1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu những nguyên nhân sâu xa về kinh tế - xã hội của sự suy thoái đa dạng sinh học tại một số vùng địa sinh thái tại Việt Nam

87 892 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 352 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Con người là một bộ phận của tự nhiên,con người và xã hội loài người chỉ có thể tồn tại và phát triển được trong mốiquan hệ mật thiết và gắn bó hài hòa với môi trường tự nhiên.. Có thể k

Trang 1

Nghiên cứu những nguyên nhân sâu xa về kinh tế - xã hội của sự suy thoái đa dạng sinh học tại một số vùng địa - sinh

thái của Việt Nam

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lý luận và thực tiễn đã khẳng định rằng: tự nhiên - xã hội - conngười là một chỉnh thể thống nhất Con người là một bộ phận của tự nhiên,con người và xã hội loài người chỉ có thể tồn tại và phát triển được trong mốiquan hệ mật thiết và gắn bó hài hòa với môi trường tự nhiên Môi trường sốngvừa là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển; vừa là nơi diễn ra các hoạt độngnhư: lao động, nghỉ ngơi, hưởng thụ, cảm nhận văn hóa và thẩm mỹ mangtính đặc trưng của con người với tư cách là một thực thể sinh học - xã hội Nóicách khác, ý nghĩa đặc biệt quan trọng - không thể thay thế - của môi trườngđối với con người và xã hội loài người là ở chỗ, nó không chỉ là nguồn cungcấp các giá trị vật chất, mà còn tạo nên những giá trị văn hóa, tinh thần Tuynhiên, không phải bao giê và ở đâu con người cũng nhận thức một cách tựgiác và đầy đủ những ý nghĩa, vai trò của môi trường sinh thái đối với cuộcsống Do hàng loạt những lý do khác nhau, cả khách quan và chủ quan, conngười - mét cách vô tình hay hữu ý, đã và đang hủy hoại ngày càng nhiều hơnmôi trường sống của mình Tính nghiêm trọng của vấn đề này đã vượt rangoài phạm vi quốc gia, khu vực: trở thành một trong những vấn đề mangtính toàn cầu Trước những hồi chuông cảnh tỉnh về nguy cơ khủng hoảng,mất cân bằng sinh thái đã dóng lên, nếu con người không sớm có nhữngbiện pháp tích cực nhằm điều chỉnh có ý thức những hành vi, hoạt động của

Trang 2

mình theo hướng "thân thiện" môi trường chắc chắn sẽ phải trả giá đắt vàmọi sự hối hận, tiếc nuối - khi đó sẽ trở nên quá muộn màng

Mặc dù mới đang bước vào chặng đường đầu của quá trình "tăngtốc", đẩy mạnh nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội, song Việt Nam đã phảiđối mặt với những thách thức to lớn về mặt môi trường sinh thái Tất nhiên,khía cạnh nổi trội, tính chất và mức độ của các vấn đề môi trường biểu hiệnkhác nhau trên mỗi vùng lãnh thổ khác nhau, trong đó đáng chú ý nhất làkhu vực miền núi phía Bắc Do những đặc điểm tự nhiên điển hình (chiếmdiện tích lớn, địa hình nghiêng dần về phía đông và bị chia cắt mạnh…), cóthể nói rằng môi trường miền núi phía Bắc nước ta có vị trí, ý nghĩa đặcbiệt quan trọng, không chỉ trực tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xãhội của khu vực này, mà còn liên quan chặt chẽ tới sự phát triển của cácvùng hạ lưu thuộc đồng bằng Bắc Bộ, trong đó có Thủ đô Hà Nội Thực tếcho thấy, sự phát sinh cũng như tính chất nghiêm trọng của hàng loạt vấn

đề liên quan đến môi trường sống ở khu vực miền núi phía Bắc đã tiệm cậnđến mức báo động đỏ Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đếntình trạng đó được xác định là do trình độ dân trí còn thấp, người dân ở cácvùng này đang phải chịu ảnh hưởng nặng nề của những phong tục, tậpquán, lối sống cũ, lạc hậu không còn phù hợp và những áp lực mạnh mẽcủa nhịp sống hiện đại vừa mới thâm nhập vào đây Ý thức, tư tưởng củangười dân chưa theo kịp với những thay đổi cơ bản trong các điều kiệnkinh tế - xã hội, trong đó đặc biệt là ý thức bảo vệ môi trường (hay cònđược gọi là ý thức sinh thái) Điều này được biểu hiện cụ thể ở những hành

vi ứng xử không còn phù hợp của con người đối với môi trường sống xungquanh mình Có thể khẳng định rằng, mọi sự cố gắng để cải thiện, bảo vệmôi trường sống ở miền núi phía Bắc sẽ khó đạt được hiệu quả như mongmuốn, chõng nào còn chưa tạo ra được sự chuyển biến tích cực, cách mạng

Trang 3

trong nhận thức của người dân Bởi vì, Ph Ăngghen đã nhận xét: Tất cả cái

gì thúc đẩy con người hành động, đều tất nhiên phải thông qua đầu óc của

họ Điều đó cho thấy, việc nghiên cứu: Vấn đề xây dựng ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho đồng bào các dân téc miền núi phía Bắc nước ta hiện

nay để hướng đến một sự phát triển bền vững là rất cần thiết, có ý nghĩaquan trọng cả về phương diện lý luận, lẫn phương tiện thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Xuất phát từ giá trị vô cùng to lớn của môi trường đối với sự tồn tại,phát triển của con người và xã hội loài người, bảo vệ môi trường trở thànhvấn đề chung của toàn cầu và là khẩu hiệu hành động của thời đại Chính vìvậy, nhiều cuộc hội nghị, hội thảo khoa học ở các cấp độ quốc tế, khu vực

và quốc gia về bảo vệ môi trường đã được tiến hành, nhiều tổ chức, cáccông ước quốc tế, nghị định thư và chương trình nghiên cứu môi trườngđược xây dựng, triển khai hoạt động

Ở Việt Nam, vấn đề bảo vệ môi trường được Đảng, Nhà nước vàcác nhà khoa học đặc biệt quan tâm, nhất là kể từ khi đất nước bước vàothời kỳ đổi mới và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Cùng với sự rađời của Luật bảo vệ môi trường (năm 1993), hàng loạt văn bản dưới luậtliên quan đến vấn đề này được ban hành và tổ chức thực hiện trên phạm vi

cả nước Đặc biệt, tại Hội nghị khoa học toàn quốc về môi trường được tổchức lần thứ nhất vào năm 1998 và nhiều hội nghị, hội thảo cấp quốc giakhác, các nhà khoa học và lãnh đạo Sở Khoa học - Công nghệ - Môi trườngcác địa phương đã phân tích khá chi tiết hiện trạng môi trường với nhữngbiểu hiện đa dạng của nó, đề xuất những giải pháp nhằm ngăn chặn thảm

họa môi trường có thể xảy ra Chỉ thị về "Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa" của Bộ Chính trị Ban

Trang 4

chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 6/1998 đã góp phầntích cực vào việc đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường ở nước ta

Ngoài ra, có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về môi trườngđược đăng tải dưới các hình thức bài tạp chí, sách chuyên khảo Có thể kể

đến một số công trình của các tác giả sau: "Môi trường sinh thái, vấn đề và giải pháp" của Phạm Thị Ngọc Trầm, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997;

"Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong sự phát triển xã hội" của

tập thể tác giả do Hồ Sĩ Quý chủ biên, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội, 2001;

"Môi trường và ô nhiễm" của Lê Văn Khoa, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1995;

"Sinh thái và môi trường" của Nguyễn Văn Tuyên, Nxb Giáo dục, Hà Nội

và giải pháp phát triển vùng núi phía Bắc Việt Nam", của Vương Duy Quang về "Quan hệ xã hội truyền thống của người H'Mông với vấn đề bảo

vệ và phát triển vùng núi cao phía Bắc Việt Nam" (Được đăng tải trong

"Tuyển tập các báo cáo khoa học tại Hội nghị môi trường toàn quốc 1998",Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1999)

Tuy nhiên, các vấn đề liên quan đến môi trường miền núi phía BắcViệt Nam được tiếp cận và giải quyết dưới góc độ kinh tế - xã hội hơn là từmột góc độ có tính khái quát, toàn diện hơn, góc độ triết học - xã hội Hơnnữa, một mảng rất quan trọng của vấn đề trên là ý thức bảo vệ môi trường

Trang 5

sinh thái của đồng bào các dân téc miền núi phía Bắc hiện nay như thế nào,

có đáp ứng được yêu cầu không còn chưa được nghiên cứu đầy đủ, hệthống Có thể nói, mọi hậu quả về mặt môi trường sinh thái ngày nay, xétđến cùng, là do sự kém hiểu biết của con người gây ra Từ đó suy ra, mọi

sự cố gắng và nỗ lực của con người nhằm giải quyết vấn đề này chỉ đạthiệu quả đích thực và thành công khi tất cả họ - không trừ một ai - thực sự

có ý thức tham gia bảo vệ môi trường sinh thái Vì vậy, góp phần vào việcgiải quyết vấn đề môi trường sinh thái ở vùng núi phía Bắc từ khía cạnhxây dựng ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho đồng bào các dân téc khuvực này là cần thiết Đó cũng là lý do chủ yếu để chúng tôi chọn và triểnkhai đề tài này trong luận văn thạc sĩ triết học của mình

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích:

Từ bình diện triết học xã hội, luận văn làm rõ thực trạng ý thức củađồng bào các dân téc miền núi phía Bắc trong việc bảo vệ môi trường,đồng thời đưa ra một số giải pháp cơ bản, có tính định hướng đối vớiviệc xây dựng ý thức bảo vệ môi trường cho đồng bào các dân téc ởvùng lãnh thổ này

- Nhiệm vụ: Với mục đích trên, luận văn phải giải quyết các nhiệm

vụ sau:

+ Một là, dùa trên quan điểm mác-xít về mối quan hệ biện chứng

giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, luận văn phân tích và làm rõ ý nghĩa,tính tất yếu của việc xây dựng ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho nhândân hướng tới mục tiêu phát triển bền vững

Trang 6

+ Hai là, phân tích thực trạng ý thức của đồng bào các dân téc miền

núi phía Bắc nước ta trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, chỉ ra nhữngnguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng đó

+ Ba là, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng ý thức

bảo vệ môi trường sinh thái cho đồng bào các dân téc miền núi phía Bắc

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài vấn đề

xây dựng thức bảo vệ môi trường trong đời sống xã hội và phát triển kinh

tế hiện nay

- Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của luận văn là xây

dựng ý thức bảo vệ môi trường của đồng bào các dân téc vùng núi phíaBắc

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Luận văn được triển khai dùa trên cơ sở những

quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các vănkiện của Đảng về vấn đề môi trường sống; đồng thời có sự kế thừa kết quảnghiên cứu điều tra của các nhà khoa học đi trước có liên quan đến đề tàiluận văn

- Phương pháp nghiên cứu: Để giải quyết các nhiệm vụ của luận

văn, qua đó đạt được mục đích đã đặt ra, luận văn sử dụng các phươngpháp phân tích và tổng hợp, lôgic và lịch sử, đối chiếu, so sánh trên cơ sởphép biện chứng duy vật

6 Đóng góp mới của luận văn

- Thông qua việc phân tích những vấn đề môi trường đặt ra, luậnvăn góp phần làm rõ thêm sự yếu kém trong ý thức của đồng bào các dân

