Tuy nhiên vẫn còn một số lĩnh vực ít được quan tâm nghiên cứu cụ thể là: QLDA đòi hỏi các nhà quản lý phải có một tư duy mới có những đặc thù khác với quản lý chung, có thể gọi là “tư du
Trang 1MỤC LỤC
GIỚI THIỆU CHUNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỰ ÁN VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG
DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG ĐÔ THỊ 6
MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG
DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG HỆ THỐNG KÊNH TIÊU ÚNG ĐÔNG SƠN 52
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92
Trang 2CHƯƠNG I GIỚI THIỆU CHUNG 1.1 TÊN ĐỀ TÀI
“Một số giải pháp quản lý chất lượng dự án đầu tư cơ sở hạ tầng đô thị, nghiên cứu tình huống dự án đầu tư xây dựng hệ thống tiêu úng Đông Sơn - Thanh Hoá”
1.2 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hạ tầng đô thị (HTĐT) đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của một nước Một hệ thống hạ tầng đô thị hiện đại, thông suốt, liên hoàn là động lực
to lớn thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển: Nó góp phần làm giảm đáng kể tiêu hao lao động xã hội trong quá trình sản xuất kinh doanh (SXKD) và trong lưu thông phân phối, giảm thời gian đi lại của nhân dân; tăng khả năng tiếp cận thị trường mua bán trao đổi hàng hoá góp phần tăng trưởng sản xuất xã hội; góp phần làm đẹp bộ mặt đô thị, cải thiện điều kiện sống của nhân dân nhất là các đô thị tập trung đông dân cư; tăng cường an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội Chính
vì vậy phát triển HTĐT là nhiệm vụ hàng đầu của mỗi một quốc gia, phát triển HTĐT phải đi trước phát triển SXKD một bước
Để phát triển HTĐT cần phải phát triển cơ sở hạ tầng; phát triển phương tiện; cải tiến tổ chức, quản lý, khai thác kinh doanh vận tải Trong đó phát triển cơ sở hạ tầng là vấn đề then chốt Các dự án dầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đô thị hầu hết
có vốn đầu tư lớn và có tác động rất lớn đến kinh tế xã hội và môi trường Các quyết định đầu tư không đúng đắn, phù hợp sẽ để lại hậu quả to lớn, đặc biệt quan trọng là lãng phí vốn đầu tư trong điều kiện nước ta đang rất khó khăn về vốn đầu
tư Trong những năm vừa qua vốn đầu tư cho HTĐT cũng rất lớn
Công tác quản lý hạ tầng đô thị hiện nay ở nước ta còn rất nhiều bất cập, mỗi một ngành: Giao thông công chính, Điện lực, Viễn thông… Chính phủ lại phân cấp quản lý HTĐT theo mảng của mình Vì vậy, các dự án xây dựng mới hay nâng cấp HTĐT tại các địa phương thường bị chồng chéo, dự án của ngành này lại ảnh hưởng hay thậm chí phá hỏng kết cấu HTĐT thuộc quản lý của ngành khác Ví dụ,
dự án xây dựng mới tuyến cáp điện ngầm của ngành Điện lực lại phá hỏng kết cấu đường bộ của ngành giao thông mới được đầu tư… Quản lý HTĐT ở các địa
Trang 3phương nhất là các thành phố lớn của nước ta hiện nay hết sức chồng chéo, không thống nhất được hệ thống các quy hoạch HTĐT của các ngành dẫn đến lãng phí rất nhiều nguồn lực, đây chính là nguyên nhân chính giải thích vì sao hệ thống HTĐT của Việt Nam hiện nay hết sức yếu kém Trong khi vốn đầu tư vào việc xây dựng HTĐT chủ yếu là vốn ODA nên nếu Chính phủ, các cấp, các ngành không sớm phối hợp trong việc kết nối quản lý HTĐT thì việc đầu tư HTĐT sẽ ngày càng lãng phí và không hiệu quả trong khi đó gánh nặng nợ đọng của Chính phủ sẽ ngày càng tăng do kết cấu HTĐT không mang lại hiệu quả thúc đẩy kinh tế
xã hội phát triển như kỳ vọng
Bộ Xây dựng đã báo cáo Chính phủ về việc xây dựng một số Nghị định để tạo hành lang pháp lý cho công tác quản lý HTĐT trong tương lai Quản lý các dự án đầu tư xây dựng cơ sở HTĐT trở thành một vấn đề thời sự nóng bỏng rất cần được quan tâm
hiện nay Chính vì vậy đề tài “Một số giải pháp quản lý chất lượng dự án đầu tư cơ
sở hạ tầng đô thị, nghiên cứu tình huống dự án đầu tư xây dựng hệ thống tiêu úng Đông Sơn - Thanh Hoá” do tác giả lựa chọn mang tính thời sự và cấp thiết.
