1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số đặc điểm phân loại các chi thuộc tông gardenieae họ cà phê (rubiaceae) trong một số hệ sinh thái ở việt nam

80 691 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 2,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN ĐẠI HỌC SƢ PHẠM NGUYỄN VŨ BÃO Nghiên cứu một số đặc điểm phân loại các chi thuộc tông Gardenieae họ Cà phê Rubiaceae trong một số hệ sinh thái ở Việt Nam Chuyên n

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

NGUYỄN VŨ BÃO

Nghiên cứu một số đặc điểm phân loại các chi

thuộc tông Gardenieae họ Cà phê (Rubiaceae)

trong một số hệ sinh thái ở Việt Nam

Chuyên ngành: Sinh thái học

2014

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có hệ thực vật phong phú,

đa dạng và độc đáo Dưới tác động của tự nhiên và của con người làm cho hệ thực vật luôn luôn biến đổi Chính vì vậy, cho đến nay, phân loại học thực vật được coi là một trong những ngành khoa học quan trọng trong sinh học Những kết quả đáng tin cậy của phân loại thực vật đã đóng góp vào sự thành công cho nhiều ngành khoa học khác như sinh thái học, y học, dược học, nông học,… Các kết quả nghiên cứu của phân loại học thực vật còn là cơ sở cho việc đánh giá nguồn tài nguyên thực vật, phục vụ cho công tác quản lí, khai thác và bảo

vệ nguồn tài nguyên sinh vật nói chung và thực vật nói riêng

Họ Cà phê (Rubiaceae) với khoảng 13.000 loài (Goevarts et al 2006), được phân bố trong 620 chi, hơn 40 tông Chúng được tìm thấy ở tất cả các lục

địa, kể cả nam cực, với một vài loài của chi Coprosma, Galium, và Sherardia (Goevarts et all 2006) nhưng phần lớn phân bố ở vùng nhiệt đới và

cận nhiệt đới

Ở Việt Nam, theo các tài liệu đã công bố mới nhất về họ Cà phê (Rubiaceae) cho thấy, họ này có khoảng trên 90 chi và khoảng 430 loài, phân bố rộng khắp cả nước (Nguyễn Tiến Bân, 1997) Tuy nhiên các kết quả này chưa phản ánh hết tính đa dạng, cũng như phân bố của họ này ở Việt Nam, cần có những nghiên cứu cụ thể và chi tiết hơn nữa Để góp phần hiểu biết sâu sắc hơn

về họ này và cung cấp các căn cứ khoa học cho công trình phân loại thực vật và

biên soạn thực vật chí họ Cà phê ở Việt Nam sau này, tôi chọn đề tài: “Nghiên

cứu một số đặc điểm phân loại các chi thuộc tông Gardenieae họ Cà phê (Rubiaceae) trong một số hệ sinh thái ở Việt Nam”

2 Mục tiêu nghiên cứu

1 Tập hợp các tư liệu khoa học làm cơ sở cho việc nghiên cứu phân loại

họ Cà phê ở Việt Nam

Trang 3

2 Khóa định các chi thuộc tông Gardenieae họ Cà phê trong một số hệ

sinh thái ở Việt Nam

3 Tìm hiểu đặc điểm dạng sống, hình thái và phân loại của các chi thuộc

tông Gardenieae họ Cà phê trong một số hệ sinh thái ở Việt Nam

4 Mô tả sơ bộ về sinh học, sinh thái, phân bố và giá trị sử dụng của các

chi thuộc tông Gardenieae họ Cà phê trong một số hệ sinh thái ở

Việt Nam

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

* Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu này sẽ góp phần bổ sung và

hoàn chỉnh vốn tài liệu về phân loại họ Cà phê (Rubiaceae) nói chung và tông

Dành dành (Gardenieae) nói riêng, phục vụ cho các nghiên cứu sâu hơn trên các

mặt khác nhau của họ này

* Ý nghĩa thực tiến: Kết quả nghiên cứu này sẽ là cơ sở khoa học phục

vụ thiết thực cho các ngành như Y – Dược, Tài nguyên thực vật, Sinh thái và

đa dạng sinh học, Sản xuất lâm nghiệp, Bảo vệ môi trường và Phòng tránh thiên tai,…

Trang 4

CHƯƠNG 1:

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu và hệ thống phân loại họ Cà phê (Rubiaceae) nói chung và tông Dành dành (Gardenieae) nói riêng ở các nước trên thế giới

Theo T Chen et al (2011) [23], trên thế giới họ Cà phê (Rubiaceae) là một trong những họ lớn nhất với khoảng 660 chi và số loài trên dưới 11.150 loài, phân bố rộng khắp trên thế giới, nhưng chủ yếu phân bố ở vùng nhiệt đới của hai bán cầu Ở Việt Nam, theo Nguyễn Tiến Bân (1997) [2] họ Cà phê có khoảng hơn 90 chi với khoảng 430 loài

Trước khi họ Cà phê được hình thành thì từ giữa thế kỉ XVIII đã có các nhà thực vật học đặt tên và mô tả các chi và các loài sau này được xếp và họ Cà phê C Linnaeus (1753) [30] có thể coi là người đầu tiên sử dụng tên kép để đặt

tên cho loài thực vật Trong tác phẩm nổi tiếng “Species Plantarum” (1753), tác

giả đã đặt tên và mô tả 28 chi với nhiều loài mới sau này được xếp vào họ Cà phê Những năm sau (1759, 1762, 1767) tác giả tiếp tục đặt tên và mô tả một số

chi và loài như Psychotria (1759), Nauclea (1762), Paederia (1767),… Các chi

và các loài này được xếp cùng với rất nhiều chi và loài thuộc các họ thực vật khác trong hai nhóm:

- Nhóm 4 nhị với nhụy đơn (Tetrandria monogynia)

- Nhóm 5 nhị với nhụy đơn (Pentrandria monogynia)

Sau Linnaeus có một số tác giả như J B Aublet (1775), J Loureiro (1790) [32] cũng đã đặt tên và mô tả một số chi và sắp xếp theo kiểu của Linnaeus

A Jussieur (1979) [29] đã đặt tên cho họ Cà phê là Rubiaceae được lấy từ

tên chi Rubia L và từ đó các chi thuộc họ Cà phê được sắp xếp vào đúng vị trí

của nó Sau khi họ Cà phê được thiết lập, có rất nhiều công trình nghiên cứu về

họ này Nhiều chi và loài mới được các tác giả công bố như: Schreber (1789)

[39] đặt tên và mô tả chi Ourouparia; Loureiro (1790) đặt tên và mô tả chi

Trang 5

Aidia, Oxyceros; R A Salisbarg (1807) đặt tên và mô tả chi Adina; W Roxburgh (1824) [37] mô tả chi Mycetia Sau này, nhiều loài thuộc chi Nauclea trở thành tên gốc (Basynonym) hay tên đồng nghĩa (Synonym) của các chi Uncaria, Mitragyna, Neonauclea,… Đồng thời với các chi và loài mới được

công bố, có rất nhiều hệ thống phân loại họ Cà phê nói chung và tông Dành dành ra đời Ta có thể xem xét một vài hệ thống phân loại chính có đề cập tới tông Dành dành thuộc họ Cà phê

G Bentham & J D Hooker (1876) [22] có thể coi là người đầu tiên đưa

ra một hệ thống phân loại cho họ Cà phê trong đó có tông Dành dành Theo tác

giả, họ Cà phê có khoảng 25 tông (tribus), 337 chi (genus) với khoảng 4.100 loài (species) Tác giả đã căn cứ vào số lượng noãn trong các ô của bầu nhụy đã

chia họ Cà phê thành 3 nhóm :

 Nhóm A (series A): noãn trong mỗi ô nhiều

 Nhóm B (series B): noãn trong mỗi ô là noãn đôi

 Nhóm C (series C): noãn trong mỗi ô là noãn đơn

Nhóm A có 10 tông, tông Gardenieae là tông thứ 10 của họ này Ở đây tác giả đã nhầm lẫn về mặt danh pháp giữa tông và phân tông Tác giả chia tông

Dành dành thành 2 phân tông (subtribus):

 Phân tông 1 – Sarcocephaleae: Có 5 chi

 Phân tông 2 - Eugardenieae: Có 30 chi

K Schumann (1891) [38] đưa ra một hệ thống phân loại họ Cà phê gần giống với hệ thống của G Bentham & J D Hooker (1876) Hệ thống này được

tác giả phân chia thành 2 phân họ (subfamily) là Cinchonoideae và Rubioideae Phân họ Cinchonoideae gồm 7 tông, phân họ Rubioideae gồm 11 tông Theo tác giả, tông Gardenieae được tác giả xếp vào phân họ Cinchonoideae gồm 15 chi Phân họ Cinchonoideae bao gồm 2 tông với 8 phân tông, trong đó phân họ Coffeoideae bao gồm 2 tông với 13 phân tông Như vậy, theo K Schumann thì

họ Cà phê có 2 phân họ, 4 tông, 21 phân tông với khoảng 346 chi, trong đó tông

Dành dành (Gardenieae) gồm 13 chi

Trang 6

A Engler (1903) [24] đã đề xuất một hệ thống phân loại thực vật, trong

đó họ Cà phê được tác giả chia thành hai phân họ Cinchonoideae gồm 8 tông và Coffeoideae gồm 11 tông Tông Dành dành (Gardineae) được tác giả xếp vào phân họ Cinchonoideae gồm 2 chi là Randia và Gardenia

A Takhtajan (2009) [40] đưa ra một hệ thống phân loại thực vật hạt kín

Trong đó họ Cà phê được tác giả chia làm 3 phân họ Rubioideae, Ixoroideae Cinchonoideae, 41 tông và khoảng trên dưới 600 chi Theo tác giả, tông Dành

dành được xếp vào phân họ Ixoroideae bao gồm 70 chi

Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu một số hệ thống phân loại của tông Dành dành thuộc họ Cà phê, chúng tôi cho rằng hệ thống của K Schumann (1891) là một hệ thống khá hoàn chỉnh để nghiên cứu, sắp xếp các vị trí của các chi thuộc tông Dành dành Chúng tôi lựa chọn hệ thống của K Schumann (1891) để nghiên cứu, sắp xếp các chi trong tông Dành dành ở Việt Nam, bởi những lí do sau:

- Tác giả đã kế thừa chọn lọc các kết quả nghiên cứu tông Dành dành của các tác giả trước đó

- Tác giả đã nghiên cứu tất cả các đại diện của tông Dành dành trên toàn thế giới

- Tác giả đã sử dụng phương pháp so sánh hình thái (phương pháp chủ yếu trong phân loại thực vật) để sắp xếp các taxon trong tông Dành

dành (Gardenieae)

