Cơ sở lí luận về vấn đề rèn kĩ năng nói tiếng Việt trong giờ Kể chuyện cho học sinh lớp 2 vùng dân tộc...2 1.. Thực trạng rèn luyện kĩ năng nói tiếng Việt trong giời Kể chuyện cho học si
Trang 1KHOA TIỂU HỌC – MẦM NON
Giáo viên hướng dẫn: Th.s.Võ Thị Hoa
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Minh Quyền
Lớp: ĐHGD Tiểu học - K08
Tam Kỳ, tháng 11 năm 2011
Trang 2Mục lục……….……… ……… …Trang
A MỞ ĐẦU 2
1 Lí do chọn đề tài 2
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Giới hạn đề tài 2
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
6 Phương pháp nghiên cứu 2
B NỘI DUNG 2
Chương I Cơ sở lí luận về vấn đề rèn kĩ năng nói tiếng Việt trong giờ Kể chuyện cho học sinh lớp 2 vùng dân tộc 2
1 Kể chuyện là gì? 2
2 Vị trí và nhiệm vụ của phân môn Kể chuyện trong chương trình lớp 2 2
3 Những hình thức phát triển ngôn ngữ nói trong chương trình Tiếng Việt ở tiểu học 2
4 Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 2 vùng dân tộc 2
5 Đặc điểm phân môn Kể chuyện ở lớp 2 2
6 Ý nghĩa của việc rèn kĩ năng nói tiếng Việt qua phân môn Kể chuyện 2
Chương II Thực trạng rèn luyện kĩ năng nói tiếng Việt trong giời Kể chuyện cho học sinh lớp 2 trường Tiểu học Trà Bui huyện Bắc Trà My 2
1 Vài nét về trường Tiểu học Trà Bui huyện Bắc Trà My 2
2 Thực trạng rèn luyện kĩ năng nói tiếng Việt trong giời Kể chuyện lớp 2 trường Tiểu học xãTrà Bui huyện Bắc Trà My 2
2.1 Về phia giáo viên……… ……… …… 12
2.2 Về phía học sinh 2
3 Nguyên nhân dẫn đến học sinh lớp 2 nói tiếng Việt kém 2
4 Một số biện pháp nhằm rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt trong giờ Kể chuyện cho học sinh lớp 2 2
C KẾT LUẬN 2
Trang 3A MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Bậc tiểu học là nền móng đầu tiên để giúp con người tồn tại và pháttriển Đặc biệt là môn Tiếng Việt có vị trí quan trọng trong tất cả các phân môn ởtrường, nó hình thành khả năng giao tiếp, là cơ sở để phát triển tư duy cho trẻ đểtiếp thu vá các môn học khác Mỗi môn học ở tiểu học đều góp phần hình thành
và phát triển nhân cách của trẻ và cung cấp cho trẻ những tri thức cần thiết Kểchuyện là phân môn có vị trí đặc biệt trong dạy học tiếng mẹ đẻ, trong hoạt độnggiao tiếp Kể chuyện vận dụng một cách tổng hợp sự hiểu biết về đời sống và tạođiều kiện để học sinh rèn luyện một cách tổng hợp các kĩ năng tiếng Việt như nghe,nói, đọc, viết trong giao tiếp chương trình Thông qua Kể chuyện, các em được rènkhông chỉ kĩ năng nghe mà còn rèn kĩ năng nói đúng, nói hay, nói rõ ràng, mạch lạc
và nói một cách truyền cảm Mặc dù trong Chương trình Tiếng Việt ở Tiểu họckhông có phân môn dành riêng cho phát triển kĩ năng nói nhưng phân môn Kểchuyện có nội dung phát triển ngôn ngữ nói Nói là một hoạt động quan trọng và lờinói phương tiện giao tiếp chủ yếu và quan trọng trong cuộc sống Không chỉ vậy, lờinói còn là sự thể hiện tưu duy dựa vào phương tiện ngôn ngữ (từ, cụm từ, câu).Muốn nói tốt, ngoài yêu cầu phát âm còn phải vốn từ vựng, câu làm chất liệu để nói
và khả nghe, nhận diện ngôn ngữ khi giao tiếp Tiếng Việt là tiếng phổ thông, ngônngữ chính thức được dùng trong nhà trường, cũng là phương tiện quan trọng để giaotiếp và chiếm lĩnh tri thức Đối với học sinh dân tộc, tiếng Việt không phải là tiếng
mẹ đẻ mà là ngôn ngứ thứ hai trong giao tiếp
