1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của cha mẹ trong hình thành nhân cách cho trẻ trong gia đình

29 1,2K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 227,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống các trường phổ thông, caođẳng, đại học, các truờng dạy nghề …là những cơ quan xã hội hoá chính thức.Giáo dục khác với các dạng xã hội hoá khác ở chỗ, đó là một sự tác động của c

Trang 1

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Xã hội hoá cá nhân là quá trình trong đó cá nhân với tư cách là một sinh vậtvốn có những đặc tính sinh học nhất định, tương tác với xã hội, thông qua sự giaotiếp, học tập, hoạt động mà tập nhiễm những phẩm chất cần có để sống trong xãhội xã hội hoá cá nhân là quá trình hình thành nhân cách: chiếm lĩnh ngôn ngữ vàthế giới văn hoá, hình thành những tình cảm xã hội (tình cảm về phẩm giá, vềtrách nhiệm ), lĩnh hội những chuẩn mực xã hội (về pháp quyền, về đạo đức ),tiếp thu những quan niệm, niềm tin, định hướng giá trị, định hướng hành vi Xãhội hoá cá nhân không phải chỉ là kết quả một chiều xã hội tác động đối với cánhân, mà còn là kết quả cá nhân tích cực tham gia đời sống xã hội "Bản thân xãhội sản xuất ra con người với tư cách là con người như thế nào thì con người cũngsản xuất ra xã hội như thế" (Mac) Nội dung, cơ chế của quá trình XHHCN thayđổi tuỳ theo cấu trúc kinh tế - xã hội của xã hội trong những thời đại lịch sử cụ thể

Thực chất xã hội hoá là quá trình chủ thể hoá các tri thức của xã hội, là sựtiếp nhận tri thức, kinh nghiệm xã hội thông qua lăng kính chủ quan và sự xétđoán của mỗi cá nhân Các cá nhân tiếp thu tri thức xã hội bằng cả hai con đường :chính thức và không chính thức, tương ứng với các hình thức xã hội hoá và xã hộihoá không chính thức Xã hội hoá không chính thúc là kết quả tự nhiên của tươngtác xã hội giữa những nguời gần gũi nhất xung quanh như gia đình, nhóm bạn bè,nhóm nghề nghiệp v.v…Ở đó, cá nhân học được nhiều điểu thông qua sự bắtchước, quan sát và kinh nghiệm Xá hội hoá chính thức là quá trình tiếp thu trithức, kinh nghiệm xã hội thông qua giáo dục Hệ thống các trường phổ thông, caođẳng, đại học, các truờng dạy nghề …là những cơ quan xã hội hoá chính thức.Giáo dục khác với các dạng xã hội hoá khác ở chỗ, đó là một sự tác động của chủthể giáo dục đến đối tưọng giáo dục một cách tỷ mỉ trong những tổ chức chínhthức, theo những chương trình giáo dục được tiêu chuẩn hoá nhằm truyên đạt cáctri thức và kinh nghiệm xã hội tức là tri thức hoá và nghề nghiệp hoá cho conngười Xã hội càng phát triển, xã hội hoá thông qua giáo dục càng tăng lên.1

Đặc điểm của quá trình xã hội hoá là các cá nhân không phải lĩnh hội cáckinh nghiệm xã hội ngay một lúc mà dần dần Cũng như vậy, các cá nhân khôngphải tiếp xúc với xã hội rộng lớn nói chung, không phải tham gia vào tất cả các tỏchức, môi trường xã hội mà thông qua những nhóm xã hội nhất định Xã hội hoá

là quá trình đưa cá nhân vào các quan hệ xã hội Những quan hệ đó lúc đầu rất hạnhẹp rồi ngày càng mở rộng ra 2

V ới sứ mệnh cao cả tái sinh sản con người, duy trì nòi giống, GĐ không chỉsinh đẻ mà con giáo dục con cái Nói cách khác, muốn thực hiện sứ mệnh đó, chỉsinh đẻ, tái sinh sản về thể chất thôi chưa đủ, còn phải tái sản xuất con người vềmặt tinh thần nữa

1 Gia đình Việt Nam với chức năng xã hội hoá Lê Ngọc Văn, NXBGD, HN 1996, trang 9

2 Như trên, trang 14

Trang 2

Giáo dục con người là biến sinh thể tự nhiên thành một thực thế XH có thểthích nghi và sống trong một XH hoàn toàn cụ thể thoe những yêu cầu của XH đó:tiếp thu cách kiểm soát những đam mê sinh học, học và nắm vững những hành vinào được , những hành vi nào không được XH đó chấp nhận phát triển khả nănglàm mình giống như một thành viên của XH ấy Đó là quá trình XH hoá và GĐ làtác nhân đầu tiên XH hoá các thế hệ tương lai.

Chúng tôi đưa ra đề tài : “ Vai trò của gia đình trong việc giáo dục hình thành nhân cách trẻ em trong gia đình “ nhằm tìm hiểu vai trò cha mẹ trong hình

thành nhân cách trẻ em cũng như cách tiếp nhận của trẻ

2 Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu vai trò của gia đình về việc giáo dục hình thành nhân cách cho trẻ em

- Đưa ra những nhận xét, khuyến nghị nhằm giúp cho các cha mẹ nhận thức vàthực hiện tốt vai trò của mình đồng thời cũng nâng cao vai trò của người cha vàngười mẹ

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Thao tác hóa các khái niệm liên quan được sử dụng trong nghiên cứu :gia

đình.giáo dục , giáo dục gia đình, giáo dục,trẻ em, nhân cách

- Tìm hiểu về thực trạng vấn đề giáo dục hình thành nhân cách cho con cái củacác gia đình hiện nay (nhận thức của cha mẹ về giáo dục XHH cho trẻ , giáo dụcnhững kiến thức đối với cuộc sống, giáo dục ở mức độ và phương pháp như thếnào )

- Phân tích các yếu tố tác động đến việc giáo dục hình thành nhân cách của cha

mẹ cũng như hành vi tiếp nhận của trẻ

- Tìm hiểu về những khó khăn của cha và mẹ trong việc giáo dục hình thành nhâncách con cái

