1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bình đẳng giới trong sự phân công lao động ở các gia đình đô thị hiện nay

33 1,7K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 203,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thế nhưng, xã hội ngày càngphát triển, sức mạnh về thể chất không còn chiếm ưu thế tuyệt đối nữa mà đồngthời, xã hội cần những công dân có trí tuệ, có sức mạnh về tinh thần, đó là nhữngđ

Trang 1

BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG SỰ PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG Ở CÁC

GIA ĐÌNH ĐÔ THỊ HIỆN NAY ( Khảo sát trên địa bàn Hà Nội )

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN ĐỀ CƯƠNG

1 Tính cấp thiết của đề tài ……… 1

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu………5

2.1 Mục đích nghiên cứu……….5

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu……….5

3 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu………5

3.1 Đối tượng nghiên cứu……… 5

3.2 Khách thể nghiên cứu………6

3.3 Phạm vi nghiên cứu………6

4 Phương pháp nghiên cứu………6

4.1 Phương pháp nghiên cứu định lượng……… 6

4.2 Phương pháp nghiên cứu định tính……… 6

4.3 Phương pháp thu thập dữ liệu……… 7

4.4 Phương pháp quan sát……… 7

PHẦN NỘI DUNG Chương I Cơ sở lý luận 1.Cơ sở lý luận……….7

1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề bình đẳng giới trong gia đình ……….7

1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề bình đẳng giới trong gia đình 8

1.3 Quan điểm của Đảng, nhà nước về vấn đề bình đẳng giới trong gia đình ……… 9

2.Các phương pháp tiếp cận ……… 10

2.1 Lý thuyết cơ cấu chức năng ………10

2.2 Lý thuyết giới ………11

2.3 Lý thuyết nữ quyền ……… 11

Trang 3

Chương II Vấn đề bình đẳng giới trong sự phân công lao động ở các gia đình đô thị hiện nay

1 Bình đẳng giới trong hoạt động sản xuất………12

1.1 Bình đẳng giới trong lao động sản xuất và lao động tái sản xuất…12 1.2 Bình đẳng giới trong cách tiếp cận về mặt kinh tế………15 1.3 Bình đẳng giới trong vấn đề tạo quyền sử dụng giữa nam và nữ trong gia đình……….18

2 Bình đẳng giới trong hoạt động chăm sóc gia đình và sinh đẻ……… 21

2.1 Vai trò của người phụ nữ trong gia đình……… ……… 21 2.2 Bình đẳng giới trong cách tiếp cận nguồn lực văn hóa, giáo dục………24

2.3 Bình đẳng giới trong cách tiếp cận nguồn lực y tế, sức khỏe………26

3 Bình đẳng giới trong hoạt động cộng đồng……… 27

Chương III Nguyên nhân và giải pháp

1 Nguyên nhân dẫn đến vấn đề bất bình đẳng giới trong gia đình………… 29

2 Giải pháp nhằm xóa bỏ tình trạng bất bình đẳng giới ……… 30

Chương IV Kết luận và khuyến nghị

1 Kết luận ……… 30

2 Khuyến nghị ……… 31

PHẦN ĐỀ CƯƠNG

Trang 4

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong lịch sử phát triển xã hội, loài người đã biết đến chế độ mẫu hệ, lúc đóquyền lực trong dòng tộc thuộc về người phụ nữ Xã hội phát triển, thay đổi, chế độmẫu hệ dần dần bị thu hẹp lại và được thay thế bằng chế độ phụ hệ, từ đó quyền lựcthuộc về nam giới Và trong sự phát triển, chính nhờ sự mạnh mẽ về thể chất, sựcứng rắn về tinh thần của người đàn ông đã góp phần củng cố cho địa vị thống trịcủa họ Người phụ nữ, với đặc điểm do tạo hóa sinh ra là có chức năng mang thai,sinh con và nuôi con bằng sữa mẹ Họ không có sự mạnh mẽ, cường tráng của đànông nên ở các giai đoạn đầu trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, khi màsức mạnh về thể chất là điều kiện tiên quyết của sự tồn vong và phát triển, thì lẽđương nhiên là phụ nữ bị loại xuống hàng thứ hai Thế nhưng, xã hội ngày càngphát triển, sức mạnh về thể chất không còn chiếm ưu thế tuyệt đối nữa mà đồngthời, xã hội cần những công dân có trí tuệ, có sức mạnh về tinh thần, đó là nhữngđặc điểm mà phụ nữ không hề thua kém nam giới, thậm chí trong một số lĩnh vực,

