1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự biến đổi của mô hình quan hệ giới trong gia đình ở vùng ven đô thị

141 397 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 207,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiếp tục khai thác các quỹ hỗ trợ tín dụng cho nhân dân để phát triển sản xuất theo mục tiêu chương trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế của huyện nhằm cải thiện đời sống, nâng cao thu nhập c

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU

Đề tài: "Sự biến đổi của mô hình quan hệ giới trong gia đình ở vùng ven đô thị" (Điển cứu trường hợp huyện Cần Giờ – Thành phố Hồ Chí Minh)

1 Lý do chọn đề tài:

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Giới là chủ đề được quan tâm nghiên cứu trong hai thập niên gần đây vì nó gắn liền với các chiến lược phát triển bền vững của quốc gia Đã có khá nhiều đề tài tập trung nghiên cứu đặc điểm về giới ở Việt Nam với mục tiêu xác định mô hình quan hệ giới ở nhiều cấp bậc và môi trường xã hội khác nhau

1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

Giới hạn địa lý: Ranh giới hành chính được xác định như sau:

Phía Bắc giáp xã Bình Khánh, huyện Cần Giờ,

Phía Nam giáp xã Long Hòa, xã Lý Nhơn huyện Cần Giờ’

Phía Đông giáp xã Tam Thôn Hiệp, huyện Cần giờ’

Phía Tây giáp sông Soài Rạp, huyện Nhà Bè’

An Thới Đông có 2 con sông lớn chảy qua, đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội và giao lưu với các khu vực khác.

1.1.2 Diện tích tự nhiên

Diện tích tự nhiên: 10372 ha, chiếm 14,73% diện tích tự nhiên của huyện Địa bàn xã gồm 6 ấp: An Bình, An Hòa, An Đông, An Nghĩa, Rạch Lá, Doi Lầu Nhân dân trên địa bàn xã chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, thương nghiệp dịch vụ.

1.1.3 Đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu

Trang 2

Về địa hình: Địa bàn có địa hình bằng phẳng, cao trình tự nhiên từ 0,70 đến

1,20 m, thuận lợi cho việc thi công và cấp nước theo triều, nuôi trồng thủy sản.

Về thổ nhưỡng: gồm 2 nhóm chủ yếu:

Đất phù sa trên nền phèn tiềm tàng, nhiễm mặn mùa khô chiếm 30% tổng diện tích tự nhiên, phân bố thành hành lang theo đê tự nhiên ven sông Nhóm đất này có đặc tính là: hàm lượng bùn ở tầng mặt tương đối khá, nhưng giảm mạnh về chiều sâu, lân và kali tổng số ở mức trung bình Yếu tố hạn chế là không có nguồn nước ngọt vào mùa khô.

Nhóm đất phèn phân bố trên địa bàn xã được cấu tạo theo ven sông, có số lượng phù sa màu mỡ sau khi triều cường.

Về khí hậu: Địa bàn nằm trong khu hậu gió mùa cận xích đạo Trong năm

có một mùa mưa khô tương phản sâu sắc Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, bắt đầu khoảng 20 – 25 tháng 5, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, bắt đầu khoảng 20 – 25 tháng 12 Lượng bức xạ mặt trời phong phú, cán cân bức xạ trong năm 94Kcal/cm2 Số giờ nắng trong năm dồi dào, số giờ nắng giảm dần trong mùa mưa và tăng dần trong mùa khô Tháng 9 có số giờ nắng ít nhất và tháng 3 có số giờ nắng nhiều nhất Nhiệt độ tương đối cao trung bình tháng từ 25,7 -28,8 0C Trong những tháng mùa mưa, độ ẩm trong không khí tương đối trung bình khoảng 80 – 86%, trong đó tháng 9 là cao nhất Trong các tháng mùa khô độ ẩm là thấp hơn, nhất là tháng 2 và 3 chỉ có 71%.

1.2 Tài nguyên thiên nhiên

1.2.1Đất đai:

Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 10372 ha Trong đó, diện tích đất nông nghiệp là 8212,49 ha chiếm 79,17% diện tích của xã, đất phi nông nghiệp là 2127,02 ha chiếm 20,51% tổng diện tích, còn lại là 32,97 ha đất chưa sử dụng gồm đất bãi bồi ven sông

Diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 8212,49 ha Trong đó đất trồng lúa là 1253,73 ha (tuy nhiên do dịch bệnh trên cây lúa, hiệu quả sản xuất không cao nên

Trang 3

năm 2008 nông dân chỉ trồng 445 ha diện tích, còn lại lồng ghép nuôi trồng thủy sản), đất rừng phòng hộ là 5485,88 ha và 1472,88 ha đất nuôi trồng thủy sản.

1.2.2Tài nguyên nước

Là một xã có diện tích mặt nước khá lớn (bao gồm hồ, ao sông, mặt nước biển) so với tổng diện tích tự nhiên toàn xã, có các con sông lớn chảy qua (sông Soài Rạp, sông Vàm Sát, sông Lòng Tàu), có tiềm năng rất lớn, thuận tiện trong giao thông đường thủy, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, dịch vụ du lịch.

1.2.3 Tài nguyên rừng

Địa bàn xã 5485,88 ha đất rừng phòng hộ, là tiềm năng cho việc phát triển

du lịch sinh thái, đồng thời là điều kiện giải quyết việc làm cho hơn 34 lao động của 12 hộ giữ rừng.

1.3 Nhân lực

1.3.1 Dân số:

Dân số toàn xã là 13415 nhân khẩu (nam 6561 người, chiếm 48,9%; nữ 6854 người, chiếm 52,1%), 3259 hộ gia đình, mật độ dân số bình quân 130 người/km2(mật độ dân số thấp do diện tích mặt nước trên địa bàn xã chiếm 41,1% tổng diện tích) Trong đó 1850 hộ sản xuất nông nghiệp là chính, chiếm 66,9%, số hộ còn lại chủ yếu là hoạt động trong các ngành nghề phi nông nghiệp.

An Thới Đông là một xã đất rộng, người thưa, dân số phân bố không đồng đều, chủ yếu tập trung ở các cụm dân cư, trung tâm ven trục lộ giao thông trong

xã Nếu phân theo khu vực dân số sống ở thành thị và nông thôn thì ở xã An Thới Đông 100% dân số sống ở nông thôn, điều đó nói lên rằng nông nghiệp vẫn chiếm một vị trí rất quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội của người dân, tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên đã giảm xuống mức 0,82% do sự quan tâm về công tác dân

số, kế hoạch hóa gia đình của xã.

Trang 4

Số hộ sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ khá cao chủ yếu là nuôi trồng thủy

sản, làm nông nghiệp, đa phần đều có thâm niên, kinh nghiệm trong sản xuất nông

nghiệp Tuy nhiên khả năng tiếp cận khoa học kỹ thuật còn hạn chế nên cần quan

tâm đúng mức giúp cho nền nông nghiệp tại xã phát huy đúng hướng

Trang 5

Số người trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ khác cao 61,75% trên tổng dân

số, chủ yếu là lao động trong lĩnh vực nông nghiệp Có thể nói, tại địa bàn xã có một nguồn lao động dồi dào, số người dưới và ngoài độ tuổi lao động là tương đối 38,25% Tuy đa dạng về ngành nghề, nhưng ở xã vẫn còn lao động chưa có việc làm ổn định.

2 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI

2.1 Cơ sở hạ tầng, kinh tế xã hội

2.1.1 Giao thông

An Thới Đông là một xã có hệ thống sông ngòi bao bọc nên thuận lợi cho giao thông đường thủy Hiện tại, trên địa bàn xã có tuyến đường giao thông với tổng chiều dài 20,8 km, trong đó:

Đường trục xã, liên xã: 4,9km;

Đường trục ấp, liên ấp: 15,9km đã nhựa hóa, cướng 8,7km;

Đường giao thông nội đồng: 14km, đi lại thuận lợi 10km.

Chia ra:

Đường giao thông đã được cứng hóa hoặc nhựa hóa:13,6km;

Đường giao thông nội đồng xe cơ giới có thể đi lại thuận tiện:10km, so với tổng số đạt 71,4%;

Đường ngõ xóm sạch, không lầy lội vào mùa mưa: 8,7km, so với tổng số đạt 54,71%.

Trang 6

Toàn địa bàn xã có 6 trường học, trong đó: 1 trường mầm non, 3 trường tiểu học và 2 trường THCS; trong đó có 1 trường tiểu học vừa mới xây đạt chuẩn quốc gia.

Số diện tích sân chơi, bãi tập còn thiếu: 1.000m2.

Trường trung học cơ sở và trung học phổ thông:

Hiện xã có 02 trường trung học cơ sở, 26 lớp 937 học sinh,54 giáo viên.

Số phòng học chưa đạt chuẩn: 18 phòng(do cơ sở xuống cấp);

Số phòng chức năng cong thiếu 7 phòng;

Số học sinh theo học trung học phổ thông 615 em.

2.1.5 Y tế:

Trạm y tế xã mới xây đạt chuẩn Quốc gia, phục vụ tốt nhu cầu chăm lo sức khỏe cho nhân dân địa phương, huyện đã thành lập một phòng khám ở khu vực An Nghĩa tạo thuận lợi cho địa phương về khám chữa bệnh.

2.1.6 Cơ sở văn hóa:

Trên địa bàn xã có nhà văn hóa thể thao, một sân bóng đá là sân chơi chủ yếu của thanh niên trong xã Hiện nay ở xã có một đội bóng đá, một bóng truyền

để tham dự hội thi – hội thao cấp huyện Riêng mỗi ấp đều có câu lạc bộ và các đội

Trang 7

hình riêng để tham gia các cuộc thi cấp xã trong những ngày lễ lớn Hiện xã đã tiến hành lập hộ sơ và khởi công xây dựng các khu văn hóa ở các ấp còn lại.

2.1.7 Chợ

Trên địa bàn xã có một xã – không đạt chuẩn, với khoảng 30 tiểu thương buôn bán cố định, các mặt hàng chủ yếu phụ vụ cho nhu cầu sinh hoạt của người dân Đây cũng là nơi dân cư tập trung buôn bán, trao đổi hàng hóa sinh hoạt hàng ngày, số lượng buôn bán này không cố định Trên địa bàn xã có 33 quán kinh doanh thức ăn, 19 quán giải khát ven đường, ngoài ra có các điểm nhỏ lẻ tại gia và các dịch vụ ăn uống.

2.1.8 Bưu điện

Đã hình thành một bưu điện – văn hóa cấp xã.

2.1.9 Nhà ở và dân cư nông thôn.

Theo thống kê hiện nay, toàn xã có khoảng 2841 căn nhà Trong đó: Nhà kiên cố và bán kiên cố chiếm 53,32% , nhà dột nát chiếm 46,68%.