1.2 Một số công trình nghiên cứu họ Cà phê (Rubiaceae) nói chung và tông Dành dành (Gardenieae) nói riêng ở các nước lân cận Việt Nam

Ở Đông Nam Á và một số nước lân cận Việt Nam, cũng đã có một

số công trình nghiên cứu về tông Dành dành (Gardenieae) – họ Cà phê

(Rubiaceae) F C How (1956) [27] khi nghiên cứu hệ thực vật Quảng Châu (Trung Quốc), ông đã mô tả 16 chi với 35 loài trong họ Cà phê,

trong đó ông đã mô tả đặc điểm của 2 loài thuộc chi Randia và 1 loài thuộc chi Gardenia

Trang 7

C A Backer & R C Bakhuizen (1965) [21] nghiên cứu hệ thực vật Java

(Inđônêxia) “Flora of Java”, trong đó ông đã mô tả dưới dạng khóa phân loại

cho 75 chi của họ Cà phê Tác giả đã xây dựng khóa định loại của các loài trong mỗi chi trong đó có 5 chi thuộc tông Dành dành Về mặt hệ thống học, tác giả theo quan điểm của H Melchior (1964)

J D Hooker (1880) [26] nghiên cứu họ Cà phê ở Ấn Độ đã mô tả 91 chi

và xếp chúng vào 16 tông Về mặt hệ thống học, tác giả theo hệ thống của G Benthm & J D Hooker (1876) với 3 nhóm chính, sau đó lại phân chia thành các tông và các chi

K M Wong (1989) [42] trong “Tree Flora of Malaya” đã mô tả 5 chi cho

gỗ thuộc tông Dành dành trong họ Cà phê là: Brachytome, Diplospora, Fagerlindia, Gardenia, Hypobathrum và Tarenna

H S Lo & al (1999) [31] trong “Flora of Reipublicae Popularis Sinicae”

khi nghiên cứu họ Cà phê ở Trung Quốc, ông đã mô tả 98 chi với 676 loài được

xếp trong hai phân họ Cinchonoideae và Rubioideae với 18 tông Tông Dành dành (Gardenieae) gồm 16 chi với 50 loài Về mặt hệ thống phân loại, tác giả

theo quan niệm của K Schumann (1891) để phân chia và sắp xếp các taxon họ

Cà phê ở Trung Quốc

Puff, C et al (2005) [33] nghiên cứu họ Cà phê ở Thái Lan, đã mô tả đặc điểm của 108 chi Trong đó các tác giả phân ra 2 nhóm: nhóm cây gỗ và cây thân cỏ (nhóm cây trồng) Trong đó tác giả có đề cập đến 10 chi thuộc tông

Dành dành bao gồm: Aidia, Brachytome, Dioecrescis, Diplospora, Fagerlindia, Gardenia, Hypobathrum, Kailarsenia, Oxyceros và Tarenna

Xubing-Qiang, Xianian-he (2009) [34] trong “Flora of Hong Kong” đã

mô tả đặc điểm của 35 chi và xây dựng khóa định loại các loài trong mỗi chi trong họ Cà phê Trong đó các tác giả đã mô tả đặc điểm và xây dựng khóa định loại các loài của 6 chi thuộc tông Dành dành trong họ Cà phê

T Chen & al (2011) [23] trong “Flora of China” (Bản tiếng Anh) đã mô

tả 97 chi với 701 loài có ở Trung Quốc Khóa định loại các chi được tác giả sắp

Trang 8

xếp theo hệ thống, phần mô tả các chi và loài được sắp xếp theo vần A, B, C,… trong đó có 16 thuộc tông Dành dành giống như xuất bản của H S Lo & al (1999) (Bản tiếng Trung Quốc)

1.3 Một số công trình nghiên cứu họ Cà phề (Rubiaceae) nói chung và tông Dành dành (Gardenieae) nói riêng ở Việt Nam

J Loureiro (1790) [32], có thể coi là người đầu tiên nghiên cứu hệ thực

vật ở Việt Nam Trong tác phẩm “Flora Cochinchinensis”, tác giả đã mô tả 20

chi với 38 loài sau này được xếp vào họ Cà phê (có hai chi mới cho khoa học đó

là Aidia và Oxyceros) Giống như C Linnaeus các chi và loài được tác giả xếp trong hai nhóm: nhóm 4 nhị với nhụy đơn (Tetrandra monogynia) gồm các chi như chi Cephalanthus, Hedyotis,… và nhóm 5 nhị với nhụy đơn (Pentandria monogynia) gồm các chi như Aidia, Morinda, Cofea,… Hầu hết các loài do J

Lourerio mô tả có nhiều sai sót, nhất là về danh pháp, đã được E D Merrill (1935) chỉnh sửa

Đáng chú ý là công trình nghiên cứu họ Cà phê ở Đông Dương của F

Gagnepain [25] trong “Flora générale de L’ Indochine”, tác giả đã mô tả 76 chi

với 446 loài của Đông Dương (bao gồm cả một phần của Thái Lan) trong họ Cà

phê Theo tác giả, tông Dành dành gồm 11 chi: Tarenna, Randia, Gardenia, Brachytome, Morindopsis, Hyptianthera, Hypobathrum, Xantonnea, Xantonneopsis, Diplospora và Alleizettella Về hệ thống phân loại của họ này,

tác giả theo hệ thống của G Bentham & J D Hooker (1876) Công trình này đã được nghiên cứu và xây dựng cách đây gần 1 thế kỉ nên còn có nhiều sai sót nhất là về phần danh pháp và còn bỏ sót nhiều chi và loài Song cho đến nay khi chưa có được bộ thực vật chí hoàn chỉnh cho họ Cà phê ở Việt Nam thì công trình này vẫn là một tài liệu phân loại rất quan trọng ở nước ta cho những ai quan tâm nghiên cứu về họ Cà phê ở Việt Nam

Trong nửa sau của thế kỉ XX, có một số công trình nghiên cứu về họ Cà phê nói chung và các chi thuộc tông Dành dành nói riêng ở nước ta Đáng chú ý

là các công trình của Phạm Hoàng Hộ Khi nghiên cứu hệ thực vật miền Nam

Trang 9

(1972) [12], tác giả đã mô tả ngắn gọn với những hình vẽ đơn giản của 53 chi với 189 loài thuộc họ Cà phê ở miền Nam Trong đó, tác giả đã xây dựng khóa định loại cho 11 chi thuộc tông Dành dành và mô tả sơ lược một số đặc điểm của 64 loài thuộc tông Dành dành

Phạm Hoàng Hộ (1993) [13] trong “Cây cỏ Việt Nam” tác giả đã mô tả 83

chi với 436 loài thuộc họ Cà phê ở Việt Nam Theo tài liệu này, tông Dành dành

gồm 16 chi: Aidia, Alleizetta, Brachytome, Dioecrescis, Diplospora, Fagerlindia, Gardenia, Hypobathrum, Hyptianthera, Kailarsenia, Morindopsis, Oxyceros, Randia, Tarenna, Xantonnea, Xantonneopsis với 67 loài Cũng giống như cuốn “Cây cỏ miền Nam Việt Nam”, cuốn “Cây cỏ Việt Nam” tác giả mới

chỉ xây dựng khóa định loại cho các chi mà không có khóa định loại cho các loài, bên cạnh đó mô tả còn ngắn, hình vẽ còn đơn giản và còn nhiều thiếu sót về mặt danh pháp So với tài liệu công bố năm 1970, tông Dành dành có thêm 5 chi

mới: Aidia, Dioecrescis, Fagerlindia, Kailarsenia, Oxyceros Tài liệu “Cây cỏ Việt Nam” là một tài liệu quý, ít nhiều giúp chúng ta nhận biết được các loài từ

hình vẽ và mô tả

Nguyễn Tiến Bân (1997) [2] đã mô tả đặc điểm chính của họ Cà phê và nêu danh sách 94 chi thuộc họ Cà phê trong đó có 16 chi thuộc tông Dành dành Điểm nổi bật của công trình là khóa định các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam được trình bày dưới dạng “khóa bảng mở”, thuận lợi cho việc tra cứu và nhận biết các họ thực vật có hoa nói chung và họ Cà phê ở Việt Nam nói riêng

Năm 2000 [14], Phạm Hoàng Hộ đã tái bản lại cuốn “Cây cỏ Việt Nam”

trong đó họ Cà phê về cơ bản vẫn giống công trình đã công bố năm 1993, gồm

16 chi nhưng có thêm 3 loài mới Tuy đây chưa phải là công trình thực vật chí thực thụ nhưng là tài liệu quan trọng và rất có giá trị trong việc tra cứu và xác định các loài có ở Việt Nam

Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (2005) [4], đã mô tả đặc điểm phân bố, dạng sống, sinh thái và công dụng 91 loài thuộc 16 chi trong tông Dành dành thuộc họ

Cà phê ở nước ta

Trang 10

Ngoài các công trình mang tính chất phân loại như đã trình bày ở trên, còn có một số ít công trình khác ở nước ta đề cập đến giá trị sử dụng của một số loài trong họ Cà phê như:

Vũ Văn Dũng (Editor) et al (1996) [11] trong “Vietnam Forest Trees”

mô tả 8 chi với 10 loài cây cho gỗ trong họ Cà phê

Đỗ Tất Lợi (1995) [16] trong “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” đã

mô tả 25 loài thuộc 14 chi thuộc họ Cà phê được sử dụng làm thuốc Trong đó

có 3 loài thuộc 2 chi trong tông Dành dành là Gardenia florida (dành dành) thuộc chi Gardenia, Randia dumetorum Benth (găng tu hú) và Randia rubra (găng) thuộc chi Randia

Đặc biệt cuốn sách “Từ điển cây thuốc Việt Nam” của Võ Văn Chi (1997)

[7, 8, 9] đã mô tả 102 loài thuộc họ Cà phê được sử dụng làm thuốc như chi

Fagerlindia với 3 loài: F canthioidea, F fasciculata, F sinensis; chi Gardenia

có 6 loài: G augusta, G lucida, G sootepensis,… chi Randia có 11 loài được sử

dụng làm thuốc

Các công trình nói trên góp phần cung cấp những dẫn liệu khoa học quan trọng về giá trị sử dụng của một số loài trong các chi thuộc tông Dành dành trong họ Cà phê ở Việt Nam