1.3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Trên cơ sở nghiên cứu, hệ thống hoá và phát triển lý luận về QLDA và nghiên cứu kinh nghiệm QLDA của thế giới, tiến hành phân tích đánh giá hiện trạng QLDA
cơ sở HTĐT của Việt Nam từ đó đưa ra một số kiến nghị về cải tiến thể chế QLDA đầu tư cơ sở HTĐT và đề xuất ứng dụng một số kỹ thuật và công cụ hữu hiệu dùng trong QLDA nhằm góp phần hoàn thiện lý luận và nâng cao chất lượng QLDA đầu tư cơ sở HTĐT ở thành phố Thanh Hoá
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Khoa học QLDA có đối tượng nghiên cứu rộng bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau như: Lý thuyết chung QLDA; quản lý chu kỳ dự án; kỹ thuật và công cụ QLDA Các phương tiện quản lý như: Quản lý chiến lược, quản lý sự phối hợp giữa các bộ phận khác nhau cùng thực hiện dự án, quản lý những tác động đến dự án, quản lý thời gian, chi phí, thiết bị, con người, thông tin, rủi ro, cung ứng vật tư …
QLDA không chỉ là một khoa học mà còn là một nghệ thuật vì vậy khoa học QLDA
Trang 4QLDA Trong đề tài này tác giả không có tham vọng đề cập đến tất cả các vấn đề của khoa học quản lý dự án mà chỉ nghiên cứu lý thuyết chung QLDA gắn với mục tiêu nghiên cứu đề xuất hoàn thiện một số vấn đề về lý luận và về thể chế đồng thời nghiên cứu ứng dụng một số kỹ thuật và công cụ QLDA hữu hiệu.
Do điều kiện và thời gian có hạn nên trong phạm vi luận văn này, đối tượng nghiên cứu của đề tài giới hạn ở dự án đầu tư kênh tiêu úng Đông Sơn, một dự
án có ý nghĩa rất lớn trong việc giải quyết úng ngập của thành phố Thanh Hóa
và một số huyện lân cận
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử được sử dụng như phương pháp luận nền tảng để nghiên cứu giải quyết các vấn đề cụ thể của đề tài Tác giả cũng đã sử dụng một loạt các phương pháp nghiên cứu khoa học khác như phương pháp phân tích thống kê, sử dụng lôgíc nhân quả, toán xác suất, toán tối ưu … Luận văn cũng đã dựa vào các khoa học như: Kinh tế đầu tư, quản lý kinh tế, quản trị doanh nghiệp …
Phương pháp nghiên cứu được thực hiện theo các bước sau:
- Xác định vấn đề cần nghiên cứu;
- Lập kế hoạch nghiên cứu;
- Lấy mẫu;
- Thu thập dữ liệu: Kết hợp nghiên cứu sơ cấp và thứ cấp;
- Xử lý dữ liệu và phân tích dữ liệu;
- Tổng hợp và viết báo cáo
Tác giả sử dụng số liệu chủ yếu là các tài liệu báo cáo thống kê của thành phố Thanh Hóa về các dự án đầu tư cơ sở HTĐT và các tài liệu từ các sách báo, số liệu thống kê của Bộ Xây dựng, Bộ Kế hoạch và đầu tư…
1.6 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
- Vận dụng lý thuyết chung về quản lý vào việc phân tích làm rõ một số lý luận
về QLDA nói chung và QLDA đầu tư xây dựng cơ sở HTĐT nói riêng;
Trang 5- Phát hiện và phân tích rõ những khiếm khuyết, bất cập trong các giai đoạn của QLDA đầu tư xây dựng cơ sở HTĐT, xác định rõ các nguyên nhân của những khiếm khuyết này;
- Đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện quản lý chất lượng
dự án đầu tư xây dựng cơ sở HTĐT gồm hai nhóm giải pháp là: Các giải pháp tăng cường thể chế QLCL dự án đầu tư xây dựng cơ sở HTĐT và các giải pháp nghiên cứu sử dụng một số kỹ thuật và công cụ QLCL hiện đại
1.7 NHỮNG HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu do cá nhân độc lập thực hiện, mang nhiều yếu tố chủ quan, vì điều kiện thời gian và ngân sách có hạn, do đó để có thể có được một nghiên cứu tổng hợp chi tiết, toàn diện và chính xác, cần thiết phải có một quỹ thời gian dài và được phối hợp bởi một nhóm nghiên cứu
Nghiên cứu được dựa trên các số liệu chủ yếu là thứ cấp, những số liệu sơ cấp được thu thập không đủ để phản ánh khách quan trong công tác QLDA cơ sở HTĐT dẫn đến những hạn chế trong quá trình nghiên cứu