Hiện trạng nhà ở trên địa bàn An Thới Đông:

2.2 Thực trạng kinh tế và tổ chức sản xuất

2.2.1 Kinh tế

- Cơ cấu kinh tế: An Thới Đông là một xã thuần nông, ngoại thành Thành Phố Hồ Chí Minh, có tốc độ đô thị hóa còn chậm, cơ cấu kinh tế phần lớn đóng góp của nghề nuôi trồng thủy sản (65%), kế đến là nông nghiệp chăn nuôi chiếm 27%.

Trang 8

- Thu nhập bình quân đầu người: 15.800.000đồng/người/năm (là xã có mức thu nhập trung bình của huyện)

- Số lượng hộ nghèo: theo tiêu chí 12 triệu đồng/người/năm là có 1593 hộ, chiếm 49,2% tổng số hộ toàn xã Đây là một tỉ lệ tương đối cao, sự chênh lệch thu nhập bình quân giữa các hộ trên địa bàn xã tương đối lớn, nếu không quan tâm đúng mức sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của xã (nếu theo tiêu chí của Trung ương với mức nghèo là 06 triệu đồng/người/năm thì xã hiện chỉ còn 284 hộ nghèo, chiếm khoảng 10% tổng số hộ toàn xã).

- Về nguồn sống: Nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế (chiếm 68% tổng thu nhập), chủ yếu nuôi trồng thủy sản, đánh bắt Trong thời gian qua dịch bệnh trên con tôm thường xuyên xảy ra, diện tích đất nông nghiệp giảm dần

do ảnh hưởng biến động về sử dụng đất, điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế xã hội của xã Tuy vậy,vì là một xã thuần nông nên ngành nông nghiệp vẫn chiếm một phần quan trọng trong tỷ trọng đóng góp thu nhập của toàn

xã Vì vậy các ngành chức năng cần quan tâm hơn nữa về việc tuyên truyền, áp dụng khoa học kĩ thuật, quản lí dịch bệnh, tìm các mô hình nuôi mới, giúp cho nông dân phát triển kinh tế trong lĩnh vực này.

2.2.2 Lao động

- Số người trong độ tuổi lao động là 8283 người, chiếm 62,75% trên tổng số dân.

- Số lao động phân theo kiến thức phổ thông như sau:

+ Bậc tiểu học: chiếm 41%, chủ yếu ở lứa tuổi 45 – 60,

+ Bậc trung học cơ sở: chiếm 38%,

+ Bậc trung học phổ thông: chiếm 18%

Tỉ lệ lao động được đào tạo chuyên môn: trong 8283 lao động của xã chỉ có 15% lao động đã qua đào tạo chuyên môn là: sơ cấp, trung cấp và đại học.

2.2.3 Hình thức tổ chức sản xuất

Trang 9

Xã có 346 doanh nghiệp, cơ sở chế biến, sản xuất kinh doanh trên địa bàn,

mà chủ yếu thuộc lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp và thương mại – dịch vụ.

2.3 Văn hóa xã hội và môi trường

2.3.1 Văn hóa – giáo dục:

- Xã An Thới Đông được chia thành 6 ấp, trong năm 2008 có 03 ấp đạt chuẩn văn hóa.

- Về phổ cập giáo dục trung học: xã đạt chuẩn trong việc phổ cập giáo dục trung học cơ sở (tỉ lệ 73%)

- Tỉ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học trung học (phổ thông, bổ túc, học nghề) trong năm 2008 là 85%.

2.3.2 Y tế

- Tỉ lệ y bác sĩ /1000 dân gồm có: 01 bác sĩ, 02 y sĩ, 01 y tá 01 dược tá, 01 hộ sinh phục vụ cho13.415 người dân địa phương.

- Điều kiện trang thiết bị y tế hiện nay phục vụ cho khám chữa bệnh theo tuyến

xã hiện nay đã xây mới 01 trạm y tế được đưa vào sử dụng nhưng vẫn còn chưa

đủ so với chuẩn quốc gia về cơ sở vật chất, đội ngũ y bác sĩ phục vụ cho nhu cầu của người dân Hàng năm thực hiện tiêm chủng theo định kì cho trẻ em, uống vitamin A đạt tỉ lệ cao.

- Song song với việc khám chữa bệnh cho người dân, trạm y tế xã còn kết hợp với các ngành triển khai thực hiện kế hoạch phòng chống sốt xuất huyết, các chiến dịch truyền thông lồng ghép, vận động, tổ chức hiến máu nhân đạo trong năm 2008 với thống kê là 190/110, đạt 180% so với kế hoạch.

- Tổng số người dân tham gia bảo hiểm y tế là 5342 người Tỉ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế là 31,2%, số lượng này còn rất hạn chế, vì vậy cần tuyên truyền sâu rộng hơn nữa tầm quan trọng của việc tham gia các hình thức bảo hiểm y tế, nhằm nêu cao ý thức trong việc bảo vệ sức khỏe của

Trang 10

bản thân và gia đình, từ đó góp phần bảo vệ tốt sức khỏe của cộng đồng và xã hội.

2.3.3 Môi trường

- Tỉ lệ hộ sử dụng nước sinh họat hợp vệ sinh là 94% Nguồn cung cấp nước sinh hoạt chính cho cư dân hiện nay là vận chuyển bằng xà lan từ TP.HCM về, chính vì vậy giá nước/ 1m3 đến người dân là khá cao Tuy nhiên, do được trợ giá hỗ trợ định mức nên giá nước sinh hoạt người dân chỉ phải trả là 2.740đ/m3

và giá nước sản xuất là 4.540đ/m3 (một số khu vực sản xuất xa khu vực dân cư thì giá nước sinh hoạt vẫn còn rất cao, từ 30 đến 70.000đ/m3) Vì vậy cần phải sớm đầu tư hệ thống đường ống dẫn nước từ thành phố về xã nhằm giảm được chi phí cho nhân dân.

- Tỉ lệ hộ có đủ 3 công trình (nhà tắm, hố xí, bể nước) đạt chuẩn: trong những năm trở lại đây, đời sống của nhân dân đã được nâng cao, nhu cầu xây dựng nhà

ở ngày càng nhiều nên có 66% số hộ dều có đủ 3 công trình trên.

- Xử lý chất thải: Toàn xã có 3295 hộ dân trong đó có 75% tổng số hộ dân có đăng kí thu gom rác (dân tự lập và thu gom rác công cộng), 23% số hộ còn lại phải tự tiêu hủy theo hình thức chôn hoặc đốt tại nhà do các tuyến đường đang làm có chưa xong nên xe thu gom rác không đến tận nơi được.

- Hệ thống thoát nước trong khu vực dân cư: hiện xã chưa có hệ thống thoát nước lớn, chỉ thoát nước tạm ở một số cống nhỏ trong khu vực dân cư Hiện nay, đang đề xuất nâng cấp các tuyến đường nội xã và làm hệ thống thoát nước trong khu vực dân cư.

- Tình hình chung về môi trường và quản lý môi trường trên địa bàn xã : Cố gắng kiểm tra nhằm giảm thiểu thấp nhất ô nhiễm môi trường trên địa bàn : tập trung kiểm tra mạnh hơn tại các cơ sở SK-KD, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tập huấn về phương pháp và cách thức thực hiện bảo vệ môi

Trang 11

trường cho dân thông qua các lớp Ví dụ lớp hướng dẫn sử dụng nước hợp vệ sinh ….

- Trong những năm qua tình hình nuôi tôm sú ngày càng phát triển, người dân

tự nuôi theo hình thức khác nhau, nên việc quản lý nguồn tôm giống đạt chất lượng không hiệu quả, ý thức nuôi trồng của người dân không cao chính vì vậy trong những năm gần đây nuôi trồng thủy sản trên địa bàn huyện nói chung và địa bàn xã nói riêng gặp nhiều khó khăn.

2.4 Hệ thống chính trị

2.4.1 Hệ thống chính trị của xã :

- 01 Đảng bộ cơ sở : Có 14 chi bộ trực thuộc, với 138 đảng viên, trong đó có 6 chi bộ ấp, 06 chi bộ trường học và 02 chi bộ cơ quan.

- Ủy ban nhân dân xã : các chức danh trong biên chế ( 44 định biên) :

+ Cán bộ chuyên trách : gồm các chức danh Bí thư PBT TT Đ Ủy, P.CT HĐND, Chủ tịch UBND, Trưởng đầu ngành : Đoàn TN, Hội Nông dân, Hội

PN, Hội CCB, CT UBMT (10 định biên)

+ Các chức danh Công chức : gồm các đồng chí phụ trách địa chính xây dựng,

Tư pháp – Hộ tịch, Văn phòng- Thống kê, Văn hóa xã hội, Kế toán ngân sách (09 định biên_

+ Cán bộ không chuyên trách : Phó các phòng ban, cán bộ hưởng lương trong ngân sách (25 định biên)

- Trình độ học vấn:

+ Tốt nghiệp đại học : 03 người

+ Đang học đại học : 07 người

+ Tốt nghiệp trung cấp : 09 người

+ Tốt nghiệp tring học phổ thông : 41 người

- Trình độ chính trị : trung cấp 21 người

Trang 12

- Tình hình hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở : UB.

MTTQ và các đoàn thể xã, ấp thường xuyên tuyên truyền, vận động nhân dân, các đoàn viên, hội viên thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của đảng, nhà nước, thực hiện các chủ trương lớn do huyện, xã phát động hiến đất mở đường, hiến máu nhân đạo….Nhìn chung trong các năm qua tình hình khiếu nại vượt cấp không xảy ra trên địa bàn xã.

+ Mặt trận tổ quốc : 31 thành viên ( có 6 ban công tác mặt trận ở ấp) + Hội cựu chiến binh : có 06 chi hội trực thuộc với 58 hội viên + Hội liên hiệp phụ nữ : có 06 chi hội với tổng số 2552 hội viên + Hội nông dân : có 06 chi hội với 1586 hội viên

+ Đoàn thanh niên cộng sản HCM : có 09 chi đoàn với 143 đoàn viên + Hội chữ thập đỏ: Có 07chi hội với 595 hội viên;

+ Hội người cao tuổi: Có 6 chi hội với 770 hội viên.

2.4.2 Tình hình trật tự xã hội, an ninh trên địa bàn:

Trong những năm qua tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã được giữ vững và ổn định Tình hình trộm cắp có xảy ra nhưng

giá trị tài sản không đáng kể, một số vụ xảy ra ở các khu vực sản xuất, các tệ nạn

xã hội như ma túy, mại dâm không xảy ra trên địa bàn xã.

Trang 13

2 Dân số + Thời điểm 01-12-2009 Người 13,434 3,026 2,078 1,747

Trang 14

+ Số người chuyển đến Người 155 38 0 0

10.108

Trang 15

Bao gồm các chương trình, dự án đã và đang triển khai trên địa bàn xã.

- Chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn xã, giai đoạn

2006 – 2010.

- Vay vốn có hỗ trợ lãi suất theo chương trình 105, QĐ15, QĐ 497

- Chương trình xây dựng nhà vệ sinh tự hoại; vay vốn học tập; chương trình điện

kế, thủy kế cũng được triển khai có hiệu quả.

- Dự kiến phát triển khu dân cư mới ở khu vực Cá Cháy - ấp Doi Lầu

- Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng: có các công trình đã được xây dựng xong như sau:

+ Trường tiểu học An Thới Đông

+ Hệ thống đèn chiếu sáng ấp An Bình

+ Xây dựng nhà công vụ

+ Xây dựng mới cầu Bà Tổng và cầu khỉ nông thôn

+ Xây dựng mới nhà văn hóa ấp An Hòa và ấp Doi Lầu

+ Nâng cấp các phân hiệu mẫu giáo ấp An Đông và An Nghĩa

Trang 16

+ Nâng cấp đường An Đông, Rạch Lá (khoảng 50%)

1 Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2010

1.1Thực hiện hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội

1.1.1Về kinh tế: Tổng giá trị sản xuất (GCĐ.94) TĂNG 51 % so với cùng kỳ, đạt

129.5% kế hoạch Trong đó:

- Thủy sản tăng 34% so với cùng kỳ, tăng 7,7% kế hoạch;

- Công nghiệp tiểu thủ công nghiệp, tăng 8% so với cùng kỳ, tăng 2% chỉ tiêu kế hoạch;

- Thương mại, dịch vụ giảm 15% so với cùng kỳ, giảm 17% kế hoạch;

- Xây dựng tăng 61% so với cùng kỳ, bằng 161%kế hoạch;

- Nông – lâm nghiệp tăng 44% so với cùng kỳ và tăng 23% kế hoạch;

- Tổng thu ngân sách Nhà nước 937.4 triệu đồng, tăng 01% so với cùng kỳ và bằng 95.4% dự án thu cả năm, so với cùng kỳ giảm 1.1%

- Chi sách địa phương 3.590.254 triệu đồng, tăng 01% so với cùng kỳ và 94.4%

dự toán chi.

1.1.2 Về văn hóa – xã hội:

- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên: 0.679% (kế hoạch năm 1%)

- Giải quyết việc làm cho 1.049 lượt lao động, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm 13, chứng thực 1.213 hồ sơ lao động.

- Tỷ lệ tiêm chủng trẻ em trong độ tuổi đạt 98%;

- Tỷ lệ dân số tham gia tập luyện thể dục thể thao thường xuyên 27.1%;

1.2 Chỉ tiêu môi trường

- Tỷ lệ chất thải y tế, chất thải rắn nguy hại được thu gom, xử lý 100%;

Trang 17

- Tỷ lệ nước thải y tế được xử lý 100%;

- Tỷ lệ hộ dân sử dụng điện 98.67%;

- Tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch 99%;

2 Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội cụ thể:

2.1 Về kinh tế:

2.1.1Thủy sản: ước tổng sản lượng năm 2010 đạt 5.453.37 tấn, tăng 58% so với

cùng kỳ và tăng 43.62% so với kế hoạch , trong đó tôm các loại 3.130.67 tấn tăng 63.38% và hải sản khác 2.322.7 tấn, tăng 52.57% so với cùng kỳ.

Nuôi trồng thủy sản tiếp phát triển đặc biệt là nuôi tôm thẻ chân trắng trong năm cho năng xuất và thu nhập khá cao (năng xuất bình quân đạt 5.39 tấn/ha, tăng 1.82 tấn/ha so với năng 2009) được nông dân tập trung đầu tư nuôi, so với năm 2009 diện tích thả nuôi tăng 7.89%; diện tích nuôi tôm sú 1020.59 ha, giảm 46% so với năm trước do hiệu quả đầu tư không cao, một phần diện tích được chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng Ngoài ra một số loại thủy sản khác như cua, cá bông lau…cũng được nông dân đầu tư thả nuôi trồng so với cùng kỳ Tính đến nay diện tích đất nông nghiệp của xã đã chuyển sang nuôi trồng thủy sản 1.684 ha, trong đó diện tích đã chuyển đổi được đưa vào nuôi thủy sản 1.618.53 ha (giảm 4% so với năm 2009).

Công tác khuyến nông được xã quan tâm tập trung đẩy mạnh, thường xuyên tăng cường cán bộ kỹ thuật viên xuống địa bàn để hướng dẫn kỹ thuật nuôi trồng cho nông dân, đảm bảo kết quả đầu tư sản Trong năm đã phối hợp các mô hình nuôi trồng thủy sản , tập huấn hướng dẫn phương pháp phòng chống dịch bệnh cho 109 hộ nông dân tham dự và hỗ trợ nguồn thuốc sử lý dịch bệnh nuôi tôm cho 32 hộ có tôm nuôi bị bệnh với diện tích 28.79% ha Đã triển khai nuôi thử nghiệm một số mô hình( nuôi vọp, sò huyêt) với mô hình là 11.2 ha và mang lại hiệu quả.

2.1.2 Nông, lâm nghiệp: ước giá trị sản xuất (GCĐ.94) đạt 741triệu đồng, tăng

44% so với cùng kỳ và vượt 23% kế hoạch Trồng trọt ở xã trồng lúa Diện tích lúa 179.8 ha, giảm 40.2ha so với vụ mùa năm 2009 do thời tiết năm nay ít mưa,

Trang 18

khô hạn kéo dài, nước bị nhiễm mặn nên lúa chậm phát triển, có 0.7 ha lúa, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá, trong đó 18.8 ha lúa hoàn toàn bị chết,161.3 ha lúa đang được nông dân phun thuốc xử lý.

Chăn nuôi có bước phát triển đặc biệt là heo, tuy nhiên dịch heo tai xanh bùng phát và lây lan toàn xã, đã hạn chế tốc độ tăng của ngành,(đã tiêu hủy 216 con vơi trọng lượng 131 tạ) Đến nay tổng gia xúc xã 873 con chủ yếu heo thịt, heo rừng lai, trong năm đã xuất bán 42.3 tấn thịt heo Công tác phòng chống dịch bệnh trên gia súc, gia cầm được xã quan tâm , tích cực phối hợp với các ngành chức năng của huyện, tăng cường kiểm tra, triển khai các bệnh pháp phòng chống dịch bệnh, tập trung vào tiêm vacxin phòng ngừa gai súc…và đặc biệt khống chế kịp thời dịch bệnh heo tai xanh, ổn định tình hình chăn nuôi trên địa bàn.

Lâm nghiệp: Trong năm xã đã phối hợp với Ban quản lý Rừng phòng hộ tổ chức

tuyên truyền Luật bảo vệ rừng cho 210 người ở các ấp tham dự Tình trạng chặt phá rừng giảm đáng kể (không phát hiện trường hợp vi phạm) tuy nhiên đào bắt địa sâm vẫn còn phát sinh, phát hiện lập biên bản xử lý 02 trường hợp mua bán địa sâm (223kg) Đã triển khai trồng và chăm sóc 970 cây phân tán tạo bóng mát, cảnh quan dọc các tuyến đường xã An Thới Đông

2.1.3 Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp:Gía trị sản xuất công nghiệp đạt

2.519 triệu đồng sản xuất trên địa bàn chủ yếu gia công may mặc, kết hạt cườm, chế biến nước đá…

2.1.4 Thương mại dịch vụ:tổng mức bán lẻ hàng hóa và danh thu cung ứng, dịch

vụ tiêu dùng đạt 3.201 triệu đồng, giảm 15% so với cùng kỳ và đạt 72% kế hoạc Thị trường kinh doanh hàng hóa tương đối ổn định, giá cá hàng hóa, dịch vụ trong năm có tăng nhẹ do ảnh hưởng của việc điều chỉnh tăng giá xăng dầu, dịch bệnh heo tai xanh…Thường xuyên phối hợp với các ngành chức năng tăng cường kiểm tra các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn về chấp hành các quy định công khai, niêm yếu giá, bán đúng giá niêm yết nhằm đảm bảo ổn định giả

Trang 19

cả thị trường, đồng thời tuyên truyền hưởng ứng cuộc vận động “ người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt” theo chỉ đạo của huyện

2.1.5 Tài chính: Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn là 937.4 triệu đồng,

đạt 95.4% dự toán, so với cùng kỳ giảm 1.1%

Tổng chi ngân sách địa phương 3.626.5 triệu đồng, tăng 01% so với cùng kỳ

và đạt 95.4%dự toán thu, trong đó thu bổ sung ngân sách huyện đạt 3.237 triệu đồng và thu điều tiết 389.5 triệu đồng, đạt 90% dự toán.

Tổng chi ngân sách địa phương thực hiện là 3.590.254 triệu đồng, tăng 01%

so với cùng kỳ và đạt 94.4% dự toán chi, trong đó chi phát triển sự nghiệp kinh

tế - xã hội, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể…3.760,2 triệu đồng, bằng 90.7% so với dự toán.

2.1.6 Đầu tư xây dựng: tổng mức đầu tư toàn xã hội đạt 110.201 triệu đồng,

tăng 161% so với cùng kỳ, bằng 61% kế hoạch Trong đó:

Bao gồm đầu tư ngân sách xây dựng các công trình phòng chống lụt bảo, công trình trụ sở UBND và các nhà văn hóa, các trường học, cầu, đường…và đầu tư trong dân như xây dựng nhà ở, dự án sản xuất…

2.1.7 Quản lý Đất đai, đô thị:

Đã phối hợp với Phòng Tài nguyên Môi trường tổ chức kiếm kê đất đai và tổng rà soát đất đai theo kế hoạch 22/KH- UBND ngày 04/03/2008 của Uỷ ban nhân dân huyện Tiếp tục tăng cường quản lý đất đai, trong năm đã tiếp nhận

497 hồ sơ cấp, đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với tổng diện tích 136.86

ha trong đó hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất chiếm 29.7% trường hợp với diện tích là 37.27 ha.

Công tác vệ sinh môi trường được thực hiện khá tốt, thường xuyên tuyên truyền, tổ chức ngày chủ nhật xanh, vận động nhân dân tổng vệ sinh tham gia cải tạo các điểm ô nhiễm ở khu dân cư; đã thành lập 4 tổ thu gom rác dân lập, bố trí

102 thùng đựng rác, đến nay tỷ lệ hộ dân có nhà vệ sinh hợp quy cách chiếm 78% Triển khai Quyết định số 88/2008/QĐ – UBND ngày 20 tháng 12 năm

Trang 20

2008 của Uỷ ban nhân dân thành phố đến nay các xã đã thu phí vệ sinh và bảo

vệ môi trường được 25.900.000 đồng, đạt 78.5% chỉ tiêu giao năm 2010.