Chương trình dạy Tiếng Việt, phân môn Kể chuyện cho học sinh dântộc theo Chương trình mà Bộ đã quy định Mặc dù hiện nay, nhiều tỉnh đã tổchức hoạt động dạy tiếng Việt cho trẻ em dân tộc trước khi bước vào lớp 1 nhưngcon số đó cũng rất khiêm tốn Khi vào lớp 1 các em sẽ được học các âm, vần, các
Trang 4dấu tiếng Việt giống như trẻ em Kinh Có thể khẳng định một điều: Đi học là mộtbước ngoặc lớn trong đời của trẻ và càng quan trọng đối với trẻ em ở vùng dântộc thiểu số Bất cứ một phân môn, môn học nào cũng rèn luyện kĩ năng nghe,nói, đọc, viết cho học sinh Trong đó giờ học Kể chuyện là một điều kiện thíchhợp để rèn kĩ năng giao tiếp (nghe – nói) bằng tiếng Việt cho các em dân tộc.Lớp 2 là lớp học kế thừa của lớp 1, sửa sai (phát âm, cách dùng từ) đồng thời bổsung những gì còn thiếu, chưa hoàn thành ở lớp 1 và trang bị kiến thức, kĩ năngmới chuẩn bị chuyển sang lớp 3 Trong chương trình lớp 2, phân môn Kể chuyệngắn liền với phân môn Tập đọc nên các em sẽ tự tin và có khả năng làm chủ ngônngữ của mình hơn.
Thế nhưng, học sinh lớp 2 ở các vùng dân tộc gặp rất nhiều khó khăn tronggiao tiếp, các em không tự tin giao tiếp với các bạn, phát âm sai thường phát âmmất dấu, sai vần và sai cả phụ âm đầu Chủ yếu là do ảnh hưởng bởi tiếng mẹ đẻ,môi trường giao tiếp hạn hẹp và không thuần nhất: Trong lớp nghe giáo giảng bàiđôi lúc dùng 2 thứ tiếng mới hiểu nội dung bài Khi ra chơi và về nhà, bản làngthì các em hoàn toàn giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ Vì vậy, dạy tiếng Việt và rèn kĩnăng nói tiếng Việt cho học sinh dân tộc đặc biệt là học sinh lớp 2 là rất cần thiết
Là giáo viên Tiểu học cần có những biện pháp truyền thụ tiếng Việt và kĩ nănggiao tiếp cho các em để các em có cơ hội thay đổi cuộc đời, hòa nhập với cuộcsống ngày một tân tiến này Giời học phân môn Kể chuyện là điều kiện tốt đểgiáo viên rèn kĩ năng nghe - nói tiếng Việt, sửa các lỗi sai khi phát âm và cungcấp thêm vốn từ cho các em
Chính vì những lí do trên, tôi quyết định chọn đề tài: “Một số biện pháp
rèn kĩ năngnói tiếng Việt trong giờ Kể chuyện cho học sinh lớp 2 vùng dân tộc” để nghiên cứu nhằm giúp các em nói tiếng Việt đúng và lưu loát hơn, học
tập hiệu quả hơn
Trang 52 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn của vấn đề rèn luyện kĩ năng nói tiếngViệt qua phân môn Kể chuyện cho học sinh lớp 2 vùng dân tộc Đưa ra những biệnpháp thiết thực để giúp các em nói tiếng Việt tốt hơn
3 Giới hạn đề tài
Một số biện pháp rèn kĩ năng nói tiếng Việt cho học sinh lớp 2 trường Tiểuhọc Trà Bui huyện Bắc Trà My
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể: Quá trình rèn kĩ năng nói tiếng Việt cho học sinh lớp
2 trong giờ Kể chuyện
- Đối tượng: Một số biện pháp rèn kĩ năng nói tiếng Việt cho họcsinh lớp 2 vùng dân tộc
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng dạy - học dạy học Kể chuyện và rèn luyện kĩ nănggiao tiếp cho học sinh lớp 2 trường Tiểu học Trà Bui huyện Bắc Trà My
- Tìm ra nguyên nhân dẫn đến hạn chế của học sinh dân tộc lớp 2 khinói tiếng Việt
- Đưa ra một số biện pháp thiết thực để khắc phục
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
6.2 Phương pháp điều tra
6.3 Phương pháp phỏng vấn
Trang 6B NỘI DUNG
Chương I Cơ sở lí luận về vấn đề rèn kĩ năng nói tiếng Việt trong giờ Kể
chuyện cho học sinh lớp 2 vùng dân tộc.
