Các nghiên cứu các loại bệnh lây nhiễm cũng như các hiện tượng khí hậu bất thường có liên quan đến Dao động El Nino hướng namCHƯƠNG 5 Tác động của biến đổi khí hậu đối với sức khỏe S.. T
Trang 1Các nghiên cứu các loại bệnh lây nhiễm cũng như các hiện tượng khí hậu bất thường có liên quan đến Dao động El Nino hướng nam
CHƯƠNG 5
Tác động của biến đổi khí hậu đối với sức khỏe
S Hales1, S.J Edwards2, R.S.Kovats3
Giới thiệu
Các hiện tượng khí hậu bất thường giờ đây đã xuất hiện thường xuyên hơn do kết quả của biến đổi khí hậu Các hiện tượng khí hậu bất thường có thể có những tác động to lớn lên xã hội loài người Lịch sử đã ghi nhận biết bao trận thiên tai trên diện rộng, nạn đói và bựng phỏt dịch bệnh do hậu quả của hạn hán và lũ lụt Sự xuống cấp phức tạp, trên diện rộng của khí hậu đã gây ra những tác động tồi tệ nhất đối với không chỉ các nước nghèo mà còn cả với các nước công nghiệp hùng mạnh nhất cũng không thể tránh khỏi Các hiện tượng thời tiết bất thường, theo định nghĩa, là các hiện tượng ngẫu nhiên ít gặp Có hai loại hiện tượng bất thường như sau (1):
• Hiện tượng bất thường dựa trên các thống kê khí hậu thông thường như nhiệt độ quá thấp hoặc quá cao
• Phức tạp hơn, các hiện tượng trở nên bất thường như: hạn hán, lũ lụt hoặc bão – không cần thiết xảy ra quanh năm tại một địa điểm
Với sự biến đổi khí hậu, thậm chí nếu sự phân bố về thống kê các hiện tượng bất thường đơn thuần luôn không thay đổi, sự thay đổi mức trung bình sẽ cho kết quả ở các biến đổi phi tuyến tính trong tần xuất xuất hiện các hiện tượng bất thường Việc phát hiện biến đổi các hiện tượng khí hậu bất thường đơn thuần có thể khả thi hơn việc phát hiện biến đổi của các hiện tượng bất thường
Sự dao động khí hậu có thể được thể hiện dưới dạng thời gian (theo ngày, mùa
và năm) và là đặc tính cố hữu của khí hậu dù hệ thống khí hậu có biến đổi hay không Người ta ngày càng quan tâm nhiều đến tác động của Dao động năm El Nino (ENSO) đối với kiểu thời tiết tại nhiều nơi trên thế giới Tại cỏc vựng nhạy cảm, ENSO có thể gây ra những quan ngại qua nhiều năm về nhiệt độ và/hoặc lượng mưa theo một chu
kỳ 2-7 năm Tuy nhiên, điều quan trọng là những quan ngại trên là không rõ ràng đối
Trang 2với biến đổi khí hậu Trên thực tế, các dao động biểu hiện rõ nét hơn ở các xu hướng lâu dài khiến cho việc phát hiện các dấu hiệu biến đổi khí hậu trở nên khó khăn hơn.Tác động của biến đổi khí hậu đối với tần xuất và/hoặc biên độ El Nino là không chắc chắn Tuy nhiên, dự có rất ít hoặc không có biến đổi trong biên độ, biến đổi khí hậu vẫn có thể gây ra các hiện tượng khí hậu bất thường lớn hơn như khô hạn và lượng mưa lớn cùng với sự tăng lên nguy cơ hạn hán và lũ lụt xuất hiện cùng El Nino tại nhiều vùng.Các cơ chế xã hội, sinh thái học và tự nhiên có thể minh chứng cho mối liên hệ giữa các hiện tượng thời tiết bất thường và dịch bệnh (Hình 5.1, Bảng 5.1 và Bảng 5.2) Các cơ chế xã hội có thể rất quan trọng nhưng khó có thể định lượng: chẳng hạn hạn hán
và lũ lụt luôn gây ra tình trạng biến đổi dân số Sự bựng phỏt cỏc dịch bệnh lây nhiễm thường xảy ra trong cộng đồng dân số tỵ nạn do hạ tầng y tế cụng khụng đảm bảo
HèNH 5.1 ENSO và bệnh dịch Hiện tượng ENSO gây ra các ảnh hưởng vật chất như hạn hán hoặc lụt lội (vòng tròn xanh) Nếu hiện tượng này chồng
lấn hoặc tác động tới các điều kiện sinh thái cũng như kinh tế xã hội thích hợp (trong phần đường kẻ chấm), chúng có thể gây ra sự bùng nổ dịch bệnh (vùng tối)
Hạ tầng y tế, tình trạng vệ sinh và nguồn nước không đảm bảo, quá tải dân số, thiếu nhà ở Khí hậu cũng có thể là một yếu tố ảnh hưởng lớn tới các loại dịch
Hạn hán và lụt lội
Phá hỏng hệ thống cung cấp lương thực và nước
Nguồn bệnh
ảnh hưởng của nhiệt độ và lượng mưa đối
với số lượng và sự phân bố
Hệ sinh thái côn trùng
(muỗi, bọ) và động vật trung gian
• Thói quen của con người
(Thói quen lưu trữ nước)
• Thay đổi/di chuyển dân số
• Nhà ở/đô thị hóa/mật độ dân số
• Hạ tầng sức khỏe cộng đồng
Trang 3bệnh lây lan qua lương thực hoặc nguồn nước bị ô nhiễm Các loại dịch bệnh liên quan tới nguồn nước là vấn nạn tại các quốc gia và các cộng đồng nghèo, nơi mà vấn đề vệ sinh và cung cấp nước luôn trong tình trạng không đảm bảo Các loại bệnh như dịch tả, thương hàn và tiêu chảy thường bựng phỏt sau lũ lụt nếu nước lũ
bị ô nhiễm do chất thải của người và động vật, trong khi đó nạn hạn hán lại là tác nhân làm giảm lượng nước sử dụng cho tắm giặt và vệ sinh cũng như có xu hướng trầm trọng hóa nguy cơ dịch bệnh
Trên thực tế, luôn tồn tại một mạng lưới tương tác giữa các hệ sinh thái, khí hậu và con người, mạng lưới này tác động đến sự xuất hiện của các loại bệnh do nhiễm khuẩn Chẳng hạn, người ta vẫn cho rằng việc phát sinh các loại bệnh lây nhiễm trong những thập kỷ trước là kết quả bắt nguồn từ các yếu tố xã hội như tăng trưởng dân số, đô thị hóa, thay đổi trong quá trình sử dụng đất và tập quán canh tác, nạn phá rừng, giao lưu quốc tế và sự xuống cấp hạ tầng sức khỏe cộng đồng (3) Từ khía cạnh tiêu cực, các loại bệnh lây nhiễm như sốt rét cũng có thể làm hạn chế quá trình phát triển xã hội (4)
BẢNG 5.1 Cơ chế lượng mưa trên trung bình có thể ảnh hưởng tới sức khỏe
Mưa lớn Khí tượng học Hiện tượng tiêu cực Giảm số lượng
Lụt lội Thủy học Sông/suối tràn bờ Thay đổi ô nhiễm số lượng
muỗi ở tầng nước mặtLụt lội Xã hội Tài sản hoặc mùa
màng bị phá hủy
Thay đổi ô nhiễm số lượng muỗi ở tầng nước mặt do chứa các dạng phù lưu và nước tiểu loài gặm nhấm (bệnh trùng xoắn móc câu)
Lụt lội Lụt lớn/ “thiên
tai”
Lụt lội khiến trên 10 chết và/hoặc 200 người bị ảnh hưởng, và/hoặc chính phủ yêu cầu hỗ trợ từ các nước khác
Thay đổi ô nhiễm số lượng muỗi
ở tầng nước mặt do chứa các dạng phù lưu và nước tiểu loài gặm nhấm và nguy cơ tử vong do các bệnh về hô hấp và tiêu chảy (ngập lụt), các ảnh hưởng sức khỏe có liên quan đến thay đổi dân số, thiệt hại nguồn cung cấp
Trang 4lương thực cũng như các tác động tâm lý xã hội khác
Nguồn: Từ nguồn tham khảo (2)
BẢNG 5.2 Cơ chế lượng mưa dưới trung bình có thể ảnh hưởng tới sức khỏe
Hạn hán Khí tượng học Hiện tượng bay hơi vượt
quá khả năng hút nước,
độ ẩm của đất giảmHàng loạt các chỉ số được phát triển dựa trên các biến số khí tượng học
Ví dụ: Palmer, Chỉ số mức độ nguy cấp của hạn hán
Thay đổi số lượng côn trùng nếu côn trùng sống ở các khu vực lòng sông khô hạn
Hạn hán Nông nghiệp Hiện tượng khô hạn hơn
so với điều kiện bình thường khiến sản lượng mùa màng giảm
Phụ thuộc vào các yếu tố kinh tế xã hội: Các nguồn lương thực khác và phương thức đạt được
Hạn hán Xã hội Giảm sản lượng và mức
độ cung cấp lương thực, giảm chất lượng và mức
độ cung cấp nước
Thiếu lương thực, bệnh tật, thiếu dinh dưỡng (nguy cơ nhiễm bệnh tăng cao), tăng nguy cơ dịch bệnh có liên quan đến hiện tượng thiếu nước cho vệ sinh
Hạn hán Thiếu lương
thực/nạn đói/thảm họa hạn hán
Thiếu lương thực dẫn đến tử vong
Trên 10 người chết, và/hoặc 200 người bị ảnh hưởng, hoặc chính phủ phải kêu gọi hỗ trợ của các nước khác
Các ảnh hưởng tới sức khỏe
có liên quan đến hiện tượng thay đổi dân số
Nguồn: Từ nguồn tham khảo (2)
Trang 5Chương này sẽ tóm tắt những tác động trong lịch sử của các hiện tượng khí hậu bất thường đối với sức khẻo con người Phần tiếp theo sẽ đề cập đến các nghiên cứu các loại bệnh lây nhiễm cũng như các hiện tượng khí hậu bất thường có liên quan đến Dao động El Nino hướng nam Phần kế tiếp sẽ đề cập đến các tác động các hiện tượng bất thường tạm thời của thời tiết Phần cuối cùng bao gồm nội dung đánh giá về các thảm họa có liên quan đến khí hậu.
El Nino và các loại dịch bệnh lây nhiễm
Có một mối liên hệ đã được nghiên cứu hết sức kỹ lưỡng giữa lượng mưa và các loại dịch bệnh lây lan do côn trùng sống trong nước và phụ thuộc vào mức độ sẵn có của tầng nước mặt Loài côn trùng chủ yếu được đề cập là muỗi vốn là trung gian gây bệnh sốt rét và các bệnh vi rút như sốt xuất huyết và sốt vàng da Như vậy có bằng chứng rõ ràng về mối liên hệ giữa số lượng muỗi và lượng mưa Muỗi thường sinh sống trong các vũng nước ứ đọng – các điều kiện thuận lợi thường là khô hoặc ẩm ướt Chẳng hạn, mưa lớn có thể vừa tạo ra mà còn rửa trụi cỏc khu vực sinh sống, trong khi đó, tại các khu vực ẩm ướt, thường thỡ cỏc điều kiện khô hạn có thể làm phát sinh thêm môi trường sinh sống cho muỗi bằng cách tạo ra các vũng nước đọng trên sông Việc tính lượng mưa trong năm cũng như những biến đổi của các yếu tố khí hậu khác cũng hết sức quan trọng
Lây bệnh do côn trùng thường rất nhạy cảm với sự biến động nhiệt độ Nhiệt
độ tăng sẽ thu hẹp thời gian sinh trưởng của côn trùng Nhiệt độ tăng cũng thu hẹp chu kỳ ủ bệnh (chẳng hạn, kí sinh trùng sốt rét, vi rút sốt xuất huyết và sốt vàng da), điều này đồng nghĩa với việc quá trình côn trùng trở thành tác nhân gây bệnh
sẽ diễn ra nhanh hơn (5) Mặt khác (phụ thuộc vào ngưỡng các loài cụ thể), các điều kiện khụ núng có thể rút ngắn vòng đời của muỗi Nhiệt độ cũng có thể ảnh hưởng tới phản ứng của các loài côn trùng cũng như con người, ảnh hưởng tới khả năng lây nhiễm Nhiệt độ cao có xu hướng kích thích khả năng hút máu của muỗi cũng như tạo ấu trùng cần nhiều máu để tái sinh
Bệnh sốt rét
Sốt rét là một trong những loại dịch bệnh lây truyền qua côn trùng nghiêm trọng nhất thế giới Hiện có trên 2,5 tỷ người đang gặp nguy hiểm, hàng năm có khoảng 0,5 tỷ ca mắc bệnh và trong số đú cú đến hơn 1 triệu người tử vong vì sốt
Trang 6rét (6) Tỷ lệ mắc bệnh sốt rét chịu tác động bởi tính hiệu quả của hạ tầng sức khỏe cộng đồng, thuốc diệt côn trùng và thuốc kháng sinh, sự gia tăng dân số, khả năng miễn dịch, quá trình di cư, thay đổi loại hình sử dụng đất và các yếu tố khí hậu.Nhiệt độ quá cao đặc biệt nguy hiểm đối với loài muỗi và ký sinh trùng Tại các khu vực có nhiệt độ gần với giới hạn chịu đựng của cơ thể ký sinh trùng Chỉ cần nhiệt độ tăng lên một chút cũng đủ gây chết ký sinh trùng từ đó làm giảm khả năng truyền nhiễm bệnh sốt rét Tuy nhiên, ở mức nhiệt độ thấp, khi nhiệt độ tăng lên ngay lập tức dẫn tới nguy cơ truyền nhiễm bệnh sốt rét (7).
