Và chúng ta biết học sinh của mình đã nắm được các kiến thức cơ bản đó hay chưa thông qua việc các em thực hành làm bài tập toán hằng ngày trênlớp và nhất là thể hiện ở các bài Kiểm tra
Trang 1- Có những tri thức cơ bản ban đầu về Số học - các số tự nhiên - số thậpphân - phân số - các đại lượng cơ bản - một số yếu tố thống kê và hình học cơbản Hình thành ở học sinh các kĩ năng thực hành tính, đo lường, giải bài toán cónhiều ứng dụng trong đời sống Bước đầu hình thành và phát triển năng lực trừutượng hoá, khái quát hoá, kích thích trí tưởng tượng, gây hứng thú học tập toán,phát triển hợp lý khả năng suy luận và biết diễn đạt đúng (bằng lời, bằng viết)các suy luận đơn giản Góp phần rèn luyện, phát triển năng lực, phân tích tổnghợp, tư duy phê phán, sáng tạo, trí tưởng tượng không gian và phương pháp họctập, làm việc khoa học, linh hoạt.
- Ngoài các mục tiêu có tính chất đặc thù của toán học cũng như các mônhọc khác, môn Toán còn góp phần hình thành và rèn luyện các phẩm chất, đứctính cần thiết của con người lao động mới Thông qua các nội dung thực tếphong phú và sinh động, gần gũi với học sinh của các bài toán có lời văn, cácyếu tố thống kê đơn giản mô tả về kinh tế gia đình, cộng đồng, những đổi mớikinh tế xã hội, những ứng dụng của khoa học kĩ thuật và công nghệ đang diễn rahàng ngày, góp phần giáo dục tình cảm, trách nhiệm, niềm tin vào sự phồn vinhcủa quê hương đất nước Qua các hoạt động thực hành như giải toán có lời văn,thực hành đo đạc, vẽ, làm tính, ước lượng, góp phần rèn luyện các đức tính cần
cù, vượt khó khăn, tính cẩn thận, làm việc có kế hoạch, lập luận có căn cứ chínhxác, linh hoạt, sự phối kết hợp và tinh thần tập thể trong việc tìm tòi và chiếmlĩnh tri thức
Môn Toán chiếm một vị trí quan trọng như vậy nếu các em không nắm bắtđược những kiến thức, kĩ năng cơ bản của lớp mình đã và đang học thì sau này
sẽ ra sao ? Và chúng ta biết học sinh của mình đã nắm được các kiến thức cơ bản
đó hay chưa thông qua việc các em thực hành làm bài tập toán hằng ngày trênlớp và nhất là thể hiện ở các bài Kiểm tra định kì của từng giai đoạn học tập
Qua kinh nghiệm giảng dạy nhiều năm, tôi thấy chất lượng môn Toán lớp
4 là vấn đề cần phải quan tâm và thường được chú ý nhất vì điểm của môn đóluôn luôn thấp so với các khối lớp khác Mặc dù hằng ngày các bài tập của các
em đa số đạt từ điểm trung bình trở lên nhưng đến lúc khảo sát hay Kiểm trađịnh kì thì điểm lại rất thấp so với bình thường Có nhiều năm tôi bị cắt thi đua
Trang 2chỉ vì chất lượng môn Toán thấp Là một nhà giáo với lương tâm nghề nghiệpcủa mình tôi luôn trăn trở suy nghĩ, tìm tòi và thấy rằng: môn Toán ở Tiểu họcnói chung và Toán lớp 4 nói riêng là nền tảng cho nền kiến thức sau này “sai một
li đi một dặm” có nghĩa là Toán rất cần sự chính xác tuyệt đối, “Sai con toán,bán con trâu” mà con trâu là đầu cơ nghiệp Các em mà hổng kiến thức ở bậcTiểu học thì sau này các em khó có thể giải được các bài tập Toán ở bậc cao hơn
Và bất cứ một ngành nào, nghề nào thì toán học cũng giúp chúng ta thành đạt
Để thực hiện tốt các nội dung trên, tôi đã chọn đề tài “Một vài biện phápgiúp học sinh làm tốt bài Kiểm tra định kì môn Toán lớp Bốn” để giúp các emnắm một cách chắc chắn kiến thức, kĩ năng cơ bản của môn Toán lớp mình đã vàđang học, làm nền tảng vững chắc cho kiến thức Toán học sau này
b) Phạm vi và đối tượng
Phạm vi: Tôi sẽ đi sâu vào các biện pháp giúp học sinh nắm vững kiến
thức, kĩ năng của môn Toán để làm tốt bài Kiểm tra định kì môn Toán lớp Bốn
và làm cơ sở vững chắc cho việc học toán ở các bậc học khác
Đối tượng: Học sinh Lớp 4A Trường TH Số 1 Nam Phước trong năm học
2012 - 2013
3 CƠ SỞ LÝ LUẬN
Bậc Tiểu học là bậc học góp phần quan trọng trong việc đặt nền móng choviệc học tập phát triển nhân cách học sinh Môn Toán cũng như các môn họckhác cung cấp nhiều tri thức khoa học ban đầu, nhiều thứ về thế giới xung quanhnhằm phát triển năng lực nhận thức, hoạt động tốt đẹp của con người Các kiếnthức kĩ năng môn Toán ở Tiểu học có nhiều ứng dụng của đời sống, cần chongười lao động
Môn Toán có khả năng giáo dục rất lớn trong việc rèn luyện tư duy, suynghĩ, phương pháp suy luận, thao tác cần thiết để phát triển con người toàn diện,hình thành một nhân cách tốt đẹp cho con người mới
Môn Toán là môn học tự nhiên nhưng rất trừu tượng, đa dạng và lô-gic,gắn với thực tiễn cuộc sống hàng ngày Bởi vậy nếu học sinh không có phươngpháp học đúng, không được thường xuyên ôn tập sẽ không nắm được kiến thức
cơ bản về Toán học
Môn Toán lớp 4 là một bước chuyển từ tư duy cụ thể của lớp 1, 2, 3 sang
tư duy tổng quát trừu tượng ở lớp 4 Đối với chương trình toán ở Tiểu học từkhối 1 đến khối 3 học sinh được học những kiến thức sơ giản ban đầu về toánhọc nên học sinh dễ nắm bắt kiến thức, vận dụng kiến thức để rèn kĩ năng tínhcũng nhẹ nhàng hơn phù hợp với tâm lí lứa tuổi của học sinh Bắt đầu từ lớp 4,kiến thức toán học được nâng cao lên rõ rệt ở tất cả các mạch kiến thức như đạilượng yếu tố hình học, số học, phân số…Do vậy, học sinh còn lẫn lộn các dạngtoán với nhau
Trang 3Kiểm tra đánh giá môn Toán là một khâu, một công cụ quan trọng khôngthể thiếu được trong quá trình giáo dục; là động lực để đổi mới PPDH, góp phầncải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu giáo dục.
