1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc tính sinh học cá Diếc Carassius auratus (Linnaeus, 1758) ở tỉnh Thừa Thiên Huế

85 2,2K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 4,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Thừa Thiên Huế là tỉnh miền Trung có hệ thống đầm phá lớn nhất nước ta. Hệ thống ao, hồ kênh mương, ruộng ngập nước chiếm một diện tích đáng kể và mang những yếu tố sinh thái thuận lợi cho thuỷ sinh vật phát triển. Tiềm năng thuỷ sinh vật ở Thừa Thiên Huế khá phong phú và đa dạng, trong đó cá là nguồn thuỷ sản đóng vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày của con người. Cá là những mắt xích không thể thiếu trong chuổi thức ăn ở các thuỷ vực, vừa là nguồn thực phẩm giàu đạm chủ yếu trong các bữa ăn của người Việt Nam chúng ta. Vì thế, từ lâu cá được xem là đối tượng khai thác chính trên các thuỷ vực, đặc biệt là các loài cá có giá trị kinh tế. Để phát triển bền vững, nghề cá nhất thiết phải quan tâm đến các đối tượng vừa mang lại hiệu quả kinh tế, vừa có vai trò quan trọng đảm bảo cân bằng sinh thái và đa dạng sinh học ở các thuỷ vực tự nhiên. Trong số đó, cá Diếc Carassius auratus (Linnaeus, 1758) là loài đã đi vào dân gian, trở thành nét văn hoá ẩm thực tao nhã và không kém phần sang trọng trong đời sống hàng ngày. Xuất phát từ thực tiễn nuôi cá và khai thác cá ở các thuỷ vực nước ngọt vùng Huế, để đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững cần đề xuất được các biện pháp quản lý và bảo tồn nguồn lợi một cách phù hợp. Điều này nhất thiết phải dựa trên những hiểu biết về nguồn lợi, về đặc điểm sinh học, sinh thái của từng đối tượng. Đến nay, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu sâu về đặc tính sinh trưởng, sinh sản, dinh dưỡng... của cá Diếc ở các thuỷ vực Thừa Thiên Huế. Vì những lý do trên chúng tôi chọn đề tài: “ Nghiên cứu đặc tính sinh học cá Diếc Carassius auratus (Linnaeus, 1758) ở tỉnh Thừa Thiên Huế”.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Thừa Thiên Huế là tỉnh miền Trung có hệ thống đầm phá lớn nhất nước

ta Hệ thống ao, hồ kênh mương, ruộng ngập nước chiếm một diện tích đáng kể

và mang những yếu tố sinh thái thuận lợi cho thuỷ sinh vật phát triển

Tiềm năng thuỷ sinh vật ở Thừa Thiên Huế khá phong phú và đa dạng, trong đó cá là nguồn thuỷ sản đóng vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày của con người Cá là những mắt xích không thể thiếu trong chuổi thức ăn

ở các thuỷ vực, vừa là nguồn thực phẩm giàu đạm chủ yếu trong các bữa ăn của người Việt Nam chúng ta Vì thế, từ lâu cá được xem là đối tượng khai thác chính trên các thuỷ vực, đặc biệt là các loài cá có giá trị kinh tế

Để phát triển bền vững, nghề cá nhất thiết phải quan tâm đến các đối tượng vừa mang lại hiệu quả kinh tế, vừa có vai trò quan trọng đảm bảo cân bằng sinh thái và đa dạng sinh học ở các thuỷ vực tự nhiên Trong số đó, cá

Diếc Carassius auratus (Linnaeus, 1758) là loài đã đi vào dân gian, trở thành

nét văn hoá ẩm thực tao nhã và không kém phần sang trọng trong đời sống hàng ngày

Xuất phát từ thực tiễn nuôi cá và khai thác cá ở các thuỷ vực nước ngọt vùng Huế, để đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững cần đề xuất được các biện pháp quản lý và bảo tồn nguồn lợi một cách phù hợp Điều này nhất thiết phải dựa trên những hiểu biết về nguồn lợi, về đặc điểm sinh học, sinh thái của từng đối tượng

Đến nay, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu sâu về đặc tính sinh trưởng, sinh sản, dinh dưỡng của cá Diếc ở các thuỷ vực Thừa Thiên

Huế Vì những lý do trên chúng tôi chọn đề tài: “ Nghiên cứu đặc tính sinh học cá Diếc Carassius auratus (Linnaeus, 1758) ở tỉnh Thừa Thiên Huế”

Trang 2

Phần thứ nhất: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Chương 1: TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁ 1.1 Nghiên cứu cá ở Việt Nam

Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa, tiếp giáp với vùng thềm lục địa Hệ thống sông ngòi, ao hồ, đầm phá với tổng diện tích lớn Đó là những hệ sinh thái thuỷ vực nhiệt đới điển hình, mang tính đa dạng sinh học cao và có những đặc trưng riêng

Nghiên cứu Ngư loại học ở Việt Nam khởi đầu từ năm 1876 khi H.E.Sauvage giới thiệu về sự phân bố của một vài loài cá nước ngọt Việt Nam Một vài năm sau đó, khi ông khảo sát về khu hệ cá miền Đông Nam Châu Á, một lần nữa lại mô tả về những loài mới ở Việt Nam và Cambodia Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu có hệ thống về cá nước ngọt mới thực sự bắt đầu từ nửa sau của thế kỷ XIX Phần lớn là các công trình thuộc các tác giả người Pháp như: H E Sauvage (1884) thu thập và công bố 10 loài cá nước ngọt ở Hà Nội, trong đó có 7 loài mới; L Vallant: thu thập 6 loài ở Lai Châu, mô tả 4 loài mới (1891), 5 loài ở sông Kỳ Cùng - có một loài mới (1904) Quan trọng hơn

cả là kết quả phân tích mẫu cá thu thập ở Việt Nam là của H E Sauvage được công bố năm 1881, trong tác phẩm “Nghiên cứu về khu hệ cá Á Châu” đã mô

tả một số loài cá ở Đông Dương và mô tả hai loài mới ở miền Bắc nước ta Năm 1929, G Tirant đã công bố thành phần loài, mô tả 70 loài cá sông Hương (Huế), trong đó có 5 loài mới mà ông đã thu thập mẫu vật từ năm 1883 [40] Tiếp sau đó, có nhiều công trình nghiên cứu cá ở Hà Nội của Đoàn Thường trực khoa học Đông Dương và đã công bố 29 loài, mô tả 2 loài mới (1907), sau

đó công bố 33 loài mới (1934) Ngoài ra còn có nhiều tác giả người Pháp khác như: P Chevey (1930, 1932, 1935, 1936, 1937); J.Pellegrin và P Chevey (1934, 1936, 1938, 1941) [3] đã nghiên cứu nhiều mặt về cá nước ngọt ở

Trang 3

sông, suối và đầm phá ven biển nước ta [41] Năm 1937, một công trình tổng hợp đầy đủ nhất lúc bấy giờ về thành phần cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam của P Chevey và J Lemasson: “Góp phần nghiên cứu về các loài cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam" được công bố Ở đó, người đọc không những tìm thấy danh mục của 17 họ, 98 loài cá nước ngọt và nhiều loài mới cho khoa học mà còn tìm thấy một số đặc điểm sinh học, phân bố địa lý của chúng trong khu vực nghiên cứu [41]

Có thể nói thời kỳ đầu thế kỷ XX cho đến năm 1945, nghiên cứu cá nước ngọt ở Việt Nam đều do các tác giả người nước ngoài tiến hành Thời kỳ này mới dừng lại ở việc mô tả, thống kê thành phần loài, chưa nghiên cứu về nguồn lợi

Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954), công tác nghiên cứu cá bị gián đoạn

Khi hòa bình lập lại miền Bắc được hoàn toàn giải phóng (1955 – 1975), công tác nghiên cứu được tiếp tục do chính các nhà khoa học Việt Nam tiến hành Vào thời điểm này ở miền Bắc, công tác điều tra cơ bản sinh vật nước ngọt nói chung, cá nói riêng được các cơ quan: Trạm nghiên cứu Thủy sản nước ngọt Đình Bảng thuộc Tổng cục Thủy sản, Khoa Sinh vật - Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Trường Đại học Thủy sản Hải Phòng thực hiện Các công trình tiêu biểu nghiên cứu về khu hệ cá nước ngọt ở Miền Bắc là của các tác giả Đào Văn Tiến và Mai Đình Yên: Dẫn liệu sơ bộ ngư giới Ngòi Thia (1958); Đào Văn Tiến, Đặng Ngọc Thanh, Mai Đình Yên: Điều tra nguồn lợi sinh vật Hồ Tây (1961); Mai Đình Yên: Sơ bộ điều tra thành phần, nguồn gốc và phân bố của chủng quần cá sông Hồng (1962) [30]; Nguyễn Văn Hảo: Dẫn liệu nguồn lợi cá Hồ Ba Bể (1964); Hoàng Duy Hiệp, Nguyễn Văn Hảo: Kết quả điều tra nguồn lợi cá sông Thao (1964); Đoàn Lệ Hoa, Phạm Văn Doãn: Sơ bộ điều tra nguồn lợi cá sông Mã (1971);

Trang 4

Trong thời kỳ này, ở miền Nam cũng có một số công trình do các cán bộ khoa học người Việt Nam và người nước ngoài thực hiện như: Trần Ngọc Lợi

và Nguyễn Cháu (1964); Fourmanvir (1965); M Yamamura (1966); Kawamoto, Nguyễn Viết Trương và Trần Thị Túy Hoa (1972); Y Taki (1975),…

Cùng với các nghiên cứu về khu hệ, các công trình nghiên cứu về đặc tính sinh học, sinh thái học cũng được chú ý hơn Nổi bật có các công trình nghiên cứu của Đào Văn Tiến, Mai Đình Yên (1960), Mai Đình Yên (1964) đã nghiên cứu về đặc điểm sinh học của các loài cá kinh tế ở sông Hồng; Nguyễn Dương (1963): Sinh học cá Ngạnh sông Lô; Hoàng Đức Đạt (1964): Sinh thái học một

số loài cá sông Lô [4] Đặc biệt cuốn sách “Các loài cá kinh tế nước ngọt miền Bắc Việt Nam” của Mai Đình Yên (1969) lần đầu tiên trình bày hệ thống các đặc tính sinh học, ý nghĩa kinh tế của 33 loài cá kinh tế thuộc khu vực miền Bắc dựa theo từng sinh cảnh đặc trưng như sông suối, ao hồ, đồng ruộng Tuy nhiên các công trình nghiên cứu trong thời kỳ này vẫn mang tính chất riêng lẻ cho từng khu vực, còn nhiều thủy vực vẫn chưa được nghiên cứu