1 Kể chuyện là gì?
Kể chuyện bao hàm bốn phạm trù ngữ nghĩa sau:
- Chỉ loại hình tự sự trong văn học (phân biệt với loại hình trữ tình, loại hìnhkịch) còn gọi là truyện hoặc tiểu thuyết
- Chỉ tên một phương pháp nói trong diễn giảng
- Chỉ tên một loại văn thuật chuyện trong môn Tập làm văn
- Chỉ tên một phân môn được học ở các lớp trong trường Tiểu học
a) Văn kể chuyện là văn trong truyện hoặc trong tiểu thuyết
Do đó, đặc điểm của văn kể chuyện cũng là đặc điểm của truyện Đặc trưng
cơ bản của truyện là tình tiết, tức là có sự việc đang xảy ra, đang diễn biến, cónhân vật với ngôn ngữ, tâm trạng, tính cách riêng
b) Kể chuyện là một phương pháp trực quan sinh động bằng lời nói Khicần thay đổi hình thức diễn giảng nhằm thu hút sự chú ý của người nghe, người
ta cũng xen kẽ phương pháp kể chuyện Với các môn khoa học tự nhiên, kểchuyện thường được dùng trong phần kể về tiểu sử tác giả, miêu tả quá trìnhphát minh, sáng chế, quá trình phản ứng hóa học
c) Văn kể chuyện là một loại văn mà HS phải được luyện tập diễn đạtbằng miệng hoặc bằng viết thành bài theo những quy tắc nhất định Vì tính chấtphổ biến và ứng dụng rộng rãi của loại văn này nên nó trở thành loại hình cầnđược rèn kĩ năng, kĩ xảo bên cạnh các loại hình văn miêu tả, văn nghị luận
d) Kể chuyện là một môn học của các lớp Tiểu học bao gồm việc kểnhiều loại truyện khác nhau, kể cả truyện cổ và truyện hiện đại, nhằm mục đíchgiáo dục, giáo dưỡng, rèn kĩ năng nhiều mặt của một con người
Trang 72 Vị trí và nhiệm vụ của phân môn Kể chuyện trong chương trình lớp 2
Kể chuyện có vị trí quan trọng của bộ môn Tiếng Việt lớp 2, đó là nhu cầu khôngthể thiếu đối với các em Kể chuyện có vị trí đặc biệt trong dạy học tiếng mẹ đẻ, trước hết
vì hành động kể là một hành động “nói” đặc biệt trong hoạt động giao tiếp Kể chuyệnvận dụng một cách tổng hợp sự hiểu biết về đời sống và tạo điều kiện để học sinh rènluyện một cách tổng hợp các kĩ năng tiếng Việt như nghe, đọc, nói trong hoạt động giaotiếp Khi học sinh kể chuyện là các em đang tái sản sinh hay sản sinh một tác phẩm nghệthuật ở dạng lời nói Vì truyện là một tác phẩm văn học nên kể chuyện có được cả sứcmạnh của văn học Truyện có khả năng bồi dưỡng tâm hồn trẻ thơ Sự hiểu biết về cuộcsống, về con người, tâm hồn, tình cảm của các em sẽ nghèo đi biết bao nhiêu nếu không
có phân môn học Kể chuyện trong trường học
Phân môn Kể chuyện trong chương trình lớp 2 có những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Phát triển kĩ năng nghe, nói tiếng Việt cho học sinh: kĩ năng đối thoại và độc thoại + Kĩ năng độc thoại: Được rèn luyện thông qua các bài tập kể lại câu chuyện đãđược nghe, đọc bằng lời của của các em
