Trong tiến trình phát triển quan hệ thương mại, đầu tư, các ngành hữu quan hai nước khẳng định ý chí và quyết tâm thúc đẩy quan hệ hai nước phát triển một cách có hiệu quả, mang lại lợi
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tinh cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình lịch sử lâu dài phát triển nền kinh tế - thương mại hai nước Mông Cổ - Việt Nam, chúng tôi đặc biệt chú trọng giai đoạn từ 1990 đến nay Có thể nhấn mạnh rằng, đặc biệt trong 15 năm gần đây từ 1990-2005, quan
hệ Mông Cổ – Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, kinh tế – thương mại, khoa học – kỹ thuật, giáo dục, du lịch, nghệ thuật đều đã được khôi phục, phát triển nhanh chóng và sâu rộng, đem lại nhiều kết qủa thiết thực cho
cả hai bên Cho đến nay, hai nước đã ký hơn 20 hiệp định song phương và thoả thuận cấp Nhà nước, tạo cơ sở pháp lý cho quan hệ hợp tác lâu dài giữa hai nươc
Có thể nói, lĩnh vực thương mại và đầu tư là hai lĩnh vực được quan tâm nhiều nhất và cũng có sức sống nhất trong quan hệ kinh tế Mông Cổ – Việt Nam
Tuy nhiên, trong lĩnh vực thương mại bức tranh không phải tòan mầu hồng, kim ngạch trao đổi thương mại hai chiều hiện ở mức rất thấp, chưa đầy 2 triệu USD trong những năm gần đây, chưa tương xứng với tiềm năng và thấp hơn nhièu so với kim ngạch 16 triệu USD cách đây 10 năm Làm thế nào để phấn đấu đưa kim ngạch buôn bán hai chiều lên 10 triệu USD một năm vào năm 2010? Làm thế nào để bên cạnh thương mại, phát triển quan hệ đầu tư cũng ngày càng trở nên quan trọng trong quan hệ kinh tế song phương? Trong tiến trình phát triển quan hệ thương mại, đầu tư, các ngành hữu quan hai nước khẳng định ý chí và quyết tâm thúc đẩy quan hệ hai nước phát triển một cách có hiệu quả, mang lại lợi ích thiết thực cho hai nước và nhân dân hai nước; tạo thuận lợi cho nhau, mạnh dạn đầu tư liên doanh sản xuất phù hợp với điều kiện kinh tế hai bên, bằng cán bộ kỹ thuật cao, máy móc, thiết bị, nguyên liệu, mặt bằng của Mông Cổ và nguồn nhân công dồi dào, cán bộ kỹ thuật cao, máy móc, thiết bị của Việt Nam, để cung cấp cho thị trường hai nước và xúât khẩu sang các thị trường của nước thứ ba; tìm kiếm các phương thức, các kênh thích hợp, từng bước xúc tiến thương mại, nhằm nâng kim ngạch lên 10 triệu USD vào năm 2010 Ngoài ra, phải đa dạng hoá, tự do hoá các hình thức và chủ thể hợp tác đầu tư cũng như khuyến khích và bảo hộ song phương hoạt động hợp tác đầu tư; nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển sự hợp tác Mông Cổ –
Trang 2Việt Nam trong các lĩnh vực kinh tế khác như tài chính-ngân hàng, giao thông vận tải
Việt Nam đang cố gắng đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) trong thời gian sớm nhất, đưa nền kinh tế hội nhập mạnh mẽ hơn nữa vào kinh tế toàn cầu, vừa tạo điều kiện, vừa thúc đẩy Việt Nam mở cửa rộng hơn cho đầu tư, thương mại hàng hoá và dịch vụ với bên ngoài và cũng sẽ thâm nhập sâu rộng hơn vào thị trường thế giới Như vậy, một biểu hiện nữa của sự hợp tác kinh tế giữa hai nước chính là việc Mông Cổ hỗ trợ Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế thông qua việc tích cực ủng hộ Việt Nam tham gia WTO và các thể chế kinh tế tài chính quốc tế khác, trong khi Việt Nam ủng hộ Mông Cổ gia nhập APEC, ASEM Việc Việt Nam gia nhập WTO sẽ mở ra thêm một kênh mới cho quan hệ Mông Cổ – Việt Nam, sẽ là một tác động mạnh mẽ lên quan hệ Mông Cổ và Việt Nam thời kỳ này Qua việc Việt Nam gia nhập WTO, cần thiết phải xem xét và bổ sung lại những cơ sở pháp lý trong quan hệ hợp tác giữa hai nước Mông Cổ và Việt Nam
Tuy có những thuận lợi cơ bản và có triển vọng to lớn, nhưng cũng còn không ít vấn đề nan giải đang đặt ra trong việc phát triển quan hệ hợp tác thương mại và đầu tư Mông Cổ – Việt Nam Quan hệ hợp tác thương mại và đầu tư giữa hai nước đáng tiếc là chưa tuơng xứng với quá khứ, tiềm năng và vị thế đối tác chiến lược như hai bên mong muốn Phải nhận thức hạn chế và yếu kém như thế nào và đề ra những giải pháp tháo gỡ gì để thúc đẩy sự phát triển năng động, mạnh mẽ quan hệ hợp tác thương mại và đầu tư giữa Mông Cổ và Việt Nam trong thế kỷ XXI?
Trước yêu cầu cấp bách của thực tiễn phát triển và quản lý hoạt động xuất nhập khẩu, cũng như nhu cầu khôi phục quan hệ thương mại và đặc biệt đối với thị trường có nhiều tiềm năng như thị trường Việt Nam, việc nghiên cứu thị trường Việt Nam và quan hệ thương mại Mông Cổ – Việt Nam giúp cho việc hoạch định chính sách thương mại Mông Cổ – Việt Nam là một vấn đề có ý
nghĩa quan trọng về lý luận và thực tiễn Vì vậy, tác giả đã chọn vấn đề “Quan
hệ kinh tế – thương mại giữa Mông Cổ và Việt Nam: thực trạng và triển vọng” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ – Chuyên ngành Kinh tế thế
giới và quan hệ thương mại quốc tế
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của mối quan hệ kinh tế - thương mại giữa Mông Cổ và Việt Nam trong những năm gần đây
Trang 3- Đánh giá thực trạng mối quan hệ kinh tế - thương mại giữa Mông Cổ và Việt Nam và tìm ra những nguyên nhân của những hạn chế.
- Dự đoán triển vọng mối quan hệ song phương và đề xuất các giải pháp nhằm phát triển mối quan hệ kinh tế - thương mại trong những năm sắp tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Làm rõ những vấn đề bức xúc về quan hệ thương mại và đầu tư Mông Cổ – Việt Nam
Giới thiệu tiến trình phát triển kinh tế – thương mại và đầu tư giữa Mông Cổ và Việt Nam
Khai thác triệt để những tiềm năng sẵn có, đẩy mạnh việc trao đổi hàng hoá, tìm kiếm khả năng hợp tác liên doanh nhằm đưa quan hệ kinh tế, thương mại lên ngang tầm với quan hệ chính trị tốt đẹp giữa hai nước
Cung cấp những thông tin cập nhật nhất về thực trạng hoạt động kinh tế – thương mại và đầu tư của hai nước
Đề xuất các giải pháp cụ thể để tăng cường tìm kiếm các cơ hội hợp tác, khai thác hiệu quả những thế mạnh của hai bên về những mặt hàng truyền thống, hợp tác liên doanh trên các lĩnh vực cùng có lợi như chế biến nông sản, trao đổi hàng hoá, hợp tác xây dựng, dịch
vụ, khai khoáng…khi giữa Mông Cổ và Việt Nam đang có những tiến triển về kinh tế thương mại và đầu tư
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tiến trình cải thiện và xu hướng phát triển nền quan hệ hợp tác kinh tế – thương mại giữa hai nước trong những năm từ 1990-2005
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn chỉ ở nghiên cứu tình hình sự hợp tác quan hệ kinh tế – thương mại giữa hai nước, những thành tựu đã đạt được cũng như những tồn tại mà hai nước cần cùng nhau giải quyết, cùng nhau rút ra những bài học nhằm góp phần xây dựng mối quan hệ kinh tế - thương mại giữa hai nước phát triển ổn định và lâu dài trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi và tôn trọng những nguyên tắc và thực tiễn thương mại quốc tế trong quá trình đổi mới kinh tế của Mông Cổ - Việt Nam đã diễn ra trong 15 năm từ 1990 đến năm 2005
4 Phương pháp nghiên cứu:
Trang 4Đề tài dựa trên phương pháp luận nghiên cứu của chủ nghĩa Mác- Lênin
về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; các quan điểm về hội nhập kinh tế quốc tế, về phát triển kinh tế trong đó có phát triển chính sách ngoại thương giữa hai nước Mông Cổ và Việt Nam cũng được đặc biệt khi lưu ý khi nghiên cứu đề tài này
Ngoài ra, đề tài còn áp dụng các phương pháp nghiên cứu tổng hợp như: phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp tư duy logíc và suy luận
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Lời mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được bố cục thành 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về hoạt động hợp tác kinh tế thương mại, đầu tư
của nước Mông Cổ
Chương 2: Thực trạng quan hệ hợp tác kinh tế thương mại giữa Mông
Cổ và Việt Nam
Chương 3: Triển vọng và giải pháp thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế –
thương mại và đầu tư giữa Mông Cổ và Việt Nam
Trang 5CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG HỢP TÁC KINH TẾ THƯƠNG MẠI, ĐẦU
TƯ CỦA NƯỚC MÔNG CỔ
1.1 Tổng quan về tình hình phát triển kinh tế của Mông Cổ trong giai đoạn từ năm 1986-1990
Từ đầu những năm 1990 hầu hết các nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung
đã thực hiện những cải cách kinh tế dựa theo thị trường Khác với các nền kinh
tế Đông Âu cũng đã có đi bước quá độ giống nhau, nền kinh tế Mông Cổ phần lớn là nông nghiệp chăn nuôi với khu vực quốc doanh còn nhỏ – một điều kiện ban đầu hết sức thuận lợi để quá độ được mau lẹ Thực tế này xuất phát từ tỷ trọng thấp của công nghiệp trong nền kinh tế và từ vai trò chủ đạo của khu vực nông nghiệp và dịch vụ Thực ra, ở Mông Cổ không có công nghiệp nặng Cho tới tận trước khi có các cuộc cải cách năm 1990, ngót một nửa công ăn việc làm trong ngành chế tạo được tập trung trong hai phần sử dụng nhiều lao động là dệt
và chế biến thực phẩm Theo só liệu thống kê chính thức, những năm 1980 nền kinh tế Mông Cổ phát triển rất nhanh, GDP bình quân năm tăng 6.2% (xem bảng 1.1) Những năm 1986 tốc độ tăng trưởng đạt 9.4% [17.Tr.9].