ở họ có sự vượt trội hơn, đó là sức chịu đựng dẻo dai bền bỉ, sự dịu dàng tế nhị là

ưu điểm lớn đối với một số lĩnh vực như y tế, giáo dục…; khả năng về ngôn ngữ vàvăn hóa văn nghệ trong lĩnh vực thơ văn, nhạc họa…; sức biểu cảm bằng ngôn ngữhình thể trong một số loại hình nghệ thuật múa, hát…

Ở Việt Nam, từ sau khi Cách mạng tháng 8-1945 thành công, vấn đề bìnhđẳng giới đã bắt đầu được đề cập đến Chính sách giải phóng phụ nữ, xóa bỏ địnhkiến và bất công đối với phụ nữ được Bác Hồ và Nhà nước cách mạng thực hiệnmột cách nhất quán và được quy định từ Hiến pháp đầu tiên của nhà nước ta từ năm

1946 và được kế thừa và phát triển trong các Hiến pháp sau Đến nay, ở Việt Namquyền của phụ nữ ngang với quyền của nam giới được cụ thể hóa trong các luật dân

sự, kinh tế, hôn nhân và gia đình cũng như trong các luật về bầu cử, tham gia quản

lý nhà nước, quản lý xã hội Trên thực tiễn, nhiều thành tựu trên các mặt kinh tế,văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật đều ghi lại dấu ấn của sự đóng góp to lớn củaphụ nữ

Trang 5

Và ngày nay, vấn đề bình đẳng giới đang nhận được rất nhiều sự quan tâmcủa hầu hết các quốc gia và được xác định là 1 trong 8 mục tiêu Thiên niên kỷ củatoàn cầu Đồng thời bình đẳng giới cũng được đề cập đến trong các chương trình,

dự án phát triển hợp tác song phương và đa phương giữa các quốc gia Sở dĩ cầnphải thực hiện bình đẳng giới vì bình đẳng giới bảo đảm cho quyền con người,quyền và nghĩa vụ công dân của nam và nữ được thực hiện đầy đủ; đảm bảo khôngtồn tại bất cứ sự phân biệt đối xử trực tiếp hoặc gián tiếp nào đối với nam hoặc nữtạo nên sự không công bằng và làm hạn chế sự phát triển, sự đóng góp tích cực củanam, nữ vào quá trình phát triển; xoá bỏ khoảng cách giới thực tế trên tất cả cáclĩnh vực; thúc đẩy quá trình phát triển bền vững kinh tế - xã hội, xoá đói giảmnghèo; giúp trẻ em gái và phụ nữ có địa vị bình đẳng, có cơ hội và điều kiện thamgia học tập, bồi dưỡng đầy đủ, tích luỹ kiến thức về mọi mặt như trẻ em trai và namgiới; phát huy hết tiềm năng và hưởng lợi từ thành quả của sự phát triển gia đình vàđất nước

Chủ tịch HCM đã từng nói: “ Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.Đàn bà có quyền bình đẳng với đàn ông về mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội vàgia đình ” Bình đẳng giới rất quan trọng và được cả xã hội quan tâm Một trongnhững khía cạnh nằm trong mối quan tâm ấy là sự phân công lao động theo giớitrong các gia đình ở đô thị hiện nay Và ngày nay, trong xã hội thì phụ nữ và namgiới có vị trí như nhau và có cơ hội như nhau để làm việc và phát triển, vấn đề giảiphóng phụ nữ tăng cường sự tham chính của phụ nữ đã và đang gắn liền với vấn đềbình đẳng giới và được thực hiện bằng hành động thực tiễn chứ không chỉ dừng lại

ở những khái niệm, ý tưởng trừu tượng hay những tuyên bố pháp lý Nhà xã hộihọc Chủ Nghĩa Xã hội không tưởng Phurie (XIX) cho rằng: "Giải phóng phụ nữ,thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ cùng với nam giới là một thước đo của vănminh"

Việt Nam là một trong những quốc gia sớm tham gia ký và phê chuẩn Côngước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) Việt