Kiểm tra đánh giá môn Toán không chỉ ở thời điểm cuối cùng của mỗigiai đoạn giáo dục mà là trong cả quá trình giảng dạy Đánh giá ở những thờiđiểm cuối mỗi giai đoạn (Kiểm tra định kì) sẽ trở thành khởi điểm của một giaiđoạn giáo dục tiếp theo với yêu cầu cao hơn, chất lượng mới hơn, trong cả mộtquá trình giáo dục… Đánh giá thường xuyên và định kì sẽ hướng vào việc bámsát mục tiêu từng bài, từng chương và mục tiêu giáo dục ở từng môn học, từnglớp, từng cấp học Đảm bảo phải đánh giá chính xác, khách quan, công bằng Córất nhiều phương pháp để kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh như:vấn đáp, trắc nghiệm tự luận, trắc nghiệm khách quan
Môn Toán là môn học quan trọng trong các môn học, nó là chìa khoá để
mở cánh cửa tri thức
Học sinh làm tốt các bài Kiểm tra định kì môn Toán có nghĩa là các em đãnắm được các kiến thức, kĩ năng cơ bản của lớp mình đang học và nó sẽ làm nềntảng vững chắc để kết nối kiến thức toán ở các lớp trên
4 CƠ SỞ THỰC TIỄN
a) Thực trạng về tình hình dạy - học Toán hiện nay
Theo nhận xét của chuyên môn thì những năm trước đây, tại trường tôiviệc dạy học Toán còn nhiều vấn đề bất cập, số giáo viên có tâm huyết nhiệttình, thường xuyên nghiên cứu nội dung chương trình Toán cũng như việc đổimới phương pháp dạy học Toán còn khiêm tốn Một số giáo viên dự giờ, thaogiảng, tham gia các hoạt động chuyên môn nhưng còn chậm chuyển biến trongdạy học Toán Có thể do nghiên cứu chưa sâu sát, chưa nắm vững nội dungchương trình, ý đồ của sách giáo khoa, lại lệ thuộc vào sách giáo viên quá nhiều.Những năm học trước, trong 26 tiết dự giờ của ban giám hiệu về môn Toán thì
có 18 tiết loại Khá do nhiều nguyên nhân: Giáo viên không định hướng được chohọc sinh cách học, cách tổ chức tiến hành một tiết học Toán còn quá cứng nhắc,kiểm tra bài cũ mất nhiều thời gian mà không khoa học, không hiệu quả, phân bốthời gian tiết học không hợp lí Học sinh làm bài máy móc, thiếu sáng tạo, khôngthể hiện tính tư duy lô-gic, chưa phát huy được tích cực trong học tập, học sinhquên kiến thức cũ nhiều…
- Thực tế cũng cho thấy một số gia đình học sinh chưa thực sự quan tâmtới việc học tập của con cái Đặc biệt chưa nhận thức đúng vai trò của môn Toánviệc học tập của học sinh đều đặt lên vai người thầy;
- Trong mấy tuần đầu nhận lớp và quá trình giảng dạy nhiều năm tôi nhậnthấy trong các tiết học Toán học sinh còn một số hạn chế sau;
Trang 4+ Học sinh còn rất thụ động trong việc tìm tòi và chiếm lĩnh tri thức, chỉhọc vẹt và làm theo Học sinh chưa ý thức được nhiệm vụ của mình, chưa chịukhó, tích cực tư duy, suy nghĩ, tìm tòi cho mình những phương pháp học đúng đểbiến tri thức của thầy thành của mình Cho nên sau khi học xong bài, các emchưa nắm bắt được lượng kiến thức thầy giảng, nhanh quên.
+ Do đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi các em thường vội vàng hấp tấp, đơngiản hoá vấn đề nên đôi khi chưa hiểu kĩ đề bài đã làm và vội vàng nộp bài dẫnđến kết quả nhiều khi bị sai, thiếu hoặc đúng nhưng chưa đủ bước tính Bên cạnh
đó còn nhiều nguyên nhân quan trọng nữa là tâm lí các em thích giống bài bạn,không tin tưởng vào bài của mình dẫn đến những sai sót giống nhau, thậm chí cókhi đã làm bài đúng rồi nhưng lại bỏ đi chép lại bài sao cho giống bài bạn
+ Một số học sinh còn chậm, nhút nhát, kĩ năng tóm tắt bài toán còn hạnchế, chưa có thói quen đọc và tìm hiểu kĩ bài toán, dẫn tới thường nhầm lẫn giữacác dạng toán, lựa chọn phép tính còn sai, chưa bám sát vào yêu cầu bài toán đểtìm lời giải thích hợp với các phép tính Kĩ năng tính nhẩm với các phép tính(hàng ngang) và kĩ năng thực hành diễn đạt bằng lời còn hạn chế Một số em tiếpthu bài một cách thụ động, ghi nhớ bài còn máy móc nên còn chóng quên cácdạng bài toán vì thế phải có phương pháp khắc sâu kiến thức
+ Trong các lần kiểm tra hàng ngày bằng hình thức trắc nghiệm hay các
bài kiểm tra định kì nhiều em còn làm bài rất cẩu thả chưa có kĩ năng tính toán,tẩy xóa nhiều trong bài kiểm tra dẫn đến tình trạng không có điểm vì khoanh 2 ýtrong bài làm hay bị trừ điểm vì cách trình bày bài chưa khoa học
Những năm học qua ở trường tôi cũng như nhiều trường bạn bài kiểm trađịnh kì môn Toán ở khối Bốn đạt thấp hơn các khối lớp khác, có lớp chỉ 5 - 6 emđạt điểm giỏi về Kiểm tra định kì cuối năm
Năm học qua 2011-2012, phòng Giáo dục về kiểm tra việc dạy và học ởtrường có khảo sát chất lượng môn Toán khối Bốn nhưng kết quả đạt rất thấp chỉ
có 4, 6 em đạt điểm giỏi còn lại là điểm khá, trung bình và tỉ lệ học sinh đạt điểmyếu khá cao
Qua đợt khảo sát đầu năm của lớp 4A, tôi thấy kĩ năng tính toán, tóm tắt,phân tích đề và cách trình bày bài của các em còn rất hạn chế Trong tổng số 33
em được khảo sát thì chỉ có 6 em đạt điểm giỏi môn toán, trung bình 16 em và 4
em bị điểm yếu môn Toán
b) Điều kiện để dạy và học tốt môn Toán và làm tốt bài kiểm tra định kì.