- So sánh vai trò giữa cha và mẹ trong việc giáo dục con trẻ trong hình thành nhâncách

4 Đối tượng, khách thể, phạm vi, mẫu nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Vai trò của cha mẹ về việc giáo dục hình thành nhân cách trẻ em trong gia đình

4.2 Khách thể nghiên cứu

- Cha mẹ có con trẻ

- Trẻ em trong gia đình

4.3 Phạm vi nghiên cứu : Khu vực Hà Nội và một số địa bàn lân cận

Thời gian khảo sát: từ tháng 10/2009-12/2010

Địa bàn khảo sát: Khu vực Hà Nội và một số địa bàn lân cận

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu xã hội học

Trang 3

hội của từng gia đình Đồng thời, chúng ta cũng phải đặt việc giáo dục hình thànhnhân cách trong mối liên hệ với các nhân tố khác như nhà trường, các nhóm xãhội, truyền thông đại chúng Ngoài ra, chúng ta cũng phải xem xét vấn đề đó trongmột quá trình lich sử cụ thể để xem vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục hìnhthành nhân cách cho con cái từ trước đến nay có sự chuyển động như thế nào.

6.2 Phương pháp nghiên cứu xã hội học

6.2.1.Phương pháp phân tích tài liệu

Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã đọc và phân tích một số tài liệu liên quanđến vấn đề giáo dục trong gia đình trong đó có giáo dục hình thành nhân cách chotrẻ em Đồng thời chúng tôi quan tâm đến báo cáo trên các tạp chí, sách, báo đểđưa vào những thông tin cần thiết phục vụ cho đề tài

6.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu

NỘI DUNG CHÍNH

CHƯƠNG I

1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1.1 Lý thuyết cấu trúc chức năng của Robert Merton

Đối với đề tài này, chúng tôi áp dụng thuyết cấu trúc chức năng của RobertMerton nhằm tìm hiểu vai trò của gia đình về giáo dục hình thành nhân cách chotrẻ em trong gia đình

Trong đó, cấu trúc được hiểu là mối quan hệ giữa con người và xã hội đượcđịnh hình một cách ổn định, bền vững và chức năng được xem như là nhu cầu, lợiích, sự cần thiết, sự đòi hỏi, hệ quả, tác dụng mà một thành phần, bộ phận tạo rahay thực hiện để đảm bảo sự tồn tại, vận hành của cả hệ thống3 Nhìn chung trongthuyết này, ông nhấn mạnh đến sự loạn chức năng Theo đó, ông cho rằng mộthiện tượng xã hội đem lại những hệ quả tốt đẹp cho sự phát triển cấu trúc xã hội

Mà mặt khác, nó cũng đem lại những sự tiêu cực, hể hiện qua sự loạn- phản chứcnăng Ngoài ra, ông cũng nhấn mạnh đến chức năng trội và chức năng lặn, trong

đó thể hiện về ý nghĩa về việc phân biệt về hai loại chức năng này đối với xã hội.Đặc biệt, ông cho rằng người nghiên cứu không nên tin ngay vào những tuyên bốcông khai về tác dụng, mục đích của hiện tượng mà cần phải đi tìm hiểu xem thực

tế ẩn chứa bên trong thì hiện tượng có chức năng ra sao và làm thay đổi cấu trúc rasao

Áp dụng lý thuyết chúng tôi đưa ra nhận định gia đình là một thành phần củacấu trúc xã hội, và là một loại thiết chế xã hội nó đảm nhiệm những chức năng cơbản Do vậy nó phải thực hiện đầy đủ các chức năng để đáp ứng được các nhu cầucủa từng thành viên trong gia đình Những người cha người mẹ là những người có

3 Lê Ngọc Hùng- Lịch sử và lý thuyết xã hội học, NXB KHXH, 2008, trang 242

Trang 4

mối quan hệ quan trong nhận có thể thay đổi nhân cách cho con trẻ “ Dạy con từtuổi còn thơ ”

1.1.2 Lý thuyết vai trò của Ralph Linton

Theo Ralph Linton, vai trò là một quan điểm cơ bản trong lý thuyết xã hộihọc nó đánh giá cao những mong đợi xã hội gắn với những vị thế cụ thể và phântích thực hiện những mong đợi đó Mỗi cá nhân có một loại vai trò được đem lại

từ những hình mẫu xã hội khác nhau mà anh ta tham dự Trong tiến trình cuộc đờicủa mỗi cá nhân thực hiện một số những vai trò khác nhau lần lượt hoặc đồng thời

và tổng hợp tất cả các vai trò xã hội của cá nhân đó thực hiện từ khi sinh ra chođến lúc chết tạo thành nhân cách xã hội của người đó Ralph Linton nói chúng tagiữ các địa vị nhưng chúng ta đóng các vai trò Vai trò và địa vị không thể tách rờinhau Sự phân biệt chúng chỉ trong nhận thức khoa học Không thể cso vai trò màkhông có địa vị hoặc ngược lại Vai trò trở thành một tập hợp các quyền và nghĩa

vụ đã được thể hóa có nghĩa là với vị trí mà các cá nhân xã hội hay tổ chức nắmgiữ thì chủ thể xã hội đó cần thực hiện tốt những mong đợi, bổn phận và tráchnhiệm ở vị trí đó.4

Ở đề tài nghiên cứu này ta có thể thấy rằng địa vị của người cha, người mẹgắn với những vai trò nhất định, cía mà xã hội, con cái mong đợi Đó chính làtrách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục phảm chất đạo đức cho con cái trong đó chứcnăng xã hội hóa giúp con cái mình hòa nhập với xã hội Vai trò đó chỉ được thựchiện khi họ tham gia tích cực vào việc giáo dục hình thành nhân cách con trẻ, lìnhhội những kinh nghiệm của cuộc sống, biết ứng xử với những giao tiếp bìnhthường “Tiên học lễ , hậu học văn “ , “ Kính già yêu trẻ “ “ Kính già già để tuổicho” Và làm thỏa mãn những mong muốn của xã hội, của con cái đối với tráchnhiệm, nghĩa vụ cụ thể đối với từng cha mẹ trong những hoàn cảnh cụ thể