Từ 1990, Mông Cổ thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình, đa phương
và không kiên kết Vào năm 1990, nhân dân Mông Cổ từ bỏ hệ thống kế hoạch hoá tập trung và mệnh lệnh quan liêu đơn thuần theo kiểu Liên Xô và đã chọn đi theo con đường dân chủ, đổi mới bằng cách thực hiện cải tổ chính trị bằng con đường của mình và thực hiện các biện pháp mang tính chất đường lối theo hướng thiết lập nền kinh tế thị trường Quá trình chuyển biến từ nền kinh tế kế hoạch truyền thống sang nền kinh tế thị trường do khu vực tư nhân chiếm ưu thế
đã tạo ra những cơ hội mới cho quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế đất nước Mông Cổ theo hướng thiết lập nền kinh tế thị trường là tất yếu Năm 1991, Chính phủ Mông Cổ đã ban hành Luật tư nhân hoá để thực hiện tư nhân hoá các tài sản nhà nước theo nhiều giai đoạn, trừ việc tư nhân hoá nhà cửa Tiếp đó, Mông Cổ ban hành Luật Công ty và Thành viên, theo đó các công ty nhà nước
và tư nhân đều có quyền tham gia vào hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu Mông Cổ cam kết sẽ đệ trình bản thông báo theo Điều XVII của GATT 1994 vào thời điểm gia nhập, khẳng định mọi luật lệ và qui định liên quan đến hoạt động thương mại của các xí nghiệp quốc doanh sé hoàn toàn phù hợp với các qui định của WTO [26]
Chính phủ nước Mông Cổ đã thực hiện chính sách tư nhân hoá tài sản các hợp tác xã, quốc doanh Nhà nước (2000 cơ sở sản xuất lớn chuyển sang vào tư nhân hoá, 92% ngành chăn nuôi đã được tư nhân hoá (theo thông tin năm 1999)
Trang 6[12.Tr.5]: kết quả là số gia súc đã tăng lên từ 25.5 triệu năm 1991 đến 30.3 triệu năm 2000) , từng bước thả nổi giá cả hàng hoá, tự do hoá thương mại, thực hiện chính sách mở cửa thị trường với thế giới bên ngoài [21.Tr.102-103].
Mặc dù cuộc cải cách của Mông Cổ trong thời kỳ 1986-1991 đã gây được
ấn tượng rất tốt, nhưng chính phủ Mông Cổ thời ký đó đã không thành công trong việc ổn định tuyệt đối nền kinh tế
Trong giữa những năm 90, do quá trình tư nhân hóa các xí nghiệp quốc doanh nằm dưới sự kiểm soát của Chính phủ, tránh với nguyên tắc thị trường, kết quả là bị suy yếu của toàn bộ nền kinh tế, đa số xí nghiệp quốc doanh đóng cửa, năng suất nền kinh tế bị giảm xuống nhiều Do chính phủ Mông Cổ đã thực hiện tư nhân hoá các xí nghiệp quốc doanh bằng một cách chia thành những xí nghiệp doanh nghịêp có quy mô quá nhỏ thậm chí do trình độ công suất kỹ thuật công nghệ bị suy giảm, các sản phẩm Mông Cổ không thể cạnh tranh được trên thị trường thế giới về chất lượng Trong thời gian này, nhiều ngân hàng thương mại bị phá sản, thất nghiệp tăng nhanh đạt khoảng 200 nghìn người
Bắt đầu từ giữa thập kỷ 90 nhịp độ phát triển kinh tế dần dần tăng lên là
do nước Mông Cổ trong việc theo đuổi quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới thông qua việc tham gia từng bước vào hiệp định thương mại song phương khu vực và đa phương một cách tích cực có hiệu quả Để thực hiện chính sách hội nhập kinh tế quốc tế thì việc tìm kiếm và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài và tăng cường hoạt động xuất khẩu hàng hoá để thu ngoại tệ là rất quan trọng
Tóm lại, giống như với các nước thực hiện chuyển đổi nền kinh tế, những khó khăn trong những năm cải cách thị trường ở thập niên 90, tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng cả về mặt chính trị và về mặt kinh tế xã hội đã đưa sự phát triển kinh tế Mông Cổ về khoảng cách tụt hậu khoảng 10 năm Tăng trưởng kinh
tế giai đoạn 1990-1993 luôn là con số âm, sản xuất suy giảm cùng với lạm phát cao đã làm sức mua của dân cư giảm, làm tiền lương thực tế và thu nhập bình quân đầu người giảm đáng kể, môi trường kinh doanh không ổn định, và nền kinh tế vẫn còn phải đối phó với hàng loạt vấn đề nghiêm trọng trong thời gian trước mặt đó: sản xuất công nghiệp và nông nghiệp giảm nghiêm trọng, nợ nước ngoài cao, dự trữ ngoại tệ và vàng không đủ để nhập khẩu những mặt hàng thiết yếu… Tình trạng khan hiếm ngoại tệ đã giảm sút nguồn lực cung cấp xăng dầu
mà tác động tiêu cực đến lĩnh vực công nghiệp nhiệt điện và vận tải Năm 1990 Mông Cổ là một trường hợp điển hình về một nước đang phát triển không ổn định kinh tế vĩ mô
Trang 7Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu vĩ mô kinh tế Mông Cổ qua các năm 1980-2003
mại, triệu USD -145 -578,8 30,2 -120,1 -140,2 -169,9 -228,9 -185,2
Tỷ giá hối đoái
(cuối năm) 1 đô
Trang 81.2 Tổng quan về tình hình phát triển kinh tế của Mông Cổ trong giai đoạn từ năm 1990 đến nay
1.2.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 1990-1996
Sau cuộc suy giảm kinh tế năm 1990, tốc độ tăng trưởng kinh tế bị suy yếu mạnh xuống đến -9,2% năm 1991, đến -9,5% năm 1992, chỉ đến giữa những năm 1990 tăng trưởng tăng một cách khiêm tốn vào năm 1994 đạt 2,3%, (GDP bình quân năm tăng 0,3%), tăng vọt trong năm 1995 (6,3%) là mức tăng trưởng cao nhất trong vòng 5 năm qua (xem bảng 1.1; hình 1.1) Tuy nhien, đối với nước đã sang cơ chế thị trường và đang phát triển thì chỉ số như vậy là thấp
Hình 1.1: Tăng trưởng thực tế qua các năm, % (1990-2001)
Nguồn: [45.Tr.4]
Trang 9Hình1.2: Tăng trưởng thực tế qua các năm, 1984-2005 (%)
5.9 5.7
9.4
3.5
5.1 4.2
Đứng trước một cuộc khủng hoảng kinh tế vĩ mô ngày càng tăng, đầu năm
1990 Chính phủ Mông Cổ đã quyết định tiến hành một chương trình ổn định hóa triệt để.Những biện pháp ổn định hóa chính thống bao gồm việc Chính phủ phải
in thêm tiền để hỗ trợ sản xuất, làm giá cả hàng hoá tăng vọt Tuy nhiên, đến năm 1995, nỗ lực ổn định hoá đã tỏ ra không thành Mức tăng giá gần đạt tới mức siêu lạm phát Tỷ lệ lạm phát tiếp tục gia tăng trong suốt những năm 90, chỉ đến những năm cuối thập niên 90 siêu lạm phát được kiểm chế và đẩy lùi (năm 1992 lạm phát là 325,5%, thì năm 1995 là 53,1%, 1998 là 6,0%, năm 2005
là 9,5%) (xem bảng 1.2) Lạm phát cao đã ảnh hưởng đến hoạt động ngoại thương, phá vỡ các mặt của đời sống kinh tế, làm giảm thu nhập thực tế của dân
cư, làm môi trường kinh doanh không ổn định, mang tính rủi ro cao và gây áp lực làm giảm kim ngạch ngoại thương
Trang 11Hình 1.3: Tỷ lệ lạm phát hàng tháng, % (1990-2001)
Nguồn: [45.Tr.6]
Hình 1.4: Tỷ lệ lạm phát, % (1999-2005)
9.5 11
4.7 1.6
8 8.1
Nguồn: Tổng Cục Thống kê Mông Cổ
1.2.1.2 Tỷ giá hối đoái
Mông Cổ đã làm nên những đổi thay đáng kể trong một môi trường cực
kỳ khó khăn Với việc Liên Xô công bố giảm dần viện trợ bắt đầu từ năm 1989, chính phủ Mông Cổ đã phải đương đầu với một cuộc khủng hoảng thậm chí còn lớn hơn Việc giảm dần viện trợ của Liên Xô có nghĩa là nền kinh tế này sẽ phải xuất khẩu nhiều hơn để lấy tiền nhập khẩu những loại đầu vào thiết yếu Phương
án duy nhất là phải tìm ra những nguồn tài trợ mới từ bên ngoài
Trang 12Để xử lý cuộc khủng hoảng ngày càng gia tăng về cán cân thanh toán này, chính phủ đã thống nhất và phá giá tỷ giá hối đoái với khu vực có đồng tiền chuyển đổi tự do hồi đầu năm 1990, và cũng tự do hoá ngoại thương Việc đồng Tugrug phá giá gây ra tình trạng mất ổn định trong nền kinh tế, thị trường tài chính, ngân hàng chao đảo, vốn đầu tư chạy khỏi Mông Cổ, nhiều công ty phá sản, nhập khẩu giảm, môi trường kinh doanh biến động và nhiều rủi ro Tuy nhiên việc đồng Tugrug xuống giá cũng có mặt tích cực Việc phá giá này thực
sự là một hành động dũng cảm khi nhà chức trách thay đổi tỷ giá hối đoái chính thức để kịp theo mức tỷ giá song hành trên thị trường Nó rút ngắn được khoảng cách giữa tỷ giá ngân hàng và tỷ giá thực tế, làm cho tỷ giá T/USD gần với tỷ lệ lạm phát, khuyến khích xuất khẩu Đây là một bước trong quá trình tiến tới mục tiêu chuyển đổi hoàn toàn đồng Tugrug
Trong giai đoạn từ năm 1973 đến năm 1990 những giao dịch trong khu vực đồng tiền chuyển đổi tự do với những giao dịch trong khu vực tiền không chuyển đổi được tiến hành ở mức giá cố định, gỉa tạo và tính bằng đồng tiền không có khả năng chuyển đổi (tức là “đồng rúp chuyển nhượng’’) Năm 1990 Chính phủ Mông Cổ sử dụng một chế độ tỷ giá được công nhận là có tính áp đặt 5,6 đồng tugrug chuyển nhượng ăn 1 USD Mỹ Sau này, tỷ giá đồng tugrug giảm xuống mấy lần Vào tháng 6 năm 1991, Chính phủ tổng hợp hai hệ thống tài khoản sử dụng một chế độ tỷ giá được công nhận là có tính áp đặt 40 đồng tugrug chuyên nhượng ăn một đô la Mỹ Sau khi tỷ giá đồng tiền Tugrug được nới lỏng từ tháng 5 năm 1995, đồng tiền Tugrug rồi lại liên tục bị mất giá nghiêm trọng trong những năm sau này và đến tháng 7 năm 2003 Chính phủ ấn định tỷ giá ngoại tệ ở mức 1120 tugrug ăn 1 USD Mỹ [12.Tr.7] (xem bảng 1.1)
Trang 13Hỡnh 1.5: Lưu thụng tỷ giỏ danh nghĩa và thực tế đồng tiền Tugrug
(chỉ số: 1995 =100)
• tỷ giỏ danh nghĩa tỷ giỏ thực tế Nguồn: Ngõn hàng Trung Ương Mụng CổSau năm 1996 khi tỷ giỏ giảm mạnh đến giữa năm 1998 tỷ giỏ danh nghĩa tương đối ổn định Bắt đầu từ năm 1995 tỷ giỏ hối đoỏi thực tế đồng tiền Tugrug liờn tục tăng giỏ khoảng 6,8%/năm Tỡnh hỡnh như vậy đó bị ảnh hưởng đến vị trớ xuất khẩu nước Mụng Cổ trờn thị trường thế giới Với mục đớch giữ vững tỷ giỏ danh nghĩa tương đối ổn định đó thực hành chớnh sỏch tăng cường hoạt động
về ngoại hối giữa cỏc ngõn hàng Kết quả chớnh sỏch này là cuối năm 2001 tỷ giỏ đồng tiền Tugrug so với USD Mỹ giảm 0,45% so với cuối năm 2000
[11.Tr.7] (xem hỡnh 1.5).