Sau khi đất nước được hoàn toàn thống nhất (từ năm 1975 đến nay), Viện nghiên cứu hải sản I Đình Bảng, các Khoa Sinh học trong các Trường Đại học của cả nước, các tổ chức khoa học, các đoàn hợp tác Quốc gia và Quốc tế đã từng bước tiến hành điều tra và nghiên cứu rộng, sâu theo các mục đích khác nhau Các kết quả nghiên cứu tiêu biểu là do các tác giả: Nguyễn Hữu Dực (1982): Thành phần loài cá sông Hương, đã thống kê được 58 loài [3]; Nguyễn Thái Tự (1983): Khu hệ cá sông Lam, đã thống kê được 157 loài [32]; Mai Đình Yên, Nguyễn Hữu Dực (1991): Thành phần các loài cá sông Thu Bồn gồm 58 loài, sông Trà Khúc 47 loài, sông Vệ 34 loài, sông Côn 43 loài, sông

Ba 48 loài, sông Cái 25 loài [35]; Mai Đình Yên, Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn

Trang 5

Văn Thiện, Lê Hoàng Yến, Hứa Bạch Loan (1992): Thành phần loài cá sông Tiền, sông Hậu, sông Vàm Cỏ, sông Sài Gòn và sông Đồng Nai (255 loài) [33] Hai công trình mang tính tổng hợp các kết quả nghiên cứu cá của các thời

kỳ trước được công bố là: "Định loại cá nước ngọt ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam" của Mai Đình Yên (1978) đã thống kê danh mục, mô tả chi tiết, lập khóa định loại, đặc điểm phân bố và ý nghĩa kinh tế của 201 loài cá nước ngọt ở miền Bắc nước ta và "Định loại các loài cá nước ngọt Nam Bộ" do Mai Đình Yên chủ biên với các cộng sự Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Văn Thiện, Lê Hoàng Yến và Hứa Bạch Loan (1992), mô tả định loại 255 loài cá ở Nam Bộ Việt Nam Đây là hai công trình tổng hợp đầy đủ nhất hiện nay về hai khu hệ cá nước ngọt miền Bắc và miền Nam nước ta, được sử dụng như một tài liệu chính trong việc định loại cá nước ngọt Việt Nam [33], [34]

Ở vùng nước ngọt miền Trung, Tây Nguyên đã có một số công bố về đặc điểm, thành phần loài khu hệ cá ở một số sông suối, hồ và đầm phá ven biển miền Trung, gồm các công trình nghiên cứu của Dương Tuấn (1979), Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Hữu Dực (1994,1995) [3]; Võ Văn Phú (1995, 2000, 2001, ); Nguyễn Thị Thu Hè (2003); Võ Văn Phú và Trương Thị Thu Hà (2003); Võ Văn Phú, Nguyễn Thị Phi Loan (2003); Võ Văn Phú, Nguyễn Thị Thu Hà (2003); Võ Văn Phú, Nguyễn Duy Chinh, Hồ Thị Hồng (2004); Võ Văn Phú, Nguyễn Minh Ty (2005), [9], [23], [18],[17], [23]

Các kết quả nghiên cứu về đặc tính sinh học của một số loài cá có giá trị kinh tế ở Đầm Phá Thừa Thiên Huế của Võ Văn Phú, Đặng Thị Diệu Tâm (1978) [22]; Hoàng Đức Đạt, Võ Văn Phú (1980) [7]; Võ Văn Phú (1991,

1994, 1995, 1999, 2000) [16], [17]; Đặc điểm sinh học cá Quả (Ophiocephalus

striatus) của Nguyễn Duy Hoan (1979); Sinh học sinh sản và kỹ thuật sản xuất

giống cá Sặc rằn (Trichogaster pertoralis Regan) của Lê Như Xuân và Nguyễn Trọng Nho (1999); Đặc tính sinh sản của cá Lăng (Hemibagrus guttatus) của

Trang 6

Nguyễn Hồng Hải (2000); Dẫn liệu bước đầu về đặc tính sinh trưởng và dinh

dưỡng của cá Trê (Clarias fuscus) của Lê Thị Nam Thuận (2000) [28]; Một vài tính chất lý học của lectin cá Nheo (Parasilurus asotus) của Nguyễn Quốc Khang (2000) [12]; Đặc trưng của lectin ở 2 loài cá Chình hoa (Anguilla

mamorata) và cá Chình nhật (Anguilla japonica) của Cao Đăng Nguyên

(2000); Sinh học về sinh trưởng và sinh sản của cá Rô phi (Oreochromis

niloticus) của Võ Văn Phú và Nguyễn Duy Chinh (2000); So sánh một số chỉ

tiêu sinh học và chỉ tiêu nuôi cá của 5 loại hình thái cá Chép ở Cần Thơ của Nguyễn Văn Kiểm, Nguyễn Thị Nga (2000); Nghiên cứu một số đặc điểm sinh

học của loài cá Lăng nha (Mystus nemurus) của Hoàng Đức Đạt, Thái Trọng Trí, Nguyễn Xuân Thư (2003) [8]; Đặc điểm sinh học của cá Dầy (Cyprynus

centralus Nguyen et Mai) vùng đầm phá Thừa Thiên Huế của Võ Văn Phú,

Nguyễn Hữu Quyết, Hồ Thị Hồng (2005) [20] Đây là những tư liệu quý về sinh học, sinh thái, sinh lý các loài cá kinh tế nội địa Việt Nam

Nghiên cứu về đặc trưng phân bố các loài và đặc điểm địa động vật học cá nước ngọt Việt Nam có các tác giả Mai Đình Yên (1983), Nguyễn Thái Tự (1983, 1997, 1998) và Mai Đình Yên, Nguyễn Hữu Dực (1991), Võ Văn Phú (1995, 1997, 1999 và 2000), Nguyễn Quốc Nghị, Ngô Sĩ Vân (1999), Nguyễn Thị Thu Hè (2000), Nguyễn Thái Tự, Lê Viết Thắng (2000, 2002), [33], [35], [10]…

1.2 Nghiên cứu cá ở Thừa Thiên Huế

Thừa Thiên Huế có hệ thống sông ngòi dày đặc và chiếm một diện tích đáng kể Hệ thống sông ngòi mang những yếu tố sinh thái thuận lợi cho thuỷ sinh vật, trong đó có cả nguồn lợi thuỷ sản phát triển, là nguồn thực phẩm không thể thiếu, đồng thời là nguồn xuất khẩu có giá trị đáng kể đóng góp ngoại tệ, góp phần phát triển kinh tế tỉnh Thừa Thiên Huế

Trang 7

Công trình nghiên cứu của G Tirant năm 1883 được xem là công trình nghiên cứu về ca nước ngọt đầu tiên ở Huế Ông đã đưa ra danh mục và mô tả

70 mươi loài cá sông Hương Tuy nhiên ở công trình này chỉ có 20 loài cá nươc ngọt, phần còn lại là cá nước lợ Trong tác phẩm này, tác giả đã chú ý đến nơi sống, khởi đầu cho việc nghiên cứu về tính chất phân bố và đặc điển sinh học của các loài cá, nhất là các loài cá có giá trị kinh tế

Những năm tháng sau đó đến trước 1975, chiến tranh đã phân chia hai miền Nam - Bắc Công tác điều tra nghiên cứu khu hệ cá miền Trung nói chung và sông ở Thừa Thiên Huế nói riêng hầu như bị ngưng lại

Từ sau năm 1975, khi hoà bình lập lại, có nhiều công trình nghiên cứu đầm phá của khoa Sinh vật - Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1976) và liên tục các năm sau (1978 - 2006) có các nghiên cứu của khoa Sinh học - Đại học Tổng hợp Huế với các đề tài cấp Bộ và cấp Tỉnh về điều tra nguồn lợi và định hướng qui hoạch phát triển nghề khai thác và nuôi trồng thuỷ sản ở đầm phá Nghiên cứu đầu tiên là công trình đề cặp đến khu hệ cá nước ngọt sông Hương như: “Những đặc tính cơ bản khu hệ động thực vật thuộc lưu vực sông Hương” của Vũ Trung Tạng (1976), “Nguồn lợi thuỷ sản các đầm phá phía Nam sông Hương và những vấn đề về khai thác hợp lý nguồn lợi đó” của Vũ Trung Tạng

và Đặng Thị Sy (1978) Những công bố tiếp theo về phân loại, bắt đầu là của Hoàng Đức Đạt - Lê Hữu Thuận (1977, 1980), Lê Văn Miên (1980), sau đó có nhiều công trình của Võ Văn Phú (1992, 1993, 1994, 2001, 2004) [7], [8], [21], [22], [23] Kết quả của những nghiên cứu này bước đầu đã đánh giá được tính

đa dạng của khu hệ cá đầm phá của tỉnh Thừa Thiên Huế

Nghiên cứu về sinh học và sinh thái của các loài cá trong đầm phá có nhiều công trình nghiên cứu: Công trình của Hoàng Đức Đạt (1978, 1980, 1983), Võ Văn Phú (1978, 1980, 1991, 1993, 1994, ) Đặc biệt, Võ Văn Phú (1997) đã công bố thành phần loài khu hệ cá Tam Giang - Cầu Hai với tổng số 163 loài

Trang 8

thuộc 95 giống, nằm trong 60 họ của 17 bộ khác nhau Đây được xem là công trình đầy đủ nhất và mới nhất của khu hệ cá đầm phá Tam Giang - Cầu Hai từ trước cho đến trận lũ lịch sử vào đầu tháng XI năm 1999

