xóa bỏ mọi chế độ áp bức bóc lột và xâydựng xã hội mới – xã hội XHCN và cộng sản chủ nghĩa Đối với GCCN ViệtNam, về mảng lãnh đạo nhân dân xóa bỏ chế độ áp bức bóc lột, xây dựng xãhội mới XHCN, họ đã thực hiện hết sức thành công Mở đầu là cuộc đấutranh của công nhân viên chức các sở công thương của tư nhân ở Bắc Kìnăm 1922, tiếp đó là cuộc bãi công của thợ nhuộm ở Chợ Lớn (11/1922).Sang năm 1924 có nhiều cuộc bãi công của công nhân ở các nhà máy dệt,rượu, xay gạo ở Nam Định, Hà Nội, Hải Dương…quan trọng hơn là cuộc bãicông của thợ máy xưởng Ba Son Tháng 2/1930 ,nổ ra cuộc bãi công củacông nhân đồn điền Phú Riềng ,tiếp là công nhân nhà máy sợi Nam Định,nhà máy diêm và cưa Bến Thủy, xi măng Hải Phòng , hãng dầu Nhà Bè, đồnđiền Dầu Tiếng…đến đỉnh cao là phong trào Xô Viết Nghệ - Tĩnh và nhiềuphong trào khác Sau khi giành độc lập, đất nước ta thực hiện công cuộc đổimới quá độ lên CNXH và thực hiện CNH-HĐH đất nước

Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần 6 (khóa 10) khẳng định

“GCCN nước ta có SMLS to lớn: Là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông quađội tiền phong là Đảng cộng sản Việt Nam, giai cấp đại diện cho phươngthức sản xuất tiên tiến, giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng CNXH,lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước vì mục tiêu dân giàunước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, lực lượng nòng cốt trongliên minh GCCN với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạocủa Đảng” Trước mắt trong những năm tới thực hiện thắng lợi mục tiêu

Trang 13

“nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dântộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, huy động và sử dụng tốt mọinguồn lực cho CNH-HĐH đất nước, phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộcông bằng xã hội, tăng cường quốc phòng và an ninh, mở rộng quan hệ đốingoại chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chínhtrị sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng đến năm

2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại” Trước yêu cầu và thách thức lớn của thời đại, GCCN Việt Nam mang trênmình trọng trách nặng nề và để thực hiện được nhiệm vụ đó, GCCN nước tacần phải được hoàn thiện và phát triển về mọi mặt

1.3) TÌNH HÌNH GCCN VIỆT NAM SAU 20 NĂM ĐỔI MỚI

Qua 20 năm đổi mới, GCCN Việt Nam đã có những chuyển biến quan

trọng Tính đến đầu năm 2007, tổng số công nhân nước ta khoảng 9,5 triệungười ,chiếm 11% dân số và 21% lực lượng lao động xã hội Trong đó có1,94 triệu công nhân trong các doanh nghiệp nhà nước, 3,37 triệu công nhântrong các doanh nghiệp ngoài khu vực kinh tế nhà nước, 1,45 triệu côngnhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tửtực tiếp nước ngoài và khoảng2,27 triệu công nhân trong các loại hình sản xuất, kinh doanh khác GCCNnước ta đang tăng nhanh về số lượng và có mặt trong tất cả các thành phầnkinh tế So với cuối năm 2003, đầu năm 2007 số công nhân trong các doanhnghiệp tăng 30,5%, trong đó doanh nghiệp tư nhân và tập thể tăng 63%,công nhân doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 68%, công nhândoanh nghiệp giảm 15%

Đội ngũ công nhân nước ta ngày càng đa dạng về cơ cấu ngành nghề, trình

độ học vấn, chuyên môn, kĩ thuật được nâng lên đáng kể Đội ngũ công nhântăng nhanh trong một số ngành kinh tế mũi nhọn : điện lực, dầu khí, điện tử,