Nghiên cứu chủ yếu mang tính đề xuất và cùng với sự thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế thị trường và các hành lang pháp lý của Chính phủ, do đó sẽ khó tránh khỏi những thiếu sót và có thể không phù hợp với yêu cầu quản lý các dự án đầu
tư cơ sở HTĐT trong tương lai Vì vậy, nghiên cứu cần tiếp tục được hoàn thiện
và điều chỉnh cho phù hợp
1.8 KẾT CẤU NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài gồm bốn chương:
Chương I: Giới thiệu chung
Chương II: Cơ sở lý luận về dự án và quản lý chất lượng dự án đầu tư cơ sở HTĐT Chương III: Một số giải pháp quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng hệ thống
kênh tiêu úng Đông Sơn – Thanh Hoá
Chương IV: Kết luận, kiến nghị
Trang 6CHƯƠNG II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỰ ÁN VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG
DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG ĐÔ THỊ
2.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QLDA
Trên thế giới, cùng với công cuộc cải tổ doanh nghiệp, những phương pháp quản
lý mới ra đời nhằm đáp ứng điều kiện môi trường của các doanh nghiệp đã và đang thay đổi rất nhanh: Toàn cầu hoá, cạnh tranh khốc liệt, cách mạng khoa học
kỹ thuật có những bước tiến nhảy vọt… đòi hỏi không ngừng cải tiến quản lý nhằm nâng cao hiệu quả SXKD QLDA dần hình thành và trở thành một ngành khoa học độc lập, bắt đầu bằng sự ra đời của Viện Nghiên cứu QLDA ở Mỹ năm
1969, tuy nhiên năm 1981 Ban giám đốc Viện mới quyết định tập trung nghiên cứu phát triển các khái niệm về QLDA cũng như các quy trình QLDA và QLDA được xem là một nghề độc lập Trong vòng hơn hai thập kỷ qua QLDA trở thành vấn đề thời sự nóng bỏng của nhiều tổ chức và quốc gia trên thế giới nhằm đầu tư một cách có hiệu quả nhất
Ngày nay ở các nước tiên tiến đều có các tổ chức chuyên nghiên cứu về QLDA
Có nhiều tài liệu nghiên cứu về QLDA ở nhiều khía cạnh khác nhau đã du nhập vào Việt Nam (tuy chưa được phổ biến rộng rãi) song chủ yếu tập trung vào: Phân tích hiệu quả kinh tế, tài chính dự án; các kỹ thuật và công cụ QLDA, đặc biệt là các kỹ thuật và công cụ trong giai đoạn hình thành dự án và các công cụ lập kế hoạch, tổ chức, kiểm tra dự án; các quy trình QLDA, các nghiên cứu khả thi dự án; quản lý rủi ro của dự án
Ở Việt Nam, thực hiện chính sách kinh tế đổi mới của Đảng và Nhà nước ta với chính sách thu hút đầu tư, rất nhiều các tập đoàn, doanh nghiệp trên thế giới đã đầu tư vào Việt Nam Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam 9 tháng đầu năm
2008 đạt mức cao nhất trong 10 năm qua là 57 tỷ USD (gấp 3 lần năm 2007) và
xấp xỉ vốn FDI vào Trung Quốc năm 2007 là 60 tỷ USD (nguồn
www.vneconomic.com ) QLDA theo tiêu chuẩn quốc tế trên thực tế đã dần dần được
hình thành ở Việt Nam Có nhiều nghiên cứu về QLDA song các nghiên cứu này chỉ tập trung vào các nội dung: Phân tích đánh giá dự án về tài chính và kinh tế xã hội; lập dự án đầu tư; quản trị thực hiện dự án đầu tư trong đó đề cập đến các kỹ
Trang 7thuật và công cụ lập kế hoạch thực hiện dự án, kiểm soát tài chính và tiến độ của
dự án; phần mềm QLDA
Trong lĩnh vực xây dựng HTĐT cũng có những nghiên cứu chuyên biệt có ích cho vận dụng lý luận và tổng kết thực tiễn, QLDA đầu tư cơ sở HTĐT tập trung vào các kinh nghiệm đúc kết từ thực tế QLDA đầu tư xây dựng cơ sở HTĐT của Việt Nam (đấu thầu, sử dụng tư vấn, GPMB …) các vấn đề tổ chức quản lý xây dựng HTĐT,
tổ chức hoạt động SXKD của doanh nghiệp đầu tư, xây dựng HTĐT; đánh giá dự
án đầu tư trong HTĐT; quản trị dự án đầu tư trong HTĐT đề cập đến các công cụ lập kế hoạch, quản lý nhân lực, quản lý rủi ro, quản lý thời gian và ngân sách