2.2 Về văn hóa- xã hội:

2.2.1 Giáo dục – đào tạo: Năm học 2009 – 2010 học sinh hoàn thành chương

trình tiểu học đạt 100%, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp Trung học cơ sở chiếm 99.38%, tăng gần 1%

Cở sở vật chất của các trường được quan tâm đầu tư theo hướng chuẩn hóa Trong năm Trường Trung học phổ thông, An Nghĩa đã được đưa vào hoạt động

đã tọa điều kiện thuận lợi cho việc đi học, học tập của học sinh trên địa bàn Tính đến nay toàn xã có 01 Trường mẫu giáo, 03 Trường tiểu học, 02 Trường trung học cơ sở và Trường Trung học phổ thông.

2.2.2 Y tế: Tiếp tục nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, đáp ứng nhu cầu chăm

sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân trên địa bàn xã Trong năm đã khám và phát thuốc cho 13.529 lượt người, phối hợp với các Đoàn khám bệnh Thành phố tổ chức khám, phát thuốc miễn phí và tặng quà cho 1.448 lượt người nghèo Phối hợp với Trung tâm y tế dự phòng tổ chức tiêm chủng mở rộng cho 258/264 trẻ

em, đạt 98%, đến cuối năm tỷ lệ trẻ sinh dưỡng chiếm 6.63%; công tác phòng ngừa bệnh tiếp tục được quan tâm, ngoài việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền,

xã còn thường xuyên tổ chức ra quân tổng vệ sinh môi trường, và phối hợp với các phương pháp phòng ngừa dịch bệnh, kịp thời khống chế 7 trường hợp sốt xuất huyết, 01 trường hợp tay, chân , miệng phát sinh Trạm y tế tiếp tục được thành phố công nhận đạt chuẩn quốc gia.

Công tác kiểm tra, kiểm soát, đảm bảo vệ sinh an thực phẩm cũng được chú trọng, tăng cường phối hợp với ngành y tế tuyên truyền hưởng ứng “Tháng hành động vì chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2010”, tổ chức tập huấn kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm cho 63 hộ kinh doanh cá thể và thường xuyên kiểm

Trang 21

tra vệ sinh an toàn thực phẩm ở các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn để kịp thời nhắc nhở các cơ sở thực hiện đúng quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm

Triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia dân số kế hoạch hóa gia đình và giảm mất cân bằng giới tính, có 106 chị em phụ nữ tham gia và tổ chức khám phụ khoa cho 556 lượt người Tính từ đầu năm đến nay có 121 trẻ được sinh ra, trong

đó có 10 trường hợp sinh con thứ 3, hiện có 1.428 trường hợp áp dụng biện pháp tránh thai lâm sàng.

2.3 Văn hóa thông tin – thể dục thể thao:

Trong năm đã tổ chức, triển khai thực hiện nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thông tin tuyên truyền nhân các ngày lễ lớn và các sự kiện chính trị, xã hội của huyện và thành phố như: kỉ niệm 80 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam; 35 ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước; ngày quốc tế lao động… và đặc biệt là chào mừng Đại hội Đảng bộ các cấp, 1000 năm Thăng Long – Hà Nội.

Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; từng bước nâng cao chất lượng cho các gia đình văn hóa, ấp văn hóa, góp phần nâng cao hiệu quả phong trào Tổ chức kiểm tra, lập biên bản 01 trường hợp kinh doanh nước giải khát không có giấy phép hoạt động , cảnh cáo 01 trường hợp kinh doanh dịch vụ internet không có máy chủ và nhức nhở các đểm quảng cáo, kinh doanh trò chơi điện tử chưa chấp hành tốt các quy định.

Phong trào thể dục thể thao tiếp tục giữ vững ổn định và thực hiện tốt các chỉ tiêu đề ra Có 27.1% dân tham gia tập luyện thể dục thể thao thường xuyên, tăng 1,6% so với kế hoạch; tham gia 03 giải thi đấu cấp huyện, thành phố.

2.4 Công tác lao động, việc làm và chính sách xã hội

Xã luôn quan tâm và chăm lo giải quyết việc làm cho người lao động , trong năm đã tổ chức 02 lớp đào tạo nghề cho 135 lao động ở xã; có 1.048 lao động được giải quyết việc làm thông qua các nguồn vốn cho vay phát triển sản xuất

Trang 22

Và xác nhận 1.213 hồ sơ xin việc ở các khu chế xuất, xí nghiệp Theo kết quả điều tra, đến nay toàn xã có 1.365 lao động thiếu việc làm thường xuyên.

Trong điều kiện khó khăn xã vẫn quan tâm thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, các đối tượng cứu trợ xã hội đều được hưởng chính sách trợ giúp thường xuyên, đặc biệt là người nghèo và đối tượng chính sách; Đã tổ chức, chăm

lo và đề xuất huyện, thành phố chăm lo chu đáo cho các đối tượng thuọc diện chính sách và hộ nghèo ở xã Trong năm đã hỗ trợ mai táng phí cho 03 trường hợp (14 triệu đồng), cấp 119 thẻ bảo hiểm y tế cho gia đình chính sách; tiếp nhận tài trợ

và trao tặng 03 căn nhà mơ ước, 05 căn nhà tình thương, 02 căn nhà tình nghĩa, 01 mái ấm tình thương, 55 xe đạp cho hộ nghèo, trẻ em có hoàn cảng đặc biệt khó khăn, 448 suất học bổng, với tổng giá trị 1.143,7 triệu đồng.

Hoạt động giảm hộ nghèo, tăng hộ khá: thông qua việc thực hiện có hiệu quả nhiều chương trình, chính sách xóa đói giảm nghèo của Chính phủ đã góp phần hỗ trợ hộ nghèo phát triển sản xuất kinh doanh, tạo việc làm, tăng thu nhập; hỗ trợ trượt giá cho 77 hộ nghèo với tổng kinh phí 23,1 triệu đồng; hỗ trợ mua và cấp 4.611 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo, xác nhận miễn giảm học phí, tiền cơ sở vật chất trường học cho 1.553 học sinh Trong năm, đã giải quyết cho 30 hộ vay vốn từ quỹ Quốc gia hỗ trợ việc làm với tổng mức phát vay 279 triệu đồng,cho vay mới vốn xóa đói giảm nghèo 4 hộ/ 18.000.000đ, tái vay 283 hộ/1.393.000.000 đồng Tổng dư nợ vốn XĐGN đến cuối năm 2.216.587.000đ của 584 hộ, nợ quá hạng chiếm 15,63% tổng dư nợ Ngoài ra ngân hàng chính sách xã hội còn giải ngân 4.504 triệu đồng cho 511 hộ thuộc diện hộ nghèo, hộ thu hồi đất, học sinh sinh viên nghèo có nhu cầu vay vốn.

2.5 Quốc phòng an ninh

Duy trì thường xuyên chế độ trực sẵn sàng chiến đâú Hoàn thành chỉ tiêu giao quân nghĩa vụ quân sự đợt I năm 2010 (17 thanh niên) Tăng cường công tác đảm bảo an ninh chính trị, đẩy mạnh công tác quản lý hành chính về trật tự xã hội,

Trang 23

quản lý hộ khẩu, nhân khẩu kiểm tra tạm trú, tạm vắng đặc biệt các dịp lễ lớn Tiếp tục chú trọng nâng cao chất lượng hiệu quả phát động phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh tổ quốc.

*Tội phạm hình sự : Tập trung kiềm chế, kéo giảm tội phạm, đẩy mạnh chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm, chương trình mục tiêu “3 giảm”, trong năm xảy ra 08 vụ chủ yếu trộm cắp tài sản, so với năm 2009 không tăng không giảm.

* Trật tự xã hội : Phát hiện 18 vụ vi phạm trật tự xã hội, tăng 02 vụ so với năm 2009, chủ yếu đánh nhau gây mất trật tự công cộng, xử phạt vi phạm hành chính 15 vụ (38 đối tượng).

* Tội phạm ma túy : Trong năm nộp hồ sơ bắt 01 đối tượng đưa vào Cơ sở giáo dục, 1 đối tượng đưa vào trường Giáo dưỡng và 01 đối tượng vào cơ sở chữa bệnh Hiện nay đang quản lý giáo dục xã, 03 đối tượng.

* Tệ nạn xã hội khác : Công tác quản lý địa bàn,quản lý đối tượng, nắm thông tin tội phạm được nâng lên, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội Trong năm phát hiện, 04 vụ vi phạm tệ nạn xã hội chủ yếu đánh bạc, mua bán mại dâm chuyển Công an huyện xử lý, tăng 01 vụ so với 2009.

Phong trào quần chúng tham gia bảo vệ an ninh quốc phòng thường xuyên thực hiện, từng bước nâng cao nhận thức người dân trong việc tố giác tội phạm Trong năm, đã cung cấp 35 nguồn tin, trong đó có 23 tin có gía trị giúp lực lượng công an xử lý kịp thời 9 vụ, với 17 đối tượng.

2.6 Công tác phòng chống lụt bão, phòng chống cháy nổ :

Phòng chống lụt bão : Tiếp tục được quan tâm ngay từ đầu năm đã tổ chức diễn tập công tác phòng chống lụt bão năm 2010 để bảo đảm sẵn sàng ứng phó khi bão theo phương châm “bốn tại chỗ” và “ba sẵn sàng” Ngoài ra các công trình phòng chống lụt bão cũng được tăng cường kiểm tra, tập trung đẩy nhanh tiến độ,

Trang 24

đến nay đã hoàn thành đưa vào sử dụng 03 công trình (kè đá) Tổ chức thu quỹ phòng chống lụt bão các doanh nghiệp đạt chỉ tiêu 100%.

Phòng chống cháy nổ : Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền về phòng cháy chữa cháy, thường xuyên kiểm tra an toàn phòng cháy, chữa cháy tại các cơ quan, đơn

vị, các cơ sở sản xuất kinh doanh, chợ và các khu dân cư địa bàn.

2.7 Công tác xây dựng chính quyền, cải cách hành chính, thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí:

Công tác cải cách thủ tục hành chính được xã quan tâm đẩy mạnh, triển khai đăng ký thực hiện “nụ cười công sở” khuyến khích cán bộ, công chức phục vụ ngày càng tốt hơn , nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ thành công, đáp ứng nhu cầu, sự hài lòng của công dân tham gia giao dịch vụ thủ tục hành chính Trong năm

tổ tiếp nhận hoàn trả hồ sơ của xã đã tiếp nhận 9710 hồ sơ đất đai, xây dựng, đăng

ký kinh doanh, thế chấp (so với cùng kỳ tăng 46%) trong đó giải quyết đúng hạn 9.556 ồ sơ, đạt 98% so với cùng kỳ tăng 23%.