Hỡnh 1.6: Tỷ giỏ hối đoỏi (2000-2005)
1221 1209
Tỷ giá USD, Tugrug
Sự thay đổi tỷ giá hối đoái mỗi năm, %
1.2.2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế từ năm 1996 đến nay
Tỡnh hỡnh khủng hoảng kinh tế kộo dài nhiều năm chỉ được cải thiện vào năm 1996, sau khi Chớnh phủ Mụng Cổ tiếp tục thực hiện một loạt chớnh sỏch tự
Trang 14do hoá nền kinh tế, như tự do hoá giá cả, thúc đẩy quá trình tư nhân hoá các xí nghiệp quốc doanh Kết quả là tăng trưởng kinh tế đã đạt được số liệu gần với những năm chuyển tiếp kinh tế thập kỷ 80 Trong giai đoạn 1996-2002, GDP bình quân tăng 2,5% [11.Tr.4]. Sau tư nhân hóa tỷ lệ tăng trưởng giá trị sản xuất của khu vực nông nghiệp chăn nuôi tăng vọt
Nhưng tỷ trọng GDP không tăng nhiều như đã dự đoán, do giá cả đồng và lông dê mịn những hàng xuất khẩu chủ lực Mông Cổ trên thị trường thế giới biến động bất lợi và hạ xuống nhiều, và yếu tố này đã có ảnh hưởng mạnh đến kinh tế Mông Cổ, nền kinh tế nhỏ, phụ thuộc nhiều vào thương mại quốc tế Trong giai đoạn 1997-2001, do những nguyên nhân như tình trạng kinh tế thế giới và khu vực không ổn định, chương trình tư nhân hóa chậm lại, hậu quả thiên tai, dịch bệnh, tốc độ tăng trưởng kinh tế Mông Cổ liên tục giảm sút, đặc biệt năm 2001 giảm đến 1% (xem hình 1.2)[11.Tr.5].
Trong giai đoàn 2002-2004 (theo kết quả điều tra của Tổng Cục Thống kê Mông Cổ) tình hình kinh tế phục hồi trở lại, năm 2002 GDP tăng 4,0%, năm
2003 tăng 5,6% Theo số liệu của Bộ Tài chính, năm 2004, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước GDP đạt 1910,9 tỷ tugrug, hay là 10,7%, so với năm
2003 tăng gấp hai lần (đạt mức cao nhất trong vòng 10 năm qua) [14.Tr.17] (xem hình 1.7).
Như vậy, kể từ khi thực hiện Công cuộc Đổi Mới hay còn gọi là chính sách cải tổ năm 1986, đến năm 2005, Mông Cổ đã đạt được tăng trưởng kinh tế tương đương nhanh Nền kinh tế tư nhân chiếm trên 70%/GDP Về quy mô, tăng trưởng (năm 2003) của đất nước Mông Cổ mới đạt 5,6%, đứng thứ 87/134 nước trên thế giới, GDP bình quân tính theo đầu người đạt khoảng 390 USD, đứng thứ 103/136 nước trên thế giới
Trong thời kỳ 1995-2002 GDP bình quân đầu người (bình quân năm) đã
là 419,1 đô la Mỹ, cuối năm 2002 đạt 454,5 đô la Mỹ – nước Mông Cổ hiện trong những nước có mức thu nhập thấp Nếu so sánh GDP bình quân đầu người năm 1998 của nước Mông Cổ với một số nước khác thì chỉ số nước Mông Cổ ít hơn Trung Quốc bằng 2 lần, Hàn Quốc khoảng 20 lần, Nhật Bản 84 lần
[30.Tr.25].
GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái thực tế đã gia tăng qua các năm GDP bình quân đầu người năm 2004 đã đạt 640,1 USD/người, tăng 25,0% so với mức năm 2003 Theo giá năm 2000, mức thực tế của GDP bình quân đầu người cuối năm 2004 đạt 496,9 nghìn tugrug, tăng 9,4%
so với năm 2003
Hình 1.7: GDP bình quân đầu người bình quân năm qua các năm 1990-2005
(nghìn Tugrug)
Trang 15758,7 888,4
392,6
426,2
460,1
504,6 586,9
1.2.3 Cơ cấu kinh tế Mông Cổ
1.2.3.1 Xét theo tỷ trọng trong GDP nền kinh tế Mông Cổ (xem bảng 1.6):
• Nông nghiệp chăn nuôi:
Đến năm 1996, khu vực nông nghiệp chăn nuôi đã chiếm đa số tỷ trọng của nền kinh tế Mông Cổ Sự biến động tỷ lệ tăng giảm của ngành này hoàn toàn phụ thuộc vào những biến đổi của thiên nhiên và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tăng trưởng kinh tế Mông Cổ Lĩnh vực nông nghiệp của Mông Cổ bao gồm hai ngành: ngành chăn nuôi gia súc và trồng trọt Hiện nay, tổng giá trị sản lượng nông nghiệp từ ngành chăn nuôi gia súc 70-75% và ngành trồng trọt 25-30% [27] Đến năm 1990 đã có tổng số 354 đơn vị nông nghiệp (255 hợp tác xã, 73 nông trường, 26 xí nghiệp nhỏ giữa các hợp tác xã) Sau năm 1990 khi Chính phủ Mông Cổ thực hiện một số biện pháp như tư nhân hóa sở hữu các xí nghiệp quốc doanh, hợp tác xã, hiện có 1250 đơn vị nông nghiệp (hợp tác xã, công ty tư nhân), giá trị sản xuất sản phẩm nông nghiệp Mông Cổ đã được tập trung tại khoảng 200 nghìn đơn vị nông nghiệp tư nhân Trong những 5 năm gần đây, tổng số gia súc Mông Cổ đạt 31,3 triệu, trong đó cừu 14,2 triệu, dê 10,2 triệu, bò 3,6 triệu, ngựa 2,9 triêu, lạc đà 0,4 triệu [27.Tr.151]. Từ 5 loại gia súc này theo giá trị sản phẩm nông nghiệp con cừu, bò là 2 loại gia súc chủ yếu chăn nuôi theo hướng sản xuất thịt và lông Như vây, thịt và sản phẩm thịt chiếm 70% tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp Con dê, lạc đà chủ yếu tập trung vào khâu sản xuất lông, lông dê mịn Hiện nay, Mông Cổ chủ yếu xuất khẩu những mặt hàng nông nghiệp như thịt, lông, lông dê mịn, da, sản phẩm lông và da, thảm, sản phẩm lông cừu Mặc dù so với năng suất sản phẩm sản xuất tại châu Âu, năng suất sản phẩm gia súc tại Mông Cổ không cao nhưng đặc điểm chủ yếu của sản phẩm nông nghiệp Mông Cổ là chất lượng cao, rất sạch về trình độ sinh thái, giá
Trang 16thành rẻ Ví dụ: tại Mông Cổ từ một con bò sữa cho chưa đến 1000 lít, nhưng về chất béo sữa thì bằng với chất béo của con bò sữa cho 3000-4000 lít tại châu Âu
[27.Tr.151-152].
Theo số liệu của Tổng cục thống kế, trong giai đoạn 1997-2003 tỷ trọng
ngành nông nghiệp chăn nuôi trong nền kinh tế Mông Cổ giảm sút do hậu quả thiên tai đã xảy ra trong những năm liên tục 2000-2002 và chiếm 37,5-20,1%
[14.Tr.15]. Mặc dù tỷ lệ ngành nông nghiệp trồng cây đã có xu hướng tăng nhưng vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ trong toàn khu vực nông nghiệp chăn nuôi Hiện nay, với mục đích nâng lên tỷ lệ tăng trưởng GDP ngành nông nghiệp chăn nuôi, Chính phủ Mông Cổ đang thực hiện cải cách trong ngành này theo hướng thay đổi phương pháp làm nghề chăn nuôi gia súc truyền thống phù hợp với sự phát triển kỹ thuật - công nghệ hiện đại
• Công nghiệp:
Từ giữa năm 70, ngành công nghiệp mới phát triển và mức giá trị sản xuất ngành công nghiệp vượt hơn giá trị sản xuất ngành nông nghiệp Đầu tư nước ngoài là một nhân tố chính trong quá trình này Đến năm 1990, công nghiệp chiếm 35,6% tổng mức GDP, nông nghiệp chăn nuôi chiếm 19,5% [25]. Trong giai đọan 1990-2000 tỷ trọng của các ngành công nghiệp đã tụt xuống đáng kể, đặc biệt ngành công nghiệp nhẹ, một trong những ngành chủ yếu và có ý nghĩa chiến lược của ngành công nghiệp nhà nước, đã đóng cửa và hoàn toàn dừng lại hoạt động Theo tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu toàn ngành công nghiệp trong những năm gần đây (trừ năm 1998), giá trị sản phẩm của công nghiệp chế biến giảm xuống bình quân 3,9%, trong giai đoạn 1995-2000 giảm từ 12-7,5%
Nếu xét theo những ngành then chốt của ngành công nghiệp, giá trị sản phẩm công nghiệp khai thác mỏ có vị trí đầu tiên và tình hình phát triển của ngành này tương đối ổn định, nhưng vì dự trữ khoáng sản đã được phát hiện không nhiều do vậy không thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài Ngoài ra, giá trị sản phẩm công nghiệp khai thác vàng tăng lên nhiều, đã có một số nhà máy lọc đồng Dù Luật đánh thuế giá trị gia tăng trên tiêu thụ vàng năm 1999 đã gây ra tình hình khi nhiều nhà đầu tư giảm vốn đầu tư vào ngành này và thậm chí rút vốn, nhưng đến thời nay, sau khi giảm tỷ lệ thuế suất khu vực khai thác
mỏ được phát triển có tiến bộ Theo số liệu thống kê Mông Cổ, năm 1999, giá trị sản xuất toàn khu vực công nghiệp đã suy giảm 22,3%, thấp hơn 37,2% so với mức năm 1989 Nếu so sánh tổng giá trị sản xuất ngành công nghiệp năm 1999 với năm 1989, thì tổng giá trị sản xuất ngành công nghiệp gỉam 37,2%, trong đó công nghiệp dệt may 52,8%, công nghiệp chế biến da 99,2%, công nghiệp sản
Trang 17xuất quần áo 81,3%, công nghiệp gỗ và sản phẩm gỗ 79,7%, công nghiệp luyện kim 9,5%.