Riêng các thuỷ vực nước ngọt Thừa Thiên Huế có ít công trình nghiên cứu Năm 1997, Nguyễn Hữu Dực tiến hành nghiên cứu về cá khu vực miền Trung với đề tài: “Sơ bộ điều tra khu hệ cá sông Hương” So với công trình nghiên cứu trước của Tirant, công trình này khá đầy đủ hơn Tác giả đã thu thập được

58 loài cá trong đó có 49 loài cá nước ngọt và 9 loài cá nước lợ Tiếp đó là các công trình nghiên cứu về “Nguồn lợi thuỷ vực các đầm phá phía Nam sông Hương và vấn đề khai thác hợp lý các nguồn lợi đó” của Vũ Trung Tạng, Đặng Thị Sy (1978)

Công trình nghiên cứu Hoàng Đức Đạt (1979) và cộng sự về “Dẫn liệu thành phần loài cá ở các sông thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế cũ” tiến hành điều tra thu thập mẫu vật cá ở các sông Ô Lâu, sông Bồ, sông Hương và một số sông suối huyện Phú Lộc, Hương Phú thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế đã thống kê danh mục gồm 98 loài cá thuộc 12 bộ khác nhau

Những năm gần đây, ngoài công tác nghiên cứu thống kê phân loại có các tác giả Hoàng Đức Đạt, Lê Hữu Thuận (1977-1980), Lê Văn Miên (1980), Võ Văn Phú(1992, 1993, 1994), nhiều tác giả đặc biệt quan tâm nghiên cứu đặc điểm sinh học của các loài cá có giá trị kinh tế như cá Dìa, cá móm gai dài, cá mòi cờ Các tác giả tiêu biểu nghiên cứu đặc điểm sinh học cá đầm phá như Đặng Thị Thu Hiến, Võ Văn Phú (1996-1997) nghiên cứu sinh học ở cá Chẽm

ở hệ đầm phá Tam Giang và các vùng phụ cận; Võ Nguyễn Hữu Quyết 2004) nghiên cứu đặc điểm sinh học cá Dày và nhiều công trình nghiên cứu của Võ Văn Phú, Hồ Thị Hồng về đặc điểm sinh học cá đầm phá

(2003-Cá Diếc là một loài có giá trị kinh tế và gần đây nhất công trình nghiên cứu của Lê Vũ Khôi, Võ Văn Phú và nhóm nghiên cứu (2004) về đa dạng sinh học

Trang 9

động vật vườn Quốc gia Bạch Mã có đề cập đến ca Diếc Carassius auratus

(Linnaeus, 1758), là đối tượng chúng ta quan tâm

Trang 10

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG,THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng

Cá Diếc Carassius auratus (Linnaeus, 1758)

Họ cá Chép: Cyprinidae

Bộ cá Chép: Cypriniformes

Lớp cá xương: Osteichthyes

Cá Diếc Carassius auratus (Linnaeus, 1758), là loài cá nước ngọt phổ

biến Chúng sống ở sông, ao, hồ đầm, ruộng…là loài cá có giá trị kinh tế

Ở Thừa Thiên Huế, cá Diếc phân bố khá nhiều ở các thuỷ vực nước ngọt

tự nhiên và nhu cầu tiêu dùng của người dân là khá lớn

2.2 Thời gian, địa điểm

Thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng IX năm 2006 đến tháng IX năm 2007

Địa điểm: Sông Ô Lâu, sông Bồ, sông Hương, sông Nông, sông Truồi, sông Cầu Hai, và một số ao, hồ nuôi tự nhiên

2.3 Phương pháp nghiên cứu

23.1 Nghiên cứu ngoài thực địa

Mẫu cá được thu bằng nhiều cách khác nhau: Trực tiếp theo ngư dân đánh bắt, đặt mua ở các thuyền, thuộc khu vực nghiên cứu Mẫu thu ngẫu nhiên nhằm đại diện cho chủng quần cá đánh bắt trong thời gian đó, mẫu phải đảm bảo nguyên vẹn, không bị rách rời các phần vẩy, vây đuôi

Trường hợp mẫu thu xa phòng thí nghiệm đã được xử lý ngay tại thực địa Mẫu thu được phân chia thành từng nhóm kích thước khác nhau, cân trọng lượng (g) và đo chiều dài (mm) của mỗi cá thể để xác định mối tương quan giữa hai đại lượng này

- Đo chiều dài thân (L, L0), trong đó:

Trang 11

+ L: Chiều dài cơ thể từ mút mõm đến hết tia vây đuôi dài nhất (mm) + L0: Chiều dài cơ thể từ mút mõm đến hết phần phủ vảy cuối đuôi(mm)

- Cân trọng lượng cơ thể (W, W0), trong đó:

+ W: Trọng lượng toàn thân cá (g)

+ W0 : Trọng lượng cá cắt bỏ nội quan (g)

- Lấy vẩy để xác định tuổi cá: Lấy vẩy trên các vùng khác nhau: Vùng

trên đường bên phía trước vây lưng, vùng bụng bên dưới đường bên để chọn lựa vùng lấy vẩy tối ưu nhất cho các lần thu mẫu tiếp sau Vẩy của mỗi cá thể nghiên cứu được cho vào sổ vẩy riêng có ghi ngày tháng, địa điểm thu mẫu, vị trí lấy vẩy

- Giải phẩu cá để xác định độ no, độ mỡ và các giai đoạn chín muồi tuyến sinh dục [23], [36]

- Cân buồng trứng ở giai đoạn IV, định hình tuyến sinh dục vào dung

dịch Bouin, ngâm mẫu thức ăn trong dung dịch formol 3% Tất cả số liệu nghiên cứu về sinh học đều được ghi vào sổ gốc theo quy định chung

2.3.2 Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

2.3.2.1 Xác định tuổi của cá

Tuổi cá được xác định bằng vẩy hoặc bằng nhĩ thạch (đá tai) Mẫu vẩy quan sát được ngâm trong dung dịch NaOH 4% để tẩy bớt mỡ, các chất bẩn hay sắc tố bám trên vẩy Tuỳ theo mức độ bám của mỡ và độ dày của vẩy mà thời gian ngâm khoảng từ 30 đến 60 phút sau đó vớt ra Làm sạch các chất còn bám trên vẩy sao cho chỉ còn lại là vẩy cá trong suốt Rửa sạch bằng nước, lau khô và quan sát trên kính lúp với độ phóng đại 20 lần để chọn vẩy đẹp dùng quan sát vòng năm và đo bán kính vẩy bằng trắc vi thị kính Quan sát xác định

Trang 12

vùng vẩy có vòng năm rõ mà xác định chiều đo của trắc vi thị kính cho thích hợp và đặc trưng cho loài cá Diếc trong suốt quá trình nghiên cứu

2.3.2.2 Nghiên cứu đặc tính sinh trưởng của cá

- Tương quan giữa chiều dài và trọng lượng: Dựa vào số đo chiều dài

và trọng lượng thực tế của cá để tính mối tương quan theo phương trình của R

J H Berton – S J Holt (1956) [23]

W = a Lb

Trong đó: W: Trọng lượng toàn thân của cá (g)

L: Chiều dài toàn thân cá (mm)

a, b: Các hệ số tương quan Các hệ số a, b được dựa trên phương trình toán học thực nghiệm và kết quả thực tế để tính Chúng tôi sẽ trình bày ở phần phụ lục

- Tốc độ sinh trưởng: Dựa vào chiều dài toàn thân L (mm) và kích

thước vẩy (bán kính vẩy và các vòng năm), tính ngược sinh trưởng về chiều dài

cá theo công thức Rose Lee (1920):

a V

V a L

t  (  ) 

Trong đó,

Lt: Chiều dài của cá ở tuổi t cần tìm (mm)

L: Chiều dài của cá hiện tại đo được (mm)

Vt: Khoảng cách từ tâm vẩy đến vạch vòng năm ở tuổi t (mm)

V: Bán kính từ tâm đến mép vẩy (mm)

a: Kích thước cá khi bắt đầu có vẩy (mm)

Trang 13

Giá trị a được xác định dựa vào những số liệu cụ thể về chiều dài và kích thước vẩy đo được ở từng cá thể trên cơ sở áp dụng các phương trình toán học thực nghiệm (xem phần phụ lục)

Sau khi đã xác định Lt, tốc độ sinh trưởng hàng năm của cá được tính theo công thức:

Tt = Lt - L(t-1)

Trong đó, Tt: Tốc độ tăng trưởng về chiều dài của cá ở tuổi t (mm)

Lt: Chiều dài trung bình của cá ở tuổi t (mm)

L(t-1): Chiều dài trung bình của cá ở tuổi t-1 (mm)

- Xác định thông số sinh trưởng của cá Diếc theo phương trình Von

Bertalanffy (1954), các chỉ tiêu về chiều dài và trọng lượng dựa vào công thức:

+ Về chiều dài: Lt = L∞1 - e-k(t-t0)

+ Về trọng lượng: Wt = W∞ 1 - e-k(t-t0)b

Trong đó, Lt và Wt: Chiều dài và trọng lượng của cá ở tuổi t (năm)

L∞ : Chiều dài cực đại của cá (mm)

W∞: Trọng lượng cực đại của cá (g) k: Chỉ số đường cong (corvature parametes)

t và t0: Khoảng thời gian cá sinh trưởng b: Hệ số tương quan chiều dài và trọng lượng của cá Các thông số L∞, W∞, k, b, t0 được xác định bằng phương trình toán học thực nghiệm, sẽ được trình bày ở phần phụ lục

2.3.2.3 Nghiên cứu đặc tính dinh dƣỡng của cá

- Xác định thành phần thức ăn: Mẫu cá thu được phân thành 4 nhóm có

kích thước khác nhau Tách thức ăn ra khỏi ruột và dạ dày của từng cá thể,

Trang 14

quan sát dưới kính hiển vi hoặc kính lúp hai mắt Sử dụng khoá phân loại thực vật bậc thấp [28] định loại các thành phần thức ăn đến từng bậc taxon có thể phân loại được (giống, bộ, họ) Đếm số lượng thức ăn để xác định tần số xuất

hiện cũng như mức độ tiêu hóa thức ăn của cá

- Xác định độ no: Dựa vào sức chứa thức ăn trong ống tiêu hóa để đánh

giá cường độ bắt mồi của cá Độ no của cá được xác định theo thang 5 bậc (từ bậc 0 đến bậc 4) của Lebedep [18]:

Bậc 0: Ruột và dạ dày không có thức ăn

Bậc 1: Ruột có ít thức ăn, dạ dày không có thức ăn

Bậc 2: Ruột và dạ dày đều có thức ăn ở mức bình thường

Bậc 3: Dạ dày và ruột chứa nhiều thức ăn, phình to căng

Bậc 4: Dạ dày và ruột chứa đầy thức ăn, vách dạ dày phình to Dưới tác dụng của áp suất mổ có thể vỡ ra

- Xác định độ mỡ: theo thang 5 bậc của Prozorovskaia

- Xác định hệ số béo: Thống nhất với quan điểm của G V Nikolxki

(1963), chúng tôi dùng cả hai phương pháp của Fulton (1902) và Clark (1928)

để xác định hệ số béo của cá [23]

+ Công thức Fulton (1902): Q = W 100/L3

+ Công thức Clark (1928): Q = W0 100/ L3

Trong đó, Q: Hệ số béo của cá

L: Chiều dài toàn thân cá (mm)

W: Trọng lượng toàn thân cá (g)

W0: Trọng lượng toàn thân đã cắt bỏ nội quan cá (g)

Trang 15

2.3.2.4 Nghiên cứu sinh sản của cá

- Xác định các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục

Xác định các giai đoạn chín muồi tuyến sinh dục của cá theo tháng 6 bậc của K A Kiselevich (1923) mà ông đã giới thiệu trong cuốn sách “Hướng dẫn quan sát sinh vật học” [23] Trên cơ sở đó, đánh giá được thời gian đẻ trứng của cá

Để làm tiêu bản nghiên cứu cấu trúc tế bào của buồng trứng và tuyến tinh, chúng tôi tiến hành:

+ Lấy mẫu cố định trong dung dịch Bouin

+ Tuyến sinh dục được khử nước

+ Đúc Parafin

+ Cắt lát mỏng 3-5µm + Nhuộm tiêu bản bằng phương pháp HE (Hematoxylin - sắt đối với tuyến sinh dục đực và Hematoxylin - Eosin đối với tuyến sinh dục cái), đọc tiêu bản dưới kính hiển vi có độ phóng đại 400 lần theo quan điểm của O F Xakun và A N Buskaia (1968) [36] và chụp ảnh bằng kỹ thuật số (Digital)

- Xác định sức sinh sản: Xác định sức sinh sản tuyệt đối theo phương

pháp trọng lượng Cân toàn bộ tuyến sinh dục, lấy mẫu ở 3 vùng khác nhau trên chiều dài của tuyến Số trứng trong buồng trứng là sức sinh sản tuyệt đối của cá Đếm lặp lại nhiều lần số trứng ở cả 3 vùng trên 1 đơn vị trọng lượng bằng phòng đếm động vật để có kết quả chính xác Dựa vào sức sinh sản tuyệt đối, chúng tôi tính được sức sinh sản tương đối là số lượng trứng trên 1 đơn vị trọng lượng cơ thể cá

Trang 16

Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN THỪA THIÊN HUẾ

Thừa Thiên Huế là một tỉnh nằm ở dải đất miền Trung, thuộc vùng Bắc Trung Bộ của Việt Nam, Thừa Thiên Huế có toạ độ địa lý 1070

00’ đến 108015’Kinh Đông và 16000 đến 160

45’ Vĩ Bắc Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Trị, phía Nam giáp thành phố Đà Nẵng, phía Tây giáp Lào, phía Đông giáp biên Đông với chiều dài 126 km bờ biển Nơi đây mang đặc điểm chung và cơ bản của khí hậu nhiệt đới gió mùa Việt Nam [26]

3.1.1 Địa lý, địa hình

Thừa Thiên Huế có địa hình khá phức tạp, là một tỉnh ven miền Trung, phía Nam bị chắn bởi đèo Hải Vân, phía Tây chắn bởi sườn núi dãy Trường Sơn nên Thừa Thiên Huế có những nét đặc thù riêng

Hệ thống sông ở Việt Nam nói chung và ở Thừa Thiên Huế nói riêng có dòng chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Sông Hương bắt nguồn từ dãy Trường Sơn với độ cao trên 900m, chảy qua giữa lòng đô thị cổ có nhiều di sản văn hoá Lưu vực sông Hương giới hạn bởi toạ độ 150

59’ đến 16036’ vĩ độ Bắc,

107009’ đến 107051’ kinh độ Đông 80% lưu vực sông Hương là đồi núi, 5% là cồn cát ven biển, phần còn lại có thể khai thác được khoảng 37.000 ha diện tích canh tác [14], [26]

Hệ thống sông Hương gồm 3 nhánh chính là Tả Trạch, Hữu Trạch, và sông Bồ Hữu Trạch và Tả Trạch bắt nguồn từ dãy núi thuộc dãy Trường Sơn (cách thành phố Huế khoảng 15 km về phía Nam) tạo thành dòng chảy chính của sông Hương, nhánh sông Bồ bắt nguồn từ các dãy núi phía Nam và lưu với sông Hương tại ngã ba Sình (cách thành phố Huế 10km về phía Bắc) rồi đỗ vào phá Tam Giang theo hướng Đông Bắc Chiều rộng của sông Hương trung bình khoảng 44,6m [14], [26]

Trang 17

Lưu vực sông Hương có dạng hình nang quạt, sông ngắn và dốc Vùng đồng bằng nhỏ và hẹp so với toàn lưu vực, có độ cao từ 0-10m không bằng phẳng, bị chia cắt bởi nhiều kinh rạch Trong vùng đồng bằng, ngoài dãi cát nội đồng thuộc hai huyện Phong Điền và Quảng Điền, còn có dãy cồn cát ven biển kéo dài từ Điền Hương (giáp Quảng Trị) đến Phú Lộc Do thượng lưu ngắn và dốc nên khi có mưa lũ, nước tập trung và chảy rất mạnh về hạ lưu, gây ngập lụt nghiêm trọng Về mùa cạn, mặn xâm nhập sâu vào sông, ảnh hưởng nhiều đến sinh vật trong lưu vực [26]

Từ đặc điểm của dòng chảy, điều kiện phức tạp của địa chất lòng sông

mà trong vòng 20 năm gần đây, địa hình của sông có nhiều thay đổi Bờ sông Hương đoạn từ cầu Phước Dũ đến Ngọc Hồ thuộc địa phận xã Hương Hồ (khoảng 2km) trong 20 năm qua đã bị sụt lỡ, lấn sâu vào bờ khoảng 20-30m Ngược lại, bờ sông phía xã Thuỷ Biều được bồi lắng, tạo thành những bãi cát

có chiều dài 800-900m Phía được bồi lắng, phía bị sạt lỡ làm cho dòng sông uốn cong, dòng chảy bị thay đổi [14], [15], [26] Hiện tượng sạt lỡ và bồi lắng còn thể hiện khá rõ ở các con sông khác như sông Bồ,

Thừa Thiên Huế còn có hệ thống ao hồ nước ngọt rất phong phú, với nhiều hình dạng khác nhau, được phân bố rãi rác trong toàn tỉnh, dưới chân đồi, đồng bằng hay trong thành phố Nhiều nhất là vùng dưới chân đồi do dòng chảy của các con suối đỗ về tạo thành các vùng nước lớn Các thuỷ vực này người dân có thể nuôi cá hay khai thác nguồn cá sẵn có trong tự nhên Ngoài các thuỷ vực tự nhiên, do nhu cầu phát triển kinh tế trong những năm gần đây, người dân đã tạo ra các hồ, ao nuôi cá Những hồ, ao nuôi dạng này đang ngày một phát triển

Địa hình các ao hồ ở tỉnh Thừa Thiên Huế có thể chia làm hai nhóm chính:

Trang 18

- Các ao hồ dưới chân đồi núi: Đây là các vùng nước lớn, có địa hình phức tạp với nhiều hình thù khác nhau, có diện tích rộng, độ sâu lớn, thường xuyên được bổ sung nguồn nước bởi các con suối đổ về và những đợt mưa Các hồ nước này thường giàu chất dinh dưỡng, cơ sở thức ăn tự nhiên phong phú và đa dạng Cá sinh trưởng và phát triển tốt

- Các ao hồ ở đồng bằng Hầu hết là những ao hồ nhân tạo, có địa hình tương đối bằng phẳng, đơn giản, hình dạng không phức tạp, có kích thước không lớn, độ sâu vừa phải Lượng nước bổ sung là các trận mưa, các kênh mương dẫn nước ngoài vào, các ao hồ này người dân thường áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật vào nuôi trồng, chủ động đánh bắt, cho hiệu quả kinh tế cao

3.1.2 Khí hậu

Thừa Thiên Huế là tỉnh ven biển miền Trung Việt Nam nên chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Đông Nam, với địa hình phức tạp Thừa Thiên Huế là nơi thường xảy ra giao tranh giữa các khối khí dẫn đến chế độ mưa nắng rất phức tạp và khắc nghiệt

Mưa là yếu tố cơ bản bổ sung nguồn nước cho các ao hồ, kênh mương, đầm phá và là thành tố quan trọng của khí hậu Nó quan hệ mật thiết đến chế

độ thuỷ học Thừa Thiên Huế có lượng mưa hàng năm lớn và chậm hơn các tỉnh phía Băc, vũ lượng trung bình hàng năm là 2.500-2.800mm và phân phối không đều, mưa nhiều tập trung vào các tháng IX đến tháng XII, trung bình

200 đến 700mm/tháng Cao nhất vào tháng X lên đến 771 mm/tháng Mùa khô

từ tháng II đến tháng VII lượng mưa trung bình 70-80 mm/tháng (Lê Khắc Phò, 1993) Mưa lớn kết hợp với bão thường tạo ra những trận lũ lụt, gây tác động không nhỏ đế biến động số lượng số lượng và thành phần loài thuỷ sinh vật trong vùng Đặc biệt là trận lũ lịch sử tháng IX năm 1999 với bốn ngày với lượng mưa lên đến 2219 mm, đã gây cho thuỷ sinh vật học trong vùng một số