2 KHÁI NIỆM LIÊN QUAN:

2.1 Khái niệm “Gia đình”

Gia đình là cái nôi nuôi dưỡng cho cả một đời người, là môi trường giáo

dục nếp sống và hình thành nhân cách sống có tình có nghĩa, đoàn kết và giúp đỡlẫn nhau, có ý thức trách nhiệm của công dân, tôn trọng pháp luật và giữ gìn đạolý5

Gia đình là khái niệm được dùng để chỉ một nhóm xã hội hình thành trên

cơ sở quan hệ hôn nhân( quan hệ tính giao và quan hệ tình cảm) và quan hệ huyếtthống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó (cha me, con cái, ông bà, họ hàng nộingoại ) Gia đình có thể hiểu như là một đơn vị xã hội vi mô, nó chịu sự chi phốicủa xã hội song có tính ổn định độc lập tương đối Nó có quy luật phát triển riêngvới tư cách là một thiết chế xã hội đặ thù Những thành viên trong gia đình được

gứ bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi kinh tế, văn hóa, tình cảm một cáchhợp pháp được nhà nước thừa nhận và bảo hộ6

4

Nguyễn Thị Huệ, Giáo dục giá trị truyền thống cho trẻ ở xã Trường Yên- Hoa Lư- Ninh Bình, 2004, khóa luận tốt nghiệp

5 Từ điển Xã hội học, Thanh Lê, NXB KHXH, 2004, trang 532

6 Trung tâm nghiên cứu khoa học về phụ nữ và gia dình, nay dổi thành viện phụ nữ khoa học và gia đình

Trang 5

2.2 Khái niệm “vai trò”

Vai trò là một tập hợp những kỳ vọng ở trong một xã hội gắn với hành vi

của những người mang các địa vị Ở mức độ này thì mỗi vai trò riêng là một tậphợp hay nhóm các kỳ vọng, hành vi (Dahrandorf)7

2.3 Khái niệm “giáo dục”

Giáo dục là hoạt động nhằm tác động đến một cách hệ thong đến sự phát

triển thể chất tinh thần của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng đó có nhữngphẩm chất và năng lực yêu cầu đề ra Chức năng cơ bản của giáo dục là xã hội hóathế hệ trẻ , duy trì tính liên tục văn hóa của xã hội , sự truyền đạt những kinhnghiệm lịch sữ xã hội được tích lũy trong quá trình phát triển của con người nhằmđảm bảo quá trình tái sản xuất xã hội , đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hôi Giáodục con cái trong gia đình diễn ra trong phạm vi gia đình khác với các thiết chếkhác , nó dựa trên huyết thống , tình cảm thiêng liêng và tính cá biệt của đối tượnggiáo dục

2.4 Trẻ em:

Theo công ước quốc tế, Trẻ em là người dưới 18 tuổi trừ khi luật pháp

quốc gia công nhận tuổi vị thành viên sớm hơn

Theo pháp luật Việt Nam thì trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi

2.5 Giáo dục gia đình:

Giáo dục gia đình là sự tác động có hệ thống có mục đích của những

người lớn trong gia đình và toàn bộ nếp sống gia đình đến đứa trẻ Có những đặc

điểm sau: Thứ nhất: Tình xúc cảm , tình cảm,…Thứ hai,: Tính đa dạng nhiều

chiều Thứ ba: Giáo dục trong gia đình mang tính cá biệt Thứ tư: Giáp dục giađình mang tính thực tiễn Trươc hết giáo dục gia đình gắn bó với những thang giátrị tồn tại trong gia đình và những thực tế gia đình vì vậy so với những giáo dục

từ nhà trường, xã hội giáo dục gia đình mang tính linh hoạt hơn , thích ứngnhanh với những biến đổi của xã hội và bản thân trẻ em Mặt khác nó được thựchiện thong qua hoạt đông trực tiếp của gia đình vì vậy ở gia đình lý thuyết luôngắn với thực hành , những lời dạy bảo luôn đi lèm với thực hiện của người lớn vớinhững nhiệm vụ và hoạt động cụ thể 8

2.6 Giáo dục đạo đức cho trẻ:

Giáo dục đạo đức bao gồm những nội dung cơ bản sau: Giáo dục giá trị đạo đức:Giá trị theo nghĩa chung nhất có thể hiểu là cái mà làm cho khách thể nào

đó có lơi ích , có nghĩa , đáng quý với chủ thể thừa nhận Lợi ích xã hội là tiêuchuẩn khách quan trong giáo dục đạo đức , do đó khi nào những nguyên tắc chuẩnmực đạo đức phù hợp với những lợi ích xã hội được sự ủng hộ thì mới có giá trị

Giáo dục chuẩn mực đạo đức: Chuẩn mực đạo đức có thể hiểu là những quy

chuẩn xã hội đặt ra trong đáo dức xã hội của con người Khi thực hiện hành viứng xử , chủ thể đạo đức dưah vào những chuẩn mực hình thành trong bản thân

7

Lý thuyết xã hội học, Vũ Quang Hào, NXB KHXH, 2000, trang

8 Vai trò cha mẹ trong việc giáo dục đạo đức con cái độ tuổi THCS Hà Nội hiện nay- NT Tố Quyên

9 Vai trò cha mẹ trong việc giáo dục đạo đức con cái độ tuổi THCS Hà Nội hiện nay- NT Tố Quyên

Trang 6

họ Giáo dục hành vi đạo đức : Mọi hành vi được thực hiện do một động cơ nào

đó Khi hành vi được hiện bỏi sự thôi thúc của ý thức đạo đức thì đó gọi là hành

vi đạo đức Hành vi đó thể hiện ý thức của và văn hóa đạo đức của mỗi cá nhân Hành vi đạo đức tác động trực tiếp với con người và gắn liền ý thức với chuẩnmực đạo đức

Giáo dục lý tưởng đạo đức : Là những khát khao nguyện vọng , những tư tưởng

về tương lai tốt đẹp mà con người hằng mong ước vươn tới Lý tưởng vai trò quantrọng đối với hoạt động của con người Người mà có lý tưởng cao đẹp thường sẽ

có yêu cầu cao đối với chính bản thân mình và luôn thể hiện tinh thần trách nhiệmđối với hoạt động sống và công việc9