Trang 6

Nam đang tích cực xây dựng một xã hội bình đẳng, dân chủ và văn minh, vấn đềnam nữ bình quyền được chú trọng hơn bao giờ hết Việt Nam cũng là nước đượcLiên hiệp Quốc đánh giá cao trong việc nỗ lực rút ngắn khoảng cách Bình đẳnggiới trong giáo dục, việc làm, tiền lương,…

Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng nâng cao đời sống vật chất lẫn tinhthần của phụ nữ, củng cố và tăng cường vị trí và đảm bảo quyền bình đẳng của phụ

nữ trong xã hội, tạo điều kiện và cơ hội cho phụ nữ tham gia ngày càng nhiều hơnvào việc quản lý Nhà nước và xã hội Trước kia phụ nữ thường bị trói buộc trongphạm vi gia đình với những tư tưởng "trọng nam khinh nữ", "nam nội nữngoại"…nên cơ hội cho phụ nữ tham gia các hoạt động xã hội nói chung và hoạtđộng lãnh đạo quản lý nói riêng hầu như là không có Nâng cao vị thế, vai trò phụ

nữ, tạo điều kiện cho họ tham gia vào hoạt động chính trị, vào công tác lãnh đạoquản lý là vấn đề hết sức cần thiết cho sự phát triển xã hội, góp phần thúc đẩy quátrình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Chỉ thị 37/CT-TW ngày 16-5-1994khẳng định: " Nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế-

xã hội là một yêu cầu quan trọng để thực hiện quyền bình đẳng, dân chủ của phụ

nữ, là điều kiện để phát huy tài năng, trí tuệ và nâng cao địa vị của phụ nữ" Tronglịch sử phát triển xã hội loài người, bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về giới cũng đềucản trở sự phát triển bền vững, tạo nên xung đột xã hội Vì vậy, vấn đề bình đẳnggiới mang ý nghĩa hết sức sâu sắc về cả kinh tế, văn hoá, chính trị

Một trong những chỉ tiêu quan trọng mà Liên hiệp Quốc đã khuyến nghị cácquốc gia phải đạt dược trong tương lai là: đảm bảo không ít hơn 30% phụ nữ ở các

cương vị hoạch định và giải quyết các chính sách và chủ trương Phụ nữ Việt Nam

đã có nhiều đóng góp không nhỏ vào sự nghiệp phát triển đất nước Tuy nhiên vịthế và vai trò của họ vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và đóng góp của họ.Trong quá trình tham gia công tác lãnh đạo quản lý, phụ nữ ngày càng có nhiềuthuận lợi, song cũng khá nhiều rào cản ảnh hưởng tới con đường lãnh đạo của họ

mà bao trùm là định kiến giới về năng lực, từ phía gia đình, Chính sách xã hội và

Trang 7

những phong tục lạc hậu, kéo theo những bất cập khác khi họ tiếp cận hay tham giacông tác lãnh đạo quản lý Vì thế để phụ nữ tự tin trên con đường lãnh đạo quản lýcùng nam giới, Đảng và Nhà nước cần có những chính sách và biện pháp phù hợphơn để vị thế và vai trò của phụ nữ được nâng lên một tầm cao hơn.

Do đó, nghiên cứu về “Bình đẳng giới trong sự phân công lao động ở các gia đình đô thị hiện nay” là hết sức quan trọng và cần thiết.

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc nghiên cứu về vấn đề bình đẳnggiới trong sự phân công lao động ở các gia đình đô thị hiện nay

Khảo sát định lượng và định tính về vấn đề bình đẳng giới trong sự phâncông lao động ở các gia đình

Tìm hiểu quan hệ nam nữ trong gia đình truyền thống, từ đó rút ra những nétđộc đáo của sự bình đẳng trong các gia đình đô thị hiện nay

Đánh giá thực trạng mối quan hệ giới trong các gia đình đô thị hiện nay

Đề xuất các phương hướng cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm giảm dần sựbất bình đẳng giới trong sự phân công lao động ở các gia đình đô thị hiện nay

3 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Bình đẳng giới trong sự phân công lao động ở các gia đình đô thị hiện nay

3.2 Khách thể nghiên cứu

Gia đình đô thị Hà Nội

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Trang 8

Được tiến hành nghiên cứu tại : Quận Đống Đa, Quận Cầu Giấy, Quận BaĐình

3.4 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 10/2010 đến tháng 9/2011