Tuy nhiên vẫn còn một số lĩnh vực ít được quan tâm nghiên cứu cụ thể là: QLDA đòi hỏi các nhà quản lý phải có một tư duy mới có những đặc thù khác với quản lý chung, có thể gọi là “tư duy QLDA” áp dụng cho các dự án đầu tư cơ sở HTĐT làm cơ sở, nền tảng cho việc xây dựng các quy trình, quy chế QLDA cũng như phát triển các kỹ thuật và công cụ QLDA trong lĩnh vực đầu tư xây dựng HTĐT.Vấn đề vận dụng các công cụ QLDA hữu hiệu trong quản lý dự án đầu tư cơ sở HTĐT còn ít được chú ý tới: Như trình bày ở trên, đã có một số tài liệu nghiên cứu
về quản trị dự án đầu tư giới thiệu về các công cụ lập kế hoạch như sơ đồ PERT, lịch GANTT, phương pháp đường quyết định CPM cũng như phương pháp kiểm tra tiến độ và tài chính của dự án song chỉ dừng ở mức độ nghiên cứu lý thuyết Các nguyên lý này khó ứng dụng cho dự án đầu tư xây dựng HTĐT vì quy mô lớn.Cũng có một số tài liệu giới thiệu về phần mềm QLDA MS Project song nội dung chỉ đơn thuần là tài liệu hướng dẫn sử dụng phần mềm này (tác giả của các tài liệu này đều là các chuyên gia tin học), một vài tài liệu có đề cập thêm phần lý thuyết quản trị mạng và quản trị các nguồn lực Nhìn chung trong phần hướng dẫn sử dụng phần mềm có nhiều vấn đề nêu ra thuộc về khoa học QLDA rất trừu tượng, khó hiểu Điều quan trọng chính là vì trong nội dung của các tài liệu viết về phần mềm QLDA hiện đang lưu hành ở Việt Nam chưa đưa ra các khái niệm liên quan đến QLDA mà phần mềm này đòi hỏi nên người đọc rất khó ứng dụng vào thực
tế, nếu có chỉ giới hạn ở mức dùng phần mềm này để thiết kế lịch làm việc và báo cáo tiến độ thực hiện dự án (lịch Gantt) của một dự án được lập thủ công Công dụng quan trọng nhất của phần mềm QLDA là tối ưu hoá kế hoạch lập ra bằng
Trang 8việc lựa chọn các phương án sử dụng nguồn nhân lực và thời gian thực hiện các công việc của dự án khác nhau nhằm tối thiểu chi phí, đảm bảo thời gian cho phép thực hiện dự án, là công cụ rất hữu ích trong quản lý thời gian, quản lý chi phí dự
án song vấn đề này còn ít được quan tâm
Bên cạnh đó còn có các công cụ QLDA hữu hiệu khác ít được đề cập đến như khung logíc của dự án, kỹ thuật và công cụ phân tích ảnh hưởng của môi trường
và của các bên tham gia dự án đến dự án …
Hệ thống các văn bản hành lang pháp lý của Nhà nước về QLDA đầu tư xây dựng công trình đã được ban hành, song vẫn còn có những bất cập cần nghiên cứu hoàn thiện từng bước Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhu cầu phát triển cơ sở HTĐT vô cùng lớn, Đảng và Nhà nước ta chủ trương tiếp tục đầu tư mạnh mẽ hơn nữa để phát triển cơ sở HTĐT bằng nhiều hình thức, nguồn vốn khác nhau Điều đó đòi hỏi công tác QLDA đầu tư xây dựng cơ sở HTĐT phải phát triển kịp thời, đảm bảo các công trình HTĐT có chất lượng; hiệu quả kinh tế; phù hợp với môi trường tự nhiên, xã hội và phát triển bền vững Muốn vậy, các nhà QLDA phải đổi mới tư duy theo “tư duy QLDA”, tăng cường thể chế QLDA đầu tư cơ sở HTĐT,
sử dụng tập hợp các kỹ thuật và công cụ QLDA tiên tiến theo các quy trình QLDA hiện đại, các đề xuất của tác giả trong luận văn sẽ tập trung vào các vấn đề này
2.2 DỰ ÁN ĐẦU TƯ
2.2.1 Khái niệm dự án đầu tư
Có rất nhiều cách định nghĩa về dự án:
Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá ISO trong tiêu chuẩn ISO 9000:2000 định
nghĩa như sau: “Dự án là một quá trình đơn nhất, gồm một tập hợp các hoạt động
có phối hợp và được kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, được tiến hành để đạt được một mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định bao gồm cả các ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực”.