2.7 Giáo dục ứng xử có văn hóa cho trẻ

Giáo dục cho trẻ em về ứng xử có văn hoá là một trong những nội dungquan trọng trong giáo dục gia đình Ứng xử có văn hoá trong sinh hoạt đời sống xãhội, trong sinh hoạt gia đình không chỉ là sự bắt buộc đối với mỗi con người màcòn là nhu cầu của mỗi con người

2.8 Giáo dục truyền thống gia đình

Vấn đề giáo dục truyền thống gia đình đã được các gia đình quan tâm chú

ý, đặc biệt trong điều kiện cơ chế thị trường đang phát triển và sự giao lưu văn hoáquốc tế đang nhộn nhịp, từng ngày tác động đến nhận thức và hành động của lớptrẻ

2.9 Giáo dục nhận thức gia trị lao động

Trong gia đình lao động không thể thiếu Kinh tế gia đình là hoạt độngmang lại những kinh tế phục vụ những nhu cầu thiết yếu cũng như hoạt động sốngcủa gia đình Giáo dục giá trị lao động cho trẻ là làm cho trẻ biết yêu quí nhữnggiá trị tạo ra “Một hạt lúa vàng , chin giọt mồ hôi” Để trẻ cảm nhận được ý nghĩacủa công việc cũng như biết yêu mến công việc của cha mẹ từ đó hình thành nên ýthức biết tham gia vào công việc dù là nhỏ để có thể giúp đỡ cha mẹ

2.10 Giáo dục về sự công bằng

Cha mẹ là những người luôn luôn công bằng , không xu nịnh hay thiên vị

ai cả, chính việc đó sẽ là nền tảng cho con cái biết học hỏi tính công bằng hơn ,Anh em hòa thuận luôn luôn yêu thương và đùm bọc nhau trong lúc hoạn nạn khókhăn

2.11 Giáo dục trung thực và giữ lời hứa

Trung thực là một phẩm chất tốt đẹp của con người , cha mẹ trung thực thành thật, luôn dạy dỗ con cái điều hay lẽ phải Anh em trung thực với nhau tạo nên khôngkhí hòa thuận gia đình vui vẻ và hạnh phúc Giáo dục trung thực là giáo dục trẻ embiết cư xử thành thật không dối trên lừa dưới cũng là hành vi chuẩn mực trongnhân cách

2.12 Giáo dục hướng nghiệp:

Hướng nghiệp là một nội dung khá mói mẻ, lần đầu tiên trong lịch sử củamình, gia đình phải đảm đương

Trang 7

Chế độ XHCN thay đổi cơ cấu xã hội và quan hệ xã hội, tạo điều kiện đểcác cá nhân, các thế hệ chuyển từ một địa vị, một nhóm xã hội này snag địa vị,nhóm xã hội káhoặc “ nối nghiệp cha mẹ không phải là con đường độc nhất nữa”.

Trong hoàn cảnh hết sức khó khăn hiện tại, cả xã hội lẫn gia đình đều vấpphải bao vấn đề phứuc tạp, càng khiến người ta chỉ cốt sao có công ăn việc làm, cólưọi cho ban thân, chứ rất ít tính đến nhu cầu của xã hội

Trong nghiên cứu của xã hội gia đình người ta quan tâm tới vấn đề “ tronggia đình ai là người hướng nghiệp cho con cái?”

2.13 Giáo dục giới tính:

Việc xoá bỏ chế độ phong kiến và mô hình gia đình của nó cùng nhữngchuẩn mực đạo đức gia đình cũ, xã hội mới đặt ra một nhiệm vụ giáo dục mới mẻ,rất quan trọng nhưng đầy khó khăn: xây dựng cho thế hệ trẻ thái dộ đúng đắn đốivới vấn đề giới tính, giáo dục giới tính là một bộ phận khăng khít của gíáo dụcnhân cách

Ngày nay với đà công nghiệp hoá, đô thị hoá và sự giao lưu rộng rãi các phươngtiện thông tin đại chúng: truyền hình, phim ảnh, sách báo đang hình thành một loạinhà trường thứ hai có chiều hướng truyền tải nhiều tri thức một cách ngẫu nhiên tựphát đến trẻ vị thành niên trong đó có chiều hướng truyền tải nhiều tri thức mộtcách ngẫu nhiên tự phát đến trẻ vị thành niên trong đó có cả những tri thức về tìnhyêu, tình dục Cái đúng có, nhưng cái lệch chuẩn, cái “không đúng lúc” cũngkhông ít

Tuổi phát dục của trẻ ngày nay, không còn như ngày xưa: nữ thập tam, namthập lục mà rút đi vài tuổi Cuộc sống đô thị nhà cửa chật chội, cả nhà phải xemchung một chương trình truyền hình, con cái trai gái ở tuổi nhi đồng thiếu niênchưa có chỗ ngủ riêng, bố mẹ không có phòng riêng đã làm cho vấn đề ở nhiểutrường hợp trở nên bức xúc gay cấn

Tệ nạn “tảo dâm” thậm chí ‘có thai” ở tuổi vị thành niên có chiều hướngtăng lên đang gây ra những mối lo âu cho các nhà quản lý xã hội, các nhà giáodục

Giáo dục giới tính, thậm chí giáo dục tình dục cho trẻ vị thành niên là vấn

dề cấp thiết cần được xem xét một cách hệ thống nghiêm túc trong bối cảnh pháttriển của xã hội ta hiện nay

Khoái cảm tình dục ngày any tự thân nó được coi là một giá trị trước đâygiáo dục giới tính coi quan hệ tình dụclà chính đáng khi gắn với hôn nhân và tìnhyêu Đời sống tình dục tựnó có giá trị riêng Sự cần thiết của khoái cảm tình dcụkhông cần phải gắn với lý tưỏng nào hay sự mong muốn có con, mà bản thân nó

đã là chính đáng rồi

Nhà trường cũng chủ trương mối quan hệ tính dục trong đó người ta đãyêu nhau lâu dài và sâu sắc, giá trị hơn một cuộc găp nhau tạm bợ nhất thời nôngnổi Giao hợp ngẫu hứng không bị kết án là hốn cư nam nữ hay vô trách nhiệm,nhưng khôn gnên tiến hành Nhà trường con chưa có htái độ rõ ràng đối với quan

hệ tình dục ngẫu hứng này

Trang 8

Những nhiệm vụ giaó dục giới tính đặt ra không chỉ để thay thế cái cũ, đểkhỏi xảy ra tình trạng “trống rỗng về đạo đức” mà xuất phát trước hết từ lý tuởngđạo đức mới XHCN và nhu cầu thực tiễn xã hội.