Năm 2001 đã được do Chính phủ thông báo “Năm tăng cường củng cố và phát triển công nghiệp truyền thống”, và đã thực hành chính sách tăng cường củng cố sản xuất công nghiệp Kết quả là bắt đầu từ năm 2001 giá trị sản xuất ngành công nghiệp tăng lên mỗi năm Trong những 10 năm trước năm 2000, giá trị sản xuất công nghiệp đã là -31,2%, so với năm 1999 vào năm 2000 giá trị sản xuất công nghiệp đạt 2,4%, năm 2001 tăng 10%, 2002 tăng lên 14,2%, năm
2003 ước tính tăng khoảng 16,2%
Theo số liệu của Tổng cục thống kế, trong giai đoạn 1997-2003, do
những yếu tố chủ yếu như tổng dịch vụ bán lẻ, ngành dịch vụ sửa chữa hàng tiêu dùng gia dụng tăng lên 21,0-24,6%; vận tải kho chứa, bưu điện 7,7-13,9%; dịch
vụ giao dịch tài chính 1,6-3,8%, dịch vụ giáo dục 2,7-4,5% đều dẫn đến tỷ trọng khu vực dịch vụ tăng 37,8-54,6%
Năm 2002, tỷ trọng ngành nông nghiệp chăn nuôi trong nền kinh tế Mông
Cổ đã giảm -72,1%, ngành công nghiệp khai thác mỏ -24,9%; tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến tăng 53,3% GDP do tỷ lệ ngành dịch vụ bán buôn bán lẻ, dịch vụ sửa chữa hàng tiêu dùng gia dụng tăng 76,8%, ngành vận tải kho chứa, bưu điện tăng 42,3%
Trong những 15 năm gần đây, cơ cấu tăng trưởng GDP thay đổi đáng kể
do những yếu tố chủ yếu sau:
Số lượng gia súc giảm tụt xuống đáng kể;
Trong giai đoạn này đã được mở nhiều mỏ quặng khoáng sản, đặc biệt những mỏ quặng vàng to lớn;
Do sự biến động giá cả của hai mặt hàng xuất khẩu chủ lực Mông
Cổ vàng và đồng trên thị trường thế giói tương đương ổn định và liên tục tăng lên;
Trong ngành công nghiệp ché biến giá trị sản xuất sản phẩm dệt may đã tăng lên, nhưng do điều kiện cạnh tranh gay gắt về thị trường, năm 2005 mức sản phẩm ngành này lại giảm xuống
1.2.3.2 Xét theo tình hình tốc độ tăng trưởng GDP thực tế của các ngành nền kinh tế Mông Cổ (tính theo giá cố định năm 1995):
Năm 1996-1997 nhịp độ tăng giá trị sản xuất các sản phẩm nông nghiệp
chăn nuôi bình quân hàng năm 4,4%-4,3%; năng lực sản xuất các sản phẩm công nghiệp đã suy giảm (-3,2%)- (-3,3%), trong đó ngành công nghiệp khai thác mỏ 6,1%-5,6%, ngành công nghiệp chế biến giảm sút còn (-13,8%)-(-15,0%); khu vực dịch vụ tăng 4,9%-8,5%, trong đó năm 1996, ngành vận tải
Trang 18kho chứa, bưu điện tăng 11,2%, dịch vụ giao dịch tài chính 42,2%, dịch vụ giáo dục 4,0%, năm 1997, ngành dịch vụ sửa chữa hàng tiêu dùng gia dụng tăng 17,1%, ngành vận tải kho chứa, bưu điện 5,8%, dịch vụ giáo dục 4,1%
• Hệ thống kế hoạch hoá tập trung nguyên liệu thô bị tan rã;
• Mức thuế nhập khẩu của hai nước LB Nga và Trung Quốc, là hai nước đối tác buôn bán chủ yếu của Mông Cổ, có mức 40-150% đã là trở ngại cho việc xuất khẩu những mặt hàng truyền thống Mông Cổ
Với mục đích phục hồi và phát triển lại khu vực công nghiệp của nhà nước, Chính phủ Mông Cổ đã đề ra những mục tiêu chính sách cải cách như sau:
Hình thành cơ cấu dựa vào doanh nhiệp tư nhân và hướng về xuất khẩu;
Ngăn chặn sự chậm trễ của khu vực công nghiệp chế biến đã bị giảm liên tục trong những năm 90;
Khôi phục lại và phát triển các khu vực công nghiệp truyền thống, tăng cường củng cố sức cạnh tranh quốc tế của hàng công nghiệp;
Tăng năng suất và trình độ chế biến các xí nghiệp công nghiệp chế biến nguyên liệu thô nông nghiệp, tích cực thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu theo hướng hiệu quả
Năm 1998-2001, nhịp độ tăng giá trị sản xuất các sản phẩm nông nghiệp
chăn nuôi bị giảm sút từ 6,4%- (-19,0%); năng lực sản xuất các sản phẩm công nghiệp trong giai đoạn này đã phục hồi 3,8%-16,2%, trong đó ngành công nghiệp khai thác mỏ 4,9%-10,1%, ngành công nghiệp chế biến tăng 3,2%- 31,8% Năm 1998 khu vực dịch vụ chiếm -0,1%, năm 2000 tăng 18,0%, năm
2001 8,2%; trong đó dịch vụ bán buôn bán lẻ, dịch vụ sửa chữa hàng tiêu dùng gia dụng tăng -3,1% đến 10,1%, năm 1998, ngành vận tải kho chứa, bưu điện tăng 7,4%, năm 2000 tăng 25.2%, năm 2001 tăng 15,9% [14.Tr.16-17].
Trang 19Trong giai đoạn này, mặc dù nhịp độ tăng giá trị sản xuất các sản phẩm những ngành công nghiệp và dịch vụ vẫn tiếp tục tăng, nhưng nhịp độ tăng giá trị sản xuất các sản phảm ngành nông nghiệp chăn nuôi hạ xuống do những biến đổi thiên nhiên liên tục năm 2000-2002 dẫn đến tổng mức tăng trưởng nền kinh
tế Mông Cổ có xu hướng giảm xuống, năm 1998 tốc độ tăng trưởng là 3,5%, năm 2001 giảm đến 1,0% Nếu xét theo tỷ trọng trong GDP nền kinh tế ngành nông nghiệp chăn nuôi năm 1998 chiếm 70,3% GDP, năm 1999 chiếm 52,3%, năm 2000 đã chiếm -552,0%, năm 2001 chiếm âm -630,8% [14.Tr.17].
Năm 2002-2004, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm trong thời
kỳ này phục hồi trở lại, năm 2002 tăng 4,0% GDP, năm 2003 tăng 5,6%, 2004 đạt 10,6% là khá
Năm 2002, nhịp độ tăng giá trị sản xuất các sản phẩm nông nghiệp chăn nuôi vẫn trong tình hình bị suy yếu, mới bắt đầu năm 2003 có xu hướng tăng lên 5,6%, năm 2004 tăng 18,9%
Năm 2002, nhịp độ tăng giá trị sản xuất các sản phẩm khu vực công nghiệp tăng 5,4%, năm 2003 tăng chậm hơn đạt 3,0%, nhưng năm 2004 tăng lên đạt 15,4% Trong đó, năm 2002-2003 ngành công nghiệp khai thác mỏ bị suy thoái, năm 2004 tăng 31,9%, đầu tháng 8 năm 2005 đạt 6,6% [14.Tr.17-18]. Nếu năm 1990 trong khu vực công nghiệp khai thác mỏ đã hoạt động 13 nhà máy, thì năm 2000 đã có 113, năm 2001 có 127, năm 2003 đã hoạt động 136 nhà máy Năm 2001 giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghiệp khai thác chiếm 44,1% tổng kim ngạch xuất khẩu, và đến năm 2003 chiếm 56,7%
Năm 2002 ngành công nghiệp chế biến tăng 22,1%; năm 2003 chiếm 2,1%, năm 2004 còn xuống 1,5%, đầu tháng 8 năm 2005 còn phát triển chậm lại
bị âm
-27,3% Nguyên nhân là bị giảm sút sản xuất các sản phẩm ngành công nghiệp dêt may bị âm -36,7% Năm 2002, nhịp độ tăng giá trị sản xuất các sản phẩm ngành dịch vụ 12,2%, năm 2003 tăng 7,1%, năm 2004 tăng 4,0%, sự suy thoái này trực tiếp liên quan đến mức tăng trưởng dịch vụ bán buôn bán lẻ, dịch vụ sửa chữa hàng tiêu dùng gia dụng giảm từ 13,3% xuống còn 2,8%, ngành vận tải kho chứa, bưu điện giảm 16,2%-9,0% [14.Tr.18].
Năm 2003, ngành nông nghiệp chăn nuôi, ngành công nghiệp chế biến, dịch vụ bán buôn bán lẻ, dịch vụ sửa chữa hàng tiêu dùng gia dụng, ngành vận tải kho chứa, bưu điện góp phần tích cực cho tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm tăng 5,6%
Năm 2004 ngành nông nghiệp chăn nuôi, khu vực công nghiệp, đặc biệt ngành công nghiệp khai thác mỏ, trong đó hoạt động những công ty khai thác
Trang 20quặng vàng; ngành vận tải kho chứa, bưu điện góp phần tích cực cho tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm tăng10,6% Những mặt nổi bật chủ yếu của kinh tế–xã hội năm 2004, theo đánh giá của Bộ Tài chính do tình hình phát triển nhiều ngành kinh tế có tiến bộ Bắt đầu từ năm 2004, giá trị sản xuất ngành nông nghiệp phục hồi trở lại với mức tốc độ tăng trưởng 21,3%; giá trị sản xuất công nghiệp tiêp tục tăng đạt 28,2%, do giá trị sản xuất công nghiệp khai thác mỏ tài nguyên thiên nhiên tăng lên (đầu năm 2005 giá trị sản xuất ngành khai thác mỏ
tăng 66,4%, công nghiệp chế biến 20,7%, công nghiệp nhiệt điện, cung cấp
nước 12,9%); tỷ trọng ngành dịch vụ giảm xuống tới 50,6% do tỷ trọng của các ngành dịch vụ giảm xuống, trong đó thương mại bán lẻ, sửa chữa hàng tiêu dung gia dụng, vận tải, bưu điện Nếu vào năm 2000 tỷ trọng ngành nông nghiệp 29,1%, công nghiệp 21,9%, dịch vụ là 49,0%, thì năm 2005 tỷ trọng ngành nông nghiệp 20,1%, công nghiệp 30,2%, dịch vụ đạt 49,7% GDP
Hình 1.8: Giá trị sản xuất khu vực công nghiệp (so với năm 1990)
16.2 14.2
10 2.4
-31.2 -40
Nguồn: Tổng cục Thống kê Mông Cổ
Công nghiệp khai thác mỏ
Trong 10 năm gần đây, sự phát triển ngành khai thác tương đối khá ổn đinh Trong hơn 10 năm qua kể từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Mông Cổ năm 1991, hoạt động đầu tư nước ngoài cho vào ngành này đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần tích cực vào việc thực hiện những mục tiêu kinh tế – xã hội, nâng cao vị thế của Mông Cổ trên trường quốc tế Năm 1997 tháng 6 Quốc hội Mông Cổ đã sửa và bổ sung lại “Luật về Khoáng sản” Căn cứ vào quy định trong “Luật về Khoáng sản”, Giấy phép việc tìm kiếm và sử dụng khoáng sản chỉ được tính theo thời hạn: Giấy phép việc tìm kiếm được kéo dài 2 lần, tất cả là 7 năm; thời hạn việc sử dụng quặng khoáng sản kéo dài đến 100 năm
Trang 21Năm 1991, việc ban hành “Luật Dàu khí”, và năm 2003 tháng 11 Chính phủ Mông Cổ đã thông qua Luật Dầu khí sửa đổi, bổ sung lại dành nhiều ưu đãi cho nhà đầu tư, như loại bỏ thuế thu nhập, thuế giá trị gia tăng Như vậy, đã mở
ra thời kỳ hoạt động tìm kiếm, thăm dó, khai thác dầu khí nhộn nhịp nhất từ trước tới nay trên toàn lãnh thổ Mông Cổ Theo việc nghiên cứu của Công ty Van Meurs & Associates Ltd những vặn bản pháp lý về công tác tìm kiếm thăm
dò, khai thác khoáng sản các nước trên thế giới, Mông Cổ đã là một trong 10 nước trên thế giới có môi trường thu hút đầu tư thuận lợi nhất [31].
Hiện nay, lòng đất Mông Cổ có khoảng 80 loại khoáng sản: đồng, vàng, dầu thô, phốt pho (trữ lượng phốt pho: tại tỉnh Khuvsgol có hơn 30 mỏ với trữ lượng 4.5 triệu tấn; Zavkhan có hơn 20 mỏ với trữ lượng 1.2 triệu tấn, với tổng
số trữ lượng phốt pho Mông Cổ đứng vị trí đầu tiên tại châu Á) Theo một số chuyên gia, Mông Cổ có khả năng mỗi năm khai thác 1-2 triệu tấn phân bón phốt pho, và nếu khai thác và xuất khẩu đến 1 triệu tấn phân bón phốt pho, thì có thể thu được 90-120 triệu USD, bằng 1/10 GDP Mông Cổ [57].