1.4 Nghiên cứu về thành phần loài

1.4.1 Những nghiên cứu về thành phần loài trên thế giới

Những nghiên cứu về thành phần loài là một trong những nội dung được tiến hành từ lâu trên thế giới Ở Liên Xô (cũ) có nhiều công trình nghiên cứu của Vưsotxki (1915), Alokhin (1904), Craxit (1927), Sennhicốp (1933), Creepva (1978) Nói chung theo các tác giả thì mỗi vùng sinh thái sẽ hình thành thảm thực vật đặc trưng, sự khác biệt của thảm này so với thảm khác biểu thị bởi thành phần loài, thành phần dạng sống, cấu trúc và động thái của nó Vì vậy, việc nghiên cứu thành phần loài, thành phần dạng sống là chỉ tiêu quan trọng trong phân loại loại hình thảm thực vật

Trang 11

Ramakrishman (1981 - 1992), nghiên cứu thảm thực vật sau nương rẫy ở vùng Tây bắc Ấn Độ đã khẳng định: chỉ số đa dạng loài rất thấp, chỉ số loài

ưu thế đạt cao nhất ở pha đầu của quá trình diễn thế và giảm dần theo thời gian bỏ hoá

Long Chun và cộng sự (1993), nghiên cứu về đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tại Xishuang Bana tỉnh Vân Nam Trung Quốc đã nhận xét: khi nương rẫy bỏ hoá được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài; bỏ hoá 19 năm thì có

60 họ, 134 chi và 167 loài

Từ những dẫn liệu trên ta thấy những nghiên cứu về thành phần loài của các tác giả trên thế giới đều tập trung nghiên cứu và đánh giá thành phần loài ở một vùng và khu vực cụ thể, phản ánh hệ thực vật đặc trung trong mối tương quan với điều kiện địa hình và khí hậu Tuy vậy, số lượng các công trình nghiên cứu còn chưa nhiều, cần có những nghiên cứu cụ thể hơn rộng rãi hơn nhằm mục đích có thể đánh giá chính xác thành phần loài thực vật đặc trưng của một khu vực hoặc một quốc gia

1.4.2 Những nghiên cứu về thành phần loài ở Việt Nam

Ở Việt Nam, Phan Kế Lộc (1970), đã xác định hệ t

thức đánh giá tổ thành loài rừng nhiệt đới

Thái Văn Trừng (1970), thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1850 chi, 289 họ [46]

Phan Kế Lộc (1998) điều tra phát hiện 20 loài cây có tannin thuộc họ Trinh

nữ (Mimosaceae) và giới thiệu 4 loài khác mọc ở Việt Nam có tannin

Hoàng Chung (1980), khi nghiên cứu đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam đã công bố thành phần loài thu được gồm 233 loài thuộc 54 họ và 44 bộ Trong công trình tổng kết các kết quả nghiên cứu đồng cỏ miền bắc Việt Nam, Dương Hữu Thời (1981) đã công bố thành phần loài thuộc 5 vùng miền bắc Việt Nam gồm 213 loài

Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1993), trong “Cây cỏ Việt Nam” đã thống kê số loài hiện có của hệ thực vật là 10.500 loài

Trang 12

Lê Mộng Chân (1994), điều tra tổ thành vùng núi cao Vườn quốc gia Ba Vì

đã phát hiện được 483 loài thuộc 323 chi, 136 họ thực vật bậc cao có mạch trong

đó gặp 7 loài được mô tả lần đầu tiên

Đỗ Tất Lợi (1995), khi nghiên cứu các loài cây thuốc đã công bố 798 loài thuộc 164 họ có ở hầu hết các tỉnh nước ta

Lê Ngọc Công, Hoàng Chung (1995), nghiên cứu thành phần loài, dạng sống của sa van bụi vùng đồi trung du Bắc Thái (cũ) đã phát hiện được 123 loài thuộc 47 họ khác nhau

Nguyễn Thế Hưng, Hoàng Chung (1995), khi nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái, sinh vật học của sa van Quảng Ninh và các mô hình sử dụng đã phát hiện được 60 họ thực vật khác nhau với 131 loài

Nguyễn Nghĩa Thìn (1997), đã thống kê thành phần loài của Vườn quốc giaTam Đảo có khoảng 2.000 loài thực vật, trong đó có 904 cây có ích thuộc

478 chi, 213 họ thuộc 3 ngành: Dương xỉ, Hạt trần và Hạt kín Các loài này được xếp thành 8 nhóm có giá trị khác nhau Năm 1998, khi nghiên cứu về họ Thầu Dầu (Euphorbiaceae) ở Việt Nam, ông thu được 156 loài trong tổng số 425 loài của họ Thầu dầu ở Việt Nam chia làm 7 nhóm theo cách sử dụng

Lê Ngọc Công (1998), khi nghiên cứu tác dụng cải tạo môi trường của một

số mô hình rừng trồng ở một số tỉnh miền núi phía Bắc đã công bố thành phần loài gồm 211 loài thuộc 64 họ

Nguyễn Thế Hưng (2003), đã thống kê trong các trạng thái thảm thực vật nghiên cứu ở huyện Hoành Bồ, Thị xã cẩm Phả (Quảng Ninh) có 324 loài thuộc

251 chi và 93 họ của 3 ngành thực vật bậc cao có mạch

Lê Ngọc Công (2004), nghiên cứu hệ thực vật tỉnh Thái Nguyên đã thống

kê các loài thực vật bậc cao có mạch của tỉnh Thái Nguyên là 160 họ, 468 chi,

654 loài chủ yếu là cây lá rộng thường xanh, trong đó có nhiều cây gỗ quý như: Lim, Dẻ, Trai, Nghiến

Trang 13

CHƯƠNG 2:

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Các chi thuộc tông Dành dành (Gardenieae) trong họ Cà phê (Rubiaceae)

trong một số hệ sinh thái ở Việt Nam bao gồm các tiêu bản khô được lưu giữ tại các phòng tiêu bản trong nước, các loài sống trong một số hệ sinh thái tự nhiên được thu thập qua các cuộc điều tra thực địa

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa

Trong quá trình nghiên cứu để thu thập số liệu chúng tôi sử dụng phương pháp điều tra theo tuyến và ô tiêu chuẩn của Nguyễn Nghĩa Thìn (2004) và Hoàng Chung (2008)

2.2.1.1 Điều tra theo tuyến

Độ rộng quan sát và ghi chép của tuyến là 4m, cắt ngang qua các điểm nghiên cứu Cự ly giữa 2 tuyến từ 50 - l00m tuỳ theo địa hình cho phép Chúng tôi tiến hành thu thập mẫu (mẫu thực vật, m

thành phần loài, dạng sống

2.2.1.2 Điều tra nghiên cứu theo ô tiêu chuẩn

Trong các quần xã nghiên cứu chúng tôi lập các ô tiêu chuẩn (OTC), diện

chúng tôi tiến hành lập các ô dạng bản (ODB) với kích thước 4m2

(2mx 2m) được bổ trí ở các góc OTC, trên đường chéo OTC, tồng diện tích ODB phải đạt

ít nhất bằng 1/3 diện tích OTC

Trong mỗi ô tiêu chuẩn và ô dạng bản chúng tôi xác định tên loài, kiểu dạng sống và tiến hành thu mẫu vật nếu chưa xác định được tên loài Trong ô tiêu chuẩn tiến hành đo chiều cao của các loài cây gỗ Những cây có chiều cao

Trang 14

dưới 4m được đo bằng thước sào, có chia vạch đến cm Những cây cao từ 4m trở lên đo bằng thước Blumeleiiss, đo theo nguyên tắc lượng giác

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu phân loại các chi thuộc tông Dành dành - (Gardenieae) – họ Cà phê (Rubiaceae)

Phương pháp dùng để nghiên cứu phân loại các chi thuộc tông Dành dành họ Cà phê (Rubiaceae) ở Việt Nam là phương pháp hình thái so sánh Đây là phương pháp truyền thống và phổ biến nhất trong nghiên cứu phân loại thực vật từ trước đến nay Phương pháp này tuy đơn giản so với nhiều phương pháp khác, nhưng thích hợp với điều kiện nước ta, lại dễ dàng trong nghiên cứu do trang thiết bị không phức tạp, dễ sử dụng và về mặt khoa học vẫn cho các kết quả đáng tin cậy Phương pháp này dựa vào đặc điểm hình thái của cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản để nghiên cứu, trong đó chủ yếu dựa vào cơ quan sinh sản, do ít biến đổi và ít phụ thuộc và điều kiện môi trường bên ngoài

Để làm tốt phương pháp hình thái so sánh, cần phải tiến hành đồng thời cả hai công tác: ngoại nghiệp và nội nghiệp

Công tác ngoại nghiệp: Được thực hiện trong các chuyến đi thực địa nhằm thu thập mẫu vật, chụp ảnh, quan sát và ghi chép các đặc điểm của mẫu

mà ở trạng thái khô không quan sát được Quan sát về phân bố, môi trường sống

và các đặc điểm khác Đồng thời sơ bộ phân tích vì mẫu ở trạng thái tươi dễ quan sát và định loại

Công tác nội nghiệp: Việc nghiên cứu các mẫu vật khô được tiến hành tại các phòng thí nghiệm Tại đây, các mẫu tiêu bản được mô tả, vẽ hình, chụp ảnh

Sử dụng các phương tiện để nghiên cứu như: kính lúp, kính hiển vi kết nối máy tính,… để phân tích các bộ phận chi tiết của lá, hoa, quả, hạt,… Dựa vào các mô

tả gốc, các tài liệu chuyên khảo, các bộ thực vật chí (đặc biệt của Việt Nam và các nước lân cận) để tiến hành phân tích, so sánh và định loại

Tóm lại, việc nghiên cứu các chi thuộc tông Dành dành họ Cà phê (Rubiaceae) được tiến hành theo các bước sau:

Trang 15

- Tập hợp, phân tích các tư liệu trong và ngoài nước (đặc biệt là các tài liệu chuyên khảo) về họ Cà phê Lựa chọn các hệ thống thích hợp cho việc nghiên cứu các chi thuộc tông Dành dành trong một số hệ sinh thái ở Việt Nam

- Nghiên cứu và phân tích các mẫu vật của các chi thuộc tông Dành dành

do các nhà thực vật trong và ngoài nước thu thập hiện đang lưu giữ tại các phòng tiêu bản: Phòng tiêu bản Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (HN); Phòng tiêu bản trường Đại học Khoa học Tự nhiên-Đại học Quốc gia Hà Nội (HNU); Phòng tiêu bản Viện Dược liệu (HNPM); Phòng tiêu bản trường Đại học Dược Hà Nội (HNIP); Phòng tiêu bản bảo tàng tài nguyên rừng Việt Nam-Viện điều tra quy hoạch rừng (VFM); Phòng bảo tàng Viện Sinh học nhiệt đới T.p Hồ Chí Minh (VNM) Tham khảo các mẫu chuẩn qua mạng Internet được lưu giữ tại các phòng tiêu bản trên thế giới