4 Phương pháp nghiên cứu.

4.1 Phương pháp nghiên cứu định lượng

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Đây là phương pháp sử dụng bảng câuhỏi dưới dạng viết và các câu trả lời tương ứng

Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 11.5 với 2 loại câu hỏi là câu hỏi mở vàcâu hỏi đóng thể hiện qua hai dạng bảng chủ yếu là bảng mô tả và bảng kết hợp

4.2 Phương pháp nghiên cứu định tính.

Phương pháp chính được sử dụng trong nghiên cứu định tính là phương phápphỏng vấn sâu, thảo luận nhóm, phương pháp này sử dụng bảng câu hỏi mang tínhchất gợi mở

Nhóm tiến hành phỏng vấn một số đối tượng là cán bộ và người dân ở Q.Đống Đa, Q Cầu giấy, Q Ba Đình

Phương pháp phỏng vấn sâu được kết hợp với phương pháp điều tra bằngbảng hỏi trong nghiên cứu định lượng để bổ sung và lý giải cho những con số màphương pháp điều tra bằng bảng hỏi thu thập được

4.3 Phương pháp thu thập dữ liệu

Nghiên cứu và phân tích các tài liệu có sẵn liên quan đến đề tài Dữ liệu thứcấp được thu thập từ các nguồn chính sau: các thông tin sẵn có thu thập được ở HàNội, các báo cáo và các công trình nghiên cứu trước đây và các tài liệu có sẵn đượcđăng tải trên các báo, tạp chí và các công trình nghiên cứu có liên quan

4.4 Phương pháp quan sát

Quan sát trực tiếp địa bàn của Q Đống Đa, Q Cầu giấy, Q Ba Đình

PHẦN NỘI DUNG Chương I Cơ sở lý luận

Trang 9

Vấn đề bình đẳng nam nữ trong các gia đình đã được các nhà kinh điển củachủ nghĩa Mác – Lênin đặc biệt coi trọng Có thể nói bình đẳng toàn diện nam và

nữ là lý tưởng mà nhân loại đã theo đuổi nhiều thế kỉ Chủ nghĩa Mác cho rằng đểgiải phóng phụ nữ cả trong gia đình và ngoài xã hội phải giải phóng họ khỏi áp bức,bất công, mọi ràng buộc, bất bình đẳng mà chế độ áp bức bóc lột đã quàng lên cổ

họ, điều đó chỉ có cách mạng vô sản mới làm được

Theo V.I Lênin thì bình đẳng nam nữ không đồng nghĩa với sự ngang bằngtheo kiểu phụ nữ tham gia lao động sản xuất với năng suất, khối lượng thời gian vàđiều kiện lao động như nam giới, bởi “ ngay trong điều kiện hoàn toàn bình đẳng,thì sự thật phụ nữ vẫn bị trói buộc vì toàn bộ công việc gia đình trút lên vai phụ nữ

1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề bình đẳng giới trong gia đình

Hồ Chí Minh đã cụ thể hoá các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin

về bình đẳng nam nữ phát triển lên một tầm cao mới Theo Bác cần phải quan tâmđến gia đình vì “Nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội càng tốt thì giađình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt Hạt nhân của xã hội là gia đình” Phụ

nữ là một lực lượng rất lớn của gia đình, nhưng khác với nam giới, họ có những đặc

Trang 10

điểm sinh lí khác biệt Bác cho rằng cần phải có sự phân công lao động hợp lí, phảichú y bảo vệ sức khoẻ cho lao động nữ để chị em phát huy tối đa khả năng củamình.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những nhà lãnh đạo cách mạng Việt Namrất quan tâm đến bình đẳng giới, Bác đã khẳng định: “Công dân đều bình đẳngtrước pháp luật Đàn bà có quyền bình đẳng với đàn ông về các mặt chính trị, kinh

tế, văn hoá, xã hội và gia đình”

Nhận rõ vai trò của phụ nữ thế giới nói chung, phụ nữ Việt Nam nói riêng,Người nhận định rằng: "Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng nhưgià, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ"

Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Phụ nữ chiếm một nửa nhân loại, nói đến phụ nữ lànói đến một nửa xã hội, theo Người, “Nếu phụ nữ chưa được giải phóng thì xã hộichưa được giải phóng "; “Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xãhội chỉ một nửa"