Mặt khác, nét đặc trưng của xã hội hiện đại là thiếu niên phát triển nhanhchóng về thể chất nhưng chậm về mặt xã hội Sự phát triển mạnh mẽ về sinh lý ấyđược các nhà nghiên cứu mệnh danh rất chính xác là “gia tốc” Nếu không giáodục giới tính đúng đắn thì dễ dẫn dến tình trạng bột phát , quá khích hoặc khủnghoảng

Giáo dục giới tính còn nhằm hình thành cho thế hệ trẻ những kiến thứckhoa học tối thiểu về giải phẫu cơ thể, cơ ché thụ thai và những biệ pháp tránhthai, góp phần thực hiện chính sách dân số của Đảng và Nhà nước

Giáo dục giới tính có tác dụng tốt đẹp : củng cố và ổn định gia đình

Giáo dục tính dục sẽ mang lại cho mọi người khả năng tạo ra những quyếtđịnh liên quan đến quan hệ tình dục dựa trên sự đồng ý một cáh tự do đầy đủ vàhiểu biết

Giáo dục cuộc sống tính dục và xã hội được coi là nền tảng trong nỗ lựuc

để có một kiến thức và sự hiểu biết sâu rộng cũng như mang lại quan niệm đúngđắn đúng đắn, tôn trọng và tích cực đối voí quan hệ tình dục và sức khoẻ

Nghiên cứu việc giao hợp nam nữ sẽ giúp cho nam nữ quyết định khi nàonên bắt đầu đời sống tình dục với các hậu quả, có thể đã biết trước , giúp họ ngănngừa được nguy cơ có thai ngoài ý muốn và các bênh lây lan qua đường sinh dục

CHƯƠNG 2

I VAI TRÒ GIA ĐÌNH TRONG HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH CÁ NHÂN

Gia đình là môi trường vi mô có vai trò quan trọng nhất trong giai đoạn xãhội hoá ban đầu Nhưng chức năng xã hội hoá của gia đình không chỉ dừng lại ởgiai đoạn xã hội hoá ban đầu ( cung cáp các kinh nghiệm xã hội , nuôi nấng , chămsóc rèn luyện các thói quen, các kỹ năng , từ khi con nhỏ) mà còn diến ra suốt cảcuộc đời con người với tư cách là một quá trình liên tục Gia đình tham gia vào tất

cả các giai đoạn xã hội hoá trong chu trình sống của con người ở giai đoạn nào vaitrò của gia đình cũng thể hiện rất rõ.8

+ Giai đoạn tuổi ấu thơ: gia đình là môi truờng xã hội hoá đầu tiên của

đứa trẻ Chỉ sau khi sinh ra không lâu, trẻ sơ sinh đã hướng về thế giới xung quanh

và bắt đầu quá trình học hỏi Các giác quan tai, mắt, mồm , da của trẻ hoạt độngthể hiện ở các cảm giác nghe, nhìn, ăn, uống, cảm giác nóng, lạnh… Sự chăm sóccủa các thành viên trong gia đình (mẹ, bố) như cho ăn, tắm rửa, thay tã lót, quần

áo, bế, ru trẻ v.v…và cách thức chăm sớc của họ như giờ giấc ăn, ngủ, tập ănnhững thức ăn ngoài sữa mẹ …đã giúp trẻ đào luyện các thói quen Ở giai đoạnnày gia đình hầu như là môi truờng xã hội hoá và tác nhân xã hôi hoá duy nhất

+ Giai đoạn tuổi mẫu giáo nhi đồng: cùng với việc tiếp tục đào luyện các

thói quen Trẻ bắt đầu tập đóng các vai trò của người lớn, chúng mô phỏng hoạt

8 Gia đình Việt Nam với chức năng xã hội hoá Lê Ngọc Văn, NXBGD, HN 1996, trang 12-15

Trang 9

động và quan hệ xã hội của người lớn thông qua các trò chơi Bên cạnh gia đình ởgiai đoạn này trẻ em bắt đầu có những mối quan hệ với xã hội bên ngoài như bạnchơi, bạn học, thầy, cô giáo Trẻ bắt đầu chịu ảnh hưởng của của tivi, tranh ảnhv.v…

+ Lứa tuổi thiếu niên: trẻ em tiếp xúc đa dạng với thế giới xung quanh,

bước đầu hình thành những giá trị, chuẩn mực, thiết lập quan hệ với những ngườixung quanh trước hết là với những ngưòi trong gia đình, thử sức trong các quan hệ

xã hội, tiến tới hình thành nhân cách độc lập Ở giai đoạn này, gia đình giúp đỡ vàcung cấp cho các em những kinh nghiệm xã hội trong quan hệ và ứng xử vớinhững ngưòi xung quanh, động viên, thông cảm, nầng đỡ các em khi thất bại vànản trí, giúp các em những kiến thức, hiểu biết cần thiết đê tự chủ ở giai đoạn tiềndậy thì khi cơ thể có những thay đổi lớn

+ Lứa tuổi trưởng thành: Cá nhân phát triển bản sắc cái tôi, hình thành

những kinh nghiệm xã hội ổn định chuẩn bị bước vào những nhóm làm việc,những tổ chức xã hội hay cộng đồng mới Ở giai đoạn này xã hội hoá sơ cấp hầunhư đã hoàn thành, nhân cách về cơ bản được định hình Lúc này gia đình giứpcác cá nhân trưỏng thành trả lời được 3 câu hỏi: Làm nghề gì để kiếm sống ( địnhhướng nghề nghiệp); theo lối sống nào ( định hướng giá trị); yêu ai ( định hướnghôn nhân)

