Xây dựng tiêu chí lựa chọn dịch vụ hệ sinh thái rừng để đề xuất mô hình chi trả dịch vụ môi trường rừng tại vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo.. PES là công cụ kinh tếyêu cầu những người đượ
Trang 1Bảng 2.1 Các dự án thí điểm PES ở Việt Nam từ năm 2002 - 2012 20
Bảng 2.2 Nguồn thu DVMTR năm 2011-2012 tại một số tỉnh điển hình trên toàn quốc 23
Bảng 4.1 Diện tích vùng đệm Vườn Quốc gia Tam Đảo theo độ dốc 29
Bảng 4.2: Hiện trạng sử dụng đất ở các xã vùng đệm VQG Tam Đảo 35
Bảng 4.3 Sản xuất lâm nghiệp của các tổ chức 37
Bảng 4.4 Hiện trạng giao đất giao rừng tại vùng đệm VQG Tam Đảo 39
Bảng 4.5 Đề xuất hệ số K theo hiện trạng sử dụng đất VQG Tam Đảo 46
Bảng 4.6 Tóm tắt hiện trạng giao khoán rừng tại vùng đệm 47
VQG Tam Đảo 47
Trang 2Hình 2.1 Ảnh hưởng lợi ích lẫn nhau của hai bên tham gia PFES 7
Hình 2.2 Mô hình xác định mức chi trả dịch vụ môi trường 7
Hình 2.3 Hình mô phỏng nguyên tắc chi trả PES 8
Hình 4.1 Bản đồ hành chính Vườn Quốc gia Tam Đảo 28
Hình 4.2 Dân số theo thôn trong vùng đệm và Vườn Quốc gia 33
Hình 4.3 Mật độ dân số các xã trong vùng đệm và Vườn Quốc gia 34
Hình 4.4 Mức chi trả dịch vụ môi trường rừng 42
Hình 4.6 Hình chi trả trực tiếp cho các xã vùng đệm VQG Tam Đảo 55
Hình 4.7 Tóm tắt cơ chế chi trả PFES 54
Hình 4.8 Cơ chế chi trả DVMTR tại vùng đệm VQG Tam Đảo 59
Trang 3BNN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường
DVMTR Dịch vụ môi trường rừng
FONAFIFO Quỹ Tài chính Quốc gia về rừng
ICRAF Trung tâm Nông – Lâm thế giới
IFAD Quỹ Quốc tế về Phát triển nông nghiệp
PES Chi trả dịch vu môi trường
PFES Chi trả dịch vụ môi trường rừng
PTNT Phát triển nông thôn
RUPES Chương trình chi trả cho người nghèo vùng cao dịch vụ môi trường
UBND Uỷ ban nhân dân
USAID Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ
VQG Vườn quốc gia
Trang 4PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Khái quát chung về chi trả dịch vụ môi trường 4
2.1.1 Dịch vụ môi trường 4
2.1.2 Chi trả dịch vụ môi trường 4
2.1.3 Thiết lập kế hoạch chi trả dịch vụ môi trường 9
2.2 Khái quát chung về chi trả dịch vụ môi trường rừng 9
2.2.1 Khái niệm dịch vụ môi trường rừng 9
2.2.2 Khái niệm chi trả dịch vụ môi trường rừng 10
2.2.3 Nguyên tắc chi trả dịch vụ môi trường rừng 10
2.2.4 Các hình thức chi trả dịch vụ môi trường rừng 11
2.2.5 Nội dung chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng 12
2.3 Các mô hình PFES thành công trên thế giới và các nghiên cứu PFES ở Việt Nam 14
2.3.1 Các mô hình PES thành công trên thế giới 14
2.3.2 Một số nghiên cứu và kết quả về dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam .17
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 23
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 23
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 23
Trang 53.3 Nội dung nghiên cứu 23
3.3.1 Đánh giá hiện trạng, cơ hội và thách thức áp dụng chinh sách chi trả dịch vụ môi trường tại vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo 23
3.3.2 Xây dựng tiêu chí lựa chọn dịch vụ hệ sinh thái rừng để đề xuất mô hình chi trả dịch vụ môi trường rừng tại vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo 24
3.3.3 Đề xuất mô hình và xác định nghĩa vụ và quyền lợi của các bên liên quan đến mô hình chi trả dịch môi trường rừng 24
3.3.4 Đề xuất giải pháp thực hiện thí điểm mô hình chi trả dịch vụ môi trường rừng đã đề xuất tại vùng đệm VQG Tam Đảo 24
3.3.5 Đề xuất cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng tại vùng đệm VQG Tam Đảo 24
3.4 Phương pháp nghiên cứu 24
3.4.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 24
3.4.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp (thực địa) 24
3.4.3 Phương pháp phân tích SWOT (điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức) 24
3.4.4 Phương pháp phân tích các bên liên quan 25
3.4.5 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo 25
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26
4.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực vùng đệm Vườn Quốc gia Tam Đảo 26
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 26
4.1.2 Các yếu tố kinh tế - xã hội 30
4.1.3.Hiện trạng giao đất, giao rừng tại vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo 37 4.2 Hiện trạng, cơ hội và thách thức áp dụng chinh sách chi trả dịch vụ môi trường tại vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo 39
4.2.1 Cơ sở pháp lý áp dụng chi trả dịch vụ môi trườngrừng tại các xã vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo 39
4.2.2 Cơ sở khoa học và thực tiễn 42
Trang 64.3 Tiêu chí lựa chọn dịch vụ hệ sinh thái rừng để đề xuất mô hình chi trả
dịch vụ môi trường rừng tại vùng đệm VQG Tam Đảo 48
4.4 Đề xuất mô hình và xác định các bên liên quan (đối tượng cung ứng dịch vụ môi trường rừng và đối tượng sử dụng dịch vụ môi trường rừng) 52
4.4.1 Đề xuất mô hình chi trả dịch vụ môi trường rừng 52
4.4.2 Cách tiếp cận trong chi trả dịch vụ môi trường rừng tại vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo 53
4.4.3 Phương thức chi trả dịch vụ môi trường rừng tại khu vực vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo 53
4.4.4 Các bên liên quan và trách nhiệm của các bên liên quan 55
4.5 Giải pháp thực hiện thí điểm mô hình chi trả dịch vụ môi trường rừng đã đề xuất tại vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo 56
4.5.1 Giải pháp thí điểm thực hiện mô hình nông lâm kết hợp 56
4.5.2 Giải pháp thí điểm thực hiện mô hình dịch vụ du lịch sinh thái có sự tham gia của cộng đồng 57
4.6 Đề xuất cơ chế chi trả dịch vụ MTR tại vùng đệm VQG Tam Đảo 58
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60
5.1 Kết luận 60
5.2 Tồn tại 62
5.3 Kiến nghị 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
PHỤ LỤC 65
Phụ lục 1: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến PFES 65
Phụ lục 2 Diện tích, dân số vùng đệm VQG Tam Đảo 66
Phụ lục 3 Cơ cấu dân số vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo 67
Phụ lục 4 Hiện trạng sử dụng đất tại vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo 68
Trang 7Trên thực tế, những người bảo tồn, gìn giữ và phát triển các dịch vụmôi trường chưa được hưởng lợi ích chính đáng mà xã hội phải trả cho các nỗlực của họ Còn những người sử dụng dịch vụ này chưa chi trả cho nhữngdịch vụ mà họ được hưởng Hậu quả là việc cung cấp và sử dụng dịch vụ môitrường đó không bền vững Chính vì vậy, chi trả dịch vụ môi trường(Payments for Environmental Services – PES) đã ra đời và đang trở thành mộtbiện pháp quản lý hiệu quả ở nhiều nước trên thế giới PES là công cụ kinh tếyêu cầu những người được hưởng lợi từ các dịch vụ môi trường chi trả chonhững người tham gia duy trì, bảo vệ và phát triển các chức năng của môitrường đó.