Theo Tiến sỹ Ben Obinero Uwakweh trường đại học Cincinnati - Mỹ: “Dự án là sự
nỗ lực tạm thời được tiến hành để tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất” Theo PGS.TS Trịnh Quốc Thắng: “Dự án là sự chi phí tiền và thời gian để thực hiện một kế hoạch nhằm mục đích cho ra một sản phẩm duy nhất”.
Trang 9Từ khía cạnh này, dự án được hiểu là một tập hợp các hoạt động phụ thuộc lẫn nhau của một quá trình duy nhất dẫn đến việc tạo ra một sản phẩm hoặc một dịch
vụ được xác định rõ trước nhằm đáp ứng một hoặc một số mục đích cụ thể có tính thời điểm, trong một hoàn cảnh hạn chế về tài chính, vật tư, nhân lực và thời gian.Theo bách khoa toàn thư từ “Project” (dự án) được dịch nghĩa là “điều mà người
ta có ý định làm” hay “đặt kế hoạch cho một ý đồ, quá trình hành động”
Theo Luật Xây dựng năm 2003 được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa
Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26/11/2003 thì “Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định”.
Đối với các dự án đầu tư xây dựng cơ sở HTĐT, sản phẩm là các công trình như đường xá, cầu, cống, hệ thống thoát nước … được xây dựng mới hoặc nâng cấp, cải tạo nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, đi lại phục vụ phát triển kinh tế xã hội
Do đó có thể biểu diễn dự án đầu tư cơ sở HTĐT như sau:
=
Hình 2.1 Mô hình dự án đầu tư cơ sở HTĐT
(Nguồn: Quản lý dự án đầu tư xây dựng, PGS.TS Trịnh Quốc Thắng, 2007)
2.2.2 Tính chất của dự án
Dự án được làm rõ quan hệ giữa người có yêu cầu và người thực hiện được cụ thể hoá thông qua một uỷ nhiệm (giao việc) hoặc hợp đồng Người có yêu cầu là người mua hoặc người sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ yêu cầu đó, họ có thể là khách hàng hoặc là lãnh đạo cấp trên Người thực hiện là người được uỷ nhiệm, người được giao phó quản lý việc thực hiện dự án còn gọi là Giám đốc dự án Đối với các dự án đầu tư cơ sở HTĐT, chủ đầu tư (thường là UBND các tỉnh, huyện, thị, thành phố hoặc các Ban QLDA), sẽ ký hợp đồng với tư vấn và các nhà thầu để thực hiện dự án
Dự án đầu tư
Kế hoạch + Tiền + Thời gian +
Đất
Trang 10Ngoài người có yêu cầu và giám đốc dự án còn có nhiều tác nhân khác như êkíp thực hiện dự án, người cấp vốn, các nhà cung cấp các sản phẩm và dịch vụ chuyên môn và các đại diện của các lĩnh vực khác của môi trường ảnh hưởng tác động đến dự án.