Công tác tiếp dân tiếp tục được duy trì thực hiện thường xuyên Trong năm

đã tổ chức tiếp 200 lượt công dân, giảm 43 lượt so với cùng kỳ, trong đó lãnh đạo tiếp định kỳ 44 lượt Tiếp nhận 34 đơn thư tranh chấp, đã giải quyết 32 đơn (đạt 94,11%/ tổng hồ sơ tiếp nhận) Đã tổ chức hòa giải thành 12/32 vụ việc thụ lý Tổ chức 06 cuộc tuyên truyền các Luật có 592 lượt người dự và tổ chức phát thanh cho 18 buổi tuyên truyền về Luật và tư vấn pháp lý cho 72 trường hợp liên quan đến lĩnh vực đất đai, hộ tịch, dân sự.

Trong năm thực hiện tốt công tác báo cáo định kỳ về tình hình kinh tế, xã hội tháng, quý, năm và xây dựng chương trình công tác trọng tâm hàng tháng, quý Đồng thời duy trì chế độ tiếp công dân hàng tuần để kịp thời giải quyết các kiến nghị của công dân nhờ đó mà không có tình trạng khiếu nại kéo dài.

Công tác Phòng, chống tham nhũng : Tổ chức quán triệt và triển khai kế hoạch thực hiện chiến lược quốc gia phòng chống tham nhũng đến năm 2020.

Trang 25

Thường xuyên tuyên truyền trên đài truyền thanh, vận động cán bộ công chức “học tập và làm theo gương đạo đức Hồ Chí Minh” Trong năm xã được cơ quan thanh tra của huyện tiến hành thanh tra xác minh 01 thư đơn tố cáo về chiếm dụng đất công và kiểm tra công tác phòng chống tham nhũng năm 2009.

3 Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011

3.1 Dự báo tình hình

*Thuận lợi

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XI (nhiệm kỳ 2011 – 2015) và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm đã định hướng cho xã trong phát triển kinh

tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng an ninh.

Được thành phố, huyện quan tâm, hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, triển khai nhiều chính sách tạo điều kiện đẩy mạnh phát triển kinh tế của xã.

Có nhiều thuận lợi phát triển hệ thống giao thông đường thủy, tạo điều kiện giao thương với các địa bàn giáp ranh, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.

*Khó khăn

Thời tiết, thiên tai, dịch bệnh vẫn còn tiềm ẩn, có khart năng tác động đến hoạt động sản xuất, ảnh hưởng tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng như đời sống xã hội Công tác quản lý đất đai, quy hoạch chưa tốt, diện tích đất bỏ hoang vẫn còn, chưa thu hút được các nguồn lực bên ngoài đầu tư khai thác tiềm năng phát triển theo mục tiêu Đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, mặc dù người dân đã được quan tâm nhưng hộ nghèo theo tiêu chí mới còn chiếm tỉ lệ cao.

3.2 Mục tiêu và định hướng phát triển kinh tế xã hội năm 2011

*Mục tiêu

Đẩy mạnh chuyể dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và bền vững Huy động mọi nguồn lực để đầu tư kết cấu hạ tầng nông thôn, phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ gắn với bảo vệ môi trường và xây dựng xã theo tiêu chí nông thôn mới, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực; chăm lo cho sự nghiệp y tế, văn hóa thể dục thể thao, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân; đảm bảo giữ vững ổn định chính trị,

Trang 26

quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội; nâng cao chất lượng cải cách hành chính, hiệu quả hoạt động quản lý của nhà nước.

*Định hướng phát triển

Với ý nghĩa là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XI, không những tạo đà thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm mà còn tạo điều kiện thuận lợi để tiếp tục duy trì ổn định kinh tế, chính trị, xã hội Nhiệm vụ trọng tâm năm 2011 được xác định:

Tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng khai thác và phát huy lợi thế về thủy sản, góp phần thúc đẩy, tạo đà tăng trưởng kinh tế hiệu quả, chất lượng và bền vững, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng giá trị sản xuất 8%.

- Tiếp tục thực hiện tốt Chương trình hành động của Ban chấp hành Đảng bộ

xã khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội đại biểu xã lần thứ XI ( nhiệm kỳ 2010-2015).

- Khắc phục có hiệu quả những yếu kém,nâng cao hiệu quả quản lý đất đai, xây dựng, quy hoạch, tăng cường công tác quản lý bảo vệ môi trường.

- Nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, tập trung đầu tư phát triển nguồn nhân lựcđể đáp ứng nhu cầu phát triển Tiếp tục nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác khám chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân Tạo điều kiện thu hút nguồn lực xã hội đầu tư vào lĩnh vực gíao dục- đào tạo, y tế, văn hóa và thể dục thể thao Thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, công tác xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm và tạo việc làm mới, phấn đấu đến cuối năm 2011gỉam tỉ lệ hộ nghèo theo tiêu chuẩn 12 triệu đồng/ người/ năm còn 40% Giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội bức xúc, tăng cường cải thiện, chăm lo và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân.

- Đổi mới cơ chế hoạt động và quản lý tài chính công, nâng cao chất lượng cung ứng các dịch vụ hành chính công Tăng cường công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí.

Trang 27

- Tăng cường công tác quản lý địa bàn Giữ vững ổn định chính trị và trật tự

an toàn xã hội Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng an ninh.

4 Các chỉ tiêu và nhiệm vụ cụ thể phát triển kinh tế xã hội huyện năm 2011 4.1 Các chỉ tiêu chủ yếu :

4.1.1Về kinh tế:Tổng giá trị sản xuất( GCD.94) tăng trên 8% trong đó:

- Thủy sản tăng 8%

- Công nghiệp- Tiểu thủ công nghiệp tăng 4%

- Nông- Lâm nghiệp tăng 18%

- Giao thông- Bưu điện tăng 25%

- Thương mại- Dịch vụ tăng 3%

- Xây dựng tăng 8%

4.1.2 Về văn hóa xã hội:

• Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1%

• Mặt bằng học vấn dân cư học lớp 8 và tỷ lệ phổ cập giáo dục bậc trung học đạt 75,3%

• Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm còn 6%

• Số lao động được giải quyết việc làm 800 lượt( lao động có công việc làm

ổn định 480 lao động) Tỷ lệ lao động qua đào tạo so với tổng lao động toàn

xã hội đạt 35%

• Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn 12 triệu đồng /người/năm giảm còn 40%

• 5/6 ấp đạt chuẩn ấp văn hóa

4.1.3 Về đô thị và môi trường:

* Xây dựng mới 100 căn nhà ở, tỷ lệ hộ dân có nhà ở kiên cố đạt 45%

*Tỷ lệ hộ dân có nhà vệ sinh hợp quy cách đạt 80%

Trang 28

* Tỹ lệ hộ dân được sử dụng nước sạch đạt 99%

* Tỷ lệ hộ dân được sử dụng điện đạt 99%

4.2 Nhiệm vụ cụ thể

4.2.1 Về phát triển kinh tế:

*Sản xuất thủy sản: Tiếp tục phát huy lợi thế, phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng hiệu quả, bền vững, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng giá trị sản lượng 8%, chủ yếu tăng sản lượng tôm các loại.

Tiếp tục triển khai nhiều mô hình nuôi thí điểm các đối tượng nuôi mới và

hỗ trợ đầu tư phát triển mô hình nuôi thủy sản lồng bè trên sông nhằm đa dạng hóa các mô hình, đối tượng nuôi theo chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi của huyện.

Bên cạnh việc tập trung phát triển vùng nuôi phải đảm bảo các yếu tố quản

lý phát triển bền vững vùng nuôi Kiến nghị huyện đầu tư hoàn chỉnh hạ tầng giao thông nội đồng vùng nuôi thủy sản chuyên canh.

Tăng cường kiểm tra bảo vệ nguồn lợi thủy sản Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển các cơ sở hạ tầng dịch vụ thủy sản.

*Sản xuất nông, lâm nghiệp: Phối hợp với các ngành chức năng tiếp tục triển khai thử nghiệm các mô hình, đối tượng nuôi trồng mới để đa dạng hóa cây, con triển khai nhân rộng các mô hình thực hiện thí điểm đạt hiệu quả Khuyến khích nông dân phát triển mô hình nhà vườn gắn với du lịch sinh thái nông nghiệp Tiếp tục tăng cường kiểm tra, kiểm soát phòng chống dịch cúm gia cầm, dịch bệnh heo tai xanh Phối hợp tăng cường khai thác hệ thống thị trường nông sản để giúp người dân sản xuất tiêu thụ có hiệu quả.

Đề xuất chính sách hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng( đường giao thông, điện, nước, hệ thống xử lý chất thải) để khuyến khích phát triển trang trại, cơ sở chăn nuôi tập trung theo phương pháp công nghiệp, đảm bảo an toàn sinh học.

Trang 29

Lâm nghiệp : Tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ rừng Ngăn chặn phòng cháy rừng và phá rừng Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, gíao dục ý thức công đồng về bảo vệ phát triển rừng, tăng cường quảng bá hình ảnh,

hệ sinh thái tài nguyên rừng, kinh tế xã hội nhân văn về rừng….

*Thương mại dịch vụ :Tập trung phát triển nhanh mạng lưới phân phối, nâng cao năng lực cung ứng hàng hóa đặc biệt các mặt hàng thiết yếu như vật tư, nhiên liệu, phục vụ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng Tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển kinh doanh thương mại dịch vụ du lịch Phấn đấu đạt mức tăng trưởng toàn ngành 3%.

Đề xuất huyện đầu tư, xây dựng quy hoạch phát triển hệ thống mạng dừng chân, các tuyến, diểm tham quan du lịch sinh thái và nghĩ dưỡng trong rừng phòng hộ.

Tập trung chuẩn hóa kỹ thuật các cầu đò, bến bãi, bến An Thới Đông- Hiệp Phước, Ấp 2 Hiệp Phước- An Hòa, An Thới Đông, bến vận chuyển hành khách Dòi Lầu

Lầu và các bến hàng hóa, bến vật liệu xây dựng hoàn chỉnh thủ tục pháp lí theo quy định,tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, thành phần kinh tế đầu tư, cung cấp mạng bưu chính viễn thông để nâng cao chất lượng phục vụ đáp ứng nhu cầu phát triển xã.

*Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp

Khuyến khích đầu tư phát triển các cơ sở chế biến thủy sản, đầu tư các cơ sở cung ứng các dịch vụ hậu cần, vật tư thiết bị phục vụ công nghiệp gia công để giải quyết việc làm cho lao động địa phương và hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp tham gia hoạt động xây dựng trên địa bàn Tiếp tục mở rộng mạng lưới điện phục vụ nhu cầu phát triển sản xuất, phấn đấu đến cuối năm 2011 tỉ lệ hộ dân sử dụng điện đạt 99%.