+Giai đoạn chuẩn bị kết hôn và làm cha làm mẹ: vai trò của ngừoi vợ,

nguòi chồng, người mẹ, người cha đã được nhận thức từ trong gia đình qua cáchứng xử của cha mẹ đối với con cái Gia đình tạo cho cá nhân động cơ và mongmuốn đi tới kết hôn và giúo cho các cá nhân biết cách ứng xử khi họ kết hôn Mộtnguời trứoc khi bước vào hôn nhân thường đã quan sát hôn nhân của cha mẹ trongmột thời gian dài Các vai trò hôn nhân đuợc học hỏi chủ yếu từ các vai trò thểhiện trong hôn nhân của cha mẹ Mô hình hôn nhân của cha mẹ có vai trò cực kỳquan trọng đối với việc xã hội hoá vai trò hôn nhần và làm cha mẹ của con cái

+ Giai đoạn bước sang tuổi già: nguời trẻ tuổi có thể hình dung được cuộc

sống của mình khi bước sang tuổi già sẽ diễn ra như thế nào chính là nhờ quan sátcuộc sống của những ngưòi già trong gia đình ( ông bà, cha mẹ) Do đó, ngưòi tabiết cách chuẩn bị cho tuổi già Nói cách khác là người ta học đựoc cách để trởthành ngưòi già kể cả việc phải học cách sống phụ thuộc vào nguời khác saunhững năm dài họ từng có cuộc sống độc lập Gia đình giúp mỗi ngưòi đưong đầuvới tuổi già và cái chết

+ Giai đoạn cuối cùng của chu trình sống là chuẩn bị đón cái chết

Nhiều khi, do không nhận thức được quá trình xã hội hoá diễn ra suốt cả cuộc đờicủa một con người và không thấy được vai trò của gia đình trong xã hội hoá các cánhân ở lứa tuổi trưởng thành mà người ta chỉ chú ý xã hội hoá đối với trẻ em vàgiới hạn chức năng xã hội hoá của gia đình chỉ đối với lứa tuổi trước tuổi trưởngthành, thậm chí trước tuổi học đường Do đó người ta đi tới một cực đoan là khiđứa trẻ đến tuổi học đường chuyển giao toàn bộ trách nhiệ giáo dục, Đào tạo chonhà trường và các tổ chức xã hội Giáo dục xã hội là sự tiếp tục chứ không phải àa

sự thay thế cho giáo dục gia đình

Trang 10

86.2 74.6 69.3 78.6 82.1

0 20 40 60 80 100

Mong muốn con cái có những đức

Mong muốn con cái hiếu thảo

mong muốn con cái khiêm tốn

mong muốn con cái biết tôn trọng

mong muốn con cái biết quan tâm

Đức tính Đức tính

II/ QUAN NIỆM CỦA GIA ĐÌNH VỀ SỰ GIÁO DỤC HÌNH THÀNH

NHÂN CÁCH TRẺ EM

Kết quả nghiên cứu của một số đề tài nghiên cứu khoa học gấn đây về giađình cho biết phần lớn các gia đình đều đặt kỳ vọng vào sự trưởng thành sau nàycủa con cái Ví dụ két quả nghiên cứu khoa học của đề tài “ Vị trí, vai trò của giađình trong sự nghiệp bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em” do UBBVCSTEVN tiếnhành trong hai năm 1999-2000 cho biết, có đến 86,2% các bậc cha mẹ mong muốncon cái có những đức tính giản dị, tiết kiệm, 74,6% mong muốn con cái hiếu thảo,69,3% mong muốn con cái khiêm tốn, 78,6% mong muốn con cái biết tôn trọngmọi người, 82,1% mong muốn con cái biết quan tâm đến ngưòi khác Thậm chítrong các gia đình có trẻ em hư thì gia đình cũng đạt rất nhiều kỳ vọng tốt đẹp ởcon cái

Hình 1: Mong muốn của cha mẹ với con cái

Kết quả khảo sát 211 gia đình có trẻ em hư độ tuổi từ 11 đến < 16 tuổi tại

09 phường thuộc 06 quận nội thành Hà Nội vào thời điểm tháng 3-4 nắm 2001thấy nổi bật có một số kỳ vọng của gia đình đối với con cái với tỷ lệ rất cao như:học hành có bằng cấp cao, sống trung thực, lương thiện; trở thành người hữu íchcho xã hội; hiếu thảo; có nghề nghiêp làm ăn Trong khi đó có một số kỳ vọngnhư: sự giàu có; quyền hành; sự nổi tiếng, những đièu mà ở một số người đã trởthành khát vọng cháy bỏng, lại có tỷ lệ rất thấp

Trang 11

Đa số các gia đình quan niệm giáo dục con cái hướng về truyền thống và cội

nguồn, hướng về các giá trị xã hội tốt đẹp dã được xã hội thừa nhận và hướng tới

sự tiến bộ của xã hội

Từ việc tìm hiểu kỳ vòng đối với con cái cũng như quan niệm trong giáo dục concái của các nhóm gia đình đã cho thấy::

Thứ nhất, Đa số các gia đình đều đặt kỳ vọng vào con cái ở những mong

muốn rất nhân văn, nhân đạo: mong muốn con cái sau này học hành đến nơi đếnchốn, có bằng cấp cáo, có nghề nghiệp, sống lương thiện có ích cho xã hội và hiếuthảo với bố mẹ ông bà Điều đó phản ánh đúng bản chất tâm lý con người ViệtNam và truyền thống văn hóa của các gia đình Việt Nam

Thứ hai Những kỳ vọng đối vói con cái về địa vị xã hội, sự nổi tiếng cũng

như về sự giáu có và quyền bình đẳng không phải là những kỳ vòng thiêt tha trênhết đối với đa số các gia đình