- Phòng học của lớp được nhà trường trang bị một tivi màn hình phẳng 42inch kết nối với CPU để dạy trình chiếu
- Trang thiết bị dạy học môn Toán đầy đủ: bảng nhóm, bộ đồ dùng họctoán,
Trang 5- Giáo viên nhiệt tình, ham học hỏi có thể thiết kế thành thạo các bài giáo
án điện tử, các câu hỏi trắc nghiệm với những dạng bài toán khác nhau,
- Học sinh ham học hỏi, thích khám phá và thích được khen vì kết quả họctập tiến bộ;
- Ban giám hiệu và phụ huynh luôn quan tâm đến kết quả học tập của họcsinh và đổi mới phương pháp giảng dạy của giáo viên;
5 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Biện pháp 1/ Nắm vững nội dung chương trình, yêu cầu chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn Toán và phát huy những kiến thức kĩ năng học sinh đã đạt được ở các lớp 1, 2, 3.
Ngay từ đầu năm, khi nhận nhiệm vụ giảng dạy lớp Bốn, tôi tiến hànhnghiên cứu kĩ nội dung chương trình các môn học trong suốt năm học và chươngtrình Toán của toàn cấp học Qua nghiên cứu chương trình, tôi nắm được nộidung các kiến thức cơ bản phân môn Toán như sau:
- Trong chương trình môn Toán lớp 4 ở học kỳ I chủ yếu tập trung vào bổsung, hoàn thiện, tổng kết, hệ thống hóa, khái quát hóa về số tự nhiên và dãy số
tự nhiên, các phép tính và một số tính chất Ở học kỳ II tập trung vào dạy phân
số, dấu hiệu chia hết và một số dạng về hình học;
+ Nội dung chương trình toán lớp 4 gồm 6 chương:
Chương I: Số tự nhiên Bảng đơn vị đo khối lượng
Chương II: Bốn phép tích với các số tự nhiên Hình học
Chương III: Dấu hiệu chia hết cho 2, 5, 3, 9 Giới thiệu hình bình hành.Chương IV: Phân số - Các phép tính với phân số Giới thiệu hình thoi.ChươngV: Tỉ số - Một số bài toán liên quan đến tỉ số Tỉ lệ bản đồ
Chương VI: Ôn tập
+ Về nội dung chương trình Toán lớp 4: Mỗi chương là một mảng kiếnthức
+ Nội dung môn Toán của Tiểu học được sắp xếp theo vòng tròn đồngtâm:
Ví dụ:
1 Tia số
* Ở lớp Một : Tia số
* Lớp Hai : Biểu diễn số
* Lớp Ba : Biểu diễn số trên tia
* Lớp Bốn : Biểu diễn phân số trên tia
* Lớp Năm : Biểu diễn Hỗn số
Trang 6Phân số thập phân ứng với số trên tia
(nhớ 2 lần không liên tiếp)
- Nhân, chia: Bảng nhân (từ 6 đến 9, 1/6 1/9)
- Nhân, chia số có 3, 4, 5 chữ số cho số có 1 chữ số
- Chia hết và chia có dư
* Lớp Bốn : - Cộng, trừ (phân số cùng mẫu, phân số khác mẫu)
* Lớp Một : - Biểu thức chứa hai phép tính (+, -)
* Lớp Hai : - Tên gọi, thành phần của các phép tính
- Tìm x (thành phần của các phép tính).
- Biểu thức chứa hai dấu phép tính (trong 4 dấu phép tính)
* Lớp Ba : - Tên gọi thành phần của phép chia
- Tìm x
- Biểu thức chứa hai dấu phép tính (trong 4 dấu phép tính và
dấu ngoặc đơn)
* Lớp Bốn : - Tìm x
- Biểu thức chứa chữ
Trang 7- Biểu thức chứa 3 dấu phép tính (trong 4 dấu phép tính và dấu ngoặc đơn)
2000đ,5000đ,10000đ
Thời
gian
Ngàytrong tuần
(15ph-Giờ (5ph,15ph,30ph,50ph)
Số ngàytrongtháng
Giây, Thếkỉ
- Đường gấp
Hình vuông
- Chu vi,Diện tích :
- Hai đườngthẳng:
+ song song
- Diện tích:
+ Hình thang
Trang 8ngoài của
hình
- Góc vuông,góc khôngvuông
+ vuông gócThực hành vẽhình bằngthước
+ Hình tam giác+ Hình tròn
- Điểm ởgiữa
- Trung điểmcủa đoạnthẳng
- Nhận biếttâm, đườngkính, bánkính của hìnhtròn
- Hình thoi
- HBH:
+ Đặc điểm+ Diện tích
-
Hình LP
- Thể tích: + HHCN, HLP
- Giới thiệu:+ Hình trụ+ Hình cầu+ HHCN+ HLP
* Toán về chuyển động đều
* Giải toán về tỉ số phần trăm
* Bài toán hợp có 3, 4 bước tính có:+ Nội dung hình học
+ Các dạng toán điển hình
Trang 9hổng (Nếu chúng ta thành công khi lập kế hoạch bài học, thì coi như bài dạy đã thành công một nửa Và kết quả học tập của trò thì lại phụ thuộc không ít vào sự hướng dẫn của thầy).