Bảng 1.3: Chỉ số giá trị một số sản phẩm công nghiệp khai thác tại Mông Cổ
so với công nghiệp khai thác trên thế giới (năm 2002)
Sản phẩm
Tổng số lượng khai thác trên thế
giới
Tổng số lượng khai thác tại Mông Cổ
Tỷ trọng chiếm trên thế giới
Vị trí đứng trên thế giới
Nguồn: Tổng Cục điều hành sử dụng khoáng sản Mông Cổ [41]
Đến năm 2003 đã được thăm dò và khai thác hơn 3000 mỏ khoáng sản Năm 1998, tỷ trọng của ngành công nghiệp khai thác mỏ chiếm 4,9%, năm 1999 chiếm 3,2%, năm 2000 chiếm 9,0% Từ năm 2000, tại Mông Cổ đã có khoảng
250 nhà máy, doanh nghiệp hoạt động theo 421 hợp đồng trong lĩnh vưc thăm
dò, khai thác và dịch vụ những quặng mỏ của 16 loại khoáng sản như: vàng (85 nhà máy), đồng, thép, fluorspar (4 nhà máy), mô lip đen, u ran, sắt Năm 2003, tổng giá trị công nghiệp khai thác chiếm 55% tổng trị giá sản xuất sản phẩm
Trang 22công nghiệp, chiếm trên 50% tổng kim ngạch thương mại, 8,5% GDP Năm
2003 tổng kim ngạch ngọai thương đạt 600,2 triệu USD, trong đó trị giá khai thác những khoáng sản tài nguyên như đồng, mô lip đen và fluorspar đạt 192 triệu USD, chiếm 32% tổng trị giá xuất khẩu Mông Cổ Do thiếu vốn đầu tư vào ngành này đã thực hiện việc tìm kiếm thăm dò chỉ 16,4% trong lòng đất Mông
Cổ còn 80% vẫn chờ các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài
Bảng 1.4: Tổng trị giá sản xuất khai thác một số khoáng sản tài nguyên chủ
lực, 1997-2002
Đồng, nghìn tấn 124,4 125,4 126,7 125,2 133,5 131,7Môlipđen (t) 2202,
10146,0 11500,0 12059,0 10883,7
Fluorspar nghìn tấn 593,0 612,0 579,1 678,4 615,3 504,6Than đá, nghìn tấn 4922,
0 5057,0 4952,0 5000,0 12059,0 10883,7 Nguồn: Tổng Cục điều hành sử dụng khoáng sản Mông Cổ [41]
Bảng 1.5: Trữ lượng khoáng sản tài nguyên thiên nhiên:
Nguồn: Tông Cục thống kê Mông Cổ
Nhiều năm qua, giá vàng trong nước luôn biến động so với giá vàng thế giới Trong suốt năm 2002, giá vàng trên các thị trường thế giới cũng liên tục tăng với tốc độ cao Tháng 12/2002, giá vàng tại Luân Đon, New York đã đạt tới 332,0-332,5 USD/ounce, năm 2003-2005 363,55 - 409,21 USD/ounce, năm
Trang 232005 tăng khoảng 437,5 USD/ounce Năm 2003, tổng công suất các doanh nghiệp công tác trên lĩnh vực tìm kiếm thăm dò khai thác vàng đạt 10,8 tấn, năm
2004 đạt 18,8 tấn, so với năm trước tăng 74,1% Theo số liệu thống kê Mông
Cổ, năm 2005 đã dự đoán khai thác 19,5 tấn vàng, 8 tháng đầu năm 2005, đã được khai thác 13,0 tấn vàng, hay là 68,7%, trong đó 43,8% hay là 5,7 tấn do công ty “Boroo Gold” (có vốn đầu tư của Canada) khai thác
Danh sách các công ty, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (34) đang hoạt động trong ngành công nghiệp khai thác mỏ:
Boroo gold, Ivanhoe Mines Mongolia, QGX Mongolia, Asia Gold Mongolia, Centerra Gold Mongolia, Erdene Mongol, Gurvan Gol, Solomon Resources, Tethys Mining, Japan Geofile, Altan Dornod Mongolia, East Asia Minerals, Erdes Holding, Falcon Bridge, Gem & Gold Mongolia, International Uranium Mongolia, Major Drilling, Tsairt mineral, AIDD, Ajnai hurd, BHP Billiton, CVRD Corporation, Datsan Treid, Golden East Mongolia, Rich Mongol, Rio Tinto, Taishir tosol, Xandu Mindes, Orica Mongoli, Shoroon Ord, Tsakhir Exploration, UGL Enterprises, Zapady Mines, Land Drill, Mongollimet
1.2.3 Định hướng phát triển nền kinh tế Mông Cổ
Tuy nhiên từ vài năm trở lại đây, đăc biệt kể từ năm 2000 đến nay, nền kinh tế Mông Cổ đã phục hồi và đang trên đà phát triển, nền kinh tế tăng trưởng nhanh, lạm phát cao bị đẩy lùi, nợ nước ngoài giảm, tình hình chính trị xã hội đang ổn định dần, Mông Cổ là một thị trường với nhiều cơ hội mới cho các đối tác nước ngoài trên nhiều lĩnh vực
Trong lĩnh vực thương mại, Mông Cổ vẫn là thị truờng hấp dẫn chính bởi
sự thiếu thốn gay gắt và nhu cầu nhập khẩu nhiều loại hàng hoá, là thị trường giàu tiềm lực công nghiệp khai thác và công nghiệp chế biến Ví dụ, việc sản xuất đồng, môlipđen tinh khiết và xây dựng các nhà máy dây đồng sẽ đóng góp tích cực vào việc nâng cao tăng trưởng nền kinh tế, thúc đẩy nhanh và bền vững xuất khẩu
Theo kế hoạch 2006-2008 do Chính phủ Mông Cổ đã đề ra, tốc độ tăng trưởng kinh tế Mông Cổ sẽ đạt 6-7% Theo mục tiêu dự kiến năm 2006, thì dự kiến tỷ trọng tăng trưởng sẽ dựa chủ yếu vào ngành công nghiệp và dịch vụ, từ
đó 4-5% là tỷ trọng tăng trưởng ngành dịch vụ, 1-1,5% ngành công nghiệp, còn lại sẽ được thành do tỷ trọng tăng trưởng nông nghiệp góp nên [8.Tr.5]
Hình 1.9: Định hướng phát triển nền kinh tế Mông Cổ
Trang 251.3 Tình hình thu hút và sử dụng Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Mông Cổ
1.3.1 Vai trò của đầu tư nước ngoài trong việc phát triển kinh tế đất nước Mông
Cổ
Mỗi quốc gia đều phấn đấu vì mục tiêu phát triển và luôn tìm kiếm các khả năng để phát triển kinh tế của quốc gia mình Đối với mọi quốc gia, đầu tư luôn là tiền đề quan trọng cho tăng trưởng, phát triển Muốn huy động được nhiều và có hiệu quả các nguồn nội lực cũng như ngoại lực cho đầu tư phát riển, cần phải tạo dựng được môi trường đầu tư hấp dẫn, có sức cạnh tranh, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hoá về kinh tế
Trong hoàn cảnh quốc tế hiện nay, khi mà các nước phát triển đã chiếm tỷ
lệ cao trong việc phân chia thị trường khu vực và thế giới, đang tìm cách sát nhập, liên kết theo từng lĩnh vực, từng sản phẩm…thì việc các nước đang phát triển tìm kiếm thị trường thế giới càng trở nên khó khăn hơn Do vậy, phải tìm
ra được các phương thức đầu tư thương mại và phương thức hơp tác có lợi nhất với các nước trên thế giới để tiếp thu công nghệ tiên tiến, lợi dụng sự tín nhiệm của thị trường đối với sản phẩm của họ, rồi từng bước tích lũy vốn, kinh nghiệm tiếp cận thị trường, phương thức quản lý hiện đại; thiết lập quan hệ với các đối tác; thông thường cần có thời gian hàng chục năm với một chương trình và kế hoạch phù hợp thì mới có thể nâng cao và phát triển quan hệ trên mọi lĩnh vực
và vươn ra thị trường khu vực và quốc tế với tư cách là một đối tác có đủ năng lực cạnh tranh và giữ chân ở lại tại thị trường của một nước nào đó Chính phủ các nước đã đưa ra nhiều giải pháp để thu hút đầu tư nước ngoài như chính sách tài trợ cho nhu cầu theo hướng khuyến khích đầu tư làm tăng việc sử dụng nguyên liệu trong nước, du nhập kỹ thuật mới, đưa ra chính sách ưu đãi đối với các nhà đầu tư như được tự do chuyển vốn…
Hiện nay, sự phát triển của xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phân công lao động quốc tế và tự do hoá thương mại và đầu tư quốc tế trên thế giới Bằng chứng là, hiện nay phần lớn các nước đều gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO): ví dụ, nước Mông Cổ là thành viên chính thức từ năm 1997, còn nước Việt Nam đã bắt đàu quá trình đàm phán với các nước đối tác liên quan để phấn đấu vào năm 2006 trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới WTO Theo thống kê, trong những năm thập kỷ 90 hơn 95% chiến lược đầu tư của các nước đều được điều chỉnh với mục đích để hưởng tự do thương mại và đầu tư quốc tế
1.3.2 Tình hình dòng vốn đầu tư trực tiếp FDI lưu chuyển toàn thế giới
trong những năm gần đây
Trang 26Trong những năm gần đây, dòng vốn FDI lưu chuyển của toàn thế giới đã
có xu hướng giảm đi Năm 2000 tổng dòng vốn FDI các nước toàn thế giới giảm bằng 1/5, đạt 651 tỷ USD so với năm trước, là chỉ số thấp nhất sau năm 1998 (nửa phần sự giảm sút của dòng vốn FDI là do giảm sút dòng vốn FDI đa số của hai nước Mỹ và Anh) Năm 2002, dòng vốn FDI lưu chuyển ra các nước phát triển như Áo, Phần Lan, Hy Lap, Na Uy, Thụy Điển, Mỹ đã tăng lên, trong khi dòng vốn FDI lưu chuyển ra giảm bớt đến 600 tỷ USD đa số do sự giảm sút dòng vốn FDI của các nước phát triển như Pháp, Hà Lan, Anh Dòng vốn FDI lưu chuyển của các nước đang phát triển tại khu vực Trung và Nam Âu tăng lên
29 tỷ USD Trong các nước đang phát triển dòng vốn FDI lưu chuyển của các nước tại khu vực Mỹ La tin và biển Ca ri bê 3 năm liên tục giảm, đạt 33% vào năm 2002 Tại châu Phi dòng vốn FDI lưu chuyển giảm bằng 41%, nhưng hiện nay chỉ số này đang phục hồi, đa số dòng vốn FDI lưu chuyển vẫn dành cho lĩnh vực khai thác dàu khí, ngoài ra các nhà đầu tư nước Nam Phí đầu tư nhiều ra nước ngoài [30.Tr.51]
Năm 2002, tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương dòng vốn FDI lưu chuyển giảm sút từ 107 tỷ USD xuống còn 95 tỷ USD Trung Quốc thu hút được vốn nước ngoài nhiều nhất đạt 53 tỷ USD, dòng vốn FDI lưu chuyển mạnh vào các nước trong khu vực đặc biệt khu vực Đông Nam Á và Đông Bắc Á Trong
đó những năm gần đây dòng vốn FDI lưu chuyển vào Mông Cổ tăng mạnh Dòng vốn FDI lưu chuyển vào các nước và khu vực trên thế giới giảm đi tương đối khác nhau Ví dụ, lưu chuyển vốn FDI vào các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ
đã giảm sút, nhưng tăng vào lĩnh vực thăm dò khai thác dòng vốn FDI lưu chuyển tăng lên [34.Tr.52]
1.3.3 Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài tại Mông Cổ từ năm 1990 đến nay
Trong bối cảnh sự cạnh tranh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trên thế giới ngày càng gay gắt, và khi môi trường đầu tư của Mông Cổ còn nhiều hạn chế, việc tạo lập và cải tạo môi trường đầu tư được cởi mở và thông thoáng hơn; nâng cao trách nhiệm thực thị pháp luật các cáp, các ngành; tháo gỡ các ách tắc đang cản trở từ thủ tục, đất đai, các chi phí… và có chính sách thuế
uư đãi, khuyến khích hơn nữa thì mới có thể duy trì và đẩy mạnh nhịp độ tăng thu hút nguồn vốn từ nước ngoài vào nước Mông Cổ Sau khi đất nước chuyển sang kinh tế thị trường, Chính phủ nước Mông Cổ đã bắt đầu và đang tiếp tục tiến hành những chiến lược thu hút nguồn vốn nước ngoài vào các ngành đòi hỏi vốn lớn, kỹ thuật cao, quản lý phức tạp và sản phẩm dành cho xuất khẩu
Trang 27Đến nay, vốn đầu tư nước ngoài được hoan nghênh và khuyến khích Trong 15 năm kinh nghiệm cải cách cơ cấu và mở cửa vừa qua, Mông Cổ đã ban hành hàng loạt các đạo luật và quy định nhằm quản lý nguồn vốn nước ngoài.