+ Kĩ năng đối thoại: Tập dựng lại câu chuyện đã học theo vai, sử dụng các yếu tốphụ trợi trong giao tiếp (nét mặt, cử chỉ, điệu bộ…)
- Củng, cố mở rộng vốn từ, phát triển tư duy hình tượng và tư duy logic, nâng cao
sự hiểu biết của các em về đời sống thông qua những câu chuyện có nội dung phong phú
- Bồi dưỡng tình cảm tốt đẹp, trao dồi hứng thú đọc và kể chuyện, đem lại niềmvui tuổi thơ cho học sinh trong hoạt động học tập
3 Những hình thức phát triển ngôn ngữ nói trong chương trình Tiếng Việt ở tiểu học
- Luyện nói (lớp 1): Luyện nói theo chủ đề (kể chuyện); luyện nói theo câu cótiếng chứa âm vần đã học; hội thoại theo nội dung bài đọc hoặc về một chủ đề đợngiản, gần gủi
- Rèn luyện các nghi thức lời nói trong giao tiếp thông thường: chào hỏi, cảm
ơn, xin lỗi, yêu cầu…
Trang 8- Thực hành trao đổi, trò chuyện với người khác: họp lớp, hopk Đội; giảithích vấn đề đang tao đổi; tán thành, bác bỏ hay bảo vệ kiến…
- Nói thành bài: giới thiệu về bản thân, gia đình, bạn bè; thông báo tin ngắn;thuật lại câu chuyện hoặc sự việc đã nghe, đã chứng kiến…
- Kể chuyện: Kể chuyện đã nghe, đã đọc theo lời của mình; kể chuyện phân vai
4 Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 2 vùng dân tộc.
Học sinh lớp 2 ghi nhớ một cách máy móc, chưa có khả năng phân tích
tự giác Khả năng phân tích các hiện tượng trong tập luyện, lao động, sinhhoạt còn kém nên dễ bị kích động khi nắc nhở, sai bảo, dẫn đến biểu hiện kém
tự tin, kém khả năng kiềm chế hành vi, thái độ Về tình cảm, thái độ cư xử sinhhoạt, học tập của học sinh chưa ổn định Các em thường xuyên xúc động, thay đổi tâmtrạng vui – buồn trong các hoạt động, một thời điểm Các phẩm chất tâm lí như: tínhđộc lập, sự kiềm chế, tự chủ còn thấp
Đặc điểm tâm lý còn biểu hiện đặc trưng nhân cách của học sinh lớp 2, các
em vẫn còn hồn nhiên ngây thơ nhiều khả năng phát triển Các em dễ tin, tin vàothầy cô mình, tin vào sách, tin những điều nhà trường, gia đình dạy dỗ, giáo dục Sovới lớp 1, các em lớp 2 đã có nhận thức riêng lẻ khá phát triển đặc biệt là thị giác.Các em không chỉ nhận biết và gọi tên hình dạng, màu sắc của sự vật, xác định mốitương quan gần và ngắn về không gian tri giác mà có khả năng quan sát tinh tế, cómục đích
Lứa tuổi các em dễ cảm xúc trước thế giới, các sự vật và hiện tượng cụ thểhấp dẫn, lời triết lý khô khan, thiếu hình ảnh sinh động, khó gây cảm xúc ở trẻ Trẻlớp 2 thể hiện cường độ cảm xúc mạnh mẽ dễ xúc động, khó làm chủ tình cảm củamình, tình cảm của các em chưa bền vững Quá ttrình học tập được điều khiển có ýthức, các em thường hay ghi nhớ máy móc, thường học đúng từng câu, từng chữ,chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết sử dụng sơ đồ lôgíc
Trang 95 Đặc điểm phân môn Kể chuyện ở lớp 2.
