1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sỹ: Quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở Việt Nam

115 1,6K 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 729 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện quá trình đổi mới từ năm 1986 đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng. Đại hội X của Đảng khẳng định kinh tế tư nhân bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân là một động lực phát triển kinh tế xã hội của đất nước.Hiện nay, kinh tế tư nhân chiếm khoảng 39% GDP, các doanh nghiệp kinh tế tư nhân chiếm khoảng 80% trong tổng số doanh nghiệp trên cả nước. Điều đó đã mở ra những khả năng mới thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc của đất nước, như giải phóng sức sản xuất, huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước, giải quyết việc làm, thúc đẩy phân công lao động xã hội, phát triển thị trường vốn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Những đóng góp quan trọng của khu vực kinh tế tư nhân vào phát triển kinh tế xã hội đất nước trong công cuộc đổi mới, một lần nữa khẳng định tính đúng đắn của quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch tập trung, quan liêu bao cấp sang xây dựng một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần dựa trên việc đa dạng các hình thức sở hữu.

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KINH TẾ TƯ NHÂN 5

1 Cơ sở lý luận về kinh tế tư nhân ………5

1.1 Quan niệm về kinh tế tư nhân 5

1.2 Bản chất của kinh tế tư nhân 8

1.3 Đặc điểm của kinh tế tư nhân 10

1.4 Đặc điểm của kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay 13

1.5 Vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân ở nước ta 16

1.6 Các hình thức biểu hiện của kinh tế tư nhân ở nước ta 20

2 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước và hoàn thiện quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân 26

2.1 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân 26

2.1.1 Khái niệm 26

2.1.2 Nội dung quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân 27

2.2 Cơ sở lý luận về hoàn thiện quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân 29

2.2.1 Sự cần thiết khách quan của quá trình hoàn thiện quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân 29

2.2.2 Nội dung hoàn thiện quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân ………32

3 Kinh nghiệm quốc tế về đổi mới quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân 33

3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc 33

3.2 Kinh nghiệm của một số nước đang phát triển Châu Á 34

4 Bài học tham khảo dành cho Việt Nam trong việc đổi mới quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân 37

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM 40

Trang 2

1 Thực trạng phát triển của kinh tế tư nhân ở Việt Nam 40

1.1 Sự phát triển về số lượng kinh tế tư nhân ở Việt Nam 40

1.2 Sự phát triển về quy mô vốn đầu tư 41

1.3 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế 43

2 Thực trạng quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân 44

2.1 Khái quát đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc quản lý, phát triển kinh tế tư nhân ở nước ta 44

2.2 Quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân thông qua Luật Doanh nghiệp 53

2.2.1 Những kết quả đạt được 53

2.2.2 Những bất cập còn tồn tại trong quá trình triển khai thực hiện Luật Doanh nghiệp năm 2005 60

2.2.3 Thực trạng công tác ban hành, phổ biến và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về doanh nghiệp 67

2.3 Thực trạng việc xây dựng, ban hành cơ chế chính sách kinh tế nhằm phát triển kinh tế tư nhân 69

3 Nguyên nhân chủ yếu của những bất cập trong quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân 84

CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN 87

1 Quan điểm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân 87

1.1 Phát triển kinh tế tư nhân phải xuất phát từ tình hình thực tiễn của đất nước đồng thời phù hợp với chủ trương, đường lối đổi mới toàn diện của Đảng, tuân thủ pháp luật của nhà nước 87

1.2 Tạo bước đột phá trong phát triển kinh tế tư nhân từ việc tập trung ưu tiên giải quyết những vấn đề bức xúc nhất 90

2 Mục tiêu hoàn thiện quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân 92 3 Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân 93

3.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thuận lợi để khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân phát triển 93

Trang 3

3.2 Hoàn thiện các chính sách kinh tế có liên quan đến hoạt động kinh doanh

của khu vực kinh tế tư nhân 94

3.2.1 Chính sách vốn, tín dụng, đầu tư 94

3.2.2 Chính sách hỗ trợ mặt bằng sản xuất 95

3.2.3 Chính sách hỗ trợ nâng cao năng lực và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp 96

3.2.4 Chính sách thị trường và xúc tiến thương mại 97

3.2.5 Chính sách thuế và hải quan 98

4 Đổi mới hoạt động bộ máy tổ chức quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân 98

5 Tăng cường sự lãnh đạo của đảng 99

6 Phát huy vai trò của tổ chức Công đoàn, Đoàn, Hội thanh niên, Hội Liên hiệp Phụ nữ, các hiệp hội doanh nghiệp và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 100

7 Nâng cao năng lực quản trị kinh doanh tại các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân 103

8 Đổi mới kiểm tra, kiểm soát đối với khu vực kinh tế tư nhân 105

9 Các giải pháp khác 107

KẾT LUẬN 1089

TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thực hiện quá trình đổi mới từ năm 1986 đến nay, Đảng và Nhà nước

ta đã chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, hoạt động theo cơchế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước Trong cơ cấu kinh tế nhiều thànhphần, kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng Đại hội X của Đảngkhẳng định kinh tế tư nhân bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản

tư nhân là một động lực phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Hiện nay, kinh tế tư nhân chiếm khoảng 39% GDP, các doanh nghiệpkinh tế tư nhân chiếm khoảng 80% trong tổng số doanh nghiệp trên cả nước.Điều đó đã mở ra những khả năng mới thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và giảiquyết những vấn đề xã hội bức xúc của đất nước, như giải phóng sức sảnxuất, huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước, giải quyết việc làm, thúcđẩy phân công lao động xã hội, phát triển thị trường vốn, chuyển dịch cơ cấukinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, góp phần nâng cao sứccạnh tranh của nền kinh tế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Nhữngđóng góp quan trọng của khu vực kinh tế tư nhân vào phát triển kinh tế - xãhội đất nước trong công cuộc đổi mới, một lần nữa khẳng định tính đúng đắncủa quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch tập trung, quan liêu bao cấpsang xây dựng một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa,với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần dựa trên việc đa dạng các hình thức sở hữu

Tuy nhiên, ngoài những đóng góp quan trọng và những ưu điểm nêutrên, khu vực kinh tế tư nhân còn có những yếu kém và hạn chế như quy môcòn nhỏ bé, khả năng cạnh tranh thấp trước yêu cầu của quá trình hội nhậpkinh tế quốc tế Nguyên nhân của thực trạng đó là từ sự chậm trễ trong việc

cụ thể hoá chủ trương, nghị quyết của Đảng, từ sự thiếu đồng bộ của cơ chếchính sách quản lý của Nhà nước và từ chính năng lực yếu kém của các doanh

Trang 5

nghiệp Về mặt quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân còn nhiềubất cập từ quy định pháp lý, chính sách chưa hoàn thiện đến xây dựng bộ máyquản lý và năng lực cán bộ Trên thực tế, kinh tế tư nhân chưa được đối xửbình đẳng nên trong môi trường kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn như tiếpcận về vốn, mặt bằng kinh doanh, đào tạo nhân lực, tiếp cận công nghệ, xúctiến thương mại đầu tư trong hội nhập kinh tế quốc tế… Hiện nay chúng tachưa có đầu mối quản lý thống nhất đối với khu vực này Thực tế cho thấycần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý của nhà nước đối với khuvực kinh tế quan trọng này.

Từ những phân tích, đánh giá trên tác giả chọn đề tài: " Quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở Việt Nam" làm đề tài Luận văn Thạc sỹ kinh tế

2 Tình hình nghiên cứu

Quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân là một vấn đề quan trọng ảnhhưởng đến sự phát triển kinh tế của đất nước Thời gian qua, đã có nhiều đềtài nghiên cứu đề cập đến vấn đề này, như: “Vai trò của kinh tế tư nhân trongnền kinh tế”, tác giả Nguyễn Huy Oánh, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Kinh

tế 12-2001; “Kinh tế tư nhân Việt Nam những thuận lợi, khó khăn trong quátrình phát triển”, tác giả Đặng Danh Lợi, đăng trên Tạp chí Phát triển kinh tế,4-2003; "Doanh nghiệp vừa và nhỏ - Hiện trạng và những kiến nghị giải

pháp", tác giả Lê Viết Thái (chủ biên), Nxb Lao động, 2000 song chưa có

công trình nào tập trung nghiên cứu việc hoàn thiện quản lý nhà nước đối vớikinh tế tư nhân, vì vậy tác giả lựa chọn nghiên cứu vấn đề này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận văn:

- Nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước đối vớikinh tế tư nhân

- Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân

Trang 6

- Đề xuất các quan điểm và các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện hệthống Luật pháp - Hệ thống cơ chế, chính sách và Biện pháp tổ chức thựchiện nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân

Để đạt được các mục tiêu trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ:

- Hệ thống hoá cơ sở lý luận, thực tiễn quản lý nhà nước đối với kinh tế

tư nhân ở Việt Nam hiện nay

- Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân giaiđoạn đổi mới từ năm 1986 đến nay

- Phân tích những kết quả đạt được, chỉ ra những bất cập cùng nhữngnguyên nhân tồn tại để có định hướng cho việc tiếp tục hoàn thiện quản lý nhànước đối với kinh tế tư nhân

- Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn, đề xuất phương hướng và hệthống các giải pháp hoàn thiện vai trò quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: dưới góc độ kinh tế chính trị, vai trò quản lýnhà nước đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của kinh tế tư nhân ở ViệtNam được nghiên cứu với những nội dung cơ bản liên quan đến hệ thống cơchế chính sách, cơ chế hoạt động của bộ máy quản lý và vai trò quản lý nhànước nhằm thúc đẩy sự phát triển của kinh tế tư nhân, đặc biệt trong việc cảithiện môi trường kinh doanh hiện nay

- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu về vai trò quản lý nhà nước đối vớikinh tế tư nhân là một vấn đề rất rộng, vì vậy luận văn chỉ nghiên cứu nhữngvấn đề về vai trò, nội dung quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân từ năm

1986 đến nay và hệ thống giải pháp nhằm nâng cao vai trò quản lý nhà nướcđối với kinh tế tư nhân trong thời gian tới

5 Phương pháp nghiên cứu

Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài này dựa vào các

Trang 7

trương đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách pháp luật của Nhànước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc phát triển kinh tế tư nhân.Đồng thời, kế thừa các công trình khoa học nghiên cứu về vai trò quản lý củanhà nước đối với hoạt động của nền kinh tế nhiều thành phần hiện nay tại Việt Nam.

Luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể như: phân tích tổng hợp, quynạp và diễn giải, phương pháp hệ thống, lôgíc và lịch sử, thống kê, so sánh,phương pháp nghiên cứu tổng kết thực tiễn kết hợp với ý kiến chuyên gia đểthực hiện mục tiêu nghiên cứu của luận văn

6 Những đóng góp mới của Luận văn

- Luận văn góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận, thực tiễn quản lý nhànước đối với kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay

- Luận văn đã phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối vớikinh tế tư nhân giai đoạn đổi mới từ năm 1986 đến nay

- Trên cơ sở phân tích thực trạng quản lý, luận văn chỉ ra những bất cậpcùng những nguyên nhân tồn tại để có định hướng cho việc tiếp tục hoànthiện quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân

- Luận văn đã đề xuất phương hướng và hệ thống các giải pháp hoànthiện vai trò quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận vănđược kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về kinh tế tư nhân và quản lý nhà nước đối

với kinh tế tư nhân

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân trong

quá trình đổi mới ở Việt Nam

Chương 3: Quan điểm, mục tiêu và các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà

nước đối với khu vực kinh tế tư nhân

Trang 8

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN VÀ QUẢN LÝ

NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KINH TẾ TƯ NHÂN

1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN

1.1 Quan niệm về kinh tế tư nhân

Khái niệm kinh tế tư nhân hay khu vực kinh tế tư nhân hiện nay còn cónhiều ý kiến chưa đồng nhất Ở nhiều nước, thuật ngữ “kinh tế tư nhân” được

sử dụng để phân biệt với kinh tế nhà nước Theo nghĩa rộng, nền kinh tế được

phân chia thành hai khu vực kinh tế chủ yếu: 1) Kinh tế nhà nước và 2) Kinh

tế tư nhân.

Kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế được hình thành và phát triển dựa trênnền tảng chủ yếu là sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và lợi ích cá nhân.Trong lịch sử phát triển kinh tế, kinh tế tư nhân đã ra đời từ rất sớm, gắn liềnvới sự hình thành và phát triển kinh tế hàng hoá và ngược lại, sự hình thành

và phát triển kinh tế hàng hoá lệ thuộc vào sự phát triển kinh tế tư nhân Dướichế độ công xã nguyên thuỷ, chưa có sở hữu tư nhân và do đó chưa có kinh tế

tư nhân Sở hữu tư nhân xuất hiện khi chế độ công xã nguyên thủy tan rã vàbắt đầu hình thành kinh tế tư nhân Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác -Lênin đã mô tả một cách đầy đủ và toàn diện về sự xuất hiện của sở hữu tưnhân: chế độ sở hữu tư nhân ra đời là kết quả của quá trình phát triển lâu dàicủa lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội và là cơ sở làm nảy sinh,tồn tại và phát triển kinh tế tư nhân Sự tồn tại lâu dài và phát triển mạnh mẽcủa kinh tế tư nhân trong lịch sử đã chứng tỏ kinh tế tư nhân mang trong mình

nó một động lực mạnh - động lực cá nhân thuộc tính tồn tại lâu dài của conngười và cả xã hội loài người

Trang 9

Sự phát triển của kinh tế tư nhân trong lịch sử đã được thể hiện ở nhiềuhình thức và phương thức khác nhau Trong thời đại kinh tế sản xuất hàng hoánhỏ, hệ thống kinh tế vận động trong trạng thái sản xuất giản đơn, hầu nhưkhông có giá trị thặng dư, do đó không có tích luỹ cho tái sản xuất mở rộng.

Đó là nền kinh tế tất yếu, kinh tế sinh tồn Nền sản xuất ở đây chủ yếu là dựavào hai nhân tố: tài nguyên và lao động Trong điều kiện đó, kinh tế tư nhânđược biểu hiện ở hình thức kinh tế của các hộ sản xuất cá thể Sự phát triểncủa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất hàng hoá - tiền tệ đã làm nảy sinhquan hệ tư bản và diễn ra quá trình chuyển hoá thành tư bản Trong nền kinh

tế bắt đầu hình thành nên các chủ thể kinh doanh đầu tư tư bản và sử dụng laođộng làm thuê nhằm tạo ra giá trị thặng dư Quá trình tiến hoá đó đã diễn ra ởmột số nước phương Tây từ thế kỷ XVI, XVII và gắn liền với sự thủ tiêu chế

độ phong kiến và hình thành phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Trongthời đại kinh tế phát triển- kinh tế thị trường, mục tiêu cuối cùng của sản xuấtkinh doanh không chỉ đơn giản là để sinh tồn mà là tạo ra giá trị thặng dư.Một mô hình sản xuất kinh doanh mới ra đời - mô hình doanh nghiệp Trongđiều kiện đó, kinh tế tư nhân được biểu hiện ở một hình thức tổ chức sản xuấtmới đại biểu cho một lực lượng sản xuất mới - hình thức doanh nghiệp

Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường hiện đại, do đặc điểm của lựclượng sản xuất và quan hệ sản xuất, kinh tế cá thể vẫn tiếp tục tồn tại và phát

triển bên cạnh hình thức doanh nghiệp Kinh tế cá thể và doanh nghiệp khu

vực kinh tế tư nhân là hai hình thức biểu hiện chủ yếu của kinh tế tư nhân.

- Kinh tế cá thể là hình thức kinh tế của một hộ gia đình, một cá nhân

hoạt động dựa trên quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất của chính hộhay cá nhân đó, qui mô vốn và lao động nhỏ, giá trị thặng dư không đáng kể

và do đó, kinh tế cá thể vẫn chủ yếu hoạt động theo qui luật tái sản xuất giản đơn

- Các doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân được hình thành và phát triển

trong nền kinh tế thị trường với nhiều hình thức khác nhau, hoạt động dựa

Trang 10

trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và nói chung có quy mô vốn lớn hơnkinh tế cá thể và có thuê mướn lao động Mục tiêu của các doanh nghiệp làtạo ra ngày nhiều hơn giá trị thặng dư Quy luật chi phối hoạt động của doanhnghiệp là tái sản xuất mở rộng.

Ở nước ta, kinh tế tư nhân được hình thành và phát triển mạnh mẽ gắnliền với sự nghiệp đổi mới, quan niệm về kinh tế tư nhân cũng từng bướcđược thể hiện rõ hơn Đại hội IX của Đảng xác định nền kinh tế nước ta có 6thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, tiểu chủ,kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế tư bản có vốn đầu

tư nước ngoài

Đến Đại hội X Đảng ta đã xác định nền kinh tế nước ta có 5 thành phầnkinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tưbản tư nhân) kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Như vậy, ở nước ta hiện nay, kinh tế tư nhân không phải là một thànhphần kinh tế mà là một khu vực kinh tế gồm hai thành phần kinh tế: thành phầnkinh tế cá thể, tiểu chủ và thành phần kinh tế tư bản tư nhân Ở đây, khái niệmkhu vực kinh tế tư nhân được dùng để chỉ các thành phần kinh tế cùng một chế

độ sở hữu về tư liệu sản xuất Hai thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản

tư nhân đều thuộc cùng một chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, vì vậycũng thuộc khu vực kinh tế tư nhân Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hànhTrung ương Đảng khoá IX đã ra Nghị quyết số 14/NQ-TW ngày 18-3-2002 vềtiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triểnkinh tế tư nhân, nêu rõ: “kinh tế tư nhân gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế

tư bản tư nhân, hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hìnhdoanh nghiệp của tư nhân đã phát triển rộng khắp trong cả nước”1

1 Đảng Cộng Sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá IX (Lưu hành nội bộ), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.55.

Trang 11

So với Đại hội IX, Đại hội X, lần này vừa có kế thừa, vừa có bổ sung,phát triển thêm một số điểm cho phù hợp với tình hình mới (như: để chungkinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân vào thành phần kinh tế tư nhân; khẳngđịnh vai trò của kinh tế tư nhân, doanh nghiệp cổ phần).

Xét về quan hệ sở hữu, kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhânđều thuộc cùng loại hình sở hữu tư nhân, khác với sở hữu nhà nước, sở hữutập thể Kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân là hai thành phầnkinh tế khác nhau về trình độ phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sảnxuất Tuy nhiên, trong thực tế, việc phân định rạch ròi đâu là kinh tế tư bản tưnhân không phải là việc giản đơn bởi sự vận động phát triển, biến đổi khôngngừng của thành phần kinh tế này và sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố như:tính thời đại, đặc điểm ngành nghề, lĩnh vực sản xuất kinh doanh

1.2 Bản chất của kinh tế tư nhân

Để xác định bản chất của kinh tế tư nhân, cần xem xét kinh tế tư nhântrên ba mối quan hệ cơ bản: quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ trong

tổ chức quản lý sản xuất và quan hệ phân phối sản phẩm

- Về quan hệ sở hữu: sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất là cơ sở tồn tại

của kinh tế tư nhân Sở hữu tư nhân phát triển từ thấp lên cao và bao gồm haihình thức cơ bản:

Một là, Sở hữu tư nhân nhỏ là sở hữu của cá nhân hay hộ gia đình sản

xuất ra sản phẩm bằng sức lao động của chính cá nhân hay hộ gia đình đó Sởhữu tư nhân nhỏ là hình thức sở hữu tồn tại chủ yếu trong nền sản xuất hànghoá giản đơn, giá trị thặng dư không đáng kể

Hai là, Sở hữu tư nhân lớn gắn liền với sự xác lập nền sản xuất lớn, là

đại biểu của nền kinh tế hàng hoá phát triển đến trình độ cao, của phươngthức sản xuất tư bản công nghiệp Trong thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ tư bản,

sở hữu tư nhân lớn ra đời dựa trên cơ sở tích tụ tư bản (vốn) và sử dụng lao

Trang 12

mở rộng nhằm không ngừng phát triển sản xuất kinh doanh, tạo ra ngày càngnhiều hơn giá trị thặng dư.