Trang 19

xáo trộn đáng kể Các tháng tuy có lượng mưa ít nhưng có tác dụng lớn vào việc điều hoà nhiệt độ cho những ngày nắng oi bức của mùa hè

Mùa đông mưa nhiều, thời gian chiếu sáng trong ngày ít hơn mùa hạ Ánh sáng mặt trời là nguồn năng lượng không thể thiếu trong quá trình quang hợp của thực vật nên chúng ảnh hưởng trực tiếp và dáng tiếp đến sinh trưởng

và phát triển của cá

Thừa Thiên Huế trong năm có 2 mùa gió chính: Đông Bắc và Tây Nam

- Gió mùa Đông Bắc không duy trì liên tục trong suốt mùa mà tràn về từng đợt, gió xuất hiện thường kèm theo những đợt rét, nhiệt độ không khi theo

đó giảm xuống đột ngột Nhiệt độ trung bình ổn định 20-250C, gặp những đợt rét đậm nhiệt độ có lúc xuống dưới 130

C

- Gió Tây Nam cũng có nhiều nét đặc trưng, khi gió Tây Nam thổi nhiệt

độ không khí tăng cao làm độ ẩm không khí giảm thấp Nhiệt độ trong mùa nắng (từ tháng IV đến tháng VII) trung bình ổn định trên 250C nhưng có lúc lên đến 400

C khi có gió Tây Nam Gió Tây Nam làm nước bốc hơi nhiều, sông suối ao hồ bị cạn dần, đặc biệt một số nhánh sông gần đầm phá có nguy cơ bị nhiễm mặn, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến lưu lượng và tính chất của nguồn nước

Thừa Thiên Huế là một vùng thường xuyên chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão Hàng năm có tới từ 2-5 cơn bão đổ bộ trực tiếp vào tỉnh Thừa Thiên Huế (thường bắt đầu vào tháng VII và kết thúc vào tháng XI) Do ảnh hưởng của bão mà thời tiết thay đổi hẵn đi Bão thường kéo theo lũ lụt vì vậy khi có bão thường gây biến động về thành phần loài ở sông, suối, ao hồ

3.1.3 Thuỷ văn

Đặc điểm cơ bản nhất của đời sống thuỷ sinh vật là chúng sống trong môi trường nước Các quá trình sống của thuỷ sinh vật, nhìn một cách tổng

Trang 20

quát, khác với sinh vật môi trường cạn các thuỷ sinh vật chịu tác động rất lớn của môi trường nước nói chung và chế đọ thuỷ văn nói riêng

Nguồn nước: Nước là môi trường sống của cá, nước chi phối toàn bộ đời sống của cá các sinh vật làm thức ăn tự nhiên cho chúng Nước ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và phát triển của cá, “Nuôi nước là nuôi cá” Nước có khả năng hoà tan chất vô cơ, hữu cơ, các chất dinh dưỡng và chất khí Đó là những chất dinh dưỡng cần thiết cho cá Lượng nước trong ao, hồ, kinh mương

ở Huế chủ yếu do hai nguồn nước cung cấp chính: Nguồn nước do các con suối nội địa đỗ vào ao hồ kênh mương dẫn nước, nguồn nước thứ hai là do các cơn mưa trực tiếp đổ vào

- Nhệt độ nước: Các thuỷ vực tỉnh Thừa Thiên Huế có độ sâu không lớn nên nhiệt độ nước tương đối đồng đều Mặt khác, trong các ao nuôi người ta có thể điều chỉnh được lượng nước nên nhịêt độ thay đổi tương đối đồng đều Do chịu ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện khí hậu nhiệt đới nhiệt nên nhiệt độ nước còn thay đổi theo thời gian (thay đổi trong ngày và theo mùa) Về mùa Đông, từ tháng X đến tháng III năm sau, nhiệt độ có xu hướng giảm dần (18-

190C), trong khi đó nhiệt độ tăng từ tháng IV đến tháng VII đạt 28-300

C Ngoài

ra nhiệt độ nước còn thay đổi theo ngày và đêm Tóm lại nhiệt độ nước là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến thuỷ sinh vật rất mạnh mẽ, có vai trò to lớn trong quá trình đồng hoá thức ăn, chín muồi các sản phẩm sinh dục và sinh sản của các loài thuỷ sinh biến nhiệt Đối với cá, nhiệt độ nước là yếu tố sinh thái hàng đầu tác động toàn diện lên chu kỳ sống của chúng

- O2 hoà tan và hàm lượng CO2

+ Oxy hoà tan Nguồn oxy trong nước bao gồm: Oxy không khí hào tan vào nước do sóng, gió và hoạt động quang hợp của thực vật thuỷ sinh Lượng oxy hoà trong nước ít hơn 20 lần so với bề mặt đất Mặt khác, lượng oxy trong nước luôn bị tiêu hao do sự hô hấp của sinh vật thuỷ sinh là do quá trình phân

Trang 21

huỷ của các chất hữu cơ trong nước Do đó hàm lượng oxy hào tan trong nước

ở các thuỷ vực có sự thay đổi khác nhau Đối với các thuỷ vực lớn, lượng oxy hoà tan nhiều thường từ 5-7mg/lít và có lúc đạt đến 11mg/lít; ở các thuỷ vực nhỏ hàm lượng oxy hoà tan thấp hơn

Ở tầng nước mặt từ 0-0,5m hàm lượng oxy hoà tan ổn định từ 7,5-8,0 mg/lít Càng xuống sâu, hàm lượng oxy càng giảm dần Ở các thuỷ vực có dòng chảy yếu, hàm lượng oxy trong nước đạt 8-11mg O2/lít vào lúc 15-17giờ

và thấp nhất là 0,8-1,28mgO2/lít vào lúc 1-7 giờ sáng Như vậy chỉ trong một ngày, đêm cá phải chịu đựng và thích ứng với sự dao động khá lớn về hàm lượng oxy Ở những ao thiếu oxy vào ban đêm và lúc sáng sớm nhiều loài cá (như cá mè, trôi trắm, chép ) thường nổi đầu lên mặt nước để hô hấp Như vâỵ lượng oxy hoà tan trong nước có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình trao đổi chất của thuỷ sinh vật nhất là loài cá

+ Hàm lượng CO2: Trái ngược O2, khí CO2 có hại cho hô hấp cá, hàm lượng

CO2 trong nước cao sẽ làm cho cá bị ngạt thở

Nguồn CO2 có trong nước là một phần do hoà tan CO2 trong không khí vào nước bởi sóng, gió, hay do quá trình hô hấp của sinh vật trong nước và do quá trình phân giải các chất hữu cơ trong nước Sự biến thiên CO2 trong nước ngược lại biến thiên O2 Ở tầng mặt, hàm lượng CO2 thấp và tầng đáy CO2 có hàm lượng cao hơn

- Độ pH ở các thuỷ vực ảnh hưởng lớn đến thành phần lý hoá học trong đất

và ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất và hô hấp của cá, độ pH quá cao hay quá thấp đều ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cá

- Các thuỷ vực ở Thừa Thiện Huế độ pH tương đối ổn định từ 7,0-7,6 Không có sự chênh lệch giữa các khu vực và các tháng trong năm Ở tầng sâu

pH có giảm hơn, dao động 6,5-6,8 là do sự phân huỷ yếm khí lớp bùn đáy giàu chất hữu cơ

Trang 22

3.1.4 Độ mặn

Trong mùa khô, lượng nước cần cho nông nghiệp là rất lớn, tạo nên thiếu hụt nước và tạo điều kiện cho nước mặn xâm nhập vào Mực nước sông Hương trong mùa kiệt phụ thuộc vào nước thuỷ triều

Những năm trước năm 2004, bình thường nước mặn lên đến chùa Thiên Mụ; trên sông Bồ nước mặn có thể lên đến chợ Khê (Hương Xuân), có lúc mặn đến Phù Ốc (gần cầu An Lỗ), độ mặn vào mùa này phân bố dọc theo sông Hương có nồng độ giảm dần từ hạ nguồn đến thượng nguồn, và từ đáy sông lên mặt sông [14], [26]

Có thể nói tình hình mặn trên sông Hương giai đoạn chưa có đập Thảo Long diễn biến khá phức tạp Nó phụ thuộc vào các yếu tố giữa lượng nước nguồn, lượng nước mưa và thuỷ triều Trong những năm có công trình ngăn đập Thảo Long, phần nào có tác dụng nhất định giảm ảnh hưởng mặn trên sông Hương, công tác ngăn mặn đã dần được khắc phục

3.1.5 Cơ sở thức ăn của thuỷ vực

Cơ sở thức ăn là khái niệm chỉ lượng động vật, thực vật, chất hữu cơ có trong thuỷ vực có thể dùng làm thức ăn cho một nhóm thuỷ sinh vật nhất định nào đó Khái niệm cơ sở thức ăn gắn liền với một nhóm thuỷ sinh vật nhất định Cơ sở thức ăn của một nhóm thuỷ sinh vật thường chỉ là một bộ phận của nguồn thức ăn trong thuỷ vực và biến đổi theo thành phần của nhóm thuỷ sinh vật đó

Thức ăn tự nhiên của cá bao gồm nhiều loại sinh vật ở trong nước, thực vật thuỷ sinh, động vật không xương sống thuỷ sinh và vi sinh vật Ngoài ra còn có các chất xác bã hữu cơ là xác các động vật, thực vật khi chết chìm xuống đáy và trong quá trình phân huỷ đã tạo thức ăn tổng hợp cho cá

3.1.5.1 Thực vật thuỷ sinh

Trang 23

Thực vật thuỷ sinh chủ yếu là tảo (có kích thước nhỏ bé) Theo kết quả nghiên cứu tảo trong các thuỷ vực có 7 nhóm: Tảo lam (Cyanophyta), tảo lục (chlorophyta), tảo mắt (Euglenophyta), tảo giáp (Pirophyta), tảo vàng (Chyrysophyta), tảo vàng ánh (Chrysyophyta), tảo silic hay tảo khuẩn (Bacillariophyta) Toàn bộ chu trình sống của chúng đều ở trong nước và phân

bố trôi nổi [15]

