1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận môn tài chính quốc tế tiến trình chống đô la hóa ở việt nam và bài học kinh nghiệm từ một số quốc gia

33 846 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm về Đô la hóa: Đô la hoá được hiểu một cách thông thường là trong một nền kinh tế, ngoại tệđược sử dụng một cách rộng rãi thay thế cho đồng bản tệ trong toàn bộ hoặc một sốchức

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

- -TIỂU LUẬN NHÓM MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

Đ

VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ MỘT SỐ QUỐC GIA

Giảng viên hướng dẫn: TS Đỗ Thị Kim Hoa

Trang 2

I CƠ SỞ LÝ LUẬN 3

1 Khái niệm về Đô la hóa: 3

2 Phân loại: 3

3 Tác động của đô la hóa đến nền kinh tế 4

3.1 Tác động tích cực 4

3.2 Tác động tiêu cực: 5

II BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ MỘT SỐ NƯỚC : 8

1, Campuchia: 8

2, Trung Quốc: 9

3, Một số nước khác: 9

III THỰC TRẠNG TIẾN TRÌNH HẠN CHẾ ĐÔ LA HÓA TẠI VIỆT NAM 10

1 Diễn biến tình trạng Đô la hóa tại Việt Nam qua các năm 10

2 Nguyên nhân tình trạng Đô la hóa tại Việt Nam: 14

3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng đô la hóa tại Việt Nam 18

4 Thực trạng hạn chế tình trạng đô la hóa ở Việt Nam 20

IV GIẢI PHÁP HẠN CHẾ VÀ XÓA BỎ TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA TẠI VIỆT NAM 23

1 Giải pháp ngắn hạn: 23

1.1 Ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát 23

1.2 Hạn chế và tiến tới xóa bỏ tín dụng ngoại tệ 24

1.2.1 Tiến tới chấm dứt tiền gửi bằng ngoại tệ 24

1.2.2 Áp dụng chế độ kết hối ngoại tệ và khuyến khích các doanh nghiệp bán ngoại tệ cho các NHTM để hạn chế tình trạng nắm giữ ngoại tệ của các doanh nghiệp 24

1.2.3 Cần sàng lọc và lựa chọn khách hàng vay vốn bằng ngoại tệ 26

1.2.4 Khuyến khích vay bằng động Việt Nam với những khách hàng có nhu cầu vay vốn ngoại tệ trung và dài hạn 26

1.3 Phát triển thị trường ngoại hối theo đúng cơ chế thị trường 27

1.4 Chống tiêu cực tham nhũng 28

2.Giải pháp dài hạn 29

2.1 Cải thiện cán cân thanh toán quốc tế (CCTTQT) 29

Trang 3

2.2 Cải thiện cơ cấu kinh tế 30 2.3 Đưa đồng Việt Nam trở thành ngoại tệ tự do chuyển đổi 30

Trang 4

I CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Khái niệm về Đô la hóa:

Đô la hoá được hiểu một cách thông thường là trong một nền kinh tế, ngoại tệđược sử dụng một cách rộng rãi thay thế cho đồng bản tệ trong toàn bộ hoặc một sốchức năng tiền tệ, nền kinh tế đó bị coi là đô la hoá một phần hay toàn bộ

Theo tiêu chí của IMF đưa ra, một nền kinh tế được coi là có tình trạng đô lahoá cao khi mà tỷ trọng tiền gửi bằng ngoại tệ chiếm từ 30% trở lên trong tổng khốitiền tệ mở rộng (M2); bao gồm: tiền mặt trong lưu thông, tiền gửi không kỳ hạn, tiềngửi có kỳ hạn, và tiền gửi ngoại tệ

- Đô la hóa bán chính thức: là việc trong nền kinh tế có hệ thống lưu hànhchính thức song song hai loại tiền: đồng ngoại tệ và đồng nội tệ Chính phủ cácnước này không chính thức công nhận đô la hóa bằng việc dùng đô la Mỹ hoặc mộtngoại tệ mạnh khác thay cho bản tệ, nhưng cho phép khu vực kinh tế bị đô la hóatồn tại song song với khu vực kinh tế sử dụng bản tệ Đồng ngoại tệ là đồng tiền lưuhành hợp pháp, và thậm chí có thể chiếm ưu thế trong các khoản tiền gửi ngân hàng,nhưng đóng vai trò thứ cấp trong việc trả lương, thuế và những chi tiêu hàng ngày

Ví dụ về quốc gia có đô la hóa bán chính thức là Campuchia, Argentina…

Trang 5

- Đô la hóa không chính thức: là trường hợp đồng đô la được sử dụng rộng rãitrong nền kinh tế, mặc dù không được quốc gia đó chính thức thừa nhận Ở nhữngnước có nền kinh tế bị đô la hóa không chính thức, phần lớn người dân đã quen vớiviệc sử dụng đồng đô la nhưng Chính phủ vẫn cấm niêm yết giá hàng hóa bằng đô

la, cấm dùng đô la đối với hầu hết giao dịch trong nước Việt Nam được xếp vàonhóm đô la hóa không chính thức

3 Tác động của đô la hóa đến nền kinh tế

Bất kỳ hiện tượng kinh tế nào cũng có tính 2 mặt Do đó việc đô la hóa cũng cónhững tác động tiêu cực và tích cực nhất định, ảnh hưởng thậm chí là không nhỏ đếnnền kinh tế

3.1 Tác động tích cực

- Giúp nền kinh tế giảm áp lực trong những thời kỳ lạm phát cao, bị mất cânđối và các điều kiện kinh tế vĩ mô không ổn định Do có một lượng lớn ngoại tệtrong hệ thống ngân hàng, sẽ là một công cụ tự bảo vệ chống lại lạm phát và làphương tiện để mua hàng hóa ở thị trường phi chính thức

Ở các nước đô la hóa chính thức, bằng việc sử dụng đồng ngoại tệ, họ sẽ duytrì được tỷ lệ lạm phát gần với mức lạm phát thấp làm tăng sự an toàn đối với tài sản

tư nhân, khuyến khích tiết kiệm và cho vay dài hạn Hơn nữa, ở những nước nàyngân hàng trung ương sẽ không còn khả năng phát hành nhiều tiền và gây ra lạmphát, đồng thời ngân sách nhà nước sẽ không thể trông chờ vào nguồn phát hành này

để trang trải thâm hụt ngân sách, kỷ luật về tiền tệ và ngân sách được thắt chặt Dovậy, các chương trình ngân sách sẽ mang tính tích cực hơn

- Đô la hóa góp phần tăng cường khả năng cho vay ngoại tệ của ngân hàng.Với một lượng lớn ngoại tệ thu được từ tiền gửi tại ngân hàng, các ngân hàng sẽ cóđiều kiện cho vay nền kinh tế bằng ngoại tệ, qua đó hạn chế việc phải vay nợ nướcngoài Đồng thời, các ngân hàng sẽ có điều kiện mở rộng các hoạt động đối ngoại,thúc đẩy quá trình hội nhập của thị trường trong nước với thị trường quốc tế

Trang 6

- Đô la hóa còn góp phần hạ thấp chi phí giao dịch Ở những nước đô la hóachính thức, các chi phí như chênh lệch giữa tỷ giá mua và bán khi chuyển từ đồngtiền này sang đồng tiền khác được xoá bỏ Các chi phí dự phòng cho rủi ro tỷ giácũng không cần thiết, các ngân hàng có thể hạ thấp lượng dự trữ, vì thế giảm đượcchi phí kinh doanh.

- Hiện tượng này một phần thúc đẩy thương mại và đầu tư Các nước thực hiện

đô la hóa chính thức có thể loại bỏ rủi ro cán cân thanh toán và những kiểm soátmua ngoại tệ, khuyến khích tự do thương mại và đầu tư quốc tế Các nền kinh tế đô

la hóa có thể được, chênh lệch lãi suất đối với vay nợ nước ngoài thấp hơn, chi ngânsách giảm xuống và thúc đẩy tăng trưởng và đầu tư

Đô la hóa có thể giúp người ta dự đoán tỷ giá hối đoái dễ dàng hơn Đối vớinhững nước áp dụng cơ chế tỷ giá thả nổi thuộc khu vực sử dụng đồng đô la sẽ giúpcho họ giảm được những bất ổn trong mua bán và đầu tư quốc tế nảy sinh do biếnđộng tỷ giá giữa đồng nội tệ và các đồng tiền ngoài khu vực, làm giảm rủi ro tỷ giá,

và do đó, thúc đẩy thương mại quốc tế; điều này lại góp phần thúc đẩy tăng trưởng

- Ngoài ra, đô la hóa thu hẹp chênh lệch tỷ giá trên hai thị trường chính thức vàphi chính thức Tỷ giá chính thức càng sát với thị trường phi chính thức, tạo ra động

cơ để chuyển các hoạt động từ thị trường bất hợp pháp sang thị trường hợp pháp

- Mặt khác, đô la hóa cũng giúp cho đồng tiền có khả năng tự do chuyển đổihoàn toàn ở những nước mà tiền tệ chưa có khả năng chuyển đổi

3.2 Tác động tiêu cực:

Khi bị đôla hóa, nền kinh tế trong nước phụ thuộc rất lớn vào đồng đô la, đặcbiệt là hệ thống tài chính Sự ổn định của hê thống tài chính liên quan chặt chẽ vàođồng đô la Điều này dẫn tới việc một cuộc khủng hoảng kinh tế bên ngoài có thểảnh hưởng nặng nề tới hệ thống tài chính của nước mà có hệ thống tài chính dựatrên hai đồng tiền Đô la hóa sẽ làm cho các nước rất khó phản ứng thành công vớicác bất ổn, biến động từ bên ngoài vì đã mất đi một công cụ hữu hiệu chống sốc là

Trang 7

chính sách tiền tệ Điều này làm cho các nền kinh tế đô la hóa dễ bị tổn thương bởicác cú sốc ngoại lai và thậm chí còn làm giảm tăng trưởng Sau đây là những ảnhhưởng xấu đến nền kinh tế:

- Đô la hóa làm giảm hiệu quả điều hành của chính sách tiền tệ Chính sách tiền

tệ của ngân hàng trung ương không phát huy được hiệu quả, bị mất tính độc lập vàchịu nhiều ảnh hưởng từ diễn biến kinh tế quốc tế, nhất là khi xảy ra các cuộc khủnghoảng kinh tế, cụ thể:

Gây khó khăn trong việc dự đoán diễn biến tổng phương tiện thanh toán, do đódẫn đến việc đưa ra các quyết định về việc tăng hoặc giảm lượng tiền trong lưuthông kém chính xác và kịp thời

Ở trong các nước đô la hóa không chính thức, nhu cầu về nội tệ không ổn định.Trong trường hợp có biến động, mọi người bất ngờ chuyển sang ngoại tệ có thể làmcho đồng nội tệ mất giá và bắt đầu một chu kỳ lạm phát Khi người dân giữ mộtkhối lượng lớn tiền gửi bằng ngoại tệ, những thay đổi về lãi suất trong nước haynước ngoài có thể gây ra sự chuyển dịch lớn từ đồng tiền này sang đồng tiền khác.Những thay đổi này sẽ gây khó khăn cho ngân hàng trung ương trong việc đặt mụctiêu cung tiền trong nước và có thể gây ra những bất ổn định trong hệ thống ngânhàng

Trường hợp tiền gửi của dân cư bằng ngoại tệ cao, nếu khi có biến động làmcho người dân đổ xô đi rút ngoại tệ, trong khi số ngoại tệ này đã được ngân hàngcho vay, đặc biệt là cho vay dài hạn, khi đó ngân hàng nhà nước của nước bị đô lahóa cũng không thể hỗ trợ được vì không có chức năng phát hành đô la Mỹ Đô lahóa chính thức sẽ làm mất đi chức năng của ngân hàng trung ương là người cho vaycuối cùng Trong các nước đang phát triển chưa bị đô la hóa hoàn toàn, mặc dù cácngân hàng có vốn tự có thấp, song công chúng vẫn tin tưởng vào sự an toàn đối vớicác khoản tiền gửi của họ tại các ngân hàng Nguyên nhân là do có sự bảo lãnh

Trang 8

ngầm của Nhà nước đối với các khoản tiền này Điều này chỉ có thể làm được đốivới đồng tiền nội tệ, chứ không thể áp dụng được đối với đô la Mỹ

Làm cho đồng nội tệ nhạy cảm hơn đối với các thay đổi từ bên ngoài, do đónhững cố gắng của chính sách tiền tệ nhằm tác động đến tổng cầu nền kinh tế thôngqua việc điều chỉnh lãi suất cho vay trở nên kém hiệu quả

Tác động đến việc hoạch định và thực thi chính sách tỷ giá Đô la hóa có thểlàm cho cầu tiền trong nước không ổn định, do người dân có xu hướng chuyển từđồng nội tệ sang đô la Mỹ, làm cho cầu của đồng đô la Mỹ tăng mạnh gây sức épđến tỷ giá

Khi các đối thủ cạnh tranh trên thị trường thế giới thực hiện phá giá đồng tiền,thì quốc gia bị đô la hóa sẽ không còn khả năng để bảo vệ sức cạnh tranh của khuvực xuất khẩu thông qua việc điều chỉnh lại tỷ giá hối đoái Ngân hàng không có sức

đề kháng trước những biến động về tỷ giá có thể dẫn đến khủng hoảng hệ thốngngân hàng

- Chính sách tiền tệ bị phụ thuộc nặng nề vào nước Mỹ Trong trường hợp đô lahóa chính thức, chính sách tiền tệ và chính sách lãi suất của đồng tiền khi đó sẽ donước Mỹ quyết định Trong khi các nước đang phát triển và một nước phát triển như

Mỹ không có chu kỳ tăng trưởng kinh tế giống nhau, sự khác biệt về chu kỳ tăngtrưởng kinh tế tại hai khu vực kinh tế khác nhau đòi hỏi phải có những chính sáchtiền tệ khác nhau

- Hệ thống ngân hàng bị đô la hóa được coi là nguyên nhân của những cuộckhủng hoảng tài chính trong 2 thập kỷ qua Một hệ thống như thế này sẽ có rủi rocao về thanh khoản và khả năng chi trả Rủi ro về khả năng chi trả phát sinh bởi sựkhác biệt về đồng tiền huy động và cho vay Các ngân hàng với một lượng vốn lớnbằng ngoại tệ có được từ huy động tiền gửi ngoại tệ của công chúng trong nướcbuộc phải tìm cách cho vay một phần trong số này cho các đối tượng trong nước, vànhư vậy là đã chuyển giao rủi ro tiền tệ sang khách hàng không có biện pháp phòng

Trang 9

hộ rủi ro này, đồng thời vẫn còn giữ lại rủi ro về tín dụng cho mình Khi bản tệ bịphá giá, các con nợ của ngân hàng dễ bị mất khả năng thanh toán vì các khoản thucủa họ phần lớn bằng bản tệ, trong khi họ đi vay ngân hàng bằng ngoại tệ, nhữngkhoản vay này nay đã mở rộng ra nếu tính theo bản tệ bị mất giá Đối với người gửingoại tệ vào ngân hàng, nếu họ lo ngại rằng ngân hàng mà họ gửi tiền đang có vấn

đề với những khoản cho vay mất khả năng thu hồi của nó, họ sẽ thi nhau rút tiền củamình ra khỏi ngân hàng Để đáp ứng được sự rút ồ ạt đó, ngân hàng buộc phải cómột nguồn tài sản ngoại tệ có tính thanh khoản cao đủ lớn hoặc đi vay của ngânhàng trung ương và các ngân hàng khác Nhưng những nguồn trên đều có hạn, nhất

là vào thời điểm mà các ngân hàng khác cũng bị rơi vào tình trạng này Kết cục là sựsụp đổ của cả một hệ thống ngân hàng

II BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ MỘT SỐ NƯỚC :

1, Campuchia:

Campuchia là một quốc gia đa tiền tệ Theo nghiên cứu của NBC (Ngân hàngNhà nước Campuchia), 37% người Campuchia nhận thu nhập bằng đồng Riel,27,5% bằng USD, 2,2% bằng đồng Baht Thái, 0,3% bằng VND, phần còn lại bằngcác loại tiền tệ khác Hơn 90% giá trị giao dịch trong nước thực hiện bằng USD

Campuchia đưa ra rất nhiều biện pháp tăng cường sử dụng nội tệ:

 Lương và thuế cần phải thanh toán bằng đồng Riel Tại khu vực kinh tế

tư nhân, lương chủ yếu được trả bằng USD

 Các tổ chức tín dụng vi mô huy động vốn bằng đồng USD và cho vaylại bằng đồng Riel sau khi đã đổi tiền thông qua NBC

 Các doanh nghiệp kinh doanh tại khu vực nông thôn cần tăng cường sửdụng đồng Riel – nơi mà đồng Riel đã rất phổ biến

 Khi đồng Riel bị mất giá, NBC tổ chức bán đấu giá USD để thu bớtlượng tiền Riel đang lưu hành, từ đó tác động làm tăng giá tiền Riel

Trang 10

 Không phát hành thêm tiền Riel để bù đắp thâm hụt ngân sách.

2, Trung Quốc:

Trung Quốc đã áp dụng chế độ kết hối ngoại tệ và khuyến khích các doanhnghiệp bán ngoại tệ cho các NHTM để hạn chế tình trạng nắm giữ ngoại tệ củadoanh nghiệp Để phối hợp chính sách điều chỉnh tỷ giá và bảo đảm cân đối cungcầu ngoại tệ, trong các năm từ 1994 đến 1996, Trung Quốc đã thực hiện chính sáchkết hối ngoại tệ 100%, nghiêm cấm việc giữ và sử dụng ngoại tệ Đến năm 2002,Trung Quốc mới cho phép các doanh nghiệp trên được tự giữ ngoại tệ trên tài khoảnvới mức không quá 20% nguồn thu ngoại tệ từ giao dịch vãng lai Chỉ đến năm

2007, dự trữ ngoại hối Trung Quốc đạt 1.528,25 tỷ USD, cán cân vãng lai thặng dư371,8 tỷ USD, cán cân vốn thăng dư 73,4 tỷ USD, khi đó Trung Quốc mới xóa bỏchính sách kết hối ngoại tệ Nhờ thực hiện các chính sách quản lý ngoại hối đồng bộ

và linh hoạt, Trung Quốc đã thành công trong việc điều hành tỷ giá, giải quyết đượccác khó khăn về cung cầu ngoại tệ, đảm bảo cung ứng ngoại tệ kịp thời cho nền kinhtế

Trong giai đoạn 1994-2002, các ngân hàng thương mại Trung Quốc khôngđược phép cho các doanh nghiệp trong nước vay ngoại tệ nhằm giảm bớt hiện tượng

đô la hoá

3, Một số nước khác:

Bên cạnh việc tăng dự trữ USD, việc chủ động trong điều hành tỷ giá

cũng là một trong những biện pháp hàng đầu được các nhà điều hành sử dụng.Trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, trong một nỗ lực chống Đô lahoá nền kinh tế, Thái Lan và Malaysia đã nâng tỷ giá đồng nội tệ lên gần gấp đôi sovới trước đó Đồng ringgit của Malaysia được điều chỉnh từ mức 2.5 ringgit/1USDđược nâng lên mức 4 ringgit ăn 1 USD Tại Thái Lan, 25 bath đổi 1 USD được nânglên mức 40 bath/USD Biện pháp tăng tỷ giá đã giúp giảm tình trạng USD khôngchảy vào các ngân hàng, gây khó khăn cho hoạt động xuất nhập khẩu của nền kinh

tế

Trang 11

Các nước châu Mỹ Latinh, Brazil, Argentina, Mexico vì áp dụng biện phápcho gửi tiền bằng tiền đô nhưng khi nhận tiền, rút tiền ra khỏi ngân hàng thì phải rúttiền bằng tiền nội tệ Bài học cụ thể ở Argentina, tháng 1/1999, để chống chọi với sựảnh hưởng nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng ở Mexico, Argentina đã từ bỏ đồngpeso và chấp nhận USD là tiền tệ hợp pháp của quốc gia mình Tuy nhiên, đếnnhững năm 2001-2002, ở Argentina đã xảy ra sự sụp đổ của hệ thống NHTM trongnước Từ đó, kéo theo một cuộc khủng hoảng tài chính Tình trạng này xảy ra khi tàikhoản tiền gửi ở các NHTM bị rút hàng loạt và có sự tháo chạy về vốn của các nhàđầu tư nước ngoài Với nền kinh tế đô la hóa chính thức, NHTW Argentina khôngthể thực hiện vai trò là người cho vay cuối cùng đối với các NHTM do dự trữ ngoạihối không đủ lớn Vì vậy, không thể ngăn chặn được sự sụp đổ của hệ thốngNHTM Trước tình hình này, một chương trình chống đô la hóa đã được đề ra Nộidung cơ bản của chương trình này là: Bắt buộc tổ chức và cá nhân trong nền kinh tếphải chuyển tiền gửi tiết kiệm trong các NHTM từ USD sang peso, không cho phépcác ngân hàng cho vay những món mới bằng USD (chỉ cho vay đối với những nhàxuất khẩu và nhập khẩu) Những hợp đồng giao dịch được niêm yết bằng USD bắtbuộc phải chuyển sang peso tại mức tỷ giá chính thức Một phần lớn các khoản nợdài hạn của chính phủ phải được chuyển sang peso Sau 5 năm thực hiện chươngtrình này, hiện nay nền kinh tế Argentina không còn đô la hóa chính thức, tình trạng

đô la hóa đã giảm đáng kể

III THỰC TRẠNG TIẾN TRÌNH HẠN CHẾ ĐÔ LA HÓA TẠI VIỆT NAM

1 Diễn biến tình trạng Đô la hóa tại Việt Nam qua các năm

Khi các ngân hàng chấp nhận tiền gửi bằng ngoại tệ, có nghĩa là cho phépngoại tệ được thực hiện chức năng cất trữ thay cho nội tệ Nghị định 161/HĐBT banhành ngày 18/10/1988 cho phép các tổ chức tín dụng được nhận tiền gửi bằng ngoại

tệ Đây được coi là bước khởi đầu của tình trạng đô la hóa tại Việt Nam

Ở Việt Nam, theo thống kê, giai đoạn từ 1989 đến nay tỷ lệ Đô la hóa thườngdao động ở mức trên 20% trong khi tỷ lệ này ở các nước trong khu vực thấp hơn rấtnhiều, như: Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan, Malaysia chỉ khoảng 7-10% Tính

Trang 12

đến nay tỷ lệ Đô la hóa nếu tính đầy đủ cả lượng tiền mặt đang có trong lưu thôngthì tỷ lệ Đô la hóa ở mức khoảng 30%.

Mức độ đô la hóa ở Việt Nam có xu hướng giảm xuống, từ trên 40% vào cuốinhững năm 90 xuống dưới 20% hiện nay Tuy nhiên, phân tích theo các giai đoạn,mức độ đô la hóa biến động:

- Giảm mạnh trong giai đoạn 1991-1993: do lợi tức của VND cao hơn nhiều sovới lợi tức của USD, nhu cầu ngoại tệ cho các giao dịch kinh tế đối ngoạichưa cao khi mở cửa nền kinh tế, lượng ngoại tệ của dân cư gửi tại ngân hàngkhông đáng kể;

- Khá ổn định trong giai đoạn 1994 – 1996: từ khi xảy ra cuộc khủng hoảng tàichính tiền tệ châu Á, lợi tức của VND thấp hơn so với lợi tức của USD, khuvực dân cư và các doanh nghiệp có xu hướng chuyển sang nắm giữ bằngUSD, do đó, tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ trên tổng phương tiện thanh toán tăng lên

và ở mức khoảng 30% trong giai đoạn 2000 - 2001;

- Giảm trở lại từ năm 2002 đến 2007: do lợi tức của VND hấp dẫn hơn ngoại

tệ, mức biến động của tỷ giá không lớn (tỷ giá chỉ tăng khoảng trên 6% trong

Trang 13

vòng 5 năm từ 2002 - 2007 nhờ cung ngoại tệ dồi dào, nhất là cung ngoại tệ

từ việc thu hút vốn nước ngoài);

- Khá ổn định (khoảng 20%) từ năm 2008 đến nay: nguyên nhân khiến mức độ

đô la hóa không tiếp tục giảm như giai đoạn trước là do thời kỳ này lạm phát

đã tăng cao trở lại, tỷ giá có sức ép tăng, lãi suất ngoại tệ tăng cao (Xem biểu

đồ 1)

Hàng chục năm nay, Đôla Mỹ không những được chấp nhận mà nó còn đượcnhiều người bán hàng chỉ định làm phương tiện thanh toán, đôi khi việc thanh toánbằng Đôla Mỹ còn dễ dàng, nhanh gọn, tiện dụng hơn cả dùng tiền Việt Nam và đâygần như là phương tiện thanh toán thứ hai tại Việt Nam Nhiều người Việt Nam gửitiền đô la tại ngân hàng, thay vì tiền đồng do lo ngại về tình trạng lạm phát và sự bất

ổn của tiền đồng Ngoài ra, cho vay bằng USD trong dân cư, cũng như tín dụngbằng USD trong hệ thống ngân hàng hiện nay rất phổ biến và thị trường đầu cơngoại tệ còn quá lớn

Doanh nghiệp cũng sử dụng USD nhiều hơn so với thời gian trước đây, vì giácủa các mặt hàng nhập khẩu phụ thuộc hoàn toàn vào USD, do vậy, để tránh rủi ro

tỷ giá cho mình, buộc phải niêm yết giá bằng USD Ngoài ra, việc niêm yết giá bằngUSD còn để tăng tính "hiện đại", "thương mại điện tử” trong kinh doanh

Các công ty liên doanh, công ty 100% vốn nước ngoài, một số cũng đã trảlương nhân viên bằng USD Bất Động Sản, Ôtô, thời trang hàng hiệu… cho đến

những đồ uống, đều thanh toán bằng USD Quản lý một cửa hàng bán xe thương

hiệu Piaggio khẳng định dù trên hợp đồng có ghi hai loại tiền là USD và VNDnhưng quyết định giá bán vẫn theo USD Thậm chí sử dụng dịch vụ chăm sóc sắcđẹp, người ta cũng có thể thanh toán bằng Đôla Mỹ, Trung tâm làm đẹp WhiteLotus trên đường Phùng Khắc Khoan, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh là ví dụ điểnhình Việc niêm yết giá tour du lịch cũng bằng USD Không ít trường học cũngniêm yết học phí bằng bằng USD Tất cả những dịch vụ kể cả chương trình khuyến

Trang 14

mãi, tặng thẻ thành viên đều được tính bằng USD, ví dụ như: “Chương trình tích lũyđiểm 10 USD tương đương với 1 điểm Khi tích lũy đủ 18 điểm, bạn sẽ được tặng 1suất massage thư giãn toàn thân trị giá 18 USD ”

Việc dùng đồng Đôla Mỹ để thanh toán diễn ra công khai, giữa ban ngày tạiphố Hà Trung - trung tâm thủ đô Hà Nội, người ta có thể dễ dàng mua bán mọi thứ,mọi lúc mọi nơi… từ khách sạn 5 sao cho đến hoa quả ở chợ Trên những con phố “Tây balô”, việc mua bán bằng Đôla Mỹ không có gì là lạ đối với người Việt Namnhưng lại lạ đối với những khách du lịch nước ngoài vì ở các nước như Nhật Bản,Hàn Quốc, Thái Lan thì khách du lịch rất khó khăn khi sử dụng USD nên phải đổi ranội tệ để dùng nhưng ở Việt Nam thì ngược lại, mọi thứ rất dễ dàng trong việc sửdụng USD và họ không phải đổi ra ngoại tệ

Một lĩnh vực đô la hóa tương đối mạnh đó là bán hàng qua mạng, kinh doanhcác sản phẩm nhập khẩu, nhất là đồ điện tử Ta có thể thấy việc niêm yết giá bằng cảVND lẫn USD ở hầu như 100% các trang web bán đồ điện tử như: máy vi tính, cácthiết bị gia dụng nhập ngoại v.v Mặc dù hai loại giá được đặt song song nhưngviệc thanh toán thực tế thì luôn được thực hiện bằng USD, nếu khách hàng thanhtoán bằng VND thì giá của hàng hóa sẽ dựa trên tỷ giá hối đoái giữa VND và USDngày hôm thực hiện giao dịch

Đôla Mỹ không chịu dừng lại trong lĩnh vực thanh toán Nó đã xuất hiện trong

cả những hoạt động văn hóa mang đậm nét truyền thống của người Việt Giá mỗi tờ

2 USD trước Tết Nguyên đán đắt hơn 30% so với bình thường và luôn trong tìnhtrạng khan hiếm Tết Tân Mão vừa qua mừng tuổi bằng tờ 2 Đôla Mỹ dường như trởthành một cái mốt Ngoài những quan niệm về sự “ may mắn’ do tờ 2 USD mang lạithì nó còn làm cho cả người mừng tuổi, lẫn người được mừng tuổi, đều cảm thấythích Vì người lớn thì thấy sang và thời thượng, còn trẻ con, dù trong tâm thức chưahiểu rõ giá trị, nhưng cho rằng: Đôla vẫn là nhiều hơn

Trang 15

Hiện nay, hoạt động thu đổi ngoại tệ đã tạm ngưng, phần lớn các tiệm vàngkhông còn cất trữ ngoại tệ và cũng không nhận mua ngoại tệ từ khách hàng do sợ bịphát hiện Tuy nhiên, hoạt động này vẫn diễn ra ngầm, chủ yếu qua hình thức điệnthoại, email và trao tiền tận nhà.

2 Nguyên nhân tình trạng Đô la hóa tại Việt Nam:

Trước hết, đô la hoá là hiện tượng phổ biến xẩy ra ở nhiều nước, thường gặp khi một nền kinh tế có tỷ lệ lạm phát cao, sức mua của đồng bản tệ giảm sút thì người dân phải tìm các công cụ dự trữ giá trị khác, trong đó có các đồng ngoại tệ

có uy tín

Tỷ lệ lạm phát tại Việt Nam là khá cao và liên tục trong thời gian dài khiến chođồng nội tệ mất giá Đây là nguyên nhân được cho là cơ bản và quan trọng nhất dẫnđến tình trạng đô la hóa Khi đồng nội tệ không còn giá trị như ban đầu thì cũng làđộng lực khiến người dân của nước đó có xu hướng đi tìm một loại tài sản khác cógiá hơn, có thể bảo toàn giá trị cho họ

Nguồn : Tổng cục thống kê

Cuộc cải cách chính sách Giá – Lương – Tiền năm 1985 thất bại đã khiến nềnkinh tế Việt Nam rơi vào vòng xoáy của sự hỗn loạn Giai đoạn 1986-1991 là giaiđoạn Việt Nam có lạm phát phi mã lên tới 3 con số (~774,7% năm 1986) khiến cho

Trang 16

niềm tin vào VNĐ sụt giảm nghiêm trọng Trong khoảng 5 năm trở lại đây, mặc dùlạm phát đã được kiềm chế, nhưng vẫn ở mức 2 con số Điều này khiến cho tiềnViệt Nam đồng mất giá, và tâm lý của đa số người dân là không còn tin tưởng vào

sự ổn định của nền kinh tế, của đồng tiền nội tệ Họ muốn tìm đến một tài sản khác

có giá trị hơn để níu giữ tài sản của mình khỏi bị mất giá Khi đó, vàng và đô la Mỹ

là 2 lựa chọn của người dân Tuy nhiên nhiều người lựa chọn đô la chứ không phảivàng do tính tiện lợi trong thanh toán, cất trữ, vận chuyển, khả năng chuyển đổi

Do vậy chính lạm phát là nguyên nhân đầu tiên dẫn đến đô la hóa tại Việt Nam

Song song với chức năng làm phương tiện cất giữ giá trị, dần dần đồng ngoại

tệ sẽ cạnh tranh với đồng nội tệ trong chức năng làm phương tiện thanh toán hay làm thước đo giá trị.

Tình trạng đô la hoá bao gồm cả ba chức năng thuộc tính của tiền tệ, đó là:

• Chức năng làm phương tiện thước đo giá trị

• Chức năng làm phương tiện cất giữ

• Chức năng làm phương tiện thanh toán

Thứ hai, hiện tượng đô la hoá bắt nguồn từ cơ chế tiền tệ thế giới hiện đại, trong đó tiền tệ của một số quốc gia phát triển, đặc biệt là đô la Mỹ, được sử dụng trong giao lưu quốc tế làm vai trò của "tiền tệ thế giới"

Nói cách khác, đô la Mỹ là một loại tiền mạnh, ổn định, được tự do chuyển đổi

đã được lứu hành khắp thế giới và từ đầu thế kỷ XX đã dần thay thế vàng, thực hiệnvai trò tiền tệ thế giới

Ngoài đồng đô la Mỹ, còn có một số đồng tiền của các quốc gia khác cũngđược quốc tế hoá như: bảng Anh, mác Đức, yên Nhật, Franc Thuỵ Sỹ, euro củaEU nhưng vị thế của các đồng tiền này trong giao lưu quốc tế không lớn; chỉ có đô

la Mỹ là chiếm tỷ trọng cao nhất (khoảng 70% kim ngạch giao dịch thương mại thếgiới) Cho nên người ta thường gọi hiện tượng ngoại tệ hoá là "đô la hoá"

Thứ ba, mức độ đô la hoá ở mỗi nước khác nhau phụ thuộc vào trình độ phát

triển nền kinh tế, trình độ dân trí và tâm lý người dân, trình độ phát triển của hệ

Ngày đăng: 03/02/2015, 14:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w