Trang 14

tin học, viễn thông…đồng thời cũng phát triển ở một số ngành sản xuất, chếbiến hàng xuất khẩu : dệt may, giày da, chế biến thủy sản…Đã hình thànhngày càng đông đảo bộ phận công nhân trí thức có trình độ cao đẳng, đại họctrở lên làm công tác quản lí sản xuất kinh doanh, nghiên cứu và quản lí khoahọc kĩ thuật gắn với sản xuất kinh doanh hoặc trực tiếp sản xuất Hàng chụcvạn cán bộ khoa học kĩ thuật, cán bộ quản lí doanh nghiệp, công nhân bậccao và thợ giỏi năng động , sáng tạo, có nhiều sáng kiến có giá trị cao được

áp dụng GCCN nước ta thích nghi tương đối nhanh với cơ chế thị trường , ýthức được giá trị của bản thân trong lao động, một bộ phận công nhân có cổphần trong doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa Một bộ phận công nhân cóbản lĩnh chính trị, lập trường giai cấp vững vàng Đại đa số có ý thức dân tộc, tinh thần yêu nước, cần cù lao động, tinh thần đoàn kết tương thân tương ái.Cùng với các giai cấp ,tầng lớp khác trong xã hội , GCCN là cơ sở chính trị -

xã hội vững chắc của Đảng và nhà nước

Trong liên minh GCCN với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự

lãnh đạo của Đảng, họ đã phối hợp với nhau chặt chẽ và đồng bộ hơn Đã cómột số mô hình liên kết trực tiếp công nhân với nông dân và nghiên cứukhoa học; công nhân, nông dân và trí thức trong sản xuất kinh doanh như môhình công ty mía đường Lam Sơn; hình thức liên kết bốn nhà : nhà nông,nhà doanh nghiệp,nhà khoa học, nhà nước; các hình thức liên kết trong thựchiện xây dựng cánh đồng 50 triệu đồng\ ha\ năm và hộ nông dân thu nhập 50triệu đồng \ năm

Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu GCCN nước ta cũng còn một số hạnchế : Sự phát triển của GCCN chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội về sốlượng, cơ cấu, trình độ học vấn, chuyên môn, kĩ năng nghề nghiệp , thiếunghiêm trọng các chuyên gia kĩ thuật, cán bộ quản lí giỏi, công nhân lành

Trang 15

nghề , tác phong công nghiệp và kỉ luật lao động còn nhiều hạn chế, chưađược đào tạo có hệ thống , chậm thích nghi với cơ chế thị trường của thờiđại CNH-HĐH Địa vị chính trị của GCCN chưa được thể hiện đầy đủ , cònnhiều hạn chế trong phát huy vai trò nòng cốt của liên minh công nhân-nôngdân-trí thức, giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị không đồng đều, hiểubiết pháp luật còn thấp Tỉ lệ Đảng viên và cán bộ lãnh đạo xuất thân từ côngnhân rất ít Việc làm và đời sống vật chấtđược cải thiện nhưng chưa côngnhân được hưởng tương ứng với công sức của mình, đời sống vật chất vàtinh thần còn nhiều khó khăn và thách thức.

* Nguyên nhân của thực trạng trên:

Đảng đã có những đường lối đổi mới , phát triển kinh tế- xã hội nhưngchưa được thực hiện triệt để , còn nhiều hạn chế yếu kém

Đảng có chú trọng xây dựng GCCN nhưng chưa đầy đủ, chưa ngang tầmvới vị trí, vai trò của GCCN trong thời đại mới

Nhà nước ban hành nhiều chính sách pháp luật xây dựng GCCN nhưngcòn nhiều hạn chế, bất cập

Tổ chức công đoàn và các tổ chức chính trị khác có đóng góp tích cực vàoviệc xây dựng GCCN nhưng hiệu quả chưa cao, còn nhiều yếu kém côngđoàn phát huy chưa hết vai trò là một tổ chức của GCCN

Bản thân GCCN có nổ lực vươn lên nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu Các doanh nghiệp và người sử dụng lao động có đóng góp tích cực choviệc làm và thu nhập của công nhân nhưng còn nhiều trường hợp vi phạmpháp luật đối với người lao động

Trong tình hình đó, GCCN Việt Nam phải phấn đấu hoàn thiện và pháttriển mình hơn nữa mới có thể đảm đương SMLS dân tộc Đảng, nhà nước

và nhân dân ta cũng đã và đang tiếp tục xây dựng , phát triển GCCN Việt

Trang 16

Nam trong thời kì CNH-HĐH để phục vụ đất nước.