Tảo là nhóm thức ăn quan trọng và là nguồn thức ăn ban đầu cho các loại động vật trong các thuỷ vực Cá Rô phi, ca Mè trắng trực tiếp ăn tảo Ngoài ra tảo là nguồn thức ăn của động vật nổi và động vật đáy Do đó các thuỷ vực có màu nước xanh như lá chuối tức là tảo phát triển mạnh, động vật nổi và động vật đáy phong phú Đây là cơ sở thức ăn cho cá Diếc Tảo còn đóng góp to lớn vào việc làm sạch môi trường nước, làm giàu oxy cho lớp nước mặt vào mùa hạ Một số loài tảo còn có khả năng cố định đạm từ khí quyển để làm giàu chất dinh dưỡng cho vực nước (Tôn Thất Pháp, 1993, 1998)

Tảo có khả năng sinh sản rất nhanh và có giá trị dinh dưỡng cao Lượng protein của tảo chiếm 45-60% trọng lượng và chứa đầy đủ các amino acid thiết yếu Ngoài ra tảo còn chứa nhiều acid béo cần thiết và nguồn vitamin quan trọng Tảo lục là loại thức ăn tốt và phong phú nhất, có thể đưa năng suất cá các thuỷ vực lên cao

3.1.5.2 Động vật không xương sống thuỷ sinh

- Động vật nổi (Zooplankton)

Động vật nổi bao gồm các động vật nhỏ sống trôi nổi trên mặt nước đó

là các nhóm: Động vật nguyên sinh (Protozoa), luân trùng (Rotifera) và giáp xác thấp như: Copepoda, Izopoda,

Đặc tính của chúng là vào sáng sớm và ban đêm nổi lên mặt nước, ban ngày chìm xuống Những loại này phát triển vào mùa xuân, là nguồn thức ăn

Trang 24

trực tiếp của cá ở các giai đoạn của cá từ cá bột đến cá hương và thức ăn trực tiếp của nhiều loài cá trưởng thành

Động vật nổi ăn các loại thức ăn như tảo, vi khuẩn và mãnh hữu cơ lơ lững trong nước, một số loài động vật phù du cỡ lớn thường ăn lại trứng cá và tấn công cá bột

- Động vật đáy (Zoobenthos)

Động vật đáy là những loài sống trên nền hay trong lớp bùn đáy ao hồ phổ biến nhất là ấu trùng côn trùng (Chironomidae), giun ít tơ (Oligochaeta), giun nhiều tơ (Polychaeta), trùng chỉ (Giun đỏ) Những sinh vật nàyđều là thức ăn của các loài cá sống ở tầng đáy Động vật đáy có 33 loài, chúng thường

ăn những tảo lắng chìm ở tầng đáy, mùn bã hữu cơ và các vi khuẩn

3.1.5.3 Mùn bã hữu cơ

Mùn bã hữu cơ là xác của thực và động vật Các vi khuẩn, một số động vật nguyên sinh sống nhờ xác bã hữu cơ và biến đổi thành phần hoá của chúng thành các chất đơn giản

Mùn bã hữu cơ là nguồn thức ăn trực tiếp cho một số loài cá, đặc biệt là

cá Diếc Mùn bã phân huỷ tạo các chất dinh dưỡng cho nguồn nước Lượng mùn bã thay đổi theo mùa, lớn nhất vào mùa mưa, thấp nhất vào mùa khô Đồng thời tuỳ thuộc vào vị trí địa lý, những nơi gần dân cư thường lượng mùn

bã nhiều hơn

3.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ KINH TẾ, XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU

3.2.1 Dân số, lao động

Thống kê dân số Thừa Thiên Huế năm 2006 hơn 1.100.000 người gồm

122 xã, 28 phường - thị trấn,8 huyện và thành phố Huế Mật độ dân số đạt 216 người/km2 Toàn tỉnh có lao động Thành phố Huế có 5 xã, 20 phường

3.2.2 Đời sống kinh tế, xã hội vùng nghiên cứu

Trang 25

Về Y tế: Thừa Thiên Huế có 186 cơ sở Y tế, gồm 12 bệnh viện, 22 phòng khám đa khoa khu vực, 1 trạm diều dưỡng và 152 trạm y tế (xã, phường) 100% số xã trong tỉnh đã có trạm y tế Mạng lưới cơ sở y tế cũng như đội ngũ cán bộ ở thành phố Huế (59,2% số giường bệnh, 65% cán bộ ngành y, 91% cán bộ ngành dược) Ở các huyện miền núi, công tác chăm sóc cho nhân dân đã được quan tâm, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng đầy đủ các nhu cầu về khám chữa bệnh

3.2.3 Giáo dục

Huế là một trung tâm giáo dục - đào tạo lớn của miền Trung, Mạng lưới các trường học từ mẫu giáo, phổ thông đến Đại học phát triển rộng khắp thu hút đông đảo học sinh Về Đại học và cao đẳng có 6 trường thuộc Đại học Huế Việc phát triển giáo dục - đào tạo ở các huyện miền núi là một trong hững vấn

đề được quan tâm đặc biệt Hiện nay 118/122 xã của cả tỉnh có trường tiểu học

Với đặc điểm vị trí thuận lợi nêu trên, Thừa Thiên Huế có đủ điều kiện

để phát triển mạnh ngành thuỷ, xứng đáng với tiềm năng của nó

Trang 26

Phần thứ hai: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương 4 ĐẶC TÍNH SINH HỌC CỦA CÁ DIẾC

4.1 Đặc điểm hình thái cá Diếc

- Đặc điểm phân loại: D III, 17-19; A.III,5; P.I, 14-15; V.1,8; Sq27-31; Lược mang cung mang thứ nhất 43-46; răng hầu một hàng 4-4, vẩy dọc tán đuôi 6-7; vẩy trước vây lưng 11-13; vẩy quanh tán đuôi 16; L0 =2,4-3,1H

Cá Diếc có thân dẹp bên, ngắn, ngực hơi tròn, mắt có viền đỏ, miệng nhỏ, thân phủ vẩy lớn vẩy ở phần đầu lớn hơn phía sau thân, xếp đều trên thân, vẩy rất dễ rụng khi có ma sát, không râu, lưng có màu sẩm hơn bụng

Cá Diếc ở sông suối thường có màu sáng ánh bạc; cá Diếc ở hồ, đầm ao nuôi thường có màu sẩm hơn Vây ngực, vây bụng lớn nhưng so với vây lưng thì chúng nhỏ hơn, nằm thấp bên dưới gần vây đuôi

Cá Diếc thuộc loài cá nhỏ, trung bình Kích thước cá trung bình 105 - 130cm tương ứng với trọng lượng 35 - 45g Cá Diếc ăn tạp, thức ăn gồm cả động vật và thực vật bao gồm mùn bã hữu cơ, rễ non thực vật, cặn bã hữu cơ, các loài tảo sống đáy, các loài giáp xác Chúng thường kiếm ăn vào ban ngày,

Hình 4.1 Hình thái ngoài cá Diếc

Trang 27

chủ yếu bình minh và buổi sáng chúng thường kiếm thức ăn ở đáy Cá sinh đẻ quanh năm, chủ yếu vào tháng VI đến tháng IX

4.2 Tương quan chiều dài và trọng lượng của chủng quần

Quá trình sinh trưởng và phát triển của cá liên quan chặt chẽ với sự biến đổi chiều dài và trọng lượng Mối liên quan này là thước đo mức độ sinh trưởng tương đối của cá Sự biến đổi chiều dài hoặc trọng lượng của một cá thể hay một nhóm cá thể cho biết sự sống và mức độ phát triển của tuyến sinh dục

Sự tương quan giữa chiều dài và trọng lượng của đàn cá trong tự nhiên được thể hiện qua bảng 4.1, hình 4.2

Bảng 4.1 Tương quan giữa chiều dài và trọng lượng cá Diếc

Tuổi Giới

tính

Chiều dài (mm) và trọng lượng (g) trung bình N

L giao động

- Nhóm tuổi 1+ có chiều dài dao động từ 110-140mm, ứng với trọng lượng dao động từ 30-76g, chiếm tỷ lệ ít hơn (32,85%.)

Trang 28

- Nhóm tuổi 2+ có chiều dài dao động từ 129-178mm, ứng với trọng lượng dao động từ 37-100g, chiếm tỷ lệ thấp nhất (25,87%.)

Ngoài ra, sự tương quan về chiều dài và trọng lượng giữa cá đực và cá cái trong cùng một nhóm tuổi có sự khác nhau Nhóm tuổi 1+

cá đực có kích thước trung bình (133,6mm) lớn hơn cá cái (131,4mm) và trọng lượng cá đực (41,3g) nhỏ hơn cá cái (42,0g) không đáng kể, nhưng đến nhóm tuổi 2+

Tương quan chiều dài và trọng lượng cá Diếc biểu diễn theo hàm số mũ:

Trang 29

50 100 150 200 250

W

L(Cm)

W (g)

4.3 Cấu trúc tuổi và đặc tính sinh trưởng của cá

4.3.1 Hình thái vẩy và dạng vòng năm

Vẩy cá Diếc tương đối dày, có dạng hình oval, dễ bị boong khỏi da khi

bị ma sát, càng lùi sau cuống đuôi vẩy càng có kích thước bé, tâm vẩy càng lùi

xa về phía sau Vân sinh trưởng phát triển mạnh ở phần trước và phần bên vẩy

Ở phần trước của vẩy xuất hiện các tia phóng xạ, từ 6 - 10 tia Vẩy cá Diếc có màu sắc đậm do có chứa nhiều sắc tố Các vẩy ở vùng lưng sẫm màu hơn, chứa nhiều sắc tố hơn các vẩy ở vùng bụng

A Hình thái vẩy B Vẩy cá ở tuổi 2 +

Hình 4.3 Hình thái vẩy cá Diếc

Hình 4.2 Tương quan chiều dài và trọng lượng cá Diếc

W=6.868 x10 -9 xL 2,8305

Trang 30

Ghi chú: E Tia phóng xạ; 1 tâm vẩy; 2 Vòng năm của cá; OV 1 k ích thước vòng năm thứ nhất; OV 2 kích thước vòng năm thứ hai; OV Bán kính vẩy

