1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“Tại sao chính sách tiền tệ của mỹ không ảnh hưởng đến sản lượng của mỹ mà lại ảnh hưởng đến sản lượng của hồng kông

28 818 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 906,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu như nói rằng chính sách tiền tệ Mỹ được dùng để ổn định sản lượng Mỹ, thì kết quả nghiên cứu của tác giả sẽ cho thấy rằng tiền Mỹ sẽ không tác động nhân quả Granger đến sản lượng Mỹ.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

“Cung tiền có ảnh hưởng đến sản lượng thực?” cũng là vấn đề đã được các nhà kinh tế

học quan tâm Có trường phái đồng ý có và cũng có trường phái không đồng ý về vấn

đề này Thực tế, sau chế độ “bản vị vàng” kết thúc và được thay thế bằng rất nhiều hình thức tỷ giá hoái đoái khác nhau, trong đó có neo tỷ giá cố định, đã có những minh chứng gì cho vấn đề cung tiền có ảnh hưởng đến sản lượng và khi sử dụng chế độ tỷ giá neo cố định, quốc gia lựa chọn liệu có bị ảnh hưởng không?

Nếu neo giá đồng USD vào vàng, Mỹ buộc phải tăng lãi suất khi vàng trở nên khan hiếm, bất chấp tình trạng của nền kinh tế Sự thiếu linh hoạt trong chính sách là nguyên nhân chính gây ra cuộc Đại suy thoái, khi chính phủ các nước buộc phải thắt chặt tiền tệ trong hoàn cảnh nền kinh tế tồi tệ nhất

Không có gì ngạc nhiên khi càng sớm bãi bỏ bản vị vàng, nền kinh tế một quốc gia càng sớm phục hồi Không ai muốn quay trở lại “thời kỳ đen tối” khi bản vị vàng ngăn các ngân hàng trung ương in thêm tiền để kích thích kinh tế Bản vị vàng cũng ngăn chặn thâm hụt ngân sách khi các chính phủ rơi vào giai đoạn cần phải thâm hụt ngân sách

“Cung tiền có ảnh hưởng đến sản lượng thực?” cũng là vấn đề đã được các nhà kinh tế

học quan tâm Có trường phái đồng ý có và cũng có trường phái không đồng ý về vấn

đề này Thực tế, sau khi chế độ “bản vị vàng” kết thúc và được thay thế bằng rất nhiều hình thức tỷ giá hoái đoái khác nhau, trong đó có neo tỷ giá cố định Đã có những minh chứng gì cho vấn đề cung tiền có ảnh hưởng đến sản lượng và khi sử dụng chế độ tỷ giá neo cố định, quốc gia lựa chọn liệu có bị ảnh hưởng không?

Trong khuôn khổ của bài tiểu luận này, chúng tôi sẽ phân tích bài báo “Tại sao chính sách tiền tệ của Mỹ không ảnh hưởng đến sản lượng của Mỹ mà lại ảnh hưởng đến sản lượng của Hồng Kông” của Gabriel Rodrı´guez và Nicholas Rowe (2007) Qua

việc tóm tắt ý tưởng, xem xét mô hình và phân tích kết quả của bài báo này, chúng ta sẽ thấy được một khía cạnh mới của chế độ tỷ giá hối đoái cố định mà tác giả đã kiểm chứng Và từ đó, chúng tôi cũng đưa ra những vấn đề mới về việc các quốc gia từ bỏ chế độ bản vị vàng để có một sự phục hồi nhanh chóng hơn sau khủng hoảng có phải là điều đúng đắn hay không?

Trang 2

MỤC LỤC

TÓM TẮT 4

1 GIỚI THIỆU 5

2 TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 6

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8

3.1 Ý tưởng cho mô hình nghiên cứu 8

3.2 Lý do chọn Hồng Kông làm quốc gia nghiên cứu 9

3.3 Mô tả dữ liệu: 10

3.4 Mô hình nghiên cứu: 11

3.5 Phương pháp nghiên cứu: 11

4 NỘI DUNG VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 12

4.1 Mô tả bước 1 12

4.2 Mô tả bước 2 13

4.3 Mô tả bước 3 17

5 KẾT LUẬN 25

Trang 3

CÁC TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG

CSTT Chính sách tiền tệ

EU Các nước trong khối Châu Âu

Fed Cục dự trữ liên bang Mỹ

HK Nước Hồng Kông

LNH Liên ngân hàng

NHTW Ngân hàng trung ương

TGHĐ Tỷ giá hối đoái

US Nước Mỹ

USD Đô la Mỹ

Trang 4

TÓM TẮT

Các kiểm định tiêu chuẩn về ảnh hưởng của tiền đến sản lượng sẽ vô nghĩa nếu chính sách tiền tệ được sử dụng hoàn toàn để làm giảm biến động trong sản lượng Nếu như nói rằng chính sách tiền tệ Mỹ được dùng để ổn định sản lượng Mỹ, thì kết quả nghiên cứu của tác giả sẽ cho thấy rằng tiền Mỹ sẽ không tác động nhân quả Granger đến sản lượng Mỹ Thật vậy, như Rowe và Yetman đã cho thấy (2002 Xác định các mục tiêu của nhà hoạch định chính sách: một nghiên cứu đối với ngân hàng Canada Tạp chí Kinh tế Canadian 35 (2), 239-256), nếu có độ trễ 6 quý trong ảnh hưởng của tiền đến sản lượng, thì sản lượng US sẽ không thể dự đoán được từ bất kỳ tập hợp thông tin có sẵn đối với độ trễ 6 quý của Fed Tuy nhiên, tác động này đối với các nước khác lại có diễn biến không giống như diễn biến của Mỹ Cụ thể là Hồng Kông, một quốc gia có đồng tiền được cố định theo đồng đô-la Mỹ Như vậy, chính sách tiền tề của Hồng Kông được xem như phụ thuộc vào Mỹ, hay nói cách khác chính sách tiền tệ Hồng Kông sẽ được thiết lập ở Washington D.C Và một điều tất yếu rằng những chính sách được đưa ra tại Mỹ là không hề có chủ ý sẽ tác động đến sản lượng Hồng Kông Tuy nhiên, kiểm định nhân quả bằng thực nghiệm của tiền đô-la Mỹ đối với sản lượng Hồng Kông đã cho thấy bằng chứng về mối quan hệ nhân quả Tác giả sẽ kiểm tra việc này bằng thực nghiệm Và việc phân tích thực nghiệm này của tác giả cũng sẽ cung cấp một

sự đo lường mức độ hi sinh ổn định kinh tế vĩ mô bằng việc áp dụng tỷ giá hối đoái cố

định thay vì bằng chính sách tiền tệ độc lập

Trang 5

1 GIỚI THIỆU

Câu hỏi được đặt ra là: “có hay không tác động của tiền đến sản lượng thực?” Trường

hợp nếu Fed giảm cung tiền 20% một cách đột ngột, bất thường và không cảnh báo thì

sẽ gây ảnh hưởng như thế nào đến nền kinh tế? Đã có hai trường phái kinh tế vĩ mô thể hiện quan điểm với vấn đề này:

- Một là, các nhà kinh tế vĩ mô sau Keynes, họ lập luận rằng cung tiền không ảnh

hưởng đến tổng cầu, và do đó không tác động đến sản lượng

- Hai là, một số nhà kinh tế vĩ mô cổ điển với quan điểm cho rằng cung tiền có thể

tác động đến tổng cầu, nhưng giá và lương hoàn toàn linh hoạt; và kết quả là đường tổng cung dịch chuyển theo chiều dọc, có nghĩa là chỉ mức giá giảm còn sản lượng thực thì không

Ngược lại với quan điểm trên, gần như tất cả các nhà kinh tế vĩ mô đồng ý rằng giảm cung tiền sẽ làm tổng cầu giảm, và tổng cầu giảm sẽ làm sản lượng giảm, ít nhất là trong ngắn hạn Tuy nhiên bằng chứng hỗ trợ cho quan điểm này là yếu và không thuyết phục Nguyên nhân cơ bản là loại thực nghiệm được mô phỏng theo mô hình như vậy rất khó để xảy ra Fed rõ ràng sẽ không sẵn sàng thực hiện loại thực nghiệm đó khi tin rằng việc giảm bất thường 20% cung tiền sẽ dẫn đến một hậu quả nghiêm trọng trong sản lượng thực Fed sẽ không giảm 20% cung tiền một cách bất thường chỉ đơn thuần để quan sát một cuộc suy thoái xảy ra lớn như thế nào Do đó, loại thực nghiệm

mà có thể kiểm định một cách đúng đắn liệu tiền có tác động đến sản lượng thì không bao giờ được thực hiện trong thực tế Khi Fed áp dụng mục tiêu giảm biến động sản lượng quốc gia là mục tiêu quan trọng nhất thì, một kiểm định OLS có thể phát hiện một sự tác động của cung tiền đến sản lượng của US đồng nghĩa với việc đây là một chính sách vô trách nhiệm và US không đạt được mục tiêu nêu trên Để kiểm chứng cho những gì Fed làm là có vô trách nhiệm hay không, tác giả đã tiến hành nghiên cứu Lúc này, tác giả đặt ra hai câu hỏi nghiên cứu:

Câu hỏi 1: Liệu chính sách tiền tệ của US khi phản ứng với các trạng thái của nền kinh

tế thì có tác động nhân quả với sản lượng của US không?

Trang 6

Câu hỏi 2:Khi chính sách tiền tệ của US khi phản ứng với các trạng thái của nền kinh

tế mà không quan tâm đến HK, thì Chính sách tiền tệ của US có ảnh hưởng nhân quả lên sản lượng của HK khi quốc gia này neo tỷ giá cố định theo đồng USD hay không?

2 TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

Về mối quan hệ nhân quả kinh tế của tiền lên sản lượng, đã từng có rất nhiều tác giả thực hiện các đề tài nghiên cứu nhằm đưa ra quan điểm bác bỏ quan hệ này

Buiter (1984) với bài viết “Granger-Tính nhân quả và sự hiệu quả của các chính sách”

đã chứng minh rằng với một chính sách tối ưu hóa sản xuất, sử dụng tiền để tác động đến sản lượng, các dữ liệu đã không cho thấy mối quan hệ nhân quả Granger của tác động từ tiền lên sản lượng

Cover (1988) trong nghiên cứu “Mô hình kinh tế vĩ mô Keynes và tài sản kinh tế cổ điển mới” đã xây dựng mô hình vĩ mô Keynes, cho thấy rằng nếu chính sách tiền tệ được thực hiện một cách tối ưu, thì tiền cũng sẽ không tạo ra sản lượng theo tính nhân quả Granger

Hayo, B., (1999) đã thực hiện một nghiên cứu thực tiễn từ các nước EU và một số nước khác với bài viết “Sự xem xét lại tính nhân quả Granger giữa cung tiền và sản lượng” Kết quả cho thấy có sự xuất hiện của mối quan hệ nhân quả này tại một số nước Tuy nhiên số các kết quả về việc bác bỏ mối quan hệ này là nhiều hơn, trong đó phải kể đến như Mỹ, Canada, Đức, …

Tác giả Rowe và Yetman (2002) trong bài viết “Xác định các mục tiêu của nhà hoạch định chính sách: một nghiên cứu đối với ngân hàng Canada” cho thấy tác động của các mục tiêu từ các chính sách tại Canada Nếu Ngân hàng Canada đang sử dụng lãi suất như là công cụ để thực hiện tỷ lệ lạm phát mục tiêu ở mức 2% và có một độ trễ 8 quý trong ảnh hưởng của lãi suất đối với lạm phát, sau đó độ lệch của lạm phát so với mức mục tiêu 2% trăm là không dự báo được và không tương quan với bất kỳ thông tin nào được công bố từ Ngân hàng Canada với độ trễ là 8 quý Điều này có nghĩa rằng các xét nghiệm quan hệ nhân quả thực nghiệm của chính sách tiền tệ đối với lạm phát có thể là rất sai lầm

Maral Kichian (2012) với nghiên cứu “ Những điều kiện tài chính và mối quan hệ cung tiền-sản lượng tại Canada”, đã nghiên cứu ảnh hưởng của tiền lên tăng trưởng sản lượng

Trang 7

ở Canada và xem xét vai trò của các điều kiện tài chính hiện hành đến mối quan hệ Tác giả cho rằng việc nghiên cứu này có thể giải thích sự thiếu đồng nhất trong các bài nghiên cứu trước kia khi nghiên cứu về mốt quan hệ cung tiền-sản lượng Ngoài ra, Maral cũng cho thấy điều kiện tín dụng cũng đóng một vai trò trong mối quan hệ đó Đặc biệt, có một tác động tiêu cực ngắn hạn của tiền lên tăng trưởng sản lượng khi có

sự thiếu hụt tín dụng Cuối cùng, trong dài hạn, cung tiền không ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của sản lượng

Các nghiên cứu khác về mối quan hệ giữa tiền và sản lượng, đặc biệt sử dụng mô hình VAR trong bài viết có các tác giả như: McCallum (1979), Bernanke (1986), Blanchard

và Quah (1989), King và Watson (1992), và Thoma (1994), một lần nữa, đưa ra các kết luận tổng thể là không tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ nhân quả giữa tiền và sản lượng Trong đó, có nhiều nghiên cứu tập trung về mối quan hệ này giữa sản lượng và tiền trong ngắn hạn, một số khác tập trung vào mối qua hệ dài hạn giữa tiền, thu nhập, giá và lãi suất, cho dù Swason (1998) đã thể hiện những nghi ngờ về tính hiệu lực của phương pháp kiểm tra được sử dụng trong trường hợp này

Swason (1998) trong bài nghiên cứu về mối quan hệ giữa cung tiền và sản lượng đã cho thấy, với dữ liệu là hàng quý, cả cung tiền M1 và M2 đều có những tác động đến sản lượng nếu mẫu dữ liệu là lớn đủ để thể hiện đặc diểm chính các mối quan hệ đồng liên kết giữa các biến lãi suất

Trang 8

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Ý tưởng cho mô hình nghiên cứu

Giả định có một số phương trình cấu trúc cơ bản, mà Fed tin, liên kết mức sản lượng thực với mức cung tiền , và một số biến khác, với một độ trễ j trong ảnh hưởng của tiền đến sản lượng:

- Có nghĩa là, nếu Fed đang sử dụng CSTT để ổn định sản lượng thực, sản lượng nhất thiết phải không tương quan với cung tiền trong quá khứ; xem Rowe và Yetman (2002) Thậm chí dù giả định cung tiền tác động đến sản lượng, với một độ trễ j, bất kỳ kiểm định nhân quả nào cũng không tìm được bằng chứng có quan hệ nhân quả

Trang 9

Để hiểu được tốt hơn về kết quả này, các tác giả xem xét trong hoàn cảnh nào mà Fed

sẽ giảm 20% cung tiền Có 2 khả năng xảy ra:

- Fed sẽ chỉ giảm khi biết được một số thông tin (về một trong các biến khác của hàm

số F, ví dụ như giảm mạnh thuế) làm Fed kỳ vọng là nếu duy trì một mức cung tiền liên tục thì sản lượng sẽ tăng mạnh

- Nếu Fed dự đoán đúng, cung tiền sẽ giảm 20% nhưng sản lượng tiếp tục tăng trưởng bình thường Biến động duy nhất trong sản lượng sẽ là kết quả của các sai số dự báo của Fed, và do đó phải không tương quan với bất kỳ điều gì Fed biết trong thời gian CSTT có thể tác động đến sản lượng

3.2 Lý do chọn Hồng Kông làm quốc gia nghiên cứu

Để kiểm định liệu cung tiền có tác động đến sản lượng, tác giả phải tìm ra dữ liệu mà tại đó Cơ quản quản lý tiền tệ thay đổi cung tiền và không quan tâm đến ảnh hưởng của

nó đến sản lượng HK cung cấp những loại dữ liệu như vậy Trong nhiều năm, HK đã duy trì TGHĐ gần cố định với đồng USD Vì HK có mối quan hệ là quốc gia nhỏ hơn

so với US và vì Fed không cam kết trách nhiệm giúp đỡ HK duy trì TGHĐ cố định, nên CSTT HK xem như được thiết lập tạp Washington DC, ngụ ý chính sách tiền tệ của US

sẽ tác động và chi phối như là chính sách tiền tệ của HK Nếu cú sốc đối với nền kinh tế

US và HK là tương quan không hoàn toàn, và nếu Fed thực hiện CSTT để ổn định sản lượng US, mà không quan tâm đến sản lượng HK, điều này có nghĩa là phần nào CSTT,

ít nhất, là biến ngoại sinh đối với sản lượng HK

Giả định:

- Fed biết có cú sốc tích cực (kỳ vọng làm gia tăng sản lượng) vào nền kinh tế

US Fed sẽ giảm cung tiền để “ngược chiều gió” giảm bớt cú sốc, tránh đưa nền kinh tế rơi vào tăng trưởng nóng Nếu dự đoán là đúng, sản lượng US tiếp tục tăng trưởng bình thường Nhưng nếu không có cú sốc tương tự vào nền kinh tế HK,

HK sẽ chịu toàn bộ tác động của việc giảm cung tiền US, mà không được giảm bớt cú sốc, và sẽ bị suy thoái

Trang 10

- Tương tự, nếu Fed dự đoán một cú sốc tiêu cực vào nền kinh tế US thì sẽ tăng cung tiền Không có thay đổi trong sản lượng US được thấy sau đó, nhưng HK sẽ được hưởng 1 sự thay đổi lớn trong sản lượng1

Trong thực tiễn, tình huống được quan sát ở HK giống với tình huống được quan sát trong thời kỳ Đại Suy thoái, lúc đó nhiều nước đang vận hành theo chế độ bản vị vàng Thực tế, một số lý thuyết về Đại Suy thoái trình bày bằng chứng có liên quan đến vai trò của yếu tố tiền tệ trong thời gian này, xem Bernanke (1995) Theo ông, “các cú sốc được truyền dẫn toàn cầu chủ yếu thông qua việc vận hành theo bản vị vàng”; xem thêm Choudhri và Kochin (1980), Eichengreen (1984), Hamilton (1988) và một số nghiên cứu khác

Thực tế, nghiên cứu mới về bản vị vàng cho phép các nhà kinh tế khẳng định với độ tin cậy cao là các yếu tố về tiền tệ đóng một vai trò nguyên nhân quan trọng, cả trong việc giảm giá, giảm sản lượng thế giới và sự phục hồi sau cùng Bằng chứng cho thấy các nước từ bỏ bản vị vàng phục hồi sau khủng hoảng nhanh hơn các nước vẫn duy trì bản

vị vàng Không có nước nào công bố sự phục hồi đáng kể khi duy trì bản vị vàng Sự phụ thuộc mạnh mẽ của tốc độ phục hồi vào việc lựa chọn chế độ TGHĐ là bằng chứng

bổ sung và mạnh mẽ về tầm quan trọng của các yếu tố về tiền tệ

3.3 Mô tả dữ liệu:

Dữ liệu được lấy theo quý và khoảng từ 1986:1 đến 1999:4 và gồm có vector zt cấp

nx1, bao gồm ba chuỗi thời gian được sử dụng để phân tích:

zt = (y1t, y2t, y3t)

Trong đó:

 là log của sản lượng HK ( )

 là log của sản lượng US ( )

1Câu chuyện trên được giả định cú sốc đối với nền kinh tế US là một cú sốc IS Một cú sốc IS tích cực đến nền kinh tế, US tăng chi tiêu chính phủ và làm dịch chuyển đường cung, US nghĩ là Fed sẽ giảm cung tiền và tăng lãi suất để giữ tổng cầu US không đổi Nhưng lãi suất US cao hơn thì lãi suất HK cũng vậy, sẽ có ít nhất một vài sự luân chuyển vốn giữa 2 quốc gia cho việc tìm kiếm lợi nhuận Và lãi suất HK cao hơn sẽ làm giảm tổng cầu ở HK (trừ khi HK cũng có cú sốc IS tích cực tương tự) Nếu cú sốc đến nền kinh tế US là một cú sốc LM, như giảm cầu tiền US, Fed sẽ giảm cung tiền tương ứng, làm lãi suất không đổi, và sẽ không có tác động nào trong cả 2 quốc gia.

Trang 11

 là log của cung tiền US ( ), hoặc là log của mức lãi suất liên ngân hàng của Fed ( )

3.4 Mô hình nghiên cứu:

Đây là mô hình được đề nghị bởi Johansen (1988, 1991, 1995) và được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu Ta có mô hình VAR như sau:

Trong đó:

 được giả định là một chuỗi theo phân phối phân phối Gauss là ~ N(0, )

 gồm có những thành phần có thể xác định của quá trình, ví dụ như một hằng

số, biến xu hướng thời gian, biến giả thời vụ và biến giả can thiệp

Tuy nhiên, do VAR gặp vấn đề với các chuỗi thời gian có hiện tượng đồng liên kết nên tác giả sử dụng VAR hiệu chỉnh, có tên là mô hình sai số hiệu chỉnh (VECM), có dạng:

Trong đó:

3.5 Phương pháp nghiên cứu:

Gồm có 3 bước:

 Bước 1: tác giả kiểm tra tính dừng của từng chuỗi thời gian, sử dụng kiểm định

nghiệm đơn vị theo ADF (Dickey và Fuller, 1979; Said và Dickey, 1984)

 Bước 2: tác giả kiểm định sự tồn tại của quan hệ đồng liên kết bằng phương

pháp Johansen (Johansen, 1988)

(6)

(7)

Trang 12

cách thích hợp để kiểm định nhân quả phụ thuộc vào liệu có tồn tại quan hệ đồng liên kết hay không Khi có quan hệ đồng liên kết, tác giả có thể kiểm định nhân quả ngắn hạn bằng kiểm định F cho ý nghĩa của sai phân bậc 1 của các biến có liên quan (trong trường hợp này, hoặc với k = 1, 2, , k*) Ngoài

ra, tác giả có thể kiểm định nhân quả dài hạn bằng kiểm định F cho ý nghĩa của biến hiệu chỉnh sai số Một số tham khảo là Hayo (1999), Khalid và Guan (1999), và Wernerheim (2000)

4 NỘI DUNG VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Để bài báo được ngắn gọn và tập trung cho những bước sau, tác giả đã không trình bày chi tiết việc thực hiện của bước kiểm định nghiệm đơn vị theo ADF Tác giả chỉ đưa ra kết quả của kiểm định ADF là các chuỗi dữ liệu thời gian là không dừng Nói cách khác

là chuỗi dữ liệu chỉ dừng tại sai phân bậc 1, I(1) Điều này cho phép tác giả nghi ngờ có

sự đồng liên kết tại đây Do vậy, tác giả không thể sử dụng mô hình hồi quy OLS để thực hiện vì chuỗi dữ liệu không dừng, mô hình VAR cũng không phù hợp vì có hiện tượng đồng liên kết Cuối cùng, mô hình hiệu chỉnh sai số (VECM) được sử dụng để kiểm chứng các nghi ngờ của tác giả

Mô hình VECM có dạng:

Trang 13

Để kiểm tra số lượng đồng liên kết, tác giả đi kiểm định hạng ma trận giống với nghiên cứu của Johansen (1998, 1995), phát triển phương pháp kiểm định khả năng đồng liên kết tối đa bằng kỹ thuật hồi quy suy biến dựa trên các tương quan chính tắc Quy trình có được một vector n x 1của các phần dư và từ các hồi quy phụ (hồi quy của và trên một hằng số và độ trễ , …, ) Những phần dư này được sử dụng để có ma trận phần dư (n x n):

tỉ số khả năng, được xác định theo công thức sau:

Trang 14

lượng phương trình (6) (Điều này tương đương với việc tác giả giả định có xu hướng

tuyến tính trong chuỗi thời gian) Đối với các quan hệ đồng liên kết, tác giả xem xét 2

trường hợp

 Trường hợp 1: chỉ bao gồm hệ số chặn trong mối quan hệ dài hạn

 Trường hợp 2: bao gồm cả hệ số chặn và biến xu hướng thời gian trong phương

trình dài hạn

Trong các bảng, tác giả gọi trường hợp trước là “Bản thống kê 1” và trường hợp sau là

“Bản thống kê 2”

Một vấn đề quan trọng khác trong kiểm định Johansen là độ trễ tối ưu Nếu là VAR thì

mô hình VAR sẽ tự động lựa chọn độ trễ tối ưu dựa trên các tiêu chuẩn: tiêu chuẩn thông tin Akaike (AIC), tiêu chuẩn thông tin Schwarz (SC) và tiêu chuẩn thông tin Hannan-Quinn (HQ) Có nhiều đề nghị trong lý thuyết Có một đề nghị sử dụng tiêu chuẩn thông tin như AIC hoặc SIC Với mục tiêu là xác định quan hệ nhân quả, bài viết đặc biệt quan tâm đến một số thống kê độ trễ dài hơn Do đó, phương pháp SIC không được xem xét, bởi vì chúng ta biết rằng tiêu chuẩn này sẽ dùng một mô hình hạn chế hơn Sử dụng AIC, tác giả chọn k = 8 cho mô hình VAR, vì vậy, k = 7 trong mô hình VECM sẽ là độ trễ tối ưu cho mô hình

Ngày đăng: 03/02/2015, 22:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w