Cho tới nay, Chính phủ Mông Cổ đã thực hành nhiều biện pháp để tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài Chính phủ Mông Cổ đã ký kết “Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư” với 37 nước và vùng lãnh thổ; “Hiệp định tránh đánh thuế hai lần” với 31 các nước và vùng lãnh thổ; là thành viên chính thức từ năm 1996 Công ước Oa sinh tơn năm 1965 và
ký “Hiệp định giải quyết vấn đề tranh chấp về đầu tư “, từ năm 1999 Công ước Xơ-un năm 1985 và ký “Hiệp định thành lập Phòng bảo hiểm đầu tư đa phương
“ [36.Tr.18] Mông Cổ là thành viên chính thức Phòng bảo hiểm đầu tư đa phương (MIGA) của Ngân hàng thế giới (WB) Do vậy các nhà đầu tư đầu tư vào Mông Cổ có quyền được bao hiểm rủi ro của MIGA [36.Tr.11]
Thực trạng đầu tư quốc tế FDI trên thị trường Mông Cổ trong thời gian 15 năm đổi mới là như sau:
Kể từ năm 1990, trong vòng chưa đầy hai năm, đất nước Mông Cổ đã làm nên những đổi thay đáng kể trong môi trường cực kỳ khó khăn như cải cách cơ cấu nền kinh tế, cải cách cơ cấu lôi cuốn việc tự do hoá hầu hết giá nội địa; tư nhân hoá xí nghiệp quốc doanh Sự sụp đổ Liên Xô, một trong những nước viện trợ và bạn hàng thương mại chính của Mông Cổ, đã dẫn tới tình trạng viện trợ từ Liên Xô cũ và Đông Âu đều chấm dứt, việc giảm viện trợ hàng hoá của Liên Xô
và Đông Âu đã làm xấu đi tình hình tài chính của các doanh nghiệp, tiếp theo một số xí nghiệp quốc doanh và nhiều công ty tư nhân bị phá sản Không có viện trợ tài chính từ bên ngoài, thì việc ngăn chặn tình trạng thâm hụt tài chính gây ra lạm phát Tỷ lệ lạm phát tiếp tục gia tăng đến giữa năm 90, tốc độ tăng trưởng nền kinh tế thấp Do những nguyên nhân trên này, mặc dù Luật Đầu tư nước ngoài trực tiếp (1991) tuơng đối thoáng trong thực tế, các nhà đầu tư nước ngoài phải hoạt động trong một môi trường khó khăn Theo số liệu thống kê, nếu năm 1990 ĐTNN đã chiếm 11,8% về GDP, năm 1991 ĐTNN giảm 8,2%, năm
Trang 28mới có vốn ĐTNN), và trong đó vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chỉ chiếm 0,7% của tổng vốn đầu tư trong nước Qua hơn 15 năm thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng phát triển và đã có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước Mông Cổ Luật Đầu tư nước ngoài của Mông Cổ qua một số lần sửa đổi,
bổ sung đang được các nhà đầu tư đánh giá là tương đối hấp dẫn so với các nước trong các nước đang phát triển trong khu vực
Năm 1993 tổng vốn đầu tư chiếm 23,2% GDP, năm 1994 chiếm 19,2%,
1995 là 16,6%, trong đó đầu tư nước ngoài chiếm gần nửa tổng vốn đầu tư, năm
1994 là 9,3% , năm 1995 chiếm 7,8% Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một nhân
tố thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế của Mông Cổ vào năm 1994 đã chiếm 1,4%, năm 1995 tăng lên 3,2% [14.Tr.7] Như vậy, dù tỷ trọng vốn FDI trong tổng vốn đầu tư trong nước tuơng đối ít, nhưng kể từ giai đoạn này nhịp độ tăng trưởng đầu tư trực tiếp nước ngoài trong tổng vốn đầu tư nước ngoài dần dần tăng liên tục Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã trở thành một trong những nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, mở ra nhiều ngành nghề, sản phẩm mới; nâng cao năng lực quản lý và trình độ công nghệ, mở rộng thị trường xuất khẩu; tạo thêm nhiều việc làm mới, góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế thế giới
Năm 1996 tăng 5,7%, năm 1997 giảm 4,0%, năm 1998 tăng 5,0%, năm
1999 đạt 10,0% [14.Tr.7]. Nếu xét nhịp độ tăng trưởng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong tổng vốn đầu tư nước ngoài, thì trong giai đoạn 1993-1998 nhịp độ tăng trưởng này không nhiều, nhưng bắt đầu từ năm 1999 nhịp độ tăng trưởng vốn FDI chiếm 63,3% tổng vốn đầu tư nước ngoài và 36,0% tổng vốn đầu tư trong nước
Theo con số thống kê của Tổng cục thống kê Mông Cổ, tính đến cuối năm
2000, tổng vốn đầu tư FDI đạt tương đương 480,7 triệu USD của các nhà đầu tư nước ngoài hơn 70 nước và khu vực trên thế giới Từ năm 2000, khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài phát triển ổn định hơn, đạt kết quả cao hơn, đặc biệt sau năm 2002, khi Chính phủ đã công bố năm 2002 là “Năm khuyến khích, tăng cường và củng cố việc thu hút FDI”
Trong giai đoạn từ đầu năm 1990 đến đầu năm 2003, trên lãnh thổ nước Mông Cổ đã được lập khoảng 3042 công ty có vốn đầu tư nước ngoài với tổng
số vốn đầu tư gần 1,2 tỷ USD (vốn đăng ký) của 74 nước ngoài. Trong đó, 68%
là những công ty liên doanh, còn lại 32% là các công ty 100% vốn nước ngoài
Tỷ lệ xuất khẩu của các công ty vốn FDI chiếm 70% của tổng xuất khẩu Nếu vào năm 1996 đã có 190 công ty thì vào năm 2003, số đăng ký của các công ty
Trang 29có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 653 đơn vị, với vốn đầu tư đăng ký 203,8 triệu USD, chiếm 18,3% GDP, tăng 10% so với năm 1999 [15.Tr.2].
Hình 1.11: Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký tại Mông Cổ, 1990-2003
483,810.00
32,349.00 965
Nguồn: Tổng Cục Thống kê Mông Cổ
Các dự án FDI góp phần bổ sung quan trọng cho ngân sách của Mông Cổ Các nguồn thu này theo Luật tổng thuế Mông Cổ từ các loại thuế doanh thu, lợi tức, thuế xuất nhập khẩu đã đóng góp 20%/năm tổng thu từ thuế, và tỷ lệ này đang có xu hướng gia tăng
Các dự án FDI góp phần phát triển nguồn nhân lực và tạo thêm nhiều việc làm mới Tính đến đầu năm 2004, lượng lao động làm việc trực tiếp trong các
dự án FDI (khoảng 3042 đơn vị) là hơn 70 nghìn người [34.Tr.55]
Trang 30Hình 1.12: Số lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI, (1992-2004)
Đơn vị: triệu USD
1.9 3.6 17.5
56.3 68.4 56.9
78.7 93
104.4 130.2 182.5 203.8 237
0 50 100
1.3.3.1 Nhà nước Mông Cổ khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư
vào các khu vực nền kinh tế Mông Cổ
Hiện nay, nhà đầu tư nước ngoài đến Mông Cổ quan tâm nhiều đến thuế Chính phủ Mông Cổ đã áp dụng thuế ưu đãi và miễn giảm thuế lợi tức đối với các doanh nghiệp có vốn đâu tư nước ngoài Ví dụ: nhà đầu tư nước ngoài phải nộp khoản thuế như sau: thuế thu nhập doanh nghiệp (15, 40%); thuế (10, 20, 40%); thuế giá trị gia tăng (15%) Mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp tại các nước châu Á tương đương cao (28, 30%) [35.Tr.11-12].
• Nhà máy nhiệt điện, hệ thống truyền nhiệt và điện, đường bộ, đường sắt, đường hàng không, xây dựng, bưu chính, viễn thông
Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực đầu tư trên này được miễn thuế lợi tức trong một thời gian tối đa là 10 năm, kể từ khi bắt đầu kinh doanh có lãi và được giảm 50% thuế lợi tức trong một thời gian tối đa là
5 năm tiếp theo
• Khai thác, chế biến dầu thô, nhiên liệu cứng, công nghiệp chế biến kim loại, hoá chất, chế tạo máy móc, lĩnh vực địên tử
Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực đầu tư trên này được miễn thuế lợi tức trong một thời gian tối đa là 5 năm, kể từ khi bắt đầu kinh doanh có lãi và được giảm 50% thuế lợi tức trong một thời gian tối đa là
5 năm tiếp theo
• Trường hợp doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài xuất khẩu 50% trở lên sản phẩm của mình, sẽ được miễn thuế lợi tức trong một thời gian tối đa là 3 năm, kể từ khi bắt đầu kinh doanh có lãi và được giảm 50% thuế lợi tức trong một thời gian tối đa là 3 năm tiếp theo
Trang 31• Thiết bị, máy móc nằm trong dây chuyền công nghệ nhập khẩu vào Mông Cổ
để tạo tài sản cố định của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thuộc vào lĩnh vực sản xuất ngũ cốc, thâm canh chăn nuôi gia súc, khai thác than, dầu thô, khoáng sản, sản xuất sản phẩm thực phẩm, sản phẩm dệt, lông, chế biến thuộc da, đồ gỗ, công nghiệp kim loại, hoá học, chế biến nguyên liệu thô, một số lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng, du lịch được miễn thuế giá trị gia tăng, thuế hải quan
• Trong trường hợp nhà đầu tư không thay đổi hoạt động kinh doanh và tái đầu
tư vào vốn pháp định của doanh nghiệp được miễn thuế hải quan và thuế giá trị gia tăng
• Băt đầu từ năm 2002, Chính phủ Mông Cổ đã áp dụng mức thuế thu nhập doanh nghiệp 0% (trước là 10%) đối với mặt hàng xuất khẩu vàng, khoản tiền sử dụng nguồn dự trữ vàng đối với mỏ quặng cát là 7,5%, mỏ quặng căn bản 2,5%
• Có quyền thực hiện dự án đầu tư không đăng ký kinh doanh
• Có thể lập cơ quan pháp lý nước ngoài
• Nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào Mông Cổ với số lượng vốn đầu tư 2 triệu USD trở lên được lập “Hiệp định về ổn định hoá” (thời gian 3-
5 năm) với Chính phủ Mông Cổ Hiệp định này tạo môi trường cho nhà đầu
tư nước ngoài là những điều kiện đánh thuế không được thay đổi trong thời gian lâu dài Hiện nay, đã có một số công ty nước ngoài được lập hiệp định này với Chính phủ Mông Cổ như Tsairt Mineral (công ty có vốn đầu tư Trung Quốc, năm 1998 ký hiệp định với Chính phủ Mông Cổ sử dụng quặng
mỏ Tomortein), Boroo Gold (công ty có vốn đầu tư Anh, năm 1998, quặng
mỏ vàng Boroo), Bumbat (công ty có vốn đàu tư Canada, năm 2003, quặng
mỏ vàng Bumbat), Xin Hua Mak (công ty có vốn đầu tư Trung Quốc, năm 2005) Hiện nay công ty có vốn đầu tư Canada “Ivanhoe Mines Mongolia” đang trong quá trình ký “Hiệp định về ổn định hoá” vói Chính phủ Mông Cổ
• Có quyền thực hiện dự án đầu tư không đăng ký kinh doanh
• Có thể lập cơ quan pháp lý nước ngoài
1.3.3.2 Những ưu tiên và trở ngại trong việc thu hút vốn đầu tư vào Mông
Trang 32• Khả năng mở rộng thâm nhập vào hai thị trường láng giềng: LB Nga và Trung Quốc.