Bên cạnh bản chất riêng của mỗi dự án, các dự án đều có những tính chất chung phân biệt dự án với các hoạt động SXKD khác của con người, đó là:
i) Tính mới, tính duy nhất: Nhìn chung, nói đến một dự án là bao hàm việc làm
ra một cái mới chưa từng được làm trước đây bằng một phương pháp trong cùng một bối cảnh hoàn toàn chính xác như nhau Dĩ nhiên là mức độ mới, duy nhất của các dự án rất khác nhau Tính chất này là sự khác nhau cơ bản phân biệt dự án với các hoạt động khác có tính chất lặp đi lặp lại và liên tục theo một chương trình được thiết lập trước
ii) Tính chất giới hạn về thời gian thực hiện: Bản chất của dự án là nhất thời,
một dự án luôn được xác định trước thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc Thời gian của dự án có thể là ngắn (trong vài tuần) cũng có thể là dài (trong nhiều năm) tuỳ theo quy mô của dự án
iii) Bị gò bó trong những ràng buộc nghiêm ngặt: Dự án được thực hiện là để
thoả mãn khách hàng, những đòi hỏi của khách hàng được phân loại theo 4 ràng buộc mà dự án phải tuân thủ:
- Các yêu cầu về tính năng của sản phẩm, dịch vụ: Đối với các dự án đầu tư cơ
sở HTĐT đó là các yêu cầu về chức năng của công trình, nó quyết định quy
mô và các chỉ tiêu kỹ thuật của công trình;
- Các định mức về chất lượng của sản phẩm, dịch vụ: Các dự án đầu tư cơ sở HTĐT phải tuân thủ các tiêu chuẩn về thiết kế, thi công;
- Thời hạn bàn giao sản phẩm, dịch vụ;
- Chi phí của dự án
Mức độ ưu tiên của 4 nhóm ràng buộc này của dự án cũng thay đổi tuỳ theo sự đòi hỏi tại mỗi một thời điểm
Trang 11Bối cảnh của dự án Ràng buộc ưu tiên
Thoả mãn khách hàng đảm bảo sự phát triển của
doanh nghiệp trong tương lai dài hạn
Hiệu suất, chất lượng sản phẩm, dịch vụ
Yêu cầu khẩn cấp, tầm quan trọng của cạnh tranh Thời hạn hoàn thành dự án
Tầm quan trọng của an toàn Tiêu chuẩn kỹ thuật của sản phẩm, dịch vụ
Bảng 2.1 Các ràng buộc ưu tiên tuỳ thuộc vào bối cảnh của dự án
iv) Một chu kỳ sống biến động: Chu kỳ sống của dự án bắt đầu khi xuất hiện một
mong muốn hoặc một nhu cầu của người yêu cầu và nếu mọi việc hoàn thành tốt đẹp nó sẽ được kết thúc sau khi bàn giao cho người yêu cầu này một sản phẩm, dịch vụ như là một sự thoả mãn nhu cầu của họ Có nhiều cách nhìn khác nhau về chu kỳ sống của dự án, thông thường người ta chia thành ba giai đoạn:
Giai đoạn xác định dự án và chuẩn bị đầu tư:
- Giai đoạn xác định dự án: Trong giai đoạn này nhu cầu được làm rõ, các
mục tiêu đã xác định cụ thể và về tổng quan dự án đã được xác định rõ sản phẩm mà nó phải bàn giao, các ràng buộc phải tuân theo và chiến lược thực hiện Đối với các dự án đầu tư cơ sở HTĐT việc xác định dự án căn cứ vào các quy hoạch phát triển HTĐT, các quy hoạch này đưa ra danh mục các dự án
ưu tiên là cơ sở để lựa chọn các dự án đầu tư
- Giai đoạn chuẩn bị đầu tư: Nhằm xác định mục đích đầu tư (sự cần thiết
phải đầu tư), xác định quy mô, phạm vi của dự án, khẳng định tính khả thi của dự án về thị trường, công nghệ, tài chính, đánh giá tác động xã hội và môi trường của dự án
Dự án đầu tư xây dựng cơ sở HTĐT theo quy định Luật Xây dựng 2003 và Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 của Chính phủ về QLDA đầu tư xây dựng công trình; Các dự án đầu tư xây dựng phải thực hiện lập dự án đầu tư xây dựng công trình (trừ các công trình sử dụng cho mục đích tôn giáo, công trình xây dựng quy mô nhỏ chỉ cần lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật), các dự án quan trọng quốc gia phải làm báo cáo đầu tư xây dựng công trình để trình Quốc hội
Trang 12thông qua chủ trương và cho phép đầu tư, các dự án nhóm A phải lập báo cáo đầu
tư xây dựng công trình để trình Thủ tướng Chính phủ cho phép đầu tư