Đối với hình thức kinh tế cá thể, do dựa trên qui mô nhỏ và hầu nhưkhông sử dụng lao động làm thuê, nên việc tổ chức quản lý sản xuất được diễn

ra trong phạm vi cá thể Các cá nhân tự mình tổ chức sản xuất hoặc chịu sựphân công, quản lý của người chủ gia đình trong quá trình sản xuất kinh doanh.Kinh tế tiểu chủ là hình thức tổ chức sản xuất có quy mô sản xuất, kinhdoanh lớn hơn kinh tế cá thể, tự mình trực tiếp lao động và có thuê một phầnlao động

Đối với hình thức tổ chức kinh doanh kiểu kinh tế tư bản tư nhân, việc tổchức quản lý sản xuất được biểu hiện ở mô hình doanh nghiệp Như đã nêu ởtrên, mô hình tổ chức quản lý doanh nghiệp ra đời gắn liền với sự hình thànhcủa phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Trong nền kinh tế thị trường,doanh nghiệp là một mô hình tổ chức kinh doanh mà chủ thể doanh nghiệpđồng thời là chủ thể tư bản (vốn), có thuê mướn lao động và có mục tiêu tạo

ra giá trị thặng dư Mô hình doanh nghiệp ngay từ khi mới ra đời đã thể hiện làmột mô hình tổ chức sản xuất mới, khác với hình thức kinh tế cá thể

- Về quan hệ phân phối: thực chất, quan hệ phân phối là việc giải quyết

mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa các cá nhân tham gia vào quá trình tái sảnxuất Trong kinh tế tư nhân các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh khácnhau có quan hệ phân phối khác nhau Đối với kinh tế cá thể, do dựa vào sứclao động của bản thân nên sản phẩm và kết quả lao động là hoàn toàn thuộc

về chính hộ hay cá nhân đó Đối với kinh tế tư bản tư nhân, nói chung quan

hệ phân phối được dựa trên nguyên tắc là: chủ sở hữu tư liệu sản xuất chiếmphần sản phẩm thặng dư còn người lao động được hưởng phần sản phẩm tấtyếu Trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa cổ điển, khi kinh tế tư bản tư nhânmới hình thành, các yếu tố khoa học - công nghệ và trình độ quản lý chưa

Trang 13

đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất, nền kinh tế phát triển theochiều rộng, dựa vào khai thác tài nguyên và sức lao động Quan hệ phân phốichủ yếu dựa trên sự đóng góp về vốn, tư liệu sản xuất và sức lao động Sảnphẩm thặng dư là thuộc về nhà tư bản.

Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, các yếu tố khoa học - công nghệ,trình độ tổ chức quản lý của chủ doanh nghiệp, trình độ, tay nghề của ngườilao động, thị trường… đóng vai trò ngày càng quan trọng hơn trong quá trìnhsản xuất, chủ doanh nghiệp không còn là người sỏ hữu duy nhất về vốn và tưliệu sản xuất Hơn nữa, trong điều kiện mới, nhà nước có vai trò quan trọngđiều tiết quan hệ phân phối Do vậy, quan hệ phân phối trong các doanhnghiệp trở nên phức tạp hơn Sản phẩm thặng dư ngoài phần đóng góp chonhà nước và tích luỹ cho tái sản xuất mở rộng, được phân phối lại bằng rấtnhiều hình thức khác nhau và cho các yếu tố đóng góp vào quá trình tạo ra giátrị thặng dư như: lao động, tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh, vốn cổ phần

1.3 Đặc điểm của kinh tế tư nhân

Kinh tế tư nhân có một số đặc trưng cơ bản sau đây:

Một là, kinh tế tư nhân gắn liền với lợi ích cá nhân - động lực thúc đẩy

xã hội phát triển.

Sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người từ xưa đến nay đã cho thấyrằng lợi ích của mỗi cá nhân là động lực trước hết và chủ yếu thúc đẩy xã hộiphát triển Điều cốt yếu là phải tạo ra sử dụng động lực đó phù hợp và phục

vụ cho lợi ích chung của toàn xã hội Nền kinh tế thị trường tồn tại mấy trămnăm vẫn chủ yếu là dựa trên lợi ích cá nhân, tôn trọng lợi ích cá nhân Vấn đề

là Nhà nước, với tư cách là tổ chức quản lý xã hội, phải định hướng, dẫn dắtlợi ích cá nhân hài hòa với lợi ích xã hội Thực tế cũng cho thấy, nền kinh tế

kế hoạch hóa tập trung đã đề cao quá mức lợi ích nhà nước tập thể, coi nhẹ lợiích cá nhân, do đó đã làm thui chột động lực phát triển kinh tế - xã hội Trong

Trang 14

đã tạo ra một động lực mạnh mẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Quátrình chuyển đổi của nền kinh tế nước ta trong những năm qua cũng đã chứngminh điều đó Sự hồi sinh và phát triển của kinh tế tư nhân trong những nămđổi mới vừa qua chính là nhờ sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợiích xã hội trong quá trình sản xuất, do đó đã tạo ra động lực quan trọng thúcđẩy tăng trưởng kinh tế.

Do gắn liền với lợi ích cá nhân nên kinh tế tư nhân có sức sống mãnhliệt Quá trình quốc hữu hóa trong nền kinh tế mệnh lệnh trước đây đã bằngmọi cách xóa bỏ kinh tế tư nhân Tuy nhiên, trong môi trường khắc nghiệt đó,kinh tế tư nhân vẫn len lỏi tồn tại Trong một thời gian dài, kinh tế gia đìnhvới một phần ruộng đất rất nhỏ do hợp tác xã để lại nhiều khi là nguồn thunhập chính của các hộ nông dân Kinh tế tư nhân, cá thể bị ngăn cấm bởi cácmệnh lệnh của nhà nước nhưng vẫn tồn tại như một tất yếu khách quan

Ở miền Bắc nước ta, bộ phận kinh tế gia đình với phần ruộng đất 5%trong thời kỳ tập thể hóa nông nghiệp đã thể hiện rõ vai trò to lớn của nó.Công cuộc cải tạo nền kinh tế miền Nam được tiến hành quyết liệt từ năm

1976 đến trước năm 1986, nhưng các hình thức kinh tế tư nhân vẫn tồn tại,tập thể hóa nông nghiệp cũng đã không thành công Mặc dù bị hạn chế gắtgao bằng nhiều mệnh lệnh nhưng kinh tế tư nhân ở miền Nam thời kỳ này vẫntồn tại ở dạng "kinh tế ngầm" và chi phối lại nền kinh tế

Ở hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, kinh tế tư nhân đã gầnnhư bị xóa bỏ hoàn toàn nhưng trong thời kỳ chuyển đổi từ những năm 1990,chỉ cần nới lỏng một vài trói buộc, là ngay lập tức kinh tế tư nhân lại xuấthiện "như nấm sau mưa" Sự phát triển nhanh chóng của các doanh nghiệpthuộc kinh tế tư nhân ở nước ta kể từ sau khi có Luật Doanh nghiệp tư nhân

và Luật Công ty (năm 1991) cũng đã chứng minh điều đó

Hai là, kinh tế tư nhân mà tiêu biểu là doanh nghiệp của tư nhân là mô hình tổ chức kinh doanh của nền sản xuất hàng hóa ở giai đoạn cao.

Trang 15

Hoạt động sản xuất trao đổi hàng hóa ra đời gắn liền với sự phân cônglao động xã hội Có thể nói, quá trình đó bắt đầu từ thời kỳ tan rã của chế độcộng sản nguyên thuỷ Tuy nhiên, trong hàng nghìn năm tồn tại cho đến trướckhi xuất hiện nền sản xuất đại công nghiệp, đó là một nền sản xuất hàng hóagiản đơn, gắn liền với sản xuất nhỏ, tự cung, tự cấp.

Hình thức tổ chức sản xuất doanh nghiệp là sản phẩm của nền sản xuất

xã hội hóa Nó được phát triển cùng với sự xác lập của phương thức sản xuất

tư bản chủ nghĩa và gắn liền với nền đại công nghiệp Trước đó, đơn vị cơbản của nền kinh tế xã hội là gia đình dựa trên cơ sở huyết thống hoặc côngtrường thủ công Với hình thức tổ chức sản xuất doanh nghiệp, năng suất laođộng và hiệu quả sản xuất tăng lên nhiều, trình độ xã hội hóa cũng được pháttriển nhanh chóng

Kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa Ở đâykinh tế hàng hóa đã thực sự thay đổi về chất, gắn liền với sản xuất lớn, hiệnđại Trong đó, cơ cấu của kinh tế thị trường chủ yếu là dựa trên cơ sở của môhình tổ chức doanh nghiệp có mục tiêu cao nhất và cuối cùng là tạo ra giá trịthặng dư Cơ chế hoạt động tất yếu của nó là không ngừng chuyển giá trịthặng dư thành tích luỹ tăng thêm của sự phát triển kinh tế Trong lịch sử pháttriển của xã hội loài người cho đến nay, đó là mô hình tổ chức kinh doanh cóhiệu quả nhất, có vai trò tiến bộ nhất để thúc đẩy sự phát triển của lực lượngsản xuất Lịch sử phát triển kinh tế cho thấy rằng, mô hình tổ chức doanhnghiệp đã, đang và còn tiếp tục là một mô hình tổ chức kinh tế có hiệu quả,phù hợp với cơ chế thị trường hiện đại

Ba là, kinh tế tư nhân là nền tảng của kinh tế thị trường.

Các nhà kinh tế đều cho rằng cơ chế thị trường là cách thức tốt nhất vàduy nhất (ít nhất là cho đến nay) để một nền kinh tế vận hành có hiệu quả cao.Kinh tế thị trường là phương tiện để đạt đến một nền sản xuất lớn, hiện đại Sựsụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa càng cho phép chúng ta khẳng định rằng

Trang 16

các quốc gia, dù với chế độ chính trị khác nhau, đều không thể không sử dụng

cơ chế thị trường Ngược lại, kinh tế thị trường khó có thể tồn tại và phát triểnnếu không có sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân Nói cách khác, cơ chế thịtrường hiện đại chính là dạng thức sinh tồn của kinh tế tư nhân mà điển hình là

mô hình tổ chức doanh nghiệp Hình thức tổ chức sản xuất này là sản phẩm tựnhiên của cơ chế thị trường và tự nó lớn lên trong cơ chế thị trường

Bất kỳ một nền kinh tế nào hoạt động theo cơ chế thị trường đều phảithừa nhận và khuyến khích mô hình tổ chức doanh nghiệp này Ngược lại, môhình tổ chức doanh nghiệp tự nó ứng xử theo cơ chế thị trường và có sức sốngmãnh liệt trong môi trường của cơ chế thị trường Trong khi đó, kinh tế quốcdoanh, do quản lý theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, được sinh ra bởi cácmệnh lệnh của nhà nước trong các nền kinh tế mệnh lệnh, mặc dù được độngviên, hướng dẫn và chỉ thị rằng chúng phải ứng xử theo cơ chế thị trườngnhưng chúng vẫn khó thích ứng được

Ở Việt Nam muốn phát triển kinh tế thị trường thì phải phát triển kinh tế

tư nhân nói chung và mô hình tổ chức doanh nghiệp nói riêng

Tóm lại, sự tự do tham gia kinh doanh của kinh tế tư nhân mà chủ yếu làcác doanh nghiệp vào bất kỳ lĩnh vực sản xuất kinh doanh và dịch vụ nàocũng là cơ sở của cơ chế thị trường - ở đó có sự cạnh tranh giữa người bán vàngười mua Đó chính là động lực thúc đẩy kinh tế tăng trưởng

1.4 Đặc điểm của kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay

Kinh tế tư nhân ở nước ta đang tồn tại và phát triển trong những điều

kiện chủ yếu sau đây:

- Kinh tế tư nhân là sản phẩm của công cuộc đổi mới do Đảng ta khởixướng và được phát triển trong điều kiện nhà nước xã hội chủ nghĩa Về mặtkinh tế, nhà nước đang nắm trong tay một lực lượng vật chất to lớn, có khảnăng chi phối, mọi hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước Nhà nước địnhhướng sự phát triển của các thành phần kinh tế thông qua hệ thống các chính

Trang 17

sách, công cụ quản lý kinh tế vĩ mô như chính sách tài chính, tiền tệ, kế hoạchhoá, chính sách kinh tế đối ngoại v.v… Hơn nữa, ở nước ta cũng đã hìnhthành một hệ thống chính trị, xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Thể chếchính trị đó cùng với hệ tư tưởng, nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc tồn tại

và phát triển dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng cộng sản theo định hướng

xã hội chủ nghĩa có tác động mạnh mẽ và có tính quyết định đối với các thànhphần kinh tế, kể cả kinh tế tư nhân

- Kinh tế tư nhân ở nước ta ra đời và phát triển trong điều kiện quan hệsản xuất thống trị trong xã hội không phải là quan hệ sản xuất tư bản chủnghĩa Khác với thời kỳ ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản, kinh tế tưbản tư nhân ra đời gắn liền với sự thủ tiêu quan hệ sản xuất phong kiến và xáclập sự thống trị, chi phối của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, phục vụ chogiai cấp tư sản và nhà nước tư sản Kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay cũngkhác với kinh tế tư nhân ở nhiều nước khác - nơi mà quan hệ sản xuất tư bảnchủ nghĩa là quan hệ sản xuất thống trị Sự tồn tại và phát triển của kinh tế tưnhân ở nước ta hiện nay được coi như là một công cụ, là những hình thức tổchức sản xuất kinh doanh theo mục tiêu của xã hội chủ nghĩa, là bộ phận cấuthành của quan hệ sản xuất định hướng xã hội chủ nghĩa

- Kinh tế tư nhân nước ta ra đời và phát triển trong thời kỳ đất nước đangquá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế chậm phát triển, trong bối cảnhthực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giải phóng sức sản xuất, chủ độnghội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành vấn đề trung tâm Trong điều kiện đó, đểđạt được mục tiêu xây dựng một xã hội có cơ sở vật chất kỹ thuật cao hơn chủnghĩa tư bản, việc khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân trở nên như một tấtyếu lâu dài và cần được coi như là một cách thức, phương tiện tất yếu để đilên chủ nghĩa xã hội

- Do những điều kiện tồn tại đó, kinh tế tư nhân ở nước ta có đặc điểm

khác về bản chất so với kinh tế tư nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa Điều đó

Trang 18

+ Kinh tế tư nhân ở nước ta là kết quả của chính sách phát triển kinh tếnhiều thành phần, là bộ phận hữu cơ của nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa Như vậy, kinh tế tư nhân ở nước ta ra đời và phát triển vì bảnthân của công cuộc đổi mới và phục vụ cho sự nghiệp đổi mới Vì vậy, nómang trong mình bản chất khác với kinh tế tư bản tư nhân ở các nước tư bảntrước đây và hiện nay Là sản phẩm của đổi mới, người tham gia làm kinh tế

tư nhân phần lớn xuất thân từ những đảng viên, đoàn viên, cán bộ quân đội vàtầng lớp tri thức, sinh ra và trưởng thành trong chế độ mới Người lao độngtrong các doanh nghiệp cũng thuộc giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớptri thức được hình thành trong xã hội mới Trong các doanh nghiệp đã và đanghình thành các tổ chức chính trị - xã hội do Đảng Cộng Sản Việt Nam tổ chức

và lãnh đạo Các tổ chức này là bộ phận của hệ thống thể chế chính trị hoạtđộng vì mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa Như vậy, kinh tế tư nhân ở nước ta chịu sự tác động sâu sắc bởi hệ tưtưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và là một bộ phận của nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa

+ Kinh tế tư nhân ở nước ta phát triển theo định hướng mà Đảng cộngsản Việt Nam đề ra thông qua hệ thống các chính sách, pháp luật của nhànước xã hội chủ nghĩa Việt Nam Hệ thống chính sách và pháp luật đó thểhiện ý chí của nhân dân, vì lợi ích của quảng đại quần chúng nhân dân.Thông qua hệ thống chính sách và pháp luật, nhà nước xã hội chủ nghĩabằng các công cụ kinh tế có thể hướng sự phát triển của các doanh nghiệpvào những ngành, những địa bàn đáp ứng nhu cầu của nhân dân, tăng cườngtính xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển của đất nước Thông qua cácchính sách kinh tế vĩ mô, nhà nước có thể điều tiết việc sử dụng lao động,phân phối thu nhập của kinh tế tư nhân nhằm đảm bảo các mục tiêu địnhhướng xã hội chủ nghĩa

Trang 19

+ Kinh tế tư nhân ở nước ta ngay từ khi mới ra đời đã mang trong mình

nó những yếu tố có tính xã hội chủ nghĩa Điều đó thể hiện ở chỗ: kinh tế tưnhân mà đặc biệt là các doanh nghiệp đại diện cho một lực lượng sản xuấtmới, góp phần quan trọng vào giải phóng lực lượng sản xuất, thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế và trực tiếp giải quyết nhiều vấn đề xã hội gay gắt (lao động,việc làm, xoá đói giảm nghèo…)

- Các doanh nghiệp kinh tế tư nhân thông qua các hoạt động của mìnhcũng góp phần tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, gắn kết các giai tầng xãhội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

- Mối quan hệ trực tiếp giữa chủ doanh nghiệp kinh tế tư nhân với côngnhân, người lao động trong từng doanh nghiệp không còn là quan hệ đốikháng, không hoàn toàn là quan hệ chủ - thợ, quan hệ giữa một bên là chủ sởhữu tư liệu sản xuất và một bên là người làm thuê, bị bóc lột, bị “tước đoạt”hết tư liệu sản xuất như trước đây nữa mà mang tính chất hợp tác

- Sự phát triển của kinh tế tư nhân góp phần tăng tính cộng đồng dân tộc,yếu tố dân tộc, hình ảnh của dân tộc trong cộng đồng quốc tế Sự mở rộng củacác loại sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam trên thị trường quốc tế là mộtminh chứng nhằm tăng cường hình ảnh Việt Nam, yếu tố Việt Nam trong tiếntrình hội nhập kinh tế quốc tế

1.5 Vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân ở nước ta

Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, khuyến khích và tạo điều kiệnthuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của mọi thành phần kinh tế, làmột chủ trương khoa học, lâu dài của Đảng và Nhà nước ta nhằm phát huy mọinguồn lực để phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời hoàn thiện cơ chế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa Các thành phần kinh tế kinh doanh theopháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác cạnh tranh lành mạnh

Trang 20

Đổi mới cơ chế kinh tế, hoàn thiện quan hệ sản xuất để phù hợp với trình

độ phát triển của lực lượng sản xuất, giải phóng sức sản xuất của các thànhphần kinh tế là một thành công lớn của Đảng ta trong thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội

Đại hội lần thứ VI của Đảng (tháng 12-1986) đánh dấu bước ngoặt quantrọng trong việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và khẳng định sự tồntại lâu dài của nền kinh tế nhiều thành phần Tiếp đó, Văn kiện Đại hội lầnthứ VII năm 1991 của Đảng tiếp tục khẳng định: Nhà nước thực hiện nhấtquán chính sách kinh tế nhiều thành phần, không phân biệt đối xử, khôngtước đoạt tài sản hợp pháp, không gò ép tập thể hóa, không áp đặt hình thứckinh doanh, khuyến khích các hoạt động có lợi cho quốc kế dân sinh

Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII năm

1992 và Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996) và lần thứ IX (2001) luôn khẳngđịnh tiềm năng của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế, chủ trương khuyếnkhích kinh tế tư nhân trong nền kinh tế, chủ trương khuyến khích kinh tế tưnhân được phát huy không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trongnhững lĩnh vực mà pháp luật không cấm và được pháp luật bảo vệ, được tự dolựa chọn hình thức kinh doanh…

Nhờ có chính sách đúng đắn này mà khu vực kinh tế tư nhân ở nước ta

có những bước phát triển vượt bậc trong những năm gần đây Các doanhnghiệp khu vực kinh tế tư nhân ngày càng có vị trí hết sức quan trọng trongnền kinh tế của đất nước

Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, kinh tế quốc doanh "một mìnhmột chợ" không công nhận thị trường, giá cả, càng không chấp nhận cạnhtranh, do đó không có yêu cầu nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của sảnphẩm Ngày nay, khi chấp nhận nền kinh tế thị trường với nhiều thành phầnkinh tế, nhất là trước yêu cầu hội nhập, cạnh tranh là điều không thể tránhkhỏi thì nhân tố thúc đẩy cạnh tranh đương nhiên thuộc về doanh nghiệp khu

Trang 21

vực kinh tế tư nhân (có sự tham gia của doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài) Do vậy, kinh tế tư nhân là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự cạnh tranhtrong nền kinh tế, thể hiện ở chỗ:

- Là khu vực góp phần ngày càng quan trọng vào sự tăng trưởng tổng

sản phẩm quốc nội (GDP).

Cho đến nay, mặc dù vẫn còn chịu nhiều rào cản, nhiều đối xử bất công

và nhũng nhiễu của một số công chức tiêu cực, nhưng thành phần kinh tế này

đã trở thành lực lượng chủ chốt góp phần vào nhịp độ tăng trưởng của nềnkinh tế, trong tất cả các ngành, từ nông nghiệp đến công nghiệp, từ thươngnghiệp nội địa đến xuất khẩu Tuy vậy, tầm quan trọng của sự đóng góp nàyhình như chưa được quan tâm, thừa nhận: người ta thường nhấn mạnh yêu cầutăng đầu tư phát triển, tăng nhịp độ phát triển của GDP, nhưng hầu như ít nóiđến nhân tố nào có vị trí quyết định trong việc tăng trưởng đó Vị trí của kinh

tế tư nhân mỗi năm được tăng lên trong đầu tư phát triển cũng như trong tăngtrưởng đã trở thành xu thế quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, không chỉhiện nay mà có ý nghĩa lâu dài trong tương lai

- Là lực lượng quan trọng thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ

nông nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế phát triển đa dạng, cả công nghiệp, nôngnghiệp, dịch vụ, thúc đẩy công nghiệp hóa - hiện đại hóa theo yêu cầu của thịtrường và hội nhập kinh tế quốc tế

Có thể khẳng định rằng, nếu chỉ đơn thuần dựa vào đầu tư của nhà nước,không dựa vào lực lượng của kinh tế tư nhân thì chắc chắn không thể thựchiện được yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng thị trường

- Là nơi bảo đảm cung cấp nhiều việc làm cho người lao động và là lực

lượng đóng góp lớn vật chất, công sức trong các hoạt động xã hội, từ thiện,xóa đói giảm nghèo, giảm bớt sự chênh lệch, giàu, nghèo trong xã hội

Trong thực tế, nơi giải quyết việc làm chủ yếu và quyết định nhất cho sốngười đến tuổi lao động tăng lên hàng năm vẫn là từ các doanh nghiệp, các cơ

Trang 22

sở kinh tế tư nhân Hơn thế nữa, việc bố trí việc làm cho số lao động dôi dư từcác doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp lại vẫn phải dựa vào kinh tế tư nhân.

- Là nơi đang hình thành một lớp người mới, một tầng lớp xã hội mới, đó

là doanh nhân, họ đích thực là người lính xung kích thời bình được xã hộithừa nhận

Trong thực tế, tầng lớp doanh nhân mới của xã hội chính là những người

có đủ dũng cảm đưa tài sản, vốn liếng ra kinh doanh trong một môi trườngchưa đủ thông thoáng, còn nhiều rủi ro; khá nhiều người trong số họ đang trởthành nhà quản lý tài năng, nắm bắt tri thức hiện đại về quản lý và công nghệ

để đảm bảo không ngừng nâng cao sức cạnh tranh của từng sản phẩm hànghóa cũng như hiệu quả kinh doanh của từng doanh nghiệp dân doanh trongsóng gió của kinh tế thị trường

Những điểm trên đã nói lên vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng của kinh

tế tư nhân trong diện mạo mới của nền kinh tế nước ta trong điều kiện hiệnnay Điều cần ghi nhận là, kinh tế tư nhân ra đời đánh dấu một bước tiến vượtbậc trong tiến trình giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất tại Việt Nam,

là sự thể hiện của quản lý dân chủ hóa kinh tế Từ nay, đã xuất hiện một bộphận kinh tế thực sự của dân, do dân tự đầu tư, tự chịu trách nhiệm kinhdoanh trong những lĩnh vực mà pháp luật không cấm, không bị hạn chế vềquy mô và địa bàn kinh doanh Tuy vậy, vẫn còn những khoảng cách giữađường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước với việc thực thicủa cơ quan quản lý; kinh tế tư nhân đã được làm nhưng có làm được haykhông, có phát huy được tất cả tiềm năng của mình hay không, điều đó còntuỳ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan và khách quan rất cần được phân tích,trong đó có trách nhiệm về mặt quản lý nhà nước

Về đường lối, quan điểm đã có bước đột phá quan trọng từ Đại hội lầnthứ IX của Đảng về dân chủ hóa kinh tế, phát huy sức mạnh của các thành

Trang 23

phần kinh tế Đại hội IX khẳng định: "Động lực chủ yếu để phát triển đấtnước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nôngdân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa với các lợi ích cá nhân, tậpthể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh

tế, của toàn xã hội"2 Đại hội IX cũng chỉ rõ: "Trong thời kỳ quá độ, có nhiềuhình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế, giai cấp, tầnglớp xã hội khác nhau, nhưng cơ cấu, tính chất, vị trí của các giai cấp trong xãhội ta đã thay đổi nhiều vùng với những biến đổi to lớn về kinh tế, xã hội.Mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và đấutranh trong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng"3 Đó chính là cơ sở đểthống nhất nhận thức, phát huy sức mạnh của cộng đồng dân tộc, phát huymọi tiềm năng của kinh tế tư nhân Đồng thời "Khuyến khích phát triển kinh

tế tư bản tư nhân rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh màpháp luật không cấm"4

1.6 Các hình thức biểu hiện của kinh tế tư nhân ở nước ta

Kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay bao gồm: Kinh tế cá thể, tiểu chủ vàcác loại hình doanh nghiệp của kinh tế tư nhân

Hộ kinh doanh cá thể, tiểu chủ:

- Quan niệm về hộ kinh doanh cá thể, tiểu chủ

Theo tinh thần Nghị định 66/HĐBT ngày 03/03/1992 của Hội đồng Bộtrưởng (nay là Chính phủ) và Nghị định số 109/2004/NĐ-CP ngày 2/4/2004của Chính phủ về đăng ký kinh doanh, thì hộ kinh doanh cá thể do một cánhân hoặc hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địađiểm, sử dụng không quá 10 lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm

2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2001, tr.23

3 Đảng Cộng sản Việt Nam: Sđd, tr.22, 31

Trang 24

bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.

- Đặc trưng cơ bản của hộ kinh doanh cá thể:

+ Có địa điểm, khu vực sản xuất kinh doanh ổn định, sở hữu tư nhân về

tư liệu sản xuất và vốn

+ Chủ hộ kinh doanh cá thể toàn quyền quyết định về phương thức quản lý,

tổ chức sản xuất kinh doanh cũng như phân phối lợi nhuận, đồng thời họ cũngchính là người phải chịu toàn bộ trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh.+ Quy mô sản xuất thường nhỏ lẻ, phân tán Hoạt động được tiến hành ởnhiều ngành nghề mà pháp luật không cấm, trên nhiều lĩnh vực của đời sốngkinh tế - xã hội và thường sử dụng lao động của gia đình, dòng họ

+ Có sự thống nhất rất cao về lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội của cácthành viên bởi lẽ giữa các thành viên trong hộ gắn bó rất chặt chẽ với nhaubằng nhiều mối quan hệ như quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, truyềnthống, đạo đức gia đình Chính nhờ mối quan hệ xã hội ràng buộc bền chặt đótrong một gia đình mà các thành viên có chung mục đích, vì vậy họ sẽ có sựthống nhất cao về lợi ích kinh tế cũng như lợi ích xã hội Mặt khác, do gắnvới sở hữu tư nhân nên chủ hộ có thể truyền lại cho thế hệ sau về kiến thức,kinh nghiệm, phương pháp, tài sản trong sản xuất kinh doanh, từ đó tạo rađộng lực thúc đẩy kinh tế hộ ngày càng phát triển

+ Các hộ gia đình cá thể được đăng ký kinh doanh theo quy định củapháp luật (trừ những hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối,những người bán hàng rong, quà vặt, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phảiđăng ký kinh doanh)

- Vai trò, vị trí của hộ kinh doanh cá thể:

+ Hộ kinh doanh cá thể được thừa nhận là một đơn vị kinh tế tự chủ Hộ

là một đơn vị cơ bản tham gia vào quá trình sản xuất và cung ứng những sảnphẩm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng cho xã hội và xuất khẩu

Trang 25

với sự phong phú đa dạng về ngành nghề đã phát triển dưới nhiều hình thức(hộ gia đình, trang trại gia đình…) thu hút nhiều lao động ở nông thôn cũngnhư thành thị, đặc biệt là lao động nông nhàn tại các vùng nông thôn tham giavào sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống và ổn định chính trị - xã hội,đóng góp tích cực vào việc tăng trưởng kinh tế của đất nước.

Các loại hình doanh nghiệp của kinh tế tư nhân:

Theo Luật Doanh nghiệp năm 1999, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế

có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanhtheo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinhdoanh Trong khái niệm này, "kinh doanh" được hiểu là việc thực hiện một,một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụsản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời.Luật Doanh nghiệp đã quy định rõ các quyền và nghĩa vụ của doanhnghiệp Luận văn xin tóm tắt một số đặc điểm chủ yếu về các loại hình doanhnghiệp của kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay

- Doanh nghiệp tư nhân: doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một

cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọihoạt động của doanh nghiệp Doanh nghiệp tư nhân có đặc điểm như sau:+ Doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân, chủ doanh nghiệp là người laođộng chính Trong một số trường hợp chủ doanh nghiệp cũng có thể thuêngười khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh

+ Là doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn, có nghĩa là chủ doanhnghiệp phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với kết quảkinh doanh của doanh nghiệp

+ Chủ doanh nghiệp có toàn quyền quyết định quy mô, phương thức hoạtđộng, quản lý kinh doanh cũng như sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế vàthực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật

- Công ty trách nhiệm hữu hạn (hai thành viên trở lên) Công ty trách

Trang 26

nhiệm hữu hạn thuộc loại công ty đối vốn, chịu trách nhiệm hữu hạn về cáckhoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã cam kết góp,đặc điểm của loại hình doanh nghiệp này là:

+ Công ty trách nhiệm hữu hạn là một pháp nhân kinh doanh, khôngđược phép phát hành chứng khoán

+ Vốn của công ty (vốn điều lệ) được chia ra từng phần không nhất thiếtphải bằng nhau Mức góp tuỳ khả năng tài chính của từng thành viên Các thànhviên chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác củadoanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp phần vào doanh nghiệp.+ Các thành viên có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốngóp của mình cho người khác nhưng phải chào bán phần vốn đó cho tất cả cácthành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công

ty, với cùng điều kiện và các thành viên cũng có thể chuyển nhượng chongười ngoài trong trường hợp các thành viên còn lại không mua hoặc muakhông hết

+ Quyền quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty thuộc về Hộiđồng thành viên Chủ tịch hội đồng thành viên và Giám đốc (Tổng giám đốc).+ Phân phối lợi nhuận theo tỷ lệ phần vốn góp của các thành viên, nhưngcông ty chỉ được chia lợi nhuận khi công ty kinh doanh có lãi, đã hoàn thànhnghĩa vụ nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.+ Số lượng thành viên không lớn (không quá 50 người) nên tổ chức vàquản lý tương đối giản đơn

- Công ty cổ phần Đây cũng là loại hình công ty đối vốn, chịu trách

nhiệm hữu hạn, trong đó các thành viên (cổ đông) có cổ phần và chỉ chịutrách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trongphạm vi số vốn góp vào doanh nghiệp Đây là một trong những loại hìnhdoanh nghiệp đang chiếm nhiều ưu thế, hoạt động có hiệu quả và mang tính

Trang 27

xã hội hóa rất cao Đặc điểm của loại hình công ty này là:

+ Công ty được phép phát hành chứng khoán ra công chúng theo quyđịnh của pháp luật về chứng khoán Như vậy, nếu công ty có uy tín, làm ănphát đạt, cần mở rộng quy mô sản xuất thì việc huy động vốn trong mọi tầnglớp dân cư sẽ rất thuận lợi

+ Vốn điều lệ được chia thành các phần bằng nhau Mệnh giá cổ phiếu

do công ty quyết định phù hợp với hoạt động kinh doanh, đồng thời thu hútđược sự tham gia rộng rãi của công chúng

+ Các cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình chongười khác, trừ hai trường hợp sau: thứ nhất, cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãibiểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác Thứ hai,trong thời gian ba năm đầu hoạt động kể từ ngày công ty được cấp giấy chứngnhận đăng ký kinh doanh, các cổ đông sáng lập phải cùng nhau nắm giữ ítnhất 20% số cổ phần phổ thông được quyền chào bán; cổ phần phổ thông của

cổ đông sáng lập có thể chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông nếuđược sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông

+ Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý và điều hành hoạt động kinhdoanh, quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty,trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông

+ Công ty cổ phần chỉ được trả cổ tức cho các cổ đông khi công ty kinhdoanh có lãi, đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính kháctheo quy định của pháp luật Mức cổ tức cho từng cổ phần do Hội đồng quảntrị quyết định căn cứ vào kết quả kinh doanh cùng nhiều yếu tố khác liên quan.+ Số lượng cổ đông tối thiểu là 3 và không hạn chế số lượng tối đa

Trang 28

hình doanh nghiệp có tính tổ chức và xã hội hóa cao cả về vốn cũng như vềhoạt động.

- Công ty hợp danh Đây là một loại hình tổ chức ít được các chủ sở hữu

lựa chọn Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó phải có ít nhất hai thànhviên hợp danh, ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn.Thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghềnghiệp, đồng thời chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về cácnghĩa vụ của công ty; thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản

nợ của công ty trong phạm vi phần vốn đã góp của mình

Tóm lại, việc chủ sở hữu tư nhân lựa chọn loại hình tổ chức kinh doanhnào để thực hiện hoạt động kinh doanh của mình, trong khuôn khổ quy địnhcủa pháp luật là tuỳ thuộc ý tưởng, quy mô, tiềm lực về vốn và năng lực quản

lý của chính chủ sở hữu cùng các yếu tố khác Nếu quy mô sở hữu nhỏ với ýtưởng bảo toàn tính độc lập trong kinh doanh, người chủ sở hữu có thể chọnloại hình hộ kinh doanh cá thể Nếu quy mô sở hữu lớn hơn và muốn thựchiện kinh doanh một cách độc lập, người chủ sở hữu có thể chọn loại hìnhDoanh nghiệp tư nhân hoạt động theo Luật doanh nghiệp, còn nếu muốn mởrộng quy mô kinh doanh, các chủ sở hữu sẽ liên kết với nhau để tổ chứcdoanh nghiệp dưới hình thức Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần.Thực tế, ở nước ta hiện nay, sự phát triển của kinh tế tư nhân nói chung vàviệc lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh là tuỳ thuộc rất lớn vào hệ thốngcác chính sách và việc triển khai các chính sách đó trong thực tiễn

Để thuận lợi và thống nhất cho việc nghiên cứu đề tài, trong phạm vi củaluận văn chỉ đề cập tới các loại hình doanh nghiệp của kinh tế tư nhân có đăng ký

kinh doanh với cơ quan Nhà nước gồm các loại hình cụ thể sau: Doanh nghiệp tư

nhân, Công ty Trách nhiệm hữu hạn, Công ty Cổ phần, Công ty hợp danh.

Trang 29

2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÀ HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KINH TẾ TƯ NHÂN

2.1 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân

2.1.1 Khái niệm

Nói một cách khái quát, quản lý nhà nước là sự tác động của nhà nướcvào toàn bộ hoạt động của nền kinh tế quốc dân nói chung, khu vực kinh tế tưnhân nói riêng bằng hệ thống luật pháp, chính sách, tổ chức, các chế tài vềkinh tế - tài chính và các công cụ quản lý để thực hiện chức năng quản lý nhànước đối với nền kinh tế, nhằm thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng, ổn định tìnhhình chính trị - xã hội của đất nước Ở mỗi quốc gia, khi vận hành nền kinh tếtheo cơ chế thị trường đều có sự giống nhau là chịu sự chi phối và tác độngcủa các quy luật kinh tế và các quy luật đặc thù của mỗi chế độ xã hội Nhànước nhận thức, vận dụng các quy luật đó vào quản lý, điều hành nền kinh tếbằng hệ thống pháp luật, chính sách, cơ chế tổ chức thực hiện Tuỳ theo bảnchất kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia và trình độ khác nhau về sự nhận thức,vận dụng các quy luật kinh tế của nhà nước mà nền kinh tế cũng như hệ thốngcác doanh nghiệp của nước đó phát huy hiệu lực và hiệu quả khác nhau Điều

đó càng nói lên tầm quan trọng đặc biệt của hoạt động quản lý nhà nước đốivới doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung

Như vậy, có thể hiểu: Quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân là sự tác

động có tổ chức và bằng pháp quyền của nhà nước, thông qua một hệ thống các chính sách kinh tế với các công cụ kinh tế lên hệ thống các chủ thể kinh

tế tư nhân (hộ kinh doanh cá thể, các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân) trong nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực phát triển kinh tế, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đã đặt ra.

Trang 30

2.1.2 Nội dung quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân

Có thể khái quát nội dung quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân như sau:

Một là, xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án đầu tư phát triển kinh tế tư nhân

Dựa trên chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đã được hoạch định trongtừng thời kỳ, nhà nước xây dựng định hướng chiến lược phát triển cho từngloại hình doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân trong từng thời kỳ đó,gắn chặt với các quy hoạch phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân nóichung, từng ngành, từng lĩnh vực, từng vùng lãnh thổ nói riêng Trên cơ sởchiến lược phát triển kinh tế tư nhân đó, nhà nước, mà cụ thể là các cơ quanquản lý nhà nước sẽ tiếp tục lập ra các bản quy hoạch, kế hoạch cụ thể nhằmtừng bước hướng khu vực kinh tế tư nhân thực thi những chỉ tiêu đã được đềcập trong chiến lược phát triển kinh tế

Hai là, xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động của kinh tế tư nhân

Đây là sự đòi hỏi nhà nước cần phải thực hiện vai trò chủ thể trongquản lý đối với kinh tế tư nhân bằng những văn bản pháp luật được thể chếhoá một cách thống nhất, đồng bộ, nhất quán, ổn định và rõ ràng Chỉ cónhư vậy mới hướng được toàn bộ hoạt động của kinh tế tư nhân nói riêng

và của nền kinh tế - xã hội nói chung đi đúng quỹ đạo của chiến lược pháttriển kinh tế - xã hội đã được xác định, từ đó tạo ra được những điều kiện

để thu hút, tổ chức và hướng dẫn quần chúng, kinh tế tư nhân hành độngđúng pháp luật

Ba là, thực hiện các hoạt động hỗ trợ công dân lập thân, lập nghiệp; hỗ trợ doanh nhân làm ăn có hiệu quả

Nội dung quản lý nhà nước này thể hiện ở việc nhà nước xây dựng vàban hành các cơ chế, chính sách, biện pháp cụ thể nhằm khuyến khích, hỗ trợ,

Trang 31

phát triển khu vực kinh tế tư nhân phù hợp định hướng mục tiêu phát triểntrong từng giai đoạn và phù hợp với đặc điểm của từng loại hình doanhnghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân trong từng ngành, từng lĩnh vực và ởtừng địa bàn lãnh thổ Đồng thời nhà nước cũng áp dụng những biện pháp cụthể để động viên, khuyến khích cộng đồng dân cư đầu tư sản xuất, kinh doanhlàm giàu cho bản thân và cho cộng đồng.

Bốn là, thực hiện điều tiết, quản lý đối với kinh tế tư nhân

Thu thuế là một hoạt động mang tính chất công mà hiện nay bất kỳ nhànước nào cũng cần tiến hành để đảm bảo sự cân đối của nền kinh tế, để duy trìhoạt động của bộ máy nhà nước Nhà nước có quyền thu thuế đối với cácdoanh nghiệp vì nhà nước chính là chủ thể quản lý, là “người” đứng ra bảo vệnhững quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, là “người” hỗ trợ chodoanh nghiệp khi doanh nghiệp gặp khó khăn trong quá trình hoạt động…; vàngược lại, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh nhằm thu lợi nhuận nên lẽđương nhiên doanh nghiệp phải trích một phần lợi nhuận đó để thực hiệnnghĩa vụ với nhà nước Những khoản thu này chính là nguồn cơ bản tạo nênngân sách của một quốc gia

Năm là, thực thi sự kiểm tra, giám sát sự tuân thủ pháp luật của các hộ kinh doanh cá thể và doanh nhân tư nhân trên thương trường

Hoạt động kiểm tra, giám sát sự tuân thủ pháp luật của các hộ kinhdoanh cá thể và các doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân trong quá trìnhhoạt động trong nền kinh tế là một nội dung cơ bản của công tác quản lýnhà nước đối với kinh tế tư nhân Hoạt động này sẽ được diễn ra trong suốtquá trình hoạt động của hộ kinh doanh cá thể và các doanh nghiệp thuộckinh tế tư nhân, kể từ khi được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấpgiấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Đây cũng là một hoạt động đòi hỏi

sự kết hợp chặt chẽ của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội và

Trang 32

cũng đang đặt ra nhiều thách thức cho công tác quản lý nhà nước đối vớikinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ởnước ta hiện nay.

2.2 Cơ sở lý luận về hoàn thiện quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân

Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân là quá trìnhđổi mới một cách toàn diện luật pháp, chính sách và phương thức tác động vĩ

mô của chính phủ đối với kinh tế tư nhân nhằm đạt được các định hướng vàmục tiêu phát triển kinh tế tư nhân và toàn bộ nền kinh tế nói chung

2.2.1 Sự cần thiết khách quan của quá trình hoàn thiện quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân

Quá trình cải cách hệ thống quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp đãđược triển khai mạnh mẽ ở các nước trên thế giới từ cuối những năm 70 đầunhững năm 80 thế kỷ XX Đến nay, hầu hết các chính phủ đều nhận thấy sựcần thiết phải đổi mới việc quản lý đối với doanh nghiệp Lý do quan trọngnhất của việc này là do sự can thiệp quá mức, nhiều khi phi kinh tế có tínhchất hành chính của chính phủ vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của củacác doanh nghiệp làm cho chúng mất quyền chủ động, sáng tạo, tạo tâm lýtrông chờ, ỷ lại vào nhà nước, thủ tiêu cơ chế cạnh tranh trong doanh nghiệp,dẫn đến hệ thống doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả và kìm hãm sự pháttriển nền kinh tế quốc dân

Rõ ràng, sự cần thiết phải đổi mới quản lý nhà nước đối với doanh nghiệpkhông còn là vấn đề phải bàn cãi nữa, song, ở các quốc gia khác nhau, do cácyếu tố lịch sử, do những điều kiện về chính trị - kinh tế - xã hội, nhận thức quanniệm về xây dựng và phát triển nền kinh tế là khác nhau, do đó, việc đổi mớiquản lý nhà nước trong khu vực doanh nghiệp ở từng nước, trong từng thời kỳcũng khác nhau, với những lý do cụ thể khác nhau

Trang 33

Ở Việt Nam, việc đổi mới quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân xuấtphát từ những lý do chủ yếu sau:

Một là, khu vực kinh tế tư nhân đã có sự thay đổi về hình thức, số lượng

và chất lượng:

- Về hình thức: từ chỗ các doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân chỉ do mộtngười làm chủ nay sang chỗ có nhiều người cùng sở hữu và quản lý một doanhnghiệp: công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần

- Về số lượng: trong giai đoạn từ 2000 đến 2005 số lượng các doanhnghiệp thuộc kinh tế tư nhân ở nước ta đã phát triển rất nhanh năm 2000 tổng

số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 14.457 doanh nghiệp, đến năm

2006 số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 43.625 doanh nghiệp5

- Về chất lượng: cùng với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học - kỹ thuật trêntoàn cầu, các doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam hiện nay có trình

độ công nghệ phát triển hơn nhiều so với trước đây Các doanh nghiệp hiện naychủ yếu sử dụng hệ thống máy tính và mạng kết nối toàn cầu để tìm kiếm thôngtin trên mạng, bán hàng qua mạng, quảng cáo sản phẩm trên các trang Web…Đây là một sự biến đổi phức tạp, đòi hỏi chủ thể quản lý là nhà nước phải thayđổi cả về các thức và nội dung quản lý, để có thể bắt kịp với thời đại mới

Hai là, môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân luôn biến đổi do chịu sự tác động của xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực

Vấn đề này được thể hiện qua những mặt sau đây:

- Chuyển từ đối tác chủ yếu là các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩasang đối tác là tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt sự khác nhau về hệthống chính trị, về trình độ kinh tế, những mâu thuẫn trong quá khứ để lại…

Kế hoạch và Đầu tư, ngày 5/7/2007

Trang 34

- Chuyển từ đối tác chủ yếu là các tổ chức nhà nước sang đối tác là tất cảcác loại tổ chức, tư bản, tư nhân, phi chính phủ…

- Chuyển từ hoạt động nội thương sang ngoại thương, không chỉ baogồm xuất nhập khẩu hàng hoá, mà còn xuất nhập khẩu vốn, xuất nhập khẩu trithức, xuất nhập khẩu dịch vụ…

Ba là, yêu cầu nâng cao vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường

Thực tế ở Việt Nam trong thời gian qua đã chứng minh, kinh tế thịtrường là một bước đi tất yếu để đạt mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh” Song, một nền kinh tế vận động theo cơ chếthị trường phải tuân theo đòi hỏi khách quan là nhiều loại hình doanh nghiệpthuộc các thành phần kinh tế khác nhau cùng tồn tại, cùng hợp tác và cạnhtranh lẫn nhau Chính điều đó đặt ra yêu cầu: nhà nước dù muốn hay khôngphải điều chỉnh lại sự tác động của mình lên mọi hoạt động của hệ thốngdoanh nghiệp, phải chuyển đổi chức năng quản lý kinh tế của nhà nước chophù hợp với yêu cầu mới của đối tượng quản lý theo những hướng sau: giảm

sự can thiệp của nhà nước vào các hoạt động sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp để phát huy tối đa quyền chủ động của các doanh nghiệp với tưcách là các pháp nhân kinh tế độc lập; đồng thời, nhà nước tập trung vào quản

lý kinh tế vĩ mô, tạo lập môi trường pháp lý lành mạnh, bình đẳng, thuận lợicho sự phát triển của mọi thành phần kinh tế

Như vậy, đứng trước những yêu cầu bức bách của phát triển nền kinh tế,

việc đổi mới quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp khu vực kinh tế tưnhân là một tất yếu khách quan Sự đổi mới này đòi hỏi nhà nước phải phânđịnh rõ chức năng, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước, đổi mới cơ chếtác động của các cơ quan quản lý nhà nước đến doanh nghiệp, cũng như thayđổi, sửa đổi hệ thống văn bản chính sách điều chỉnh các hoạt động của doanh

Trang 35

nghiệp Có như vậy, vai trò và năng lực của nhà nước trong tổ chức quản lý

hệ thống doanh nghiệp mới được tăng cường trong điều kiện mới

2.2.2 Nội dung hoàn thiện quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân

Hoàn thiện quản lý nhà nước khu vực kinh tế tư nhân bao hàm nhiềukhía cạnh khác nhau liên quan đến luật pháp, thể chế, bộ máy hoạt động vàcon người Có thể khái quát các nội dung đó như sau:

- Hoàn thiện hệ thống luật pháp, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tếđược tự do kinh doanh hợp pháp, không phân biệt đối xử, đều được điểuchỉnh bởi một hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, nghiêm minh,phù hợp với cơ chế thị trường và thông lệ quốc tế

- Đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch,

kế hoạch phát triển kinh tế nhằm định hướng đúng cho hoạt động của kinh tế

tư nhân, bảo đảm sự phát triển bền vững của kinh tế tư nhân trong nền kinh tếthị trường Các văn bản này cần đảm bảo tính khoa học và đạt hiệu quả cao

- Đổi mới cơ chế, chính sách kinh tế nhằm xây dựng một hệ thống cơ

chế, chính sách đồng bộ, hoàn chỉnh minh bạch, rõ ràng, đảm bảo lợi ích chotất cả các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế, không phân biệt đối xử,tạo sự cạnh tranh lành mạnh, đúng pháp luật

- Đổi mới công tác tổ chức thi hành pháp luật và chính sách về doanh

nghiệp thông qua việc nâng cao hiệu quả ban hành các văn bản hướng dẫn thihành pháp luật; tổ chức tốt công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật tới đôngđảo quần chúng nhân dân; kiện toàn tổ chức hoạt động của các cơ quan thựcthi pháp luật

- Xây dựng, tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà

nước về kinh tế phù hợp với yêu cầu cải cách hành chính, bảo đảm bộ máytinh gọn, chống quan liêu, cửa quyền, gây phiền hà cho hoạt động sản xuất,

Trang 36

3 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN

3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Ngay từ cuối những năm 1970, các nhà lãnh đạo, mà tiêu biểu là lãnh tụĐặng Tiểu Bình của Trung Quốc, đã cho rằng Trung Quốc cần mạnh dạn tiếpthu và học tập các thành quả văn minh mà xã hội loài người đã sáng tạo ra,tiếp thu và học tập tất cả những phương thức kinh doanh, những phương phápquản lý tiên tiến, phản ánh quy luật sản xuất hiện đại của các nước trên thếgiới, kể cả các nước tư bản chủ nghĩa

Trong quá trình hoàn thiện nội dung và phương thức quản lý nhà nướcđối với khu vực kinh tế tư nhân, Trung Quốc coi trọng việc điều chỉnh chínhsách mở cửa theo hướng hỗ trợ gia công xuất khẩu, bảo hộ sản xuất trongnước, song sẵn sàng nhượng bộ lợi ích trước mắt, miễn giảm thuế và đưa ranhiều chính sách ưu đãi khác hấp dẫn để thu hút tối đa nguồn vốn nước ngoài;đồng thời tích cực khai thác nguồn vốn ODA để phát triển cơ sở hạ tầng, tạothuận lợi thu hút FDI, phát triển kinh tế đất nước

Để hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước xuất khẩu, Chính phủ TrungQuốc đã thực hiện chính sách thuế hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu, như:chính sách hoàn thuế công thương ở khâu sản xuất cuối cùng, năm 1988 hoàntrả toàn bộ thuế gián tiếp luỹ tiến ở các khâu từ sản xuất đến lưu thông đối vớicác sản phẩm xuất khẩu

Cơ chế quản lý ngoại thương của Trung Quốc không ngừng được cảicách theo hướng cởi mở hơn Tình trạng độc quyền của nhà nước ngày càngthu hẹp, như trong ngoại thương, các công ty tư nhân được phép xuất khẩutrực tiếp Chính sách hoàn thuế và điều chỉnh linh hoạt tỷ giá được sử dụngthích hợp, tích cực như một công cụ trợ giúp doanh nghiệp xuất khẩu

Nhằm cải thiện căn bản môi trường kinh doanh, Trung Quốc đã áp dụngmức giá dịch vụ thống nhất cho các doanh nghiệp Các thủ tục phê duyệt dự

Trang 37

án được đơn giản hoá, những hạn chế đối với thủ tục hành chính được giảmtổi thiểu Do quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển kinh tế tư nhânđặt ra nhiều yêu cầu mới, đòi hỏi xử lý nhanh và mang tính địa phương cao,nên Trung Quốc có xu hướng tăng cường phân cấp quản lý kinh tế - xã hộicho các địa phương, cơ sở như: quyền phê duyệt các dự án đầu tư và đưa racác hạn mức đầu tư riêng.

Trong thời gian tới, Trung Quốc tích cực hỗ trợ các doanh nghiệp vừa vànhỏ (chiếm 99% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động ở Trung Quốc, tạo ra75% cơ hội việc làm cho các thành phố, thị trấn) theo hướng: đẩy mạnh điềuchỉnh cơ cấu, khuyến khích và bồi dưỡng năng lực sáng tạo kỹ thuật, tăngcường hỗ trợ thuế và tài chính - tiền tệ, kiện toàn hệ thống dịch vụ xã hội…đểtạo môi trường cạnh tranh bình đẳng; công bố định kỳ “danh mục ngành nghềthích hợp cho doanh nghiệp vừa và nhỏ”, và xây dựng “Luật Thúc đẩy pháttriển các doanh nghiệp vừa và nhỏ” giảm dần các điều kiện để doanh nghiệpvừa và nhỏ được quyền chủ động xuất nhập khẩu và hợp tác đối ngoại

3.2 Kinh nghiệm của một số nước đang phát triển Châu Á

Đa số các nước đang phát triển Châu Á đều rất quan tâm đến vai trò củanhà nước trong việc định hướng và hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân sản xuất vàđẩy mạnh xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực với hàm lượng chế biến tăng dần

Để hỗ trợ tích cực xuất khẩu, các nước trong khu vực đều coi trọng tự dohoá kinh doanh của khu vực tư nhân, và nhà nước chủ ý sử dụng linh hoạt cácbiện pháp ưu đãi về thuế, trợ giúp xuất khẩu và thực thi chính sách tỷ giá linhhoạt theo hướng duy trì đồng bản tệ “rẻ”

Về nhập khẩu, nét chung của các nước trong khu vực là đều cố gắnggiảm nhập khẩu hàng tiêu dùng, dành ngoại tệ để nhập nguyên vật liệu, máymóc thiết bị, công nghệ, sản phẩm trung gian để tăng cường sản xuất trongnước, giải quyết việc làm và phát triển nền công nghiệp nội địa

Trang 38

Trong những năm gần đây, tất các các nước ASEAN đều từng bước đề ra

và xúc tiến một loạt chính sách tự do hoá thương mại, tự do hoá đầu tư, khuyếnkhích FDI, đặc biệt là mời chào các công ty đa vào kinh doanh tại đất nướcmình Cũng như vậy các doanh nghiệp trong nước sớm trở nên “cứng cáp” hơn.Phát triển cơ sở dịch vụ kỹ thuật phục vụ sự phát triển của khu vực kinh

tế tư nhân, đặc biệt là thuận tiện hoá thủ tục hải quan được các nước hết sứccoi trọng Từ những năm 1989, Singapore đã xây dựng và vận hành hệ thốngTradenet để làm thủ tục xuất nhập khẩu hàng hoá Thực chất đây là một mạngmáy tính nối liền giữa các cơ quan quản lý thủ tục nhà nước về xuất nhậpkhẩu với các doanh nghiệp và được nối mạng với mội số nước khác, cho phépcác công ty hoàn tất toàn bộ thủ tục xin giấy phép xuất nhập khẩu qua mạngtrong vòng 30 phút mà không cần đem chứng từ đến tận “cửa quan” để xinphép Nhờ vậy, một côngtennơ đi qua cửa cảng của Singapore chỉ tốn 45 giây.Mỗi năm mạng Tradenet này tiết kiệm cho Singapore khoảng 1 tỷ đôlaSingapore chi phí thủ tục hành chính và những lợi ích không thể đo lườngkhác liên quan đến cung cấp thông tin thương mại giữa các đối tác tham giatrong mạng này

Về triển vọng, nhìn chung các nước ASEAN sẽ chủ trương tiếp tục gópphần đẩy mạnh và đón nhận toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế, đặc biệt làngành công nghiệp; phát triển kinh tế theo hướng tri thức, phát triển các tậpđoàn kinh tế đủ sức giữ vững thị phần trong nước và cạnh tranh hiệu quả ởnước ngoài trên cơ sở đa dạng hoá, linh hoạt hoá và hiện đại hoá công nghệsản xuất và dịch vụ cung ứng sản phẩm, hoàn thiện hơn cơ chế thị trường vàtăng cường cải thiện môi trường kinh doanh theo các cam kết, tiêu chuẩn vàthông lệ quốc tế

Tóm lại, Trung Quốc và các nước đang phát triển ở Châu Á, ASEAN

hay bất kỳ quốc gia nào khác, dù khác nhau về lộ trình, nội dung và hình thức

Trang 39

trong quá trình hoàn thiện quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân,

song đều nổi lên nhiều điểm chung, đó là việc coi trọng: sự ổn định về kinh tế

- chính trị - xã hội và luật pháp đầu tư; sự mềm dẻo, hấp dẫn của hệ thống chính sách khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân; phát triển cơ sở hạ tầng; phát triển của đội ngũ lao động có kỹ thuật cao, có trình độ khoa học - công nghệ; phát triển một nền hành chính quốc gia tiên tiến, hiệu quả.

Tất cả các chính sách trên từ phía nhà nước đều nhằm định hướng chuyểnnền kinh tế từ phát triển sản xuất thay thế nhập khẩu, sang tích cực hướng vềxuất khẩu và kết hợp thay thế nhập khẩu tuỳ theo lợi thế so sánh của mỗi nước,mỗi giai đoạn phát triển và tình hình thị trường trên cơ sở tích cực đàm phántham gia các tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế, chủ động mở cửa thực hiện tự

do hoá thương mại, đầu tư, kinh doanh; tuân thủ các cam kết, tiêu chuẩn vàthông lệ quốc tế trong các lĩnh vực và hoạt động quản lý, kinh doanh; hỗ trợtăng sức cạnh tranh của khu vực doanh nghiệp trong nước theo cả hai hướng:khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đồng thời tích cực hỗ trợ phát triểncác tập đoàn kinh doanh lớn, định hướng hoạt động xuyên quốc gia; xúc tiếncác hoạt động thương mại và vận động đầu tư ở nước ngoài, đi đôi với khuyếnkhích các doanh nghiệp trong nước đầu tư ra nước ngoài Đặc biệt, việc cảithiện môi trường đầu tư để thu hút FDI, thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu và pháttriển kinh tế trong nước hoà nhập với sự phân công lao động và liên kết kinh tếquốc tế đều được các nước dành sự ưu tiên hàng đầu

Có thể nói, khu vực kinh tế tư nhân sẽ chỉ phát triển hiệu quả ở quốc gia

và địa phương nào có nền kinh tế, chế độ chính trị, xã hội ổn định; hệ thốngpháp luật đầu tư đầy đủ, cởi mở, tin cậy và mang tính chuẩn mực quốc tế cao;chính sách ưu đãi đầu tư linh hoạt và ở mức hấp dẫn không thua kém cácnước hoặc địa phương khác; có cơ sở hạ tầng được chuẩn bị tốt; lao động có

Trang 40

trình độ và rẻ; thị trường tiêu thụ lớn; nền hành chính hữu hiệu và các dự án

đã triển khai kinh doanh đạt hiệu quả Đặc biệt, việc quốc gia đó tham gia vàocác tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế, cũng như tuân thủ nghiêm túc cáccông ước, quy định về luật pháp đầu tư và thông lệ đối xử quốc tế…sẽ lànhững yếu tố bảo đảm lòng tin và hấp dẫn các dòng đầu tư tư nhân, thậm chícòn mạnh hơn việc đưa ra các ưu đãi tài chính cao; mặt khác, việc tăng cườngquản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân theo các nguyên tắc thịtrường phù hợp với các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế và điều kiện lịch sử

cụ thể ở quốc gia và địa phương luôn là yêu cầu chung đặt ra cho các nướctrong cả quá khứ, hiện tại và tương lai

4 BÀI HỌC THAM KHẢO DÀNH CHO VIỆT NAM TRONG VIỆC ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN

Từ những kinh nghiệm ở một số nước nói trên, có thể rút ra bài học thamkhảo cho Việt Nam như sau:

- Cần tạo môi trường kinh doanh thông thoáng

Đây chính là nội dung ưu tiên hàng đầu của bất cứ chính phủ nào trongquản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trong cơ chế kinh tế thị trường Tạomôi trường kinh doanh chiếm nhiều nỗ lực nhất, xuyên suốt nhất đối với mộtnhà nước trong quản lý kinh tế nói chung và quản lý các doanh nghiệp nóiriêng Tạo môi trường kinh doanh chính là việc xây dựng hệ thống luật phápthống nhất, bình đẳng bao gồm nhóm luật chủ thể và nhóm luật hành vi; xâydựng và phát triển cơ sở hạ tầng làm cho các vùng địa lý thông thương dễ dàng,gia tăng mong muốn và cơ hội đầu tư của các doanh nghiệp, đồng thời phát huyđược lợi thế của mỗi vùng địa lý Hình thành các loại thị trường cho các yếu tốđầu vào, đầu ra và cam kết tôn trọng các quy luật của thị trường, chính phủ chỉlàm thay đổi các thông số của các quy luật đó với mong muốn các quy luật đó

Ngày đăng: 03/02/2015, 14:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Doanh nghiệp thành lập mới 2000 - 2006 - Luận văn thạc sỹ: Quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở Việt Nam
Hình 1 Doanh nghiệp thành lập mới 2000 - 2006 (Trang 44)
Bảng quy mô nguồn vốn các doanh nghiệp - Luận văn thạc sỹ: Quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở Việt Nam
Bảng quy mô nguồn vốn các doanh nghiệp (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w