Thứ ba Quan niệm của gia đình đối với việc giáo dục con cái đã có xu

hướng rõ nét Chỉ giữ lại những truyền thống có giá trị vình cửu như đạo hiếu, đạonghĩa, không có chú ý nệ cổ ( duy trì gia giáo, gia phong của gia đình, dòng họ, tôtiên) Có xu hướng cải biến rõ rệt Vừa theo truyền thống, vừa bổ sung thêm

những nội dung tiến bộ trong việc giáo dục con cái

Thứ tư Những kỳ vọng đối với con cái và những quan niệm về giáo dục

con cái của các nhóm gia đình thể hiện sự nhận thức tích cực trong việc định

hướng giáo dục trẻ em Đây là những điểm cần khai thác động viên khích lệ để cácgia đình có trách nhiệm hơn, phát huy tích cực hơn vai trò của mình trong việcgiáo dục, xã hội hoá trẻ em trong gia đình

Theo nguyên cứu : “ Vai trò của gia đình trong giáo dục đạo đức cho trẻ

em lứa tuổi THCS ở Hà Nội hiện nay “của TS- Nguyễn Thị Tố Quyên – Hv Chính Trị Quốc Gia Hồ Chí Minh cho thấy :

Nhìn chung chung hầu hết các bậc cha mẹ đã ý thức được sự ảnh hưởng củalối sống của mình tới con cái và quan tâm đến thái độ của con đối với những ứng

xử hành vi riêng của bản thân Qua khảo sát cho thấy , thời gian mà cha mẹ giành

đề giáo dục cho con phần lớn là dưới 1h/ngày ( chiếm 44.5 %) số gia đình và giáodục con với thời lượng khoang 3h / ngày chỉ có 3.5% Như vậy hiện nay cha mẹkhông có nhiều thời gian để dạy con học rèn rũa giáo dục con Như vậy với thờilượng là dưới 1h thì liệu cha mẹ có quan tâm được đến những giáo dục đạo đức tríthể , mĩ , kĩ cho con hay không? Thời lượng giáo dục 2-3h / ngày cũng chỉ rất nhỏ( chỉ 10.5 %) Bận rộn với công việc với những mối quan hệ gắng sức xây dựng cơ

sở vật chất nhưng lại không dành thời gian phù hợp với những chức năng xã hộihóa gia đình

Trang 12

giảng giải , 66.3

nêu gương , 47 khen thưởng ,

38.8

rèn luyện thói quen , 38

trách phạt , 22.5

giảng giải nêu gương khen thưởng rèn luyện thói quen trách phạt

Hình 2: Hình thức giáo dục của cha mẹ

Số liệu phân tích cho thấy giảng giải (66.3%) nêu gương ( 47%) là 2

phương pháo được các cha mẹ cho là sử dụng nhiều nhất Bên cạnh đó 38.8 %cha mẹ thường xuyên khen thưởng , 38 % dung phương pháp rèn luyện thói quen22.5 % cha mẹ dung phương pháp trách phạt Như vậy cha mẹ dung phương phápgiảng giải là nhiều nhất

Khảo sát điều tra hơn 1000 gia đình có con đang học tiểu học và trung cơ

sở đã có 7,2% cha mẹ quan niệm việc giáo dục con cái là do nhà trường hoàn toàn

đảm nhiệm, gia đình chỉ chịu một phần nhỏ Nhưng trên thực tế, đã có tới 25,5%các bậc cha mẹ thừa nhận đã khoán trắng việc giáo dục con cái cho nhà trường1.Thả nổi việc giáo dục con, đến khi con cái mắc khuyết điểm lại phạm vào tội chedấu khuyết điểm của con Khảo sát trên cũng cho thấy, khi nhà trường yêu cầu cácbậc cha mẹ đánh giá xếp loại 210 học sinh là con cái họ mà nhà trường đánh giáhạnh kiểm chưa đạt yêu cầu, thì đã có tới 63,4% số học sinh thuộc danh sách trênđược bố mẹ các em nâng nên loại hạnh kiểm khá và tốt Các bậc cha mẹ đã khôngdám nói thật khuyết điểm của các em với nhà trường, sợ ảnh hưởng đến kết quảhọc tập của con em mình!2 Bỏ mặc, khoán trắng cho nhà trường, đến khi con cáimắc lỗi lầm thì bố mẹ lại rơi vào tâm trạng hẫng hụt, phàn nàn về sự bất lực củamình đã không dạy bảo được con Hậu quả tất yếu là nhiều bậc cha mẹ đã nổi cáu,dẫn đến đánh đập trẻ, vi phạm quyền trẻ em Nhiều bậc cha mẹ đã bộc lộ quanđiểm của mình, cho rằng không dùng roi vọt thì không giáo dục được trẻ Phổ

Trang 13

biến, các bậc cha mẹ cũng thừa nhận là không hiểu được, không nắm được cácphương pháp giáo dục trẻ.

Hầu hết các cha mẹ đều hiểu rõ về nội dung giáo dục cách ứng xử mà họtruyền tải., Những tỷ lệ chọn cách nội dung giáo dục đều rất cao Sự lễ phép chiếmnhiều ý kiến nhất (94%) Cha mẹ nào cũng muốn con cái mình ngoan ngoãn , lễphép với người lớn biết giúp đỡ ông bà cha mẹ Điều này phản ánh đúng vớinhững đòi hỏi của xã hội ngày nay Trong gia đình Việt Nam tính tôn ti trật tựluôn được đề cao và là một nội dung rất quan trọng Một trong những tiêu chuẩncủa người con ngoan là biết lễ phép ,kính trọng với người trên Trong xã hội hiệnđại có rất nhiều vấn đề kỉ cương , phép nước được tôn trọng và giáo dục phép tắc

lễ nghĩa với trẻ em là hướng tới giáo dục công dân biêt tuân thủ pháp luật trongtương lai

Từ một vài dữ liệu thu thập được tại 3 địa phương (Thái Bình, Hà Tây,

Hà Nội), phần phân tích dưới đây đề cập đến sự tham gia của ông bà vào quá trình

giáo dục con cháu, cách thức, lĩnh vực mà họ thường làm cũng như thái độ củacon cái trưởng thành đối với việc ông bà dạy dỗ các con của họ Tất cả các thôngtin này đều thể hiện qua sự đánh giá của những người con đã trưởng thành