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, giải phóng phụ nữ luôn gắn với sự nghiệp giảiphóng dân tộc, giải phóng giai cấp Vì vậy, trong hội nghị thành lập Đảng Cộng sảnViệt Nam năm 1930, Hồ Chí Minh chỉ rõ nhiệm vụ của cách mạng không chỉ giànhlại độc lập cho dân tộc, ruộng đất cho nông dân nghèo, các sản nghiệp lớn cho côngnhân, các quyền dân chủ tự do cho nhân dân, mà còn nhằm: "thực hiện nam nữ bìnhquyền"

1.3 Quan điểm của Đảng, nhà nước về vấn đề bình đẳng giới trong gia đình

Vấn đề bình đẳng giới được thể chế hoá trong hầu hết các văn bản pháp luật,

đã tạo cơ sở pháp lý, tạo điều kiện và cơ hội trao quyền bình đẳng cho cả nam và

nữ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, như: Luật Doanh nghiệp,Luật Đầu tư, Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật dạy nghề, Luật Giáodục , Luật Khoa học và công nghệ, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Hôn nhân

và Gia đình, Luật Chăm sóc sức khoẻ nhân dân, Luật Khiếu nại, tố cáo, Luật Cư

Trang 11

trú, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Pháp lệnh cán bộ, công chức, … vànhiều văn bản quy phạm pháp luật khác như các nghị định, quyết định của Chínhphủ, Thủ tướng Chính phủ, các thông tư hướng dẫn của các Bộ, ngành.

Chính phủ đã có nhiều giải pháp như ban hành các chính sách đặc thù; lồngghép vào các chiến lược, chương trình mục tiêu quốc gia như: Chiến lược toàn diện

về tăng trưởng và giảm nghèo (CPRGS), Chương trình mục tiêu quốc gia về giảmnghèo, về việc làm, về bảo hộ lao động, về giáo dục, về dạy nghề, về y tế cộngđồng; nhiều văn bản quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực chính trị, kinh tế, vănhoá, xã hội và gia đình đã có những quy định riêng cho phụ nữ, tạo điều kiện đảmbảo cho việc thực hiện bình đẳng giới một cách thực chất; thành lập Uỷ ban quốcgia vì sự tiến bộ của phụ nữ, ban hành Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữViệt Nam đến năm 2010

Đặc biệt, ngày 29 tháng 11 năm 2006, Luật Bình đẳng giới đã được Quốc hộikhoá XI thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2007 Luật Bìnhđẳng giới tiếp tục thể chế hoá quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước Việt Nam

về bình đẳng giới nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nam và nữ; đồng thờitiếp tục khẳng định quyết tâm mạnh mẽ của Việt Nam trong việc cụ thể hoá và thựchiện các điều ước quốc tế về quyền con người và bình đẳng giới mà Việt Nam làthành viên

2 Các phương pháp tiếp cận

2.1 Lý thuyết cơ cấu chức năng

Đề tài sử dụng cách tiếp cận cơ cấu – chức năng trong việc làm rõ vị trí, vaitrò của các thành viên trong gia đình để thấy được mối quan hệ tương tác giữa cácthành tố của cơ cấu đó, đặc biệt là cơ cấu vai trò giới Thông qua sự tương tác nàychúng ta sẽ đánh giá được việc thực hiện các chức năng của gia đình trong điềukiện hiện nay

E Durkhiem cho rằng thông qua sự tương tác sẽ tạo ra mô hình biến đổi xãhội, luôn đòi hỏi phải có sự cấu trúc lại mô hình ứng xử Tuy nhiên sự biến đổi mà

Trang 12

ông đề cập đến là trong khuôn khổ của sự ổn định xã hội vì trong tương tác ổn địnhmới làm cho phát triển diễn ra một cách đúng đắn Áp dụng quan điểm củaE.Durkhiem trong phân tích mối quan hệ giới trong đề tài này là hoàn toàn phù hợp

vì thực tế mối quan hệ giới trong các gia đình không phải là sự đảo ngược vai trò

mà là sự điều chỉnh cho phù hợp với nhu cầu của mỗi giới vì sự ổn định và pháttriển của gia đình

2.2 Lý thuyết giới

Lý thuyết giới đòi hỏi phải luôn xem xét các vấn đề của giới này trong mốitương quan với giới kia, có nghĩa là phải xem xét vị trí vai trò của phụ nữ trongtương quan với vị trí, vai trò của nam giới, nhưng vai trò này hướng các giới cónhững hành vi được xem là phù hợp với những mong đợi của xã hội, đó chính là sựthể hiện phân công lao động theo giới