Từ năm 2004, Chính phủ Việt Nam đã thiết lập cơ sở pháp lý nhằmthực hiện chương trình quốc gia về chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES)thông qua Luật Bảo vệ và Phát triển rừng sửa đổi (2004) Năm 2008, Quyếtđịnh số 380/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ đã cho phép thí điểm Chínhsách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại tỉnh Sơn La và Lâm Đồng Năm
2010, Nghị định số 99/2010/NĐ-CP đã được ban hành nhằm triển khai Chínhsách chi sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên phạm vi toàn quốc từ ngày01/01/2011 Có thể nói, Việt Nam đã trở thành quốc gia đầu tiên tại châu Ában hành và triển khai Chính sách PFES ở cấp quốc gia
Trang 8Vườn quốc gia Tam Đảo được thành lập theo Quyết định số TCCB/QĐ ngày 15/05/1996 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn Vườn thuộc địa giới hành chính của 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Thái vàTuyên Quang, với tổng diện tích 19.000 ha (từ độ cao 400m trở lên), trong đó,bao gồm 23 xã vùng đệm bao quanh chân núi Tam Đảo với diện tích là15.515 ha Theo kết quả thống kê ngày 31/12/1999, tổng dân số vùng đệmVườn Quốc gia Tam Đảo là 148.706 người thuộc 29.598 hộ, mật độ dân cưtoàn vùng là 204 người/km2, trong đó dân tộc thiểu số chiếm 37% Mật độdân số không đều giữa các xã trong vùng đệm, tập trung cao ở các xã vùngthấp và thưa thớt tại vùng thị trấn Tam Đảo, các thôn, xóm vùng ven núi củacác xã vùng đồng bằng Cuộc sống của đa số người dân ở khu vực vùng đệm
601/NN-là sống phụ thuộc vào rừng, tình hình nghèo đói đang chiếm tỷ lệ rất cao Vìvậy, việc nghiên cứu để đề xuất các mô hình sinh kế bền vững cho người dântại các xã vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo là một việc làm hết sức quantrọng và cần thiết, không chỉ có ý nghĩa với việc xóa đói giảm nghèo chocộng đồng dân cư ở đây mà còn góp phần bảo vệ bền vững đa dạng sinh họcvườn quốc gia Tam Đảo Từ đó, đưa ra những biện pháp quản lý vườn quốcgia Tam Đảo và vùng đệm hiệu quả hơn trong tương lai Chính vì vậy, đề tài
“Nghiên cứu, đề xuất một số mô hình chi trả dịch vụ môi trường rừng vùng
đệm Vườn quốc gia Tam Đảo” đã được lựa chọn triển khai, thực hiện.
1.2 Mục tiêu đề tài
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Áp dụng cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng vào việc xây dựng môhình sinh kế cho cộng đồng địa phương, góp phần xóa đói giảm nghèo chocác xã vùng đệm và bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Tam Đảo
Trang 9- Cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng cho khu vực nghiên cứu.
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Hiểu được về PFES và đóng góp của PFES đối với kinh tế - môi trường– xã hội ở Việt Nam, từ đó đưa ra giải pháp nhằm giúp các nhà hoạch địnhchính sách xây dựng các chính sách phù hợp hơn để PFES góp phần khả quanhơn vào việc bảo vệ rừng cũng như công cuộc xóa đói, giảm nghèo
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Nghiên cứu được tiến hành tại vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo,huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 10PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Khái quát chung về chi trả dịch vụ môi trường
2.1.1 Dịch vụ môi trường
Dịch vụ môi trường là những lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp màcon người hưởng thụ từ các chức năng của hệ sinh thái Dịch vụ môi trườngđóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, cải thiện sinh kế vàsức khỏe cho cộng động trên thế giới Dựa vào vai trò, chức năng khác nhaucủa hệ sinh thái, các nhà sinh thái học đã phân thành 4 nhóm chức năng hay 4 loạidịch vụ của hệ sinh thái với mục đích khác nhau về kinh tế - xã hội, bao gồm:
+ Dịch vụ sản xuất: thực phẩm, nước sạch, nguyên liệu, chất đốt, nguồngen, v.v…
+ Dịch vụ điều tiết: phòng hộ đầu nguồn, hạn chế lũ lụt, điều hoà khíhậu, điều tiết nước, lọc nước, thụ phấn, phòng chống dịch bệnh, v.v…
+ Dịch vụ văn hoá: giá trị thẩm mỹ, quan hệ xã hội, giải trí và du lịchsinh thái, lịch sử, khoa học và giáo dục, v.v…
+ Dịch vụ hỗ trợ: cấu tạo đất, điều hoà dinh dưỡng, v.v…
2.1.2 Chi trả dịch vụ môi trường
Như vậy, PES là cam kết tham gia hợp đồng trên cơ sở tự nguyện có ràngbuộc về mặt pháp lý và với hợp động này thì một hay nhiều người mua chi trảcho dịch vụ hệ sinh thái xác định bằng cách trả tiền mặt hoặc các hỗ trợ cho mộthoặc nhiều người bán và người bán này có trách nhiệm đảm bảo một loại hình sửdụng đất nhất định cho một giai đoạn xác định để tạo ra các dịch vụ hệ sinh tháithỏa thuận
Trang 11Theo Wunder, mặc dù có rất nhiều dịch vụ khác nhau có thể được traođổi trong cơ chế PES, nhưng thực tế chỉ có 4 loại hình dịch vụ có tiềm nănglớn nhất xét ở quy mô thương mại bao gồm:
+ Bảo vệ rừng đầu nguồn: cung cấp dịch vụ chất lượng nước, điều tiếtnước, bảo vệ nơi cư trú dưới nước và kiểm soát ô nhiễm đất, v.v…
+ Bảo tồn đa dạng sinh học: phòng trừ dịch bệnh, giá trị hệ sinh thái, v.v…+ Hấp thụ các bon: biến đổi khí hậu (rừng hấp thụ các bon làm giảmkhí nhà kính), v.v…
+ Vẻ đẹp cảnh quan/Du lịch sinh thái: giá trị thẩm mỹ và giá trị vănhoá, v.v
2.1.2.2 Nền tảng cơ bản của cơ chế chi trả dịch vụ môi trường
Nguyên tắc người được hưởng lợi phải trả tiền
Trong các mô hình quản lý môi trường cũng như các giải pháp quản lýmôi trường trước đây, chúng ta thường hay sử dụng nguyên tắc người gây ônhiễm phải trả tiền (Polluter pays) Cơ chế này yêu cầu những người gây racác tác động có hại đến môi trường phải có trách nhiệm chi trả và cải tạo lạimôi trường Tuy nhiên, thực tế cho thấy cơ chế này cũng có một số hạn chếnhất định vì người gây ô nhiễm thường không muốn trả tiền hoặc không khắcphục các thiệt hại về môi trường
Trái với các cơ chế quản lý trước đây, PES không hoạt động theo cơchế người gây ô nhiễm phải trả tiền mà hướng đến một cơ chế khác là ngườiđược hưởng lợi từ dịch vụ môi trường sẽ trả tiền cho việc hưởng thụ đó Cácnhà nghiên cứu đã tiến hành nhiều nghiên cứu và chỉ ra rằng, sẽ hiệu quả hơnnếu trả tiền để con người giữ gìn môi trường hơn là bắt họ phải chi trả chonhững thiệt hại mà họ gây ra Một ví dụ cụ thể là, thay vì phạt những ngườidân ở vùng thượng lưu vì đã chặt phá rừng gây ra lũ lụt cho vùng hạ lưu thìchi trả cho họ một khoản tiền để họ giữ các khu rừng đó và đem lại lợi ích chodân ở vùng hạ lưu Những người ở hạ lưu trước đây không phải trả tiền chobất cứ lợi ích nào mà họ nhận được từ môi trường thì nay họ sẽ chi trả mộtphần cho các lợi ích mà họ được hưởng
Đây là một cách tiếp cận rất mới của PES, coi dịch vụ môi trường làhàng hóa và nếu ta nhận được lợi ích từ hàng hóa thì hiển nhiên ta phải trả
Trang 12tiền để được tiêu dùng nó Dựa trên cách tiếp cận này, các giá trị của dịch vụmôi trường sẽ được đánh giá một cách chính xác hơn.