Các em kể chuyện trong 31 tuần, tiết kể chuyện được dạy học ở tiết thứ haicủa mổi tuần Nội dung kể chuyện gắn chặt chẽ với phân môn Tập đọc: Nội dungcác câu cuyện là kể lại các câu chuyện đã được học trong các bài Tập đọc
Sử dụng hệ thống tranh minh họa và các câu hỏi gợi làm điểm tựa cho các emthực hành kể chuyện
Chỉ ra phương pháp luyện tập thực hành kể chuyện cho học sinh thông quacác kiểu bài kể chuyện từ dễ đến khó, từ ít tình tiết đến nhiều tình tiết
6 Ý nghĩa của việc rèn kĩ năng nói tiếng Việt qua phân môn Kể chuyện.
Lời nói là một hoạt động của con người, là sự thể hiện tư duy dựa vào phươngtiện ngôn ngữ (từ, cụm từ, câu…) Muốn nói tốt yêu cầu học sinh phải có vốn từ tốt vàthường xuyên rèn luyện Đối với học sinh dân tộc thì việc rèn kĩ năng nghe - nói tiếngViệt cho các em là công việc rất cần thiết, phần lớn các em khi tới trường chưa biếthoặc biết chút ít tiếng Việt, phát âm chưa chuẩn, hiểu nghĩa không chính xác
Ngôn ngữ - tiếng nói từ tác dụng sơ khai là trao đổi thông tin đã đóng vai tròbiểu hiện tình cảm, trạng thái tâm lý và là một yếu tố quan trọng biểu lộ văn hoá,tính cách con người Việc giáo dục lời nói trong giao tiếp từ xưa đã được ông cha tarất coi trọng Mặt khác việc giao tiếp, ứng xử khéo léo cũng giúp chúng ta thành
công về nhiều lĩnh vực Với trẻ em, lứa tuổi đang hình thành nhân cách, ngay từ khi
các em còn rất nhỏ, chúng ta đã rất chú trọng:
“Trẻ lên ba, cả nhà học nói”
Dạy tiếng Việt cho học sinh vùng dân tộc không có nghĩa là chỉ dạy các em
kĩ năng đọc, viết, nghe mà dạy các em biết sử dụng những lời nói biểu cảm tronggiao tiếp là một mảng vô cùng quan trọng
Trang 10Chương II Thực trạng rèn luyện kĩ năng nói tiếng Việt trong giời Kể chuyện cho học sinh lớp 2 trường Tiểu học Trà Bui huyện Bắc Trà My.
1 Vài nét về trường Tiểu học Trà Bui huyện Bắc Trà My.
Trường Tiểu học Trà Bui thuộc xã Trà Bui, một xã nằm về phía tây namhuyện Bắc Trà My, có diện tích tự nhiên hơn 17.325ha với gần 5.240 dân Ngoàithôn 1 ở bên này sông Tranh, việc đi lại tương đối thuận lợi vì có tuyến đườngĐT.616 chạy ngang qua, 5 thôn còn lại đều ở bên kia sông Tranh và bị xé lẻ bởi cácsông Tam Lang, Tam Lung, suối Dê, suối Trường tiểu học Trà Bui tại có 245 em tớilớp, các em đều dân tộc Cadong, Mơnông, Xêđăng Gia đình của các tự túc tự cấpbằng nghề làm vườn rừng, chăn nuôi gia súc gia cầm, từng bước tự lực cánh sinhtrong việc xóa đói giảm nghèo