Trang 7

téc miền núi phía Bắc đối với yêu cầu bảo vệ môi trường sinh thái và một

số nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó

- Luận văn góp phần xác định và luận chứng một số giải pháp cơbản nhằm xây dựng ý thức bảo vệ môi trường sinh thái của đồng bào dântéc các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nộidung của luận văn gồm 3 chương 6 tiết

Trang 8

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ Ý THỨC BẢO

VỆ MÔI TRƯỜNG

vµ ý thøc b¶o vÖ m«i trêng

1.1 Môi trường và vai trò của nó đối với cuộc sống của con người

1.1.1 Khái niệm về môi trường

Nhân loại hiện đã và đang phải đối mặt với hàng loạt vấn đề cấpbách mang tính toàn cầu Một trong số đó là vấn đề môi trường sống Nhữngtình trạng đáng báo động như nạn cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễmmôi trường sống, suy giảm tính đa dạng sinh học và mất cân bằng sinh thái đang đe dọa trực tiếp sự tồn tại, phát triển của con người và xã hội loàingười Vì vậy, nhiều tổ chức quốc tế, nhiều nguyên thủ quốc gia và các nhàkhoa học trên khắp thế giới đã lên tiếng cảnh báo về mức độ nghiêm trọng,

sự tiếp tục gia tăng theo chiều hướng xấu của những vấn đề môi trường

Vậy, khái niệm môi trường là gì? Trước hết, cần phải khẳng địnhrằng, đây là một khái niệm rộng và tương đối phức tạp Chính vì vậy, tùythuộc vào cách nhìn nhận mối quan hệ của thực thể (sinh thể) với các điềukiện xung quanh và phạm vi xem xét, nghiên cứu, khái niệm môi trườngđược hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau:

Thứ nhất, môi trường được hiểu là toàn bộ thế giới vật chất, với tất

cả sự đa dạng, muôn màu muôn vẻ của nó và luôn tồn tại khách quan Môitrường hiểu theo nghĩa như vậy thường được gọi là môi trường toàn cầu,môi trường trái đất và những điều kiện bao quanh trái đất Nó bao gồm khíquyển, thủy quyển và thạch quyển (địa quyển)

Trang 9

Thứ hai, môi trường được hiểu là môi trường sống, là phần của thế

giới vật chất đã và đang tồn tại sự sống, hay còn được gọi là sinh quyển.Môi trường sống bao gồm trong đó những điều kiện vô cơ và hữu cơ liênquan trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự tồn tại, phát triển của các sinh thể

Thứ ba, môi trường sống còn được hiểu là môi trường sống của con

người và xã hội loài người Nó bao gồm sinh quyển và những điều kiện xãhội Nói cách khác, đó là môi trường tự nhiên - xã hội, hay môi trường tựnhiên - người hóa, môi trường sinh thái nhân văn

Trên thực tế, cho đến nay, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu,

cả trên thế giới và ngay tại Việt Nam, bàn đến các khía cạnh của vấn đề này

và đề xuất những cách định nghĩa khác nhau về khái niệm môi trường.Năm 1981, Tổ chức giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) đã đưa ra một

định nghĩa về khái niệm này như sau: Môi trường bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và nhân tạo, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác những tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo để thỏa mãn những nhu cầu của mình Ở nước ta, một số tác giả, từ những góc

độ tiếp cận khác nhau, cũng đã đưa ra quan niệm của mình về vấn đề này.Chẳng hạn, khi bàn đến khái niệm môi trường, có ý kiến cho rằng, đứng vềmặt địa sinh học thì "môi trường là tất cả các yếu tố chung quanh, bao gồmcác nhân tố vô sinh và hữu sinh ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đếncuộc sống, sự phát triển và sự sinh sản của các sinh vật" Song, tác giả củaquan điểm trên cũng nhấn mạnh rằng, đối với "môi trường của con người"thì cần phải được hiểu theo nghĩa rộng hơn Nó bao gồm toàn bộ hệ thống

tự nhiên và những gì do con người sáng tạo ra như các hệ sinh thái nhântạo, những nhóm và những hội môi trường văn hóa trong đó con ngườisống và khai thác bằng lao động của mình, những nguồn lợi tự nhiên vànhân tạo cho phép thỏa mãn những nhu cầu của con người [xem: 23, tr 7]

Trang 10

Cũng có ý kiến cho rằng, môi trường là tất cả các yếu tố xungquanh gồm vô sinh, hữu sinh, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộcsống con người, đến sự tồn tại phát triển của các sinh vật sống Môi trườngbao gồm hai mặt: Môi trường tự nhiên và môi trường xã hội [xem: 46, tr.142]

Tác giả khác, khi xác định nội dung của khái niệm môi trường, lại

nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa môi trường và cơ thể sinh vật sống trong

môi trường đó Theo ý kiến này, hiểu theo nghĩa rộng thì môi trường baogồm tất cả những gì ở xung quanh một đối tượng và có mối quan hệ nhấtđịnh với nó Nếu đối tượng đó là một cơ thể sinh vật thì môi trường là tất

cả những gì trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển

và sự tồn tại của cơ thể đó Ngược lại, cơ thể đó cũng luôn tác động trở lạiđến môi trường Vì vậy, cơ thể sống và môi trường có mối quan hệ qua lạivới nhau, tạo thành một thể thống nhất [xem: 13, tr 240-245] Mét quanniệm khác cho rằng: "Môi trường là một tập hợp các điều kiện vật lý vàsinh học bên ngoài mà sinh vật tồn tại trong đó Môi trường của con ngườibao gồm cả các lĩnh vực tù nhiên, xã hội, công nghệ, kinh tế chính trị, đạođức, văn hóa, lịch sử và mỹ học" [42, tr 16]

Dùa vào những cách hiểu trên và từ góc độ triết học xã hội, theo

chúng tôi, có thể định nghĩa khái niệm môi trường như sau: Môi trường là một khái niệm dùng để chỉ toàn bộ những điều kiện bao quanh một thực thể (sinh thể) hay một nhóm thực thể nào đó, giữa những điều kiện bao quanh và thực thể luôn tồn tại những mối quan hệ, ảnh hưởng và tác động lẫn nhau Đối với con người và xã hội loài người, các điều kiện bao quanh

đó không chỉ là những điều kiện tự nhiên mà còn bao gồm cả các điều kiện

xã hội Như vậy, nói đến bảo vệ môi trường là nói đến môi trường sinh tháinhân văn - môi trường sống của con người và xã hội loài người Con người

Trang 11

ở đây phải được hiểu trên cả hai mặt: là một thực thể tự nhiên có nhữngnhu cầu sống như mọi sinh vật khác, đồng thời là một thực thể xã hội, mà

xã hội chính là một bộ phận không thể tách rời của giới tự nhiên

Tóm lại, có thể thấy rằng, khái niệm môi trường sống của conngười và xã hội loài người rất rộng, trong đó bao hàm cả các điều kiện tựnhiên lẫn những điều kiện xã hội Thực tế, con người - theo đúng nghĩa của từnày - không chỉ sống bằng những nhu cầu mang tính bản năng tự nhiên,hơn thế, còn tồn tại, phát triển trong hàng loạt mối quan hệ xã hội đa dạng

và phong phó Tuy nhiên, với phạm vi của một luận văn, vấn đề môi trường

mà chúng tôi đề cập đến ở đây trước hết và chủ yếu giới hạn ở khía cạnh các điều kiện tự nhiên Nói cách khác, với tư cách là một khái niệm công

cụ, khái niệm môi trường được sử dụng trong luận văn chủ yếu theo nghĩa

là môi trường tự nhiên

1.1.2 Vai trò của môi trường đối với đời sống của con người và

xã hội loài người

Như chóng ta đã biết, tự nhiên, con người và xã hội là các yếu tốthống nhất trong một chỉnh thể không tách rời Trong hệ thống đó, khó cóthể xác định rằng yếu tố nào là quan trọng nhất Trên thực tế, mỗi yếu tốđều có vị trí và vai trò nhất định Trong mối quan hệ chặt chẽ và sự tácđộng qua lại giữa xã hội và tự nhiên, yếu tố tự nhiên có ảnh hưởng rất tolớn đối với sự tồn tại, phát triển của con người cũng như của xã hội loàingười Trái lại, sự tác động của các yếu tố con người và xã hội ngày càngđóng vai trò quan trọng, mang tính quyết định đối với sự biến đổi, chiềuhướng biến đổi (tích cực hay tiêu cực, phù hợp hay không phù hợp với quyluật khách quan) của tự nhiên Và do vậy, sự tác động của con người và xã

Trang 12

hội đến tự nhiên còn quyết định luôn cả sự tồn tại, phát triển của chính bảnthân mình.

Có thể hiểu một cách khái quát rằng, "tự nhiên là môi trường sốngcủa con người và xã hội loài người, là điều kiện đầu tiên, thường xuyên vàtất yếu của quá trình sản xuất ra của cải vật chất, là một trong những yếu tố

cơ bản nhất của tồn tại xã hội" [39, tr 68]

Đối với con người và xã hội loài người, môi trường tự nhiên có mộtgiá trị vô cùng to lớn, không thể thay thế: Nó vừa là nơi tồn tại, sinh trưởng

và phát triển, vừa là nơi con người lao động và hưởng thụ những giá trị vănhóa vật chất và tinh thần do sù lao động đó tạo nên Theo sự phân tích,đánh giá của UNESCO, môi trường tự nhiên - đối với con người - có bachức năng cơ bản:

Thứ nhất, môi trường tự nhiên là nơi cung cấp các nguồn tài nguyên

cần thiết đối với sự tồn tại, phát triển của con người và xã hội loài người

Thứ hai, nã là nơi thu nhận các hoạt động của con người nhằm phục

vụ cho các nhu cầu về đời sống vật chất, tinh thần cho con người

Thứ ba, môi trường tự nhiên còn là nơi đồng hóa các chất thải do

kết quả của các hoạt động đó [xem: 23, tr 7]

Thực tế cho thấy, con người muốn tồn tại và phát triển không thểkhông cần đến những điều kiện cần thiết đối với sự sống như nước, ánhsáng, không khí, thức ăn Xã hội loài người cũng không thể phát triển nếukhông có những nguồn tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản và các nguồnnguyên vật liệu quan trọng khác Chỉ có tự nhiên mới có khả năng cung cấpcho con người tất cả những điều kiện vật chất cần thiết đó Quan hệ giữacon người với môi trường tự nhiên, do vậy, là "quan hệ máu thịt" Môitrường là cơ sở tự nhiên của đời sống con người, là tiền đề của nền sản xuất

Trang 13

xã hội; mặc dù không giữ vai trò quyết định song nó có ảnh hưởng quantrọng đến sự phát triển xã hội Trong "Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844",khi đánh giá vị trí, vai trò của tự nhiên đối với sự phát triển của con người

và xã hội, C Mác đã khẳng định:

Công nhân không thể sáng tạo ra cái gì nếu không có giới

tự nhiên, nếu không có thế giới hữu hình bên ngoài Đó là vật

liệu, trong đó lao động của anh ta được thực hiện, trong đó hoạtđộng lao động của anh ta triển khai, từ đó và nhờ đó, lao độngcủa anh ta sản xuất ra sản phẩm Giới tự nhiên cung cấp cho lao

động tư liệu sinh hoạt theo nghĩa là không có vật để cho lao động tác động vào thì lao động không thể sống được; mặt khác, chính giới tự nhiên cũng cung cấp tư liệu sinh hoạt theo nghĩa hẹp hơn, nghĩa là cung cấp tư liệu để tồn tại về thể xác cho bản thân người công nhân [20, tr 130].

Sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại trongthời đại ngày nay đã mang lại cho con người những khả năng và sức mạnh

to lớn, cho phép con người có thể tạo ra những vật liệu mới, mà nguyênliệu để sản xuất vốn không có sẵn trong tự nhiên Tuy nhiên, xét đến cùng,những thành phần để tạo nên những vật liệu mới đó cũng không thể lấy từđâu khác ngoài giới tự nhiên Điều đó chứng minh rằng, tự nhiên luôn đóngvai trò là tiền đề, điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của conngười Dẫu rằng khi xã hội loài người còn ở trong giai đoạn tiền sử, môngmuội hay đã phát triển đến trình độ văn minh, hiện đại như ngày nay (và sẽtiếp tục phát triển hơn nữa) thì vai trò đó của tự nhiên vẫn không thể thaythế, không bị mất đi

Như vậy, tự nhiên là môi trường sống không thể thay thế của conngười và xã hội loài người - đó là điều chắc chắn và không có gì phải bàn

Trang 14

cãi Song, cần phải thấy là vai trò đó của tự nhiên có tính lịch sử cụ thể.Nghĩa là vai trò của tự nhiên không phải là bất biến trong mỗi giai đoạn,mỗi thời đại khác nhau của tiến trình lịch sử; trái lại, nó có thay đổi cùngvới sự vận động, phát triển của xã hội loài người, trước hết là sự phát triểncủa lực lượng sản xuất Trong giai đoạn mà lực lượng sản xuất của xã hộicòn lạc hậu, thấp kém , giàu có và phong phú và đa dạng của các nguồntài nguyên thiên nhiên như đất đai, khoáng sản có ảnh hưởng rất lớn,thậm chí đóng vai trò hàng đầu đối với sự phát triển của xã hội Song, kể từkhi xã hội loài người bước vào nền văn minh công nghiệp và hậu côngnghiệp, trong đó khoa học, kỹ thuật và công nghệ phát triển và dần dần trởthành lực lượng sản xuất trực tiếp thì sự phát triển của xã hội bắt đầu diễn

ra theo một hướng mới, tiến bộ hơn Nhờ có sự phát triển mạnh mẽ củakhoa học kỹ thuật và công nghệ, con người đã làm nên những điều kỳ diệu,biến cái tưởng chõng như không thể trở thành cái có thể Sự phát triển của

xã hội, do vậy, dường như Ýt phụ thuộc hơn vào sự giàu có hay nghèo nàncác nguồn tài nguyên Thực tế cho thấy, nhiều nước công nghiệp như NhậtBản, Hàn Quốc và mét số nước Tây Âu, mặc dù rất nghèo tài nguyên vàkhông có được những điều kiện tự nhiên thuận lợi khác, song, dùa vào nềnkhoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, họ đã đạt được tốc độ tăng trưởngkinh tế rất cao và trở thành nhóm nước đứng đầu thế giới về nhiều tiêu chíkinh tế - xã hội như mức độ giàu có, thu nhập bình quân đầu người Tráilại, có nhiều nước khác, tuy được thiên nhiên ưu đãi về nhiều mặt nhưkhoáng sản, khí hậu, vị trí địa lý nhưng lại vẫn chưa thoát khỏi tìnhtrạng nghèo nàn, lạc hậu

Nhưng, như vậy cũng không có nghĩa là vai trò của tự nhiên đối vớicuộc sống con người và sự phát triển của xã hội loài người đang bị thu hẹpdần Thực ra, dù rằng xã hội có phát triển tới trình độ hiện đại đến đâuchăng nữa, con người cũng không thể tách khỏi tự nhiên, biệt lập với tự

Trang 15

nhiên; không thể gạt tự nhiên đứng bên lề cuộc sống của mình Trái lại, xãhội càng phát triển, con người càng cần đến tự nhiên, càng gắn bó với nónhiều hơn "Bởi lẽ, những thành phần vốn có của tự nhiên không những lànhững yếu tố cần thiết đối với sự sống của con người, mà còn là nhữngnguồn tài lực vô cùng tận cho sự phát triển của xã hội, nếu như con ngườibiết khai thác và sử dụng nó một cách khôn khéo, hợp lý" [39, tr 72]

Tự nhiên vừa là nguồn cung cấp tài nguyên, vừa là nơi thu nhận các hoạt động của con người nhằm cải biến những tài nguyên đó thành các

giá trị vật chất và tinh thần phục vụ sự tồn tại, phát triển của con người, xãhội Như chúng ta đã biết, với các loài động vật khác chỉ biết lấy từ tựnhiên những sản phẩm có sẵn như một hành vi kiếm sống mang tính bảnnăng, tự nhiên Trái lại, con người là một một sản phẩm hoàn thiện nhấtcủa tự nhiên, là loại động vật cao cấp, có ý thức Con người, như quan niệmcủa triết học mác-xít, vừa là một thực thể tự nhiên, vừa là một thực thể xãhội Con người không chỉ biết sử dụng những sản phẩm sẵn có của tự nhiênnhư giai đoạn sơ khai trong lịch sử hình thành và phát triển, mà còn tácđộng vào tự nhiên, cải tạo tự nhiên vì những lợi Ých của mình Do vậy, tựnhiên còn là môi trường diễn ra các hoạt động sống của con người, trướchết là hoạt động lao động sản xuất, và nhờ vậy, con người duy trì được sựtồn tại, phát triển của chính bản thân mình

Tồn tại trong một chỉnh thể thống nhất, các yếu tố tự nhiên, con người

và xã hội luôn liên hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau Hoạt động của conngười là một quá trình "trao đổi chất" thường xuyên giữa con người với tựnhiên Trong tác phẩm "Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844", C Mácviết:

Giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người Con người sống bằng giới tự nhiên Như thế nghĩa là giới tự nhiên là

Trang 16

thân thể của con người, thân thể mà với nó con người phải ở lại

trong quá trình thường xuyên giao tiếp để tồn tại Nói rằng đờisống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tựnhiên, nói như thế chẳng qua chỉ có nghĩa là giới tự nhiên gắnliền với bản thân giới tự nhiên, vì con người là một bộ phận củagiới tự nhiên [20, tr 135]

Thực tế cho thấy, kể từ bắt đầu lịch sử của mình và cho đến chõngnào còn tồn tại, xã hội loài người phải:

Gắn bó với tự nhiên nhờ có các dòng vật chất, năng lượng

và thông tin, nhờ có sự kết hợp giữa lao động với thiên nhiên.Thông qua quá trình hoạt động thực tiễn, trước hết là quá trìnhlao động sản xuất ra của cải vật chất, con người đã nhận được cácdòng vật chất, năng lượng và thông tin từ môi trường tự nhiên,biến đổi chúng cho phù hợp với nhu cầu sống của mình, với sự

tồn tại và phát triển của xã hội Nền sản xuất xã hội là phương thức trao đổi chất đặc thù giữa xã hội và tự nhiên, thông qua chu trình sinh học [39, tr 72]

Thông qua quá trình sản xuất, con người đã tác động vào tự nhiên,khai thác và lấy đi từ tự nhiên những nguồn tài nguyên cần thiết, cải biếnchúng phục vụ nhu cầu sống của bản thân mình cũng như sự phát triển của

xã hội Do vậy, sản xuất là một biểu hiện đặc trưng của mối liên hệ chặtchẽ giữa tự nhiên và xã hội Trong sự tác động đó, lao động của con người,một mặt, là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt con người với con vật, xãhội loài người với thế giới động vật; mặt khác, là yếu tố cơ bản nhất tạonên sự thống nhất, gắn kết hữu cơ giữa xã hội và tự nhiên Nhận xét về ýnghĩa của lao động - hành vi đầu tiên và quan trọng nhất của con người, C.Mác nhấn mạnh rằng: "Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa

Trang 17

con người và tự nhiờn, một quỏ trỡnh trong đú, bằng hoạt động của chớnhmỡnh, con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa

của xã hội Do vậy, sản xuất là một biểu hiện đặc trng của mối liên hệchặt chẽ giữa tự nhiên và xã hội Trong sự tác động đó, lao động của conngời, một mặt, là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt con ngời với convật, xã hội loài ngời với thế giới động vật; mặt khác, là yếu tố cơ bảnnhất tạo nên sự thống nhất, gắn kết hữu cơ giữa xã hội và tự nhiên Nhậnxét về ý nghĩa của lao động - hành vi đầu tiên và quan trọng nhất củacon ngời, C Mác nhấn mạnh rằng: "Lao động trớc hết là một quá trìnhdiễn ra giữa con ngời và tự nhiên, một quá trình trong đó, bằng hoạt độngcủa chính mình, con ngời làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao

đổi chất giữa họ và tự nhiên" [18, tr 266]

Khụng chỉ là nguồn cung cấp năng lượng vật chất cho sự tồn tại,phỏt triển của con người và xó hội, mụi trường tự nhiờn cũn là khụng giandiễn ra cỏc hoạt động sống quan trọng khỏc của con người như nghỉ ngơi,cảm nhận và hưởng thụ những giỏ trị văn húa thẩm mỹ, những nột đẹpcũng như sự tinh tế của tạo húa Sống trong một mụi trường tự nhiờn hàihũa và đa dạng, con người sẽ cú một đời sống tinh thần phong phú, trongsỏng Nú làm cho con người thấy cuộc sống cú ý nghĩa và đỏng yờu hơn

Trong quỏ trỡnh trao đổi chất giữa con người và tự nhiờn, con ngườikhụng chỉ nhận từ tự nhiờn những nguồn năng lượng cần thiết cho sự tồntại, phỏt triển của mỡnh và xó hội mà cũn thải vào tự nhiờn cỏc chất thải củahoạt động sản xuất, sinh hoạt Núi cỏch khỏc, mụi trường tự nhiờn khụngchỉ là nguồn cung cấp cỏc điều kiện sống mà cũn đúng vai trũ là nơi đồnghúa cỏc phế thải do con người thải ra Người ta khụng thể hỡnh dung đượcrằng, giả sử lượng chất thải khổng lồ do cỏc hoạt động sản xuất, sinh hoạt

Trang 18

của con người, từ trước tới nay, không được xử lý mà cứ tích tụ lại thì cuộcsống của con người sẽ ra sao May mắn thay, điều đó đã không xảy ra, Ýtnhất là cho đến nay Bản thân tự nhiên có cơ chế tự điều chỉnh và làm sạchcủa nó Chính là nhờ chức năng quan trọng này của môi trường tự nhiên màcon người và xã hội loài người đã không phải sống ngập chìm bên cạnhhàng loạt chất thải bá

Cũng cần phải thấy rằng, tác động của con người, xã hội đối với tựnhiên càng mạnh thì sự phụ thuộc của nó vào tự nhiên càng lớn Đây là vấn

đề có tính quy luật của sự tác động qua lại giữa tự nhiên và xã hội Thực tếcho thấy, từ chỗ nhận thức chưa đúng về vai trò của tự nhiên, coi tự nhiên

là kho của cải vô tận có thể mặc sức sử dụng, con người đã tác động mạnh

mẽ vào tự nhiên thông qua hoạt động sản xuất và để lại những hậu quả tolớn nhiều khi không thể lường trước mức độ cũng như tính chất nghiêmtrọng của nó Trong quá trình sản xuất, tiêu dùng , hoạt động của conngười không được kiểm soát chặt chẽ, điều chỉnh phù hợp với quy luật kháchquan Do vậy, sự gia tăng các hoạt động của con người đã tạo nên một sức