- Tham gia các chuyến đi thực địa ở một số Vườn Quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên, khi di tích lịch sử, khu du lịch sinh thái,… nhằm thu thập mẫu vật

và nghiên cứu các loài sống trong tự nhiên

- Mô tả đặc điểm hình thái của các chi thuộc tông Dành dành trong một

số hệ sinh thái ở Việt Nam

- Thống kê vắn tắt những loài có giá trị sử dụng trong các chi thuộc tông Dành dành ở nước ta

- Mô tả một số đặc điểm phân loại, phân bố, sinh học và sinh thái của các chi thuộc tông Dành dành trong một số hệ sinh thái ở Vệt Nam

- Tổng hợp kết quả nghiên cứu và hoàn chỉnh các nội dung của luận văn

Trang 16

CHƯƠNG 3:

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Lựa chọn hệ thống thích hợp cho phân loại tông Dành dành (Gardenieae) – họ Cà phê (Rubiaceae) ở Việt Nam

Trên cơ sở phân tích các hệ thống phân loại tông Dành dành (Gardenieae)

– họ Cà phê (Rubiaceae) ở Chương I, chúng tôi chọn hệ thống của K Schumann (1891) cho việc sắp xếp và nghiên cứu phân loại tông Dành dành ở Việt Nam, vì đây là hệ thống theo quan điểm phát sinh chủng loại, sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như hình thái so sánh, cổ thực vật, phấn hoa học nên phản ánh mối quan hệ gần gũi và tiến hóa của các taxon tương đối hợp lí Hệ thống của T Chen và cộng sự (2011) áp dụng trong thực vật chí Trung Quốc đã dựa trên nền tảng và phát huy những điểm mạnh của hệ thống K Schmann, vì vậy hệ thống của K Schumann vẫn được áp dụng cho tới ngày nay Chính vì vậy, chúng tôi

đã lựa chọn hệ thống của K Schmann (1891) và bổ sung của Chen & cộng sự (2011) để áp dụng nghiên cứu phân loại tông Dành dành ở Việt Nam Như vậy,

theo hệ thống của tông Dành dành (Gardenieae) thuộc phân họ Cinchonoideae

– họ Cà phê (Rubiaceae) ở Việt Nam gồm 19 chi

Bảng 3.1 Hệ thống tông Dành dành (Gardenieae) ở Việt Nam theo K

Schumann (1891) và bổ sung của Chen & cộng sự (2011)

Trang 17

Dạng sống của các chi thuộc tông Dành dành ở Việt Nam thường gặp là

dạng cây thân gỗ (Aidia, Diplospora, ), ở một số chi có một số loài dạng sống

là cây thân bụi (các chi Fagerlindia, Gardenia, Brachytome, Morindopsis, Tarenna,…), đa số là thân gỗ đứng (Diplospora, Tarenna, Aidia, ), ít khi là thân bò hoặc trườn (Oxyceros)

Cành non có nhiều thiết diện khác nhau, thường không mang lông hoặc có

thể mang lông mịn gặp ở một số loài thuộc chi Gardenia và Tarenna, có đôi khi cành non mang lông màu nâu như loài D fasciculata có màu xám D esculenta (thuộc chi Diplospora)

Một số loài thuộc các chi như Diplospora, Oxyceros, Randia… cành

mang gai Các gai có nhiều hình dạng và kích thước khác nhau, dạng thẳng dài

0,6-2cm (chi Fagerlindia), dài 1,5-2cm (loài O Pitardi thuộc chi Oxyceros), gai

cong (O Horridus thuộc chi Oxyceros), đôi khi các gai có thể chẻ đôi (R Uliginosa thuộc chi Randia)

3.2.2 Lá

Các chi trong tông Dành dành thường có lá đơn, mọc đối, có cuống

(Aidia, Alleizetta, Fagerlindia, Diplospora, Tarenna,…) với chiều dài khác

nhau, có một số trường hợp lá mọc chéo hình chữ thập (Hyptianthera)

Trang 18

Phiến lá có nhiều hình dạng khác nhau, bề mặt của phiến lá đa số nhẵn

không mang lông (trừ loài loài T chevalieri thuộc chi Tarenna có lông ở mặt

trên của phiến lá)

không rụng

3.2.4 Cụm hoa

Hoa của các chi thuộc tông Dành dành thường mọc thành cụm với nhiều

dạng khác nhau hoặc mọc đơn độc (Fagerlindia, Gardenia,…) Các hoa thường mọc ở đỉnh cành (Alleizetta, Gardenia, Diplospora, ) hoặc mọc ở nách các lá (Aidia, Randia,…), một số mọc đối diện nách lá (Brachytome)

3.2.5 Hoa

Hoa của các chi trong tông Dành dành thuộc họ Cà phê thường là hoa

mẫu 5 (Aidia, Brachytome, Fagerlindia, Tarenna, ), đôi khi mẫu 4 Đa số là hoa lưỡng tính (Fagerlindia, Gardenia, Hyptianthera, Diplospora, Tarenna), một số

trường hợp là hoa đơn tính

Số lượng lá đài thường là 4-5, phần dưới của các lá đài thường dính với

nhau tạo nên nhiều hình dạng khác nhau: hình nón ngược (Gardenia), hình

chuông hay hình phễu, phần trên tự do và chia thành các thùy Đa số đài thường

không mang lông, một số trường hợp như T bonii, T chevalieri (thuộc chi Tarenna) hay R.dasycapa, R.spinosa (thuộc chi Randia) mang lông dày, đôi

Trang 19

khi mang các lông mịn (loài A pycnantha thuộc chi Aidia) Đài thường tồn tại

ở trên quả và lâu rụng như ở đài trong các hoa thuộc một số chi Alleizetta, Brachytome, Diplospora, Gardenia, Tarenna,… hoặc có thể rụng sớm

Tràng hoa có số lượng 4-5, các lá tràng thường đính với nhau ở phần gốc tạo thành các ống tràng khác nhau về màu sắc, kích thước và hình dạng (hình

ống hay hình phễu Aidia, Alleizetta, Brachytome, Gardenia, Tarenna,… ngắn như chi Hyptianthera hoặc dài hơn thùy tràng Oxyceros), phần trên tự do Một

số loài như A pycnantha (thuộc chi Aidia), T bonii và T chevalieri (chi Tarenna) mang lông ở phía trong và trên ống tràng Tràng thường xếp xoắn ở

trong nụ

Số lượng nhị đa số là 5 (Aidia, Alleizetta, Fagerlindia, ) hoặc nhiều (Gardenia); chỉ nhị thường ngắn hoặc rất ngắn; bao phấn đính lưng và thò một

phần hay toàn bộ ra phía ngoài ống tràng Đầu nhụy thường chia làm hai thùy

(Aidia, Alleizetta, Fagerlindia,…) thò ra ngoài ống tràng; vòi nhụy mảnh và ngắn; bầu nhụy một ô (Aidia, Gardenia,…) hoặc bầu hai ô (Brachytome, Diplospora, Alleizetta, Hyptianthera,…); số lượng noãn 2-10 (Diplospora, Alleizetta, Hyptianthera,…) hoặc nhiều (Brachytome, Aidia, Oxyceros, ), đính

noãn thường theo dạng đính noãn trụ giữa hoặc đính noãn bên

3.2.6 Quả

Đa số quả thường là quả đơn, mọng, có nhiều hình dạng khác nhau như hình tròn, hình cầu đến hình elip Đài thường không rụng và tồn tại lâu trên quả hoặc có thể sớm rụng

3.2.7 Hạt

Số lượng hạt khác nhau giữa các chi thay đổi từ một hạt đến nhiều hạt, có dạng hình trái xoan, lồi, dẹt, có góc cạnh, nhẵn, giàu nội nhũ Kích thước hạt thay đổi, dạng hạt nhỏ có kích thước 0,1–1,9mm, các hạt có kích thước trung bình 2–5mm đến hạt lớn có kích thước 5,1–20mm

Trang 20

3.3 Khóa định loại các chi thuộc tông Dành dành (Gardenieae)

1A Bầu nhụy một ô

2A Đính noãn trụ giữa 1 Ceriscoides

1B Bầu nhụy hai ô

5A Noãn nhiều

6A Bao phấn đính gốc

7A Đài không mang lông 5 Aidia 7B Đài mang lông mịn 6 Oxyceros

6B Bao phấn đính lƣng

8A Cành mang gai

9A Hoa mọc đơn độc 7 Fagerlindia

9B Hoa mọc thành cụm

10A Cụm hoa ở nách lá 8 Randia 10B Cụm hoa ở đỉnh cành 9 Catunaregam

8B Cành không mang gai

11A Cụm hoa ở đỉnh cành 10 Tarenna

11B Cụm hoa ở nách lá

12A Noãn ba hàng 11 Brachytome 12B.Noãn hai hàng 12 Morindopsis

5B Noãn 2-10

13A Đính phôi giữa vách

14A Hoa mọc ở đỉnh cành 13 Alleizetta

14B Hoa mọc ở nách lá

15A Lá đơn mọc đối 14 Diplospora

Trang 21

15B Lá đơn mọc chéo hình chữ thập 15 Scyphiphora

13B Đính phôi ở nóc vách

16A Bao phấn có lông, noãn 6-10 16 Hyptianthera

16B Bao phấn không lông, noãn 2-6

17A Hoa mẫu 4, noãn 6 17 Hypobathrum

Gen 1 CERISCOIDES (Benth & Hook f.) Tirveng

Tirveng 1978 Bull Mus Natl Hist Nat., Sér 3, Bot 35: 16; Tirveng

1983 Nordic J Bot 3(4): 456; K M Wong, 1984 Malayan Nat J 38: 27; H

S Lo, 1998 Bull Bot Res., Harbin18(3): 281; Azmi, 2003 Harvard Pap Bot 7: 449-456

- Gardenia sect Ceriscoides Benth & Hook f 1873 Gen Pl 2: 90

Cây bụi hoặc cây gỗ nhỏ, phân tính, thường có cành ngắn, mang gai Lá mọc đối nhưng thường tụ hợp lại trên ngọn cành; lá kèm thường rụng sớm, rời

và có hình tam giác

Cụm hoa mọc ở đỉnh các cành bên hoặc trên các cành ngắn, không có cuống đến có cuống ngắn, có lá bắc Các hoa không có cuống hoặc cuống hoa ngắn, đơn tính (đôi khi lưỡng tính) Đài có dạng hình trứng đến hình ellip trong hoa cái, hẹp ở trong hoa đực; gồm 5 (-7) thùy đài Tràng hoa có màu trắng đến màu xanh nhạt, hình ống, hình chuông hoặc hình phễu, mặt ngoài nhẵn; gồm 5 (-7) thùy, xếp xoắn trong nụ Nhị 5 (-7), đính trên họng tràng, không thò ra ngoài ống tràng; chỉ nhị ngắn; bao phấn đính lưng Bầu 1 ô, số lượng noãn trong mỗi ô 2-4[-6], đính noãn trụ giữa; đầu nhụy chia thành 2[-6] thùy, không thò ra ngoài ống tràng