*Ngân sách:

Trang 30

Tiếp tục nâng cao hiệu quả quản lí điều hành ngân sách Đẩy mạnh công tác thu ngân sách Nhà nước, phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu thu ngân sách Nhà nước huyện giao Tiếp tục khai thác các quỹ hỗ trợ tín dụng cho nhân dân để phát triển sản xuất theo mục tiêu chương trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế của huyện nhằm cải thiện đời sống, nâng cao thu nhập cho nhân dân.

*Về đầu tư xây dựng cơ bản và phát triển

Phấn đấu đạt tốc độ phát triển đầu tư 8% tương ứng với tổng mức đầu tư xây dựng

dự kiến đạt 121,221 tỉ đồng, trong đó tập trung hoàn thành các công trình giao thông trọng điểm như: công trình nâng cấp đường Lý Nhơn, đường ống dẫn nước sạch Nhà Bè – Cần Giờ,trường tiểu học An Nghĩa, trường mẫu giáo An Thới Đông, Nhà bia ghi danh liệt sĩ Đồng thời xúc tiến đẩy nhanh tiến độ triển khai các công trình đường vành đai ứng phó chống biến đổi khí hậu, chợ An Thới Đông, cầu Rạch Giông, công trình xây dựng trường trung học cơ sở Doi Lầu, các công trình thủy lợi nuôi trồng thủy sản và công trình phòng chống lụt bão trên địa bàn xã Hoàn chỉnh hạ tầng khu dân cư mới Cá Cháy (cống thoát nước) phục vụ đời sống cư dân sau di dời.

*Về quản lý, phát triển đô thị và bảo vệ tài nguyên môi trường sinh thái:

* Quản lý phát triển đô thị: tăng cường công tác quản lý, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quy hoạch, xây dựng Hoàn thành các quy hoạch xây dựng theo tiêu chí xã nông thôn mới.

* Quản lý tài nguyên và sử dụng môi trường sinh thái: Tiếp tục tăng cường công tác quản lý, sử dụng đất đai Phối hợp với các ngành chức năng đẩy mạnh công tác giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sử dụng nhà ở

và tài sản gắn liền với đất cho các tổ chức, cá nhân theo quy định của Luật đất đai.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức và trách nhiệm của toàn xã hội về bảo vệ môi trường Huy động các nguồn lực để dầu tư hệ thống thoát nước, san lấp ao tù, nước đọng, từng bước khắc phục và ngăn chặn có hiệu

Trang 31

quả tình trạng ngập úng, ô nhiễm, bảo vệ môi trường Phấn đấu 100% chất thải rắn (độc hại, y tế) được thu gom xử lý Khuyến khích vận động các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn thực hiện cam kết bảo vệ môi trường.

4.2.2 Về phát triển văn hóa xã hội và chăm lo đời sống:

*Giáo dục đào tạo: Tiếp tục đổi mới, phát triển nâng cao toàn diện chất lượng giáo dục và đào tạo Tăng cường giáo dục thể chất, ứng dụng công nghệ tin học vào công tác giảng dạy, học tập và quản lý nhà trường, tiếp tục đổi mới công tác thi cử.

Đề xuất chính sách hỗ trợ để khuyến khích động viên đội ngũ giáo viên tham gia phong trào thi đua “dạy tốt, học tốt”; Kiên quyết ngăn chặn có hiệu quả hiện tượng tiêu cực và tệ nạn xã hội xâm nhập vào nhà trường, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh hoạt động hướng nghiệp, học nghề, giới thiệu đào tạo dạy nghề cho thanh niên.

*Y tế: Tiếp tục thực hiện đề án kiểm soát dân số vùng biển, nâng cao chất lượng cung cấp các dịch vụ trong lĩnh vực dân số gắn với chăm sóc sức khỏe sinh sản và

kế hoạch hóa gia đình.

Tiếp tục nâng cao chất lượng khám và điều trị bệnh tại trạm y tế xã và phòng khám khu vực An Nghĩa Chú trọng tăng cường dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe cho trẻ em, người nghèo, phấn đấu trên 98% trẻ em trong độ tuổi được tiêm chủng

mở rộng và giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng còn 65 Đẩy mạnh công tác phòng chống dịch bệnh Tăng cường công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm.

*Văn hóa thông tin: Phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” Tăng cường đầu tư phát triển các loại hình văn hóa, dịch vụ, giải trí lành mạnh Phấn đấu toàn xã có có 905

hộ gia đình văn hóa, 5/6 ấp đạt chuẩn văn hóa Phát triển mạnh mẽ thể dục thể thao quần chúng, phấn đấu xã có 28% dân số tham gia tập luyện thể dục thể thao thường xuyên Đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển đa dạng các loại hình thể dục thể thao, tạo sân choi lành mạnh cho thanh thiếu niên.

Trang 32

*Lao động, việc làm, chăm lo đời sống: Tăng cường công tác giải quyết việc làm, phấm đấu giải quyết việc làm mới cho 800 lao động, giảm tỉ lệ thất nghiệp xuống dưới 15% Tập trung đẩy mạnh cho vay vốn từ các nguồn quỹ (xóa đói giảm nghèo, quỹ Quốc gia giải quyết việc làm, Ngân hàng chính sách xã hội và các nguồn quỹ tín dụng của các đoàn thể) để hộ nghèo có điều kiện đầu tư, phát triển sản xuất, đảm bảo nguồn thu nhập, ổn định đời sống, góp phần thực hiện có hiệu quả mục tiêu giảm hộ nghèo (theo tiêu chí của thành phố), tăng hộ khá theo hướng bền vững và lâu dài Phấn đấu giảm tỉ lệ hộ nghèo theo chuẩn 12 triệu đồng/người/năm còn 40%.

Tăng cường vận động các quỹ xã hội để chăm lo đời sống, nhà ở, việc làm cho các hộ gia đình chính sách có công và các đối tượng thuộc diện trợ cấp xã hội.

*Quốc phòng an ninh:

Xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, đảm bảo lãnh đạo công tác xây dựng khu vực phòng thủ, xây dựng lực lượng quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân Hoàn thành chỉ tiêu giao quân Tăng cường công tác chuyển giao quản lý địa bàn, phối hợp chặt chẽ với các khu vực giáp ranh trong việc bảo vệ an ninh chính trị, an toàn xã hội Đẩy mạnh phong trào phòng chống và đâu tranh có hiệu quả các loại tội phạm, phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, giải quyết tốt các vụ án liên quân đến an ninh trật tự tại

cơ sở.

4.2.3 Cải cách hành chính, xây dựng chính quyền, phòng chống tham nhũng

Tiếp tục thực hiện cơ chế 1 cửa lưu thông, đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân Tổ chức công bố toàn bộ thủ tục hành chính áp dụng tại ủy ban nhân dân các xã Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, kĩ năng thực hiện công vụ và giáo dục phẩm chất đạo đức, chính trị cho cán bộ, công chức Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật trong nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân tham gia giám sát hoạt

Trang 33

động quản lý Nhà nước Duy trì thực hiện công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại tố cáo, không để xảy ra điểm nóng, khiếu nại, tố cáo đông người, vượt cấp Tăng cường nâng cao chất lượng công tác hòa giải cơ sở.

-Tiếp tục triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng, chống tham nhũng, tập trung các giải pháp phòng ngừa, tăng cường tính công khai, minh bạch trong thực hiện pháp luật, hoạt động của cơ quan nhằm đảm bảo thực hiện nghiêm các quy định của Luật phòng, chống tham nhũng Xây dựng và triển khai kế hoạch trong việc thực hiện các quy định về phòng, chống tham nhũng, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về cán bộ, công chức thực thi công vụ ở những bộ phận trực tiếp giải quyết yêu cầu của công dân, tổ chức nhằm nâng cao chất lượng thực thi công vụ.

4.2.4 Công tác phòng cháy chữa cháy

Tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục kiến thức về phòng cháy chữa cháy, kiểm tra an toàn phòng cháy chữa cháy ở các cơ sở sản xuất kinh doanh,khu dân cư trên địa bàn và rừng phòng hộ Kiên quyết xử lý, đề xuất xử lý các trường hợp vi phạm an toàn phòng cháy chữa cháy theo quy định của Chính phủ Củng cố và nâng cao năng lực hoạt động của lực lượng phòng cháy chữa cháy

đủ mạnh để xử lý kịp thời, có hiệu quả khi xảy ra cháy nỗ, theo đúng phương châm

“ 4 tại chỗ”.

4.2.5 Công tác phòng chống lụt bão

Tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác phòng chống lụt bão, tìm kiếm cứu nạn, giảm nhẹ thiên tai theo phương châm “4 tại chỗ” Triển khai tổ chức diễn tập phương án phòng, chống lụt bão, tìm kiếm cứu nạn, sơ tán dân để sẵn sàng ứng phó khi có bão Phối hợp tăng cường kiểm tra đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình thủy lợi, cômh trình phòng chống lụt bão Tăng cường vận động các

Trang 34

doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn thực hiện nghĩa vụ nộp quỹ phòng chống lụt bão theo quy định.

4.2.6 Tăng cường bình đẳng giới và nâng cao vị thế của phụ nữ

Tiếp tục thực hiện công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức trách nhiệm phụ nữ, nam giới và cộng đồng xây dựng gia đình, tích cực tham gia phòng chống bạo lực gia đình, quan tâm giúp đỡ phụ nữ neo đơn, tàn tật Đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ phụ nữ ( hỗ trợ vốn vay, giới thiệu việc làm….) phát triển kinh tế, tạo việc làm tăng thu nhập, vươn lên thoát nghèo làm giàu chính đáng.

4.2.7 Thực hiện chương trình phát triển thanh niên

Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện phong trào “ 5 xung kích phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ tổ quốc” và phong trào “ 4 đồng hành cùng thanh niên mưu sinh lập nghiệp” Khuyến khích thanh niên đầu tư thực hiện có hiệu quả các mô hình sản xuất, đẩy mạnh đào tạo nghề giới thiệu việc làm cho thanh niên.