Sự nhạy cảm của bệnh sốt rét đối với khí hậu được thể hiện rõ nhất ở các khu vực xa mạc và ven cao nguyên nơi mà lượng mưa và nhiệt độ lần lượt là các yếu tố quan trọng cho việc lây truyền dịch bệnh (8) Tại cỏc vựng mà nhiệt độ cao và/hoặc lượng mưa tăng do El Nino có thể làm tăng hiện tượng lây nhiệm bệnh sốt rét Tại cỏc vựng bệnh sốt rét không ổn định tại các nước đang phát triển, người dân không có đủ khả năng miễn dịch phòng bệnh và thường mắc bệnh khi điều kiện thời tiết thuận lợi cho việc lây nhiễm Trên phạm vi toàn cầu, tại cỏc vựng như vậy đã trải qua các cơn hạn hán hoặc có lượng mưa quá cao trung quá trình diễn ra hiện tượng ENSO
Hạn hán trong những năm trước đây được xác định là nhân tố gây nên tăng tỷ
lệ tử vong do sốt rét Có rất nhiều lý do giải thích cho mối liên hệ này Hiện tượng thiếu dinh dưỡng có liên quan đến hạn hán có thể làm tăng tính nhạy cảm của người trước sự lây nhiễm dịch bệnh (9) Đồng thời, hạn hán cũng có thể giảm khả năng chống lại sự lây nhiễm bệnh sốt rét do sự suy giảm tính miễn dịch cộng đồng của người dân Chính vì lẽ đó, trong những năm sau đó, số lượng người dễ mắc bệnh cũng tăng theo (10)
Ngoài ra, những thay đổi trong hệ sinh thái động vật tự nhiên có thể ảnh hưởng tới độc lực học loài muỗi; số lượng muỗi thường tăng nhanh hơn nhiều so với số lượng vật chủ trong những năm khô hạn Tình trạng khan hiếm có thể là tác nhân làm tăng tỷ lệ tử vong do dịch sốt rét trong lịch sử, chẳng hạn như hiện tượng El Nino tại
Ấn Độ năm 1877 trước đây Sau hạn hán, có rất nhiều người tử vong: nguyên nhân được dự đoán là do bệnh sốt rét khi những cơn mưa sau hạn làm tăng số lượng côn trùng do quá trình di cư và sự tập trung đông người tại các trại cứu tế (11)
Trang 7Nhiều vùng tại Nam Mỹ cho thấy những bất thường về khí hậu có liên quan đến ENSO Nhiều dịch bệnh nghiêm trọng tại các nước phía bắc Nam Mỹ xuất hiện chủ yếu vào năm sau El Nino (năm + 1) Năm 1983 sau khi xảy ra hiện tượng
El Nino mạnh, Ecuador, Peru và Bolivia đó có xảy ra dịch sốt rét (12, 13, 14) Tại Venezuela và Colombia, dịch sốt rét tăng vào các năm sau El Nino (+1) (10, 15,
16, 17) Người ta đã tìm thấy mối liên hệ đáng lưu ý về mặt thống kê giữa El Nino
và dịch sốt rét tại Colombia, Guynia, Peru và Venezuela (18) Các cơ chế thông thường lại không được hiểu một cách thấu đáo El Nino có liên quan đến hiện tượng giảm cơ chế lượng mưa cao tại hầu hết lãnh thổ Colombia cũng như hiện tượng tăng lên của nhiệt độ trung bình và độ bão hòa, đồng thời giảm lưu lượng các con sông (17) Tuy nhiên, mối liên hệ giữa bệnh sốt rét và hiện tượng ENSO lại có thể được dùng để dự đoán các năm có nguy cơ thấp hoặc cao đối với bệnh sốt rét, giúp có đủ thời gian huy động các nguồn lực để giảm thiểu tác động của dịch bệnh (15)
Châu Phi cũng xuất hiện bệnh sốt rét cận xa mạc xung quanh khu vực sa mạc Sahara (chẳng hạn như Sudan) và sa mạc Kalahari (Nambia, Botswana) Đối với các khu vực này, vùng nam Châu Phi và đông Sahara cũng cho thấy các hiện tượng lượng mưa bất thường có liên quan đến ENSO Các nghiên cứu gần đây đã tìm hiểu bằng chứng về mối liên hệ giữa hiện tượng bất thường của khí hậu và bệnh sốt rét tại Châu Phi (19, 20, 21)
Hiện tượng El Nino xảy ra trong các năm 1997/98 có liên quan đến lượng mưa lớn và lụt lội tại Kenya, sau hai năm hạn hán trước đó Từ tháng 1 đến tháng 5 năm 1998, dịch bệnh sốt rét falciparum lớn đã xuất hiện Nghiên cứu của Brown (19) cho thấy tỷ lệ mắc bệnh xấp xỉ 40% tại thị trấn Wajir, Kenya Ba quận khác của Kenya cho thấy tỷ lệ các ca mắc bệnh sốt rét tăng gấp sáu lần chỉ trong hai tháng đầu năm 1998 so với cùng kỳ năm 1997 (22) Dịch sốt rột cú nguồn gốc từ nạn thiếu lương thực lan rộng
Các nghiên cứu khỏc đó nhấn mạnh các đặc tính của các yếu tố phi khí hậu trong việc chứng minh dịch tễ học gần đây tại Châu Phi (23) Sự trở lại của bệnh sốt rét tại các vùng cao nguyên của Kenya trong hơn 20 năm qua đã được cho là do hiện tượng kháng thuốc chống sốt rét (24) Một nghiên cứu khác lại khụng tỡm
Trang 8thấy mối liên hệ giữa xu hướng khí hậu và việc tính toán thời gian dịch bệnh sốt rét xuất hiện tại Kenya Dựa trờn các số liệu về dịch bệnh và khí hậu được tính trong vòng 30 năm, nghiên cứu này kết luận “…bản thân động lực học dân số đã cho thấy những minh chứng hết sức mờ nhạt về các giai đoạn dịch bệnh” (25) Có nghiên cứu lại đưa ra các xu hướng khí tượng học không hề nổi bật tại 4 khu vực
có độ cao lớn tại Đông Phi nơi phát hiện hiện tượng dịch sốt rét tăng mạnh (26) Nghiên cứu này đã sử dụng các số liệu khí hậu bình quân về mặt không gian có thể không đáng tin cậy Mối liên hệ giữa lượng mưa, nhiệt độ và số lượng ca bệnh nhân sốt rét nằm viện sau đó 3 đến 4 tháng đã được đưa vào báo cáo gần đây (27)
Bệnh sốt xuất huyết
Sốt xuất huyết là một loại bệnh vi rút nguy hiểm đối với con người xuất hiện tại các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên khắp thế giới Trong những thập niên gần đây, sốt xuất huyết đã trở thành một vấn nạn sức khỏe ở đô thị tại các nước nhiệt đới Người ta cho rằng loại bệnh này đã lan rộng chủ yếu là do việc kiểm soát côn trùng và bệnh dịch kém hiệu quả; hạ tầng sức khỏe cộng đồng không đảm bảo; tăng trưởng dân số; đô thị hóa không kiểm soát và không có kế hoạch; và hiện tượng di cư tăng lên (28, 29) Côn trùng gây bệnh sốt xuất huyết chủ yếu là muỗi
nhà, Aedes aegypti, sống trong môi trường đô thị tại vật chứa nhân tạo có nước Sốt xuất huyết cũng có thể lây lan thông qua Aedes albopictus, loài muỗi có thể
chịu được nhiệt độ thấp
Sốt xuất huyết xuất hiện theo mùa và thường liên quan tới thời tiết nóng ấm
và độ ẩm cao Có bằng chứng cho thấy rằng lượng mưa tăng tại nhiều nơi có thể ảnh hưởng tới mật độ côn trùng và nguy cơ lây truyền Hiện tượng ENSO có thể tác động trực tiếp thông qua việc gây ra các thay đổi về thói quen dự trữ nước do
sự xuống cấp của các hệ thống cấp nước thường xuyên (5) Lượng mưa cũng có thể tác động tới quá trình sinh trưởng của muỗi nhưng lại không đóng vai trò quan
trọng tại cỏc vựng đô thị: Aedes aegypti sống trong các vật chứa nhỏ chẳng hạn
như hốc cây thường chứa nước dù không có mưa
Giữa các năm 1970 và 1995, số lượng dịch bệnh sốt xuất huyết hàng năm tại Nam Thái Bình Dương có liên hệ chặt chẽ với Chỉ số Dao động nam (SOI) (30) Điều này là rất đáng tin cậy vì, tại khu vực này của thế giới, các giá trị có xác thực
Trang 9cao của SOI (thể hiện các điều kiện La Nina) có liên quan đến điều kiện khí hậu nóng ẩm nhiều hơn so với mức trung bình – điều kiện lý tưởng để muỗi phát triển Trong một nghiên cứu sau đó, Hales đã xem xét mối liên hệ giữa ENSO và các báo cáo tháng về những ca sốt xuất huyết tại 14 quốc đảo thuộc Thái Bình Dương (31) Có một mối liên hệ tích cực giữa SOI và bệnh sốt xuất huyết tại 10 quốc gia Tại 5 trong số đó (American Samoa, Nauru, Tokelau, Wallis và Western Samoa), lại có mối liên hệ mật thiết giữa SOI và nhiệt độ và/hoặc lượng mưa tại chỗ Trong quá trình diễn ra hiện tượng La Nina, 5 quốc gia trên thường có khí hậu nóng ẩm hơn so với điều kiện bình thường Các kiểu thời tiết địa phương có thể làm tăng khả năng lây nhiễm tại các đảo lớn và đông dân hơn nơi mà sốt xuất huyết trở thành bệnh địa phương nhưng những người mắc bệnh lại mang mầm bệnh từ những người đến từ các đảo nhỏ hơn Điều này cho thấy tác động của khí hậu đối với loại bệnh có liên quan đến côn trùng không nhất thiết chỉ giới hạn tại cỏc vựng vùng bị nhiễm do khí hậu thay đổi, chính vì thế các dự báo cần tính đến các yếu tố môi trường và xã hội địa phương.