Trang 22

Hình 3.1: Ceriscoides howii Lo

1-2 Cành mang hoa; 3 Lá; 4 Hoa; 5 Tràng bổ dọc; 6 Bầu nhụy cắt ngang;

7 Quả (hình theo Chen, 2009)

4

5

6

7

Trang 23

Quả có màu nâu, quả mọng, có hình cầu đến hình elip, nhẵn, đài thường tồn tại trên quả; hạt có số lượng nhiều, kích thước lớn, hình elip (hình 3.1)

Typus: Không thấy

Phân bố: Có khoảng 11 loài phân bố ở một số nước như Trung Quốc,

Ấn Độ, Inđônêxia, Lào, Malayxia, Myanma, Philippin, Sri Lanka, Thái Lan và

Việt Nam

Gen 2 GARDENIA J Ellis – DÀNH DÀNH, NAM HƯƠNG

Jacq 1786 Collectanea App.37: t.4.f.3; Buch.-Ham 1809 Embassy Ava

ed 2, 3: 307; Stokes, 1812 Bot Mat Med 1: 494; Lodd 1821 Bot Cab 6: t 512; G Don, 1824 Edinburgh Philos J 11: 343; Jack ex Roxb 1824 Fl Ind.,

ed 1820 2: 461; Wall 1824 Fl Ind., ed 1820 2: 560; Rchb 1828 Iconogr Bot Exot 2: 2; Afzel 1829 Stirp Guinea Med Sp Nov 13, no 5; Cham 1834 Linnaea 9: 247; G Don, 1834 Gen Hist 3: 497; D Dietr 1839 Syn Pl 1: 797; Hook 1857 Bot Mag 83: 4987; F Muell 1860 Pl Fitzalan 12; E Wright,

1871 Trans Roy Irish Acad 24: 575; Benth & Hook f 1873 Gen Pl 2: 90; Afzel ex Hiern, 1877 Fl Trop Afr 3: 102; Kurz, 1877 Forest Fl Burma 2: 41; Ridl 1893 Trans Linn Soc London, ser 3, 310; Elmer, 1906 Leafl Philipp Bot 1: 6; Stapf & Hutch 1909 J Linn Soc., Bot 38: 423; Valeton, 1912 Bot Jahrb Syst 48: 115; Craib, 1914 Bull Misc Inform Kew 1914: 127; Sasaki, 1928 List Pl Formosa 380; Sasaki, 1928 Trans Nat Hist Soc Taiwan 18: 217; Guillaumin, 1930 Arch Bot Mém 3(5): 5; Masam 1933 J Soc Trop Agric Taihoku Univ 20: 195; Ridl 1934 J Bot 72: 274; Masam 1936 Fl Taiwan 202; A.C Sm 1953 J Arnold Arbor 34(2): 98–99; Guillaumin, 1957 Mém Mus Natl Hist Nat., B, Bot 8: 93; A.C Sm 1974 Amer J Bot 61: 125; Tirveng 1983 Nordic J Bot 3(4): 458–460, f 2; Puttock,1988 Austrobaileya 2: 435; Phamh 2000 Illustr Fl Vietn 3: 154-166

Trang 24

Hình 3.2: Gardenia jasminoides Ellis

1 Cành mang hoa; 2 Cấu tạo hoa bổ dọc; 3 Bầu nhụy cắt ngang;

4 Cành mang quả (hình theo Chao, 1978, Pl 991)

Trang 25

- Bertuchia Dennst 1836 Allg Med.-Pharm Fl 5: 2002

- Caquepiria J.F Gmel 1791 Syst Nat 2: 647, 651

- Decameria Welw 1859 Ann Cons Ultramar Parte Na~o Off 1: 579

- Piringa Juss 1820 Mem Mus Hist Nat 6: 399

- Pleimeris Raf 1838 Sylva Tellur 21

- Sulipa Blanco 1837 Fl Filip 497

- Thunbergia Montin 1773 Kongl Vetensk Acad Handl 1773: 288

- Varneria L 1759 Amoen Acad 4: 136

- Yangapa Raf 1838 Sylva Tellur 20

Cây bụi, đôi khi là cây gỗ nhỏ, thường không có lông (trừ Gardenia sootepensis có lông ở cành non) Lá mọc đối, hiếm khi chụm 3, có cuống lá

ngắn Lá kèm rụng sớm hoặc bền, rời, dính xung quanh cuống

Hoa thường khá lớn, cuống ngắn, màu trắng, vàng hoặc màu cam, rất thơm, lưỡng tính, mọc đơn độc ở đỉnh cành hoặc nách lá, hiếm khi mọc thành cụm hoặc dạng xim Ống đài có hình nón ngược, có gờ theo chiều dọc, do 5-8 lá đài hợp thành, thùy đài rất lớn, thường không rụng Tràng có dạng hình ống và dài, đôi khi có dạng hình phễu ống do 5-12 lá tràng hợp thành, tiền khai hoa vặn Nhị nhiều, có số lượng bằng tràng hoa, đính phía dưới họng tràng; chỉ nhị ngắn bao phấn gần như không thò ra ngoài hoặc thò ra bên ngoài ống tràng một phần Vòi nhụy có dạng hình chùy hoặc hình thoi; bầu một ô, số lượng noãn 2-6, đính noãn bên; đầu nhụy hình chùy hoặc chia làm hai thùy, không thò ra ngoài hoặc thò một phần ra ngoài ống tràng

Quả dai hoặc mọng nước, không nứt, thường có màu vàng đến vàng cam hoặc nâu, có dạng hình tròn đến hình elip hoặc dạng trứng ngược, nhẵn, đôi khi có gờ và thường mang lá đài Hạt có số lượng nhiều, vỏ dày, kích thước trung bình, hình elip; nội nhũ sừng; phôi nhỏ hoặc có kích thước trung bình; lá mầm rộng (hình 3.2; ảnh 3.1)

Typus: G stricta Brongn

Phân bố: Trên thế giới có khoảng 60-200 loài, ở Việt Nam có 13 loài

Phân bố ở Bắc Giang, Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Hà Nội (Ba Vì), Quảng Trị, Thừa

Trang 26

Thiên Huế, Kon Tum (Đác Glây, Ngọc Linh), Gia Lai (Cheo Reo), Lâm Đồng (Đà Lạt, Lang Hanh, Lang Bian, Đơn Dương, Krông Pha), Khánh Hòa (Nha Trang, Hòn Tre), Ninh Thuận (Phan Rang), Bình Thuận (Phan Thiết), Đồng Nai (Biên Hòa, Tri Huyện, Giá Ráy), Bà Rịa – Vũng Tàu (Phước Tuy), An Giang (Châu Đốc), Kiên Giang (Phú Quốc) Ngoài ra còn phân bố ở Trung Quốc, Campuchia, Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia

Mẫu nghiên cứu:

- Gardenia angkorensis Pitard: NINH THUẬN, Ninh Hải, Vĩnh Hải, VK

2817 (HN)

- G annamensis Pitard: PHÚ YÊN, M’ Đrak, Ea M’Doal, VK 3589 (HN)

- G augusta (L.) Merr.: THỪA THIÊN HUẾ, Phong Điền, VK 2468 (HN)

- G chevalieri Pitard: ĐẮK LẮK, Krong Bong, Yang Reh, VK 5490 (HN)

- G obtusifolia Roxb ex Kurz: ĐẮK LẮK, Ea Hleo, VK 5487 (HN)

- G philastrei Pierre ex Pitard: GIA LAI, Chư Sê, La Lê, VK 2670 (HN)

- G sootepensis Hutch.: ĐẮK LẮK, Ea Hleo, Ea Sol, VK 4397 (HN)

Giá trị sử dụng: G augusta dùng làm cảnh hay G lucida dùng trị bệnh

ngoài da và diệt ruồi, sâu bọ Rễ của G augusta và G stenophuylla chữa sốt

lị, có tác dụng lợi tiểu, chữa bệnh ngoài da, đau mắt, đái đường, thấp khớp,

đau đầu Quả G augusta, G stenophuylla màu vàng cam nhuộm thức ăn,

chữa viêm gan, vàng da, viêm kết mạc, loét miệng, đau răng, chảy máu cam,

đái ra máu

Gen 3 KAILARSENIA Tirveng – DÀNH DÀNH

Tirveng 1983 Nordic J Bot 3(4): 464, f 4; Puttock, 1989 Austrobaileya 3: 59; Phamh 2000 Illustr Fl Vietn 3: 166

Đa số là cây bụi, cành non có lông màu vàng hoe (K godefroyana (Kurze) Tirv), cành lưỡng phân, lá đơn mọc chéo hình chữ thập, có cuống Lá kèm hợp

có dạng hình ống dài, có hai thùy phía trên, về sau thường chia theo chều dọc thành nhiều thùy, không rụng

Trang 27

Hình 3.3: Kailarsenia godefroyana (Kuntze) Tirveng

1 Cành mang hoa; 2 Quả (hình theo Phamh 2000) Hoa mọc ở đỉnh cành, bao gồm một vài hoa hoặc mọc đơn độc Hoa thường mẫu 5, lưỡng tính Đài 5, đính nhau phần gốc tạo thành ống đài, phần trên rời Tràng màu trắng (chuyển vàng khi già), có hình chén đến hình phễu, ống tràng thường dài hơn, các tràng xếp xoắn trong nụ Các nhị đính trong phần trên của ống tràng hoặc gần họng tràng; chỉ nhị ngắn; bao phấn không thò ra ngoài hoặc thò một phần ra ngoài ống tràng Vòi nhụy hình chùy; đầu nhụy chia làm hai thùy mảnh; bầu một ô do hai lá noãn hợp thành, trong chứa nhiều noãn; đính noãn bên

Quả mọng với lớp vỏ quả dày, hình cầu đến hình tròn, đài thường tồn tại trên quả Hạt nhiều (hình 3.3)

Typus: K tenteculata (Hook f.) Tirveng

1

2

Trang 28

Phân bố: Có khoảng 10 loài phân bố trong rừng nhiệt đới châu Á Ở nước

ta gặp 1 loài K godefroyana (Kurze) Tirv Tây Ninh, Đồng Nai (Biên Hòa),

TP Hồ Chí Minh (Sài Gòn), An Giang (Châu Đốc) Còn gặp ở Lào, Campuchia, Malaixia

Mẫu nghiên cứu: Kailarsenia godefroyana (Kuntze) Tirveng.: NINH BÌNH,

VQG Cúc Phương, MVX 192, DDS 11791 (Phòng tiêu bản VQG Cúc Phương)