2 Thực trạng rèn luyện kĩ năng nói tiếng Việt trong giời Kể chuyện lớp 2 trường Tiểu học xãTrà Bui huyện Bắc Trà My.
Chương trình dạy học Kể chuyện lớp 2 cho các em vùng dân tộc cũng giống như các
em người Kinh, một tuần học 1 tiết, 35 tuần các em học 31 tiết kể chuyện và nộidung câu chuyện đều là nội dung của bài Tập đọc trước đó Cụ thể như sau:
Trang 1114 Câu chuyện bó đũa Câu chuyện bó đũa
21 Chim sơn ca và bông cúc trắng Chim sơn ca và bông cúc trắng
22 Một trí khôn hơn trăm trí khôn Một trí khôn hơn trăm trí khôn
30 Ai ngoan sẽ được thưởng Ai ngoan sẽ được thưởng
Những câu chuyện trong các bài học góp phần quan trọng hình thành ở trẻnhận thức đúng đắn về thế giới xung quanh và trách nhiệm của bản thân các em, từnhững chuyện lớn lao như quan hệ giữa con người với thiên nhiên (con người biếtchinh phục thiên nhiên nhưng cũng phải biết sống hòa hợp với thiên nhiên: ÔngMạnh thắng Thần Gió), bảo vệ môi trường (chim chóc, hoa cỏ cũng có cuộc sốngriêng của chúng, đừng làm hại chúng: Chim sơn ca và bông cúc trắng), đoàn kết dântộc (các anh em trên đất nước ta đều chung một gốc: Chuyện quả bầu) đến tình cảmgia đình (biết quan tâm đến ông bà: Sáng kiến của bé Hà; biết vâng lời cha mẹ: Sựtích cây vú sữa; anh em phải yêu thương, đùm bọc nhau: Câu chuyện bó đũa, Haianh em), bạn bè (bạn tốt là người dám hi sinh vì bạn: Bạn của Nai Nhỏ; những kẻgiả dối, bội bạc thì không có bạn: Quả tim khỉ; không nên đùa ác với bạn, cần đối xửtốt với các bạn gái: Bím tóc đuôi sam); đức kiên trì, nhẫn nại (kiên trì nhẫn nại thì sẽthành công: Có công mài sắt có ngày nên kim),
Trang 12Trường Tiểu học Trà Bui có 15 giáo viên, trong đó có 10 giáo viên đứng lớpchủ nhiệm Đa số giáo viên là nữ đều trẻ: giáo viên vừa tốt nghiệp, dạy một vài nămnên có kinh nghiệm Bên cạnh đó, giáo viên không biết tiếng dân tộc nên sự giaothoa giữa giáo viên và học sinh rất khó Cô nói trò không hiểu, trò nói cô cũngkhông hiểu Hằng năm, các giáo viên trẻ này thường lên dạy sớm để dạy tiếng Việtcho các em, đồng thời trao dồi kiến thức về phong tục, tập quán, học tiếng dân tộc.Phần lớn, học sinh ở đây đến ngày mùa thường theo cha mẹ lên nương rẫy và ở luôntại rẫy, do đó đội ngũ giáo viên của trường phải nhiệt tình, tâm huyết, đi đến từngnhà để vận động các em ra lớp
Tinh thần nhiệt huyết, yêu nghề, yêu trẻ cũng chính là động lực để các giáoviên trẻ cống hiến sức trẻ mang con chữ đến cho vùng cao Có thể nói, con chữ gieo
ở vùng cao là cả một quá trình miệt mài, gian nan đối với các cô, các thầy Để giúpnắm vững kiến thức đã học, hiểu biết thêm về các lĩnh vực xã hội thì việc học tiếngViệt là một điều cần thiết đối với học sinh Trà Bui này Việc rèn luyện các kĩ năngnghe, nói, đọc viết cho các em không chỉ là nhiệm vụ riêng của môn Tiếng Việt mà