• Có một thị trường giàu tiềm năng của khoáng sản, nguyên liệu thô
• Dân số tương đương trẻ, trình độ giáo dục đào tạo cao
• Lãnh thổ rộng dãi
• Chính sách Chính phủ về khuyến khích và bảo hộ đầu tư vào Mông Cổ
• Môi trường pháp lý thuận lợi
• Thành viên của các tổ chức thương mại kinh tế, đầu tư và ngân hàng
• Chính sách tư nhân hoá
B Những trở ngại chính trong việc thu hút vốn đầu tư vào Mông Cổ tập trung vào một số mặt sau:
• Tuy đã đơn giản hoá rất nhiều các thủ tục đầu tư, nhưng đối với việc thủ tục hành chính vẫn còn phức tạp, phiền hà, mất nhiều thời gian; công tác cán bộ còn nhiều bất cập
• Tham nhũng
• Nền kinh tế chưa ổn định
• Dân số ít (gần 2.6 triệu)
• Môi trường thiên nhiên và thời tiết không thuận lợi
• Vốn tích luỹ chưa hoàn chỉnh, hạn chế về nguồn tài chính
• Một số vấn đề về thuế suất và hải quan vẫn chưa được giải quyết, đang trong quá trình hoàn thiện
• Sự phát triển của lĩnh vực hạ tầng cơ sở vật chất vẫn kém yếu
• Mông Cổ là một đất nước không có biển, thuộc vùng lãnh thổ xa biển
• Công nghệ kỹ thuật trong tình trạng kém phát triển
• Thị trường Mông Cổ hạn hẹp
• Lãi suất ngân hàng cao, cơ chế tổ chức ngân hàng còn kém phát triển
• Hệ thống luật pháp, chính sách chưa ổn định, có lĩnh vực không nhất quán, đồng bộ
• Vấn đề liên quan tới cổ phần đất đai
• Chế độ trang trại chưa phát triển
• Sự yếu kém của việc thông tin và quảng cáo
Trang 33• Sự lệ thuộc mạnh từ biến động thị trường thế giới về giá cả các mặt hàng xuất khẩu dựa vào nguyên liệu thô.
• Đầu tư nội địa không hiệu quả
Bảng 1.8: Tổng vốn đầu tư Mông Cổ, theo cơ cấu nguồn vốn và tỷ trọng GDP, (1990-2004)
Tổng vốn đầu
tư
Đầu tư trong nước Đầu
tư nước ngoài
Đầu
tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư nhà nước
Vay ngân hàng
Đầu
tư nhà nước
Vay ngân hàng
11005, 2
22700, 0
11018, 4
22639, 0
29822, 6
57449, 9
240513,
0 27,8 3,8 3,2 13,3
-Nguồn: Tổng Cục thống kê Mông Cổ
1.3.4 Cơ cấu nguồn vốn đầu tư nước ngoài tại Mông Cổ
Trang 341.3.4.1 Khái quát tình hình hoạt động đầu tư nước ngoài theo cơ cấu của
Mông Cổ
Năm 1990, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chỉ tập trung vào những ngành thương mại, dịch vụ (ăn uống công cộng) (89,7%), và văn hoá nghệ thuật, giáo dục, khoa học, báo chí (10,3%); từ năm 1993 vốn đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào trên tất cả các lĩnh vực nền kinh tế Mông Cổ Trong giai đoạn 1990-1993, tổng vốn đầu tư nước ngoài tăng lên 2,1-3,4 triệu USD, xét vốn đầu tư FDI theo
cơ cấu: thương mại dịch vụ (ăn uống công cộng) 5,3-25,3%; công nghiệp nhẹ (18,0-39,7%); công nghiệp chế biến nguyên liệu thô gia súc (0,8-44,7%); nông nghiệp chăn nuôi 2,3-27,9%); đồ gỗ (5,9%) [14.Tr.11]
Trong giai đoạn 1994-1996, đầu tư FDI tăng lên từ 3.4 triệu USD đến 53,6 triệu USD, từ năm 1994 đã có xu hướng chuyển dịch cơ cấu đầu tư và đứng đầu so với những cơ cấu đầu tư khác: công nghiệp khai thác mỏ (chiếm 7,1-21,5% tổng vốn đầu tư); công nghiệp nhẹ (5,1-25,0%), công nghiệp chế biến nguyên liệu thô gia súc (15,5-18,8%)
Trong giai đoạn 1996-2000, có thể nhận xét tổng vốn đầu tư FDI có xu hướng giảm xuống Năm 1996-1998, nhịp độ tăng trưởng vốn đầu tư FDI tại lĩnh vực công nghiệp khai thác mỏ đạt 36,2-42,3%; công trình xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng (9,9-16,1%) tăng lên so với những ngành khác: năm
1999, công nghiệp nhẹ (dệt may) 19,2 triệu USD (xem bảng 1.9), năm 2000 vốn đầu tư tăng 27,1 triệu USD hay là chiếm 22,1% và 29,0% tổng vốn đầu tư; công nghiệp chế biến nguyên liệu thô gia súc năm 1999, 2000 chiếm 9,6%, 12,3% tổng vốn đầu tư Có thể xét, tại Mông Cổ tỷ trọng vốn đầu tư FDI vào khu vực công nghiệp chế biến không đáng kể so với các nước đang phát triển khác
[14.Tr.11]
Sau năm 2001, nhịp độ tăng trưởng vốn đầu tư FDI tại lĩnh vực công nghiệp khai thác mỏ có xu hướng tăng mạnh và đến nay vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất tổng vốn đầu tư FDI Năm 2001-2004 vốn FDI vào lĩnh vực công nghiệp khai thác mỏ tăng lên 56,9-147,6 triệu USD (tăng gấp 2,5 lần), tỷ trọng tổng vốn đầu tư FDI đạt 22,0-76,3% Năm 2002, vốn đầu tư FDI vào lĩnh vực thương mại, dịch vụ (ăn uống công cộng) 89,5 triệu USD, chiếm 51,2% tổng vốn FDI, năm 2004 chiếm 15,8% Vào năm 2001-2003, vốn đầu tư FDI vào ngành công nghiệp nhẹ có xu hướng giảm xuống, nhưng vào năm 2004 đã đầu tư khoảng 21,0 triệu USD, chiếm 8,9% [14.Tr.13]
Như vậy, bắt đầu từ năm 1999, vốn đầu tư có xu hướng tăng (vốn đầu tư chiếm 26,5-29,2% GDP) do ảnh hưởng tốc độ tăng vốn đầu tư nước ngoài, trong
đó vốn đầu tư FDI chiếm 61,2-93,5% tổng vốn nước ngoài (xem bảng 1.9)
Trang 351.3.4.2 Xét theo cơ cấu FDI của nước ngoài vào Mông Cổ từ năm 2000 đến
cuối năm 2004 và tính theo tỷ trọng vốn đầu tư FDI đăng ký tại Mông
Cổ là (xem bảng 1.10):
o Những năm gần đây vốn đầu tư FDI đã có xu hướng đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp, trong đó ngành trồng trọt, thành lập những trang trại chăn
nuôi gia súc, năm 1997 đã đàu tư FDI có đạt 1,3 triệu USD (đã thành lập
1 công ty có vốn đầu tư FDI), năm 1998 đạt 1,4 triệu USD (19 công ty), năm 1999 tăng lên khoảng 3,3 triệu USD (14 công ty), nhưng vào năm
2000 do vốn đầu tu FDI giảm số công ty có vốn FDI cũng giảm theo) Định hướng thu hút ĐTTTNN trong những năm tới của Mông Cổ là khuyến khích mạnh thu hút FDI trong lĩnh vực nông nghiệp, Mông Cổ khuyến khích các dự án môi trường, chế biến các sản phẩm nông - lâm nghiệp gắn liền với việc phát triển các vùng nguyên liệu, đặc biệt chú trọng các dự án ứng dụng công nghệ sinh học sản xuất các loại giống mới
có chất lượng cao Khuyến khích các dự án cơ khí phục vụ nông nghiệp, các dự án dịch vụ nông nghiệp
o công nghiệp khai thác mỏ chiếm 17,8-72,3% Hiện nay, đa số vốn đầu
tư nước ngoài chủ yếu chảy vào ngành khai thác mỏ Năm 2000, vốn đăng
ký đạt khoảng 16,8 triệu USD, tỷ trọng tăng chiếm 6,1% tổng vốn đầu tư FDI; năm 2001 đạt 56,9 triệu USD, chiếm 10.1%; năm 2002 giảm đến 38,5 triệu USD, chiếm -6,9%; năm 2003 tăng mạnh 150,2 triệu USD, chiếm -1,3%; năm 2004 đạt 147,6 triệu USD, chiếm 31,9% tổng số vốn FDI
o công nghiệp nhẹ (đa số là dệt may) chiếm 1,7-29,0% Những năm gần
đây, vốn đầu tư FDI chảy cho ngành này đạt 2,9-27,1 triệu USD của 6-37 công ty được lập bằng vốn đăng ký đầu tư FDI
o chế biến nguyên liệu thô gia súc chiếm 0,2-12,3% Cuối năm 2000, tổng
số gia súc Mông Cổ đạt 30,8 triệu, bao gồm con cừu, dê, bò, ngựa, lạc đà Tổng số lượng có thể cung cấp trung bình trong một tháng là 3,3 nghìn tấn cashmere; 21,7 nghìn tấn len cừu; 4,0 triệu miếng da; 310,6 nghìn tấn thịt Bình quân một năm thành lập 3-23 công ty có vốn đăng ký 0,3-11,6 triệu USD
o ngành xây dựng, sản xuất vật liệu xây dựng 1,2-16,1%;
o thương mại, dịch vụ 4,2-51,2%;
o tài chính – ngân hàng 0,1-16,1%;
o các lĩnh vực khác 30% (trong đó ngành du lịch chiếm 2%)
Trang 36Biểu đồ 1.1: Cơ cấu theo ngành của FDI tính đến cuối năm 2003
C«ng nghiÖp khai th¸c má 38,3
C¸c lÜnh vùc kh¸c 30
X©y dùng, s¶n xuÊt vËt liªu x©y dùng 5,7
C«ng nghiÖp nhÑ 9,5
ChÕ biÕn nguyªn vËt liÖu th« gia sóc 5,7
Xét theo địa bàn, trong giai đoạn 1996-2003 tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thủ đô Ulaanbaator tăng từ 49,9-194,3 triệu USD, chiếm 93,1-98,7% tổng vốn đầu tư trong nước, còn lại đã đăng ký tại các thành phố và tỉnh khác: đa số tại tỉnh Orhon, Đornod, Đarhan-Uul và tỉnh Bayan-Ulgii [14.Tr.14].