Gen 4 DIOECRESCIS Tirveng - NANH HEO

Triveng 1983 Nordic J Bot 3(4): 458; Phamh 2000 Illustr Fl Vietn 3: 166 Cây gỗ, vỏ các cây gỗ già có màu xám đen, gai tụ họp thành cụm trên những cành chuyên biệt phần gốc của cây Lá mọc đối, thường mọc thành cụm ở đỉnh cành, có cuống dài, phiến lá nhẵn hoặc có lông đặc biệt ở mặt dưới của lá

(Dioecrecis erythroalada (Kurz) Tirv.) Lá kèm rời, hình mũi giáo rộng

Hình 3.4: Dioecrescis erythroclada (Kurz) Tirveng

1 Lá; 2 Hoa (hình theo Phamh 2000)

Cụm hoa mọc ở đỉnh cành, dạng xim, hoa đực có cuống dài, hoa lưỡng tính và hoa cái có cuống ngắn Hoa mẫu 5, lưỡng tính hoặc đơn tính, các lá đài gắn với nhau ở phần gốc tạo thành ống đài, phần trên tự do (rộng và hơi tròn trong hoa đực, hẹp và dài ở trong hoa lưỡng tính và hoa cái) Tràng hoa có màu

1

2

Trang 29

xanh, ống tràng rất ngắn, các thùy tràng xếp xoắn trong nụ và cong xuống khi hoa nở Nhị đính xung quanh họng tràng; chỉ nhị ngắn; bao phấn thò ra ngoài ống tràng (không có trong hoa cái) Vòi nhụy có dạng hình chùy; đầu nhụy thò

ra ngoài (tiêu gảm trong hoa đực), chia thùy trong hoa lưỡng tính và hoa cái Bầu 1 ô do 3 lá noãn hợp thành, với số lượng noãn nhiều, đính noãn bên (tiêu giảm hoặc không có trong hoa đực)

Quả mọng có dạng hình trứng đến hình cầu, vỏ quả ngoài dày, có gờ chạy theo chiều dọc, đài thường tồn tại trên quả, bên trong chứa nhiều hạt Hột dẹp dẹp và có màu đen (hình 3.4)

Typus: D erythroclada (Kurz) Tirveng (Gardenia erythroclada Kurz) Phân bố: Ở Việt Nam có một loài Dioecrescis erythroalada (Kurz) Tirv -

Dành dành lóng đỏ (Nanh heo, Da hưu) Kon Tum, Gia Lai, Đác Lắc (Buôn Đôn), Tây Ninh, Còn có ở Ấn Độ, Mianma, Lào, Campuchia, Thái Lan

Giá trị sử dụng: Gỗ có màu vàng, dùng làm cán nông cụ Mủ cây dùng để

nhuộm đen

Mẫu nghiên cứu: Dioecrescis erythroclada (Kurz) Tirveng.: ĐẮC LẮC,

Buôn Đôn, Krong No, VK 3519 (HN)

Gen 5 AIDIA Lour – TA HAY, GĂNG

Lour 1790 Fl Cochinch 1: 143; K Schum, 1891 in Engl u Prantl, Nat Pflanzenfam IV (4): 75; Masamune, 1938 Trans Nat Hist Soc Formosa 28: 118; T Yamazaki, 1970 J Jap Bot 45: 338, 339; Tirvengadum, 1983 Nordic

J Bot 3: 455; K M Wong, 1984 Nat Journ 38: 9; Phamh 2000 Illustr Fl Vietn 3: 189-190

Hầu hết là cây gỗ nhỏ, không có gai, mọc thẳng đứng, cao từ 4-18m Lá đơn, thon dài có đầu nhọn, mọc đối; cuống lá dài 1-2cm, số lượng gân lá 6-12 cặp Lá kèm ngắn, có hình tam giác, có thể rời hoặc dính xung quanh cuống, thường bền hoặc có thể rụng sớm

Cụm hoa dạng chùm, mọc ở nách lá hay đối diện với lá, hoa có màu trắng hoặc vàng; cuống hoa ngắn dài 0,5-1cm Hoa mẫu 5, lưỡng tính Số lượng lá đài

5, phần cuối đính thành ống đài cao khoảng 5mm, phần trên tự do tạo thành các

Trang 30

Hình 3.5: Aidia canthioides Champ Ex Benth

1 Cành mang lá và cụm hoa; 2 Hoa; 3 Tràng hoa bổ dọc; 4 Bao phấn;

5 Bầu nhụy; 6 Quả (hình theo H S Lo, 1999)

Trang 31

thùy đài dài khoảng 1,2-2mm, đài thường không mang lông (trừ A pycnantha có lông mịn) Tràng hoa thường 5 ít khi nhiều hơn, dính thành ống tràng hình ống hay dạng hình phễu, thường không mang lông (trừ A pycnantha có lông ở phía

trong và trên ống tràng) Nhị 5; chỉ nhị ngắn, đính trên ống tràng; bao phấn đính gốc, thò ra ngoài ống tràng Vòi nhụy có dạng hình chùy; đầu nhụy chia làm hai phần không rõ ràng, thò ra bên ngoài ống tràng; bầu nhụy có hai ô, bên trong chứa nhiều noãn, đính noãn kiểu trụ giữa

Quả dạng quả đơn, thịt, có màu đỏ đến vàng cam, hình cầu và nhẵn với đài thường tồn tại trên quả, kích thước 0,4-1cm, trong chứa nhiều hạt Hạt có số lượng nhiều, kích thước trung bình, màu nâu hoặc đen (hình 3.5; ảnh 3.2)

Typus: A cochinchinensis Lour

Phân bố: Trên thế giới có khoảng 40–50 loài, ở Việt Nam gặp đại diện

của 5 loài, phân bố chủ yếu ở Bắc Kạn (Na Rì), Quảng Ninh (Uông Bí), Vĩnh Phúc (Mê Linh), Hà Nội (Ba Vì, Bất Bạt, Làng Cốc, Thủ Pháp), Hà Nam (Ninh Thái), Ninh Bình (Khương Thượng), Quảng Trị (Mai Lãnh), Thừa-Thiên Huế (Bồ Giang, Hội Mít), Đà Nẵng (Tourane, Hải Vân), Kon Tum (Đác Glây, Đác Choong, Kon Plông, Mang Đen), Gia Lai, Đắc Lắc (Đác Mil, Krông Pắc), Bình Phước (Bù Đốp), Bình Dương (Thủ Dầu Một), Đồng Nai (Biên Hòa, Bảo Chánh, Vĩnh Cửu), Bà Rịa–Vũng Tàu (Côn Đảo, Núi Đinh, Mù Xoài), Kiên Giang (Phú Quốc) Ngoài ra còn gặp đại diện ở một số nước như Campuchia, Thái Lan

Mẫu nghiên cứu:

- A.cochinchinensis (Lour.) Merr.: VĨNH PHÚC, Mê Linh, Ngọc Thanh,

VK 931 (HN); KIÊN GIANG, Phú Quốc, VK 3743 (HN)

- A.henryi (E Pritz.) Yamazaki: GIA LAI, K Bang, Đak Rông, VK 5024 (HN)

- A.microdonta (Pitard) Phamh.: KON TUM, Đak Glei, Muong Hoong,

Trang 32

Giá trị sử dụng: Gỗ màu vàng có thể làm đồ mộc thông thường như (A

cochinchinensis); dẻo dùng làm cán cuốc, cán xẻng, cánh cung, làm trụ mỏ (A oxydonta và A pycnantha) Hoa, lá và vỏ thân dùng uống thay trà, vỏ đắng chữa bệnh sốt rét (A cochinchinensis)

Gen 6 OXYCEROS Lour – GĂNG

Lour 1790 Fl Cochinch 150-151; T Yamaz 1970 J Jap Bot 45(11): 339-340; K.M Wong, 1984 Malayan Nat J 38: 43; H.B Naithani, 1990 Flow

Pl India Nepal & Bhutan 207; W.C Chen, 1999 Fl Reipubl Popularis Sin 71(1): 346–347; Ridsdale, 2008 Reinwardtia 12(4): 296; Tirveng ex Ruhsam,

2008 Bot J Linn Soc 157: 123; Phamh 2000 Illustr Fl Vietn 3: 162

Cây bụi hoặc cây gỗ leo, cành không mang lông nhưng mang các gai mọc

đối Thân có thể mang gai cong (O horridus) hoặc gai thẳng dài 1,5-2cm (O pitardi), hoặc không có gai (O vidalii) Lá đơn, mọc đối, có cuống ngắn 1-

1,5cm, phiến lá hình thon hoặc xoan, có 6-9 cặp gân Lá kèm rộng hình tam giác đến hình trứng và thường sớm rụng

Hoa mọc thành cụm ở đỉnh cành, hoa có màu trắng, có mùi thơm (O hurridus) Hoa mẫu 5, lưỡng tính Số lượng lá đài thường 5, có thể có lông mịn màu tro (O bispinosus), phần dưới dính với nhau tạo thành ống đài cao khoảng

5-6mm mang nhiều hình dạng khác nhau, thùy đài phía trên tự do dài khoảng 0,5mm Tràng có màu trắng, có kích thước lớn đến nhỏ tùy loài; ống tràng có thể ngắn hoặc dài hơn thùy tràng, các cánh hoa xếp vặn trong nụ Nhị đính gần ống tràng; chỉ nhị ngắn; bao phấn đính gốc và thò ra ngoài ống tràng Vòi nhụy có hình chùy, bầu nhụy 2 ô bên trong chứa nhiều noãn

Quả có hình cầu hoặc hình elip, có thể mang đài tồn tại trên quả hoặc không Quả mọng với lớp vỏ quả ngoài dai; trong chứa nhiều hạt (hình 3.6; ảnh 3.3)

Typus: O horridus Lour

Phân bố: Có khoảng 10 loài, ở nước ta gặp đại diện của 4 loài: O

horridus; O bisppinosus; O hoaensis và O vidalii Phân bố ở Lạng Sơn (Thanh

Trang 33

Hình 3.6: Oxyceros sinensis Lour

1 Cành mang hoa; 2 Hoa; 3 Tràng hoa bổ dọc; 4 Bao phấn;

5 Nhụy bổ dọc; 6 Quả 7 Gai

(hình theo Chen, T 2009)