Nội dung của các nghiên cứu này nhằm khẳng định sự cần thiết phải đầu tư, quy mô đầu tư, tổng mức đầu tư, giải pháp công nghệ, khẳng định tính khả thi của dự án về mặt thị trường, khả thi kỹ thuật (các giải pháp thực hiện dự án), khả thi về tài chính (khả năng cấp vốn, phân tích hiệu quả tài chính, kinh tế), đánh giá tác động môi trường của dự án
Giai đoạn thực hiện dự án:
Trong giai đoạn này sản phẩm hoặc dịch vụ được thực hiện theo thiết kế và kế hoạch đã lập phù hợp với những đòi hỏi của người yêu cầu Đối với các dự án đầu tư xây dựng cơ sở HTĐT trong giai đoạn này nhà thầu thực hiện xây dựng công trình, chủ đầu tư giám sát về tiến độ, tài chính và các điều kiện của hợp đồng, cục giám định và quản lý chất lượng công trình HTĐT quản lý về chất lượng công trình cũng như tiến độ thực hiện
Giai đoạn kết thúc dự án:
Trong giai đoạn này sản phẩm hoặc dịch vụ được cung cấp cho người yêu cầu, dự án được đánh giá và thực hiện các công việc kết thúc QLDA Đối với các dự án đầu tư xây dựng cơ sở HTĐT trong giai đoạn này nhà thầu, tư vấn
và chủ đầu tư hoàn tất hồ sơ hoàn công, kết thúc các hợp đồng và các thủ tục khác theo quy định hiện hành, Cục Giám định và Quản lý Chất lượng công trình đánh giá thẩm định chất lượng công trình Ở các địa phương là Sở Xây dựng chuyên ngành
Xác định dự án và chuẩn bị Thực hiện dự án Kết thúc dự án
đầu tư
Trang 13Hình 2.2 Mô hình chu kỳ của một dự án
Theo mô hình này: Mức độ sử dụng các nguồn lực (vật tư, máy móc, nhân lực) tăng dần và cao nhất ở giai đoạn thực hiện dự án, nó tỷ lệ thuận với chi phí của dự án Giai đoạn đầu được kết thúc bằng quyết định của người yêu cầu, đối với các dự án đầu tư
cơ sở HTĐT thì chính là quyết định cho phép thực hiện đầu tư, tuỳ theo loại dự án thẩm quyền thuộc Thủ tướng Chính phủ, Bộ GTVT, Bộ Xây dựng, UBND tỉnh ra quyết định Còn giai đoạn thực hiện dự án kết thúc khi công trình bàn giao đưa vào sử dụng Hiện nay công tác đánh giá hiệu quả đầu tư cơ sở HTĐT sau dự án còn chưa được quan tâm
Với các dự án đầu tư cơ sở HTĐT giai đoạn xác định dự án: Dự báo và lập quy hoạch tổng thể HTĐT vùng hoặc quy hoạch chi tiết HTĐT chuyên ngành Giai đoạn chuẩn bị đầu tư, cần tổ chức tư vấn thiết kế; chuyên gia dự báo, phân tích kinh tế xã hội; chuyên gia môi trường Còn giai đoạn thực hiện dự án thường đòi hỏi các nhà kế hoạch xây dựng kế hoạch chi tiết để thực hiện dự án, các nhà thiết
kế kỹ thuật và một số lượng lớn các nguồn lực đặc biệt là vật tư, thiết bị, công nhân xây dựng thực hiện thi công xây lắp …, trong nhiều trường hợp nó được giao một phần cho các nhà thầu phụ thông qua các hợp đồng phụ (B’)
v) Nhiều người tham gia dự án với nguồn gốc khác nhau: Họ đến từ nhiều
đơn vị trong cùng một tổ chức hoặc nhiều tổ chức khác nhau Trong các dự án những người tham gia có chuyên môn khác nhau và văn hoá của họ cũng rất
đa dạng, đặc biệt có nhiều dự án đầu tư cơ sở HTĐT được thực hiện trên một phạm vi địa lý rất rộng lớn qua nhiều tỉnh, thành phố và có rất nhiều tổ chức cùng tham gia Tính chất này của dự án dẫn đến hai hậu quả rất quan trọng:
- Dễ thấy trong một dự án rất khó để các bên tham gia dự án có chung quyền lợi, định hướng và mục tiêu;
- Người phụ trách dự án khó khăn hơn trong việc quản lý, điều phối các nguồn lực so với lãnh đạo của một đơn vị truyền thống
vi) Một bối cảnh không ổn định (không chắc chắn): Đem đến cho dự án những
Trang 14HTĐT do chịu tác động rất lớn bởi các yếu tố môi trường: Địa chất, thuỷ văn,
cơ chế chính sách, nguồn vốn… Dĩ nhiên tất cả các dự án không chịu cùng một mức độ không chắc chắn, nó phụ thuộc vào: Tầm cỡ; mức độ mới của dự án, công nghệ sử dụng; mức độ đòi hỏi của các ràng buộc về chất lượng, thời gian
và chi phí; tính phức tạp và tính không thể dự báo được của môi trường dự án;
số lượng nguồn khác nhau