Vai trò giới chính là thể hiện sự phân công lao động theo giới, trong từngthời gian cụ thể vai trò có sự biến đổi, do phân công lao động theo giới cũng biếnđổi theo

2.3 Lý thuyết nữ quyền

Lý thuyết nữ quyền cho rằng nam giới và nữ giới trải nghiệm thực tế cuộcsống và cảm nhận về đời sống gia đình rất khác nhau Từ quan điểm giới, gia đìnhkhông phải là một đơn vị hài hòa, hợp tác, dựa trên cơ sở lợi ích chung và giúp đỡlẫn nhau, gần giống quan điểm tiếp cận xung đột mà đây là nơi diễn ra sự phâncông lao động theo giới, quyền lực và cơ hội tiếp cận nguồn lực không ngang nhau

và luôn bất lợi cho phụ nữ

Chương II Bình đẳng giới trong sự phân công lao động ở các

gia đình đô thị hiện nay

1 Bình đẳng giới trong hoạt động sản xuất

1.1 Bình đẳng giới trong lao động sản xuất và lao động tái sản xuất

Bàn về vấn đề bình đẳng theo giới giữa nam và nữ trong gia đình, tác giả

Trần Thị Kim Xuyến với tác phẩm “Gia đình và những vấn đề của gia đình hiện

Trang 13

đại”, nhà xuất bản thống kê, 2001 đã cho thấy sự biến đổi xã hội đến vai trò giới

trong gia đình, vai trò nam và nữ trong gia đình Từ đó cho thấy vai trò sản xuất củalao động nam nữ, vai trò đóng góp kinh tế, vai trò nam và nữ trong công việc giađình, vai trò quyền lực nam và nữ trong gia đình và sự ảnh hưởng của kinh tế thịtrường đến vai trò kép của phụ nữ

Qua khảo sát trên địa bàn Hà Nội, thì quan hệ giữa nam và nữ trong cộngđồng thoạt nhìn cũng theo kiểu truyền thống Đối với việc phân công lao động vàtrách nhiệm trong mối quan hệ vợ chồng, xã hội truyền thống đặt ra nhiều kỳ vọngđối với những đôi vợ chồng: Phụ nữ thì phải “công, dung, ngôn, hạnh”, “ xuất giátòng phu, phu tử tòng tử, phu xướng phụ tùy”, giữ gìn trinh tiết, nam giới thì “ tuthân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, luôn giữ địa vị làm chủ trong gia đình và rấtnhiều các ràng buộc khác trong mối quan hệ với họ hàng, hàng xóm,… Những quyđịnh của xã hội truyền thống đã mang tính áp đặt đối với gia đình theo tiêu chí xâydựng gia đình hạnh phúc như người chồng thường lo những việc lớn trong gia đìnhnhư là trụ cột của kinh tế, lo toan chuyện nghề nghiệp kiếm sống, quyết định hônnhân cho con cái, mua đất xây dựng nhà cửa Trong khi đó, phụ nữ thường đảmnhiệm các công việc nội trợ, sinh con đẻ cái, quán xuyến công việc trong gia đình.Đây được coi là điều hiển nhiên trong xã hội truyền thống, khi nam giới là tượngtrưng cho sức mạnh, có điều kiện giao tiếp, hiểu biết nhiều và do vậy, đóng góp chogia đình nhiều hơn Tuy nhiên ngày nay, vấn đề bình đẳng giới trong gia đình cóphần nào cởi mở hơn Người vợ trong gia đình có thể vừa làm nội trợ vừa tham giavào lĩnh vực sản xuất vì nhu cầu sản xuất của xã hội, vì sự bình đẳng giữa vợ vàchồng trong việc đóng góp thu nhập vào hộ gia đình, thì trong lĩnh vực nội trợ cũngcần đến sự chia sẻ của người chồng Kết quả phân tích cho thấy người vợ vẫn làngười làm chính các công việc nội trợ và làm thêm các công việc lao động sản xuấtkhác trong gia đình như: buôn bán, làm công chức… Đây là một lĩnh vực của đờisống gia đình thể hiện sự bất bình đẳng giới Người phụ nữ gắn liền với vai tròngười vợ, người mẹ, người nội trợ trong gia đình và phải chịu gánh nặng kép Tuy