Sự sẵn lòng chi trả (Willingness to pay – WTP)
WTP là thước đo độ thỏa mãn, đồng thời là thước đo lợi ích và làđường cầu thị trường tạo nên cơ sở xác định lợi ích đối với xã hội từ việc tiêuthụ hoặc bán một mặt hàng cụ thể
Nền tảng của PES chính là việc những người cung cấp dịch vụ môitrường sẽ nhận được một khoản tiền cho việc họ chấp nhận bảo vệ môi trường(tính điều kiện) và mức chi trả này phụ thuộc vào sự thỏa thuận với bên nhậnđược lợi ích từ các lợi ích từ môi trường Mặc dù nhiều nhà nghiên cứu chỉ racác đặc điểm khác của PES, ví dụ PES là một cơ chế giao dịch tự nguyện giữa
ít nhất một người cung cấp và một người sử dụng đối với hàng hóa dịch vụmôi trường, thì tính điều kiện vẫn là đặc điểm rõ nhất phân biệt PES với cáccách tiếp cận trước đây
Nhà kinh tế học Ronald Coase cũng đưa ra quan điểm rằng cơ sở củaPES là dựa trên sự thỏa thuận lợi ích giữa các bên thông qua việc mặc cả đểđưa ra một mức giá hợp lý Thông qua việc thỏa thuận, hai bên có thể đạtđược mức lợi ích mà mình mong muốn đối với các dịch vụ môi trường Môhình dưới đây cho thấy các ảnh hưởng lợi ích lẫn nhau giữa hai bên
Đường thẳng AB là đường lợi ích cận biên của những người ở vùngthượng lưu (ở đây là chủ rừng) đối với việc chặt cây Có thể nhận thấy lợi íchcận biên của họ giảm dần khi chặt thêm cây, nguyên nhân có thể do giá cả của
gỗ hoặc những cây có giá trị cao đã bị chặt phá trước Đường thẳng OD biểudiễn mức chi phí biên của người ở vùng hạ lưu, chi phí này ngày càng tănglên cùng với việc nhiều cây bị mất đi Hai đường này cắt nhau tại E, là điểm
mà lợi ích của hai bên là như nhau, tương ứng với mức giá là P Đây là mứcgiá mà những người ở hạ lưu sẵn lòng chi trả và những người chủ rừng sẵnsàng chấp nhận
Trang 13Hình 2.1 Ảnh hưởng lợi ích lẫn nhau của hai bên tham gia PES
Mức chi phí này đã được đề cập đến khá nhiều trong các nghiên cứu vềPFES Một cách khác để hiểu về mức sẵn lòng chi trả được đưa ra trong mộtnghiên cứu Mô của Word Bank năm 2003
Hình 2.2 Mô hình xác định mức chi trả dịch vụ môi trường
Quan trọng!
Logic này được lặp đi, lặp lại mỗi năm
Cần thanh toán hàng năm Cần duy trì nguồn thu nhập
Chặt phá rừng ở vùng thượng nguồn
Chặt phá rừng ở vùng thượng nguồn
Chi phí cận biên của cộng đồng vùng thượng nguồn
Lợi ích cận biên của chủ rừng vùng thượng nguồn
từ việc chặt phá rừng
Lợi ích cận biên của chủ rừng vùng thượng nguồn
từ việc chặt phá rừng
Trang 14Trong mô hình này có thể thấy: nguồn thu nhập từ việc chặt phá rừng
và sử dụng các cánh rừng đầu nguồn là lợi ích của những người chủ rừngnhưng lại là chi phí của những nhà máy thủy điện và cư dân ở hạ lưu Phầnmàu xanh nhạt biểu diễn cho phần lợi ích của người chủ rừng như khai thác
gỗ, buôn bán động vật hoang dã…Ngược lại phần diện tích màu đỏ cho thấychi phí hay thiệt hại của các nhà máy thủy điện khi rừng bị chặt phá, ví dụnhư các thiệt hại về kinh tế do giảm năng suất hay thiên tai, lũ lụt Do đó,những nhà máy này sẽ sẵn sàng bỏ ra một số tiền để trả cho người chủ rừngnhằm duy trì các khu rừng đầu nguồn và lợi ích của họ và mức tiền này phảinhỏ hơn phần thiệt hại về kinh tế nhưng không làm giảm bớt lợi ích của ngườichủ rừng Phần chi trả ở đây được thể hiện ở màu xanh lá cây Ví dụ khi cáckhu rừng đầu nguồn bị chặt phá, chủ rừng thu nhập được 100 triệu đồng, đồngthời các nhà máy thủy điện sẽ bị thiệt hại 1 tỷ đồng Nếu rừng được giữ cácnhà máy này sẽ giảm được thiệt hại là 500 triệu đồng, thì họ sẵn sàng chi trảmột khoản tiền nhỏ hơn 500 triệu đồng để duy trì rừng đầu nguồn Lúc nàymức chi trả hợp lý sẽ lớn hơn 100 triệu đồng và nhỏ hơn 500 triệu đồng Tómlại, mức chi trả sẽ được xác định dựa trên cơ sở:
Thu nhập của chủ rừng < Mức chi trả dịch vụ môi trường rừng < Mứclợi ích nhà máy thủy điện nhận được từ dịch vụ môi trường rừng
Nguyên tắc chi trả dịch vụ môi trường
Hai nguyên tắc cơ bản của PES (Wunder, 2005):
- Tạo ra động lực tài chính hiệu quả thúc đẩy cá nhân và cộng đồngcung cấp các dịch vụ môi trường;
- Chi trả các chi phí cho việc cung cấp các dịch vụ của họ Việc chi trảnày có thể dưới hình thức tiền mặt hoặc hiện vật
Hình 2.3 Hình mô phỏng nguyên tắc chi trả PES
2.1.2.3 Mục tiêu của PES
Người cung cấp dịch vụ
Người sử dụng dịch vụ Chi trả
Dịch vụ
Trang 15- Tăng cường tạo lập thị trường, giá cả cho các dịch vụ môi trườngbằng cách lượng giá kinh tế các dịch vụ môi trường;
- Tạo nguồn tài chính bền vững để bảo tồn;
- Nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị dịch vụ môi trường;
- Chia sẻ lợi ích, cải thiện sinh kế của con người cung cấp dịch vụ vànâng cao chất lượng cuộc sống cho toàn xã hội
2.1.3 Thiết lập kế hoạch chi trả dịch vụ môi trường
Chi trả dịch vụ môi trường (PES) thực chất là một cơ chế chi trả dựatrên việc người sử dụng hay người cung cấp có được lợi ích từ các dịch vụsinh thái, từ đó dẫn đến việc bảo vệ và quản lý chúng Cơ chế này cần có sựthiết lập rõ ràng để đảm bảo nó hoạt động thực sự hiệu quả trong một thờigian dài và có khả năng nhân rộng trên toàn thế giới Theo Wunder (2005) cáctiêu chí của PES là:
- Tự nguyện trong giao dịch
- Các dịch vụ môi trường cần được xác định rõ
- Có ít nhất một người cung cấp dịch vụ môi trường
- Có ít nhất một người mua dịch vụ môi trường
- Nếu và chỉ với điều kiện là người cung cấp dịch vụ môi trường phảibảo đảm việc cung cấp dịch vụ môi trường (mang tính điều kiện)
2.2 Khái quát chung về chi trả dịch vụ môi trường rừng
2.2.1 Khái niệm dịch vụ môi trường rừng
Dịch vụ môi trường (Environmental Services) là những dịch vụ vàchức năng được cung cấp bởi hệ sinh thái và có những giá trị nhất định vềkinh tế Các nhóm dịch vụ môi trường bao gồm:
- Chức năng phòng hộ đầu nguồn
- Bảo vệ đa dạng sinh học
- Bảo vệ cảnh quan thiên nhiên
- Hấp thụ các bon
Dịch vụ môi trường rừng là việc cung ứng và sử dụng bền vững cácgiá trị sử dụng của môi trường rừng như điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất,chống bồi lắng lòng hồ, ngăn chặn lũ lụt, lũ quét, cảnh quan, đa dạng sinhhọc… Trong đó, giá trị môi trường rừng được hiểu là giá trị mà rừng làm lợi
Trang 16cho môi trường, do bản thân các khu rừng tạo ra nhưng không chỉ được sửdụng bởi những người quản lý, bảo vệ và phát triển rừng mà còn bởi toàn xãhội Với việc xem xét đến các dịch vụ môi trường rừng thì các giá trị nàyđược xem xét như một loại hàng hóa công cộng, có thể do cả xã hội sử dụng
mà người làm rừng không quản lý và điều tiết được quá trình khai thác và sửdụng chúng
2.2.2 Khái niệm chi trả dịch vụ môi trường rừng
Chi trả dịch vụ hệ sinh thái (Payment for Ecosystem Services – PES) haycòn được gọi là chi trả cho dịch vụ môi trường (Payment for EnvironmentalServices) được xem là cơ chế nhằm thúc đẩy việc tạo ra và sử dụng các dịch vụsinh thái bằng cách kết nối người cung cấp dịch vụ và người sử dụng dịch vụ
hệ sinh thái
Trong quyết định 380/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ có quy địnhchi tiết hơn về khái niệm chi trả dịch vụ môi trường được áp dụng cho hoạt
động trồng rừng Theo đó, “chi trả dịch vụ môi trường rừng là quan hệ kinh
tế giữa người sử dụng dịch vụ môi trường rừng trả tiền cho người cung ứng dịch vụ môi trường rừng”.