Quan sát vẩy ở hai vùng lấy mẫu, chúng tôi nhận thấy vẩy ở vùng trước vây lưng phía trên đường bên vòng năm xuất hiện rõ hơn vùng phía sau và bên dưới đường bên Vì vậy chúng tôi chọn vùng này để xác định vòng năm trên vẩy cá Diếc Vòng năm của chúng thuộc dạng vòng năm do vân sinh trưởng xếp sát vào nhau hình thành nên Chúng tôi tiến hành đo bán kính (kích thước) vẩy để tính tốc độ tăng trưởng cá Diếc

4.3.2 Cấu trúc tuổi của chủng quần

Đặc tính sinh trưởng của cá là sinh trưởng liên tục trong suốt đời sống và

có tính chất chu kỳ trong năm Vào mùa ấm (từ tháng IV đến tháng IX), cá đồng hóa thức ăn trong môi trường tốt hơn mùa lạnh nên sinh trưởng nhanh hơn Mùa lạnh, nhiệt độ hạ xuống thấp, cá ăn ít, thậm chí ngừng bắt mồi, kết quả làm cá ngừng sinh trưởng, đó là nguyên nhân hình thành vòng năm của cá

Sau khi quan sát vẩy, chúng tôi đã xác định cá Diếc ở các thuỷ vực tỉnh Thừa Thiên Huế gồm 3 nhóm tuổi Nhóm tuổi cao nhất là 2+, thấp nhất 0+ Cấu trúc tuổi của cá Diếc được thể hiện qua bảng 4.2 và hình 4.4

Bảng 4.2 Cấu trúc tuổi của cá Diếc

Trang 31

Số lượng cá thu được nhiều nhất tập trung ở nhóm tuổi 0+, có chiều dài trung bình 109,5mm; ứng với trọng lượng trung bình 23,5g; chiếm tỷ lệ 41,28% trong tổng số cá thể thu được

Nhóm tuổi 1+ có chiều dài trung bình 132,3 mm, ứng với trọng lượng trung bình 41,7g, chiếm tỷ lệ 32,85%

(32,85%)và sau cùng là nhóm tuổi

2+ (25,87%) So với nhóm tuổi 2+, nhóm tuổi 0+

gấp 1,6 lần Cấu trúc này phù hợp với chủng quần cá trong tự nhiên nên tiềm năng phát triển của chủng quần

cá Diếc là khá lớn Theo đó, cho thấy cấu trúc tuổi của cá Diếc tương đối ổn định và phát triển

4.3.3 Tốc độ tăng trưởng hàng năm về chiều dài của cá Diếc

Dựa vào kết quả đo kích thước vẩy và chiều dài tương ứng của 344 cá thể, chúng tôi tính ngược tốc độ sinh trưởng chiều dài hằng năm theo Rosa Lee (1920) Giải phương trình thực nghiệm (xem phụ lục 2) chủng quần cá, ta xác

Hình 4.4 Biểu đồ cấu trúc tuổi cá Diếc

Trang 32

định được hệ số a là 9,6019 Đó là kích thước của cá khi bắt đầu hình thành vẩy Kích thước vẩy tăng trưởng dần theo sự tăng trưởng về chiều dài cá, cá càng lớn thì vẩy có kích thước càng lớn (bảng PL2), tỷ lệ thuận với vòng tuổi của cá

Phương trình tính ngược sinh trưởng của cá Diếc theo Rose Lee (1920) được viết dưới dạng:

Lt = (L - 9,6019) Vt / V + 9,6019 Dựa vào phương trình tính ngược sinh trưởng, chúng tôi xác định được sinh trưởng chiều dài hằng năm và tốc độ sinh trưởng chiều dài tương ứng (bảng 4.3)

Bảng 4.3 Tốc độ tăng trưởng hàng năm về chiều dài của cá Diếc

(mm)

L2(tb) (mm)

và sự săn mồi trong tự nhiên Điều này hoàn toàn phù hợp với qui luật tăng

Trang 33

trưởng của các loài cá nói chung Cá tăng trưởng liên tục trong đời sống cá thể nhưng mức độ tăng trưởng chậm dần theo thời gian

Tốc độ tăng trưởng của cá có ý nghĩa trong việc xác định kích cỡ cá khai thác nhằm đạt hiệu quả cao Trong thực tế, cá sau 1 năm tuổi có chiều dài trung bình 132,3mm, nặng 41,3g/con đã được khai thác bán thương phẩm

Trong cùng một năm tuổi, giữa cá đực và cá cái có tốc độ sinh trưởng không giống nhau So với cá cái, năm đầu cá đực có tốc độ tăng về chiều dài chậm hơn nhưng đến năm thứ hai cá đực có tộ tăng trưởng cao hơn cá cái Chứng tỏ, trong thời gian đầu cá cái sinh trưởng nhanh hơn cá đực Đến khi trưởng thành sinh dục, do phải tích lũy noãn hoàng trong hình thành trứng và mang nhiều trứng nên cá cái sinh trưởng chiều dài chậm hơn cá đực

Dựa vào số liệu về chiều dài và trọng lượng cá thu được theo nhóm tuổi, chúng tôi tính được các thông số sinh trưởng theo phương trình Von Bertalanffy (1954)

Bảng 4.4 Các thông số về chiều dài và trọng lượng cá Diếc

Thông số sinh trưởng Theo chiều dài Theo trọng lượng

4.4 Đặc tính dinh dƣỡng của cá Diếc

4.4.1 Thành phần thức ăn của cá Diếc

Trang 34

Phân tích thức ăn có trong ống tiêu hóa của 344 cá thể cá Diếc thu được, ta chia theo 4 nhóm kích thước là 90-120mm, 121-140mm, 141-160mm, 161-180mm, phân tích thức ăn có trong ống tiêu hoá cá, kết quả được thể hiện ở bảng 4.5

Bảng 4.5 Thành phần thức ăn của cá Diếc

Trang 35

Nhóm Stt Tên th ức ăn Nhóm chiều dài cá (mm)

Qua bảng 4.5, cho thấy thành phần thức ăn của cá Diếc khá phong phú và

đa dạng, gồm 32 loại đại diện cho 6 ngành thủy sinh vật khác nhau, chủ yếu là tảo, các ngành động vật không xương sống, cá con và mùn bã hữu cơ

Qua cấu trúc thành phần thức ăn của cá Diếc, nhận thấy phổ thức ăn mở rộng theo kích thước cá Cá nhỏ có phổ thức ăn hẹp hơn cá lớn Phổ thức ăn của cá Diếc được mở rộng theo các nhóm kích thước 90-120mm, 121-140mm, 141-160mm, 161-180mm và tỷ lệ lần lượt là 18 loại (23,1%), 19 loại (24,4%),

19 loại (24,4%), 22 loại (28,2%) Điều này phù hợp với đặc tính chung của cá nhiệt đới sống trong môi trường nước có chuỗi thức ăn dài, lưới thức ăn phức

Trang 36

tạp, phân hoá thức ăn theo kích thước khác nhau, góp phần giảm bớt sự cạnh tranh dinh dưỡng trong loài, đảm bảo nguồn thức ăn cho cá nhỏ trong quần thể Trong số các loại thức ăn mà chúng tôi xác định được, các loại thức ăn như: Chronomidae, Melosira, Spirogyra, Synedra, Naididae, Tubificidae, Chironomidae, Pseudodiaptomidae, mùn bã hữu cơ có mặt trong tất cả các nhóm kích thước và bắt gặp nhiều lần trong ống tiêu hóa của các cá thể cá thuộc các nhóm kích thước khác nhau Có thể đây là những loại thức ăn mà cá

ưa thích Một số loại thức ăn khác chỉ bắt gặp ở nhóm kích thước nhỏ mà không thấy ở nhóm cá có kích thước lớn như Closterium, Trebouxia, Oscillatoria , hoặc chỉ gặp ở nhóm cá có kích thước lớn mà không thấy ở nhóm cá có kích thước nhỏ như Isopoda, Gobiidae, Pleurosima, Decapoda

Từ kết quả bảng 4.5, ta có tỷ lệ nhóm thức ăn của cá Diếc (bảng 4.6 và hình 4.5)

Bảng 4.6 Đặc tính dinh dưỡng của cá Diếc theo các nhóm thức ăn

Thứ

tự

Tên nhóm thức ăn Tỷ lệ % so tổng số Tổng

(%) 90-120 121-140 141-160 161-180

Trang 37

Cyanophyta Clorophyta Chrysophyta Oligochaeta Arthropoda Osteichthyes Mùn bã hữu cơ

13,0

14,1

9,0 12,8

39,7

Hình 4.5: Biểu đồ tỷ lệ các nhóm thức ăn của cá Diếc

Qua hình 4.5, biểu đồ tỷ lệ các nhóm thức ăn của cá Diếc, cho thấy chúng ít có sự chọn lọc thức ăn mà sử dụng được nhiều loại thức ăn có trong thủy vực Đặc điểm này rất quan trọng trong việc phát triển đàn cá Diếc trong nghề nuôi cá Thành phần thức ăn thực vật của cá Diếc chiếm tỷ lệ 36,1%, thành phần thức ăn động vật chiếm 58,8% còn lại là mùn bã hữu cơ Như vậy, thành phần thức ăn của cá Diếc nghiêng về động vật nhiều hơn như: giun ít tơ, côn trùng, giáp xác, cá con… Vậy, cá Diếc là loài cá ăn tạp gồm cả thực vật và động vật Trong đó ngành chân khớp (Insecta và Crustacea) chiếm ưu thế với

tỷ lệ 39,6%

4.4.2 Cường độ bắt mồi của cá Diếc

Cường độ bắt mồi của cá được thể hiện dưới dạng sức chứa thức ăn trong dạ dày và ruột, thể hiện ở bảng 4.7, hình 4.6