Một nghiờn cứu về sốt xuất huyết tại Việt Nam cho thấy, số lượng các ca nhiễm bệnh đã tăng khi có El Nino (32) Tại Thái Lan, nơi không có dấu hiệu mạnh về ENSO, lại không thấy xuất hiện mối tương quan này (25) Nhiều quốc gia Châu Á đã cho thấy mức độ bất thường của bệnh sốt xuất huyết cũng như sốt xuất huyết vào năm 1998, một số trường hợp có thể là do các hiện tượng thời tiết liên quan đến El Nino (5) Báo cáo của Gagnon cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa El Nino và dịch sốt xuất huyết tại Guyana thuộc Pháp, Indonesia, Comlombia và Suriname, những nơi có nhiệt độ cao và lượng mưa thấp trong các năm diễn ra El Nino (33)
Các nghiên cứu này đã không làm rừ cỏc yếu tố nguy cơ môi trường đối với
sự tăng lên của các ca nhiễm sốt xuất huyết Các nghiên cứu mang tầm khu vực hoặc toàn cầu là cần thiết để xác định rõ liệu có hay không mối liên hệ giữa El Nino và sự thay đổi trong diễn biến bệnh sốt xuất huyết cũng như nếu có thì thông
số khí hậu nào (nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm mực nước biển hoặc vận tốc gió) có tác động trực tiếp
Trang 10Các loại dịch bệnh liên quan đến động vật gặm nhấm
Loài gặm nhấm được coi là các ổ dịch bệnh cũng như là nguồn trung gian hoặc vật chủ của các loại côn trùng chân đốt chẳng hạn như bọ chét Một số bệnh nhất định có liên quan đến động vật gặm nhấm có mối liên hệ với lũ lụt như bệnh trùng xoắn móc câu, tu-la và bệnh xuất huyết do vi rút Một số bệnh khác có liên quan đến động vật gặm nhấm và các loại bọ bao gồm sốt xuất huyết, Lyme, bệnh viêm não có liên quan đến loài bọ (TBE) và hội chứng bệnh phổi do vi rút (HPS)
Số lượng các loại động vật gặm nhấm có dấu hiệu tăng lên tại những khu vực
có nhiệt độ ôn hòa sau mỗi mùa đông có độ ẩm thấp (34) Một nghiên cứu cho thấy các ca mắc sốt xuất huyết ở người tại New Mexico đã xuất hiện thường xuyên hơn trong giai đoạn đụng xuõn với lượng mưa trên trung bình (35) Các điều kiện này
có thể làm tăng nguồn thức ăn cho loài gặm nhấm cũng như cải thiện môi trường sống của bọ chét Các loại bọ chét cũng rất nhạy cảm với khí hậu
Việc lây nhiễm do vi rút chủ yếu xuất hiện do hít phải các phần tử khí từ nước tiểu của loài gặm nhấm Sự xuất hiện của Hội chứng bệnh về hô hấp do vi rút đầu thập niên 90 tại miền nam nước Mỹ được cho là có liên quan đến những thay đổi
về mật độ loài gặm nhấm tại địa phương (36) Sự khô hạn đã làm giảm số lượng các loài ký sinh tự nhiên của loài gặm nhấm; sau đó lượng mưa cao lại làm giàu nguồn thức ăn dưới dạng côn trùng và hạt mầm Các tác động qua lại này khiến số lượng chuột tăng gấp 10 lần từ 1992 (36) đến 1993 Năm 1998, sự tăng lên số ca mắc bệnh do vi rút lại có liên quan đến sự tăng lên về số lượng loài gặm nhấm mà theo đó tương ứng với hai giai đoạn mùa đông ẩm và ấm nhẹ tại miền nam nước
Mỹ gắn liền với El Nino năm 1997/98 (37, 38) Một nghiên cứu toàn diện do Engelthaler tiến hành tại Vùng tứ giác, Mỹ, đã kết luận rằng lượng mưa trên trung bình vào mùa đông và mùa xuân trong giai đoạn 1992-1993 có thể làm tăng số lượng các loài gặm nhấm và từ đó làm tăng mối liên hệ giữa loài gặm nhấm và con người cũng như lây truyền vi rút (39)
Trang 11mặc dù phần lớn dấu hiệu của hiện tượng này đều không đáng kể Tuy nhiên, những gợi ý ở đây lại rất đáng tin cậy, do lượng mưa cao có thể đưa các phần tử ô nhiễm tới các hệ thống cấp nước, trong khi đó, hạn hán lại làm khô kiệt nguồn nước sạch khiến cho các loại bệnh liên quan đến vấn đề vệ sinh.
Các nguyên nhân chính của bệnh tiêu chảy có liên quan đến hệ thống cấp
nước bị ô nhiễm bao gồm: dịch tả, bào tử ẩn, vảy khuẩn tả E.coli, vi khuẩn hỡnh
lờ, vi khuẩn que, thương hàn và các loại vi rút như bệnh viêm gan A Sự bựng phỏt của bào tử ẩn, vi khuẩn hỡnh lờ, vi khuẩn que và các trung gian lây nhiễm khác cũng thể hiện mối liên hệ với hiện tượng lượng mưa cao tại các quốc gia có hệ thống cấp nước công cộng điều hòa (40, 41, 42, 43, 44, 45)
Mối liên hệ giữa các tạp chất trong nước uống và các loại bệnh về tiêu hóa đã được tìm ra (46) Đây là một trong những nghiên cứu đầu tiên áp dụng phương pháp chuỗi thời gian để phân tích các bệnh có liên quan đến nước Một nghiên cứu
về sự bựng phỏt cỏc loại bệnh liên quan đến nước tiến hành tại Mỹ đã cho thấy, khoảng phân nửa các loại bệnh này có liên quan chặt chẽ tới lượng mưa bất thường (41) Vị trí bựng phỏt, theo cơ sở dữ liệu của Cơ quan bảo vệ môi trường, được cho là tại lưu vực các con sông Lượng mưa vào thỏng bựng phỏt và các tháng trước được ước tính dựa trên các ghi chép về khí hậu: đối với cỏc bựng phỏt có liên quan đến nước mặt, thì mối liên hệ này biểu hiện mạnh mẽ nhất khi lượng mưa vào cỏc thỏng cú bựng phỏt tăng lên
Việc lây nhiễm các bệnh về đường ruột có thể tăng lên do nhiệt độ cao thông qua tác động trực tiếp khi các cá thể mang bệnh tăng lên trong môi trường (47, 48 49) Năm 1997, số lượng bệnh nhân tiêu chảy và hiện tượng mất nước tăng lên rõ rệt tại vùng hạn hán tại Lima, Peru trong thời gian diễn ra El Nino (50) Phương pháp phân tích chuỗi thời gian đối với các số liệu hàng ngày từ cơ sở y tế cho thấy tác động của nhiệt độ đối với khả năng nhiễm dịch tả với tỷ lệ nhiễm khoảng 8% với mỗi 1oC tăng lên (51)
Việc phân tích các báo cáo bệnh tiêu chảy mức độ trung bình tại các quốc đảo Thái Bình Dương (1978-1986) cho thấy mối liên hệ chặt chẽ với nhiệt độ trung bình và mối liên hệ trái ngược khác với lượng nước ước tính (52) Phương pháp phân tích chuỗi thời gian các bệnh án bệnh tiêu chảy tại quốc đảo Fiji (1978-1992)
Trang 12cho thấy tác động nổi bật về mặt thống kê đối với những thay đổi nhiệt độ hàng tháng (khoảng tỷ lệ tăng khoảng 3% các ca tiêu chảy với mỗi 1oC tăng lên) Lượng mưa bất thường cũng liên quan đến sự tăng lên các ca nhiễm tiêu chảy (52).
Nói tóm lại, rõ ràng là có bằng chứng về mối liên hệ giữa hàng loạt các loại bệnh lây nhiễm nghiêm trọng và khí hậu trên bình diện thời gian và địa lý Điều này đúng với các bệnh có liên quan đến côn trùng, nhiều loại bệnh về đường ruột cũng như một số bệnh nhất định có liên quan đến nước Các mối liên hệ này không hẳn đã dễ phát hiện, đặc biệt là với các phương pháp thông thường Mối quan hệ giữa sự biến động khí hậu theo năm và các loại bệnh lây nhiễm nổi bật nhất tại những nơi biến đổi khí hậu trở nên rõ ràng cũng như tại nhóm dân số dễ bị lây nhiễm tại các nước nghèo Các nghiên cứu khoa học quan trọng cũng nhất trí rằng
El Nino có thể đưa đến những tác động phần nào tương tự như sự biến đổi khí hậu toàn cầu đối với các loại bệnh lây nhiễm (53) Tuy nhiên, theo Bản thụng cáo liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) thì:
“Cỏc nhà hoạch định chính sách cần phải nhận thức được rằng dù khả năng khoa học của chúng ta áp dụng để dự đoán và định hình những tác động đối với sức khỏe của hiện tượng biến đổi khí hậu là đương nhiên nhưng chúng ta khó mà đưa ra các quy chiếu rõ ràng và khu biệt về những tác động đối với sức khỏe…” (3)
Hiện tượng nhiệt độ bất thường: Sóng nhiệt và lạnh bất thường
Trong những năm gần đây, người ta ngày càng quan tâm nhiều hơn đến các nghiên cứu chuỗi thời gian về nhiệt độ và tỷ lệ tử vong Những nghiên cứu này được coi như phương pháp tối ưu để xác định số lượng những mối liên hệ tạm thời giữa nhiệt độ xung quanh và tỷ lệ tử vong theo ngày Tất cả các phương pháp dài hạn (chẳng hạn như vòng xoay theo mùa) đều được thay thế Những tác động trong các ngày nắng nóng chỉ ảnh hưởng một số ngày nhất định của chuỗi tỷ lệ tử vong; ngược lại, những ngày lạnh lại có đến 2 tuần ảnh hưởng Tại nhiều nước ôn đới, tỷ
lệ tử vong vào mùa đông là 10-25%, con số này cao hơn so với mùa hè nhưng nguyên nhân của sự khác biệt này lại không được tìm hiểu một cách thấu đáo (61)
Trang 13HỘP 5.1 Tác động của hiện tượng khí hậu bất thường đối với bệnh sốt rét tại Irian Jaya
Bắt đầu từ tháng 8 năm 1997, sự tăng lên đáng kể của các ca tử vong không thể giải thích xuất hiện tại huyện cao nguyên Jayawajay Những con số tử vong đáng báo động tăng lên chóng mặt vào tháng 9 và đạt đỉnh vào tháng 10 Có đến hơn 550 ca tử vong do các bệnh
“do hạn hán” trong thời gian 10 tuần được chính thước công bố từ huyện này Sự bùng phát xuất hiện tại các vùng đặc biệt khó khăn có địa hình núi bậc thang, nơi sinh sống của những cư dân nông nghiệp
Các bản sao microfilm và số liệu khảo sát thực địa đã khẳng định bệnh sốt rét là nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệ bệnh tật và tử vong tăng trong khoảng độ cao địa hình từ 1000-2000m Sự bùng phát mạnh mẽ của bệnh sốt rét cũng như các ca tử vong có liên hệ gián tiếp tới nạn hạn hán khốc liệt và kéo dài do El Nino trong giai đoạn 1997-98 tại khu vực Á-Úc
Các ca mắc bệnh sốt rét thường rất trầm trọng do cả một khu vực rộng lớn chỉ có mức miễn dịch tự nhiên thấp trong cộng đồng cư dân vùng cao nguyên cũng như sự lây nhiễm
trùng sốt rét Bệnh dịch có thể còn trầm trọng hơn do tình trạng thiếu dinh dưỡng của
người dân do nạn thiếu lương thực thiết yếu trầm trọng liên quan đến hạn hán Được dựa trên các điều tra trước đây, người ta đã trình bày một nghiên cứu tiền dịch tễ học đối với các nguyên nhân liên quan có thể xảy ra như sau:
“Bắt đầu từ cuối tháng 7 năm 1997, sự khô hạn làm phát sinh các vũng nước ứ đọng tạm thời tại các dòng suối dốc nước chảy mạnh Điều này dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng và đầy đủ số lượng côn trùng (Phức hợp Anophen) đồng thời kéo dài tình trạng lây nhiễm bệnh sốt rét cấp thấp tại chỗ đã được đề cập hoặc tăng mạnh gần đây Ngoài ra, tình trạng khan hiếm nước và lương thực cũng góp phần làm tăng quá trình di chuyển nhân khẩu học mà mở rộng ra các vùng thấp có nguy cơ sốt rét cao, từ đó làm tăng sự phổ biến hiện tượng lây nhiễm ở người cũng như các nguồn nhiễm trong nhóm dân số di cư lên các vùng cao nguyên”
Nguồn:Từ nguồn tham khảo (54)
Trang 14HỘP 5.2 Bệnh dịch tả
Có vẻ như các cơ chế khác nhau đều nằm trong tỷ lệ tử vong do lạnh và nóng;
tỷ lệ tử vong do lạnh ở các nước ôn đới chủ yếu liên quan đến sự xuất hiện của các
bệnh lây nhiễm qua đường hô hấp Nhiệt độ cao có thể gây ra một số triệu trứng y
học như sốc nhiệt (62) Có rất ít các ca tử vong trực tiếp do nhiệt được thông báo
Việc chịu tác động của nhiệt độ cao làm tăng tớnh đụng mỏu đồng thời sự căng
thẳng do nhiệt có thể làm bựng phỏt cỏc triệu trứng như đau tim hoặc đột quỵ (63)
Các nghiên cứu cho thấy, sức khỏe người già bị ảnh hưởng nặng nề bởi cơ chế
Thường thì dịch tả được coi là bệnh lây nhiễm theo đường miệng-tiêu hóa nặng nề, nhưng hiện nay người ta ngày càng quan tâm nhiều hơn đến các nhân tố môi trường đối với dịch bệnh này Việc phát hiện các điểm chứa nước mầm bệnh dịch tả cũng như sự tồn tại lâu dài của các cơ cấu chứa nước (ở phần màng nhầy của của tảo lục-lam và động vật thân giáp) giúp chúng ta giải thích tính đặc hữu tại một số vùng nhất định chẳng hạn như các vùng của sông tại Ganges và Bramaputra, Bangladesh (55) Công trình nghiên cứu hiện nay đã cho thấy mối liên hệ giữa tính biến đổi theo mùa của bệnh dịch tả và phiêu sinh vật
(hoa tảo) và chuỗi lương thực thủy sinh Công trình nghiên cứu Phẩy khuẩn tả 01 tại
Bangladesh (1987-90) cho thấy, sự tăng lên về sống lượng loài thân giáp (sống nhờ các loài phiêu sinh vật) tại các vùng nước ven biển (55) Các phân tích số liệu về bệnh tả từ Bangladesh chỉ ra rằng tính biến đổi theo mùa của bệnh dịch tả thể hiện thành tố bình thường tần xuất nổi bật của El Nino (56, 57)
Hàng loạt các bùng phát bệnh dịch tả năm 1997 tiếp ngay sau những trận mưa lớn Các quốc gia thuộc Đông Phi bị ảnh hưởng nặng nề nhất: Các ổ dịch lớn xuất hiện ở Cộng hòa Tanzania, Kenya, Guinea Bissau, Chad và Somali (2, 58) Người ta cũng phát hiện ra dịch
tả tại Peru, Nicaragua và Honduras (59, 60) Tuy nhiên, con số tổng hợp về các ca mắc dịch tả được WHO ghi nhận trong năm, trên bình diện toàn cầu và khu vực, cũng chỉ tương tự như năm 1996 Các quốc gia có số lượng người mắc dịch tả tăng trong năm 1997 cũng vẫn tiếp tục nằm trong tầm nguy hiểm trong những năm tiếp sau đó Năm 1997, nhóm khảo sát tình hình bệnh dịch tả khu vực của WHO đã lưu ý đến những dự báo về nạn hạn hán do El Nino tại đông nam Châu Phi Nhóm này đã tiến hành các biện pháp nhằm giúp giảm thiểu mức độ nguy hại khi dịch tả bùng phát tại Moxambique thông qua việc quản lý và chuẩn bị tốt các cơ sở chăm sóc y tế (60)
Trang 15nhiệt độ (62, 64, 65, 66) Các nghiên cứu về thể chất ở người già nêu rõ rằng nhiệt
độ thấp có liên quan đến hiện tượng tăng huyết áp và mức độ fibrinogen (67, 68)
Tác động của sóng nhiệt đối với tỷ lệ tử vong
Sóng nhiệt có thể gây tử vong Vào tháng 7 năm 1995, tại Chicago, Mỹ, sóng nhiệt đã gây ra 514 ca tử vong do nhiệt (12 người/100.000 dân) và 3300 ca cấp cứu (69) Các nhà xác trở nên chật trội và thi thể phải bảo quản trong xe lạnh Từ ngày
12 đến 20 tháng 7, nhiệt độ hàng ngày thường ở mức từ 34-40oC với đỉnh là ngày
13 tháng 7 Số ca tử vong cao nhất rơi vào ngày 15 tháng 7 (70)
Trong thời gian diễn ra sóng nhiệt, số ca tử vong cao nhất ở người già và những người có tiền sử về bệnh lý (71) Phần lớn các ca tử vong đều do các bệnh
về tim mạch, não mạch và hô hấp Tỷ lệ tử vong do sóng nhiệt thường không rõ ràng xột trờn phương diện số lượng người thiệt mạng: tỷ lệ tử vong thường diễn ra
ở những người nhạy cảm vốn có khả năng tử vong trong tương lai gần Tuy nhiên, chắc chắn một điều rằng cường độ và tần xuất sóng nhiệt tăng sẽ làm tăng số lượng các ca tử vong trong thời tiết nắng nóng
Thực tế chưa có bất kỳ một định nghĩa chuẩn mang tính quốc tế nào về sóng nhiệt Các định nghĩa chuyên môn cần phải xác định rõ trong lĩnh vực khí tượng học Khi ngày càng trở nên thương mại hóa, các cơ quan khí tượng học thường chú trọng phát triển việc ứng dụng thực tế các dự đoán của mình và định hướng các ứng dụng đó cho nhu cầu người dùng Cục khí tượng Hà Lan hiện đang sử dụng định nghĩa sau để đưa ra các cảnh báo trên phương tiện truyền thông và trực tiếp tới các cơ sở y tế: Ít nhất 5 ngày có nhiệt độ tối đa trên 25oC trong đó có ít nhất 3 ngày có nhiệt độ tối đa trên 30oC Cơ sở của định nghĩa này là không rõ ràng Tại
Mỹ, Cơ quan khí tượng quốc gia cho rằng sẽ đưa ra thông báo tư vấn (cảnh báo sớm) khi chỉ số nhiệt độ ban ngày đạt 40.6oC và chỉ số nhiệt độ ban đêm tối thiểu đạt 26.7oC kéo dài trong 48 giờ (72) Một số định nghĩa địa phương khác cũng được áp dụng: Tại Dallas, các nhà khảo nghiệm y tế đưa ra định nghĩa sóng nhiệt
là chuỗi 3 ngày liên tiếp có nhiệt độ trên 37.8oC
Thật ngạc nhiên rằng khó có thể coi sóng nhiệt là các phản ứng khi có nhiệt độ quá cao dao động giữa các nhóm dân cư cũng như trong cùng một nhóm dân cư theo thời gian Sóng nhiệt năm 1987 tại Athens đã gây ra 926 ca tử vong được xác định là
Trang 16do nhiệt mặc dù con số ca tử vong được cho là phải lên đến trên 2000 (73) Đợt sóng nhiệt tiếp theo diễn ra vào năm 1998 chỉ gõy ra con số tử vong thấp hơn nhiều Điều này cũng được theo dõi tại Chicago trong đợt sóng nhiệt năm 1995 (74).
Một số ớt cỏc kết quả phân tích đưa ra đánh giá về các tác động của sóng nhiệt tại các nước đang phát triển và dấu hiệu là rất đáng kể Đợt sóng nhiệt tại Ấn Độ vào tháng 6 năm 1998 ước tính có khoảng 2600 người tử vong trong khoảng thời gian hơn
10 tuần nhiệt độ cao (75) Tại Ores, nhiệt độ tăng lên đến 49.5oC và đã gây ra 1300 ca
tử vong Nhiệt độ cao càng được tăng lên do những sai sót trong thu hồi năng lượng ảnh hưởng tới các hệ thống làm lạnh cũng như các cơ sở y tế tại Delhi
Các nhân tố hành vi học quan trọng thường rõ nét ở một số quốc gia nhất định: tại Nhật Bản, trẻ nhỏ thường bị ảnh hưởng khi ở trong xe hơi Không phải tất
cả các ca tử vong liên quan đến nhiệt đều do các điều kiện thời tiết Chẳng hạn, vào năm 1994 tại Mỹ, 221 ca tử vong liên quan đến nhiệt được ghi nhận, nhưng chỉ có 101 ca (46%) là do các điều kiện thời tiết xung quanh Số còn lại là do lao lực trong quá trình hoạt động Trong giai đoạn 1979-1994, tỷ lệ tử vong do các điều kiện thời tiết là 2.7-3.7 người trên 1 triệu dân được dẫn ra tại 4 bang có tỷ lệ cao nhất (Arizona, Arkansas, Kansas và Missouri) (72) Phần lớn các ca tử vong rơi vào nhóm người có độ tuổi trên 55 Nhìn chung, tác động đối với tỷ lệ tử vong vẫn chưa được xác định rõ ràng do tỷ lệ này từ các loại bệnh khác tăng lờn trong các giai đoạn sóng nhiệt Điều này đúng với mọi nhóm dân số điều tra
Rooney đã ước tính số lượng người chết do nhiệt vào năm 1995 tại Anh Quốc (76) Ước tính con số tử vong cao hơn khoảng 619 ca so với dự đoán ban đầu (tăng 8.9%) thông qua việc lấy trung bình trong 31 ngày của giai đoạn này Số ca tử vong tăng cao nằm ở tất cả các nhóm tuổi, nhưng chủ yếu là ở nhóm nữ giới và nhóm những người tử vong do các bệnh về hô hấp và vữa sơ động mạch Một đợt sóng nhiệt diễn ra tại Bỉ vào năm 1994 cũng gây ra tỷ lệ tử vong ngoài ước tính Con số dôi ra này một phần là do sự chuyển đổi tỷ lệ tử vong vì số ca tử vong vượt trội ở nhóm người cao tuổi
do sóng nhiệt (con số này không xuất hiện trong nhóm tuổi từ 0-64) (77)
Độ nhạy cảm đối với tử vong do nhiệt
Các chỉ số độ nhạy cảm đối với tử vong do nóng và lạnh được điều tra bao gồm:
• Tuổi tác và bệnh lý
Trang 17• Tình trạng kinh tế xã hội
• Điều kiện ăn ở
• Sự phổ biến của điều hòa nhiệt độ
• Thói quen (chẳng hạn như ăn mặc)
Các yếu tố này tương ứng ở từng cá nhân với tư cách là các chỉ số nguy cơ tử vong hoặc bệnh tật do nhiệt, chẳng hạn như sự có mặt của điều hòa nhiệt độ trong khoảng thời gian tử vong
Các nghiên cứu ở cả hai cấp độ cá nhân và cộng đồng dân cư được tiến hành sau đợt sóng nhiệt năm 1995 tại Chicago Semenza đã tiến hành phỏng vấn họ hàng của những người thiệt mạng trong đợt sóng nhiệt, những người sống gần khu vực xảy ra sự việc có tính đến tuổi tác và mối quan hệ láng giềng (78) Các nhân tố nguy tử vong do sóng nhiệt đã được xác định: Bệnh mãn tính; ốm liệt giường; không thể tự chăm sóc cho bản thân; bị cách ly; không có điều hòa không khí Một phép so sánh tỷ lệ tử vong trong các đợt sóng nhiệt (1966) tại Illiois theo độ tuổi, giới tính và nhóm chủng tộc (da trắng so với cỏc nhúm khỏc) cho thấy rằng phụ nữ
và người da trắng có nguy cơ cao hơn (79)
Tử vong về mùa đông
Tại nhiều nước ôn đới, có tồn tại sự biến đổi tỷ lệ tử vong theo mùa rõ ràng (80, 81) Tỷ lệ tử vong vào mùa đông thường cao hơn từ 10-25% so với mùa hè Nguyên nhân chủ yếu của các ca tử vong vào mùa đông là do các bệnh về tim mạch, tai biến mạch mỏu não, tuần hoàn máu và hô hấp (82, 83)