2.2.3 Nguyên tắc chi trả dịch vụ môi trường rừng
Năm nguyên tắc cơ bản của PFES là:
- Tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng phải chitrả tiền dịch vụ môi trường rừng cho các chủ rừng của các khu rừng tạo radịch vụ đã cung ứng
- Thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng bằng tiền thông qua hìnhthức chi trả trực tiếp hoặc gián tiếp
- Tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng thông qua Quỹ bảo vệ và pháttriển rừng là tiền của bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng ủy thác cho Quỹ
để trả cho các chủ rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng
- Tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng là một yếu tố trong giá thành sảnphẩm có sử dụng dịch vụ môi trường rừng và không thay thế thuế tài nguyênhoặc các khoản phải nộp khác theo quy định của pháp luật
Trang 17- Đảm bảo công khai, dân chủ, khách quan, công bằng; phù hợp với hệthống luật pháp của Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặcgia nhập.
Cụ thể hơn, với việc chi trả cho dịch vụ môi trường rừng, Điều 7 chương 1,Quyết định 380/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy đinh như sau:
- Việc chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng trực tiếp do người được chitrả và người phải chi trả thực hiện trên cơ sở hợp đồng thỏa thuận theonguyên tắc thị trường
- Mức tiền chi trả sử dụng dịch vụ môi trường rừng gián tiếp do Nhànước quy định được công bố công khai và điều chỉnh khi cần thiết
- Các tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ môi trường rừng phải chi trảtiền sử dụng dịch vụ môi trường rừng cho người được chi trả dịch vụ môitrường rừng và không thay thế cho thuế tài nguyên nước hoặc các khoản phảinộp khác theo quy định của pháp luật
- Đối với tổ chức kinh doanh, tiền chi trả cho việc sử dụng dịch vụ môitrường rừng được tính vào giá thành sản phẩm của bên sử dụng dịch vụ môitrường rừng
2.2.4 Các hình thức chi trả dịch vụ môi trường rừng
Theo Nghị định số 99/NĐ-CP của Chính phủ, có hai hình thức thựchiện chi trả dịch vụ môi trường rừng:
Trang 18- Chi trả gián tiếp:
+ Chi trả gián tiếp là bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng trả tiền chobên cung ứng dịch vụ môi trường rừng ủy thác qua Quỹ bảo vệ và phát triểnrừng Việt Nam hoặc Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh hoặc cơ quan, tổchức làm thay nhiệm vụ của Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh cho Ủyban nhân dân cấp tỉnh quyết định;
+ Chi trả gián tiếp được áp dụng trong trường hợp bên sử dụng dịch vụmôi trường rừng không có khả năng và điều kiện trả tiền trực tiếp cho bêncung ứng dịch vụ môi trường rừng mà thông qua tổ chức trung gian theo quyđịnh tại điểm a khoản 2 Điều này Chi trả gián tiếp có sự can thiệp và hỗ trợcủa Nhà nước, giá dịch vụ môi trường rừng do Nhà nước quy định
2.2.5 Nội dung chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
Nhiều nghiên cứu hiện nay đã đánh giá giá trị của rừng theo quan điểmkinh tế, nghĩa là lượng hóa các lợi ích mà rừng mang lại cho cuộc sống conngười qua các con số chứ không còn đơn thuần là kể ra những lợi ích đó Dựatrên chính các kết quả này, giá trị dịch vụ môi trường rừng ngày càng đượcthừa nhận rộng rãi hơn Các nghiên cứu thực hiện trên phạm vi thế giới đãchia ra cơ cấu cho các loại dịch vụ môi trường rừng là: hấp thụ các bon chiếm27%; bảo tồn đa dạng sinh học chiếm 25%; phòng hộ đầu nguồn chiếm 21%;bảo vệ cảnh quan chiếm 17% và các giá trị khác chiếm 10%
Thực tiễn tại Việt Nam cũng cho thấy những tín hiệu đáng mừng củaviệc thay đổi trong nhận thức của con người về các giá trị của dịch vụ môitrường rừng Rừng không chỉ là nguồn tài nguyên quý giá mà còn có chứcnăng bảo vệ các khu vực hạ lưu, vì thế Việt Nam đã xác định cần thiết phảixây dựng một cơ chế quản lý rừng hiệu quả hơn thay thế cho các phươngpháp trước đây theo quan điểm coi dịch vụ môi trường rừng là một loại hànghóa Đây là cơ sở tiền đề quan trọng để hiểu và tiếp thu “Cơ chế chi trả dịch
Trang 19mức chi trả bao nhiêu Các nghiên cứu đã tính toán ra giá trị của rừng trongviệc bảo vệ đất, nước, không khí, đa dạng sinh học làm cơ sở đưa ra mức chitrả của xã hội đối với dịch vụ môi trường rừng Đây là cơ sở tiền đề cho cácnước đi sau, như Việt Nam, tham khảo và kế thừa để áp dụng vào thực tiễnbảo vệ môi trường, cụ thể là cho môi trường rừng.
Thực tế cho thấy, PES đã được áp dụng ở rất nhiều nơi trên thế giới nhưchâu Phi, châu Á, Đông Âu, châu Mỹ Latinh và đã có những thành công nhấtđịnh Trong đó, Costa Rica là một trong những nước đầu tiên xây dựng và thựchiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, bao gồm giá trị hấp thụ cácbon, phòng hộ đầu nguồn, đa dạng sinh học và bảo vệ cảnh quan Thành côngcủa các nước đi trước là bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc xâydựng và triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (PEFS) - mộtchính sách còn hết sức mới mẻ này
2.2.5.1 Đối tượng rừng được đưa vào xác định giá trị dịch vụ môi trường rừng
- Toàn bộ diện tích rừng tự nhiên, rừng trồng thuộc quy hoạch rừngphòng hộ và rừng đặc dụng
- Diện tích rừng tự nhiên, rừng trồng và rừng sản xuất đủ tiêu chuẩnphòng hộ thì sẽ xác định giá trị dịch vụ môi trường rừng trong thời gian chưakhai thác
2.2.5.2 Nguyên tắc xác định giá trị dịch vụ môi trường rừng
- Giá trị dịch vụ môi trường rừng được xác định theo từng loại rừng:rừng gỗ, rừng hỗn giao, tre nứa (đối với rừng tự nhiên) và rừng đã có trữlượng và chưa có trữ lượng (đối với rừng trồng)
- Chỉ xác định những giá trị gián tiếp khả thi và có khả năng tính toánđược (thông qua kết quả nghiên cứu thực tế đã được công bố tại Việt Nam)
2.2.5.3 Đối tượng có nghĩa vụ chi trả giá trị dịch vụ môi trường rừng
- Các tổ chức, ác nhân sử dụng trực tiếp các giá trị dịch vụ môi trườngrừng để sản xuất hàng hóa hoặc kinh doanh các sản phẩm được hưởng lợi từrừng, bao gồm: các công trình thủy lợi, thủy điện, nước sinh hoạt, du lịch sinhthái, nghỉ dưỡng
Trang 20- Các tổ chức, cá nhân có hoạt động gây tác động ảnh hưởng có hạiđến môi trường rừng như khai thác khoáng sản, công trình giao thông và cáchoạt động sản xuất gây ô nhiễm không khí.
