Bên cạnh đó việc đầu tư gián tiếp từ Việt Nam ra nướcngoài sẽ giúp nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, cũng như có nhiểuảnh hưởng tới thị trường vốn nói chung và thị trường
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
BÀI TẬP NHÓM MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
Đề tài: Tìm hiểu về đầu tư gián tiếp quốc tế vào Việt
Nam và của Việt Nam ra nước ngoài
Giảng viên hướng dẫn : TS Đỗ Thị Kim Hoa
Nhóm thực hiện : 08
Học viên thực hiện : Nguyễn Thị Thuỳ Trang
Trịnh Tuấn TrungTrần Ánh TuyếtBouasone VILAYVONGBounpasong XAIYAPHONETrần Hải Yến
HÀ NỘI, THÁNG 05 NĂM 2013
Trang 2NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA GIẢNG VIÊN
Trang 3
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 4
I TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP FPI 5
1 Khái niệm và đặc trưng của đầu tư gián tiếp nước ngoài 5
1.1 Khái niệm 5
1.2 Đặc trưng của FPI 5
2 Các nhân tố ảnh hưởng đến vốn đầu tư gián tiếp của nước ngoài (FPI) 5
2.1 Nhân tố chính trị 5
2.2 Nhân tố kinh tế 6
2.3 Nhân tố văn hóa - xã hội 6
2.4 Nhân tố pháp lý 6
3 Tác động tích cực và tiêu cực của FPI 7
3.1 Những tác động tích cực 7
3.2 Một số tác động tiêu cực 8
II ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP CỦA NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM 9
1 Sự cần thiết và tiềm năng thu hút đầu tư gian tiếp nước ngoài tại Việt Nam 9
1.1 Sự cần thiết thu hút FII 9
1.2 Tiềm năng thu hút FII của Việt Nam 10
2 Thực trạng đầu tư gián tiếp của nước ngoài vào Việt Nam 10
2.1 Nhìn lại chặng đường phát triển và thu hút vốn FII của Việt Nam 10
2.2 Tình hình đầu tư gián tiếp nước ngoài từ năm 2006 đến nay 12
III ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM 18
1 Các hình thức đầu tư 18
1.1 Đầu tư của chính phủ 18
1.2 Đầu tư của các doanh nghiệp 20
2 Mục tiêu đầu tư 21
IV MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ GIẢI PHÁP 22
1 Đánh giá chung 22
1.1 Đánh giá về tình hình đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam 22
1.2 Đánh giá về tình hình đầu tư gián tiếp Việt Nam ra nước ngoài 22
2 Một số giải pháp kiểm soát và điều tiết FPI 23
KẾT LUẬN 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO 27
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Cùng với đầu tư trực tiếp (FDI), dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI)đang đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với nền kinh tế thế giới nói chung và nềnkinh tế Việt Nam nói riêng Sự tham gia của các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài vàoViệt Nam và sự đầu tư gián tiếp từ Việt Nam ra nước ngoài ngày càng đóng vai tròquan trọng trong sự phát triển kinh tế của Việt Nam Đối với nền kinh tế đang pháttriển như Việt Nam, FPI là nguồn vốn lớn với tốc độ nhanh đáp ứng nhu cầu phát triểnkinh tế- xã hội Nguồn vốn từ FPI có vai trò rất quan trọng đối với kinh tế vi mô và vĩ
mô Thông qua nguồn vốn FPI từ nước ngoài vào Việt Nam sẽ thúc đẩy sự tham giacủa các nhà đầu tư trong nước Bên cạnh đó việc đầu tư gián tiếp từ Việt Nam ra nướcngoài sẽ giúp nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, cũng như có nhiểuảnh hưởng tới thị trường vốn nói chung và thị trường tài chính quốc tế nói riêng
Bên cạnh tác động tích cực của đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam cũngnhư đầu tư gián tiếp từ Việt Nam ra nước ngoài, cũng có không ít tác động tiêu cực đốivới nền kinh tế nước ta Vì vậy việc xây dựng cơ chế kiểm soát, điều tiết dòng vốn FPIvào và ra khỏi Việt Nam là vần đề cần thiết trong bối cảnh hiện nay
Đầu tư gián tiếp từ nước ngoài vào Việt Nam cũng như từ Việt Nam ra nướcngoài là vấn đề rất quan trọng, ảnh hưởng đến Việt Nam cả vấn đề vi mô và vĩ mô, dothời gian có hạn cho nên nhóm trình bày chỉ tập trung vào một số vấn đề cơ bản vì vậykhó tránh khỏi những hạn chế, vì vậy chúng em rất mong có sự góp ý của cô để nhóm
có thể củng cố thêm vốn hiểu biết còn hạn chế của mình
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5I TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP FPI
1 Khái niệm và đặc trưng của đầu tư gián tiếp nước ngoài
1.1 Khái niệm
Đầu tư gián tiếp nước ngoài (thường được viết tắt là FPI | Foreign PortfolioInvestment) là hình thức đầu tư gián tiếp xuyên biên giới Nó chỉ các hoạt độngmua tài sản tài chính nước ngoài nhằm kiếm lời Hình thức đầu tư này không kèm theoviệc tham gia vào các hoạt động quản lý và nghiệp vụ của doanh nghiệp giống nhưtrong hình thức Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Theo quy định trong khoản 3, điều 3 của LUẬT ĐẦU TƯ mới: “Đầu tư giántiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ
có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các quy định chế tài trung gian khác
mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư.”
1.2 Đặc trưng của FPI
- Thứ nhất, nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý doanh nghiệp và pháthành chứng khoán hoặc các hoạt động quản lý nói chung của cơ quan phát hànhchứng khoán
- Thứ hai, nhà đầu tư không kèm theo cam kết chuyển giao tài sản vật chất, côngnghệ, đào tạo lao động và kinh nghiệm quản lý như trong trực tiếp đầu tư (FDI).FPI là đầu tư tài chính thuần túy trên thị trường tài chính
Như vậy có thể thấy, FPI là một khái niệm khá mới mẻ, nhất là ở nước ta, vìchúng xuất hiện và phát triển gắn liền với sự hình thành và phát triển của thị trườngchứng khoán quốc gia và quốc tế
2 Các nhân tố ảnh hưởng đến vốn đầu tư gián tiếp của nước ngoài (FPI)
2.1 Nhân tố chính trị
Đối với nhân tố chính trị, đây là vấn đề được quan tâm đầu tiên của các nhà đầu
tư nước ngoài khi có ý định đầu tư vào một nước mà đối với họ còn nhiều khác biệt.Khi đó một đất nước với sự ổn định và nhất quán về chính trị cũng như an ninh và trật
tự xã hội được đảm bảo sẽ bước đầu gây chọ được tâm lý yên tâm tìm kiếm cơ hội làm
ăn cũng như có thể định cư lâu dài Môi trường chính trị ổn định là điều kiện tiênquyết để kéo theo sự ổn định của các nhân tố khác như kinh tế, xã hội Đó cũng chính
là lý do tại sao các nhà đầu tư khi tiến hành đầu tư vào một nước lại coi trọng yếu tốchính trị đến vậy
Trang 62.2 Nhân tố kinh tế.
Đối với nhân tố kinh tế, bất cứ quốc gia nào dù giàu hay nghèo, phát triển hoặcđang phát triển đều cần nguồn vốn nước ngoài để phát triển kinh tế trong nước tùytheo các mức độ khác nhau Những nước có nền kinh tế năng động, tốc độ tăng trưởngcao, cán cân thương mại và thanh toán ổn định, chỉ số lạm phát thấp, cơ cấu kinh tếphù hợp thì khả năng thu hút vốn đầu tư sẽ cao
Ngoài ra, đối với các nhà đầu tư thì một quốc gia có lợi thế về vị trí địa lý,thuận lợi cho lưu thông thương mại, sẽ tạo ra được sự hấp dẫn lớn hơn Nó sẽ làmgiảm chi phí vận chuyển cũng như khả năng tiếp cận thị trường lớn hơn, rộng hơn.Còn tài nguyên thiên nhiên, đối với những nước đang phát triển thì đây là một trongnhững lợi thế so sánh của họ Bởi nó còn chứa đựng nhiều tiềm năng do việc khanhiếm vốn và công nghệ nên việc khai thác và sử dụng còn hạn chế, đặc biệt là nhữngtài nguyên như dầu mỏ, khí đốt … đó là những nguồn sinh lời hấp dẫn thu hút nhiềumối qua tâm của các tập đoàn đầu tư lớn trên thế giới
2.3 Nhân tố văn hóa - xã hội.
Môi trường văn hóa – xã hội ở nước nhận đầu tư cũng là một vấn đề được cácnhà đầu tư rất chú ý và coi trọng Hiểu được phong tục tập quán, thói quen, sở thíchtiêu dùng của người dân nước nhận đầu tư sẽ giúp cho nhà đầu tư thuận lợi trong việctriển khai và thực hiện một dự án đầu tư Thông thường mục đích đầu tư là nhằm cóchỗ đứng hoặc chiếm lĩnh thị trường của nước sở tại với kỳ vọng vào sức tiêu thụ tiềmnăng của nó Chính vì vậy, mà trong cùng một quốc gia, vùng hay miền nào có sứctiêu dùng lớn, thu nhập bình quân đầu người đi kèm với thị hiếu tiêu dùng tăng thì sẽthu hút được nhiều dự án đầu tư hơn
Ngoài ra để đảm bảo cho hoạt động đầu tư được hiện thực hóa và đi vào hoạtđộng đòi hỏi quốc gia tiếp nhận đầu tư phải đảm bảo một cơ sở hạ tầng đủ để đáp ứngtốt nhất các nhu cầu đầu tư kể từ lúc bắt đầu triển khai, xây dựng dự án cho đến giaiđoạn sản xuất kinh doanh khi dự án đi vào hoạt động Đó là cơ sở hạ tầng công cộngnhư giao thông, liên lạc… các dịch vụ đảm bảo cho sinh hoạt và sản xuất như điện,nước cũng như cácdịch vụ phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh như ngân hàng
- tài chính Bên cạnh đó nước sở tại cũng cần quan tâm đến việc trang bị một cơ sở hạtầng xã hội tốt, đào tạo đội ngũ chuyên môn có tay nghề, nâng cao trình độ nhận thứccũng như trình độ dân trí của người dân, luôn ổn định tình hình trật tự an ninh - xã hội,
có như vậy mới tạo nên sức hấp dẫn lớn đối với các nhà đầu tư nước ngoài
2.4 Nhân tố pháp lý.
Pháp luật và bộ máy hành pháp có liên quan đến việc chi phối hoạt động củanhà đầu tư ngay từ khi bắt đầu tìm kiếm cơ hội đầu tư cho đến khi dự án kết thúc thờihạn hoạt động Đây là yếu tố có tác động trực tiếp cũng như gián tiếp đến hoạt động
Trang 7đầu tư Nếu môi trường pháp lý và bộ máy vận hành nó tạo nên sự thông thoáng, cởi
mở và phù hợp với thông lệ quốc tế, cũng như sức hấp dẫn và đảm bảo lợi ích lâu dàicho các nhà đầu tư thì cùng với các yếu tố khác, tất cả sẽ tạo nên một môi trường đầu
tư có sức thu hút mạnh đối với các nhà đầu tư nước ngoài
3 Tác động tích cực và tiêu cực của FPI
3.1 Những tác động tích cực
Thứ nhất, trực tiếp làm tăng tổng vốn đầu tư gián tiếp và gián tiếp làm tăng
tổng vốn đầu tư trực tiếp của xã hội
Vốn ĐTGTNN gia tăng sẽ làm phát sinh hệ quả tích cực gia tăng dây chuyềnđến dòng vốn đầu tư gián tiếp trong nước Nói cách khác, các nhà đầu tư trong nước sẽ
"nhìn gương" các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài và tăng động lực bỏ vốn đầu tư giántiếp của mình, kết quả là tổng đầu tư gián tiếp xã hội sẽ tăng lên
Hơn nữa, khi dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài gia tăng, thì đó sẽ là một sựbảo đảm và tạo động lực mới hấp dẫn hơn cho các nhà đầu tư khác mạnh dạn thôngqua các quyết định đầu tư trực tiếp mới của mình, kết quả là gián tiếp góp phần làmtăng đầu tư trực tiếp xã hội từ phía các nhà đầu tư cả nước ngoài, cũng như trong nước
Thứ hai, góp phần tích cực vào phát triển thị trường tài chính nói riêng, hoàn thiện các thể chế và cơ chế thị trường nói chung
Việc gia tăng và phát triển bộ phận thị trường vốn ĐTGTNN sẽ làm cho TTTC(đặc biệt là TTCK) Việt Nam trở nên đồng bộ, cân đối và sôi động hơn, khắc phụcđược sự thiếu hụt, trống vắng và trầm lắng, thậm chí đơn điệu, kém hấp dẫn kéo dàicủa thị trường này trong thời gian qua Hơn nữa, điều kiện và như là kết quả đi kèmvới sự gia tăng dòng vốn ĐTGTNN này là sự phát triển nở rộ các định chế và dịch vụtài chính - chứng khoán, trước hết là các loại quỹ đầu tư, công ty tài chính, và các thểchế tài chính trung gian khác, cũng như các dịch vụ tư vấn, bổ trợ tư pháp và hỗ trợkinh doanh, xác định hệ số tín nhiệm, bảo hiểm, kế toán, kiểm toán và thông tin thị
trường; Tất cả những điều này trực tiếp và gián tiếp góp phần phát triển mạnh mẽ hơn các bộ phận và tổng thể TTTC nói riêng, các thể chế và cơ chế thị trường nói chung trong nền kinh tế chuyển đổi Việt Nam.
Thứ ba, góp phần tăng cường cơ hội và đa dạng hóa phương thức đầu tư, cải thiện chất lượng nguồn nhân lực và thu nhập của đông đảo người dân
Việc phát triển thị trường vốn đầu tư gián tiếp cả bề rộng lẫn bề sâu sẽ mang lại những cơ hội mới và sự đa dạng hoá trong lựa chọn các phương thức đầu tư cho các nhà đầu tư tiềm năng nước ngoài và trong nước Đông đảo các nhà đầu tư
nước ngoài và cả trong nước, từ người dân, các doanh nhân đến các tổ chức và phápnhân đầu tư chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp sẽ có thêm điều kiện lựa chọn sửdụng vốn của mình để đầu tư dưới các hình thức trực tiếp tự mình hay thông qua các
Trang 8định chế tài chính trung gian để mua - bán các cổ phiếu, trái phiếu và chứng khoán cógiá khác của Việt Nam trên TTTC trong nước và nước ngoài=> mức sống cao hơn.Hơn nữa, thông qua quá trình tham gia đầu tư gián tiếp này, các nhà đầu tư trong nước
và người dân sẽ được dịp "cọ xát", rèn luyện và bồi dưỡng kiến thức, kinh nghiệm, kỹnăng, bản lĩnh đầu tư, nâng cao trình độ bản thân nói riêng, chất lượng nguồn nhân lựcnói chung, phù hợp yêu cầu và điều kiện kinh doanh thị trường, hiện đại
Thứ tư, Góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước theo các nguyên tắc và yêu cầu kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế
Việc quản lý và quản trị doanh nghiệp phát hành chứng khoán sẽ được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả hơn Hơn nữa, về nguyên tắc, các nhà đầu tư chỉ ưa lựa
chọn đầu tư vào chứng khoán của các doanh nghiệp đáng tin cậy, đang và sẽ có triểnvọng phát triển tốt trong tương lai Chính điều này sẽ cho phép quá trình "chọn lọcnhân tạo", "bỏ phiếu" cho sự hỗ trợ và phát triển các doanh nghiệp này trở nên kháchquan và phù hợp cơ chế thị trường hơn Hệ thống luật pháp, cũng như các cơ quan, bộphận và cá nhân trong hệ thống quản lý nhà nước liên quan đến TTTC, nhất là đến đầu
tư gián tiếp nước ngoài sẽ phải được hoàn thiện, kiện toàn và nâng cao năng lực Trên
cơ sở đó, năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước đối với nền kinh tế nói chung, TTTCnói riêng sẽ được cải thiện hơn
tư dưới dạng khác, ở địa phương khác tuý theo kế hoạch và mục tiêu kinh doanh củamình Đặc trưng nổi bật này cũng chính là nguyên nhân hàng đầu gây nên nguy cơ tạo
và khuếch đại độ nhạy cảm và chấn động kinh tế ngoại nhập của dòng vốn ĐTGTNNđối với nền kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư, đặc biệt khi việc chuyển đổi và rút vốnđầu tư gián tiếp nói trên diễn ra theo kiểu "tháo chạy" đồng loạt trên phạm vị rộng và
Trang 9nhất định nào đó sẽ cho phép họ tham dự trực tiếp vào chi phối và quyết định các hoạtđộng sản xuất - kinh doanh và các chủ quyền khác của doanh nghiệp, tổ chức pháthành chứng khoán, thậm chí lũng đoạn doanh nghiệp theo phương hướng, kế hoạch,mục tiêu riêng của mình, kể cả các hoạt động mua lại, sáp nhập doanh nghiệp Điều đó
có nghĩa là, tính chất gián tiếp của vốn đầu tư nước ngoài đã chuyển hoá thành tínhtrực tiếp Nhà đầu tư gián tiếp sẽ chuyển hoá thành nhà đầu tư trực tiếp Thậm chí, vềlôgíc, quá trình "diễn biến hoà bình" này đạt tới quy mô và mức độ nào đó còn có thểlàm chuyển đổi về chất quyền sở hữu và tính chất kinh tế ban đầu của doanh nghiệp vàquốc gia
Thứ ba, làm tăng quy mô, tính chất và sự cấp thiết đấu tranh với tình trạng tội
phạm kinh tế quốc tế như: hoạt động lừa đảo, họa động rửa tiền, họa động tiếp vốn chocác kinh doanh phi pháp và các họa động khủng bố…
Sự cộng hưởng của các hoạt động tội phạm và các tác động mặt trái của dòngvốn gián tiếp, nhất là khi chúng diễn ra một cách có tổ chức sẽ gây tổn hại tới hoạtđộng kinh tế lành mạnh và tàm tăng tính dễ tổn thương, có thể gây lạm phát cao trongbối cảnh toàn cầu hóa hiện nay
II ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP CỦA NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM
1 Sự cần thiết và tiềm năng thu hút đầu tư gian tiếp nước ngoài tại Việt Nam
1.1 Sự cần thiết thu hút FII
Trên thế giới, nguồn vốn đầu tư nước ngoài ngày càng giữ vai trò quan trọngđối với sự phát triển của mỗi quốc gia Nguồn vốn này bao gồm đầu tư trực tiếp (FDI)
và đầu tư gián tiếp (FII) Trong khi nguồn vốn FDI có vai trò trực tiếp thúc đẩy sảnxuất, thì FII lại có tác động kích thích thị trường tài chính phát triển theo hướng nângcao hiệu quả hoạt động, mở rộng quy mô và tăng tính minh bạch, tạo điều kiện chodoanh nghiệp trong nước dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn mới; nâng cao vai trò quản lýnhà nước và chất lượng quản trị doanh nghiệp, có tác động thúc đẩy mạnh mẽ các mốiquan hệ kinh tế
Đối với Việt Nam, thu hút nguồn vốn FII mang một ý nghĩa rất quan trọng Đểthực hiện thành công sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, Việt Nam cần một lượng vốnđầu tư rất lớn (khoảng 140 tỷ USD) cho giai đoạn (2005-2010) để xây dựng, từngbước hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế và hạ tầng xã hội Các doanh nghiệp Việt Namđang trong quá trình cải cách và cổ phần hóa nhằm gia tăng năng lực và hiệu quả cạnhtranh khi gia nhập WTO Cổ phần hóa phải đi đôi với việc hình thành các thị trườngvốn, các kênh huy động vốn mà hạt nhân là thị trường chứng khoán (TTCK).Các mốiquan hệ kinh tế gia tăng, dòng vốn lưu chuyển nhanh sẽ góp phần tạo ra các hiệu ứngtốt tác động đến các doanh nghiệp Lợi ích của hội nhập không những được đánh giá
Trang 10thông qua sự luân chuyển (vào, ra) dễ dàng của dòng hàng hóa, dòng người mà còn có
cả dòng vốn.Việc tham gia của các nhà đầu tư FII sẽ có tác động mạnh mẽ đến thịtrường tài chính, giúp cho thị trường tài chính minh bạch và hoạt động hiệu quả hơn,xác lập giá trị thị trường của các cổ phiếu niêm yết một cách chuyên nghiệp, giảmthiểu những dao động “phi thị trường” và góp phần giải quyết một cách cơ bản cácmối quan hệ kinh tế (vốn, công nghệ, quản lý…)
Hơn nữa, FII có thể giúp vốn cho doanh nghiệp trong nước, giúp doanh nghiệptăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh, do vậy FII rất quan trọng đối với cácdoanh nghiệp trong nước đang thiếu vốn
Tuy nhiên, dòng vốn FII cũng tiềm ẩn những rủi ro hơn so với các kênh huyđộng vốn từ nước ngoài khác Do vậy, thúc đẩy thu hút FII ổn định, tương xứng vớitiềm năng, góp phần tạo động lực phát triển thị trường vốn, nâng cao năng lực quản trịcủa nhà doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam đang từng ngày phát triển và mở rộng
là vấn đề cần được quan tâm
1.2 Tiềm năng thu hút FII của Việt Nam
Trong nền kinh tế toàn cầu hóa, các yếu tố sản xuất trong quá trình tái sản xuấthàng hóa, dịch vụ được dịch chuyển tự do hơn từ nơi này sang nơi khác, nhằm pháthuy lợi thế so sánh của mỗi quốc gia thông qua các cam kết mở cửa thị trường ViệtNam đang nổi lên như một quốc gia có nhiều tiềm năng thu hút đầu tư nước ngoài.Bên cạnh vị trí địa lý thuận lợi, chính trị ổn định, tiềm năng tăng trưởng kinh tế dàihạn, Việt Nam còn là một quốc gia có nhiều lợi thế so sánh hấp dẫn nhà đầu tư như:nguồn lao động, thị trường, tài nguyên Hơn nữa, vận nước đang lên, Việt Nam ngàycàng khẳng định vai trò, vị trí và tầm quan trọng của mình trên bản đồ kinh tế khu vực
và thế giới Sự quan tâm của khu vực và thế giới tới Việt Nam cộng với sự thành côngcủa các nhà đầu tư hiện hữu tại đây sẽ mở ra cơ hội lớn trong thu hút vốn đầu tư nướcngoài
Nhìn chung, nguồn vốn đầu tư gián tiếp (FII) là một tiềm năng rất lớn đối vớithu hút vốn đầu tư nước ngoài của Việt Nam Với các yếu tố thuận lợi khách quan,Việt Nam hoàn toàn có khả năng khai thác tiềm năng dòng chảy vốn FII của thế giớiphục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
2 Thực trạng đầu tư gián tiếp của nước ngoài vào Việt Nam
2.1 Nhìn lại chặng đường phát triển và thu hút vốn FII của Việt Nam
Sự ra đời thị trường chứng khoán Việt Nam với sàn giao dịch đầu tiên tạiTPHCM vào tháng 7-2000 và sàn giao dịch Hà Nội vào tháng 3-2005 cùng với sự pháttriển nhanh và ổn định của nền kinh tế đã giúp Việt Nam trở nên hấp dẫn hơn đối vớicác nhà đầu tư nước ngoài
Nhiều nhà đầu tư có tổ chức danh tiếng trên thế giới cho rằng đây là thời điểm
Trang 11tốt nhất để đầu tư vào thị trường Việt Nam Chính vì vậy trong 3 năm (2002-2005) và
10 tháng đầu năm 2006 đã có khoảng 23 quỹ có vốn đầu tư nước ngoài được thành lậpmới tại Việt Nam với tổng số vốn đầu tư trên 1,6 tỷ USD, nâng tổng số vốn đầu tưgián tiếp nước ngoài ước tính trên 2,4 tỷ USD
Tuy nhiên, mặc dù tăng trưởng một cách đáng kể nhưng vốn đầu tư gián nướcngoài chỉ chiếm một tỷ lệ khá khiêm tốn 4,5% trên GDP Việt Nam và chỉ bằng 42,1%nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2005
Trước và sau khủng hoảng tài chính
Thực tế đã có một dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đổ vào Việt Nam từ
những năm đầu của thập niên 90 khi Việt Nam bắt đầu thực hiện chính sách mở cửa vàlần đầu tiên có Luật Công ty,Luật Đầu tư nước ngoài Trong thời gian đó đã có 7 quỹđầu tư được thành lập với tổng số vốn khoảng 400 triệu USD.Vietnam Fund là quỹ đầutiên tham gia thị trường tài chính Việt Nam với tổng số vốn khoảng 54 triệu USD
Quỹ thành lập cuối cùng trong giai đoạn này là Vietnam Enterprise InvestmentFund (VEIL) được quản lý bởi Công ty Quản lý quỹ Dragon Capital từ tháng 7-1995với số vốn 35 triệu USD Templeton Vietnam Opportunities Fund là quỹ có tổng sốvốn lớn nhất, được quản lý bởi Công ty Quản lý quỹ Templeton InvestmentManagement của Mỹ và thành lập vào tháng 9-1994 trước khi Hiệp định Thương mạiViệt - Mỹ được ký kết
Khi cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á bùng nổ năm 1997, Templeton Vietnam
và Vietnam Lazard Fund lần lượt rút vốn khỏi Việt Nam, trong lúc VietnamInvestment Fund (VIF) và Beta Fund tiếp tục hoạt động nhưng đã thu hẹp quy mô củaquỹ chỉ còn 5 - 10% so với ban đầu
Chỉ có 3 quỹ tiếp tục hoạt động sau khủng hoảng là Vietnam Fund (VF),Vietnam Frontier Fund (VFF) và VEIL, nhưng trong đó VF và VFF đã chấm dứt hoạtđộng vào năm 2001 và 2004 Chỉ có quỹ VEIL vẫn còn hoạt động và được xem làthành công nhất cho đến thời điểm hiện nay
Làn sóng đầu tư trỗi dậy
Bốn năm sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, mặc dù Việt Nam được đánhgiá là một trong những nước ít bị ảnh hưởng nhất nhưng tình hình đầu tư gián tiếpnước ngoài vẫn không sáng sủa hơn Trong thời gian 1998 - 2002, không những không
có một quỹ đầu tư mới nào được thành lập mà các quỹ thành lập trước đó lại đua nhaurút vốn hoặc giảm quy mô hoạt động
Mãi cho đến tháng 4-2002, nguồn vốn này xuất hiện trở lại với sự mở đầu củaQuỹ Mekong Enterprise Fund (MEF) với số vốn 18.5 triệu USD và dưới sự quản lýcủa Công ty Quản lý quỹ Mekong Capital Kể từ năm 2004, hoạt động đầu tư gián tiếp
Trang 12nước ngoài bắt đầu chuyển sang trang mới khi có 13 quỹ đầu tư mới được thành lậpvới tổng số vốn lên đến 908 triệu USD, nâng tổng nguồn vốn đầu tư gián tiếp nướcngoài vào Việt Nam đạt trên 1,1 tỷ USD.
Như vậy, từ sau năm 2004 là giai đoạn bắt đầu bùng nổ các quỹ đầu tư nướcngoài cả về số lượng và quy mô quỹ Đây chính là thành quả của những cải cách quantrọng trong quản lý kinh tế của Chính phủ Việt Nam để kích thích sự phát triển thịtrường tài chính, mà trong đó đáng kể nhất là gia tăng tỷ lệ nắm giữ cổ phần của nhàđầu tư nước ngoài ở các công ty niêm yết trên sàn từ 30% lên 49%, đẩy mạnh tốc độ
cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước có vốn lớn và việc bãi bỏ số lượng các ngânhàng được nắm giữ bởi một tổ chức nước ngoài
Ngoài ra, trong những năm gần đây nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanhchóng với tốc độ bình quân trên 7.5%/năm cùng với việc hệ số tín nhiệm quốc giađược tổ chức Moody đánh giá cải thiện từ B3 lên B1 và sự kiện Việt Nam gia nhậpWTO đã giúp Việt Nam trở nên hấp dẫn hơn trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài
Chính vì thế từ đầu năm 2006 đến nay, dòng vốn đầu tư gián tiêp nước ngoài
đổ mạnh vào thị trường Việt Nam.Nếu không tính đến dòng vốn đầu tư trực tiếp thì từđầu năm đến nay có khoảng 12 quỹ thành lập với tổng số vốn khoảng trên 750 triệuUSD
2.2 Tình hình đầu tư gián tiếp nước ngoài từ năm 2006 đến nay
Năm 2006 - Bước tiến quan trọng.
Năm 2006,sự kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO)tháng 11/2006 là bước chuyển biến tương đối toàn diện của nền kinh tế Việt Namtrong tiến trình hội nhập quốc tế.Động thái này vừa tác động trở lại đối với công cuộcđổi mới trong nước,vừa nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.Cũng trongtháng 11 của năm 2006,Việt Nam tổ chức thành công Hội nghị cấp cao APEC lần thứ
14 đã mở ra một cơ hội lớn cho Việt Nam trong việc phát triển kinh tế,thu hút dòngvốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong những năm tiếp theo
Đặc biệt đầu tư gián tiếp của nước ngoài ròng đổ vào Việt Nam đạt 1,3 tỷUSD,tăng mạnh so với mức 861 triệu USD của năm 2005 do quản lý hoạt động đầu tưgián tiếp đã thông thoáng theo hướng nâng tỷ lệ tham gia đầu tư chứng khoán đối vớinhà đầu tư nước ngoài lên 49%
Năm 2007- Sự nóng lên của Thị trường chứng khoán.
Đúng như dự đoán,trong năm 2007,cán cân thặng dư vốn của Việt Nam cao gấp5,7 lần mức thặng dư năm 2006.Nguyên nhân chủ yếu là do giải ngân đầu tư trực tiếpnước ngoài,vay ODA và đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam (cổ phiếu,tráiphiếu) đều đạt tốc độ tăng trưởng cao
Trang 13Một phân tích quan trọng được công bố rộng rãi của Merrill Lynch cho rằng, vềdài hạn TTCK Việt Nam đầy triển vọng, khiến nhiều nhà đầu tư quốc tế muốn có cổphiếu của Việt Nam trong danh mục đầu tư của mình Ngoài ra, còn có yếu tố thời sựngắn hạn như Việt Nam tổ chức thành công Năm APEC 2006, gia nhập WTO, Mỹ traoPNTR cho Việt Nam Rồi sau đó,các nhà tài trợ quốc tế đã đưa ra mức tài trợ lớn chưatừng có cho Việt Nam, tới trên 4,5 tỷ USD Đó là dấu hiệu làm TTCK nóng lên trongmột thời gian ngắn.
Tuy nhiên chưa có dấu hiệu nào cho thấy vốn đầu tư gián tiếp ngắn hạn củanước ngoài vào nhiều,tỉ lệ đó chỉ khoảng 1%, là không đáng kể Đa số nhà đầu tư nướcngoài hiện nay (vào TTCK) là dạng đầu tư chiến lược, họ đặt kỳ vọng khoảng 10-15năm sau, đó là dấu hiệu tốt cho TTCK Việt Nam.Hơn nữa, thực tế các nhà đầu tư quốc
tế ngắn hạn có thể chưa có điều kiện quan tâm đến TTCK mới nổi như Việt Nam
Biểu đồ: Cán cân vốn của Việt Nam 2004-2007
( Nguồn: trích dẫn từ www.gso.gov.vn/)
Năm 2008- Khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
Năm 2008,thế giới cũng như Việt Nam đã chứng kiến diễn biến phức tạp vànhững hậu quả nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.Kinh tế thế giới tăng