Ðp vô cùng lớn đối với tự nhiên, vượt khỏi khả năng chịu đựng của nó.Điều này thể hiện ở chỗ, với trình độ phát triển như hiện nay, nền sản xuất

xã hội có thể sử dụng hầu hết toàn bộ các nguồn vật chất vốn có của sinhquyển, biến chúng thành nguyên liệu sản xuất và các dạng sản phẩm tiêudùng trong xã hội Không một dạng vật chất nào mà nhận thức của conngười biết tới lại không được khai thác, huy động Mặt khác, xét từ góc độsinh thái học, hiệu quả mà nền sản xuất xã hội - dù đạt được trình độ pháttriển cao như hiện nay, mang lại vẫn rất thấp Trên thực tế, nền sản xuất xãhội đã sử dụng một cách hết sức lãng phí những nguồn tài nguyên thiênnhiên, kể cả những nguồn tài nguyên có thể và không thể tái tạo được Đồngthời, nền sản xuất xã hội lại đổ vào tự nhiên một lượng phế thải quá lớn, hơnnữa, còn độc hại và nguy hiểm Sự phát triển của hoạt động sản xuất, và do

Trang 19

đó, của hoạt động tiêu dùng trong xã hội, một mặt, đã khiến cho nhiều loại tàinguyên quý giá - vốn được tạo hóa tích lũy từ hàng triệu năm, đứng trướcnguy cơ cạn kiệt, khan hiếm; mặt khác, gây ra tình trạng ô nhiễm, mất cânbằng sinh thái

Như vậy, có thể nói rằng, sự mở rộng, đẩy mạnh các hoạt động sảnxuất của con người cả về quy mô, cường độ dùa trên sự phát triển ngàycàng cao của lực lượng sản xuất xã hội đã mang lại cho xã hội những lợiÝch vật chất to lớn, như lượng tài nguyên khai thác được ngày càng nhiều,nền kinh tế tăng trưởng ngày càng nhanh và với tốc độ cao Đó là những kỳtích không thể phủ nhận trong tiến trình chinh phục, cải biến tự nhiên vì lợiÝch vật chất của con người Nhưng, cũng không phải là quá cực đoan khicho rằng, bắt đầu từ chỗ tạo ra những cái được gọi là kỳ tích Êy, con người

và xã hội loài người đồng thời phải đối mặt với sự tiềm tàng của nhữnghiểm họa, nguy cơ và thách thức nghiệt ngã, nếu không nói là bi kịch, của

sự phát triển theo kiểu "tước đoạt", "bóc lột" tự nhiên

Tóm lại, môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với cuộc sốngcủa con người, với sự phát triển bền vững của các cộng đồng, các quốc gia.Đáng tiếc là, không phải bao giê và ở đâu con người cũng ý thức một cáchđúng đắn và đầy đủ vai trò không thể thay thế của tự nhiên Quan niệm mới

về sự phát triển, trong đó nguyên tắc chủ đạo là sự đồng tiến hóa giữa conngười và tự nhiên, đòi hỏi trong quá trình mưu cầu hạnh phóc của mình,con người không chỉ khai thác tự nhiên mà nhiệm vụ không kém phần quantrọng, thậm chí có ý nghĩa quyết định sự sống còn, là cần phải biết giữ gìn,bảo vệ môi trường tự nhiên; tạo lập môi trường nhân tạo phù hợp với quyluật khách quan của sự phát triển xã hội và tự nhiên, phù hợp với nhu cầucủa cuộc sống con người; xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa tự nhiên và

xã hội vì lợi Ých chung, lâu dài của xã hội loài người Để biến quan niệm

Trang 20

mới về sự phát triển trở thành hiện thực, trước hết con người cần phải có ý thức bảo vệ môi trường sinh thái.

1.2 Ý thức bảo vệ môi trường và ý nghĩa của việc xây dựng ý thức bảo vệ môi trường

1.2.1 Ý thức xã hội và ý thức bảo vệ môi trường

ĐÓ có sự nhận thức đúng đắn về ý thức bảo vệ môi trường, trướchết, cần phải trở lại với những quan niệm của triết học mác-xít về các kháiniệm cơ bản như ý thức, ý thức xã hội

Theo quan niệm của triết học mác-xít, ý thức là sản phẩm đặc biệtcủa sự tác động qua lại giữa hai hệ thống vật chất: con người và thế giớihiện thực khách quan Ý thức chỉ có thể là ý thức của con người, được hìnhthành và phát triển thông qua lao động và ngôn ngữ Nói cách khác, nguồngốc trực tiếp quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức chính là thực tiễn

xã hội C Mác và Ph Ăngghen đã khẳng định rằng, "ý thức không bao giê

có thể là cái gì khác hơn là tồn tại được ý thức và tồn tại của con người làquá trình sinh sống hiện thực của con người" [19, tr 37] Ý thức chính là sựphản ánh tự giác hiện thực khách quan, hay nói như Lênin, ý thức là hìnhảnh chủ quan của thế giới khách quan

Vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng vàonghiên cứu lĩnh vực đời sống xã hội, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác

đã chỉ ra rằng, ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội, ý thức xã

hội bao gồm những quan điểm, tư tưởng, tình cảm, truyền thống nảy sinh

từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triểnnhất định Giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội có mối quan hệ biện chứng,tác động qua lại lẫn nhau Trong đó, tồn tại xã hội đóng vai trò là cái thứnhất, quyết định ý thức xã hội Nghĩa là, khi tồn tại xã hội thay đổi, sớm

hay muộn, ý thức xã hội cũng thay đổi theo Về vấn đề này, trong Lời tựa

Trang 21

cuốn "Gúp phần phờ phỏn khoa kinh tế chớnh trị", C Mỏc viết: "Phương thứcsản xuất đời sống vật chất quyết định cỏc quỏ trỡnh sinh hoạt xó hội, chớnhtrị và tinh thần núi chung Khụng phải ý thức của con người quyết định tồntại của họ; trỏi lại, tồn tại xó hội của họ quyết định ý thức của họ" [16, tr 15].

í nghĩa đặc biệt quan trọng rút ra từ luận điểm khoa học trờn đõy của C.Mỏc là ở chỗ, người ta chỉ cú thể truy tỡm và giải thớch đỳng đắn đượcnguồn gốc hay nguyờn nhõn của ý thức xó hội từ trong chớnh

C Mác là ở chỗ, ngời ta chỉ có thể truy tìm và giải thích đúng đắn đợc

nguồn gốc hay nguyên nhân của ý thức xã hội từ trong chính những điều kiện sinh hoạt vật chất đó sản sinh ra nó

Khi khẳng định vai trũ quyết định của tồn tại xó hội đối với ý thức

xó hội, triết học Mỏc cũng nhấn mạnh rằng, ý thức xó hội khụng phụ thuộcvào tồn tại xó hội một cỏch thụ động mà cú tớnh độc lập tương đối của nú.Điều này được biểu hiện qua cỏc khớa cạnh sau:

Một là, ý thức xó hội cú thể "vượt trước" sự phỏt triển của tồn tại xó

hội Sự phản ỏnh vượt trước này sẽ mang ý nghĩa tớch cực, sỏng tạo nếuphản ỏnh được cỏi lụgớc khỏch quan của tồn tại xó hội; ngược lại, sẽ là ảotưởng, duy ý chớ khi sự phản ỏnh đú chỉ là cảm nhận chủ quan, khụng dựatrờn cơ sở lụgớc của hiện thực

Hai là, ý thức xó hội thường lạc hậu hơn so với tồn tại xó hội Sự

lạc hậu của ý thức xó hội hoặc là do ý thức xó hội khụng phản ỏnh kịp sựphỏt triển của tồn tại xó hội, hoặc là do sức ỳ của tõm lý xó hội (thói quen,phong tục, tập quỏn, lối sống )

Ba là, ý thức xó hội cú tớnh kế thừa.

Bốn là, giữa cỏc hỡnh thỏi ý thức cú sự tương tỏc và ảnh hưởng

lẫn nhau

Trang 22

Năm là, ý thức xã hội có sự tác động trở lại đối với tồn tại xã hội

thông qua ý thức cá nhân của con người

Dùa trên cơ sở mối quan hệ giữa con người với xã hội và giữa conngười với tự nhiên, triết học mác-xít đã phân loại ý thức xã hội thành các

hình thái khác nhau Cụ thể, đó là các hình thái: chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, ý thức thẩm mỹ, ý thức tôn giáo và khoa học Mét vấn đề đặt

ra ở đây là, ý thức bảo vệ môi trường (hay ý thức sinh thái) là gì, nó có phải

là một hình thái của ý thức xã hội không và biểu hiện của nó như thế nàotrong thực tiễn đời sống xã hội?

Hiện nay, trong các công trình nghiên cứu khoa học, các văn bảnliên quan đến môi trường, chúng ta thường gặp các thuật ngữ như ý thứcsinh thái, ý thức bảo vệ môi trường Theo chúng tôi, các thuật ngữ, kháiniệm này là ngang bằng, tương đương nhau về mặt nội dung Có thể hiểu ý

thức bảo vệ môi trường (hay ý thức sinh thái) là sự nhận thức một cách tự giác của con người về tự nhiên và thái độ, trách nhiệm của con người đối với môi trường sinh thái được hình thành trên cơ sở những tri thức, sự hiểu

biết của con người về tự nhiên và vị trí, vai trò của con người trong mối

quan hệ với tự nhiên

Cần phải thừa nhận rằng rằng, cho đến nay, việc xác định ý thứcbảo vệ môi trường (hay ý thức sinh thái) có phải là một hình thái ý thức xãhội hay không vẫn đang là một vấn đề rất phức tạp Trong hệ thống cáchình thái của ý thức xã hội mà triết học Mác - Lênin đưa ra không có ý thứcsinh thái Song, có lẽ cũng không nên vì thế mà cho rằng nó không phải làmột dạng thức, một hình thái của ý thức xã hội Bởi vì, một mặt, những vấn

đề môi trường chỉ mới nảy sinh trong khoảng giữa thế kỷ XX; mặt khác,triết học Mác - Lênin, như các nhà kinh điển khẳng định, luôn luôn là một

hệ thống mở, đòi hỏi phải được thường xuyên bổ sung và phát triển

Trang 23

Trở lại vấn đề trên, chúng tôi tán thành với quan điểm của một sốtác giả khi cho rằng, xét về mặt nội dung, ý thức sinh thái chính là sự phảnánh của tồn tại sinh thái, tức là sự phản ánh mối quan hệ giữa con ngườivới tự nhiên ở một giai đoạn lịch sử nhất định, song, do mối quan hệ giữacon người với tự nhiên là một lĩnh vực rộng, bao trùm lên nhiều phươngdiện, khía cạnh khác của đời sống xã hội, nên ý thức sinh thái không phải làmột hình thái ý thức xã hội ngang bằng với các hình thái ý thức xã hội khác

như chính trị, đạo đức, khoa học , mà là mét hình thái đặc biệt của ý thức

xã hội, bao quát các hình thái ý thức xã hội khác [43, tr 20] Ý thức sinh

thái là một bộ phận của ý thức xã hội, vì về bản chất, chúng đều có chungđối tượng phản ánh là tồn tại xã hội và về hình thức phản ánh, ý thức sinhthái cũng bao gồm cả tư tưởng, tri thức, tình cảm của con người khi phảnánh hiện thực sinh thái

Trong đời sống xã hội, ý thức bảo vệ môi trường biểu hiện trênnhững khía cạnh cơ bản sau:

Một là, khía cạnh chính trị Như chúng ta đã biết, môi trường sống

là ngôi nhà chung của con người, xã hội loài người Những vấn đề môitrường hiện nay - dù là lớn hay nhỏ, dù xảy ra ở nơi này hay nơi khác, đã

và đang tác động một cách trực tiếp hay gián tiếp đến mỗi người, mỗi cộngđồng và quốc gia, dân téc Vì thế, nó là một vấn đề mang tính chất toàn cầu

và bảo vệ môi trường trở thành mối quan tâm chung của tất cả mọi người,của các tổ chức xã hội và các quốc gia trên thế giới Thực tế cho thấy, nếunhững vấn đề môi trường sinh thái tiếp tục gia tăng cả về phạm vi, quy mô

và tính chất nghiêm trọng mà không được ngăn chặn, khắc phục kịp thời

sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống con người, đến sự tồn tại vàphát triển của cả cộng đồng, quốc gia Do đó, nhiệm vụ bảo vệ môi trường

Trang 24

sinh thái trở thành mục tiêu và định hướng cho hoạt động chính trị của toànnhân loại, không loại trừ một quốc gia nào

Khía cạnh chính trị của ý thức bảo vệ môi trường sinh thái khôngchỉ tác động mạnh mẽ đến đời sống kinh tế, xã hội mà nó liên quan trựctiếp đến sự hình thành, phát triển của chính bản thân ý thức bảo vệ môitrường Quan niệm mới về sự phát triển bền vững, trong đó nguyên tắc cơbản là sự đồng tiến hóa giữa con người và tự nhiên, đòi hỏi con người phảichú ý, quan tâm nhiều hơn đến khía cạnh chính trị của ý thức sinh thái Bởi

lẽ, đó là một trong những cơ sở quan trọng tham gia vào sự điều chỉnh hoạtđộng của con người theo hướng tích cực, tự giác vì mục tiêu bảo vệ, gìngiữ và "chung sống thân thiện" với môi trường sinh thái

Hai là, khía cạnh pháp luật trong ý thức bảo vệ môi trường sinh

thái Trong bối cảnh môi trường sống của con người đã và đang đứng trướcnguy cơ bị khủng hoảng, mất cân bằng sinh thái , cần thiết phải có nhữngquy định thống nhất, chặt chẽ nhằm điều chỉnh hành vi của con người trongquá trình tác động vào môi trường tự nhiên Trên bình diện quốc tế, nhữngquy định chung đó là các công ước giữa các nước về môi trường (ví dụ nhưCông ước chung về thay đổi khí hậu của Liên hợp quốc, Công ước về đa dạngsinh học ); ở cấp độ quốc gia là các văn bản pháp luật (Luật bảo vệ môitrường năm 1993, Luật tài nguyên nước (1998), Luật khoáng sản năm1996 )

Pháp luật có vai trò hết sức quan trọng đối với việc bảo vệ môi trường,

là cơ sở, công cụ pháp lý để nhà nước quản lý và điều tiết các hoạt độngbảo vệ môi trường vì lợi Ých chung của các cộng đồng dân cư, của toàn xãhội Bằng pháp luật, với những quy định được thể hiện dưới hình thức vănbản và có hiệu lực khác nhau, nhà nước điều chỉnh việc bảo vệ môi trường,đáp ứng yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quyền

Trang 25

được sống trong môi trường trong sạch của mỗi người, mỗi cộng đồng vàtoàn dân téc Ở đây, ý thức pháp luật của công dân về bảo vệ môi trường cótầm quan trọng đặc biệt, nó thể hiện sự nhận thức của mỗi người và thái độcủa họ đối với các quy định chung của pháp luật.

Ba là, khía cạnh đạo đức của ý thức bảo vệ môi trường Ý thức bảo

vệ môi trường không chỉ biểu hiện trên các phương diện chính trị, phápluật, mà còn thông qua mặt đạo đức (đạo đức sinh thái) của đời sống xãhội Đạo đức sinh thái được hình thành trực tiếp từ mối quan hệ giữa conngười với tự nhiên, là một dạng đặc thù của đạo đức xã hội Đạo đức sinhthái là một hệ thống các nguyên tắc, chuẩn mực quy định và điều chỉnhhành vi ứng xử của con người đối với tự nhiên Trong lịch sử, nhiều quanđiểm đạo đức khác nhau đã xuất hiện và dẫn đến sự tồn tại của các quan

điểm đạo đức sinh thái khác nhau Quan niệm đạo đức duy sinh thái ở

phương Tây cho rằng cần phải tôn trọng toàn bộ sự sống và những yếu tốbảo đảm cho sự sống, hay toàn bộ cộng đồng sinh vật cùng với những điềukiện vật chất cần thiết cho sự tồn tại, phát triển của nó Theo quan niệm củatrường phái này, hành động của con người là tốt nếu nó bảo vệ sự ổn định,toàn vẹn và vẻ đẹp của cộng đồng sinh vật; ngược lại, hành động của conngười là xấu nếu nó phá vỡ trạng thái cân bằng, thống nhất vốn có của tựnhiên [xem: 4, tr 64] Quan niệm đạo đức sinh thái truyền thống ở phươngĐông lại dùa trên quan niệm "Thiên - Địa - Nhân nhất thể" Giá trị lớn nhấtđồng thời cũng là sự thể hiện có tính phổ biến nhất của đạo đức sinh thái

truyền thống là cái thiện Đó cũng là cơ sở của triết lý sống hài hòa với

thiên nhiên, theo cách "nương nhờ", "thuận" theo thiên nhiên

Dùa trên sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, của khoa học

kỹ thuật và công nghệ và đặc biệt là sức mạnh của con người, xã hội hiệnđại đã phát triển về mọi phương diện, với tốc độ nhanh chóng chưa từngthấy trong lịch sử Tuy nhiên, đó cũng là lúc mà hoạt động của con người

Trang 26

bắt đầu làm cho tự nhiên - cái "thân thể vô cơ" của mình bị tổn thươngtrước những áp lực nặng nề, vượt khỏi sức chịu đựng của nã Ý thức đượcđiều đó, nhiều tổ chức quốc tế, nhiều nhà khoa học đã gióng lên nhữnghồi chuông cảnh tỉnh con người về những hậu quả môi trường sinh thái Sự

"trừng phạt", "trả thù" của tự nhiên buộc con người, muốn tiếp tục tồn tại

và phát triển, phải quan tâm hơn đến khía cạnh đạo đức trong ý thức bảo vệmôi trường, phải hướng tới đạo đức sinh thái mới nhằm điều chỉnh mộtcách tự giác hoạt động của mình

Bốn là, khía cạnh văn hóa thẩm mỹ của ý thức bảo vệ môi trường.

Như trên đã nói, theo quan niệm của triết học mác-xít, con người không chỉ

là một thực thể sinh vật mà hơn thế, còn là một thực thể xã hội và bản chấtcủa nó là "tổng hòa các mối quan hệ xã hội" Thực tế, để tồn tại và pháttriển, con người - theo đúng nghĩa của từ này - không chỉ có nhu cầu đượcthỏa mãn về mặt đời sống vật chất, mặc dầu nó là tiền đề đầu tiên và cơ bản

nhất, mà còn có những nhu cầu về đời sống tinh thần Chính sự hài hòa và

những cái đẹp của thế giới tự nhiên là một bộ phận không thể thiếu trong

cuộc sống của con người Có thể nói, khía cạnh văn hóa thẩm mỹ của ý

thức bảo vệ môi trường là một giá trị định hướng khiến cho hoạt động cảitạo tự nhiên của con người, ngoài ý nghĩa tìm kiếm lợi Ých nhằm thỏa mãnnhu cầu vật chất, còn vươn tới thực hiện lý tưởng thẩm mỹ theo quy luậtcủa cái đẹp Nói cách khác, bảo vệ môi trường là hành động tự giác manglại những lợi Ých toàn diện, cả về vật chất lẫn tinh thần cho con người

1.2.2 Vai trò, ý nghĩa của việc xây dựng ý thức bảo vệ môi trường

đối với sự phát triển lâu bền

Như trên đã trình bày, ý thức xã hội có tính độc lập tương đối của

nó so với tồn tại xã hội Vì thế, nó không chỉ chịu sự quy định của tồn tại

xã hội, mà còn tác động trở lại đối với tồn tại xã hội Với tư cách là sự phản

Trang 27

ánh hiện thực sinh thái, là một dạng đặc biệt của ý thức xã hội, ý thức bảo

vệ môi trường có vai trò, ý nghĩa rất to lớn đối với sự phát triển Điều này

được biểu hiện tập trung trên một số khía cạnh sau:

Thứ nhất, ý thức bảo vệ môi trường là cơ sở điều khiển một cách tự giác (có ý thức) mối quan hệ giữa con người và tự nhiên.

Trong quá trình hoạt động thực tiễn, trước hết là hoạt động sảnxuất, con người đã tác động, cải biến tự nhiên một cách mạnh mẽ và thuđược từ tự nhiên lượng của cải vật chất ngày càng nhiều để đáp ứng nhucầu ngày càng tăng của con người và xã hội Với sự giúp đỡ của khoa học

kỹ thuật, của các công cụ ngày càng tinh xảo , sức mạnh chinh phục tựnhiên của con người đã gia tăng đáng kể Lôgíc tất yếu là tính thống nhất,cân bằng vốn có của tự nhiên bị phá vỡ Hậu quả là tự nhiên đã, đang và

sẽ tiếp tục trả thù con người vì những tác động vô ý thức mà con ngườigây ra cho nã

Là một nhà biện chứng duy vật, Ph Ăngghen cho rằng, trong giới

tự nhiên, không có cái gì xảy ra một cách đơn độc cả; trái lại, giữa các hiệntượng luôn có mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại lẫn nhau Vì vậy,theo ông:

Chóng ta không nên quá tự hào về những thắng lợi củachúng ta đối với giới tự nhiên Bởi vì cứ mỗi lần ta đạt được mộtthắng lợi, là mỗi lần giới tự nhiên trả thù lại chúng ta Thật thế,mỗi một thắng lợi, trước hết là đem lại cho chóng ta kết quả màchúng ta hằng mong muốn, nhưng đến lượt thứ hai, lượt thứ ba,thì nó lại gây ra những tác dụng hoàn toàn khác hẳn, khônglường trước được, những tác dụng thường hay phá hủy tất cảnhững kết quả đầu tiên của nó [17, tr 654]

Cảnh báo về những hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra, ông viết:

Trang 28

Nếu chóng ta đã phải trải qua hàng nghìn năm lao động mới

có thể, trong một chõng mực nào đó, đánh giá trước được những

hậu quả tự nhiên xa xôi của những hành động sản xuất của chúng

ta, thì chúng ta lại càng phải trải qua nhiều khó khăn hơn nữa,

mới có thể hiểu biết được những hậu quả xã hội xa xôi của những

ta nằm trong lòng giới tự nhiên, và tất cả sự thống trị của chúng

ta đối với tự nhiên là ở chỗ chúng ta, khác với tất cả các sinh vậtkhác, là chúng ta nhận thức được quy luật tự nhiên và có thể sửdụng được những quy luật đó một cách chính xác [17, tr 654-655] Như vậy, có thể khẳng định rằng, để điều khiển được mối quan hệgiữa con người và tự nhiên, trước hết, con người phải tự giác "nhận thứcđược quy luật tự nhiên", và trên cơ sở đó, "sử dụng được những quy luật đómột cách chính xác" trong quá trình hoạt động thực tiễn của xã hội, trong

đó, lĩnh vực cơ bản và quan trọng nhất là sản xuất vật chất Trước đây, conngười vẫn giữ một quan niệm cũ cho rằng, tự nhiên là một kho của cải vôtận, có thể mặc sức khai thác, sử dụng không bao giê hết Song, thực tế lạikhông phải như con người đã lầm tưởng Sự cạn kiệt của nhiều nguồn tàinguyên không tái tạo được như đất đai, khoáng sản, các nguồn năng lượngnhư than đá, dầu mỏ đã chứng tỏ rằng, các tài nguyên thiên nhiên dùphong phú, giàu có và trữ lượng lớn đến đâu chăng nữa cũng không phải là