Sự bựng phỏt cỏc bệnh mùa đông hàng năm chẳng hạn như cảm cúm, vốn tác động mạnh lên tỷ lệ tử vong về mùa đông, không thực sự liên quan chặt chẽ tới nhiệt độ mùa đông hàng tháng (84) Việc thích nghi xã hội và thói quen đối với thời tiết lạnh đóng vai trò quan trọng trong việc phòng chống tử vong mùa đông tại các nước có vĩ độ cao Sự nhạy cảm với thời tiết lạnh (được tính theo phần trăm tử vong tăng theo mỗi 1oC nhiệt độ thay đổi) thường lớn hơn tại cỏc vựng núng ấm
Tỷ lệ tử vong tăng cao trên diện rộng hơn khi nhiệt độ giảm tại cỏc vựng cú mựa đông ấm, trong nhóm dân số không có hệ thống sưởi ấm trong nhà và những người mặc quần áo không đủ ấm (85)
Trang 18Người già (trên 75) đặc biệt nhạy cảm với hiện tượng tử vong về mùa đông, với tỷ lệ tăng hơn 30% vào mùa đông Sự nhạy cảm này trên thực tế vẫn chưa được xem xét thấu đáo nhưng có thể nắm bắt được phần nào thông qua việc xâu chuỗi các yếu tố như độ tự cảm, hành vi và những bất lợi về mặt kinh tế xã hội Tỷ
lệ tử vong tăng hơn trong mùa đông là một vấn nạn nghiêm trọng tại Anh Quốc nơi
mà đã nổ ra rất nhiều tranh cãi xoay quanh tác động của tình trạng nhà ở nghèo nàn, thiếu hụt nhiên liệu cũng như các vấn đề khác đối người già (86) Hàng loạt các nghiên cứu đã liên kết các số liệu tử vong thông thường tại cấp phường hoặc thống kê quận với các chỉ số diện hẹp về nhà ở và nghèo đói Một nghiên cứu về tử vong do căn bệnh tim thiếu máu cục bộ tại Stockport phát hiện thấy rằng tỷ lệ tử vong về mùa đông tăng cao hơn ở nhúm cú đẳng cấp xã hội cao hơn mặc dù chưa theo dõi các dấu hiệu một cách rõ ràng (87) Một nghiên cứu khỏc trờn diện hẹp cũng cho thấy rằng hệ thống sưởi ấm gia đình không đảm bảo cũng như đời sống kinh tế nghèo nàn chính là các tiêu chí dự đoán hiệu quả nhất đối với dao động cấp
xã phường ở mức tăng tỷ lệ tử vong về mùa đông tại Anh và Xứ Wales (88) Tuy nhiên, nhìn chung các nghiên cứu mới chỉ phát hiện ra mối liên hệ mờ nhạt giữa mức tăng tỷ lệ tử vong mùa đông và đúi nghèo (86)
Các tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu đối với vấn đề tử vong do nhiệt độ
Biến đổi khí hậu toàn cầu dường như đi kèm với nó là sự tăng lên về cường
độ và tần xuất của các đợt sóng nhiệt cũng như việc mùa hè nóng hơn còn mùa đông thì ấm hơn (2) Tác động của hiện tượng nóng bất thường vào mùa hè đối với sức khỏe của con người càng trở nên nghiêm trọng hơn do sự tăng lên của độ ẩm Trong vòng 25 năm qua nhiệt độ đã tăng lên đáng kể ở hầu hết các khu vực trên thế giới (xem Chương 5), một vài trong số đó IPCC cho là do bắt nguồn từ các hành động của con người Tuy nhiên, cũng chưa hẳn tần xuất các đợt sóng nhiệt đã tăng lên dù cho một số nghiên cứu đã tiến hành phân tích các số liệu nhiệt độ hàng ngày để xác định (1) Các xu hướng được theo dõi phần lớn chứa đựng sự biến đổi theo khu vực Gaffen và Ross đã tiến hành xem xét các số liệu trong giai đoạn 1961-1990 tại 113 trạm khí tượng tại Mỹ và rút ra kết luận rằng tần xuất theo năm của các ngày vượt quá ngưỡng nhiệt đều tăng tại hầu hết các trạm (89)
Trang 19Các nghiên cứu mô hình hóa dự báo đã sử dụng các dự đoán khí hậu để đưa ra con số ước tính về tỷ lệ tử vong do nhiệt độ trong tương lai Các nghiên cứu sử dụng các mô hình thống kê mang tính kinh nghiệm (dựa trên các thông số từ phép hồi quy tuyến tính từ mối quan hệ giữa tử vong và nhiệt độ) này cho thấy rằng mức giảm tỷ lệ tử vong về mùa đông cao hơn mức tăng của tỷ lệ này vào mùa hè tại các nước ôn đới (84, 90) Tuy nhiên, một số phương pháp khỏc đó chỉ ra mức tăng đáng kể hơn đối với tỷ lệ tử vong về mùa hè Kalkstein và Green đã ước tính mức tăng tỷ lệ tử vong trong tương lai sẽ cao hơn do biến đổi khí hậu tại các thành phố của Mỹ (91) Chẳng hạn, mức tăng tỷ lệ tử vong về mùa hè bắt nguồn từ biến đổi khí hậu, xét về khí cạnh thích nghi đối với khí hậu, được ước tính vào khoảng 500-
1000 tại New York và 100-250 tại Detroit vào năm 2050
Hy vọng người dân sẽ thích nghi được với những biến đổi khí hậu thông qua các thay đổi về sinh lý học, thói quen và công nghệ Điều này có xu hướng làm giảm tác động của việc tăng các đợt sóng nhiệt trong tương lai Những thích nghi với khí hậu ban đầu về mặt sinh lý học khi môi trường nóng lên có thể chỉ mất trong một vài ngày nhưng những thay đổi về mặt hành vi thói quen và công nghệ, chẳng hạn như thay đổi môi trường hiện tại, thì phải mất nhiều năm
Trong lúc có thể dễ dàng nhận thấy mối quan hệ giữa các đợt sóng nhiệt vào mùa hè và tỷ lệ tử vong tăng lên trong thời gian ngắn thì xác định phạm vi tỷ lệ tử vong có liên quan đến mùa đông với tác nhân trực tiếp là thời tiết khắc nghiệt lại là việc là khó khăn Những bằng chứng ít ỏi cho thấy ít nhất ở một vài quốc gia ôn đới, số ca tử vong về mùa đông giảm sẽ làm tăng con số này ở mùa hè Tác động
cụ thể đối với tỷ lệ tử vong sẽ dao động giữa các nhóm dân số Hiện không có mối liên hệ rõ ràng nào giữa biến đổi khí hậu và những hậu quả có thể tránh được khi không có những nghiên cứu thích đáng
Thiên tai
Không dễ dàng đánh giá được mức độ các ảnh hưởng của thiên tai đối với sức khỏe do các hậu quả phụ và đến sau thường không được báo cáo và công khai rõ ràng Nói chung các thông tin về thiên tai thường được thu thập thông qua các cơ quan, tổ chức trực tiếp tham gia giảm nhẹ và tái thiết sau thiên tai Chính vì thế, các thông tin này chỉ được thu thập để phục vụ cho các mục đích chuyên môn cụ
Trang 20thể chứ không phải để nhập vào cơ sở dữ liệu; các số liệu chỉ được ước tính chứ không phải được tính toán trực tiếp (92) Điều này đặc biệt đúng đối với trường hợp khi xảy ra lũ lụt và bão do các con số thực về tử vong và thương tổn trực tiếp thường nhỏ hơn so với những vấn đề hậu quả phát sinh sau đó như tử vong do các loại bệnh lây nhiễm cũng các thiệt hại về kinh tế đi kèm (93, 94, 95) (xem Hộp 5.3 Cơn bão Mitch).
El Nino cũng có tác động nhất định lên số người bị ảnh hưởng bởi thiên tai (96, 97) Trên bình diện thế giới, các thảm họa do hạn hán đến nhiều gấp hai lần trong, sau khi có El Nino so với các năm khác (97) Nguy cơ này chủ yếu tập trung
ở Nam Châu Phi và Đông Nam Á Tác động của El Nino đối với các thiên tai là nổi bật trên bình diện toàn cầu (96) Trong một năm diễn ra El Nino, khoảng 35 trên 1000 người bị ảnh hưởng bởi thiên tai Theo các phân tích số liệu trong các năm từ 1963-192 thì con số này cao gấp hơn 4 lần so với các năm không có El Nino Sự khác biệt nằm trong các nguy cơ này biểu hiện mạnh mẽ hơn nhiều ở nạn đói; dấu chân thảm họa toàn cầu của El Nino có thể dễ dàng nhận ra thông qua hậu quả của nó là nạn hạn hán
Trong các năm 1997/98, Kenya bị ảnh hưởng nặng nề bởi lũ lụt và lượng mưa tăng cao Cả Ecuador và miền bắc Peru cũng đã trải qua nạn lụt và lở đất ở cỏc vựng dọc bờ biển gây thiệt lớn đối với hạ tầng cơ sở địa phương (98) Tại Peru, 9.5% cơ sở y tế bị phá hủy, bao gồm 2% các bệnh viện và 10% các trung tâm y tế khác (98) Với những nơi khác, Guyana, Indonesia và Papua New Guinea cũng bị ảnh hưởng nặng nề bởi nạn hạn hán Mặc dù không phải tất cả các thiên tai trong các năm 1997/98 đều do El Nino gây ra, nhưng các ước tính về số lượng ca tử vong trên toàn cầu dao động từ 21000 (99) đến 24000 (100)
Các xu hướng thảm họa thời tiết
Trên toàn cầu, xu hướng tác động của thiên tai ngày càng tăng lờn Một số phân tích của công ty tái bảo hiểm Munich Re cho thấy số lượng các đợt thiên tai
đã tăng lên gấp 3 lần trong 10 năm trở lại đây so với thập niên 60 (94) Điều này chủ yếu xuất phát từ xu hướng toàn cầu ảnh hưởng tới tính nhạy cảm của dân số chứ không phải là từ những biến đổi tần xuất các tác nhân khí tượng học
Trang 21Các nước đang phát triển thường không được trang bị tốt để đương đầu với các hiện tượng bất thường của thời tiết Số người bị thiệt mạng, bị thương hoặc mất nhà cửa do thiên tai đang tăng lên một cách đáng báo động Điều này một phần là do dân số phát triển cũng như sự tập trung dân số tại các khu vực có nguy
cơ cao nhưng cỏc vựng duyên hải và thành thị Các khu ổ chuột nhà cửa thưa thớt thường nằm ở các khu vực thường xuyên có lũ lụt Ở nhiều nơi, khu vực dành cho cộng đồng nghèo thường không có hệ thống đối phó tự nhiên trước các hiện tượng bất thường của thời tiết Dấu ấn trực tiếp của các hiện tượng bất thường tại các thành phố, thị trấn thường gây ra các thiệt hại nặng nền Trong những thập niên gần đây, lượng người di cư tới các thành phố ngày một tăng, đồng thời hơn một nửa dân số thế giới hiện đang sinh sống tại các khu đô thị Sự di cư cũng như mức
độ nhạy cảm ngày một tăng này đồng nghĩa với việc dù thậm chí không có thờm cỏc hiện tượng bất thường nhưng những thiệt hại do các sự kiện bất thường đó vẫn
có xu hướng tăng lên (101)
Hiện có rất nhiều nguồn thông tin nhưng nguồn thông tin lớn nhất và được sử dụng nhiều nhất cũng như đáng tin cậy nhất chính là cơ sở dữ liệu được xây dựng vào năm 1988 do Tổ chức y tế thế giới và Chính phủ Bỉ hỗ trợ (EM-DAT) Mục tiêu của EM-DAT là để:
“…phục vụ mục đích nhân đạo trên bình diện quốc gia và quốc tế Đây là một sáng kiến nhằm hợp lý hóa việc đưa ra quyết định đối với vấn đề đương đầu với thảm họa cũng như cung cấp cơ sở khách quan cho việc đánh giá tính nhạy cảm và hướng giải quyết ưu tiên” (92).