Trang 34

Muội), Quảng Ninh (Quảng Yên), Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Giang (Nhã Nam, Yên Thế), Hà Nội (Bất Bạt), Hải Phòng, Nghệ An, Ninh Bình, Quảng Trị (Làng Khoai), Thừa Thiên Huế, Gia Lai (Kbang), Ninh Thuận (Phan Rang), Bình Thuận, Đồng Nai (Biên Hòa, Tri Huyện, Bảo Chánh), Bà Rịa-Vũng Tàu (Núi Đinh, Bình Châu), TP Hồ Chí Minh (Sài Gòn, Thủ Đức)

Mẫu nghiên cứu:

- Oxyceros bispinosus (Griff.) Tirveng.: BÌNH THUẬN, Tánh Linh, Đức

Thuận, VK 3710 (HN)

- O horridus Lour.: BÀ RỊA-VŨNG TÀU, Bình Châu-Phước Bửu, VK

1834 (HN)

- O vidalii Tirveng.: GIA LAI, KBang, VK 4522 (HN)

Giá trị sử dụng: Lá sấy khô trên than hãm uống giải khát

Gen 7 FAGERLINDIA Tirveng - GĂNG

Tirveng 1983 Nordic J Bot 3(4): 458; K.M Wong, 1984 Malayan Nat

J 38: 31; Ridsdale, 1985 Blumea 31(1): 243; Phamh 2000 Illustr Fl Vietn 3: 160-161

Cây gỗ hoặc cây bụi, có nhiều nhánh, các cành phân nhánh lưỡng phân, hoặc cây gỗ nhỏ cao 1-2m, có gai thẳng dài 0,6-2cm, cành không mang lông Lá đơn, mọc đối, phiến lá xoan thon hoặc bầu dục, số lượng gân phụ 4-7 cặp, cuống

lá ngắn Lá kèm mau rụng, hình tam giác hẹp, đỉnh nhọn

Hoa mọc đơn độc ở nách lá có cuống dài hoặc ngắn tùy loài hoặc mọc thành chùm tụ tán ngắn ở ngọn Hoa mẫu 5, lưỡng tính Đài hoa tạo thành ống dài khoảng 4-5mm, có răng nhọn, dài Tràng hoa 5, hoa có màu trắng, ống tràng

có độ dài khác nhau tùy từng loài, xếp vặn trong nụ, các mảnh tràng cong xuống khi hoa nở Số lượng nhị 5, đính xung quanh họng tràng; chỉ nhị ngắn; bao phấn thò ra ngoài họng tràng một phần hoặc toàn bộ Vòi nhụy hình chùy; đầu nhụy chia làm hai thùy; bầu nhụy 2 ô trong chứa nhiều noãn

Trang 35

Hình 3.7: Fagerlindia scandes (Thumb.) Tirveng

1 Cành mang hoa; 2 Hoa nụ; 3 Hoa; 4 Tràng bổ dọc;

5 Bầu nhụy bổ dọc; 6 Quả (hình theo Chen, T 2009)

Trang 36

Quả mọng, hình cầu, hạt nhiều, có khi đài tồn tại trên quả như một ống

ngắn dài đến 1cm (F sinensis) hoặc rụng sớm (hình 3.7)

Typus: F esculenta (Lour.) Tieveng

Phân bố: Fagerlindia là một chi nhỏ với khoảng 10 loài Ở nước ta gặp

đại diện của 3 loài: F scandens, F sinensis và F depauperata phân bố ở Sơn

La, Lạng Sơn (Mẫu Sơn), Quảng Ninh (Uông Bí), Bắc Ninh, Hà Nội (Thủ Pháp), Ninh Bình (Chợ Ghềnh), Thanh Hóa (Tĩnh Gia, Cửa Bang), Thừa Thiên Huế (Bồ Giang), Kon Tum (Kon Plông), Gia Lai (Mang Yang, Đác Đoa, Kon Hà Nừng), Đắc Lắc (Krông Pắc), Lâm Đồng (Đà Lạt, Lang Bian, Bảo Lộc)

Mẫu nghiên cứu: KON TUM, Kon Plông, N T Nhan 326 (HN) - GIA

LAI, Mang Yang, L K Biên 748 (HN)

Gen 8 RANDIA L – GĂNG GAI

L 1753 Sp Pl 2: 1192; DC 1830 Prodr 4: 387; Wight & Arn 1834 Prodr Fl Ind Orient 399; Benth 1849 Niger Fl 385; Hook f 1880 Fl Brit India 3: 113; Hiern 1877 Fl Trop Afr 3: 96; Boerl 1891, Handl Fl Ned Ind 2(1): 130; K Schum 1891 Nat Pflanzenfam 4 (4): 75; Hiern 1898 Cat Afr

Pl 1: 458; K Schum 1902 Fl Koh Chang 182; K Schum 1903 Bot Jahrb Syst 33: 342; S Moore, 1906 J Linn Soc., Bot 37: 304; Hutch 1908 Bull Misc Inform Kew 1908: 292; Elmer, 1911 Leafl Philipp Bot 3: 1005; Pitard in Lecomte, 1923 Fl Indo-Chine 3: 244; Standl 1926 Contr U.S Natl Herb 20: 201; K Schum ex Hutch & Dalziel, 1931 Fl W Trop Afr 2: 79; Standl

1936 Publ Field Mus Nat Hist., Bot Ser 13(6): 103; Merr & L.M Perry,

1948 J Arnold Arbor 29(2): 165; Steyerm 1971 Bol Soc Venez Ci Nat 29: 22; Steyerm 1972 New York Bot Gard 23: 341; Phamh 2000 Illustr Fl Vietn 3: 157-160

- Basanacantha Hook f 2: 82 1873 (7-9 Apr 1873) (Gen Pl.)

Trang 37

Hình 3.8: Randia cochinchinensis (Lour.) Merr

1 Cành mang hoa; 2 Hoa; 3 Hoa bổ dọc; 4 Bầu nhụy cắt ngang; 5 Quả

(hình theo Chao, 1978)

Trang 38

Cây thân gỗ hoặc thân bụi, thường không mang lông trừ một số loài (R fasciculata (màu nâu), R esculent (màu xám) Cành non không có gai hoặc có gai nhỏ R fasciculata, đôi khi lớn dài 1-5cm R dasycarpa, có khi chẻ đôi R uliginosa Lá mọc đơn, mọc đối, thường hơi tròn ở bên dưới Lá kèm rời,

nguyên và thường tồn tại lâu

Hoa thường mọc ở nách lá, mẫu 5 hoặc 6, lưỡng tính Đài hoa có hình cầu hoặc hình chuông, lá đài xẻ sâu, thùy đài rất ngắn, sớm rụng hoặc tồn tại lâu trên

quả, các lá đài thường không mang lông hoặc có lông dày (R dasycapa; R spinosa; R fasciculata; R esculenta) Ống tràng hình trụ, loe rộng dần ở phần

trên, nhẵn ở mặt trong, xếp xoắn trong nụ Số lượng nhị 5-6, gắn vào cổ tràng hoặc đỉnh của ống tràng; chỉ nhị rất ngắn, nhẵn; bao phấn đính lưng, có gân chạy dọc Bầu nhụy hai ô bên trong chứa nhiều noãn; vòi nhụy hình chỉ, thò ra ngoài ống tràng; đầu nhụy chia làm hai, thường có dạng hình thoi

Quả mọng thịt hoặc dai, hạt nhiều, có góc cạnh (hình 3.8; ảnh 3.5)

Typus: R mitis L (vide Hitchc 1929)

Phân bố: Lào Cai (Sa Pa, Phan Si Pan), Sơn La, Lạng Sơn, Quảng Ninh,

Hà Nội (Ba Vì, Làng Cốc, Mê Linh), Hải Phòng, Hà Nam (Ninh Thái), Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên Huế (Bồ Giang), Đà Nẵng, Kon Tum (Kon Plông, Mang Đen, Đác Glây, Đác Long, Đac Môn), Gia Lai (Mang Yang, Đác Đoa, Krong Pa), Đắk Lắk (Buôn Đôn), Lâm Đồng (Di Linh), Tây Ninh (Cay Cong), Khánh Hòa (Nha Trang), Bình Thuận (Hàm Thuận), Đồng Nai (Biên Hòa, Phước Thành, Nam Cát Tiên, Trang Bom, Xuân Lộc, Trị An, Giá Ray, Vĩnh

Cửu), Bà Rịa – Vũng Tàu (Côn Đảo, Bình Châu), Kiên Giang (Phú Quốc)

Mẫu nghiên cứu:

- Randia dasycarpa (Kurz) Bakh f.: ĐẮK LẮK, Buôn Đôn, Krong Na,

VK 3537 (HN) – BÀ RỊA-VŨNG TÀU, Bình Châu-Phước Bửu, VK

1889 (HN)

- R fasciculata (Roxb.) DC.: ĐỒNG NAI, Vĩnh Cửu, Mã Đà, VK 3818 (HN)

- R spinosa (Thunb.) Poir: HÀ NỘI, Mê Linh, Ngọc Thanh, VK 2942 (HN)

Trang 39

- R turgida (Roxb.) Tirveng.: BÌNH THUẬN, Hàm Thuận, Tân Thuận,

VK 3074 (HN)

- R uliginosa (Retz.) Poir.: GIA LAI, Krong Pa, VK 4416 (HN)

- R wallichii Hook f.: LÂM ĐỒNG, Di Linh, Gia Bắc, VK 3885 (HN)

Giá trị sử dụng: Trồng làm hàng rào phổ biến ở các làng quê

(R.spinosa) Gỗ màu trắng, cứng, dùng làm trục xe bò, làm lược (R dasycaspa) Thân dùng sắc nước cho phụ nữ sau sinh đẻ uống cho mau khỏe người (R esculenta) Rễ dùng trừ phong thấp, vỏ rễ dùng hã để điều kinh (R spinosa) Lá làm thuốc giải nhiệt, thông tiểu, chữa đái vàng, đái dắt (R dasycaspy) Quả có bọt có thể dùng làm dầu gội đầu, giặt quần áo bằng tơ lụa (R dasycaspy) Dùng

để nhuộm vàng, trị kiết lị, giun sán (R spinosa) Đập dập chữa vết thương cho trâu bò (R turgida) Chế thuốc chữa lị và ỉa chảy (R uliginosa)

Gen 9 CATUNAREGAM Wolf GĂNG TRÂU, GĂNG TU HÚ

Tirveng 1979 Taxon 27: 515; Verdc 1981 Kew Bull 36: 505; Sivar

1982 Pl Calicut 131-132; Vollesen, 1982 Nordic J Bot 1(6): 735; Tirveng.1983 Nordic J Bot 3(4): 456; Tirveng 1996 Edinburgh J Bot 53: 95; Bridson, 2003 Fl Zambes 3: 641-645