Trang 14

nhiên, việc nắm giữ nhiều vai trò trong công việc gia đình cùng với sự đảm bảotrách nhiệm theo sự phân công lao động xã hội thì việc nội trợ cũng mang lại nhiềubất lợi cho người phụ nữ Đối với những người bị buộc phải làm thêm, ngày làmviệc của họ sẽ bị kéo dài hơn, đồng thời đối với những người có nghề nghiệpchuyên môn, những trách nhiệm gia đình có thể là sự cản trở đối với tiến bộ nghềnghiệp Trong khi đó, người đàn ông lại ít tham gia vào các công việc nội trợ tronggia đình Họ chỉ chú tâm vào các việc lớn trong gia đình và các công việc ngoài xãhội, kiếm được thu nhập mà ít quan tâm đến công việc nội trợ trong gia đình.

Theo kết quả điều tra xã hội học của trung tâm nghiên cứu khoa học về giađình và phụ nữ tiến hành năm 2002 thì trong gia đình hiện nay, người vợ là ngườilàm chính các công việc nhà Tỷ lệ này đặc biệt cao trong các công việc như: Nấuăn: 77.8%; mua thực phẩm: 86.9%; giặt quần áo: 77.6%; chăm sóc con cái: 43.4%.Người đàn ông có tham gia vào các công việc gia đình nhưng với tỷ lệ rất thấp, chỉchiếm dưới 5% Như vậy, phần lớn công việc gia đình vẫn do người vợ đảm đương.Tuy nhiên, có sự khác biệt giữa các vùng nông thôn và thành phố Nếu như nhữngngười vợ ở nông thôn làm việc nhà với tỷ lệ: Nấu ăn: 82.1%; mua thực phẩm:87.3%; giặt quần áo: 80.8%; chăm sóc con: 52.4% thì những người vợ ở thành phốlàm các công việc trên với tỷ lệ tương ứng là: 76.3% / 84.9% / 55.9% / 30.3% Kếtquả nghiên cứu trên cho thấy những người vợ nông thôn làm việc nhà với tỷ lệ caohơn hẳn so với những người vợ ở thành phố Nghĩa là sự bất bình đẳng giới trongcông việc gia đình có sự chênh lệch giữa các khu vực…

Các số liệu trên cho thấy, vấn đề bất bình đẳng giới trong sự phân công laođộng trong gia đình giữa nam và nữ, giữa người vợ và người chồng vẫn đang tồntại ở các gia đình Việt Nam Bởi từ trước đến nay, mọi người đều nhìn nhận việc tềgia nội trợ là công việc gắn liền với người phụ nữ, đó là nghĩa vụ, là trách nhiệmcủa người phụ nữ trong gia đình Chính nhìn nhận này đã làm cho nỗi vất vả củangười phụ nữ tăng lên, trong khi người phụ nữ vẫn phải tham gia công việc ngoài

xã hội như nam giới Phân tích tình hình giới ở Việt Nam cho thấy tình hình tương

Trang 15

tự Bất luận chủ hộ là nam hay là nữ , phụ nữ đều phải làm việc nội trợ gấp hai lầnnam giới Phân công lao động nội trợ có lẽ là một trong những lĩnh vự bất bìnhđẳng nhất giữa nam và nữ Vì thế, thậm chí người phụ nữ có nhiều khả năng độclập kinh tế và quyền ra quyết định nhiều hơn thì họ vẫn có ít thời gian nghỉ ngơihơn bởi những vai trò truyền thống về giới vẫn chưa thay đổi được bao nhiêu.(J.Desai, 1995).

Tại nơi tôi đang sống, theo tôi nghĩ thì vấn đề bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tại, nhưng không đáng kể Như gia đình tôi chẳng hạn, cả tôi và chồng tôi cùng đi làm công chức như nhau, nhưng khi tan sở về thì tôi phải bỏ thời gian để chăm sóc con cái, và đến công việc nội trợ Còn chồng tôi, anh ấy cũng công việc như thế nhưng thời gian bỏ ra trong công việc gia đình thì ít hơn so với tôi.( PVS nữ, 27 tuổi, Q Ba Đình, Hà Nội ).