Trung tâm nghiên cứu dịch tễ học thiên tai (CRED) đã ghi nhận các hiện tượng có ít nhất 10 người bị thiệt mạng; 100 người bị ảnh hưởng; kêu gọi hỗ trợ quốc tế; nhà nước ban bố tình trạng khẩn cấp Hiện xu hướng thiệt hại về người và kinh tế do thiên tai ngày càng tăng, đồng thời thiệt hại kinh tế hàng năm tăng gấp
010 lần so với thập niên 50 (102) Tuy nhiên, phần lớn các thiệt hại về kinh tế chủ yếu là do những biến đổi xã hội cũng như tính nhạy cảm trước thời tiết cũng như các hiện tượng khí hậu bất thường ngày càng tăng (103)
Các số liệu của thập niên 80 và 90 được thể hiện trong Bảng 5 Số liệu này bao gồm đầy thông tin về số lượng các hiện tượng, số người bị thiệt mạng, bị ảnh hưởng do thiên tai trong từng thập niên theo từng vựng trờn thế giới Một số vùng
Trang 22thậm chí còn bị ảnh hưởng nặng nề hơn cỏc vựng khỏc, mặc dù một số nơi cho
thấy sự giảm sút về số lượng người thiệt mạng (Châu Phi và đông Địa Trung Hải)
cũng như số lượng người bị ảnh hưởng (Châu Phi, Châu Mỹ và Đông Nam Á)
Nguyên nhân của việc tăng lên này bao gồm:
• Việc tập trung người và tài sản tại thành thị ngày một tăng
• Việc định cư tại các khu vực có nguy cơ cao (vùng rốn lũ, duyên hải)
• Biến đổi điều kiện môi trường (chẳng hạn việc phá rừng có thể gây ra nạn lụt)
Hiện đang có sự tăng lên rõ rệt về sống lượng các đợt thiên tai nhưng không
có nhiều thay đổi về số người bị thiệt mạng (94) Năm 2000, có hơn 400 đợt thiên
tai với 250 triệu người bị ảnh hưởng (94) Nghịch lý này có thể giải thích nhờ các
tiến bộ về công nghệ trong quá trình xây dựng nhà và cơ sở hạ tầng cũng như tiến
bộ các hệ thống cảnh báo sớm, đặc biệt là tại cỏc vựng phát triển hơn Mặc dù có
sự dao động theo từng năm rõ ràng về số lượng các ca tử vong do thiên tai, nhưng
xu hướng tăng số lượng người thiệt mạng và bị ảnh hưởng vẫn được theo dõi chặt
chẽ trong các thập niên gần đây (94)
Tác động của thiên tai đối với sức khỏe
Các hiện tượng thời tiết bất thường trực tiếp gây tử vong và thương tổn cũng
như các ảnh hưởng phụ gián tiếp đối với sức khỏe khỏc Cỏc tác động gián tiếp
này gây ra hậu quả thiệt hại
BẢNG 5.3 Số lượng các đợt thiên tai, số người bị thiệt mạng và ảnh hưởng
theo các khu vực trên thế giới
Thiên tai Thiệt
mạng Ảnh hưởng
Thiên tai
Thiệt mạng Ảnh hưởng
416581201916163211768538533552310211691857
137758905129345178085555411063480549644827308976127916881336185336
2471501392982863815772078
1041451101439159347458002483375618601219
10429690951235626636095503307119524274137561199768618408326531851447843Các khu vực và số liệu trong bảng này tương ứng với biểu đồ khu vực ở Chương 7
Trang 23BẢNG 5.4 Nguy cơ về mặt lý thuyết về các bệnh truyền nhiễm theo loại thiên tai Loại Người sang người Qua nước Qua thức ăn Qua côn trùng
MMHLLLHHL
MMMLLLMML
LLHLLLHML
H = Cao
M = Trung bình
L = Thấp
Nguồn: Tham khảo từ 106
Đối với cơ sở hạ tầng địa phương, thay đổi dân số và biến đổi hệ sinh thái Các tác động trực tiếp hoặc gián tiếp có thể dẫn đến sự xuống cấp hạ tầng y tế công cộng, ảnh hưởng tâm lý xã hội cũng như hạn chế khả năng tiếp xúc với các dịch vụ y tế (104) Các tác động của thiên tai đối với sức khỏe bao gồm (105, 106):
• Tổn thương thân thể;
• Tình trạng dinh dưỡng xuống cấp, đặc biệt là ở trẻ em;
• Sự tăng lên số lượng các bệnh về hô hấp và tiêu chảy do tập trung quá đông người, thường là thiếu chỗ ở và nước sinh hoạt;
• Tác động lên sức khỏe tâm thần, một số trường hợp có thể kéo dài;
• Nguy cơ ngày càng tăng các bệnh liên quan đến nước và bệnh chuyền nhiễm do sự xuống cấp của hệ thống cấp thoát nước, biến đổi và bùng nổ dân số;
• Sự phát tán và phổ biến hóa chất độc hại từ các cơ sở bảo quản cũng như thải rác ra vùng lũ
Lũ lụt
Lũ lụt có liên quan đến một số mối nguy nhất định đối với dân số (107) Tác động ngay lập tức của nó chính là sự tử vong hoặc thương tổn do chết đuối hoặc bị nước cuốn va vào các vật cứng Cơ sở hạ tầng địa hương bị ảnh hưởng nặng nề
Trang 24trong quá trình diễn ra thiên tai Thiệt hại do El Nino có thể bao gồm: thiệt hại về đường xá và giao thông do lũ lụt; các vấn đề về thoát nước và rác thải; và thiệt hại đối với hệ thống cấp nước.
Trong và sau các trận lụt thảm khốc hoặc bình thường, nhiều nguy cơ đối với sức khỏe xuất hiện nếu nước lũ bị ô nhiễm bởi chất thải của người và động vật Một nghiên cứu về nhóm dân số phải di dời do nạn lũ thảm khốc tại Banglasdesh năm 1988 đã phát hiện ra rằng tiêu chảy là bệnh phổ biến nhất, tiếp theo đó là các bệnh lây lan qua đường hô hấp Tiờu chảy gây tử vong ở tất cả các nhóm tuổi dưới
45 (108) Tại vùng nông thôn Bangladesh và Khartoum, Sudan, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng tăng cao sau lũ (109, 110) Tại các nước phát triển, cả nguy cơ sức khỏe cũng như bệnh dịch do lũ lụt đã giảm mạnh do hạ tầng vệ sinh và kiểm soát
lũ được duy trì tốt cũng như các biện pháp y tế cộng đồng, chẳng hạn như các hoạt động kiểm soát và khảo sát nhằm phát hiện và kiểm soát sự bựng phỏt của các dịnh bệnh lây nhiễm Tuy nhiên, thực tế nạn lụt diễn ra lại miền trung Châu Âu gần đây với hơn 100 người chết cho thấy rằng lũ lụt cũng tác động mạnh lên sức khỏe và phúc lợi tại các nước công nghiệp (111)
Lũ lụt cũng gây ra hiện tượng tử vong về mặt tâm lý Tiếp sau trận lụt tại Bristol, Anh Quốc, số người cần chăm sóc ban đầu tăng 53%, các trường hợp chuyển viện, nhập viện tăng hơn gấp đôi (112) Các tác động tâm lý tương tự cũng diễn ra sau trận lụt tại Brisbane, Australia vào năm 1974 (113) Sự phát triển hội chứng tâm lý và rối loạn căng thẳng hậu chấn thương với 50 trường hợp tự sát có liên quan đến nạn lụt, được công bố trong 2 tháng sau những trận lụt lớn tại Ba Lan năm 1997 (99)
Một số nghiên cứu đã xác định mối liên hệ giữa tình trạng ẩm ướt trong nhà, bao gồm cả hình thức lụt không thường xuyên, với tính biến đổi của các triệu trứng hô hấp Chẳng hạn, một nghiên cứu của Canada phát hiện ra rằng lũ lụt có liên hệ chặt chẽ với các bệnh ho, khó thở, hen, viêm phế quản, đau ngực và các triệu trứng hô hấp tiền đình, các triệu trứng kích ứng mắt và các triệu trứng phi hô hấp khi còn nhỏ (114)
Bão và lốc xoáy nhiệt đới
Dân số nghèo vào có mật độ cao tại cỏc vựng thấp có môi trường xuống cấp thường rất nhạy cảm với lốc xoáy nhiệt đới, phần lớn các ca tử vong đều do ở vào vùng rốn bão (106, 115)
Trang 25Bangladesh đã phải hứng chịu những ảnh hưởng khốc liệt nhất của cỏc trõn lốc xoáy nhiệt đới trong thế kỷ này do sự kết hợp các điều kiện khí tượng và địa hình với tính nhạy cảm cố hữu của nhóm cư dân nghốo cú thu nhập thấp Các hệ thống cảnh báo sớm được cải thiện đã giảm thiểu tác động trong những năm gần đây Tuy nhiên, những trải nhiệm về Cơn bão Mitch đã cho thấy sức tàn phá của thiên tai ở cỏc vựng như thế (116).
Hạn hán
Một trận hạn hán có thể được định nghĩa là là “một giai đoạn thời tiết khô hạn bất thường đủ dài để gây ra hiện tượng mất cân bằng thủy học” (118), hoặc “một giai đoạn thiếu hụt độ ẩm trong đất khiến không đủ nước cần thiết cho cây cối và động vật cũng như con người” (92) Có 4 loại hạn hán cơ bản, tất cả số đó đều ảnh hưởng tới con người nhưng với các cách khác nhau (118):
1.Khí tượng học: Lượng mưa ước tính thấp bất thường ở một khu vực nhất định;2.Nông nghiệp: Lượng độ ẩm trong đất không đủ cho cây trồng trong quá trình canh tác;
3.Thủy học: Khả năng cung cấp nước mặt và nước ngầm dưới mức bình thường;
4.Kinh tế - xã hội: Thiếu nước ảnh hưởng tới khả năng kinh tế của con người, ảnh hưởng tới quá trình sản xuất phi nông nghiệp
Các tác động tới sức khỏe người dân xuất hiện trước hết ở khâu sản xuất lương thực Nạn đói bắt đầu hoành hành khi tình trạng thiếu dinh dưỡng cố hữu trở nên trầm trọng: hậu quả về sức khỏe của hạn hán bao gồm các bệnh cso nguồn gốc
từ tình trạng thiếu dinh dưỡng (105) Cùng với các điều kiện môi trường bất lợi, sự khủng hoảng chính trị môi trường và kinh tế có thể dẫn đến sự sụp đổ hệ thống thị trường lương thực Tình trạng khẩn cấp về lương thực tại Sudan năm 1998 cho thấy mối liên hệ giữa nguồn gốc khí tượng của nạn đói và các cuộc xung đột
Trong thời gian thiếu lương thực, nước được sử dụng để nấu nướng chứ không phải dùng cho vệ sinh Điều này càng làm tăng nguy cơ các bệnh tiêu chảy (do ô nhiễm chất thải) cũng như một số bệnh do nước (bệnh mắt hột, bệnh ghẻ) Sự bựng phỏt bệnh sốt rét có thể xảy ra do những thay đổi môi trường sinh sống của
Trang 26côn trùng gây bệnh (119) đồng thời tình trạng thiếu dinh dưỡng làm tăng tính nhạy
cảm đối với sự lây nhiễm
HỘP 5.3 Cơn bão Mitch
Cơn bão Mitch là thảm họa thiên tai tồi tệ nhất tấn công Trung Mỹ trong thế kỷ 20 (95) Nó bắt đầu khi một vùng áp thấp nhiệt đới sau này được đặt tên là Mitch hình thành tại phía nam biển Caribe vào ngày 21 tháng 10 năm 1998 Trong các ngày từ 22-26 tháng 10, Mitch đã tăng lên về cường độ và phát triển thành bão nhiệt đới sau đó thành Bão cấp 5 (117) Tốc độ gió lên đến 295km/giờ đổ bổ vào duyên hải các nước Nicaragua, Honduras, El Salvador, Guatemala, Belize kèm theo lượng mưa lớn trong ngày liên tục (95)
Mitch đã gây ra khoảng 9550 ca tử vong; phá hủy hoặc ảnh hưởng khoảng 137 851 gia đình; ảnh hưởng tới khoảng 3174700 người (95, 116) Nhưng những tác động của bão/lốc nhiệt đới còn tồi tệ hơn những gì các con số thể hiện Điều này là do sự phá hủy hạ tầng và các dịch vụ khiến các ảnh hưởng phụ thêm trầm trọng Các ảnh hưởng và tác động phụ bao gồm (93, 95):
• Sự tăng lên các loại côn trùng dẫn đến sự lây lan các bệnh do côn trùng, đặc biệt là sốt rét và sốt xuất huyết:
• Sự tăng lên các bệnh lây nhiễm như các bệnh hô hấp và đường ruột; thiệt hại về sản lượng lương thực: Honduras mất khoảng 70% sản lượng chuối, cà phê và dứa;
• Chậm kế hoặc phát triển: Honduras được coi là chậm 50 năm;
Trang 27Cháy rừng
Tác động trực tiếp của lửa đối với sức khỏe con người sự cháy và khói Việc mất thảm thực vật trờn cỏc sườn dốc có thể dẫn đến hiện tượng đất bạc màu và tăng nguy cơ lở đất thường xảy ra khi dân cư đô thị mở rộng ra các khu vực đồi rừng xung quanh
Ô nhiễm không khí có liên hệ với tỷ lệ tử vong và bệnh tật tăng lên ở nhưng người nhạy cảm, đồng thời tăng nguy cơ cấp cứu và nhập viện Các đánh giá được tiến hành đối với các tác động ngắn hạn đối với tỷ lệ tử vong và bệnh tật có liên quan đến đợt El Nino năm 1997 Tuy nhiên, những đánh giá như vậy thường bị hạn chế bởi thiếu số liệu cơ sở WHO đã đưa ra các hướng dẫn về sức khỏe khi có cháy rừng
Các dự báo sức khỏe cộng đồng mang tính định lượng, dựa trên mối liên hệ về mặt số liệu giữa tính nhạy cảm với khí hậu và tình trạng sức khỏe, sẽ không bền vững do xu hướng kinh tế - xã hội trong tương lai sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ tới tác động của biến đổi khí hậu Chúng ta có thể tiến hành các đánh giá định tính phục vụ mục đích chính sách dựa trên các bằng chứng khoa học không thực sự hoàn hảo.Hiện có nhiều tiềm năng để sử dụng các dự báo theo mùa để giảm thiểu tác hại của dịch bệnh Hiện tại, các dự báo theo mùa được sử dụng chủ yếu trong giảm nhẹ hạn hán, thiếu lương thực và nạn đói, nhưng mối liên hệ được thể hiện ở trên
có thể cung cấp cơ sở cho các hệ thống cảnh báo sớm dịch bệnh Các mô hình dự đoán tính nhạy cảm khí hậu và bệnh dịch lây truyền hiện có không đủ tin cậy phục
vụ cảnh báo dịch bệnh sớm Chính vì thế cần phải có sự hợp lý trong sử dụng các
mô hình này bằng cách phân tích các dự đoán dịch bệnh triển vọng
Trang 28Việc dự báo theo mùa chỉ là một phần của hệ thống cảnh báo sớm vốn phải kết hợp giữa quản lý và điều tra cũng như đưa ra cá hành động ứng phó Các dự báo về hiện tượng khí hậu bất thường có thể cải thiện khả năng sẵn sàng và giảm thiểu các tác động bất lợi Tập trung chú ý vào các hiện tượng bất thường cũng góp phần giỳp cỏc nước phát triển các phương thức đối phó với các tác động lâu dài của biến đổi khí hậu toàn cầu.
Ngược lại, sức ép lên sinh quyển khiến khí hậu biến đổi có thể gây ra hiện tượng phá ngưỡng dẫn đến thay đổi hệ thống tự nhiên vốn biến đổi khó lường và nhanh chóng Nghiên cứu các hiện tượng khí hậu bất thường trong lịch sử khụng giỳp cho biết trước các hậu quả của các hiện tượng đó Những biến đổi khí hậu nhanh chóng trong quá trình diễn ra các hiện tượng bất thường có thể nặng nề hơn những biến đổi phát triển chậm do hiệu ứng nhà kính Chính vì thế, các biến số khí hậu có ảnh hưởng lớn nhất trong thời gian ngắn có thể không đưa đến các tác động lớn nhất trong thời gian lâu hơn
Xã hội thích ứng, phản ứng trước các hiện tượng khí hậu bất thường có tính giai đoạn đang nổi lên nhanh chóng có thể không có hiệu quả trên phương diện những thay đổi khí hậu mang tính tích cực Chẳng hạn, việc nhập khẩu lương thực
có thể phòng chống nạn đói và dịch bệnh trong quá trình xảy ra hạn hán, nhưng các nước nghèo dường như không có đủ khả năng để áp dụng phương thức này về lâu về dài để đương đầu với việc các khu vực cứ dần khô hạn theo từng năm
Các nghiên cứu tương tự về các hiện tượng thời tiết bất thường cũng như sức khỏe con người đã cung cấp bằng chứng quan trọng về mối tương tác giữa khí hậu,
hệ sinh thái và xã hội con người có thể sẽ bị đe dọa bởi các xu hướng khí hậu lâu dài Trong khi các tác động khu biệt hóa ngắn hạn của các hiện tượng khí hậu bất thường đơn thuần hầu như đã có thể định lượng, thỡ cỏc nghiên cứu các hiện tượng thời tiết bất thường phức tạp lại có thể cung cấp cái nhìn sâu hơn về mối quan hệ cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến tính nhạy cảm của dân số
Trang 293.Intergovemmental Panel on Climate Change (IPCC) Climate Change 2001:
IPCC third assessment report Geneva, Switzerland, Intergovemmental Panel on Climate Change 2001a
4.Sachs J.& Malaney, P The economic and social burden of mataria Nature 415: 680-686 (2002)
5.Mac Donald, G The epidemiology and control of malaria Oxford, UK, Oxford Unl-versity Press 1957
6.Word Health Organization (WHO) El Nino and its health impacts Weekly Epidemiology Recond 20:148-152 (1998b)
7.Bradley, D.J Human tropical diseases in a changing environment Environmen-talChange and Human health Ciba Fuondation Sympositum 175: 146-
al Cambridge, UK, Cambridge University Press 2000
12 Cedeno, J.E Rainfall and flooding in the Guayas river basin and its effects on the inxidence of malaria 1982-1985, Disasters 10(2): 107-111 (1986)
13 Nichalk, N.ENSO, dought and flooding rain in south-east Asia In: South-eastAsia’s environment future the seach for sustainability Brookfield, H.G
Trang 30Byron, Y.Tokyo, Japan, United Nations University Press/Oxford UniversityPress pp: 154-175 1993.
14 Russac, P.A Epidemiological surveiliance malaria epidemic followingthe NinoPhenomenon Disasters 10(2): 112-117 (1986)
15 Bouma, M.J et al Predicting high-nsk years for malaria in Colombia using para-metersof El Nino Southem Oscillation Tropical Medicine andinternation Health 2(12): 1222-1127 (1997b)
16 Poveda, G et al Climate and ENSO variabilityassociated to malaria and dengue lever in Colombia In: El Nino and the Southem Oscillation muitiscale variability and global and regional impacts Diaz, H.F.G Markgral, E.Cambridge,
UK, Cambridge UniversityPress pp:183-204 2000
17 Poveda, G et al Coupling between annual and ENSO timescales in the malaria climate association on Colombia Environment Health Perspectives 109(5): 307-324 (2001)
18 Gagnon, A et al The El Nino Southem Oscillationand malariaepidemics in South America Internotion Journal of Biometeorology 46: 81-89 (2002)
19 Brown, V et al.Epidemic of malaria in north-eastern Kenya Lancel 352: 1356-1357(1998)
20 Klian, A.H et al Rainfall patterns El Nino and malaria in Uganda Transactions of the Royal Society of Tropical Medicine and Hyglebe 93: 22-23 (1999)
21 Lindblade, K.A et al highland malaria in Uganda: prospective analysis of an epi-demic associalted with El Nino Transactions of the Royal Society of Tropical Medicine and Hyglebe 93: 480-487 (1999)
22 Allan, R et al MERLIN and malaria epidemic in north-east Kenya Lancet 351: 1966-1967 (1998)
23 Moucliet, J et al Evolution of malaria in Africa for the past 40 years impact of climatic and human factor Journal of the American Mosquito Control Association 14: 121-130 (1998)
Trang 3124 Malakooti, M.A et al Re-emergence of epidemic malaria in the highlands of western Kenya Emerging Infectins Diseases 4(4) (1998).
25 Hay, S.L et al Etiology of interepidemic periods of mosquito-borne discase, Proceeding of the National Academy of Sciences 97(16): 9335-9339 (2000)
26 Hay, S.I et al Climate change and the resurgence of malaria in the East African highlands Nature 415: 905-909 (2002)
27 Githeko, A.K.& Ndegwa, W Predicting malaria epidemic in the Kenyan high- lands using climate data: a tool for decistion makers Global change and Human Health 2: 54-63 (2001)
28 Gublee, D.J Dengire and dengue hernorrhagic fever: its history and resurgence as a global public health problem In: Dengue and dengue hernorrhagic fever, Gublet, D.J.& Kuno, G: New York, USA, CAB International: 1-22 1997
29 Rigaa-Perez, J.G et al Dengue and dengue hernorrhagic fever Lancel 352: 971-977 (1998)
30 Hales, S et al Dengue fever epidemic in the South Pacific region: driven by El Nino Southem Oscillation? Lancet 348: 1664-1665 (1996)
31 Hales, S et al Ninoand the dynamics of vector-borne disease transmission Environmental Health Perspective 107: 99-102 (1999)
32 Lien, T.V.& Ninh, N.H In: Currents of change: El Nino impact on climate and society Glaniz, M Cambridge, UK Cambridge University Press 1996
33 Gagnon, A.S et al Dengue epidemics and the El.Nino Southem Oscilltion Climate Reseach 19(1): 35-43 92001)
34 Mills, J.N et al Long-term studies of hantavirus reservoir populations in the southwestern United States rationale, potential and methods Emerging Infectious Diseases 5: 95-101 (1999)
35 Parmentez, R.R et al Incidence of plague associated with increased wintr-spring precipitation in New Mexico American Joutrial of Tropical Medicine and Hyguene 61: 514-821 (1999)
Trang 3236 Wenzel, R.P.A new hantavirus infestion in north America New England Journal of Medicine 330: 1004-1005 (1994).
37 Hielle, B.& Glass, G.B Outbreak of hantavirus infection in the Four Corners reglon of the United States in the wake of the 1997-1998 El.Nino-Southem Oscilltion Journal of infectious Disesses 181(5): 1569-1573 (2000)
38 Rodrigues Moran, D.M et al Hantavirus infection in the Four Comers region of USA in 1998 Lancet 352: 1353-1353 (1998)
39 Engelthaler, D.M et al Climate and environmental pattems associated with hantavirus pulmonary syndrome, four Comers region United States Emerging Infection Diseases 5: 87-94 (1999)
40 Atherion, F et al Ari outbreak of waterborne cryptospordiosis associated with a public water supply in the UK Epidemiology and Infections 115: 123-131 (1995)
41 Curriero, F et al The association between extreme precipiration and waterborne disease outbreak in the United States, 1948-1994 American Journal of Public Health 91(8): 1194-1199 (2001)
42 Kriz, B et al Monitorovani Epidemiologicke Situace V ZaplevenyCh Oblastech V Eeske Republic V Roce 1997 [Monitoring the epidemiological situation in flooded areas of the Czech Republic in 1997] In: Konference DDD 98; Kongresove Cenrum kazeoska Kolonada Podibrady, 11-13 Kvina 1998 [Proceeding of the Conference DDD 98, 11-12th May, 1998, Prodebrady, Czech Republic] Prodebrady, Czech Repubic: 19-34 1998
43 Lisle, J.T.& Rose, J.B Cryptosporidium contarnination of water in the USA and UK: a mini-review, Aqua 44(3): 103-117 (1995)
44 Rose, J.B et al Climate and waterborne outbreaks in the US Journal
of the American Water Works Association 2000
45 Rose, J.B et al Climate variability and change in the United Sates: potential impacts on water-and food-borne diseases caused by microbiologic agents Envi-toumental Health Perspectives 109 Supplement 2: 211-221 (2001)
46 Schwactz, J.& Levin, R Drinking water turbidity and health Epidemiology 10: 86-89 (1999)
Trang 3347 Bentham, G.& Langford, I.H Climate change and the inciden ce of foood poison-ing in England and Wales International Fournal of Biontearology 39: 81-86 (1995).
48 Bentham, G.& Langford, i.H Envirunmental temperatures and the incidence of food poisening in England and Water international Journal of Biontearology 45(1): 22-26 (2001)
49 Madico, G et al Epidemiology and treatment of cydcispora cayetenanis infec-tion in Peruvian children Clinital Infections Diseases 24: 977-
52 Singh, R.B.K et al The influence of climate variation and change on diarthoeal diseases in the Pacific islands Enviromentnal Health Perspeectives 109: 155-159 (2001)
53 Jaenisch, T.& Pats, I Assessment of associations between climate and infections diseases Golbal change and human Health 30: 67-72 (2002)
54 Anonynuos, El.Nino and associated outbreaks of severe malaria in highland pop-ulations in Irian Jaya Indonesia, a review and epidemilogical perspective Suoth-east Asian Journal of Tropical Medicine of Public Helth 30: 608-619 (1999)
55 Colwell, R.R Golbal climate and inlections disease: the chodera paradign, Sciens274: 2025-2031 (1996)
56 Pascual, M et al Chofera dynatnics and Ninno Southem Oscilation Science 289: 1766-1767 (2000)
57 Rodo, X et al ENSO and cholera: a nonstationary link relaned to climate change? Proceeding of the national Academy of Science 99: 12901-12906
58 Kovats, S El Nino and human health Bulletin of the Word Health Organization 78(9): 1127-1135 (2000)
Trang 3459 Franco, A.A et al Cholera in Lima Peru correlates with prior isolation of Vibrio cholerae from the environment American Journal of Epidemiology 146: 1067-1075 (1997).
60 Word Health Organnization Cholera in 1997 Weekly Epidemiological Record 75: 201-208 (1998)
61 Curwen, M.& Devis, T Winter motality temperature and influenza has the relationship changed in recent years? Population Trands 54: 17-20 (1988)
62 Kilbourne, E.M Illness due to thermal extremes In: Public health and preventavite medicine Last I.M& Norwalk, W.R.B Cornections US, Appletion Lang: pp 491-501 1992
63 Keatinge, W.R etal Inereased plateler and red cell counts, blood vissosity and plasma cholesteral levels during heat stress and maortality from coronary and cerebral thrombosts American Journal of Medicine 81: 795-800 (1986)
64 Drinkwater, B.& Horvath, S Heat tolerance and ageing Medicene and Science in Sport and Exercite 11: 49-55 (1979)
65 Mackenbach, I.P et al Heat-related moriality among nursing home partients Lancet 349: 1297-1298 (1997)
66 Vassallo, M et al Factors associated with high risk of marginal hypertheriaia in elderly pariens living in an instintion Postgraduate Medical Journal 71: 213-216 (1995)
67 Woodhouse, P.R, et al Seasonal variation of blood pressine and its relationship to ambient temperarure in an elderly pogulation Journal of Hypertension 11(11):1267-1274 (1993)
68 Woodhouse, P.R, et al Seasonal variation of plasma fibinogen and factor VII activity in the elderly winter infections and fleath from cardiovascular disease Lancet 343: 435-439 (1994)
69 Whitman, S et al Mortality in Chicago attributed to the July 1995 heatwave American Journal of Public Health 87(9): 1515-1518 (1997)
70 Demane, J.E et al Mear-faral heal strke during the 1995 healwave in Chicago Aninals of Internal Medicine 129: 173-181 (1998)
Trang 3571 Kilbourrue, E.M Heat waves In: The public health consequences of disasters Gregg M B Atlarta US, CS Departmennt of Health and Human Services Centers to Disease Control: 51-61 1989.
72 Centers for disease control and prevention (CDC) Heat-related dallas, wichita, and cooke counties, texas, and united states, 1996 Journal of the amer-ican medial association 278: 462-463 (1997)
deaths-73 Katsouyanni, K, et al The 1987 athens heatwave (Letter) Lancet ii:
573-573 (1988)
74 Palecki, M.A, et al The nature and impacts of the July 1999 heatwave in the midwestern United States: learning from the lessons of 1995 Bulletin of the American Meteorological Society: 1353-1367 (2001)
75 Kumar, S.India’s heatwave and rains result in massive death toll Lancet 351: 1869-1869 (1998)
76 Rooney, C et al Excess mortality in England and Wales, and in Greater London, during the 1995 heatwave, Journal of Epidemiology and Community Health 52: 482-486 (1998)
77 Sartor, F et al Temperature, ambient ozone levels and mortality during summer 1994 heatwave in Belgium Environmental Research 70(2): 105-113 (1995)
78 Semenza, J.C, et al Heat-related deaths during the July 1995 heatwave in Chicago, New England Journal of Medicine 335: 84-90 (1996)
79 Bridger, C.A & Helfand, L.A Mortality from heat during July 1966 in Illinois International Journal of Biometeorology 12: 51-70 (1968)
80 Laake, K, & Sverre, J.M Winter excess mortality: a comparison between Norway and England plus Wales Age Ageing 25: 343-348 (1996)
81 Sakamoto M.M, Seasonality in human mortality Tokyo, Japan, University of Tokyo Press (1977)
82 Donaldson, G.C, et al Winter mortality and cold stress in Yekaterinberg, Russia: interview survey British Medical Journal 316: 514-518 (1998)
Trang 3683 West, R.R, & Lowe, C.R Mortality from ischaemic heart disease: inter – town variation and its association with climate in England and Wales International Journal of Epidemiology 5(2): 195 – 201 (1976).
84 Langfour, I.H & Bentham, G The potential effects of climate change on winter mortality in England and Wales International Journal of Biometeorology 38: 141 -147 (1995)
85 Donaldson , G.C et al Outdoor clothing and its relationship to geography climate, behaviour and cold related mortality International Journal of Biometeorology 45: 45-51 ( 2001)
86 Mitchell, R Short days – shorter lives: studying winter mortality to get solutions International Journal of Epidemiology 30: 1116 – 1118 (2001) 38339394
87 Watkins, S.J et al Winter excess morbidity: is it a summer phenormenon? Journal of Public Heath Medicine 23(3): 237 – 241 (201)
88 Wilkinson, P.ec al Case – control study of hospital admission with asthma in children aged 5- 14 years: relation with road traffic in north – west London Thorax 54(12): 1070 – 1074 (1999)
89 Gaffen, D.J & Ross, R.J Increased summertime heat stress in the US Nature 396: 529 – 530 (1998)
90 Guest C et al Climate and mortality in Australia: retropective study,
1970 – 1990, and predicted impacts in five major cities Climate Research 13: 1-15 ( 1999)
91 Kalkstein, L.S & Greene, J.S An evaluation of climate/mortality relationships in large US cities and the possible impacts of climate change Environmental Health Perspectives 105(1): 84-93 (1997)
92 Office of U.S Foreign Disaster Assistance (OFDA)/ Center for Research
on the Epidemiology of Disasters (CRED) EM-DAT: The International Disaster Database Brussels, Belgium, Universite Catholique de Louvain (2001) http: //www.cred.be/emdat/imtro.html
93 Glantz, M & Jamison, D.T Societal response to Hurricane Mitch and intra-versus intergenerational equity issues: whose norms should apply? Risk Analysis 20(6): 869-882 (2000)
Trang 3794 Munich Re Group Topics: Natural Catastrophes 2000 2001.
95 Pan American Health Organization (PAHO), Disasters and health in 1998:
a report of the Pan American Health Organization’s Emergency Preparedness and Disaster Relief Coordination Program, PAHO 1999b
96 Bouma, M.J et al Global assessment of El Nino’s disaster burden Lancet 350: 1435-1438 (1997a)
97 Dilley, M, & Heyman, B, ENSO and disaster: droughts, floods, and El Nino/Southern Oscillation warm events Disasters 19(3): 181-193 (1995)
98 Pan American Health Organization (PAHO) El Nino and its impact on health 1998
99 International Federtion of Red Cross and Red Crescent Societies (IFRC) World disasters report Geneva, Switzerland, International Federation of Red Cross and Red Crescent Societies 1999
100 National Oceanic and Atmospheric Administration (NOAA) An experiment in the application of climate forecasts: NOAA-OGP activities related
to the 1997-98 El Nino event Boulder, US, Office of Global Program US Dept of Commerce 1999
101 Guha-Sapir, D Rapid assessment of health needs in mass emergencies: review of current concepts and methods World Health Statistics Quarterly 44: 171-181 (1991)
102 Intergovernmental Panel on Climate Change (IPCC) Summary for policymakers to climate change 2001: Synthesis report of the IPCC Third Assessment Report Geneva, Switzerland, IPCC 2001
103.Changnon, S.A et al Human factors explain the increased losses from weather and climate extremes Bulletin of the American Meteorological Society 81(3): 437-442 (2000)
104 Greenough G et al The potential impacts of climate variability and change on health impacts of extreme weather events in the United States, Environmental Health Perspectives 109 (Supplement 2); 191-198 (2001)
105 McMichael, A.J, et al Climate change and human health: an assessment prepared by a task group on behalf of the World Health Organization, the World
Trang 38Meteo-rological Organization and the United Nations Environment Programme Geneva, Switzerland, World Health Organization 1996.
106 Noji, E.N The public health consequences of disasters New York, US, Oxford Uni-versity Press 1997
107 Menne, B Floods and public health consequences, prevention and control measures Rome, Italy, World Health Organization European Center for Environment and Health (WHO-ECEH) 1999
108 Siddique, A.K et al 1988 floods in Bangadesh: pattern of illness and cause of death Journal of Diarrhoeal Disease Research 9(4): 310-314 1991
109 Choudhury, A.Y & Bhuiya, A Effects of biosocial variable on changers
in nutri-tional status of rural Bangladeshi children, pre- and post-monsoon flooding Journal of Biosocial Science 25: 351-357 (1993)
110 Woodruff, B.A et al Disease surveillance and control after a flood: Khartoum, Sudan, 1988 Disasters 14 (2): 151-163 (1990)
111 Red Cross Death toll rises in central Europe’s epic floods (2002)
http://www.redcross.org/news/in/flood/020819europe.html
112 Bennet, G Bristol floods 1968: controlled survery of effects on health of local community disaster British Medical Journal 3: 454-458 (1970)
113 Abraharms, M.J et al The Brisbane floods, January 1974: their impact
on health Medical Journal of Australia 2: 936-939 (1976)
114 Dales, R.E et al Respiratory health effects of home dampness and molds among Canadian children American Journal of Epidemiology 134: 196-203 (1991)
115 Alexander, D, Natural disaters London UK, UCL Press 1993
116 Pan American Health Organization (PAHO) The devastating path of Hurricane Mitch in central American Disasters: preparedness and mintgation in the American (Sup- plement 1): S1-S4 (1999a)
117 National Oceanic and Atmospheric Administration (NOAA) Hurricane Mitch special coverage, NOAA’s National Environmental Satellite data and information Service (NESDIS) (2002), http://www.osei.noaa.gov/mitch.html
Trang 39118 National Oceanic and Atmospheric Administration (NOAA), Droughts National and Atmospheric Administration 2002.
119 Bouma,M.J & van der Kaay, H.J The El Niao Southerm Oscillation and the his toric malaria epidemics on the Indian subcontinent and Sri Lanka; an early warning system Tropical Medicine and Interntional Health 1 (1): 86 - 96 (1996)
120 Sastry, N Forest fires, air pollution and mortality in south – east Asia Demography 39 (1): 1-23 (2002)
121 Insitute of Enviromental Epidemiology (IEE), Health guidelines for vegetation fire events Schwela, D.H et al eds Singapore, Singapore: Insitute of Enviromental Epidemiology ( 1999)
Trang 40CHƯƠNG 6
Biến đổi khí hậu và các dịch bệnh lây nhiễm
J.A.Patz1, A.K.Githelko2, J.P.McCarty3, S.Hussein1, U.Confalonieri4, N de Wet5
Giới thiệu
Chương trước đã giới thiệu cơ chế tác động các dao động ngắn hạn của các điều kiện khí hậu cũng như các hiện tượng thời tiết bất thường đối với tỷ lệ tử vong, chấn thương thân thể, sức khỏe tâm thần và các hậu quả sức khỏe khác của con người Những biến đổi điều kiện khí hậu trung bình và độ nhạy cảm khí hậu cũng có thể ảnh hưởng đến sức khỏe con người thông qua con đường gián tiếp, đặc biệt là thông qua những biến đổi trong quá trình sinh học và sinh thái học tác động đến các loại dịch bệnh lây lan và nguồn lương thực Chương này sẽ nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố khí hậu đối với các loại bệnh lây truyền
Trong nhiều thế kỷ qua con người đã hiểu rằng các điều kiện khí hậu ảnh hưởng tới quá trình lây truyền dịch bệnh – do trước đó khái niệm cơ bản về các tác nhân lây nhiễm đã được hiểu thấu đáo từ cuối thế kỷ 19 Giới quý tộc La Mó đó tỡm đến các khu nghỉ mát trên đồi của mình để tránh căn bệnh sốt rét trong mùa hè Người Đông
Á thì từ rất sớm đã biết được rằng vào mùa hè, các đồ ăn nấu cà ri thường ít có nguy
cơ gây ra bệnh tiêu chảy hơn Ở khu vực miền nam nước Mỹ, một trong những đợt bựng phỏt dữ dội nhất của bệnh sốt vàng da vào mùa hè (bệnh vi rút lây nhiễm bởi
muỗi Aedes aegypti) đã diễn ra vào năm 1878 trong suốt thời gian diễn ra đợt El Nino
mạnh nhất trong lịch sử Thiệt hại về người và kinh tế và vô cùng lớn với ước tính có đến hơn 20000 thiệt mạng Tại các nước phát triển ngày nay, mọi người hiểu rẳng dịch cúm thường xuất hiện vào thời gian giữa mùa đông
Sự truyền các bệnh lây nhiễm có thể được quan sát theo cơ chế sinh thái Các tác nhân lây nhiễm lấy các chất dinh dưỡng cũng như năng lượng cần thiết thông qua quá trình gây bệnh ký sinh ở các sinh vật cấp cao hơn Hầu hết kiểu lây nhiễm này là lành tính, thậm chí là có lợi cho cả vật chủ và vi khuẩn Có số ớt cỏc kiểu lõy nhiễm ảnh hưởng xấu tới sinh học vật chủ và dạng này được gọi là “bệnh lây nhiễm”
Trong tiến trình phát triển văn hóa lâu dài của loài người; quá trình phát tán dân số trên khắp thế giới; và sau đó là quá trình hợp tác và xung đột giữa các nhóm dân số; hàng loạt các lần biến đổi khác nhau của sinh thái học loài người cũng như