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Giới là vấn đề hiện nay đang thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu cũng như các chuyênngành xã hội (Xã hội học, nhân học, công tác xã hội…) Các vấn đề về giới luôn được thể hiệndưới những khía cạnh và những góc nhìn khác nhau như quan hệ giới, bất bình đẳng về giới,bình đẳng giới, vai trò – vị trí và địa vị của nữ giới trong gia đình… Trong những năm trở lạiđây, vấn đề giới và phát triển đã trở thành một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu chochiến lược phát triển của các quốc gia Với mục đích mang lại “bình đẳng giới” cho con người.Dưới những góc tiếp cận khác nhau, với đa dạng những mảng chủ đề có liên quan, bức tranh về

Trang 35

giới và phát triển của nước ta đang dần được hoàn thiện và ngày càng được nhiều nhà nghiên cứuquan tâm qua rất nhiều đề tài nghiên cứu Nó không chỉ được chú trọng ở thành phố mà hiện naytại nông thôn, vùng sâu vùng xa cũng đã có sự quan tâm, tuy nhiên vẫn còn hạn chế Do vậy, đểhiểu hơn về cuộc sống người dân ven đô, đặc biệt là quan hệ giới của nguời dân nơi đây nhóm

chúng tôi đi tìm hiểu “Sự chuyển đổi mô hình quan hệ giới trong gia đình khu vực nông thôn ven đô” – Cần Giờ, TPHCM Với mục tiêu cụ thể là tìm hiểu về sự phân công lao động, quyền

ra quyết định, sự tiếp cận và sử dụng các nguồn lực giữa nam và nữ trong gia đình Từ đó có thểhiểu rõ hơn về vấn đề giới của nguời dân ven đô, đồng thời thấy được sự khác biệt về giới củangười dân nông thôn ven đô so với người dân sống tại thành phố

1 Các lý thuyết về giới

Đề tài: “Nghiên cứu giới ở Việt Nam_ Quá trình và xu hướng” của tác giả: Nguyễn Linh Khiếu (Tạp chí cộng sản - cập nhật: 6/3/2007) đã nghiên cứu khoa học về phụ nữ với tư cách là

một ngành khoa học độc lập xuất hiện ở nước ta vào nửa cuối những năm 80 của thế kỷ trước

Sự ra đời của ngành khoa học mới này là do nhu cầu, đòi hỏi tất yếu của thực tiễn đổi mới đấtnước, của phong trào phụ nữ rộng khắp Vì vậy, sau khi ra đời, khoa học nghiên cứu về phụ nữ

đã nhận được sự quan tâm, ủng hộ của các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đông đảo các nhà khoahọc và hầu như của toàn xã hội

Phụ nữ Việt Nam có một truyền thống vẻ vang trong lịch sử dân tộc Qua thăng trầm lịch

sử, thời đại nào gương mặt người phụ nữ cũng hiện lên rạng ngời cùng những chiến công hiểnhách của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên, cũng như ở nhiều nơi, phụ nữ ViệtNam mặc dù chiếm một nửa dân số, có vai trò to lớn và tham gia trực tiếp vào mọi lĩnh vực củađời sống xã hội, thế nhưng, lại thường trở nên “vô hình”, thường là người phải “hy sinh” và chịuthiệt thòi nhất

Nghiên cứu khoa học về phụ nữ là một ngành khoa học xã hội và nhân văn, vì vậy, cũngnhư nhiều ngành khoa học xã hội khác ở nước ta, các nghiên cứu thường hướng tới những vấn đềbức xúc đang đặt ra nhằm tích cực giải đáp những đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn cuộc sống; hơnthế, khoa học về phụ nữ ngay từ đầu đã gắn chặt với phong trào hoạt động sôi nổi của phụ nữViệt Nam; do đó, trong thời kỳ đầu, nghiên cứu khoa học về phụ nữ tập trung nghiên cứu đờisống người phụ nữ nông dân, công nhân, trí thức với các khía cạnh hôn nhân, gia đình, lao động,việc làm, thu nhập, sinh sản và nuôi con nhỏ, Những kết quả nghiên cứu bước đầu này, mặc dùcòn nhiều hạn chế nhưng đã thiết thực góp phần xây dựng cơ sở lý luận cho việc hoạch định

Trang 36

chính sách phát triển đất nước, đã đánh động và thu hút được sự quan tâm không chỉ của các nhàkhoa học, các nhà quản lý, lãnh đạo mà của cả xã hội đối với những vấn đề liên quan đến đờisống của người phụ nữ.

Cùng với quá trình giao lưu và hội nhập, vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX, bằngnhiều con đường khác nhau, quan điểm giới được nhanh chóng du nhập và truyền bá vào Việt

Nam Sự xuất hiện cách tiếp cận giới chính là bước đột phá quyết định sự phát triển mạnh mẽ và

ấn tượng của khoa học nghiên cứu về phụ nữ và cùng với nó là sự biến đổi nhanh chóng quanniệm, thái độ, hành vi của xã hội và thực tiễn tạo lập bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực của xãhội Việt Nam thời kỳ đổi mới

Giới là đặc trưng văn hóa, xã hội của đời sống nam và nữ Giới tính là đặc trưng sinh thểcủa đời sống nam và nữ Những đặc trưng sinh thể của con người thường ít biến đổi và tuân theoquy luật tự nhiên còn những đặc trưng văn hóa, xã hội thường biến đổi theo sự biến đổi của cấutrúc một xã hội nhất định và tuân theo quy luật xã hội Điều này có nghĩa, theo quan điểm giới,

về mặt xã hội, nam và nữ là hoàn toàn bình đẳng với nhau Sự khác biệt của hai giới chỉ là donhân tạo, là do quan niệm, giáo dục, truyền thống và quyền lực chính trị của các thời đại tạo nên

Quan điểm giới có nguồn gốc từ các lý thuyết nữ quyền xuất hiện và phát triển rất sôiđộng ở các xã hội phương Tây, bắt đầu từ giữa thế kỷ XX Lý thuyết nữ quyền tạo nên các phongtrào xã hội mạnh mẽ, đấu tranh chống lại sự thống trị của nam giới, phê phán quyết liệt chế độ ápbức phụ nữ, đòi quyền lợi cho phụ nữ, tạo lập bình đẳng giới Mặc dù có chung mục đích là vì sựphát triển của phụ nữ chống lại chế độ nam trị, nhưng lý thuyết nữ quyền có nhiều trường pháikhác nhau; thậm chí, có những trường phái mâu thuẫn nhau gay gắt Có thể nêu một số lý thuyết

nữ quyền có ảnh hưởng mạnh đến xã hội phương Tây thời gian qua là: Nữ quyền tự do, Nữquyền mác-xit, Nữ quyền xã hội chủ nghĩa, Nữ quyền phúc lợi, Nữ quyền triệt để, Nữ quyềnhiện sinh, Nữ quyền phân tâm; và gần đây xuất hiện một số lý thuyết nữ quyền mới, như: Nữquyền hậu hiện đại, Nữ quyền da đen, Nữ quyền phụ nữ thế giới thứ ba,

Chính các lý thuyết nữ quyền này đã tác động đến nhiều khía cạnh khác nhau của đờisống xã hội và đã tạo nên những quan điểm lý luận và làn sóng nữ quyền đấu tranh giải phóngphụ nữ và bình đẳng giới rất sôi động ở các xã hội này hơn một nửa thế kỷ qua Đó là làn sóng

Phụ nữ trong phát triển (WID) xuất hiện vào đầu những năm 70, Phụ nữ và phát triển (WAD)

xuất hiện vào cuối những năm 70, Giới và sự phát triển (GAD) xuất hiện vào những năm 80 của

thế kỷ trước và ngày càng được điều chỉnh, bổ sung và tiếp tục phát triển Trong 3 quan điểm tạo

Trang 37

nên những cuộc tranh luận nữ quyền và phong trào xã hội ở các nước phát triển phương Tây thìWAD và GAD được hình thành trên cơ sở lý luận mác-xit và xã hội chủ nghĩa Đặc biệt, quanđiểm GAD, sau khi xuất hiện đã tạo nên phong trào xã hội rộng lớn và có đóng góp tích cực đến

sự phát triển không chỉ của phụ nữ mà của cả xã hội, không chỉ ảnh hưởng mạnh ở xã hộiphương Tây phát triển mà còn ở nhiều xã hội đang phát triển, nhất là châu Á, châu Phi và NamMỹ

Vào đầu những năm 90 thế kỷ XX, qua giao lưu và hội nhập, các lý thuyết nữ quyền từngbước được truyền bá vào Việt Nam và sự truyền bá này ngày càng mạnh mẽ và đa dạng Xem xétquá trình và xu hướng nghiên cứu Giới ở Việt Nam thời gian qua, có thể thấy có ba thời kỳtương đối rõ rệt Thời kỳ thứ nhất là 5 năm đầu của thập niên cuối thế kỷ XX, thời kỳ thứ hai là 5năm cuối thế kỷ và thời kỳ thứ ba là những năm đầu của thế kỷ XXI Hai thời kỳ sau, việcnghiên cứu và truyền bá về giới nói riêng và phong trào giải phóng phụ nữ ở nước ta nói chungchịu ảnh hưởng mạnh mẽ của hai sự kiện quan trọng Đó là Cương lĩnh hành động Bắc Kinh vàcác mục tiêu phát triển thiên niên kỷ

Thời kỳ thứ nhất nghiên cứu và truyền bá về giới ở nước ta được triển khai rất sôi nổi,

phong phú và rộng khắp Điều thú vị là mặc dù một lý thuyết được du nhập từ phương Tây vàonước ta nhưng hầu như nó không gặp bất cứ một sự kỳ thị, phê phán và cản trở nào đáng kể.Thời kỳ đầu, có nhiều hội thảo, lớp tập huấn, dịch, in, phát hành tài liệu và nhiều dự án nghiêncứu về giới được triển khai với sự tài trợ của các chính phủ và các tổ chức phi chính phủ nướcngoài Đó là những hoạt động hướng vào tuyên truyền và phổ biến một cách chung nhất quanđiểm giới cả lý thuyết và thực hành dưới sự bảo trợ và tham dự của các tổ chức và chuyên gianước ngoài Các đối tượng được hướng tới đầu tiên là nhà nghiên cứu, cán bộ hội phụ nữ, cán bộlãnh đạo chính quyền và đoàn thể, cán bộ dự án, nhà báo, giảng viên đại học Công tác học tập,

đào tạo, phổ biến quan điểm giới được diễn ra theo ba hướng: thứ nhất, các chuyên gia nước ngoài vào nước ta tổ chức hội thảo, tập huấn tại chỗ; thứ hai, các chuyên gia của Việt Nam được tài trợ tham gia các hội thảo, lớp tập huấn, học tập và nghiên cứu ở nước ngoài; và thứ ba, biên

soạn, dịch thuật, xuất bản tài liệu, sách báo về giới và lý thuyết nữ quyền

Cùng với công tác học tập, đào tạo và truyền bá quan điểm giới, các đề tài, dự án nghiêncứu về phụ nữ, gia đình, dân số, kinh tế hộ, sở hữu đất đai, đời sống của các nhóm phụ nữ: nôngdân, công nhân, ngư dân, tiểu thương cũng được tiến hành nghiên cứu theo quan điểm giới,được tài trợ tài chính và sự tư vấn, hướng dẫn trực tiếp của các chuyên gia nước ngoài về giới