- Lachnosiphonium Hochst 1842 Flora 25: 236

- Xeromphis Raf 1838 Sylva Tellur 21

Cây bụi hoặc cây gỗ nhỏ, cành non ngắn, thường mang các gai Lá có hình elip, mọc đối hoặc thường mọc thành cụm trên cành ngắn, không cuống đến có cuống ngắn; lá kèm bền hoặc sớm rụng, rời và có hình tam giác

Cụm hoa mọc ở đỉnh cành hoặc đôi khi mọc ở nách lá, không có cuống đến cuống ngắn, có lá bắc hoặc lá bắc bị tiêu giảm Hoa không có cuống đến cuống ngắn, lưỡng tính Đài chia sâu thành 5 thùy, thùy đài có dạng hình thìa đến hình trứng ngược Tràng hoa có màu trắng hoặc màu xanh nhạt, dạng hình chuông, thường phủ lông dày ở bên ngoài và bên trong; có 5 (10) thùy tràng, xếp

Trang 40

Hình 3.9: Catunaregam spinosa (Thunb.) Tirveng

1 Cành mang hoa; 2 Cành mang quả; 3 Tràng hoa;

4 Nhị; 5 Cấu tạo hoa bổ dọc (hình theo H P Yu)

Ngày đăng: 03/02/2015, 22:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Bá (1972), “Hình thái thực vật học”, 2. Nxb. Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thái thực vật học
Tác giả: Nguyễn Bá
Nhà XB: Nxb. Đại học và trung học chuyên nghiệp
Năm: 1972
2. Nguyễn Tiến Bân (1997), “Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam”, Nxb. Nông nghiệp. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp. Hà Nội
Năm: 1997
3. Nguyễn Tiến Bân (chủ biên) (1984), “Danh lục thực vật Tây Nguyên”, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục thực vật Tây Nguyên
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 1984
4. Nguyễn Tiến Bân et al. (2005), “Rubiaceae”. Danh lục các loài thực vật Việt Nam, 3: 82-156, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rubiaceae
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân et al
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2005
5. Đỗ Huy Bích (1995), “Thuốc từ cây cỏ và động vật” t: 72. Nxb. Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc từ cây cỏ và động vật
Tác giả: Đỗ Huy Bích
Nhà XB: Nxb. Khoa học và kỹ thuật
Năm: 1995
6. Đỗ Huy Bích và cộng sự (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, 1: 596-602. Nxb. Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Huy Bích và cộng sự
Nhà XB: Nxb. Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2004
7. Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến (1978), “Phân loại học thực vật–Phần thực vật bậc cao”, 461-464. Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại học thực vật–Phần thực vật bậc cao
Tác giả: Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến
Nhà XB: Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1978
8. Võ Văn Chi (1997), “Từ điển cây thuốc Việt Nam”, 1: 354-355, 510. Nxb. Y học, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển cây thuốc Việt Nam
Tác giả: Võ Văn Chi
Nhà XB: Nxb. Y học
Năm: 1997
9. Võ Văn Chi (1997), “Từ điển cây thuốc Việt Nam”, 2: 1303-1306. Nxb. Y học, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển cây thuốc Việt Nam
Tác giả: Võ Văn Chi
Nhà XB: Nxb. Y học
Năm: 1997
10. Võ Văn Chi (1991), “Cây thuốc An Giang”, t: 182. Ủy ban Khoa học & Kỹ thuật, An Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thuốc An Giang
Tác giả: Võ Văn Chi
Năm: 1991
11. Vũ Văn Dũng (Editor) et al. (1986), “Cây gỗ rừng Việt Nam”. Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây gỗ rừng Việt Nam
Tác giả: Vũ Văn Dũng (Editor) et al
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 1986
12. Phạm Hoàng Hộ (1972), “Cây cỏ miền Nam Việt Nam (An Illustrated Flora of South Vietnam)”, 2: 439-454. Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ miền Nam Việt Nam (An Illustrated Flora of South Vietnam)
Tác giả: Phạm Hoàng Hộ
Năm: 1972
13. Phạm Hoàng Hộ (1993), “Rubiaceae-họ Cà phê”, Cây cỏ Việt Nam, 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rubiaceae-họ Cà phê
Tác giả: Phạm Hoàng Hộ
Năm: 1993
14. Phạm Hoàng Hộ (2000), “Rubiaceae-họ Cà phê”, Cây cỏ Việt Nam, 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rubiaceae-họ Cà phê
Tác giả: Phạm Hoàng Hộ
Năm: 2000
15. Lê Khả Kế et al. (1975), “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam”, 3: 360-382. Nxb. Khoa học & Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam
Tác giả: Lê Khả Kế et al
Nhà XB: Nxb. Khoa học & Kỹ thuật
Năm: 1975
16. Đỗ Tất Lợi (1995), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, 294-196. Nxb. Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam
Tác giả: Đỗ Tất Lợi
Nhà XB: Nxb. Khoa học và kỹ thuật
Năm: 1995
17. Trần Đình Lý et al. (1993), “1900 loài cây có ích ở Việt Nam”. Nxb. Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 1900 loài cây có ích ở Việt Nam
Tác giả: Trần Đình Lý et al
Nhà XB: Nxb. Thế giới
Năm: 1993
18. Trần Đình Lý và cộng sự (2003), “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” (Checklist of Plant Species of Vietnam). Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục các loài thực vật Việt Nam
Tác giả: Trần Đình Lý và cộng sự
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2003
19. Lã Đình Mỡi, Dương Đức Huyến (2000), “Tài nguyên thực vật Đông Nam Á”. Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên thực vật Đông Nam Á
Tác giả: Lã Đình Mỡi, Dương Đức Huyến
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2000
20. Nguyễn Nghĩa Thìn (2007), “Các phương pháp nghiên cứu thực vật”, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.II. Tài liệu nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp nghiên cứu thực vật
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Thìn
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Hệ thống tông Dành dành (Gardenieae) ở Việt Nam theo K. - Nghiên cứu một số đặc điểm phân loại các chi thuộc tông gardenieae họ cà phê (rubiaceae) trong một số hệ sinh thái ở việt nam
Bảng 3.1. Hệ thống tông Dành dành (Gardenieae) ở Việt Nam theo K (Trang 16)
Hình 3.1: Ceriscoides howii Lo. - Nghiên cứu một số đặc điểm phân loại các chi thuộc tông gardenieae họ cà phê (rubiaceae) trong một số hệ sinh thái ở việt nam
Hình 3.1 Ceriscoides howii Lo (Trang 22)
Hình 3.2: Gardenia jasminoides Ellis - Nghiên cứu một số đặc điểm phân loại các chi thuộc tông gardenieae họ cà phê (rubiaceae) trong một số hệ sinh thái ở việt nam
Hình 3.2 Gardenia jasminoides Ellis (Trang 24)
Hình 3.3: Kailarsenia godefroyana (Kuntze) Tirveng. - Nghiên cứu một số đặc điểm phân loại các chi thuộc tông gardenieae họ cà phê (rubiaceae) trong một số hệ sinh thái ở việt nam
Hình 3.3 Kailarsenia godefroyana (Kuntze) Tirveng (Trang 27)
Hình 3.4: Dioecrescis erythroclada (Kurz) Tirveng. - Nghiên cứu một số đặc điểm phân loại các chi thuộc tông gardenieae họ cà phê (rubiaceae) trong một số hệ sinh thái ở việt nam
Hình 3.4 Dioecrescis erythroclada (Kurz) Tirveng (Trang 28)
Hình 3.5: Aidia canthioides Champ. Ex Benth. - Nghiên cứu một số đặc điểm phân loại các chi thuộc tông gardenieae họ cà phê (rubiaceae) trong một số hệ sinh thái ở việt nam
Hình 3.5 Aidia canthioides Champ. Ex Benth (Trang 30)
Hình 3.6: Oxyceros sinensis Lour. - Nghiên cứu một số đặc điểm phân loại các chi thuộc tông gardenieae họ cà phê (rubiaceae) trong một số hệ sinh thái ở việt nam
Hình 3.6 Oxyceros sinensis Lour (Trang 33)
Hình 3.7: Fagerlindia scandes (Thumb.) Tirveng. - Nghiên cứu một số đặc điểm phân loại các chi thuộc tông gardenieae họ cà phê (rubiaceae) trong một số hệ sinh thái ở việt nam
Hình 3.7 Fagerlindia scandes (Thumb.) Tirveng (Trang 35)
Hình 3.8: Randia cochinchinensis (Lour.) Merr. - Nghiên cứu một số đặc điểm phân loại các chi thuộc tông gardenieae họ cà phê (rubiaceae) trong một số hệ sinh thái ở việt nam
Hình 3.8 Randia cochinchinensis (Lour.) Merr (Trang 37)
Hình 3.9: Catunaregam spinosa (Thunb.) Tirveng. - Nghiên cứu một số đặc điểm phân loại các chi thuộc tông gardenieae họ cà phê (rubiaceae) trong một số hệ sinh thái ở việt nam
Hình 3.9 Catunaregam spinosa (Thunb.) Tirveng (Trang 40)
Hình 3.10: Tarenna gracilipes (Hayata) Ohwi - Nghiên cứu một số đặc điểm phân loại các chi thuộc tông gardenieae họ cà phê (rubiaceae) trong một số hệ sinh thái ở việt nam
Hình 3.10 Tarenna gracilipes (Hayata) Ohwi (Trang 43)
Hình 3.11: Brachytome hirtelata Hu var. - Nghiên cứu một số đặc điểm phân loại các chi thuộc tông gardenieae họ cà phê (rubiaceae) trong một số hệ sinh thái ở việt nam
Hình 3.11 Brachytome hirtelata Hu var (Trang 46)
Hình 3.12: Morindopsis capillaris (Kurz) Kurz - Nghiên cứu một số đặc điểm phân loại các chi thuộc tông gardenieae họ cà phê (rubiaceae) trong một số hệ sinh thái ở việt nam
Hình 3.12 Morindopsis capillaris (Kurz) Kurz (Trang 48)
Hình 3.13: Alleizettella leucocarpa (Champ. ex Benth.) Tirveng. - Nghiên cứu một số đặc điểm phân loại các chi thuộc tông gardenieae họ cà phê (rubiaceae) trong một số hệ sinh thái ở việt nam
Hình 3.13 Alleizettella leucocarpa (Champ. ex Benth.) Tirveng (Trang 49)
Hình 3.14: Diplospora dubia (Lindl.) Masam. - Nghiên cứu một số đặc điểm phân loại các chi thuộc tông gardenieae họ cà phê (rubiaceae) trong một số hệ sinh thái ở việt nam
Hình 3.14 Diplospora dubia (Lindl.) Masam (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w