Biện pháp 2/ Sử dụng linh hoạt nhiều hình thức dạy học trong cùng một tiết dạy và phát huy tính tích cực của học sinh
Không có một phương pháp, hình thức học tập nào là vạn năng để mởcánh cửa tri thức một cách dễ dàng Trong thực tiễn, không một giáo viên cókinh nghiệm nào lại sử dụng đơn điệu một phương pháp hay hình thức dạy học.Dạy học cũng như người thợ mộc, để thực hiện một thao tác nhằm tạo ra một chitiết thì chỉ cần một công cụ, nhưng muốn có một sản phẩm vẹn toàn thì phải phốihợp nhiều thao tác, sử dụng nhiều công cụ khác nhau Nghệ thuật dạy học lànghệ thuật phối hợp các phương pháp dạy học trong một bài dạy của giáo viên
Do vậy, mỗi khi lập kế hoạch bài dạy tôi nghiên cứu và tùy theo từng bài, từngchương để lựa chọn phương pháp và hình thức dạy học cho phù hợp nhằm pháthuy tính tích cực của học sinh đồng thời dạy cho các em cách học: học từ thầy,
từ bạn và sự tìm tòi của bản thân học sinh
Đó là các hình thức tổ chức: làm việc cá nhân, trao đổi nhóm, đàm thoại,trò chơi gây hứng thú cho học sinh tránh nhàm chán đơn điệu trong tiết học
Ví dụ bài: NHÂN VỚI 10, 100, 1000,
Trang 10b) 9000 : 10 = 6800 : 100 = 9000 : 100 =
420 : 10 = 9000 : 1000 = 2000 : 1000 =
Bài tập này tôi cho các em tự nhẩm và ghi kết quả vào vở bài tập, một em làm bài trên bảng lớp Tôi theo dõi chấm bài của các em dưới lớp.
Trong các tiết dạy thì bình thường khi học sinh làm xong bài tập giáo viên
sẽ gọi học sinh nhận xét bài của bạn trên bảng Nhưng giờ học toán của tôi saukhi làm bài xong, em làm bài trên bảng nêu cách nhẩm rồi tự trao đổi với các bạn(Em trên bảng quay xuống lớp trình bày cách tính nhẩm của mình Sau khi trìnhbày xong sẽ hỏi cả lớp: «Tôi đã báo cáo xong, các bạn có nhận xét gì không Khi
đó học sinh dưới lớp đưa tay có ý kiến, nhận xét bài của bạn và em đó tự gọi bạnđứng lên nhận xét bài của mình Khi bạn nhận xét xong em đó lại tiếp tục hỏixem bạn nào còn có ý kiến nữa không ? Nếu không ai có ý kiến thì em đó sẽ nói:Cám ơn các bạn rồi đi xuống.) trong lớp học sinh sẽ tự nhận xét bài của bạnđúng hay sai, sửa chữa như thế nào cho đúng mỗi em một ý Ta đã biết: «Họcthầy không tày học bạn» như vậy, các em đã tự phát huy được khả năng học tậptích cực của mình và tạo được sự dạn dĩ tự tin trong học tập Sau khi các em tựtrao đổi, chất vấn với nhau tôi sẽ là người nhận xét cuối cùng bài đó đúng hay sairồi cho các em yếu nhắc lại các kết quả đã làm đúng
Bài 2 Viết số thích hợp vào chỗ chấm:
Các bài tập 2b, 3 và bài tập trong sách 400 bài tập: giao cho học sinh giỏi
tự làm giáo viên theo dõi, kiểm tra nhắc nhở
Sau khi làm xong tất cả các bài tập, tôi luôn luôn thiết kế một bài tập trắcnghiệm gọn để vừa củng cố bài học vừa cho các em làm quen với bài Kiểm trađịnh kì
Trang 11Bài 2 Trong các phân số dưới đây, phân số nào bằng 92
Bài tập trắc nghiệm cho phần củng cố bài:
Quy đồng mẫu số các phân số 53 và 74 ta được:
A 3521 và 3520 B 1235 và 3520 C 3521 và 2035 D 1035 và 359
Ví dụ bài: LUYỆN TẬP CHUNG
Bài 1 Đúng ghi Đ, sai ghi S :
Bài này tôi cho cả lớp làm bảng con rồi cho một số em nêu cách trình bày bài vì sao đúng, vì sao sai.
Bài 2 Tính:
a) 25X 1314 = b) :14
3
1 2
5
Bài tập này tôi cho các em tự làm bài vào vở bài tập, 2 em làm bài trên bảng lớp làm xong nêu kết quả cách tính như trên.
Bài 3 Người ta cho một vòi nước chảy vào bể chưa có nước Lần thứ nhất
chảy vào bể 73 bề, lần thứ hai chảy vào thêm 52 bể Hỏi còn mấy phần của bểchưa có nước ?
Bài này tôi cho các em thảo luận nhóm bốn làm bài vào bảng nhóm, làm xong đại diện các nhóm lên bảng báo cáo kết quả thảo luận (các em trong nhóm
Trang 12được luân phiên nhau lên báo cáo) rồi mời các bạn nhóm khác nhận xét, chấtvấn.
Bài tập trắc nghiệm cho phần củng cố bài:
em tích cực tham gia vào quá trình học tập Giáo viên tổ chức các hoạt động, tạo
cơ hội để hướng dẫn các em tham gia tích cực, chủ động vào quá trình học tậpgiúp các em thu nhận kiến thức, kĩ năng một cách sâu sắc và một trong cách học
đó là các em hoạt động theo nhóm Khi hoạt động theo nhóm giúp các em rènluyện và phát triển kĩ năng làm việc, kĩ năng giao tiếp, tạo điều kiện cho các emđược học hỏi lẫn nhau, phát huy vai trò trách nhiệm tính tích cực xã hội trên cơ
sở cùng hợp tác và giúp các em nhút nhát, khả năng diễn đạt kém có điều kiệnrèn luyện, tập dượt từ đó khẳng định bản thân trong sự hấp dẫn của hoạt độngnhóm Tất cả mọi thành viên trong nhóm cùng nhau phát hiện, đóng góp trí tuệ
để hình thành tri thức mới
Ví dụ bài: Phân số và phép chia số tự nhiên
Tôi cho các em thảo luận nhóm 4 tìm hiểu ví dụ, suy nghĩ xem làm nhưthế nào để chia 5 quả cam cho 4 bạn
Khi đó nhóm trưởng chia cho mỗi bạn một nhiệm vụ: mỗi bạn cắt quả cam(mỗi em một màu khác nhau, nhóm trưởng cắt 2 quả) của mình thành 4 phần(bằng giấy) bằng nhau và tìm cách chia số phần đã cắt cho 4 bạn, mỗi bạn sẽđược mấy phần
Qua quá trình hợp tác cắt, chia các em tìm được cách chia phân số rồibằng sự hướng dẫn của giáo viên các em tìm ra kết luận 5 : 4 = 45 (quả cam)
4
5
quả cam gồm 1 quả và 14 quả cam,
Trang 13do đó 45 nhiều hơn 1 quả Ta viết: 45 > 1.