là nhiệm vụ chung của tất các môn học, các hoạt động tổ chức ngoài giờ lên lớp.Từng phân môn trong Tiếng Việt cũng đảm nhận nhiệm vụ chung như vậy Kểchuyện là điều kiện tốt để các em nghe, nói giao tiếp với nhau không chỉ bằng lờinói mà bằng cử chỉ, hành động, cảm xúc nhập vai vào các nhân vật theo ngôn ngữriêng của các em Các cô dạy Kể chuyện ở lớp 2 vẫn đi theo khung chương trình mà
Bộ giáo dục đã quy đinh Thế nhưng, dạy Kể chuyện cho học sinh lớp 2 Trà Bui vẫnchưa đạt hiểu quả cao, chưa chú trọng đến việc cung cấp vốn từ cho các em, khôngbao quát hết lớp Hình thức dạy học chủ yếu: cả lớp và phương pháp dạy học: kểchuyện, đảm thoại Đồ dùng dạy học thô sơ, đơn giản: chủ yếu sách giáo khoa, vớiviên phấn, cái bảng, tranh ảnh thư viện có thì dùng nếu không thì dạy theo kiểuchay, giáo viên chưa đầu tư trang thiết bị để phụ vụ cho việc lên lớp giảng dạy.Trong dạy học, đồ dùng dạy học là phương tiện hổ trợ cho bài giảng của giáo viên,
Trang 13chi phối phương pháp dạy học của giáo viên theo lối truyền thống nghèo nàn, haytruyền thống đổi mới, hay hiện đại và từ đó ảnh hưởng đến kết dạy – học.
Xét về quy trình dạy Kể chuyện, các giáo viên đi theo từng bước như sau:
+ Giới thiệu bài+ Giáo viên kể 2 lần+ Học sinh kể từng đoạn của câu chuyện+ Học sinh kể lại toàn bộ câu chuyện+ Giáo viên nhận xét và giúp học sinh hiểu nghĩa của câu chuyệnCác cô trong khi kể cho các em nghe với tốc độ chậm rãi, ngắt nghỉ đúng lúc,nhấn giọng…thế nhưng chưa phát huy được tính tích cực của học sinh, chưa tổ chứcthảo luận nhóm kể theo ngôn ngữ của các em Điều quan trọng, các cô chưa vậndụng khoa học kĩ thuật vào trong giảng dạy, thiếu đồ dùng trực quan, kể chuyệnkhông kết hợp với tranh ảnh Như vậy, học sinh với trình độ lớp 2 mà là dân tộc thìcác em khó nắm được nội dung bài
2.2 Về phía học sinh
Có một thực tế đang diễn ra đối với học sinh vùng dân tộc thiểu số là số họcsinh chưa được tiếp xúc với tiếng Việt trong các lớp mầm non, mẫu giáo chiếm tỉ lệkhá cao, tập trung ở bản vùng sâu, vùng xa, nơi không có điều kiện thành lập cáctrường mầm non Hoặc nếu có thì chỉ mới dừng lại ở việc trông nom mà chưa chútrọng nhiều đến việc cho trẻ có những tiếp xúc ban đầu với tiếng Việt Đây là mộtthiệt thòi lớn của học sinh miền núi so với học sinh vùng đồng bằng, thành phố Khivào học ở trường Tiểu học, do không nói được tiếng phổ thông, nhiều học sinh tỏ ra
e dè, nhút nhát, thiếu tự tin
Trong khi đó, đa số giáo viên công tác ở các trường miền núi, nhất là đối vớinhững giáo viên trẻ mới ra trường lại không biết hoặc biết rất ít tiếng dân tộc Tìnhtrạng bất đồng ngôn ngữ giữa người học và người dạy, giáo viên nói học sinh khônghiểu diễn ra khá phổ biến Học sinh không sử dụng thành thạo tiếng Việt tất yếu sẽ