Với mẫu chọn trong nghiên cứu này, số gia đình 3 thế hệ cùng chung sốngnói chung là 37,6% với tỉ lệ ở khu vực nông thôn cao hơn so đô thị Nói cáchkhác, gần 1/2 số gia đình sống ở khu vực nông thôn và hơn 1/3 số gia đình sống ởkhu vực đô thị là các gia đình từ 3 thế hệ trở lên Như vậy, cứ 10 gia đình thì ítnhất trong 3 gia đình, ông bà có thể tham gia trực tiếp vào quá trình nuôi dạy concháu nếu họ muốn Đó là một tỉ lệ rất đáng kể

Do đặc điểm của gia đình có nhiều thế hệ, ông bà có nhiều cách thức thamgia vào quá trình giáo dục con cháu theo đánh giá của các con trưởng thành Kếtquả nghiên cứu cho thấy, cách thức giáo dục các cháu mà ông bà hay sử dụngnhiều nhất là mang tính chất “tư vấn”, khuyên bảo cha mẹ cách dạy dỗ con trẻ(92,8%) Trực tiếp dạy dỗ các cháu cũng là cách rất hay được sử dụng (77%) Haicách thức được dùng nhiều nhất trên đây khẳng định vai trò truyền thống, quantrọng và trực tiếp của ông bà trong việc giáo dục thế hệ trẻ

Phù hợp với cách thức chủ đạo của ông là “khuyên bảo”, “tư vấn” (chứ không đưa

ra quyết định giống như cha mẹ) nên dù có thể không đồng ý với cách dạy dỗ,nhưng hình thức “không can thiệp” chiếm tỉ lệ đáng kể (20.4%) Nhưng điều đó

Trang 14

không có nghĩa là “không quan tâm” Ít quan tâm, để tuỳ cha mẹ giáo dục cáccháu là cách được lựa chọn ít thường xuyên nhất (9.9%) Điều này khẳng định mộtlần nữa, hầu hết những người được hỏi đều thống nhất về vai trò tích cực, khôngthể thiếu của ông bà trong việc giáo dục con trẻ: “Khi ông bà còn sống thì ông bàcũng hay bảo các cháu khi đi học về thì có việc gì giúp đỡ, đỡ đần bố mẹ Ông bàcũng luôn luôn khuyên bảo các cháu…” (Đ.T.M, nữ, tỉnh Thái Bình).

Khía cạnh mà ông bà quan tâm dạy dỗ các cháu nhiều hơn cả là cách ứng xử vớimọi người (91.6%), đứng thứ hai là chuyện học hành (80.3%) và vấn đề đángđược quan tâm thứ ba là cách đi đứng, ăn mặc (65.3%) Điều này đã phản ánhphần nào quan niệm truyền thống trong giáo dục con trẻ “tiên học lễ, hậu họcvăn” Hai trong số 3 lĩnh vực mà ông bà quan tâm liên quan đến dạy làm người,còn lĩnh vực thứ ba liên quan đến học hành

Hình 3:

So sánh giáo dục của ông bà với con cháu của thành thị và nông thôn

Khi được hỏi thái độ về việc giáo dục con cháu của ông bà, có 60% nhữngngười được hỏi hoàn toàn đồng ý với cách dạy dỗ đó Tỉ lệ này ở nông thôn lớngần gấp hai ở thành phố (41.1% so với 21.1%) Số người đồng ý một phần chiếmmột tỉ lệ khá lớn tới 38% Điều này gián tiếp phản ánh sự khác biệt về cách thứcnuôi dạy con trẻ của 2 thế hệ giữa ông bà và cha mẹ như đã có dịp đề cập ở trên.Dựa vào những kết quả sơ bộ vừa trình bày có thể hình dung ra một số yếu

tố tác động tới việc tham gia giáo dục con trẻ của ông bà ở Việt Nam nói chung

Đó là xu thế gia đình hạt nhân ngày càng tăng, dù trong mẫu chọn của nghiên cứunày con số đó mới là 57.8% với tỉ lệ ở thành phố cao hơn ở nông thôn Có thể dựbáo rằng trong quá trình đô thị hoá và hiện đại hoá, con số này sẽ có xu hướngtăng

Khi tỉ lệ gia đình 3 thế hệ trở lên ngày càng thu hẹp thì sự tham gia của ông

bà vào việc trực tiếp giáo dục con cháu sẽ giảm (ít nhất là về mặt thời gian và cơ

Thành thị, 41.1, 66%

Nông thôn, 21.1,

34%

Thành thị Nông thôn

Ngày đăng: 04/02/2015, 20:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Mong muốn của cha mẹ với con cái - Vai trò của cha mẹ trong hình thành nhân cách cho trẻ trong gia đình
Hình 1 Mong muốn của cha mẹ với con cái (Trang 10)
Hình 2: Hình thức giáo dục của cha mẹ - Vai trò của cha mẹ trong hình thành nhân cách cho trẻ trong gia đình
Hình 2 Hình thức giáo dục của cha mẹ (Trang 12)
Hình 5: Ý kiến về giáo dục lòng hiếu thảo: - Vai trò của cha mẹ trong hình thành nhân cách cho trẻ trong gia đình
Hình 5 Ý kiến về giáo dục lòng hiếu thảo: (Trang 16)
Hình 6: Hình thức giáo dục gia đình - Vai trò của cha mẹ trong hình thành nhân cách cho trẻ trong gia đình
Hình 6 Hình thức giáo dục gia đình (Trang 17)
Hình 7: Yếu tố ảnh hưởng đến học tập trẻ - Vai trò của cha mẹ trong hình thành nhân cách cho trẻ trong gia đình
Hình 7 Yếu tố ảnh hưởng đến học tập trẻ (Trang 20)
Hình 8 : Thời gian có thể cân nhắc giữa công việc và giáo dục con cái - Vai trò của cha mẹ trong hình thành nhân cách cho trẻ trong gia đình
Hình 8 Thời gian có thể cân nhắc giữa công việc và giáo dục con cái (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w