2.2.5.4 Đối tượng được hưởng phí chi trả dịch vụ môi trường rừng
- Các ban quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng được nhận phí chi trảdịch vụ môi trường rừng để đầu tư cho công tác bảo vệ và phát triển rừng đặcdụng, rừng phòng hộ
- Các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư được Nhà nước giaorừng, khoán bảo vệ rừng là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất
- Các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn đượcgiao đất, giao rừng sản xuất (rừng trồng và rừng tự nhiên), khi rừng đã đủ tiêuchuẩn phòng hộ trong thời gian chưa khai thác sẽ được hưởng phí chi trả dịch
vụ hệ sinh thái đối với giá trị phòng hộ do rừng tạo ra
2.2.5.5 Cơ chế quản lý và sử dụng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng
- Đối với trường hợp chi trả trực tiếp: tiền thu được từ chi trả các dịch
vụ môi trường rừng sau khi thực hiện nghĩa vụ về tài chính theo quy định củapháp luật, người được chi trả có toàn quyền quyết định việc sử dụng số tiềnnày để đầu tư vào việc bảo vệ và phát triển rừng
- Đối với trường hợp chi trả gián tiếp: tiền thu được từ chi trả dịch vụmôi trường rừng được sử dụng như sau:
+ 10% chi cho các hoạt động của Quỹ bảo vệ và phát triển rừng
+ 90% chi cho các hoạt động của người được chi trả dịch vụ môitrường rừng Nếu người được chi trả dịch vụ môi trường rừng là các tổ chứcnhà nước, được sử dụng 10% cho chi phí quản lý, 80% cho việc trả tiền côngkhoán bảo vệ rừng ổn định lâu dài cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân
Trang 21trình duy trì bảo tồn”, đã chi trả cho nông dân để trồng thảm thực vật lưu niênđất trên đất trồng nhạy cảm về môi trường Hiện nay, cơ chế PES được ápdụng thành công và hiệu quả, tạo ra cơ chế quản lý bền vững các tài nguyênthiên nhiên Ví dụ, ở Hawaii, việc bảo vệ rừng đầu nguồn để duy trì nguồnnước mặt và nước ngầm, phục vụ đời sống sinh hoạt và tạo điều kiện cho pháttriển du lịch, nông nghiệp và các ngành nghề khác Hawaii đã áp dụng chínhsách mua lại đất hoặc mua nhượng quyền để bảo tồn Ở Oregon, Portland, ápdụng chính sách bảo tồn và phát triển cá Hồi và môi trường sinh thái củachúng Từ việc xác định và đầu tư đúng mục tiêu sẽ hình thành các dịch vụ hệsinh thái, cụ thể họ đã phát triển du lịch hệ sinh thái, lấy dòng sông nơi cá Hồi
đẻ là nơi tham quan về sinh thái, lấy các khu rừng bị khai thác quá mức xưakia là nơi giáo dục cho học sinh, sinh viên và du khách về ý thức bảo vệ rừng,
… Ở New York, chính quyền thành phố đã thực hiện các chương trình muađất để quy hoạch và bảo vệ vùng đầu nguồn và nhiều chương trình hỗ trợ chocác chủ đất áp dụng các phương thức quản lý tốt nhất nhằm tích cực hạn chếcác nguy cơ ô nhiễm đối với nguồn cung cấp nước cho thành phố Các hoạtđộng hỗ trợ sản xuất cho chủ đất được đầu tư từ nguồn tiền bán nước chongười sử dụng nước ở thành phố, kể cả du khách Chính quyền thành phố đãlập ra công ty phi lợi nhuận để tiếp thu nguồn kinh phí này và hỗ trợ các hộnông dân là chủ đất đã nhượng quyền sử dụng đất cho thành phố
Ở Costa Rica, năm 1996, Luật Rừng đã quy định PES thông qua QuỹTài chính Quốc gia về rừng (FONAFIFO) đã chi trả cho các chủ rừng và cáckhu bảo tồn để phục hồi, quản lý và bảo tồn rừng FONAFIFO hoạt động nhưmột người trung gian giữa chủ đất và người mua các dịch vụ hệ sinh thái khácnhau Nguồn tài chính thu được từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm: thuếnhiên liệu hóa thạch, bán tín chỉ các bon, tài trợ nước ngoài và khoản chi trả
Trang 22Tại Colombia, những người sử dụng nước phục vụ công – nông nghiệp
ở thung lũng Cauca đã thành lập các hiệp hội để thu các khoản chi trả tựnguyện cho các gia đình ở lưu vực đầu nguồn
Mexico đã thành lập Quỹ lâm nghiệp Mexico năm 2002, thực hiện PES
từ việc sử dụng đất, Ủy ban Lâm nghiệp Quốc gia ký hợp đồng với chủ đất đểquản lý nhằm duy trì các dịch vụ đầu nguồn
- PES ở châu Âu:
Tại Pháp, công ty nước đóng chai Perrier Vittel đã cung cấp tài chínhcho nông dân ở vùng đầu nguồn và vùng lọc nước để xây dựng cơ sở vật chấtcho công nghiệp và chuyển đổi sang hoạt động nông nghiệp hữu cơ
Chính phủ Đức đã đầu tư một loạt chương trình để chi trả cho các chủđất tư nhân với mục đích thay đổi cách sử dụng đất của họ nhằm tăng cườnghoặc duy trì dịch vụ hệ sinh thái Những dự án này bao gồm trợ cấp cho sảnxuất cà phê ca cao trong bóng râm, quản lý rừng bền vững, bảo tồn đất và cảitạo các cánh đồng chăn thả ở các nước Mỹ La tinh, gồm Honduras, CostaRica, Colombia, Ecuador, Peru, Paraguay và Cộng đồng Dominica
- PES ở châu Á
Trong khuôn khổ hỗ trợ của Quỹ Quốc tế về Phát triển nông nghiệp(IFAD), Trung tâm Nông – Lâm thế giới (ICRAF) đã đóng vai trò quan trọngtrong việc nâng cao nhận thức về khái niệm PES bằng Chương trình chi trảcho người nghèo vùng cao dịch vụ môi trường (RUPES) ở châu Á RUPESđang tích cực thực hiện các chương trình thí điểm ở Indonesia, Philippines vàNepal Từ năm 2001 – 2006, nhiều nhà tài trợ cũng đã khảo sát khả thi cácchương trình PES ở châu Á
Năm 1998, Trung Quốc đã bổ sung, sửa đổi Luật Rừng, quy định hệ thốngbồi thường sinh thái rừng Triển khai thí điểm hệ thống bồi thường giai đoạn 2001– 2004 Năm 2004, thành lập Quỹ bồi thường lợi ích sinh thái rừng
Ở Bakun (Philippines), Chính phủ công nhận các quyền sở hữu khôngchính thức về đất đai do tổ tiên để lại BITO (một tổ chức của người dân bảnđịa) đã được giao đất và thực hiện kế hoạch quản lý Việc được giao đất ởBakun được xem là một hoạt động chi trả cho việc quản lý đất bền vững Về
Trang 23phía cộng đồng, việc chi trả vì người nghèo có nghĩa là tất cả mọi người đềuđược lợi trong việc trao đổi để tiếp tục cung cấp các dịch vụ đầu nguồn.