* Phân số 45 có tử số lớn hơn mẫu số, phân số đó lớn hơn 1
* Phân số có 44 có tử số bằng mẫu số, phân số đó bằng 1
Ta viết: 44 = 1
* Phân số 41 có tử số bé hơn mẫu số, phân số đó bé hơn 1
Ta viết: 41 < 1
Biện pháp 3/ Hướng dẫn phân tích đề, giải và trình bày bài toán
Chúng ta đã biết đặc điểm tâm lý của học sinh Tiểu học còn mang nặngcảm tính nên khi làm bài các em còn chủ quan cho mình đã làm đúng rồi, giỏirồi Chứ chẳng suy nghĩ xem mình giải đúng chưa, có tìm được cách giải nàokhác nữa không Và khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng tóm tắt bài toán củahọc sinh còn hạn chế, chưa có thói quen đọc và tìm hiểu kĩ bài toán dẫn tớithường nhầm lẫn giữa các dạng toán, chưa biết phân tích câu, từ để tìm ra nhữngcon số, phép tính nằm ẩn sau trong đề bài Bên cạnh đó trong quá trình hướngdẫn học sinh giải toán chúng ta chưa thực sự chú ý rèn cho học sinh phươngpháp suy luận để tìm ra nhiều phương pháp giải nhằm phát huy tính sáng tạo linhhoạt cho học sinh Vì thế tôi đã hướng dẫn rồi tập cho học sinh một số kĩ năng vàthói quen khi làm bài ở lớp cũng như khi Kiểm tra định kì
Bước 1: Rèn cho học sinh có thói quen đọc kĩ đề toán, xác định: Cái đã
biết ? Cái cần phải đi tìm ?
- Việc đọc kĩ đề toán là một khâu vô cùng quan trọng giúp các em phânbiệt rõ bài này thuộc dạng nào Từ cái đã biết là những gì, cái chưa biết để đi tìm
là gì ?
- Đọc bài toán (đọc to, nhỏ, đọc thầm)
Bước 2: Rèn kĩ năng lập kế hoạch giải:
- Tìm hiểu một số yêu cầu quan trọng để tìm hiểu nội dung, nắm bài toáncho biết gì, bài toán yêu cầu gì ? (Gạch dưới các yêu cầu quan trọng)
- Xem bài đó thuộc dạng toán gì ? Muốn trả lời được câu hỏi của bài toánthì cần phải làm gì ? Trong những điều đó cái gì đã biết, cái gì chưa biết ? Muốntìm cái chưa biết ấy thì phải làm gì ?
Cứ như vậy các em đi dần đến những điều đã cho trong bài và tìm đượccách giải của bài toán đó
Bước 3: Rèn kĩ năng thực hiện cách giải toán:
Trang 14- Dựa vào bước lập kế hoạch giải để thực hiện cách giải và trình bày bàigiải (Bắt đầu từ câu hỏi cuối cùng);
- Rèn cho học sinh cách trình bày khoa học, viết đúng phép tính, đúng tênđơn vị, lời giải rõ ràng, đúng yêu cầu đề ra…(Hướng dẫn học sinh có thói quenlàm ngoài giấy nháp cẩn thận rồi mới viết kết quả vào bài tránh cẩu thả, bôi bẩn,tẩy xóa nhiều, hấp tấp sai kết quả trong bài làm);
Bước 4: Rèn kĩ năng nhìn lại bài làm:
- Đây không phải là khâu bắt buộc trong quá trình giải toán nhưng lại làkhâu không thể thiếu trong dạy và học toán Bởi vì đây là mục đích để kiểm tra,
rà soát lại công việc giải, tìm cách giải khác và so sánh với cách vừa giải…
Ví dụ bài: Một hình chữ nhật có nửa chu vi là 125m, chiều rộng bằng 32
chiều dài Tìm chiều dài, chiều rộng của hình đó
Tôi hướng dẫn các em như sau:
Bước 1: Đọc đề bài ít nhất 3 lần
Bước 2: Lập kế hoạch giải:
- Tìm hiểu xem bài toán cho biết gì ? (hình chữ nhật có nửa chu vi là125m, chiều rộng bằng 32 chiều dài);
- Bài toán hỏi gì ? (Tìm chiều dài, chiều rộng của hình đó);
- Gạch dưới yêu cầu của bài (nửa chu vi 125m, chiều rộng bằng 32 chiềudài, Tìm chiều dài, chiều rộng);
- Xét xem bài đó thuộc dạng nào ? (Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số củahai số) Muốn tìm được chiều dài và chiều rộng của hình đó ta phải biết gì ?(Tổng số phần bằng nhau) Muốn tìm chiều rộng ta phải tìm gì, làm phép tính gì?(Tìm một phần, tìm 2 phần, làm tính chia để tìm 1 phần rồi làm tính nhân để tìmchiều rộng) Muốn tìm chiều dài ta phải làm như thế nào, làm phép tính gì ? (Có
2 cách….);
Bước 3: Rèn kĩ năng lập kế hoạch giải
- Tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng (Chiều rộng bằng 32 chiều dài
có nghĩa là chiều rộng 2 phần và chiều dài 3 phần);
(Làm bài vào giấy nháp)
Chiều rộng:
?
?