Trang 29

vô hạn Những tri thức và sự hiểu biết mới, chính xác và đúng đắn hơn về

tự nhiên đã buộc con người phải khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên

một cách tiết kiệm và hợp lý hơn Cũng vậy, cùng với sự phát triển của nền

sản xuất xã hội, con người đã đổ vào tự nhiên một khối lượng lớn mọi dạngphế thải sản xuất và sinh hoạt, khiến cho cảnh quan môi trường bị biếndạng, ô nhiễm ngày càng nặng nề và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượngsống của con người Sự phát triển của khoa học đã cung cấp những cơ sởchứng minh rằng cơ chế điều chỉnh, sự thống nhất, tính toàn vẹn và trạngthái cân bằng động của toàn bộ sinh quyển là một chu trình sinh học Vì

thế, con người đang tích cực tìm những giải pháp hiệu quả để xử lý và giảm thiểu lượng chất thải đổ vào môi trường, nhất là các loại chất thải độc hại,

chất thải rắn có thời gian phân hủy dài Tất cả những thay đổi tích cực đótrong quan niệm, hành vi của con người đã nói lên rằng, ý thức bảo vệ môitrường đang tham gia vào quá trình định hướng hoạt động thực tiễn của conngười theo hướng ngày càng "tôn trọng", "thân thiện" với môi trường tựnhiên Nói cách khác, ý thức bảo vệ môi trường đóng vai trò là cơ sở choviệc điều khiển mối quan hệ giữa con người và tự nhiên

Thứ hai, ý thức bảo vệ môi trường là cơ sở để thực hiện sinh thái hóa nền sản xuất xã hội Để duy trì sự tồn tại, phát triển của mình, con

người đã, đang và sẽ tiếp tục tác động vào tự nhiên thông qua hoạt độngsản xuất - phương thức trao đổi chất đặc thù giữa con người và tự nhiên.Song, vì nhiều lý do khách quan và chủ quan, hoạt động sản xuất trước đâycủa con người đã để lại trên thân thể tự nhiên nhiều dấu Ên tiêu cực Xét từgóc độ sinh thái học, con người không chỉ khai thác bừa bãi, sử dụng lãngphí nhiều nguồn tài nguyên như rừng, đất đai, khoáng sản, nước ngọt , màcòn làm cho tự nhiên bị biến dạng theo chiều hướng ngày càng xấu đi.Những cánh rừng nguyên sinh Èn chứa sự đa dạng sinh học, đặc biệt làrừng nhiệt đới đang mất dần, nhiều vùng đất màu mỡ đã xuất hiện những

Trang 30

dấu hiệu biến thành hoang mạc, nguy cơ cạn kiệt các nguồn năng lượngtruyền thống như gỗ củi, than đá, dầu mỏ đang tiến gần trong những thập

kỷ tới, mức độ ô nhiễm môi trường nước, không khí do chất thải của quátrình sản xuất ngày càng gia tăng chỉ là một vài nét phác họa của bứctranh môi trường ngày nay

Với những hậu quả to lớn đó, nền sản xuất xã hội - mét "mắt khâu

xã hội" đã làm cho chu trình trao đổi vật chất, năng lượng và thông tintrong tự nhiên bị đứt đoạn, trở thành cội nguồn dẫn đến nguy cơ khủnghoảng môi trường sinh thái, trực tiếp đe dọa sự tồn tại, phát triển của conngười và xã hội loài người Vấn đề đặt ra là, để giải quyết những vấn đề môitrường nảy sinh do tác động của hoạt động sản xuất, con người phải giữ vaitrò quyết định

Song, làm thế nào để thực hiện được mục tiêu bảo vệ môi trường,khi mà con người, vì sự tồn tại của chính bản thân mình, không thể khôngtiếp tục sản xuất ra của cải vật chất, tức là tiếp tục không ngừng tác độngvào tự nhiên? Với sự nhận thức đúng đắn rằng, con người là một tiểu vũtrụ, là một bộ phận không thể tách rời trong chỉnh thể thống nhất giữa conngười, tự nhiên và xã hội; đồng thời, cũng là nhằm đối phó với những bấtlợi đe dọa sự tồn tại, phát triển của con người, thế giới hiện đại đã tích cực

tìm kiếm và đang hướng tới một quan niệm mới về sự phát triển: Phát triển bền vững Mét trong những nguyên tắc quan trọng, đồng thời cũng là mục

tiêu cơ bản nhất của chiến lược phát triển bền vững là cần phải giữ gìn, bảo

vệ môi trường tự nhiên Điều đó có nghĩa là con người phải thực hiện sinh thái hóa nền sản xuất xã hội Bởi vì, sản xuất xã hội - dù ở bất kỳ trình độ hay giai đoạn nào đi nữa, cũng luôn đóng vai trò là phương thức tồn tại tất yếu của con người và xã hội loài người, nhưng trong điều kiện hiện nay, nó lại không được phép làm tổn hại môi trường Ý thức bảo vệ môi trường với

Trang 31

tư cách là một hiện tượng xã hội phổ biến là điều kiện tiên quyết, là cơ sở

để thực hiện sinh thái hóa nền sản xuất xã hội

Sinh thái hóa nền sản xuất xã hội là thế nào? Nếu trước đây, hoạtđộng sản xuất của con người chủ yếu mang tính "tước đoạt", "bóc lột" tựnhiên, thì trong điều kiện hiện nay, với những sự hiểu biết và tri thức mới

về tự nhiên, về quan hệ giữa con người với tự nhiên, hoạt động sản xuất

của con người cần phải được tiến hành trên cơ sở tôn trọng, tính toán đầy

đủ những quy luật tồn tại và phát triển của tự nhiên, đặc biệt là những quy

luật bảo đảm cơ chế hoạt động bình thường của chu trình trao đổi chất củasinh quyển Mặt khác, do chỗ là một "mắt khâu" trong chu trình sinh học,nên ngoài chức năng vốn có là tạo ra của cải vật chất nhằm thỏa mãn nhucầu tồn tại, phát triển của con người và xã hội, nền sản xuất xã hội còn "cầnphải thực hiện thêm một chức năng quan trọng nữa, đó là chức năng táisản xuất những tài nguyên thiên nhiên đã tiêu dùng và thải bỏ trong quátrình sản xuất, để cho chu trình được khép kín Mục đích nhằm đưa "mắtkhâu xã hội" hòa nhập thực sự vào chu trình sinh học, từ đó "tạo điều kiện vàkhả năng bảo vệ và cải thiện chất lượng của môi trường sinh thái" [39, tr 81]

Tóm lại, sù hiện diện phổ biến, thường trực của ý thức bảo vệ môi

trường là cơ sở quan trọng để không chỉ những nhà hoạch định chính sách

và thiết kế các dự án phát triển kinh tế - xã hội, mà cả những người laođộng luôn quan tâm đến khía cạnh môi trường, ngoài khía cạnh hiệu quảkinh tế, của quá trình sản xuất; hướng đến yêu cầu sinh thái hóa nền sảnxuất xã hội Đến lượt nó, nền sản xuất xã hội được tiến hành theo quanđiểm sinh thái, một mặt, cho phép bảo đảm tạo ra của cải vật chất phục vụnhu cầu của con người và xã hội; mặt khác, tránh được nguy cơ cạn kiệt tàinguyên thiên nhiên và ô nhiễm môi trường sống Và do vậy, nó bảo đảm một

sù phát triển bền vững cho các thế hệ con người trong hiện tại và tương lai

Trang 32

Thứ ba, ý thức bảo vệ môi trường sinh thái là cơ sở thực hiện sinh thái hóa mọi hoạt động khác của con người trong đời sống xã hội.

Hoạt động sản xuất vật chất là hành vi quan trọng, cơ bản nhưng

không phải là duy nhất của con người Theo quan điểm của C Mác, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội Thực tế cho thấy, trong

đời sống xã hội, hoạt động của con người rất đa dạng, phong phú Sự tácđộng của con người đến tự nhiên biểu hiện tập trung nhất trong lĩnh vựcsản xuất xã hội Song, như trên đã trình bày, quan hệ giữa con người và tựnhiên bao trùm lên tất cả các phương diện, khía cạnh của đời sống xã hội

Vì vậy, để bảo đảm cho sự tồn tại, phát triển bền vững của con người và xãhội, ngoài việc thực hiện mục tiêu sinh thái hóa nền sản xuất, còn cần phảithực hiện sinh thái hóa toàn bộ các hoạt động khác của con người trong cáclĩnh vực chính trị, đạo đức, pháp luật, văn hóa tinh thần

Ý thức bảo vệ môi trường là cơ sở góp phần hình thành trong đờisống xã hội những giá trị, chuẩn mực đạo đức sinh thái mới Sự phát triểncủa kinh tế thị trường, của cách mạng khoa học công nghệ và xu thế hộinhập, toàn cầu hóa nền kinh tế , bên cạnh mặt tích cực, còn là những tácnhân chính làm cho những giá trị đạo đức sinh thái truyền thống bị phá vỡ.Nếu trước đây con người yêu quý thiên nhiên vì vẻ đẹp và những giá trịvốn có của nó thì ngày nay, do những lợi Ých vị kỷ, cá nhân trước mắt, conngười chỉ quan tâm đến những giá trị sử dụng và thực dụng của tự nhiên.Cũng không phải là quá đáng khi có ý kiến cho rằng, con người hiện tạiđang sống bằng tất cả những gì "vay" được của các thế hệ tương lai Rõràng, để điều chỉnh những hành vi đạo đức kiểu như vậy trong quan hệ giữacon người với tự nhiên, cần thiết phải có ý thức bảo vệ môi trường

Được sống đầy đủ và trong một môi trường trong lành là một quyền

tự nhiên của mỗi con người, mỗi cộng đồng và mỗi dân téc Song, mức độ

Trang 33

hiện thực của quyền đó trong cuộc sống như thế nào lại không hoàn toànphụ thuộc vào những quy định pháp luật chung, mặc dù sự hiện diện của nó(pháp luật) là tối cần thiết; trái lại, còn phụ thuộc rất lớn vào ý thức phápluật thể hiện ở sự nhận thức, thái độ tôn trọng và chấp hành của mỗi người,cộng đồng, dân téc đối với những quy định chung Nếu ý thức của họ càngđược nâng cao thì sự tôn trọng pháp luật, tính tự giác thực hiện các yêu cầuchung càng có hiệu quả Điều này lại phụ thuộc đáng kể vào những tri thức

về bảo vệ môi trường nói chung và sự hiểu biết pháp luật về bảo vệ môitrường nói riêng Nghĩa là, ý thức bảo vệ môi trường sinh thái tham gia vàoquá trình điều chỉnh hành vi của con người trong việc khai thác, sử dụng tựnhiên cũng như gìn giữ môi trường phù hợp với quy luật khách quan vànhững nguyên tắc chung của xã hội

Tóm lại, môi trường sinh thái là một khái niệm rộng lớn, bao gồm

toàn bộ các điều kiện tự nhiên, xã hội cần thiết đối với sự tồn tại, phát triểncủa con người và xã hội loài người Nó có vai trò đặc biệt quan trọng vàkhông thể thay thế Song, không phải bao giê và ở đâu con người cũng cảmnhận sâu sắc, đúng đắn ý nghĩa to lớn của môi trường sống Trái lại, nhữnghoạt động của con người, trước hết là hoạt động sản xuất, đã và đang tiếptục làm cho môi trường sống của mình biến đổi theo chiều hướng xấu