CHƯƠNG 2 : NHỮNG PHƯƠNG HƯỚNG NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GCCN VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN CNH-HĐH ĐẤT NƯỚC.

2.1) THỰC TRẠNG GCCN VIỆT NAM HIỆN NAY.

2.1.1)Vài nhận xét về GCCN Việt Nam hiện nay.

Sau hơn 20 năm đổi mới, GCCN nước ta có những thành tựu và hạn chếnhất định.Trước công cuộc đổi mới của đất nước, công nhân Việt Nam cũng

có những vận động và biến đổi không ngừng, về cơ bản có thể nhìn nhậnGCCN Việt Nam hiện nay một cách tổng quát như sau :

Về cơ cấu trình độ học vấn và chuyên môn : Trình độ văn hóa, taynghề ,kĩ thuật của công nhân còn thấp, một bộ phận công nhân mới là nhữnghọc sinh mới rời trường phổ thông Số công nhân có trình độ cao đẳng, đạihọc ở Việt Nam khoảng 150 nghìn người , chiếm 3,3 % so với đội ngũ côngnhân nói chung ở Việt Nam Theo số liệu điều tra thì hiện nay 3% số ngườilao động chưa biết chữ , 12% chưa tốt nghiệp tiểu học , 73% chưa qua đàotạo nghề một cách chuyên nghiệp GCCN bao gồm những người lao động cótính công nghiệp (chân tay, thủ công) tại các công trường xây dựng; cácdoanh nghiệp, nông, lâm trường và các hộ tiểu chủ sản xuất; nhóm côngnhân công nghiệp cơ khí, nhất là các ngành công nghiệp nặng; nhóm côngnhân tự động hóa hay lao động công nghệ cao, lao động trí thức tại các khucông nghệ cao Trong các ngành nghề của công nhân, tỉ lệ công nhân cơ khí

và công nghiệp nặng còn rất thấp khoảng 20% tổng số công nhân cả nước.Trong khi đó, công nhân trong các ngành công nghiệp nhẹ và chế biến thựcphẩm lại chiếm tỉ lệ cao khoảng 40%

Về cơ cấu thành phần kinh tế : GCCN gồm có số công nhân làm việc trong

Ngày đăng: 04/02/2015, 21:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung Ương, Chương trình sơ cấp lí luận chính trị.NXB Chính trị quốc gia Hà Nội – 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình sơ cấp lí luậnchính trị
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà Nội – 2007
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin. NXB Chính trị quốc gia Hà Nội – 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Những nguyên lí cơ bản của chủnghĩa Mác – Lênin
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà Nội – 2009
3. Đinh Xuân Lãm, Nguyễn Xuân Minh, Trần Bá Đệ (đồng tác giả), Lịch sử lớp 12, tập 2.NXB Giáo dục, tháng 11- 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịchsử lớp 12, tập 2
Nhà XB: NXB Giáo dục
4. GS-TS Đỗ Nguyên Phương, Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học.NXB Chính trị quốc gia Hà Nội – 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà Nội – 2007
5. Giai cấp công nhân trước vận hội đất nước, báo Lao động số 95, ngày 26/04/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giai cấp công nhân trước vận hội đất nước
6. Tạp chí cộng sản , số 11, tháng 6 - 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí cộng sản
Năm: 2006
7. Tạp chí cộng sản, số 15(135) năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí cộng sản
10. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp Hành Trung Ương khoá X, báo Lao động số 36, ngày 17/02/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp Hành Trung Ương khoá X
Nhà XB: báo Lao động
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w