Trang 15- Dựa vào sơ đồ tìm tổng số phần bằng nhau: 2 + 3 = 5 (phần)
- Tìm giá trị của 1 phần rồi tìm chiều rộng: 125 : 5 x 2 = 50 (m)
- Tìm giá trị của chiều dài: 125 – 50 = 75 (m)
Bước 4: Rèn kĩ năng nhìn lại bài làm:
Sau khi đã tìm ra kết quả ở giấy nháp các em sẽ xem lại bài làm của mình
đã đúng hay chưa, sai ở chỗ nào, sửa chữa ra sao rồi trình bày bài vào vở hay bàithi đã hoàn chỉnh
125 : 5 x 2 = 50 (m)Chiều dài hình chữ nhật là:
125 – 50 = 75 (m)Đáp số: Chiều rộng: 50m Chiều dài: 75m
Biện pháp 4/ Tổ chức trò chơi học tập
Trong cuộc sống hằng ngày, trò chơi là một phần không thể thiếu được đốivới mỗi con người chúng ta Trò chơi tạo nên sự vui tươi, thân mật, đoàn kết,giải trí Như Giáo sư - Tiến sĩ Bùi Văn Huệ đã nhận định: “Khi giảng bài, côgiáo sử dụng đồ dùng học tập đẹp, màu sắc sặc sỡ, tổ chức các trò chơi phongphú, các em sẽ reo lên: “Đẹp quá !”, “thích quá !” Do đó, những bài giảng khôkhan không tạo dựng cho học sinh những cảm xúc tích cực mà còn làm cho các
em mệt mỏi, chán nản, căng thẳng.” Ở lứa tuổi tiểu học, trò chơi không những
giúp các em phát triển về thể lực, tư duy mà còn tạo cho các em trực tiếp thamgia vào quá trình học tập, rèn luyện Đối với các nhà giáo dục thì đó là phươngpháp “Vui mà học, học mà vui” Như Bác Hồ đã từng căn dặn: “Trong lúc họccũng cần làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học” Đối vớihọc sinh lớp 4, việc sử dụng các hình thức trò chơi học tập rất phù hợp với đặcđiểm tâm sinh lí của các em, đồng thời giúp các em bộc lộ hết năng lực củamình, gây hứng thú khi học Toán Do vậy, ngoài các hình thức tổ chức dạy họctùy theo bài, theo thời lượng của tiết học mà tôi thiết kế, tổ chức cho các emtham gia các trò chơi khác nhau:
Bước 1: Tôi chọn trò chơi phù hợp với thời lượng của tiết học và trình độ
của học sinh
Chuẩn bị của giáo viên:
- Chọn nội dung cho phù hợp với tên trò chơi;
125m
?
?
Trang 16- Hướng dẫn và giải thích cách chơi cho học sinh rõ;
- Điều khiển học sinh chơi thử;
Bước 2: Học sinh thực hành chơi dưới sự theo dõi, hướng dẫn của giáo
viên
Ví dụ: Trò chơi: Ai nhiều điểm nhất.
Mục đích: Tạo cho các em sự nhanh nhẹn và kĩ năng tính toán chính xác Chuẩn bị: + Mỗi học sinh chuẩn bị bảng con và phấn
+ Giáo viên chuẩn bị các bông hoa bằng giấy màu cứng có ghicác phép tính phía trước và kết quả phía sau (hoặc ghi vào 2 mặt của bảng con)
Cách chơi: Chia lớp làm hai đội, khi nghe lệnh “bắt đầu” một em của đội
Một lên hái hoa và gắn lên bảng rồi đứng đó làm trọng tài, theo dõi, ghi điểm Ởdưới 2 đội bắt đầu làm bài vào bảng con Trong thời gian quy định đưa bảng con,
em trọng tài quay kết quả xuống dưới nếu đội nào có người làm sai thì trừ mỗi
em một điểm nếu cả hai đội các em đều làm đúng hết thì mỗi đội được 10 điểm.Tiếp tục em của đội Hai lên làm tương tự Cuối cùng đội nào nhiều điểm đội đó
* Trò chơi này có thể áp dụng được rất nhiều bài của môn Toán.
Trò chơi: Truyền điện
Mục đích: Luyện tập phản xạ nhanh, tính mạnh dạn, tự tin.
Chuẩn bị: Không cần chuẩn bị bất kì đồ dùng nào.
Cách chơi: Các em ngồi tại chỗ, giáo viên gọi bắt đầu từ một em bất kì
đứng lên nêu phép tính và kết quả, nếu kết quả đúng thì truyền điện gọi em khác,nếu kết quả sai thì bị giật điện đứng tại đó giáo viên gọi em khác trả lời, khi em
đó trả lời đúng thì truyền điện cho em khác đến khi hết bài tập Các em làm saicuối cùng phải nêu lại kết quả bài mình đã làm sai cho đúng rồi nhảy lò cò một
Trang 17vòng từ chỗ ngồi lên bảng Kết thúc khen thưởng một tràng pháo tay cho những
em thắng cuộc
Ví dụ: Bài Giây, Thế kỉ
Bài 1 Viết số thích hợp vào chỗ chấm:
a) 1 phút = …… giây; 2 phút = ……… giây; 31 phút = …… giây
60 giây = …… phút; 7 phút = ……… giây; 1 phút 8 giây = …….giâyb) 1 thế kỉ = …… năm; 5 thế kỉ = ……năm; 9 thế kỉ = …….năm
* Trò chơi này có thể áp dụng được cho nhiều bài khác
Trò chơi: Ong đi tìm nhụy
Mục đích: Rèn tính tập thể Rèn kĩ năng tính nhanh
Chuẩn bị: 10 bông hoa năm cánh, mỗi bông một màu ứng với các kết quả
của phép tính trên bảng 10 chú ong trên mình ghi các phép tính đúng có gắnnam châm
Cách chơi: Chia lớp làm hai nhóm (tùy theo số phép tính của bài).
Chia bảng làm hai phần, gắn mỗi bên bảng 5 bông hoa và 5 chú ong.Hai đội đóng vai ong xếp hàng đứng phía trước, khi có lệnh bắt đầu các chú ongnhanh chóng nối ong với hoa cho phù hợp Em này xong thì em kia mới đượcbắt đầu Trong thời gian quy định đội nào nhanh, đúng đội đó thắng Cả lớpnhẩm, tính giấy nháp theo dõi và cổ vũ cho đội mình
Ví dụ: Luyện tập
Bài 1/ 51 VBTTH: Tính a)
3
5 3
8
5
9 5
21
4
9 5
16
5 7
1
3
5 5
8
Trang 18Ví dụ bài: Phép chia phân số
Bài 2 Tính:
8
5 :
8
2
1 : 3 1
Trò chơi này áp dụng nhiều bài để rèn cho các em kĩ năng cộng, trừ, nhân, chia nhanh, chính xác.
Biện pháp 5/ Ôn tập
Việc kiểm tra đánh giá trình độ và kết quả học tập của học sinh là việc cầnthiết Nó cần thiết bởi có rất nhiều quyết định phải dựa trên những sự kiểm tra vàđánh giá đó Ví dụ như học sinh có đủ trình độ để có thể hiểu những bài học tiếptheo không, có đáng tin tưởng để giao một việc nào đó cho không ? Bởi vậy tôithường xuyên tổ chức việc kiểm tra bài làm ở nhà của các em Đầu giờ sinh hoạt
15 phút tôi thường đến lớp sinh hoạt và cùng ban cán sự kiểm tra xem về nhà emnào làm bài tập, em nào không làm và em nào thường xuyên không làm bài đểtheo dõi nhắc nhở các em tiến bộ
Chúng ta biết rằng: Không phải các em làm hết các bài ở nhà là học tốtđược môn Toán đâu, mà phải biết các em làm sai chỗ nào, sai có sửa chữa haykhông, hay sai tuần này tuần sau cũng dạng bài tập đó mà vẫn sai Để khắc phụctình trạng này, giờ học Toán, thời gian kiểm tra tôi cho 1, 2 em lên bảng giải bàitập các em còn lại làm bài trên bảng con để các em được trực quan và khắc sâukiến thức một lần nữa, nếu em nào làm sai thì sửa lại bài Đối với học sinh Tiểuhọc “Dễ nhớ - Mau quên” nên khi ra bài tập về nhà không nhất thiết phải ra cácbài tập ngày hôm nay các em học, mà có thể ra các bài các em đã học rồi Trongkhi giảng dạy, tôi theo dõi xem ngày hôm nay các em nắm kiến thức có vữngkhông, bài nào các em nắm chưa vững tôi đánh dấu lại trong trang sách đến khinhững bài mới dễ học hơn các em nắm bài tốt nên tôi không giao bài tập của
Trang 19kiến thức bài này mà giao bài tập mà tuần trước các em chưa nắm chắc để ngàymai sửa bài khắc sâu thêm kiến thức một lần nữa.
Không những tôi ra những bài toán các em hay làm sai về nhà làm lại đểsửa chữa, mà đến các tiết Luyện tập Toán của buổi học tăng tiết tôi lại cho các
em làm các bài mình đánh dấu trong tuần trước để các em tự làm rồi sửa chữaxem các em đã nắm vững hay chưa nếu chưa nắm vững thì cứ tiếp tục làm nhưvậy “Mưa dầm thấm lâu” Không phải hết tuần là xong đâu sau một tháng hayhết một chương tôi đều ra một bài kiểm tra với các dạng toán khác nhau để xemcác kiến thức này các em đã nắm vững chưa nếu chưa thì lại tiếp tục ôn tập cũngnhư ông bà ta đã dạy “Văn ôn thì võ phải luyện”
Ví dụ: Các em hay nhầm lẫn giữa đơn vị đo độ dài với đơn vị đo diện tích Nhiều em không nhớ được hai đơn vị liền kề của đơn vị đo diện tích hơn kém nhau 100 đơn vị.
3km2 = 3000000m2 lại viết là (3km2 = 3000m2 )
18m27cm2 = 180007cm2 thì viết là (18m2 = 1807m2)
Ví dụ: Khi xếp thứ tự các phân số từ bé đến lớn thì các em cứ thấy phân
số nào có số lớn hơn là các em xếp lớn… Do vậy phải được làm nhiều lần mới nhớ.
Các phân số ;51
3
2
; 3
4
; 2
2 3
4
nhưng lại xếp: 21 ; ;
3
2 3
4
;51
Ví dụ: Đây là bài toán tìm phân số của một số (Một mảnh vườn hình chữ
nhật có chiều dài 45m, chiều rộng bằng 95 chiều dài Tính diện tích của mảnhvườn hình chữ nhật đó.) nhưng một số em lại lẫn lộn với dạng toán tìm hai sốkhi biết tổng và tỉ của hai số
Ví dụ: Trên bản đồ tỉ lệ 1 : 1 000, độ dài 1dm ứng với độ dài thật là:
Bài toán này một số em chỉ biết lấy 1dm x 1000 = 1000dm rồi khoanh vào
ý A không biết rằng kết quả đúng phải là ý C vì 1000dm = 100m
Ví dụ: Hai xe ô tô chở được 7600kg gạo Ô tô thứ nhất chở được nhiều
hơn ô tô thứ hai 350kg gạo Hỏi mỗi xe chở được bao nhiêu kg-lô-gam gạo ?
Đây là dạng toán tìm hai số khi biết tổng và hiệu, học sinh vẫn còn nhầmlẫn giữa số lớn và số bé Kết quả tìm ra số bé lại lớn còn số lớn thì ngược lại Có
em còn tìm số bé bằng cách lấy tổng trừ hiệu nhưng không chia cho 2 do vậy dẫnđến kết quả sai
Trang 20Ví dụ: Quãng đường từ bản A đến bản B dài 12km Trên bản đồ tỉ lệ 1 :
100 000, quãng đường đó dài bao nhiêu xăng - ti - mét ?
Nhiều em không biết đổi đơn vị độ dài thật ra xăng - ti - mét để tìm độ dàitrên bản đồ
* Và nhất là các bài tập cộng, trừ, nhân, chia phân số các em còn lẫn lộnrất nhiều có khi nhân, chia cũng quy đồng mẫu số hai phân số, chia thì lại nhân
tử với tử, mẫu với mẫu chứ không nhân phân số đảo ngược và dạng nhân, chiaphân số với số tự nhiên dạng này lẫn lộn thường xuyên Do vậy tôi lồng ghép, ôntập thường xuyên các bài tập này cho các em làm quen và nhớ lâu “Chúng ta làmthì chúng ta hiểu” để học tốt và áp dụng làm tốt Bài kiểm tra định kì
Biện pháp 6/ Thiết kế các bài tập trắc nghiệm
Theo Thông tư số 32/2009/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo banhành ngày 27/10/2009 về việc Ban hành Quy định đánh giá và xếp loại học sinhTiểu học; Trong đó, đã quy định: Đề kiểm tra định kì của học sinh được kết hợpbởi hình thức kiểm tra tự luận và trắc nghiệm khách quan (điền khuyết, đối chiếucặp đôi, đúng sai, nhiều lựa chọn)
Số câu trắc nghiệm khách quan chiếm 60 - 80% trong đề kiểm tra Trongthực tế giảng dạy cho thấy, bài toán nếu như dưới hình thức kiểm tra là bài tựluận thì các em sẽ được nhiều điểm hơn so với hình thức kiểm tra trắc nghiệm vìbài tự luận khi các em giải ra nếu đúng phần nào thì sẽ được điểm phần đó cònnếu là dạng trắc nghiệm thì các em phải đúng hoàn toàn có nghĩa là phải chínhxác 100% mới được điểm còn không thì không có điểm Thực tế nhiều em chỉthiếu có 0.25 điểm sẽ không bị thi lại, hoặc sẽ đạt học sinh Tiên tiến hay họcsinh Giỏi Do vậy, tôi đã tìm hiểu lựa chọn thiết kế các bài tập trắc nghiệm vớidạng toán tương đương nhưng với nhiều hình thức khác nhau từ các bài toán các
em vừa học ở trên lớp để cho các em làm trong khi củng cố bài và về nhà làm,ngày hôm sau kiểm tra sửa chữa Khi lên lớp trên bảng là bài tập trắc nghiệmnhưng khi làm vào bảng con các em không chỉ khoanh ý đúng mà phải trình bàybài giải của mình để kiểm tra xem các em có tự làm hay nhìn bài của bạn khoanhđúng mà không biết gì cả Tôi còn thường xuyên khuyến khích, tuyên dươngnhắc nhở đề các em khi làm bài thì phải thật cẩn thận đọc kĩ đề, phải suy nghĩ kĩcàng khi đặt bút khoanh câu trả lời đúng, không tẩy xóa khi làm bài chính xáctuyệt đối Các em được thường xuyên làm quen với các dạng toán với các bài tậptrắc nghiệm thì chắc chắn sẽ làm tốt bài Kiểm tra định kì
Trang 21989061
* Nếu các em làm bài trắc nghiệm mà sai kết quả thì sẽ không được điểm nào cả Tích của 329687 và 3 là:
Ví dụ 2: Giá trị của biểu thức 156089 – 49374 x 3 là:
* Khi các em làm bài tự luận nếu các em làm sai kết quả nhưng làm đúng phép tính nhân thì vẫn được 0,25
* Nếu các em làm bài trắc nghiệm mà sai kết quả thì sẽ không được điểm nào.
Một cửa hàng ngày đầu bán được 64 tấn gạo, ngày thứ hai bán được ít hơnngày đầu 4 tấn Cả hai ngày bán được số ki lô gam gạo là:
A 124 kg B 256 kg C 124000 kg D 60000 kg
Ví dụ: Những bài tập trắc nghiệm về nhà làm để các em thường xuyên làm quen với các dạng kiến thức khác nhau:
(Xem phụ lục) Biện pháp 7/ Áp dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy môn Toán
Trang 22Trong thời đại hiện nay, công nghệ thông tin (CNTT) ngày càng bùng nổ
và chiếm một vị thế quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội Có thể nói không
có một hoạt động nào trong xã hội hiện đại tách rời được CNTT Trong xu thếhội nhập toàn diện, khi nước ta chính thức trở thành thành viên WTO càng đòihỏi phải đẩy mạnh phát triển CNTT để cập nhật, khai thác, ứng dụng nhữngthành tựu tri thức của nhân loại đồng thời là cánh cửa chào đón bạn bè Quốc tếđến Việt Nam
Hơn bao giờ hết, ngành Giáo dục và Đào tạo đã nhanh chóng hội nhập,phát triển ứng dụng CNTT không chỉ để bắt kịp sự phát triển của Thế giới màcòn có trách nhiệm đào tạo nguồn nhân lực sẵn sàng đáp ứng nhu cầu phát triểncủa đất nước trong tiến trình hội nhập toàn cầu Cũng chính vì thế, năm học:
2008 – 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xác định mục tiêu và nhiệm vụ chínhcủa năm học là: “Năm học đẩy mạnh ứng dụng CNTT, đổi mới quản lý tài chính
và xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, tạo bước đột phá về ứngdụng CNTT trong giáo dục và tạo tiền đề phát triển ứng dụng CNTT
Chính vì vậy mà trường tôi trong mấy năm qua đã đầu tư kinh phí để muamáy tính phục vụ cho việc dạy và học Đầu năm học này, phòng học của lớp tôiđược nhà trường trang bị một tivi màn hình phẳng 42 inch kết nối với CPU đểdạy trình chiếu Do đó, ngoài giờ dạy trên lớp tôi đã dành thời gian đầu tư, xâydựng, thiết kế nhiều bài giảng điện tử với những hình thức khác nhau để lôi cuốnhọc sinh tham gia học tập tốt
Ngoài ra các bài tập trắc nghiệm được thiết kế để củng cố bài của từng tiếthọc hay trong vở Bài tập về nhà của các em và những bài tập khó hay lẫn lộn các
em thường hay làm sai đã đánh dấu trong vở nên khi muốn kiểm tra tôi khôngcần phải ghi đề trên bảng mất nhiều thời gian mà chỉ việc bật máy lên là có bàitrực quan cho các em làm rồi sửa chữa lại Cho dù các bài đó phải làm đi làm lạinhiều lần cũng không phải mất nhiều thời gian của thầy, trò Những bài trựcquan này các em sẽ nhớ lâu và áp dụng tốt trong Bài kiểm tra định kì
Biện pháp 8/ Một số mấu chốt để thành công khi làm bài thi
Trong các bài kiểm tra định kì số câu trắc nghiệm khách quan chiếm 60 80% trong đề kiểm tra còn lại là các bài tự luận Nhiều em không đọc kĩ đề làmnhanh, ẩu có khi làm đại cho xong dẫn đến kết quả không đúng thực chất vớitrình độ của các em Chính vì vậy mà không những tôi thường xuyên thiết kế cácbài tập trắc nghiệm mà còn tập cho các em thói quen và một số kĩ năng khi làmbài như sau:
-Đối với các bài tập tự luận
- Đầu tiên các em phải đọc thật kĩ đề bài sau đó hình dung ra nhữnghướng suy nghĩ, lối tư duy khác nhau có thể vận dụng; (đã nói ở phần trên)