Trang 38

Những nghiên cứu đầu tiên theo quan điểm giới mặc dù có kết quả cụ thể về nội dung nhưngthực chất chỉ là những nghiên cứu mang nặng tính chất thực hành lý thuyết, chứng minh sự đúngđắn của lý thuyết giới và phát giác sự “mù giới” của các nền văn hóa, sự khuyết tật của các bảnggiá trị truyền thống Có thể đánh giá việc nghiên cứu giới ở những năm đầu cơ bản vẫn hướng

về mục tiêu học tập, phổ biến và truyền bá quan điểm giới là chính

Với cách làm như thế, chỉ sau vài năm đầu thập niên 90 thế kỷ XX, quan điểm giới đã thuhút sự quan tâm của xã hội và nhanh chóng được truyền bá rộng rãi ở nước ta Tuy nhiên, vớicách làm mang tính tự phát và chưa có kế hoạch, lộ trình chưa được kiểm soát chặt chẽ nên cùngvới sự du nhập quan điểm giới và những lý thuyết nữ quyền tiến bộ, phù hợp với sự phát triểnbền vững và ổn định, hầu như mọi lý thuyết nữ quyền đều được truyền bá vào Việt Nam Đặcbiệt, nhiều chuyên gia khi tập huấn và đào tạo về giới đã gán ghép nhầm lẫn ý kiến của cáctrường phái nữ quyền khác nhau cũng như đã không thể phân biệt được quan điểm của phụ nữtrong phát triển, phụ nữ và phát triển, giới và sự phát triển

Dẫu vậy, chỉ một thời gian ngắn với những nỗ lực không mệt mỏi của đội ngũ nghiên cứu

và đào tạo về giới những tư tưởng cơ bản của quan điểm giới đã được truyền bá tương đốithành công vào Việt Nam và nhanh chóng trở thành một công cụ quan trọng của khoa học nghiêncứu về phụ nữ và của phong trào giải phóng phụ nữ ở nước ta

Thời kỳ thứ hai của nghiên cứu và truyền bá giới ở nước ta được thực hiện trên cơ sở

phát huy những thành tựu đã đạt được, công tác nghiên cứu và đào tạo về giới bước sang mộtgiai đoạn mới Đây chính là thời kỳ tiến hành thực hiện Cương lĩnh hành động Bắc Kinh và thựchiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ Nhằm khắc phục những hạn chế của thời kỳ đầu

nghiên cứu về giới, trước hết, nhiều cán bộ được cử đi đào tạo ở nước ngoài với nhiều hình thức

khác nhau, nhất là đào tạo thạc sỹ và tiến sỹ về các lĩnh vực giới và liên quan đến giới Đâychính là sự chuẩn bị nhân lực quan trọng cho đội ngũ nghiên cứu và đào tạo về giới trong tươnglại

Thứ hai, nghiên cứu lý thuyết quan điểm giới, quan điểm nữ quyền và lý thuyết nghiên

cứu phụ nữ được đầu tư và đẩy mạnh Những nghiên cứu lý thuyết này, một mặt, nhằm giới thiệumột cách đầy đủ và toàn diện lịch sử phong trào nữ quyền ở phương Tây, những trường phái nữquyền cơ bản - nguồn gốc và ảnh hưởng của nó đến phong trào phụ nữ cũng như các ngành khoahọc xã hội và nhân văn, phụ nữ học và sự hình thành quan điểm giới và vai trò của nó đối vớithực tiễn cuộc sống và các ngành khoa học xã hội ở các nước phát triển

Trang 39

Thứ ba, những nghiên cứu khoa học về phụ nữ, dân số, gia đình và phát triển theo quan

điểm giới Đây là thời kỳ các chương trình, dự án, đề tài nghiên cứu khoa học và thực tiễn theoquan điểm giới được triển khai một cách vừa sâu sắc vừa quy mô Quan điểm giới thực sự đãthấm nhuần trong triển khai các hướng nghiên cứu Đó là hướng nghiên cứu nhằm xây dựngchính sách, chương trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; nghiên cứu điều tra cơ bản về giađình, phụ nữ và vai trò của người phụ nữ, điều tra cơ bản về nguồn nhân lực, điều tra cơ bản vềlao động và việc làm ở nông thôn, ở đô thị và miền núi, điều tra cơ bản về đời sống ngư dân, điềutra cơ bản về đội ngũ trí thức, điều tra cơ bản về việc thực hiện chính sách dân số, kế hoạch hóagia đình, điều tra cơ bản về sức khỏe sinh sản và trẻ vị thành niên ; nghiên cứu về tình yêu, hônnhân, gia đình; nghiên cứu những tiềm năng và nguồn lực của gia đình trong phát triển kinh tếhộ; nghiên cứu chuyên sâu về sản xuất, tái sản xuất và phúc lợi gia đình; triển khai các dự án, cácchương trình phát triển kinh tế - xã hội có lồng ghép giới

Điều dễ nhận thấy là, nếu các đề tài, dự án nghiên cứu theo xu hướng chủ đạo giới cácthời kỳ trước chủ yếu do nước ngoài tài trợ về tài chính thì các đề tài, dự án nghiên cứu thời kỳnày nguồn kinh phí chủ yếu do chính phủ Việt Nam cung cấp Thực tế này cho thấy, vấn đề giớikhông còn chỉ là mối quan tâm của giới nữ mà đã trở thành của xã hội

Rõ ràng, vào những năm cuối thế kỷ, vấn đề giới đã trở nên quen thuộc ở nước ta Vềkhoa học, quan điểm giới, lý thuyết nữ quyền và khoa học nghiên cứu về phụ nữ của các nhàhoạt động vì phụ nữ ở các nước phương Tây phát triển đã được phổ biến rộng rãi ở nước ta Cáclớp tập huấn về giới không chỉ dành cho những nhà nghiên cứu, các cán bộ dự án hay các nhàquản lý và lãnh đạo bậc cao nữa mà đã dành cho các cán bộ chính sách, cán bộ dự án của cácban, ngành, đoàn thể, cán bộ cơ sở và đông đảo phụ nữ và nam giới cả ở nông thôn và thành thị.Các nghiên cứu khoa học ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đều được thực hiện với xu thế chủđạo giới hay còn được gọi là lồng ghép giới Những nghiên cứu hướng tới xây dựng chính sáchphát triển kinh tế - xã hội, văn hóa - giáo dục, sức khỏe và dân số - kế hoạch hóa gia đình cũngnhư các dự án, chương trình điều tra cơ bản theo quan điểm giới ở tầm vĩ mô chính là xu hướngchủ đạo và những thành tựu nổi bật, những bước tiến bộ vượt bậc của nghiên cứu giới ở ViệtNam

Thời kỳ thứ ba của nghiên cứu và truyền bá giới ở Việt Nam được bắt đầu từ những

năm đầu thế kỷ XXI và về thực chất nó là sự tiếp tục những cố gắng cũng như những thành tựucủa hai thời kỳ trên Có thể khẳng định, sau 10 năm được truyền bá vào Việt Nam, quan điểm

Trang 40

giới đã thực sự làm thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của nhiều người Việt Nam đối với cácvấn đề phụ nữ, bình đẳng, hội nhập và phát triển Xu thế toàn cầu hóa đang ngày càng tác độngđến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, sự chủ động và tích cực của Việt Nam trong hội nhập quốc

tế, những thành tựu to lớn và toàn diện của công cuộc đổi mới mang lại đang mở ra những cơ hội

và thách thức cho sự phát triển của mọi người Việt Nam nói chung và phụ nữ nói riêng Trongbối cảnh đó, để đáp ứng kịp thời những đòi hỏi thực tiễn của sự nghiệp giải phóng phụ nữ,nghiên cứu về giới ở nước ta đã có một bước phát triển mới

Thật vậy, trước hết, để đáp ứng những đòi hỏi về mặt lý luận cần phải thiết kế và xâydựng lý luận giới phù hợp với thực tiễn Việt Nam, nhiều tác giả đã nghiên cứu một cách thấu đáocác lý thuyết nữ quyền; đặc biệt là hai trường phái nữ quyền: Nữ quyền mác-xit và Nữ quyền xãhội chủ nghĩa - hai trường phái cơ bản hình thành nên quan điểm giới Các tác giả đặc biệt quantâm nghiên cứu hệ thống quan điểm của các nhà kinh điểm chủ nghĩa Mác - Lê-nin về phụ nữ vàgiải phóng phụ nữ với tư cách là cơ sở lý luận của quan điểm giới; đồng thời, các tác giả cũngtập trung nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta và hệ thống pháp luật củaNhà nước Việt Nam về phụ nữ, giải phóng phụ nữ và bình đẳng giới Hơn thế, nhiều tác giả đãnghiên cứu một cách có hệ thống truyền thống lịch sử vẻ vang của phụ nữ Việt Nam, truyềnthống “tôn trọng phụ nữ”, cũng như Đạo Mẫu ở Việt Nam nhằm tìm ra cơ sở lịch sử và bản sắctương đồng của quan điểm giới

Những nghiên cứu này, mặc dù mới đạt được một số thành tựu bước đầu nhưng vô cùngquan trọng, bởi nó thực sự góp phần tích cực xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn cho sự hìnhthành một hệ thống quan điểm giới vừa đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế, vừa tạo ra cơ sở lýluận và động lực vững chắc cho sự nghiệp giải phóng phụ nữ và bình đẳng giới ở nước ta Vềmặt khoa học, đây cũng là một bước tiến quan trọng trong quá trình xây dựng ngành phụ nữ họcnon trẻ ở Việt Nam

Các nghiên cứu khoa học thời kỳ này tập trung nghiên cứu hệ thống pháp luật hiện hành,

hệ thống an sinh và bảo trợ xã hội, việc thực hiện chính sách xã hội, các chính sách phát triểnkinh tế xã hội ở tầm vĩ mô, địa vị của người phụ nữ trong xã hội, quyền của phụ nữ, phụ nữ thamgia công tác quản lý và lãnh đạo, hệ thống dịch vụ xã hội hỗ trợ gia đình, giới và công tác xóađói giảm nghèo, vấn đề buôn bán phụ nữ và trẻ em, bạo hành chống phụ nữ trong gia đình và xãhội Trên cơ sở những kết quả thu được, sự phân tích số liệu tương quan giới từ các dự án điềutra cơ bản, những đề án nghiên cứu ở tầm vĩ mô có lồng ghép giới và những nghiên cứu mới

Ngày đăng: 04/02/2015, 21:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Độ tuổi lao động - Sự biến đổi của mô hình quan hệ giới trong gia đình ở vùng ven đô thị
Bảng 1 Độ tuổi lao động (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w