Tại Kulekhani (Nepal), Ban quản lý rừng địa phương và Ủy ban Pháttriển thôn bản xây dựng kế hoạch quản lý và hoạt động, trình lên Ủy ban Pháttriển huyện để phê chuẩn Kế hoạch này được coi là một văn bản pháp lý, quyđịnh về quản lý rừng và các biện pháp sử dụng đất hợp lý đối với PES Hiệphội Điện lực quốc gia trả phí từ công trình thủy điện đang hoạt động cho việcbảo tồn đầu nguồn, được sử dụng làm nguồn chi trả cho cộng đồng vì các hoạtđộng sử dụng đất bền vững
Với các kết quả trên, những bài học kinh nghiệm này bổ ích cho ViệtNam: các mô hình PES được thực hiện ở các nước không hoàn toàn giốngnhau; không có một cơ chế nào chung cho tất cả các loại dịch vụ môi trường(DVMT): Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc thiết kế và điều tiếtcác mô hình PES, đặc biệt là mô hình công… Như vậy, để xây dựng thànhcông chi trả dịch vụ hệ sinh thái cần thực hiện tốt: xây dựng khung thể chế;xây dựng khung pháp lý; xây dựng khung tài chính; xây dựng cơ chế giám sáttốt Những yếu tố trên giúp cho đảm bảo thành công PFES ở Việt Nam
2.3.2 Một số nghiên cứu và kết quả về dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam
Sau khi Việt Nam hạn chế khai thác gỗ từ rừng tự nhiên vào năm 1995,ngành lâm nghiệp bị coi nhẹ so với các ngành kinh tế khác do mức độ đónggóp vào tổng sản phẩm kinh tế quốc nội là rất thấp Luật Bảo vệ và Phát triểnRừng sửa đổi năm 2004 đã thay đổi thực trạng này với việc công nhận vai tròquan trọng của rừng trong việc cung cấp các dịch vụ môi trường như là hạnchế xói mòn đất, điều tiết nguồn nước, hấp thụ các bon, điều hòa tiểu khí hậu,bảo tồn đa dạng sinh học và vẻ đẹp cảnh quan cho các mục đích giải trí và dulịch Tiếp theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng này, Chiến lược phát triển Lâmnghiệp giai đoạn 2006-2020 cũng đã được phê duyệt Chiến lược đặt ra cácnhu cầu cần thiết phải đánh giá các giá trị tài chính của các dịch vụ môitrường rừng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (MARD) đã kêu gọimạnh mẽ để có được các cơ sở khoa học cần thiết nhằm thiết lập một nềnmóng vững chắc cho chính sách PFES Một vài nghiên cứu về lượng giá rừng
và định giá rừng, tập trung vào các dịch vụ môi trường rừng đã được ViệnKhoa học Lâm Nghiệp Việt Nam triển khai Các nghiên cứu đã cung cấp các
Trang 24cơ sở quan trọng cho các cơ quan liên quan để có được hiểu biết sâu sắc hơn
về các vấn đề liên quan tới việc phát triển chính sách PFES Ngoài nhữngnghiên cứu các cơ quan Nhà nước thực hiện, các nhà tài trợ cũng hỗ trợ tíchcực trong việc giới thiệu PFES thông qua các dự án thí điểm và bắt đầu đượctriển khai tại Việt Nam từ năm 2002 Một vài dự án tiêu biểu (Bảng 2.1) mangđến cho các nhà hoạch định chính sách ở một số tỉnh cơ hội để tìm hiểu mộtkhái niệm mới một cách thực tiễn và cung cấp những hiểu biết toàn diện hơn
về các thách thức trong việc thực hiện PFES tại Việt Nam, mà có thể kể rađây như là chi phí giao dịch cao, mức độ sẵn sàng chi trả của người mua thấp,
và thiếu đi cơ chế chia sẻ lợi ích minh bạch và có trách nhiệm giải trình
Trong những thập kỷ vừa qua tại Việt Nam, Chính phủ và cộng đồngquốc tế đã quan tâm và đầu tư mạnh mẽ vào chương trình bảo vệ vùng đầunguồn, trong đó điển hình là Chương trình 661 được Thủ tướng Chính phủphê duyệt ngày 29 tháng 7 năm 1998 Mục tiêu của chương trình này là làmtăng diện tích rừng của quốc gia thêm 5 triệu ha; với kinh phí hết năm 2010 làkhoảng 31.858 tỷ đồng, tương đương với 5 tỷ USD Một số văn bản pháp luật
đã được xây dựng đề cập trực tiếp đến PFES, bao gồm: Luật Đa dạng sinhhọc trong đó quy định “Tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ môi trường liênquan đến đa dạng sinh học có trách nhiệm trả tiền cho tổ chức, cá nhân cungcấp dịch vụ”
Sự quyết tâm chính trị cao của của chính quyền cấp tỉnh, như đã nêutrong các dự án thí điểm nói trên, đã khuyến khích chính quyền trung ương vàthu hút được các nguồn hỗ trợ tài chính và kỹ thuật từ USAID thông qua tổchức Winrock International Chính quyền trung ương đã ban hành Quyết định
số 380/QĐ-TTg về việc thí điểm chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng(PFES) vào năm 2008 và những dự án thí điểm đầu tiên đã được triển khai tạiLâm Đồng và Sơn La Vào năm 2010, Nghị định số 99/2010/NĐ-CP đã đượcban hành nhằm triển khai PFES trên phạm vi cả nước Tất cả những ngườitham gia phỏng vấn đến từ các cơ quan chính phủ đều cho rằng PFES đượccoi là một bước đột phá quan trọng trong ngành lâm nghiệp Việt Nam do đãthiết lập được một cơ chế tài chính mang tính đổi mới
Thực tế áp dụng DVMTR chỉ riêng năm 2012 đã mang lại nguồn thulớn cho ngân sách 1.130,8 tỷ đồng (nguồn thu trung ương là 924,6 tỷ, địaphương là 206,2 tỷ đồng); qua Bảng 2.2 cho thấy trong cả nước tiền DVMTR
Trang 25năm 2011, 2012 đã thu được hơn 1.193,0 tỷ đồng, trong đó Quỹ Trung ươngthu được 981 tỷ đồng.
Trang 26Bảng 2.1 Các dự án thí điểm PFES Vi t Nam t năm 2002 - 2012 ở Việt Nam từ năm 2002 - 2012 ệt Nam từ năm 2002 - 2012 ừ năm 2002 - 2012
Dự án
Loại dịch vụ môi trường
Người mua
Khách du lịch, các công ty du lịch lữ hành quy
mô lớn (Trung tâm vui chơi Vinpearl
và các cửa hàng cung cấp dịch vụ lặn biển)
Cộng đồng địa phương, Khu bảo tồn biển Nha Trang và Hòn Mun
Quỹ phát triển thôn Phí được tính trên khách du lịch như dưới đây: 5000
VND cho du khách ngắm cảnh trên thuyền; 30000 VND với du khách lặn biển tại Hòn Mun; 10000 VND với du khách thăm vùng lõi vịnh Nha Trang.10-15% phần phí thu được bổ sung vào Quỹ phát triển thôn; trong khi kho bạc nhà nước quản lý phần còn lại
Khách du lịch, công
ty cung
Khách du lịch, công ty cung cấp nước, công
WWF • Thuế đánh trên việc sử dụng nước của các công ty
sản xuất nước uống đóng chai
• Phí vào cửa cao hơn đối với khách du lịch nước
Trang 27(Thừa Thiên Huế;
2007-2008)
và vẻ đẹp cảnh quan
cấp nước, công ty du lịch
• Thành lập một quỹ ủy thác bảo tồn
• Công ty du lịch thực hiện chi trả bằng các hình thức thực tế đối với dịch vụ xe bus và làm đường tới vườn quốc gia dựa trên trách nhiệm xã hội của họ Tạo lợi ích cho
Công ty cung cấp nước
Khu bảo tồn thiên nhiên Vĩnh Cửu, Ban quản lý rừng phòng hộ Tân Phú, cộng đồng địa phương
Cơ quan Phát triển Quốc tế Đan Mạch;
WWF; Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Đồng Nai; Sở Tài nguyên và Môi trường Đồng Nai
Các quỹ được sử dụng để hỗ trợ và khuyến khích cộng đồng địa phương chuyển sang các hình thức sử dụng đất bền vững hơn giúp nâng cao chất lượng nước Một phần của quỹ có thể được tài trợ cho Khu bảo tồnthiên nhiên Vĩnh Cửu và Ban quản lý rừng phòng hộ Tân Phú để duy trì và hỗ trợ các hoạt động bảo vệ và trồng rừng xung quanh khu vực hồ Trị An.
và vẻ đẹp cảnh quan, các bon
Dự án IFAD/
3PAD
Các cộng đồng
ở thượng lưu, trung lưu và
hạ lưu lưu vực sông Tà Lèng
Trung tâm Nghiên cứu Nông lâmThế giới, Quỹ Quốc tế phát triển nông nghiệp (IFAD), các ban ngành tỉnh Bắc
NNPTNT ;SởTN&
Cộng đồng địa phương đề xuất chi trả bằng cả tiền mặt và hiện vật
Trang 28MT; các tổ chức xã hội…)
Quỹ Phát triển Rừng
Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản;hãng Nippon Koei; Đại học Lâm nghiệp Việt Nam;
các tổ chức phi lợi nhuận Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Hiệp hội các tổ chức từ thiện Nhật Bản
Quỹ Phát triển Rừng được thành lập vào tháng 4 năm 2008 bởi Honda; đã chuyển 25000 USD vào năm thứ nhất và thêm 1 tỉ đồng trong 3 năm tới một
tổ chức phi lợi nhuận tại địa phương chịu trách nhiệm quản lý Quỹ Phát triển Rừng và để chi trả công lao động cho người dân địa phương Tổ chức
và các hộ dân chia lợi nhuận từ lâm sản theo tỉ lệ 25:75 và 50:50 đối với các tín chỉ carbon Tổ chức phi lợi nhuận tái đầu từ nguồn vốn từ quỹ cho trồng rừng, luân chuyển, hỗ trợ kỹ thuật, giám sát và thủ tục giao dịch thương mại carbon.
Trang 29Bảng 2.2 Nguồn thu DVMTR năm 2011-2012 tại một số tỉnh điển hình
trên toàn quốc
Trang 30PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các hệ sinh thái rừng, hiện trạng sử dụng đất vùng đệm Vườn quốcgia Tam Đảo
- Cơ sở pháp lý, khoa học và thực tiễn áp dụng cơ chế chi trả dịch vụ môitrường rừng
- Các bên liên quan (bên cung cấp, bên chi trả) đến cơ chế chi trả dịch vụmôi trường rừng
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại Vườn quốc gia Tam Đảo, trong đó tậptrung tại vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo
3.2.2 Thời gian tiến hành
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 05 năm 2014 đến tháng 08 năm 2014
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Đánh giá hiện trạng, cơ hội và thách thức áp dụng chính sách chi trả dịch vụ môi trường tại vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo.
- Đánh giá cơ sở pháp lý áp dụng chi trả dịch vụ môi trường rừng tạicác xã vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo
- Đánh giá cơ sở khoa học và thực tiễn áp dụng chi trả dịch vụ môitrường rừng tại các xã vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo
- Cơ hội và thách thức áp dụng cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừngtại vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo
Trang 313.3.2 Xây dựng tiêu chí lựa chọn dịch vụ hệ sinh thái rừng để đề xuất mô hình chi trả dịch vụ môi trường rừng tại vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo.
3.3.3 Đề xuất mô hình và xác định nghĩa vụ và quyền lợi của các bên liên quan đến mô hình chi trả dịch môi trường rừng.
3.3.4 Đề xuất giải pháp thực hiện thí điểm mô hình chi trả dịch vụ môi trường rừng đã đề xuất tại vùng đệm VQG Tam Đảo.
3.3.5 Đề xuất cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng tại vùng đệm VQG Tam Đảo
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
Thu thập các thông tin từ các nguồn tài liệu, số liệu đã có liên quan đếnvấn đề nghiên cứu Các tài liệu được thu thập thông qua các cơ quan, tổ chứcnghiên cứu trong và ngoài nước cũng như cơ quan chuyên môn, các tài liệuthu thập bao gồm: thông tin về điều kiện tự nhiên, hiện trạng đa dạng sinh học
và khả năng cung ứng của hệ sinh thái, các thông tin cơ bản về PES, PFES,các văn bản chính sách liên quan đến PES, PFES, mối liên hệ giữa PES, PFES
và sinh kế cộng đồng, các số liệu về kinh tế, xã hội, tình hình áp dụng thíđiểm chi trả dịch vụ môi trường rừng của Việt Nam, và khu vực nghiên cứu,các báo cáo, tài liệu dự án có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
3.4.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp (thực địa)
Phỏng vấn trực tiếp người dân, các nhà lãnh đạo địa phương, cán bộlàm việc tại Ban quản lý Vườn quốc gia Tam Đảo, UBND Huyện Tam Đảo,UBND một số xã Vùng đệm, để thu thập thông tin có liên quan đến vấn đềtài, phân tích vai trò của các bên liên quan trong cơ chế PFES và làm rõ cơ sởthực tiễn để xuất mô hình, giải pháp chi trả dịch vụ môi trường rừng tại khuvực nghiên cứu
3.4.3 Phương pháp phân tích SWOT (điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức)
Phân tích điểm mạnh (S = Trength) , điểm yếu (Weakness) là sự đánhgiá từ bên trong, tự đánh giá về khả năng của đối tượng (chính sách, dự án…)trong việc thực hiện mục tiêu, lấy mục tiêu làm chuẩn để xếp một đặc trưng
Trang 32nào đó là điểm mạnh (hỗ trợ mục tiêu) hay điểm yếu (cản trở mục tiêu) tại địabàn nghiên cứu khi áp dụng mô hình chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Phân tích cơ hội (O = Opportunities), thách thức (T = Threats) là một
sự đánh giá các yếu tố bên ngoài chi phối đến mục tiêu phát triển của đốitượng (dự án, chính sách…) lấy mục tiêu làm chuẩn để xếp một đặc trưng nào
đó của môi trường bên ngoài là cơ hội (hỗ trợ mục tiêu) hay thách thức (cảntrở mục tiêu)
Trong nghiên cứu, tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích SWOT đểđánh giá tiềm năng, các cơ hội cũng như thách thức đối với việc áp dụng cơchế PFES tại vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo
3.4.4 Phương pháp phân tích các bên liên quan
Phương pháp phân tích các bên liên quan là phương pháp có tính hệthống, sử dụng các dữ liệu định lượng nhằm xác định vai trò, trách nhiệm, lợiích và ảnh hưởng của các nhóm người khác nhau trong mối liên hệ với PFEStại vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo
3.4.5 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
Tham vấn các ý kiến của Giáo viên hướng dẫn và một số chuyên giathuộc lĩnh vực môi trường về PFES, các tài liệu và các vấn đề còn vướng mắctrong quá trình xây dựng, thực hiện và hoàn thiện đề tài nghiên cứu
Trang 33PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực vùng đệm Vườn Quốc gia Tam Đảo
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí, ranh giới, diện tích
Theo định nghĩa vùng đệm của IUCN: “Vùng đệm được xác định rõràng, nằm ngoài ranh giới của khu bảo tồn và được quản lý để nâng cao việcbảo vệ của khu bảo tồn, đồng thời mang lại lợi ích cho nhân dân sống quanhkhu bảo tồn Điều này có thể thực hiện được bằng cách áp dụng các hoạt độngphát triển cụ thể, góp phần vào việc nâng cao đời sống kinh tế xã hội của cưdân sống trong vùng đệm Vùng đệm chịu sự quản lý của chính quyền địaphương và các tổ chức kinh tế khác”
Tại Vườn Quốc gia Tam Đảo, ranh giới phía ngoài của vùng đệm trùngvới ranh giới của các xã kề sát với Vườn Quốc gia, ranh giới phía trong (giữaVườn Quốc gia và vùng đệm) lấy cơ sở là đường đồng mức 100m Trên thực
tế đường đồng mức 100m có những hạn chế nhất định khi xác định ở thực địa
và trong quản lý, do vậy trong quá trình thiết lập đường ranh giới này cũng đãđược điều chỉnh trên cơ sở những nguyên tắc chung: Bền vững, hợp lý giữacác bên sử dụng đất và thuận lợi cho công tác quản lý
Theo quyết định số 136/TTg ngày 06/03/1996 của Thủ tướng Chínhphủ và quyết định số 273/NN-PTLN/QĐ ngày 20/02/1997 của Bộ trưởng BộNông nghiệp và Phát triển nông thôn: Diện tích vùng đệm của Vườn Quốcgia Tam Đảo là 15.515 ha Vị trí vùng đệm theo quyết định này lấy ranh giới:Phía Đông nằm giữa chân núi Tam Đảo và đường 13A từ ranh giới 2 huyệnPhổ Yên và Đại Từ qua Quân Chu, Mỹ Văn, Mỹ Yên đến Đèo Khế Phía Tâynằm giữa chân núi Tam Đảo và đường từ Đèo Khế qua mỏ thiếc Sơn Dương,Vĩnh Ninh, Đạo Trù đến Trung Mỹ ranh giới giữa huyện Tam Đảo (cũ) vàhuyện Mê Linh
Trang 34Vùng đệm gồm 23 xã xung quanh chân núi Tam Đảo, trong đó có 10 xãcủa Huyện Đại Từ - Thái Nguyên; 5 xã của Huyện Sơn Dương – Tuyên Quang;
8 xã của Vĩnh Phúc gồm: Huyện Tam Đảo 7 xã; Huyện Bình Xuyên 1 xã
Hình 4.1 Bản đồ hành chính Vườn Quốc gia Tam Đảo
Trang 354.1.1.2 Địa hình, địa chất
a Địa hình
Vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo chủ yếu là dạng địa hình đồi thấp
và trung bình xen kẽ với vùng bình địa của các nhánh sông: Phó Đáy (TuyênQuang, Vĩnh Phúc) và Sông Công (Thái Nguyên)
- Độ cao trung bình toàn vùng: dưới 100m
- Độ dốc chủ yếu tập trung ở cấp I và II
- Diện tích phân bố theo các cấp độ dốc như sau:
Bảng 4.1 Diện tích vùng đệm Vườn Quốc gia Tam Đảo theo độ dốc
Vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo có 2 loại đất chính:
- Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên các loại đá mẹ: Phiến thạch sét,Phiến Mi ca, Philit và Đá cát Độ dày tầng đất trung bình, ít đá nổi, đá lẫn.Thành phần cơ giới trung bình, xói mòn ở mức trung bình đến mạnh
- Đất dốc tụ chân đồi và phù sa ven sông Thành cơ giới thịt trung bìnhđến thịt nặng Độ dày tầng đất thường trên 100cm Đây là diện tích đất canhtác nông nghiệp (trồng lúa, hoa màu và nương rẫy cố định)
4.1.1.3 Thảm thực vật
a Rừng trồng
Từ thời Pháp thuộc vùng núi Tam Đảo đã được sử dụng làm nơi nghỉmát, tạo cảnh quan Rừng được trồng dọc theo tuyến từ Vĩnh Yên đi Tam
Trang 36Đảo và quanh các khu nghỉ, các trạm dừng chân và các trang trại đồn điềngồm Thông đuôi ngựa và Lim xanh.
Kết quả thống kê năm 2011 cho thấy 23 xã vùng đệm còn 6.148,02 harừng trồng các loài chiếm 17,21% tổng diện tích tự nhiên Các loài cây trồng
chủ yếu là: Bạch đàn trắng (Eucaluptus camaldulensis), Bạch đàn “rau dền” (E Urophylla), Keo tai tượng (Acacia mangium), Keo lá tràm (A Leucoephala) và một số loài cây bản địa.
b Rừng tự nhiên
Rừng tự nhiên ở vùng đệm có 6.439,37 ha chiếm 18,02% tổng diệntích rừng tự nhiên ở vùng đệm, gồm chủ yếu là rừng gỗ phục hồi và một sốdiện tích tre nứa thuộc địa phận các xã Phú yên, Yên Lãng, Quân Chủ, Cát
Nê (Đại Từ - Thái nguyên); Hợp Thành, Hợp Hòa, Ninh Lai (Sơn Dương),Đạo Trù (Tam Đảo), Trung Mỹ (Bình Xuyên)
Những diện tích này phân tán trong vườn hộ, các mỏm đồi thấp hoặcven khe suối hiện đã được giao cho nhân dân địa phương quản lý và bảo vệ.Tuy nhiên diện tích không còn nhiều, song chúng cũng có tác dụng phòng hộ,làm giảm xói mòn của đất và ít nhiều giảm được tính đa dạng vốn có củarừng tự nhiên nên cần được duy trì và phát triển
c Các thảm thực vật tự nhiên khác
Thảm thực bì dạng này gồm: Trảng cỏ, cây bụi và cây bụi xen cây gỗvới các loài đặc trưng như: Cỏ tranh, Chít chè, lau lách, những loài câybụi :Sim, Mua, Sầm sì, Me rừng, Dương xỉ
Một số diện tích điều kiện lập địa có khá hơn đã xuất hiện các loại cây
gỗ tiên phong thuộc họ Ba mảnh vỏ, họ Long não, họ Dẻ, với mật độ tươngđối khá, có triển vọng phục hồi rừng nếu được bảo vệ tốt
d Cây ăn quả
Từ năm 1996 trở lại đây phong trào trồng cây ăn quả đã được phátđộng và thực hiện với quy mô khá lớn trong vùng đệm Hầu khắp các huyện,
xã, nông dân đều tham gia trồng cây ăn quả trong vườn nhà hoặc tập trungthành trang trại Nhiều hộ gia đình đã có diện tích cây ăn quả từ 3 – 5 ha, đãbắt đầu cho thu hoạch, góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong nônglâm nghiệp và mang lại nguồn thu lớn trong kinh tế gia đình
Trang 37Các loài cây ăn quả trồng phổ biến là: Vải thiều, Nhãn, Dứa, Na, Chuối,
e Cây công nghiệp đặc sản
Các loài cây công nghiệp đặc sản gồm: Chè, Trẩu, Sở,
- Cây chè: có diện tích khá lớn và là cây đặc sản nổi tiếng trong vùng,phân bố ở các xã thuộc huyện Đại Từ - Thái Nguyên và một số ít thuộc SơnDương – Tuyên Quang
- Trẩu, Sở, Dứa, Mít, phân bố nhiều ở các xã thuộc Sơn Dương –Tuyên Quang và một số xã thuộc các huyện Vĩnh Phúc
g Cây phân tán
Đây là hình thức phổ biến ở vùng đệm Từ lâu đời nhân dân ở vùngđệm đã có phong trào trồng cây xung quanh khu dân cư, các nơi công cộng,ven đường giao thông, trường học và các công sở Theo thống kê hàng năm
có tới hàng triệu cây lấy gỗ, cây ăn quả và cây bóng mát được trồng bổ sung
và độ che phủ của những loài cây này hiện đang chiếm khoảng >10% diện tích
Các loài cây được trồng phổ biến là: Các loài Tre trúc, Mít, Xoài,Trám, Xà cừ, Long não, Đa, Gạo, Ngoài những giá trị kinh tế trực tiếp dochúng đem lại, cây phân tán trong vùng đệm đã góp phần đáng kể cho việccải thiện điều kiện khí hậu, bảo vệ mùa màng, giảm nhẹ thiên tai trong vùng
và cung cấp củi đun, gỗ gia dụng cho nhân dân
4.1.2 Các yếu tố kinh tế - xã hội
4.1.2.1 Dân cư và lao động
a Cơ cấu dân cư
VQG Tam Đảo là 148.706 người với gần 30.000 hộ Trong đó, namchiếm 44%, nữ chiếm 56%, gồm 8 dân tộc cùng chung sống, trong đó ngườiKinh đông nhất chiếm 63%, 7 dân tộc còn lại chiếm 37% và xếp theo tỷ lệgiảm dần như sau: Sán Dìu, Sán Chỉ, Dao, Tày, Nùng, Cao Lan, Hoa Dosống lâu đời gần người Kinh và có điều kiện thuận lợi để tiếp cận với cáctrung tâm văn hóa, kinh tế nên tập quán phong tục của 7 dân tộc không khácnhau nhiều so với người Kinh
Trang 38Hầu hết số dân trên sống ở các xã vùng đệm của Vườn quốc gia TamĐảo với số lượng là 148.090 người Số dân sống ở thị trấn Tam Đảo là 174
hộ, 616 người Đây là khu vực thuộc địa giới VQG Tam Đảo ở độ cao từ 800– 1000m
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trung bình trong toàn vùng đệm Vườn quốcgia Tam Đảo là: 1,66%, cao nhất là: 2,08%, xã Hợp Châu (Tam Đảo – VĩnhPhúc) thấp nhất là xã Tam Quan 1,33%, nghĩa là hàng năm dân số tăng tựnhiên trung bình trong toàn vùng đệm là: 2.469 người, với sự bùng nổ pháttriển tự nhiên dân số như vậy ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế củavùng, vì hầu hết dân số đều tập trung ở khu vực nông thôn 93,81%
b Phân bố dân cư
Mật độ dân cư toàn vùng là 204 người/km2, dân cư phân bố khá đồngđều Do phần lớn địa hình ở đây thuộc vùng bán sơn địa, đồi núi thấp, nhiềuthung lũng nên không ảnh hưởng đến sự chia cắt khu vực cư trú của ngườidân bản địa
Mật độ dân số của vùng có thể được chia thành 4 cấp mật độ dân sốnhư sau:
Cấp 1: Dân số dưới 100 người/km2, gồm xã Quân Chu
Cấp 2: Dân số từ 100 – 200 người/km2, gồm các xã Trung Mỹ, MinhQuang, Đạo Trù (Vĩnh Phúc), Thiện Kế, Hợp Hòa, Kháng Nhật, Hợp Thành(Tuyên Quang), Cát Nê, Mỹ Yên, Hoàng Nông, La Bằng (Thái Nguyên)
Cấp 3: Dân số từ 201 – 300 người/km2, gồm các xã Đại Đình, Thị trấnTam Đảo (Vĩnh Phúc), Ninh Lai (Tuyên Quang), Văn Yên, Phú Xuyên, YênLãng (Thái Nguyên)
Cấp 4: Dân số trên 300 người/km2, gồm các xã Hợp Châu, Hồ Sơn, TamQuan (Vĩnh Phúc), Kỳ Thú, Khôi Kỳ, Thị trấn Quân Chu (Thái Nguyên)
Trang 39Hình 4.2 Dân số theo thôn trong vùng đệm và Vườn Quốc gia