Rất khó nhìn nhận vấn đề bất bình đẳng trong các gia đình tại địa phương tôi, bởi mỗi nhà mỗi cảnh Như gia đình tôi, công việc nội trợ chủ yếu là do vợ tôi làm Còn tôi chỉ phụ giúp được phần nào hay phần đấy thôi, thỉnh thoảng tôi trông con bởi tôi rất bận với công việc ở cơ quan, còn công việc của tôi trong gia đình là sửa chữa các thiết bị bị hỏng hóc như sửa điện, xây lại mái tôn bị hỏng,…( PVS nam, 30 tuổi, Q Cầu Giấy, Hà Nội ).

Ở Việt Nam đã có những cố gắng suốt gần năm thập kỷ nhằm xây dựng “Gia đình xã hội chủ nghĩa, vợ chồng bình đằng” Ông Vũ Mạnh Lợi nhận xét rằngtrong hàng triệu gia đình, cuộc sống vẫn trôi đi theo những nguyên tắc không thànhvăn được mọi người ngầm chấp nhận Ở Việt Nam cũng như ở các nơi khác, nhiềungười tin rằng địa vị thứ yếu của người phụ nữ trong gia đình chủ yếu bắt nguồn từvao trò kinh tế phụ thuộc của họ Song, ông Lợi kết luận “ nhiều thế hệ phụ nữ kếtiếp nhau trong hàng chục năm ròng đã từng có những đóng góp quan trọng vàphần nhiều vào đời sống gia đình, nhưng địa vị của họ trong gia đình không đượccải thiện so với nam giới tương ứng với những đóng góp đó Sự giải phóng phụ nữ

Trang 16

dường như chỉ dừng lại ở những cái mà cơ chế xã hội mới đem lại ( như trong lĩnhvực y tế, giáo dục, các quyền luật định khác )”.

Nhưng trong bối cảnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa hiện nay thì sự phâncông lao động đã có sự thay đổi Nếu như trước đây, người chồng giữ vai trò trụ cột

về kinh tế, còn người vợ làm nội trợ thì ngày nay, người phụ nữ Việt Nam vừa làmcông việc nội trợ gia đình vừa kiêm luôn vai trò nắm giữ kinh tế của gia đình Vìvậy sự phân công lao động theo giới đưa tới việc nam giới là nguồn lao động chính

và nữ giới là người quản lý và thực hiện công việc gia đình Tuy nhiên, khi đượchỏi về quan niệm về sự phân công lao động trong gia đình của những người chủ hộthì chính người phụ nữ lại luôn nhận phần trách nhiệm cao hơn về mình

Trong gia đình tôi, vợ tôi làm công việc nội trợ chính Đó là chăm sóc con cái, làm bếp và dọn dẹp nhà cửa Còn tôi thì chỉ phụ giúp vợ tôi thôi Thỉnh thoảng

2 vợ chồng tôi cùng dọn dẹp nhà cửa, cùng chăm con và tôi thì sửa chữa máy móc

và công việc ngoài xã hội chiếm của tôi cũng khá nhiều thời gian Rất may, vợ tôi

có thể hiểu và thông cảm được cho tôi ( PVS nam, 37 tuổi, Q Đống Đa, Hà Nội ).

Điều này cho thấy cả nam và nữ đều đồng ý công việc gia đình của người vợđều cần có sự chia sẻ của người chồng Vì ngày nay người phụ nữ ngoài việc nộitrợ, chăm sóc gia đình, họ còn trực tiếp tham gia sản xuất nên họ không thể làm tốtcùng một lúc cả công việc gia đình và công việc ngoài xã hội nếu không có sự chia

sẽ, giúp đỡ của người chồng

1.2 Bình đẳng giới trong cách tiếp cận nguồn lực về mặt kinh tế

Nói đến hoạt động sản xuất, chúng ta không thể không nói đến cách tiếp cận

các nguồn lực trong gia đình Trước hết phải kể đến cách tiếp cận nguồn lực về mặt kinh tế Như chúng ta đều biết, khi con người có vị trí bình đẳng thì con người mới

phát huy được hết những tiềm năng ẩn kín để cống hiến cho sự phát triển xã hội, vàcho sự giàu mạnh cũng như hạnh phúc của gia đình Nói đến bình đẳng không thểkhông nói đến người phụ nữ Thật vậy, người phụ nữ trong nửa thế kỷ qua đã xảthân vì nước, vì gia đình thì cũng chính là họ xả thân để vươn tới vị trí bình đẳng

Ngày đăng: 04/02/2015, 20:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w