Bảng 4.7 Độ no của cá Diếc chia theo nhóm tuổi

Trang 38

Nhóm tuổi

% số N cá thể

Hình 4.6 Biểu đồ độ no của cá Diếc theo nhóm tuổi

Từ bảng 4.7, hình 4.6 cho thấy, không xuất hiện độ no bậc 0 (ruột và dạ dày không chứa thức ăn) Nhóm tuổi 0+

có độ no bậc 1 chiếm tỷ lệ 18,6% cao hơn nhiều so với nhóm tuổi 1+

và 2+ chiếm tỷ lệ lần lượt là 8,14% và 7,56%

Độ no bậc 2 xuất hiện khá đều ở các nhóm tuổi 1+

và 2+; độ no bậc 2 ở các nhóm tuổi 0+

, 1+, 2+ lần lượt là 15,99%, 16,57%, 14,83% Độ no bậc 3 ở các nhóm tuổi 0+

, 1+, 2+ lần lượt là 6,7%, 7,3%, 3,5%, riêng độ no bậc 4 chỉ thấy xuất hiện ở nhóm tuổi 1+

nhưng với tỷ lệ thấp (0,87%)

Các cá thể trong quần thể cá Diếc ở các nhóm tuổi khác nhau có độ no khác nhau Chỉ có nhóm tuổi 1+ mới có độ no bậc 4 Điều này cho thấy cá nhóm tuổi 0+

và 2+ khả năng bắt mồi kém hơn nhóm tuổi 1+ Qua biểu đồ hình 4.6, cho thấy cá lúc nhỏ cường độ bắt mồi thấp Sau một tuổi, cường độ bắt mồi cá cao nhất, đây là giai đoạn tích luỹ chất dinh dưỡng và chuẩn bị cho quá trình sinh sản Khi đã trưởng thành, tốc độ sinh trưởng châm nên cường độ bắt mồi cá chậm

Biết được khả năng bắt mồi của cá Diếc ở các nhóm tuổi, người ta có thể thể nuôi cá và khai thác ở thời điểm cho năng suất cao nhất mà không làm tổn hại đến khả năng phát triển bền vững của chủng quần cá Diếc Nên khai thác cá

O+ 1+ 2+

Trang 39

Diếc thương phẩm ở độ tuổi 2+, cá đã tham gia vào đàn đẻ trứng nhiều lần Không nên khai thác, đánh bắt cá Diếc nhóm tuổi 0+, vì nhóm tuổi này đang ở giai đoạn phát triển nhanh về kích thước và trọng lượng và không nên đánh bắt

cá đang giai đoạn tái sản xuất chủng quần

4.4.3 Độ mỡ của cá Diếc

Chúng tôi sử dụng thang 5 bậc của Prozovsakaia (1952) để đánh giá mức

độ tích luỹ mỡ của cá Diếc Kết quả thể hiện qua bảng 4.8 và hình 4.7

Bảng 4.8 Mức độ tích luỹ mỡ của cá Diếc chia theo tháng

∑ 2,7 4,65 4,7 8,1 23,3 6,8 3,2 0,92 0,2 0,40 344 100,00 Qua bảng 4.8, cho thấy số lượng cá thể có độ mỡ bậc 0 chiếm tỉ lệ thấp nhất (4,65%) và chủ yếu xuất hiện ở các tháng X/06 đến II/07 năm sau, đây là thời điểm lạnh nhất trong năm ở Huế Với nhiệt độ này, cá Diếc hầu như không bắt mồi nên thu mẫu trong thời gian này chúng ta có thể bắt gặp các cá thể có độ

mỡ bậc 0 Độ mỡ bậc 1 và 2 chiếm tỷ lệ tỉ lệ khá cao lần lượt là (48,84% và 40,7%) và xuất hiện hầu hết các tháng trong năm Độ mỡ bậc 3 và bậc 4 chiếm

tỷ lệ thấp nhất (5,52% và 0,4%) Độ mỡ bậc 3 và 4 chỉ xuất hiện vào cá tháng mùa xuân, hè (từ tháng III đến tháng VIII), các tháng này nhiệt độ trung bình

25 - 300C, đây là nhiệt độ thích hợp cho quá trình quang hợp của thực vật thuỷ sinh, đặc biệt là các nhóm tảo, cung cấp nguồn thức ăn dồi dào cho cá Quá

Trang 40

trình tích luỹ mỡ chuẩn bị nguồn dinh dưỡng cho quá trình sinh sản Vậy, mức

độ tích luỹ mỡ của cá liên quan thời gian dinh dưỡng và sinh sản của cá

0.00 5.00 10.00 15.00

X/06 XII/06 II/07 IV/07 VI/07 VIII/07 Tháng

Bậc 1 Bậc 2 Bậc 3 Bậc 4 Bậc 5

% số N cá thể

Hình 4.7: Biểu đồ tích luỹ mỡ của cá Diếc theo tháng

4.4.4 Hệ số béo của cá Diếc

Chúng tôi sử dụng cả hai phương pháp của Fulton (1902) và Clark (1928) để xác định mức độ chênh lệch của độ béo, mức độ tích lũy mỡ của cá

Bảng 4.9 Hệ số béo của cá Diếc tính theo công thức Fulton và Clark

Trong cùng một nhóm tuổi, hệ số béo của cá cái cao hơn cá đực Điều này liên quan đến việc tích lũy chất dinh dưỡng, cá cái cần nhiều chất dinh dưỡng cung cấp năng lượng cho quá trình chín muồi sinh dục và sinh sản

Hệ số béo theo công thức Fulton và công thức Clark ở nhóm tuổi 0+

lần lượt là 1420.10-6

và 1380.10-6, nhóm tuổi 1+

lần lượt 1513.10-6(cá đực),

Ngày đăng: 03/02/2015, 16:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4.1 Hình thái ngoài cá Diếc - Nghiên cứu đặc tính sinh học cá Diếc Carassius auratus (Linnaeus, 1758) ở tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 4.1 Hình thái ngoài cá Diếc (Trang 26)
4.3.1. Hình thái vẩy và dạng vòng năm - Nghiên cứu đặc tính sinh học cá Diếc Carassius auratus (Linnaeus, 1758) ở tỉnh Thừa Thiên Huế
4.3.1. Hình thái vẩy và dạng vòng năm (Trang 29)
Bảng 4.2.  Cấu trúc tuổi của cá Diếc - Nghiên cứu đặc tính sinh học cá Diếc Carassius auratus (Linnaeus, 1758) ở tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 4.2. Cấu trúc tuổi của cá Diếc (Trang 30)
Hình 4.4. Biểu đồ cấu trúc tuổi cá Diếc - Nghiên cứu đặc tính sinh học cá Diếc Carassius auratus (Linnaeus, 1758) ở tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 4.4. Biểu đồ cấu trúc tuổi cá Diếc (Trang 31)
Bảng 4.3. Tốc độ tăng trưởng hàng năm về chiều dài của cá Diếc - Nghiên cứu đặc tính sinh học cá Diếc Carassius auratus (Linnaeus, 1758) ở tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 4.3. Tốc độ tăng trưởng hàng năm về chiều dài của cá Diếc (Trang 32)
Bảng 4.5. Thành phần thức ăn của cá Diếc - Nghiên cứu đặc tính sinh học cá Diếc Carassius auratus (Linnaeus, 1758) ở tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 4.5. Thành phần thức ăn của cá Diếc (Trang 34)
Bảng 4.6. Đặc tính dinh dưỡng của cá Diếc  theo các nhóm  thức ăn - Nghiên cứu đặc tính sinh học cá Diếc Carassius auratus (Linnaeus, 1758) ở tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 4.6. Đặc tính dinh dưỡng của cá Diếc theo các nhóm thức ăn (Trang 36)
Hình 4.5: Biểu đồ tỷ lệ  các nhóm thức ăn của cá Diếc - Nghiên cứu đặc tính sinh học cá Diếc Carassius auratus (Linnaeus, 1758) ở tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 4.5 Biểu đồ tỷ lệ các nhóm thức ăn của cá Diếc (Trang 37)
Từ bảng 4.7, hình 4.6 cho thấy, không xuất hiện độ no bậc 0 (ruột và dạ  dày không chứa thức ăn) - Nghiên cứu đặc tính sinh học cá Diếc Carassius auratus (Linnaeus, 1758) ở tỉnh Thừa Thiên Huế
b ảng 4.7, hình 4.6 cho thấy, không xuất hiện độ no bậc 0 (ruột và dạ dày không chứa thức ăn) (Trang 38)
Bảng 4.9. Hệ số béo của cá Diếc tính theo công thức Fulton và Clark - Nghiên cứu đặc tính sinh học cá Diếc Carassius auratus (Linnaeus, 1758) ở tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 4.9. Hệ số béo của cá Diếc tính theo công thức Fulton và Clark (Trang 40)
Hình 4.7: Biểu đồ tích luỹ mỡ của cá Diếc theo tháng - Nghiên cứu đặc tính sinh học cá Diếc Carassius auratus (Linnaeus, 1758) ở tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 4.7 Biểu đồ tích luỹ mỡ của cá Diếc theo tháng (Trang 40)
Bảng 4.10. Tỷ lệ đực, cái của cá Diếc chia theo nhóm tuổi - Nghiên cứu đặc tính sinh học cá Diếc Carassius auratus (Linnaeus, 1758) ở tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 4.10. Tỷ lệ đực, cái của cá Diếc chia theo nhóm tuổi (Trang 41)
Bảng 4.11. Các giai đoạn CMSD của cá Diếc theo nhóm tuổi - Nghiên cứu đặc tính sinh học cá Diếc Carassius auratus (Linnaeus, 1758) ở tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 4.11. Các giai đoạn CMSD của cá Diếc theo nhóm tuổi (Trang 42)
Hình 4.9. Biểu đồ CMSD theo nhóm tuổi của cá Diếc - Nghiên cứu đặc tính sinh học cá Diếc Carassius auratus (Linnaeus, 1758) ở tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 4.9. Biểu đồ CMSD theo nhóm tuổi của cá Diếc (Trang 43)
Hình 4.10 Biểu đồ các giai đoạn CMSD theo tháng của cá Diếc - Nghiên cứu đặc tính sinh học cá Diếc Carassius auratus (Linnaeus, 1758) ở tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 4.10 Biểu đồ các giai đoạn CMSD theo tháng của cá Diếc (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w