1.3.6 Nguồn và nơi đến của vốn FDI ở Mông Cổ
Tính đến năm 2003, một số đối tác theo thứ tự vốn đăng ký (xem bảng 1.11):
1 Trung Quốc hiện đứng vị trí đầu tiên (từ 1996 liên tục), đạt từ 135,3 triệu USD, chiếm 42,7% tổng số vốn đăng ký
0,1-Theo số liệu chính thức của Phòng Đầu tư Nước ngoài, Ngoại thương Mông Cổ, trong giai đoạn 1990-2002, tổng số vốn đầu tư nước ngoài đạt tương đương 660,5 triệu USD của các nhà đầu tư nước ngoài hơn 72 nước và khu vực trên thế giới, trong đó khoản vốn đầu tư 282 trịeu USD, 1/3 tổng số vốn đầu tư nước ngoài là vốn đầu tư các doanh nghiệp Trung Quốc Như vậy, trong giai đọan 1990-2003, Mông Cổ đã cấp giấy phép cho 1059 doanh nghiệp đầu tư nước ngoài Trung Quốc với số vốn đầu tư là 379,01 triệu USD Tỷ trọng đầu tư các nhà đầu tư Trung Quốc tập trung vào những lĩnh vực như: khai thác mỏ; xây dựng, sản xuất vật liệu xây dựng; chế biến nguyên liệu thô nông nghiệp chăn nuôi; thương mại, dịch vụ (ăn uống công cộng) [14.Tr.14].
2 Canada, đạt 0,01-120,1 triệu USD, 15,1% (đa số đầu tư vào ngành khai
thác mỏ); 17-125 công ty
Trong những năm gần đây, những doanh nghiệp nước Canada như
“Cameco”, “Ivanhoe Mines Mongolia” đang hoạt động tích cực trên lĩnh vực công tác tìm kiếm thăm dò một số mỏ quặng khoáng sản như vàng, đồng
Trang 37“Cameco” doanh nghiệp đã đầu tư vào mỏ quặng vàng Boroo Gold với khoản vốn đầu tư 50 triệu USD (năm 2004 công ty này đã được thăm dò khai thác 7,8 tấn vàng) “Ivanhoe Mines Mongolia” doanh nghiệp đã đầu tư nước ngoài trong việc công tác tìm kiếm thăm dò mỏ quặng Oyuu Tolgoi tại tỉnh Omnogobi (vàng
và đồng) Theo các chuyên gia, đây là mỏ quặng vàng và đồng lớn nhất tại Mông Cổ, tại mỏ quặng Oyuu Tolgoi chứa 700 tấn vàng, 14 triệu tấn đồng, về trữ lượng Mông Cổ đứng vị trí thứ 8 trên thế giới
3. Hàn Quốc, đạt 1,3-23,0 triệu USD, 10,8%: Từ năm 1990
đến hiện nay đã có 380 công ty với tổng số vốn đăng ký đầu tư đạt 71,5 triệu USD, trong đó công ty có hình thức 100% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 70%, công ty liên doanh chiếm 30% Theo cơ cấu: khai thác mỏ 16% (12,9 triệu USD); dịch vụ (ăn uống công cộng) 12,7% (10,2 triệu USD); công nghiệp nhẹ 8,3% (6,7 triệu USD), vận tải, giao thông 7,1% (5,7 triệu USD), viễn thông thông tin 6,6% (5,3 triệu USD), công trình xây dựng, sản xuất vật liệu xây dựng 5,3% (4,3 triệu USD) [33.Tr.67];
4. Nhật Bản, đạt 0,07-17,1 triệu USD, 7,3%: Trong giai đoạn
từ 1990 đến cuối năm 2003 đã có 167 công ty có vốn đăng ký đầu tư đạt 60,4 triệu USD, trong đó 58,3% hay là 28,1 triệu USD đầu tư cho lĩnh vực công nghiệp nhẹ (dệt may, chế biến lông); viễn thông thông tin chiếm 48,4% hay là 8,1 triệu USD Năm 2003 tổng vốn đầu tư đạt 6,8 triệu USD, tăng gấp 2,5 lần so với năm trước [35.Tr.19];
5 Mỹ, đạt 0,09-10,3 triệu USD, 5,4% vào khai thác mỏ
(không tính ngành dầu khí); công nghiệp nhẹ; chế biến nguyên liệu thô nông nghiệp chăn nuôi Riêng trong giai đoạn 1990-2000 đã được thu vốn đầu tư 27,335 triệu USD, với tổng số công ty đăng ký 56, trong đó 28 công ty là công
ty có hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài
6 LB Nga, đạt 0,03-6,4 triệu USD, 4,7% đa số đầu tư vào
ngành khai thác mỏ Hiên nay tại Mông Cổ hoạt động các liên hiệp xí nghiệp Mông Cổ – Nga như “Erdenet”, “Mônglrostsvetmet”, “Đường sắt Ulanbator”,
ngoài ra có những cong ty có vốn đầu tư 100% của bên Nga như
“Zarubezhstroi”, “Burvodstroi”, “Zolôtoi Vostoc-Mongolia”, các một số công ty liên doanh Mông Cổ – Nga như “Inkon”, “Erdenet stroi” [29.Tr.15] Trong giai đoạn 1990-2001 vốn đầu tư vào các liên hiệp xí nghiệp cả vào các công ty liên doanh Mông Cổ - LB Nga giảm mạnh, chiếm 10% tổng vốn đầu tư nước ngoài chảy vào nền kinh tế Mông Cổ
7 Các nước Đông Âu 7,7%;Các nước Tây Âu 9,7% và các nước khác chiếm 22,7%.
Trang 38Biểu đồ 1.2: Vốn đầu tư theo nước đầu tư tớnh đến cuối năm 2003
Các nước
Đông Âu
7,7%
Các nước Tây Âu 9,7%
Trung Quốc 42,7%
Các nước khác 22,7%
LB Nga
4,7%
Mỹ 5,4%
Nhật Bản 7,3%
Canađa 15,1%
Hàn Quốc 10,8%
Trang 39Bảng 1.11: Vốn đầu tư theo nước đầu tư tính đến cuối năm 2003
Nguồn: Tổng Cục thống kê Mông Cổ
1.3.7 Các Khu vực tư do Mông Cổ
Trong xu thế toàn cầu hoá, các quốc gia tìm kiếm và sử dụng mọi biện pháp để thu hút ngày càng nhiều và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn từ nước ngoài - một nguồn lực cần thiết để nâng cao năng lực sản xuất trong nước, phát triển nền kinh tế quốc dân Trong tình hình đó, các khu kinh té được sử dụng như công cụ hữu hiệu thu hút đầu tư nước ngoài, đặc biệt đối với các nước đang phát triển Bước vào thời ký đổi mới, Mông Cổ đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế dất nước Thu hút đầu tư nước ngoài được chú ý quan tâm và được coi như một nguồn lực của nền kinh tế
Thành lập và phát triển Khu vực tự do là một phần rất quan trọng trong các chính sách mở cửa của Mông Cổ Với mục tiêu tạo điều kiện hành lang pháp
lý thành lập Khu vực tự do, ngày 28 tháng 6 năm 2002 Quốc hội Mông Cổ đã được ban hành các luật sau: Luật Khu vực tư do Mông Cổ điều chỉnh hoạt động các khu vực tự do, Luật về tình trạng pháp lý KTMTD Altanbulag (biên giới miền Bắc); Luật về tình trạng pháp lý KKTTD Zamiin Uud (biên giới miền Nam) được ban hành Quốc Hội Mông Cổ tháng 6 năm 2003; Luật về tình trạng pháp lý KTMTD Tsagaan Nuur (biên giới miền Đông) đã được ban hành Quốc hội Mông Cổ năm 2004 Ngoài ra, Chính phủ Mông Cổ đã ra Quyết định 54/CP năm 2003 về Định hướng cơ bản thành lập và phát triển Công viên kỹ thuật công nghiệp Cụ thể hơn:
Trang 40Altanbulag là một cửa khẩu thương mại quan trọng trên vùng biên giới
LB Nga Mông Cổ, là cửa ngõ giao thông đường bộ, đường sắt nối liền Mông Cổ với LB Nga và các nước châu Âu [14]
Zamiin Uud là một trong những cửa khẩu quốc tế quan trọng nhất ở biến
giới phía Nam Mông Cổ trong việc giao lưu với Trung Quốc và các nước trong khu vực Đông Bắc Á, Đông Nam Á [15] Cửa khẩu Zamiin Uud có hệ thống đường bộ và đường sắt giao lưu trong nước và quốc tế thuận lợi, là cảng chuyển tải xuất nhập khẩu giữa hai nước Mông Cổ và Trung Quốc qua khu vực này Trong tổng thể quy hoạch phát triển khu vực Zamiin Uud được phân thành 3 khu chức năng: khu công nghiệp, khu thương mại quốc tế, khu du lịch dịch vụ Với những lợi thế của mình, Zamiin Uud là khu vực cửa khẩu giàu tiềm năng Nhằm đưa Zamiin Uud thành địa bàn có sức thu hút các nhà đầu tư, các doanh nghiệp trong và ngoài nước, ngày 20 tháng 6 năm 2003 Quốc hội Mông Cổ đã được ban hành Luật về tình trạng pháp lý KKTTD Zamiin Uud Ngoài quyền được hưởng các ưu đãi theo qui định hiện hành, các nhà đầu tư, doanh nghiệp trong và ngoài nước được hưởng các ưu đãi sau:
∗ Đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, thương mại, trong thời hạn 3 năm
kể từ khi doanh nghiệp bắt đầu được miễn tiền thuê đất và giảm 50% trong 3 năm tiếp theo
∗ Đối với doanh nghiệp xây dựng cơ sở hạ tầng tại khu vực này, trong thời hạn 5 năm kể từ khi doanh nghiệp bắt đầu được miễn tiền thuê đất và giảm 30% trong 3 năm tiếp theo
∗ Đối với trường hợp doanh nghiệp trong và ngoài nước đã đăng ký kinh doanh tại Hội đồng Quản trị khu Zamiin Uud chuyển giao vốn, tài sản cố định của mình cho công dân hoặc cho cơ sở kinh doanh Mông Cổ sẽ được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp
∗ Đối với các doanh nghiệp trực thuộc khu vực tỉnh này và đã đăng ký kinh doanh tại Hội đồng Quản trị khu Zamiin Uud, trong thời hạn 5 năm kể từ khi doanh nghiệp bắt đầu được miễn thuế vốn, tài sản cố định
∗ Đối với doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực ngành nghề ưu tiên theo quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội của khu vực cửa khẩu Zamiin Uud (hệ thống đường bộ, thông tin liên lạc, lưới điện quốc gia, hệ thống cấp nước ) được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định hiện hành
Mặc dù có rất nhiều thuận lợi và khả năng xây dựng thành công các Khu Thương mại tự do, song Mông Cổ sẽ gặp rất nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt là về vốn và kinh nghiệm Để vượt qua những trở ngại này: