1.2 Qúa trình phong kiến hoá xã hội phương Tây trung đại 1.2.1 Sự hình thành chế độ ruộng đất phong kiến Trong quá trình chinh phục vương quốc La Mã, các bộ tộc người Germanh đã chiếm
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRUNG ĐẠI ( V – XVII )
GVHD : Th.S Triệu Thị Nhân Hậu
SVTH : Thái Văn Nam MSSV : 1356040046 Lớp : Lịch Sử K39
TP.Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 1 năm 2015
Trang 2MỤC LỤC
Chương 1 3
Cơ sở hình thành xã hội phương Tây trung đại 3
1.1Sự sụp đổ của xã hội La Mã cổ đại 3
1.2 Qúa trình phong kiến hoá xã hội phương Tây trung đại 5
1.2.1 Sự hình thành chế độ ruộng đất phong kiến 5
1.2.2 Nguồn gốc giai cấp nông nô 5
1.2.3 Trang viên hoá nền kinh tế 6
1.3 Đặc điểm Kinh tế - chính trị phương Tây trung đại 7
1.3.1 Thời kỳ hình thành và củng cố chế độ phong kiến ( sơ kỳ trung đại từ thế kỷ V đến thế kỷ XI ) 7
1.3.2 Thời kỳ phát triển của chế độ phong kiến ( trung kỳ trung đại từ thế kỷ XII đến thế kỷ XV ) 9
1.3.3 Thời kỳ suy tàn của chế độ phong kiến và nảy sinh quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ( hậu kỳ trung đại từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII ) 10
Chương 2 12
Những mâu thuẫn căn bản trong xã hội phương Tây trung đại 12
2.1 Mâu thuẫn xã hội phương Tây sơ kỳ trung đại ( V – XI ) 12
2.1.1 Mâu thuẫn giữa phong kiến thế tục và phong kiến nhà thờ 12
2.1.2 Đấu tranh giai cấp giữa nông nô với lãnh chúa phong kiến 13
2.1.3 Mâu thuẫn giữa Vua với Lãnh chúa (lãnh chúa thế tục và lãnh chúa nhà thờ) 14
2.2 Mâu thuẫn xã hội phương Tây trung kỳ trung đại ( XI – XV ) 15
2.2.1 Đấu tranh của thị dân chống lãnh chúa phong kiến 15
2.2.2 Đấu tranh giữa thợ thủ công chống quý tộc thành thị 17
2.2.3 Đấu tranh giữa thợ bạn và chủ xưởng 18
2.3 Mâu thuẫn xã hội phương Tây hậu kỳ trung đại 19
2.3.1 Mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp quý tộc phong kiến 19
2.3.2 Đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản 20
Kết Luận 21
Danh Mục Tài Liệu Tham Khảo 25
Trang 3Chương 1
Cơ sở hình thành xã hội phương Tây trung đại
1.1 Sự sụp đổ của xã hội La Mã cổ đại
Từ những thế kỷ đầu Công nguyên - tức là thời kì đầu của đế chế La Mã, chế độ sởhữu ruộng đất đã phát triển lên cao độ Giai cấp quý tộc chủ nô , đứng đầu là hoàng đế đã
sở hữu đến mức tối đa ruộng đất trong đế quốc Bản đồ đế quốc La Mã vô cùng rộng lớn :phía Đông tới bờ sông Ơfrát ( Lưỡng Hà ), phía Tây tới bờ Đại Tây Dương , phía Bắc tớisông Ranh, sông Đanuýp, phía Nam tới sa mạc Xahara Nhưng lúc này trong xã hội cónhững mâu thuẫn trở nên sâu sắc và việc thất bại từ các cuộc chiến tranh đã dần dần làmcho nền sản xuất kinh tế trong của La Mã lâm vào tình trạng bế tắc, mầm mống của sựsuy vong cũng bắt đầu từ đó, chính quyền trung ương ngày càng rệu rã, rơi vào khủnghoảng, không đủ sức chi phối các tập đoàn chủ nô và các thế lực phân quyền cát cứ ở địaphương
Cùng với đó phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ điển hình cũng lung lay đến tậngốc Giai cấp quý tộc địa chủ ra sức chiếm đất đai làm cho nông dân mất hết ruộng đất,thoát ly sản xuất Nền kinh tế dựa trên cơ sở bóc lột nô lệ đã trở nên lỗi thời và kìm hãmsức sản xuất phát triển Quan hệ sản xuất phong kiến từng bước nảy sinh, phát triển.Những điền trang lớn bóc lột người lao động theo kiểu phong kiến xuất hiện
Sự khủng hoảng của phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ được biểu hiện rõ thôngqua các cuộc đấu tranh của nô lệ, lệ nông ở Xixin, ở Gôlơ vào thế kỷ III SCN Đến cuốithế kỷ IV, phong trào lại dấy lên và phát triển mạnh mẽ trở thành cuộc chiến tranh nôngdân rầm rộ Những cuộc khởi nghĩa đó làm cơ sở tồn tại của đế quốc La Mã càng thêmthối nát Mặc dù xã hội chiếm hữu nô lệ điển hình ở La Mã sụp đổ nhưng đó là một xãhội có ý nghĩa to lớn đối với lịch sử phát triển phương Tây nói riêng và lịch sử nhân loạinói chung, đưa xã hội Hy Lạp, La Mã phát triển lên đến đỉnh cao, là một kiểu mô hìnhnhà nước mới tiến bộ hơn nhà nước cộng sản nguyên thuỷ, đánh dấu bước phát triển củanhân loại trong việc phát triển kinh tế
Bước vào thế kỷ thứ V TCN, Các bộ tộc người Giécmanh ở vùng phía Tây sông Ranh
và phía Đông sông Enbơ đang trong thời kỳ hình thành giai cấp và nhà nước, họ đã tiếnvào và chinh phục vùng đất La Mã Từ đó đã thúc đẩy nhanh chóng quá trình phongkiến Những yếu tố của phương thức sản xuất phong kiến đang chín muồi trong lòng đếquốc La Mã đã đóng vai trò rất lớn trong quá trình đi đến xác lập chế độ phong kiến Sự
Trang 4sụp đổ của La Mã đã đẩy nhanh việc xóa bỏ những hình thức bóc lột chiếm hữu nô lệ, mởđường cho sự thắng lợi của phương thức sản xuất phong kiến, loại trừ khả năng tái lập nótrong các vương quốc man tộc Franks Mặt khác, sự phát triển trong nội bộ xã hội của các
bộ lạc Giécmanh cũng đã cho phép tạo ra khả năng sẵn sàng tiếp thu các yếu tố của chế
độ phong kiến La Mã
1.2 Qúa trình phong kiến hoá xã hội phương Tây trung đại
1.2.1 Sự hình thành chế độ ruộng đất phong kiến
Trong quá trình chinh phục vương quốc La Mã, các bộ tộc người Germanh đã chiếmđược rất nhiều ruộng đất Trên cơ sở đó, họ đã mang đất đai phân cấp cho các tướng lĩnhthân cận và ban tặng các giáo hội Kitô giáo nên họ trở giai cấp địa chủ phong kiến Giaicấp địa chủ phong kiến phương Tây bao gồm 4 bộ phận: Thủ lĩnh người Germanh, nhữngthân binh người Germanh, quý tộc chủ nô La Mã đầu hàng và nhà thờ
Đến thế kỷ VIII, chính sách ban cấp ruộng đất của phương Tây có sự thay đổi quantrọng Để xây dựng chế độ chính trị trung ương tập quyền, đồng thời tổ chức lại lựclượng quân đội, nhà vua đã ban cấp ruộng đất cho kị binh, đồng thời lấy kị binh làm lựclượng nòng cốt của quân đội nhà nước Các kị binh giúp nhà vua dẹp các quý tộc phiếnloạn ở địa phương Ngược lại, nhà vua ban cấp đất cho các kị sĩ của mình bằng đất côngthu được của quý tộc phong kiến theo một chế độ gọi là phong thân – bồi thần
Theo đó, người được phong đất gọi là bồi thần, người ban cấp đất đai cho bồi thần gọi
là Tôn chủ (phong thân cho bồi thần) Bồi thần khi được ban cấp đất phải có nhiệm vụcung cấp binh lính cho phong quân và đóng nghĩa vụ về kinh tế Tôn chủ có nhiệm vụbảo vệ bồi thần của mình Sự ban cấp đất đai như vậy đã hình thành nên bậc thang đẳngcấp phong kiến đó là Vua => công tước => hầu tước => bá tước => tử tước => namtước.Những người chủ của các lãnh địa được gọi chung là lãnh chúa, quý tộc
Lãnh chúa lớn nhận đất từ vua được gọi là công tước và phải thực hiện nghĩa vụbôi thần đối với nhà vua Lãnh địa của công tước thường rất lớn, họ ban cấp đất đai củamình cho người khác gọi là hầu tước, những hầu tước này phải thực hiện nghĩa vụ bồithần đối với các công tước Tiếp đó các hầu tước ban cấp đất đai cho bá tước Với hìnhthức lãnh địa này, chế độ ruộng đất phong kiến được hình thành và giai cấp phong kiếnngày càng trở nên đông đảo
Nhưng chẳng bao lâu, chính sách phong cấp ruộng đất ấy cũng có tác dụng ngược lại,chẳng bao lâu thế lực của các của các lãnh chúa lớn mạnh trở thành những ông vua con ởđịa phương không phục tùng chính quyền trung ương nữa Do đó, một mâu thuẫn được
Trang 5xác lập xã hội phương Tây sơ kỳ trung đại là mâu thuẫn giữa Vua với lãnh chúa phongkiến
1.2.2 Nguồn gốc giai cấp nông nô
Cuối thời kì của đế quốc La Mã mâu thuẫn giữa nô lệ và chủ nô trở nên gay gắt Thời
kỳ này các chủ đại trang viên cấp cho nô lệ nhà ở riêng và cắt trang viên của mình thànhtừng mảnh đất nhỏ giao cho nô lệ tự cày cấy với những nông cụ súc vật và giống má dochủ cung cấp Đến vụ thu hoạch nô lệ chỉ cần nộp phần lớn hoa lợi cho địa chủ chủ nô,người nô lệ đã dần trở thành người lệ nông Người lệ nông so với nô lệ họ có được chút ít
tự do, được hưởng một phần lợi ích từ ruộng đất Đời sống của lệ nông thời gian đầu cóđược cải thiện nhưng về sau vì túng thiếu, lệ nông phải vay mượn nên ngày càng bị lệthuộc vào chủ nô
Thời gian đầu lệ nông họ đấu tranh bằng cách bỏ trốn, nhưng về sau họ nổi dậy khởinghĩa kết hợp với nô lệ Lệ nông trở thành một động lực cách mạng lật đổ chế độ chiếmhữu nô lệ Lệ nông là giai cấp quá độ từ nô lệ lên nông nô
Khi chiếm được đế quốc La Mã, người Germanh đã ban tiến hành ban cấp đất đai,trong đó bộ phân binh sĩ người Germanh cũng được ban cấp đất đai với số lượng ít Nhưvậy binh sĩ người Germanh cùng với lệ nông trở thành giai cấp nông dân tự do
Trong xã hội còn có nông dân nửa tự do, họ là những người có địa vị cao hơn nô lệ,nhưng lại thấp hơn lệ nông Họ cũng được giao cho một mảnh đất để canh tác và truyềnmảnh đất ấy từ đời này sang đời khác Ngoài ra cũng còn một bộ phận nhỏ những người
nô lệ lao động nông nghiệp khác.Tuy nhiên, giai cấp nông dân tự do vì các nguyên nhânnhư thiên tai mất mùa, gia súc chết không canh tác được, chịu thuế khoá nặng nề, đi làmnghĩa vụ binh dịch … nên rất nhiều nông dân bị phá sản, họ phải bán ruộng đất trở thànhnhững người không có tư liệu sản xuất, họ chỉ còn cách nhận ruộng đất của lãnh chúa đẻlàm làm ăn và trở thành nông dân lệ thuộc
Do sự tranh chấp đất đai giữa các lãnh chúa để tăng cường quyền lực nên ruộng đấtcủa những người nông dân tự do có nguy cơ bị các lãnh chúa chiếm đoạt, do đó ngườinông dân tự do chỉ còn cách dâng ruộng đất cho lãnh chúa hoặc giáo hội nhờ họ che chởrồi xin nhận lại mảnh đất ấy để cày cấy Như vậy, nông dân tự do không những đã mấtquyền sở hữu đất đai của mình mà bản thân mình cũng không còn là người tự do nữa Từ
đó những người nông dân tự do và cả đời con cháu của họ đã trở thành nông nô
Về mặt chính trị, tuy nông nô chưa hoàn toàn mất tự do, nhưng họ bị lệ thuộc vàolãnh chúa về mặt thân thể Họ không được tự tiện rời bỏ ruộng đất mà chủ giao cho, hơnnữa con cháu về sau cũng phài kế thừa và làm nông nô cho lãnh chúa Như vậy, tuy nông
Trang 6nô không hoàn toàn mất tự do, không hoàn toàn bị lệ thuộc vào lãnh chúa nhưng thực tếthì đời sống và địa vị của họ không hơn nô lệ được bao nhiêu.
1.2.3 Trang viên hoá nền kinh tế
Trong thời kỳ cuối của chế độ La Mã các trang viên đã xuất hiện Khi người Germanhxâm chiếm đế quốc La Mã và thành lập các trang viên, các lãnh chúa thường dựa vào các
cơ sở có sẵn như các điền trang của chủ nô La Mã trước kia, chỉ những nơi không có các
cơ sở cũ thì họ mới thành lập những trang viên hoàn toàn mới
Tuỳ theo từng nơi mà diện tích của trang viên cũng khác nhau Các trang viên thườngbao gồm một ngôi làng (đôi khi nhiều hơn) là chỗ ở của các nông dân tự do và không tự
do Một con suối với một hoặc hai cái ao… Vùng đất canh tác ở trong các trang viênđược chia làm nhiều phần, phần lớn hơn thường thường giữa 1/3 hoặc 1/2 gồm có ruộngđất của địa chủ, phần khác là phần đất nhà chung được canh tác trồng trọt thuộc quyền
sử dụng của nhà thờ, phần còn lại được phân thành tài sản của tá điền và đất chung
Trang viên phong kiến là những đơn vị kinh tế tự cấp tự túc Ngoài việc sản xuất nôngnghiệp, trong trang viên còn sản xuất thủ công nghiệp Cho nên, trong các trang viênngoài những nông nô làm ruộng còn có những nông nô làm nghề thủ công như thợ mộc,thợ rèn, thợ dao kiếm, thợ vàng bạc, thợ tiện… Các trang viên về cơ bản có thể thoả mãnđược nhu cầu về lương thực – thực phẩm cũng như các loại đồ dùng hàng ngày của lãnhchúa và nông nô chỉ có những thứ không sản xuất được như muối, sắt, và các thứ hàng
xa xỉ như vải, lụa, hương liệu, vũ khí thì trang viên mới phải mua từ bên ngoài Do đó,kinh tế hàng hoá phương Tây sơ kỳ trung đại chưa có gì đáng kể, tình trạng được kéo dàicho đến khi thành thị ra đời
1.3 Đặc điểm Kinh tế - chính trị phương Tây trung đại
1.3.1 Thời kỳ hình thành và củng cố chế độ phong kiến ( sơ kỳ trung đại từ thế
kỷ V đến thế kỷ XI )
a Đặc điểm kinh tế
Khi vương quốc của người Germanh được thành lập do trình độ phát triển kinh tế của
họ còn thấp (cuối thời kỳ công xã nguyên thủy), vì sự yếu kém nên họ đã tàn phá nềnkinh tế hàng hóa trong các thành thị La Mã cổ, làm cho nền kinh tế phương Tây ở thời sơ
kỳ trung đại hết sức thấp kém
Phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ điển hình La Mã sụp đổ, cùng với sự phân chiaruộng đất và phong tước vị (phong tước – kiến địa) cho nhau thì phương thức sản xuấtphong kiến ra đời làm hình thành nên những giai cấp mới cho xã hội phương Tây Những
Trang 7giai cấp mới đó là giai cấp nông nô và giai cấp lãnh chúa phong kiến bao gồm bộ phậnquý tộc thế tục và quý tộc nhà thờ.
Đặc điểm kinh tế chủ yếu thời sơ kỳ trung đại là quá trình lãnh địa hóa đất đai, kinh
tế sơ kỳ trung đại phương Tây là nền kinh tế tự cấp tự túc, thủ công nghiệp và nôngnghiệp chưa tách rời nhau Toàn bộ hoạt động kinh tế trong xã hội phong kiến sơ kỳ đềutập trung trong các lãnh địa phong kiến Người chủ trong các lãnh địa gọi chung là lãnhchúa Người sản xuất chính là nông nô
Kinh tế thời sơ kỳ trung đại cũng chịu ảnh hưởng lớn của Giáo hội Kitô giáo, Giáo hộichiếm đoạt rất nhiều ruộng đất trở thành một bộ phận trong giai cấp lãnh chúa, đó là lãnhchúa, quý tộc phong kiến nhà thờ Bộ phận này cùng với quý tộc phong kiến thế tục đãbóc lột tô thuế nặng nề từ nông nô
b.Tư tưởng chính trị - xã hội
Chế độ trang viên hoá nền kinh tế làm cho mỗi lãnh địa trở thành một quốc gia riêng,
có chính quyền, tổ chức quân đội và một chế độ kinh tế tài chính riêng Tuy vậy giữacác lãnh chúa vẫn có những mối quan hệ với nhau theo quan hệ phong thân – bồi thần,một lãnh chúa có thể là người phong thân, bảo vệ quyền lợi của lãnh chúa này nhưngcũng có thể là bồi thần thực hiện những nhiệm vụ đối với lãnh chúa khác Vì vậy thời đó
có câu ngạn ngữ “ bồi thần của bồi thần của ta không phải là bồi thần của ta ”
Chính trị - xã hội, xuất hiện sự phân chia giữa hai quyền lực đó là quyền lực chính trị
và quyền lực tôn giáo Cuộc đấu tranh giữa thần quyền và thế quyền rất gay gắt Xong,nhìn chung trong thời kỳ này thần quyền luôn chi phối toàn bộ đời sống xã hội Nhà vuakhi muốn có quyền lực phải được nhà thờ chấp thuận, Giáo hội lợi dụng lòng tin củanhân dân để bảo vệ củng cố chế độ phong kiến
Ở Tây âu thời kì Pêpanh lên nắm quyền thay cha là Sáclơ Mácten, với ý định thâutóm quyền lực vào trong tay mình Pêpanh đã thỉnh cầu giáo hoàng La Mã “ trong mộtnước, người làm vua không có thực quyền, trái lại người không làm vua lại nắm thựcquyền thì làm thế nào?” Giáo hoàng La Mã trong lúc đang gặp khó khăn rất lớn vì ngườiLôngbác xâm nhập đất Italia cần được chính phủ Franks giúp đỡ Do đó, giáo hoàng đãtrả lời Pêpanh là người nắm thực quyền nên xưng làm vua Năm 756 Pêpanh đã đemnhững vùng đất chiếm được của người Lôngbác giao cho giáo hoàng Cho thấy quyền lựccủa Giáo hội thiên chúa giáo chi phối thế quyền nhà nước Tây Âu Thời kỳ này cũngđược xem là “ đêm trường ” tăm tối và khắc nghiệt – Giai cấp quý tộc phong kiến thoảhiệp, cấu kết với tăng lữ quý tộc đàn áp và thống trị nông nô
Trang 8Về văn hoá, đây là thời kỳ thống trị của tôn giáo và nhà thờ Nhà thờ là nơi chiếmnhiều ruộng đất và hình thành nên bộ phận phong kiến nhà thờ tương đối lớn, nhà thờcũng là nơi nắm quyền lực chính trị, pháp luật … Thế giới quan thần học bao trùm lêntriết học, luật học và chính trị.
1.3.2 Thời kỳ phát triển của chế độ phong kiến ( trung kỳ trung đại từ thế kỷ XII đến thế kỷ XV )
a Kinh tế phương Tây trung kỳ trung đại
Kinh tế phương Tây trung kỳ trung đại đươc chứng kiến sự ra đời của các thành thị,diễn ra từ trong các thế kỉ X, XI Trước đây, thời sơ kỳ trung đại kinh tế của phương Tâyphát triển trong các điền trang của lãnh chúa theo mô hình khép kín, kinh tế nông nghiệpchưa tách rời khỏi thủ công nghiệp Bước vào trung kỳ trung đại do sự ra đời của cáccông cụ mới, kỹ thuật mới và chủ yếu là năng suất lao động tăng làm cho sản thừa trongnông nghiệp xuất hiện nên thợ thủ công thoát ly khỏi nông nghiệp, người thợ thủ cônglấy những sản phẩm của mình trao đổi với sản phẩm nông nghiệp Dần dần họ trở thànhmầm mống của tầng lớp thị dân
Sự tách rời của nền kinh tế nông nghiệp với thủ công nghiệp đưa đến sự ra đời củatầng lớp thị dân, tầng lớp thị dân muốn trao đổi hàng hoá đòi hỏi phải cần phải có thịtrường, thị trường đó phải là nơi có đông người qua lại để dễ trao đổi, phải là nơi có tưliệu sản xuất, nơi có an ninh Những nơi đó có thể là ngã ba sông, ngã ba đường, ngã tưđường, các tu viện, thành thị La Mã cổ đại Do đó, những nơi này trở thành những thànhthị đầu tiên của nền kinh tế phương Tây trung kỳ trung đại Cũng chính sự ra đời của cácthành thị trên các thành thị của La Mã cổ đại nên trong giai đoạn đầu tầng lớp thị dânchịu sự áp đặt, chi phối của quý tộc phong kiến Từ đó dẫn tới sự mâu thuẫn giữa tầng lớpthị dân với lãnh chúa phong kiến nhằm giành quyền tự trị của các thành phố
Sự ra đời của thành thị là điều kiện để phát triển tầng lớp thị dân, thợ thủ công, thợhọc việc và thành thị cũng là nơi diễn ra các phong trào đấu tranh của thị dân, các tầnglớp khác trong xã hội Như vậy, có thể nói rằng thành thị chính là môi trường, không gianđưa đến sự hình thành và phát triển các mâu thuẫn xã hội phương Tây trung kỳ trung đại Đặc điểm nền kinh tế phương Tây trung kỳ trung đại là sự tách rời của nền kinh tếnông nghiệp với thủ công nghiệp, sự ra đời của các thành thị và sự phát triển của kinh tếthương nghiệp
b Về tư tưởng chính trị phương Tây trung kỳ trung đại
Trang 9Phương Tây thời trung kỳ trung đại vẫn chịu sự khống chế và chi phối rất lớn bởi tưThiên Chúa giáo Giáo hội Thiên Chúa giáo không chỉ là một tổ chức tôn giáo mà còn làmột tổ chức kinh tế phong kiến Giáo hội chiếm hữu rất nhiều ruộng đất, có tới 30% diệntích đất đai cày cấy và hàng vạn nông nô ở Tây Âu thuộc quyền sở hữu của Giáo hộiThiên Chúa giáo
Chính trị trung kỳ trung đại hình thành liên minh giữa Vua và tầng lớp thị dân ( Vuacần tiền,tầng lớp thị dân cần địa vị hợp pháp ) Vua trấn áp những lãnh chúa lớn bằng cáccuộc chiến tranh và tiến hành các cuộc đấu tranh chống lại giáo hội bằng các hình thứcđánh thuế, hạn chế quyền lực Một số vua chúa của các nước như Anh, Pháp Tây BanNha, Bồ Đào Nha đã đoàn kết với tầng lớp thị dân để đánh bại bọn quý tộc phong kiến,xoá bỏ chế độ phong kiến phân quyền, xây dựng chế độ phong kiến tập quyền Một sốquốc gia khác như Đức, Italia do thị dân phân tán không tập trung ủng hộ nhà vua nênnhà vua chưa thực hiện được chế độ phong kiến tập quyền Vì vậy, cho nên phương Tâytrung kỳ trung đại tồn tại cả hai chế độ phong kiến là phong kiến phân quyền và phongkiến tập quyền
1.3.3 Thời kỳ suy tàn của chế độ phong kiến và nảy sinh quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ( hậu kỳ trung đại từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII )
a Đặc điểm kinh tế thời hậu kỳ trung đại
Đặc điểm lớn về kinh tế thời kỳ này là sự giải thể của các phường hội thủ công thayvào đó là sự ra đời của các công trường thủ công đó là công trường phân tán, công trườngtập trung, công trường hỗn hợp Với sức phát triển của kinh tế và cải tiến kỹ thuật đã đưađến nhũng mầm mống cho sự ra đời của chủ nghĩa tư bản trong lòng xã hội phong kiến Chủ nghĩa tư bản ra đời dựa trên hai điều kiện cơ bản là vốn (tư bản) và sức lao động.Muốn có vốn và sức lao động thì đòi hỏi phải tích luỹ Sự tích luỹ vốn và sức lao động đócủa được Karl Marx gọi là tích luỹ ban đầu hay tích luỹ nguyên thuỷ
Nhà tư bản tích luỹ vốn qua việc buôn bán nô lệ và hoạt động cướp biển Việc buônbán nô lệ của các nhà tư bản ban đầu đã hình thành nên “ Nền thương nghiệp tam giác”.Qua việc buốn bán nô lệ từ Châu Phi qua Châu Mỹ người tư bản Châu Âu đã tích luỹđược một số vốn Nhưng sự buôn bán nô lệ Châu Phi đã làm cho Châu Phi thiếu thốnngười lao động và dân số suy giảm Hoạt động cướp biển đã hình thành nên các độithương thuyền, hãng tàu buôn Cướp biển là một trong những nguồn đưa lại sự tích luỹvốn rất nhiều
Quá trình tích luỹ sức lao động của tư bản ở Anh bằng hình thức “rào đất cướp ruộng”những nhà tư bản đã đuổi nông nô ra khỏi đất đai của lãnh chúa Trước đây người nông
Trang 10dân bỏ trốn ra khỏi các lãnh địa thì đó là một trong những tội nặng nhất có thể xử tử hình.Sau khi chủ nghĩa tư bản ra đời đã đuổi nông dân ra khỏi ruộng đất, vì thế giai cấp nôngdân được tự do về mặt thân thể nhưng họ bị tước đoạt về tư liệu sản xuất nên phải ra cácthành thị bán sức lao động trở thành người làm thuê trong các công trường thủ công Họtrở thành giai cấp vô sản Chính sự tích luỹ tư bản ban đầu và sau này là sự áp bức bóc lộtthậm tệ giai cấp vô sản trong các công trường thủ công đã hình thành mâu thuẫn giữa giaicấp tư sản và giai cấp vô sản trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Ở Tây Âu, chủ nghĩa tư bản xuất hiện ở nước Italia từ rất sớm (thế kỷ XIV), do ởmiền Bắc nước Italia tập trung chủ yếu các đầu mối giao dịch hàng hoá Đông – Tây như :Venise, Gêneo, Florence, Milan
Mặt khác, giai cấp tư sản đại diện cho một phương thức sản xuất tiến bộ hơn phươngthức sản xuất phong kiến Dưới chế độ phong kiến, tuy giai cấp tư sản cũng là giai cấpbóc lột ( bóc lột sức lao động của công nhân làm thuê ), nhưng lại là giai cấp bị trị và bịchế độ phong kiến kìm hãm, đồng thời giai cấp tư sản mới ra đời nên chưa có quyền lực
và địa vị chính trị Do đó, quan hệ sản xuất tư bản cũng tạo ra mối mâu thuẫn căn bảnnhất trong xã hội thời hậu kỳ trung đại đó là mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất tư bản chủnghĩa và quan hệ sản xuất phong kiến
b Tư tưởng chính trị thời hậu kì trung đại
Bắt đầu từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII chế độ phong kiến ở phương Tây bước vàothời kỳ tan rã Giai cấp tư sản đang từng bước trưởng thành và lớn mạnh, không khoannhượng với chế độ phong kiến, họ muốn xoá bỏ đẳng cấp phong kiến, đòi tách vấn đềnhà nước pháp quyền ra khỏi tôn giáo… xây dựng nền tảng của thể chế dân chủ tư sản.Trong cuộc đấu tranh chống nền quân chủ chuyên chế của giai cấp địa chủ phong kiến vàgiới quý, nhà thờ … các nhà tư tưởng tư sản đã nêu lên những học thuyết, những tư tưởng
về pháp quyền tự nhiên, về chủ nghĩa tự do
Hệ tư tưởng phong kiến – giáo hội là trở ngại lớn cho sự ra đời của hệ tư tưởng – vănhoá của giai cấp tư sản , cho nên ngay khi mới ra đời, giai cấp tư sản đã dùng chủ nghĩanhân văn và nền văn hoá cổ đại để phê phán, đả kích nền văn hoá phong kiến – giáo hội
và vận động nhân dân chống lại giáo hội thiên chúa giáo
Trang 11Chương 2 Những mâu thuẫn căn bản trong xã hội phương Tây trung đại
Mâu thuẫn dùng để chỉ mối liên hệ thống nhất, đấu tranh và chuyển hoá giữa các mặt đối lập của mỗi sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau.
Mâu thuẫn xã hội là sự đối lập, xung đột, đấu tranh giữa các giai cấp trong xã hội với nhau do sự mâu thuẫn về lợi ích giữa các giai cấp trong xã hội mâu thuẫn với nhau Mâu thuẫn xã hội phương Tây trung đại có thể hiều là mâu thuẫn xã hội giữa các giai cấp, tầng lớp diễn ra trong một khoảng không gian xác định là Châu
Âu trong khoảng thời gian xác định, đó là khoảng thời gian từ thế kỷ V đến thế kỷ XVII –XVIII ( thời kỳ trung đại ).
Xã hội phương Tây trung đại tồn tại trong một khoảng thời gian rất dài ( V – XVII ), trong khoảng thời gian đó có những mốc thời gian đánh dấu sự phát triển
về kinh tế - văn hoá – giáo dục của xã hội phương Tây Do đó, trong những mốc thời gian đánh dấu sự tiến bộ của xã hội bên cạnh sự phát triển của các mâu thuẫn
cũ còn có sự hình thành và phát triển của các mâu thuẫn mới.
2.1 Mâu thuẫn xã hội phương Tây sơ kỳ trung đại ( V – XI )
2.1.1 Mâu thuẫn giữa phong kiến thế tục và phong kiến nhà thờ
Sự phân phong ruộng đất cho nhà thờ và giáo hội Cơ đốc giáo đã làm cho bộ phậnnày ngày càng lớn mạnh và chi phối mạnh mẽ hoạt động của nhà nước Nhà vua và tầnglớp đã hiến rất nhiều ruộng đất kèm theo nông nô cho giám mục, tu viện trưởng để tầnglớp tăng lữ cao cấp này cầu nguyện Chúa Trời tha thứ cho những tội ác mà chúng gây ra,nhằm củng cố thế lực của chúng Giáo hoàng, giám mục và các tu viện chiếm hữu rấtnhiều ruộng đất của những người lao động sản xuất phụ thuộc Còn những người nghèokhổ vì mê tín nên đã tin vào những lễ bái, những lời cầu nguyện và những lời dụ dỗ củanhững vị cha xứ, tu sĩ đã cúng những tài sản cuối cùng của họ cho nhà thờ và tu viện
Trang 12Nguyên nhân chủ yếu của mối mâu thuẫn này là do quý tộc nhà thờ có nhiều ưu thế Một là, về mặt kinh tế quý tộc nhà thờ sở hữu nhiều đất đai hơn quý tộc thế tục Hai là, vềmặt giáo dục- chính trị nhà nước phụ thuộc chặt chẽ vào nhà thờ.
Nhưng mối mâu thuẫn giữa phong kiến thế tục và phong kiến nhà thờ là mối mâuthuẫn trong giai đoạn này là mâu thuẫn có thể điều hoà được Việc nổi dậy đấu tranh đòiquyền lợi của nông dân với các lãnh chúa là hết sức mạnh mẽ Vì vậy, quý tộc thế tục vàquý tộc nhà thờ phải liên minh với nhau để đàn áp cuôc khởi nghĩa của nông dân
2.1.2 Đấu tranh giai cấp giữa nông nô với lãnh chúa phong kiến.
Nguyên nhân mâu thuẫn
Cuộc sống của các lãnh chúa trong các trang viên, lãnh chúa có uy quyền của một ôngvua trong trang viên ấy, thâu địa tô, xử án, đánh giặc, đúc tiền… lãnh chúa có thể lậptriều đình riêng, lâu đài, thành quách riêng Để có cuộc sống xa xỉ ấy các lãnh chúathương bóc lột nông nô trong lãnh địa, tổ chức những cuộc cướp giật Công việc chínhcủa lãnh chúa trong các trang viên là bóc lột lao động tự nông dân bằng việc ngồi hưởngphần hoa lợi, các khoản tiền thuê do nông dân sử dụng các dịch vụ trong trang viên.Ngoài ra công việc của họ là ăn chơi và đàn áp các cuộc nổi dậy của nông dân
Cuộc sống của nông nô ở các trang viên, trong xã hội phương Tây sơ kỳ trung đại cònmột giai cấp khác đông hơn hết và bị đày đọa hơn hết đó là nông dân trong các lãnh địa.Người nông dân chỉ có bổn phận cày bừa, trồng tỉa để cung cấp vật thực cho xã hội Tuysống nhờ vào họ nhưng các lãnh chúa lại đối với họ khinh khi, bạc đãi Nông dân chia rathành 5 loại hình chính, mặc dù sự phân biệt này không được áp dụng chặt chẽ Họ làngười tự do, tá điền, dân quê, hạng cùng đinh và nông nô Những người tự do và tá điền
bị trói chặt vào các lãnh chúa bởi khoản tiền thuê bao, và họ chỉ có một tài sản ít ỏi Cácnông nô là những người nông dân điển hình sống dưới ách nô lệ
Về đời sống kinh tế người nông dân bị gắn chặt vào miếng đất khi lãnh chúa ban cho
họ và ở miếng đất ấy họ gặp toàn khổ nhục, nhà ở là một túp lều thiếu ánh sáng, giường
là một tấm ván và một bị rơm, ghế ngồi là một bó rạ, đồ bếp núc toàn bộ bằng gỗ Khilao động trên mảnh đất mà lãnh chúa giao cho nông nô đem công sức ra làm rồi ăn mộtphần, còn một phần họ phải đem nộp cho các lãnh chúa Không phụ thuộc vào trình độ,năng lực, năng suất lao động miễn là nông nô phải nộp đủ địa tô
Về mặt pháp luật họ bị ràng buộc với các lãnh chúa rất nhiều Do đó pháp luật làphương tiện để đàn áp và bóc lột nông nô Dù cực khổ nhưng người nông nô không được
tự ý rời bỏ miếng đất của lãnh chúa Họ có thể bị bán đợ hoặc cũng có thể là quà biếu đikèm với miếng đất họ cày khi lãnh chúa tặng miếng đất đó cho một người khác