Ngày nay, do tính bức bách của vấn đề, bảo vệ môi trường trở thànhkhẩu hiệu hành động chung của con người Tuy nhiên, để có được nhữnghành động đúng đắn và thiết thực, trước hết con người cần phải có ý thứcbảo vệ môi trường Đó chính là cơ sở để điều khiển một cách có ý thức mốiquan hệ giữa con người với tự nhiên, thực hiện sinh thái hóa nền sản xuất

xã hội và các hoạt động đa dạng khác của con người vì mục tiêu pháttriển bền vững

Trang 34

Chương 2 THỰC TRẠNG MễI TRƯỜNG VÀ í THỨC BẢO VỆ MễI TRƯỜNG CỦA ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TẫC MIỀN NÚI PHÍA BẮC

NƯỚC TA HIỆN NAY bảo vệ môi trờng của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc nớc ta hiện nay

2.1 Khỏi quỏt một số đặc điểm tự nhiờn và xó hội cơ bản của khu vực miền nỳi phớa Bắc

Miền nỳi phớa Bắc Việt Nam là một khu vực rộng lớn, bao gồmlónh thổ của 14 tỉnh: Lai Chõu, Sơn La, Hũa Bỡnh, Lào Cai, Yờn Bỏi, HàGiang, Tuyờn Quang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Thỏi và Quảng Ninh (cútài liệu tớnh cả tỉnh Phỳ Thọ); nằm trong vựng tọa độ 23 độ 22' vĩ độ Bắc và

102 độ kinh Đụng Với vị trớ địa lý như vậy, khu vực miền nỳi phớa Bắcnước ta nằm hoàn toàn trong vũng đai nội chớ tuyến bắc bỏn cầu

Miền nỳi phớa Bắc được xem là núc nhà của Việt Nam (đỉnh nỳicao nhất là Phanxipăng nằm trờn dóy Hoàng Liờn Sơn cú độ cao 3.143 m)

Do cấu tạo địa chất, địa hỡnh của phần lớn khu vực này bị chia cắt mạnhvới độ dốc tương đối lớn Theo ước tớnh, hiện cú khoảng trờn 50% diện tớchmiền nỳi phớa Bắc cú cỏc sườn dốc trờn 20 độ

Khớ hậu ở vựng miền nỳi phớa Bắc mang tớnh chất nhiệt đới, biểuhiện ở chỗ lượng bức xạ mặt trời hàng năm khỏ lớn (khoảng 12,5 - 13,5 tỷkcal/ha/năm) và lượng mưa tương đối cao (khoảng từ 1.300 - 7.270 mm/năm)

Sự phõn mựa khớ hậu (mựa núng và mựa lạnh) ở khu vực này rất rừ rệt.Mựa núng kộo dài từ thỏng 4 đến thỏng 11 Mựa này cũng là thời kỳ cúmưa nhiều nhất trong năm, thường gõy ra lũ lụt, sạt lở ảnh hưởng xấu đến

Trang 35

sinh hoạt và sản xuất của nhân dân Ngược lại, do tác động của gió mùaĐông - Bắc, mùa lạnh ở khu vực miền núi phía Bắc xuất hiện từ tháng 12 đếntháng 3 năm sau Trong thời gian này, nhiệt độ ở đây xuống thấp, nhất là ởvùng Đông Bắc Đây là thời kỳ hanh khô và Ýt mưa, do đó, thường dẫnđến tình trạng cạn kiệt nước ở các sông, suối và hồ chứa.

Đất đai ở miền núi phía Bắc khá đa dạng về chủng loại, trong đóphổ biến là loại đất feralít đỏ - vàng Một số nơi có những vùng đất tương đốibằng phẳng, rộng lớn, màu mỡ, hàm lượng mùn cao thích hợp cho việc pháttriển sản xuất nông nghiệp (trồng lúa) và chăn nuôi như ở Mường Thanh Tuy nhiên, phần lớn đất đai ở vùng núi phía Bắc bị phong hóa mạnh, nghèochất dinh dưỡng và suy thoái nhanh do bị xói mòn, rửa trôi Sự hạn chế củacác chất vi lượng trong đất đai không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới năng suấtcây trồng, mà còn tác động xấu đến sức khỏe của đồng bào thuộc cộngđồng các dân téc miền núi phía Bắc (gây nên bệnh bướu cổ do thiếu iốt )

Có thể nói, các yếu tố tự nhiên khí hậu, thời tiết, đất đai trên đây

đã tác động, ảnh hưởng một cách khá toàn diện đến cuộc sống của đồngbào các dân téc miền núi phía Bắc, trong đó có việc tạo ra những thuận lợicũng như những khó khăn đối với các hoạt động dân sinh và sản xuất của

họ Tính đa dạng của các điều kiện tự nhiên: tính chất khí hậu nhiệt đới,theo mùa, sự phong phú của các tài nguyên thiên nhiên và các hệ sinh thái

tự nhiên đã tạo cho đồng bào các dân téc ở đây những tiềm năng kinh tế

to lớn và khá toàn diện Đó là khả năng phát triển nền kinh tế tự nhiên (sănbắn, hái lượm, đánh cá) trước kia và nghề rừng hiện nay; khả năng phát triểnmột nền sản xuất nông nghiệp đa dạng, bao gồm trồng cây lương thực thựcphẩm, cây công nghiệp, chăn nuôi đại gia sóc, gia cầm và thủy sản Ngoài

ra, các nguồn tài nguyên năng lượng, khoáng sản, lâm sản phong phú lànhững điều kiện quan trọng cho phép phát triển nhiều ngành công nghiệp.Song, dẫu sao thì đó cũng mới chỉ là những ưu thế đang ở dạng tiềm năng

Trang 36

và lé trình để "đánh thức" chúng phục vụ cuộc sống của con người khôngphải là đơn giản, cũng không thể nhanh chóng trong "một sớm, mộtchiều".

Những khó khăn do chính đặc điểm tự nhiên của miền núi phía Bắctạo nên cũng không phải là nhỏ Thiên tai, dịch bệnh, nạn rửa trôi và xóimòn đất đai, lũ lụt xảy ra bất thường với cường độ và tần suất cao (chưatính đến những hậu quả khác do hoạt động của con người gây ra) đang thực

sự là những thánh thức to lớn đối với đồng bào các dân téc Mặt khác, địahình phức tạp (bị cắt xẻ mạnh, độ dốc cao ) là những trở ngại không nháđối với việc phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giaothông thủy bộ, tiếp nhận thông tin và tiến bộ khoa học công nghệ, dẫn đếnhạn chế khả năng giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các vùng thuộc nội

bộ khu vực, giữa khu vực miền núi phía Bắc với các vùng khác của cảnước Thực tế cho thấy, từ trước đến nay, so với các vùng, miền khác trong

cả nước, miền núi phía Bắc vẫn là khu vực kém phát triển về mọi phươngdiện

Về mặt xã hội, khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam là điểm hội tụcủa ba luồng dân cư: luồng phía Bắc (gồm các dân téc như Thái, Nùng,H’mông, Dao, Giáy, Hoa ), luồng phía Tây (gồm các dân téc Khơ Mú,Lào, Lự ) và luồng phía Nam (gồm các đợt di cư của người Kinh) Vì thế,

cơ cấu dân téc ở đây khá phức tạp Hiện tại, khu vực miền núi phía Bắc lànơi sinh sống của đồng bào thuộc 31 nhóm dân téc, chiếm 57,4% số dân téccủa cả nước Trong đó, có 27 dân téc có số dân chiếm trên 50% dân số củadân téc đó trên cả nước, 20 dân téc có số dân chiếm 90% dân số thuộc dântéc mình Các dân téc có số dân nhỏ nhất (so với dân số của dân téc đó trên

cả nước) là dân téc Thổ (1,44%), dân téc Kinh (4,57%), dân téc Hoa(29,88%) [3, tr 218] Một đặc điểm xã hội khác của khu vực miền núi phía

Trang 37

Bắc là tính chất cư trú theo tầng (tầng thấp chân núi, tầng trung bình sườn núi, tầng cao - đỉnh núi) của đồng bào các dân téc biểu hiện khá rõnét Chẳng hạn, ở tầng thấp (có độ cao dưới 500 m) thường là vùng sinh cưcủa các dân téc có số dân đông, trình độ phát triển kinh tế - xã hội tươngđối khá như dân téc Kinh, Tày, Thái, Mường, Nùng ; tầng trung bình (có

-độ cao từ 500 - 800 m) là nơi cư trú của đồng bào các dân téc Dao, Giáy,Khơ Mú ; thành phần téc người chủ yếu sống ở tầng cao (800m trở lên) làcác dân téc H’mông, Hà Nhì, La Chí, Pà Thẻn

Sự phân bố dân cư ở vùng miền núi phía Bắc không đồng đều Nhiềunơi, mật độ dân số cao và tiếp tục có xu hướng gia tăng Có những vùng, dođiều kiện tự nhiên quá khắc nghiệt, mật độ dân số rất thấp, chẳng hạn nhưMường Tè (Sơn La) chỉ có khoảng 16 người/km2 Trong thời gian qua, mứcsinh của đồng bào các dân téc thiểu số phía Bắc vẫn còn khá cao, trungbình là 3,8 con Bên cạnh đó, do thực hiện chương trình phân bổ dân cưnhằm phân phối lại lực lượng lao động, bắt đầu từ năm 1960, hàng chụcvạn người đã được chuyển từ các tỉnh đồng bằng lên miền núi phía Bắc đểphát triển những vùng kinh tế mới Ngoài ra, trong những năm gần đây,luồng di cư tự do cũng là một nguyên nhân khiến cho dân số vùng núi phíaBắc tăng nhanh Cùng với tốc độ gia tăng tự nhiên ở mức độ cao, các luồng

di dân có kế hoạch và tự phát (gia tăng cơ học) đã đưa tốc độ tăng trưởngdân số vùng núi phía Bắc lên hơn 300% Theo đánh giá của các nhà khoahọc, hiện nay dân cư sinh sống ở vùng miền núi phía Bắc là khá đông và mật

độ trung bình đạt 75 người/km2 là quá cao đối với một khu vực mà diện tíchđất trồng có hạn [xem: 8, tr 231] Chính vì thế, áp lực của sự gia tăng dân

số đối với môi trường tự nhiên ở đây đã và sẽ tiếp tục là một vấn đề nan giải.Trên thực tế, một số nơi đã xảy ra tình trạng cạnh tranh đất đai, một bộphận đồng bào dân téc thiểu số bị đẩy lùi sâu vào rừng, khiến rừng tiếp tục

bị tàn phá

Trang 38

2.2 Truyền thống ứng xử đối với môi trường thiên nhiên của đồng bào các dân téc miền núi phía Bắc

2.2.1 Lối sống hòa hợp với thiên nhiên, nương nhờ và thuận theo thiên nhiên

Chóng ta đều biết rằng, trong mối quan hệ gắn bó hữu cơ với môitrường tự nhiên, con người có vai trò, khả năng rất to lớn đối với việc khaithác, sử dụng tự nhiên vì mục đích tồn tại, phát triển của mình Những hoạtđộng sản xuất cũng như dân sinh của con người hướng đến sử dụng hợp lýtài nguyên và bảo vệ môi trường, hay ngược lại, tàn phá tài nguyên và hủydiệt môi trường phụ thuộc rất nhiều vào thãi quen, phong tục, tập quán vànhững yếu tố khác, tức là phụ thuộc vào văn hóa của mỗi cá nhân, cộngđồng và dân téc Nói cách khác, điều quan trọng nhất ở đây thuộc về thái

độ, hành động của từng con người, từng cộng đồng dân cư trước môitrường thiên nhiên Thái độ, hành động của con người đối với môi trường

tự nhiên có tính chất "thân thiện", "hòa hợp" hay "thống trị", "tước đoạt"được quy định bởi chính lối sống, truyền thống văn hóa, phong tục tậpquán vốn có

Trong lịch sử hình thành và phát triển của mình, đồng bào các dântéc miền núi phía Bắc đã xây dựng nên những lối sống, phong tục, tập quánthích ứng với điều kiện tự nhiên như làm nhà sàn, canh tác nương rẫy mang đậm bản sắc văn hóa của dân téc, trong đó có nhiều yếu tố tích cực.Các quy ước, quan hệ luật tục trong cách ứng xử của đồng bào đã trở thành

cơ sở điều chỉnh hành vi của mọi thành viên trong cộng đồng Trong cácquy ước, luật tục đó quy định khá rõ ràng những điều khoản cần thiết đểđiều tiết hoạt động của các thành viên như, xây dựng nhà vệ sinh, nơi chănnuôi, khu vực sản xuất, thu nhặt rác thải Ngày nay, nhiều giá trị truyềnthống tốt đẹp trong đời sống xã hội vẫn được đồng bào bảo lưu, gìn giữ,

Trang 39

phát huy và tạo nên cái mà nhiều nhà khoa học gọi là "văn hóa môitrường" Thí dụ, trong ngày hội đầu xuân, người H’mông đề ra nhiều quyước, trong đó có quy ước bảo vệ rừng và đất đai của bản Người Khơ Mú ởbản Co Chai (Sơn La), trong những năm gần đây, có quy ước giữ gìn vàbảo vệ hai loại rừng cơ bản là rừng đầu nguồn và rừng "ma" Nhờ vậy, 1 harừng "ma" và 5 ha rừng đầu nguồn ở ngay kề cạnh bản vẫn được bảo tồn vàphát triển Tại một số vùng, người Dao, người Cơ Tu vẫn duy trì tục lệtrồng cây quế mừng ngày sinh của các cháu nhỏ Hoặc dân téc Dao ở vùngquế Văn Yên (Yên Bái) có một tập quán lâu đời và cũng là nét văn hóađáng trân trọng: khi con gái, con trai đến tuổi trưởng thành, được gia đình

"dựng vợ, gả chồng", theo lệ, phải trồng cho làng (bản) 10 cây quế

Lối sống hòa hợp, thân thiện với môi trường tự nhiên của đồng bàocác dân téc miền núi phía Bắc thể hiện qua các quy ước có tính luật tụctrong việc khai thác sử dụng từng yếu tố của tự nhiên Chẳng hạn, từ lâu,người H’mông đã có phương thức khai phá rừng theo tập quán được hìnhthành trên cơ sở của ý thức sống chung, hòa mình với rừng Nhờ lối sống

Êy, họ đã trụ vững trên những dải núi cao trong suốt hàng trăm năm Trong

lễ "ăn thề" - nào sùng được tổ chức thường xuyên hàng năm, người

H’mông đưa ra những quy định hết sức chi tiết về vấn đề khai phá, đốtrừng làm nương rẫy Họ thống nhất với nhau về những khu rừng chưa đượcphép khai thác, rừng đầu nguồn Đồng thời, họ cũng đưa ra những nhữnghình phạt rất cụ thể để nghiêm trị những kẻ cố tình vi phạm Nhờ nhữngluật tục rất nghiêm khắc và ý thức của từng cá nhân trước lợi Ých của bảnthân, của cộng đồng, rừng và đất rừng đã được đồng bào khai thác, sử dụngkhá hợp lý Có ý kiến cho rằng, "phương thức khai thác rừng truyền thốngcủa người H’mông đã thể hiện rõ hành vi đốt phá rừng của họ không phải

là một hành động tự do hoàn toàn vượt ngoài ý thức, mà đó là một độngthái tự do trong khuôn khổ tập tục của cả cộng đồng" [26, tr 310] Trong

Trang 40

nhiều dân téc thiểu số phía Bắc, đồng bào có những quy định khá chặt chẽ

-dù rằng đó chỉ là sự thỏa thuận có tính quy ước của cộng đồng, như khôngđược chặt cây hay đốt phá rừng vào mùa khô, không được tát cạn một khúcsông, dòng suối hay đầm hồ để bắt cá Thậm chí, có nơi người ta cấm xâmphạm vào những khu rừng phòng hộ, đoạn suối đầu nguồn vốn được niềmtin có tính chất tín ngưỡng của đồng bào coi là "linh thiêng", là của

"Giàng" Có thể nói, chính "một thứ "luật" bảo vệ môi trường kiểu dân giannhư vậy được tuân thủ lâu đời trở thành lối sống đạo đức, một nét ứng xửcủa người dân trước thiên nhiên, để giữ cho sự cân bằng giữa các yếu tố cấuthành môi trường sinh thái" [35, tr 39]

Trải qua hàng ngàn năm, lối sống nương nhờ vào tự nhiên, hòa hợpvới tự nhiên trở thành một giá trị truyền thống quý báu của đồng bào cácdân téc miền núi phía Bắc, được các thế hệ kế thừa, nối tiếp và phát huy

Từ bao đời nay, để duy trì cuộc sống và hoạt động sản xuất, đồng bào cácdân téc miền núi phía Bắc đã xây dựng nên một lối sống khá phù hợp vớiđiều kiện môi trường tự nhiên Điều này thể hiện khá rõ qua tập quán sinhhoạt và lao động của nhân dân Trong việc khai thác, sử dụng đất đai,nguồn nước và khí hậu vào mục đích sản xuất nông nghiệp, tùy theo địavực cư trú và đặc điểm tự nhiên, người dân đã lùa chọn những phương thứckhai thác tài nguyên thích hợp Chẳng hạn, ở các vùng thấp, đồng bào dântéc Tày, Thái, Mường khai thác đất thành ruộng; ở vùng cao, đồng bàoH’mông, Lô Lô làm nương hay nương thổ canh hốc đá Nhìn chung,trong canh tác nông nghiệp theo hình thức nương rẫy, đồng bào các dân técmiền núi phía Bắc đều thực hiện các biện pháp luân canh, bỏ hóa nhằm sửdụng, khai thác đi đôi với bảo vệ, phục hồi tài nguyên đất Người dâncũng đã sớm biết lợi dụng dòng chảy để đưa nước vào ruộng (vùng thấp),ruộng bậc thang (vùng giữa và vùng cao) Đặc biệt, "để thích ứng với đặcđiểm khí hậu, đồng bào các dân téc đã đúc kết được nông lịch tương đối

Ngày đăng: 03/02/2015, 20:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Lê Bảo (chủ biên), (2001), Văn hóa sinh thái nhân văn, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa sinh thái nhân văn
Tác giả: Trần Lê Bảo (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Vănhóa - Thông tin
Năm: 2001
3. Hoàng Hữu Bình (1999), "Các téc người miền núi phía Bắc Việt Nam với môi trường", Trong cuốn: Tuyển tập các báo cáo khoa học tại Hội nghị môi trường toàn quốc năm 1998, Nxb Khoa học - Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các téc người miền núi phía Bắc Việt Namvới môi trường
Tác giả: Hoàng Hữu Bình
Nhà XB: Nxb Khoa học - Kỹthuật
Năm: 1999
4. Phạm Văn Boong (2002), Ý thức sinh thái và vấn đề phát triển lâu bền, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý thức sinh thái và vấn đề phát triển lâu bền
Tác giả: Phạm Văn Boong
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
5. Lê Thạc Cán (1999), "Giáo dục môi trường nhân văn và đạo đức môi trường", Bảo vệ môi trường, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục môi trường nhân văn và đạo đức môitrường
Tác giả: Lê Thạc Cán
Năm: 1999
6. Nguyễn Vũ Cân (12-2002), "Hệ thống chính trị ở cơ sở và vấn đề xây dùng quy chế bảo vệ môi trường miền nói", Dân téc và Miền núi, (24) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống chính trị ở cơ sở và vấn đề xâydùng quy chế bảo vệ môi trường miền nói
7. Đinh Ngọc Chung (12-2002), "Bộ đội biên phòng tham gia thực hiện công tác định canh định cư ở khu vực biên giới", Dân téc và Miền núi, (24) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ đội biên phòng tham gia thực hiệncông tác định canh định cư ở khu vực biên giới
8. Lê Trọng Cúc (1999), "Hiện trạng và giải pháp phát triển vùng núi phía Bắc Việt Nam", Trong cuốn: Tuyển tập các báo cáo khoa học tại Hội nghị môi trường toàn quốc năm 1998, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng và giải pháp phát triển vùng núi phíaBắc Việt Nam
Tác giả: Lê Trọng Cúc
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹthuật
Năm: 1999
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
10.Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Khoa Triết học (1994), Triết học Mác - Lênin, tập 3 (xuất bản lần thứ ba), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triếthọc Mác - Lênin
Tác giả: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Khoa Triết học
Nhà XB: Nxb Chính trị quốcgia
Năm: 1994
11. Trần Trọng Hựu, Nguyễn Thị Thu Hà (1999), "Luật bảo vệ môi trường 1993 và vấn đề hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường". Trong cuốn: Tuyển tập các báo cáo khoa học tại Hội nghị môi trường toàn quốc năm 1998, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật bảo vệ môi trường1993 và vấn đề hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môitrường
Tác giả: Trần Trọng Hựu, Nguyễn Thị Thu Hà
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
Năm: 1999
12.Nguyễn Hồng Khánh, Đỗ Hoài Dương, Tạ Đăng Toàn (2001), "Tình hình suy giảm chất lượng và ô nhiễm môi trường lưu vực sông Cầu", Bảo vệ môi trường, (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìnhhình suy giảm chất lượng và ô nhiễm môi trường lưu vực sôngCầu
Tác giả: Nguyễn Hồng Khánh, Đỗ Hoài Dương, Tạ Đăng Toàn
Năm: 2001
13.Đỗ Quang Khiểm (2001), "Giáo dục môi trường ở một số trường Đại học và phổ thông". Trong cuốn: Hội thảo Quốc gia: Giáo dục môi trường trong các trường học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục môi trường ở một số trường Đạihọc và phổ thông
Tác giả: Đỗ Quang Khiểm
Năm: 2001
14.Vi Thái Lang (2002), Vấn đề phát triển lực lượng sản xuất ở miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ triết học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phát triển lực lượng sản xuất ở miền núiphía Bắc nước ta hiện nay
Tác giả: Vi Thái Lang
Năm: 2002
15.Trần Thị Hồng Loan (2002), "Một số vấn đề về văn hóa sinh thái ở miền núi phía Bắc nước ta hiện nay", Triết học, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về văn hóa sinh thái ởmiền núi phía Bắc nước ta hiện nay
Tác giả: Trần Thị Hồng Loan
Năm: 2002
16.C. Mác và Ph. Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 13, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốcgia
Năm: 1993
17.C. Mác và Ph. Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốcgia
Năm: 1993
18.C. Mác và Ph. Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốcgia
Năm: 1993
19.C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
20.C. Mác, Ph. Ăngghen (2000), Toàn tập, tập 42, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác, Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
22.Ngọc Minh (16/7/2003), "Mười năm, mức sống thực tế của dân tăng 2,3 lần", Báo Thanh Niên, (197) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mười năm, mức sống thực tế của dân tăng 2,3lần

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w