2.2.3 Phân loại dự án
Phân loại theo mức độ mới (tính mới) của dự án: Phân loại dự án căn cứ vào
mức độ đổi mới trong sản phẩm và mức độ đổi mới trong quá trình sản xuất:
- Các dự án đổi mới: Các dự án này được lập nhằm tạo ra các sản phẩm mới hoặc thiết lập các quy trình sản xuất khác về căn bản so với hiện tại
- Các dự án phát triển: Đây là những dự án thực hiện một mức độ đổi mới nhất định về sản phẩm và quy trình sản xuất Nó cho phép đồng thời cải tiến nhiều chỉ tiêu có tác động đến năng lực, hiệu suất
- Các dự án cải tiến: Là những dự án nhằm cải tiến sản phẩm và quy trình sản xuất hiện tại làm giảm chi phí sản xuất, tăng hiệu suất sản phẩm
- Dự án nghiên cứu và phát triển: Các dự án loại này được lập nhằm hình thành các kiến thức mới, sử dụng vật liệu mới, công nghệ mới tạo thuận lợi phát triển kinh doanh, nó nằm ngoài quy trình phát triển kinh doanh nhưng nó báo trước được hiệu quả khi áp dụng
Theo cách phân loại này các dự án đầu tư cơ sở HTĐT có thể được phân loại như sau:
- Các dự án đầu tư mới HTĐT;
- Các dự án đầu tư nâng cấp, mở rộng các HTĐT;
- Các dự án khôi phục, cải tạo các HTĐT;
- Các dự án bảo vệ môi trường và an toàn giao thông
Phân loại theo tính chất và quy mô của dự án đầu tư: Dự án đầu tư trong
nước được phân loại thành ba nhóm: A, B, C để phân cấp quản lý Tiêu chí chủ yếu để phân nhóm là tổng mức đầu tư bên cạnh đó còn căn cứ vào tầm
Trang 15quan trọng của lĩnh vực đầu tư, nội dung cụ thể như trong phụ lục “Phân loại
dự án đầu tư xây dựng công trình” ban hành kèm theo Nghị định số
16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 của Chính phủ
Phân loại theo nguồn vốn đầu tư:
- Các dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước; Các dự án sử dụng vốn tín dụng thương mại do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; Các dự án sử dụng vốn đầu tư của các doanh nghiệp Nhà nước;
- Các dự án đầu tư của tư nhân, tổ chức kinh tế không thuộc doanh nghiệp Nhà nước;
- Các dự án hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế (vốn ODA); Các dự án vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài; Các dự án sử dụng vốn hợp tác liên doanh với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước
Ứng với mỗi loại dự án này, Nhà nước quy định những quy chế quản lý riêng được quy định trong Luật Xây dựng và Nghị định số 16, 112 của Chính phủ về QLDA đầu tư xây dựng công trình
2.3 QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
2.3.1 Các phương pháp QLDA mới hiện nay
Cuối thể kỷ 20, MTKD của các doanh nghiệp có những thay đổi lớn: Cung thường xuyên vượt cầu, xu thế hội nhập, toàn cầu hoá, sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin làm cho cạnh tranh ngày càng khốc liệt, trong bối cảnh đó doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải thực hiện cải tổ, từ đó các phương pháp quản lý mới ra đời
Quản lý chất lượng tổng thể “Total Quality Management” (TQM):
Nhằm đạt được thành công trong tương lai dài hạn nhờ việc thoả mãn khách hàng dựa trên sự tham gia của tất cả các thành viên của một tổ chức nhằm cải
tiến các quy trình, sản phẩm dịch vụ và văn hoá của tổ chức Áp dụng TQM năng lực của doanh nghiệp được cải thiện trên các phương diện sau: Thoả
mãn khách hàng và mở rộng thị trường; giảm sai sót, nâng cao chất lượng; khuyến khích các nhân viên nâng cao NSLĐ; phát triển sản phẩm; giảm chi
Trang 16phí sản xuất; giảm thời gian của chu kỳ sản xuất; tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Đúng thời gian “Just in time”: Là việc sản xuất và bàn giao sản phẩm đúng
thời gian Các thành phần của sản phẩm xuất xưởng đúng thời gian để nó được ghép với các sản phẩm hoàn thành Vật tư được nhập về đúng thời gian để chế
biến Để thực hiện được điều đó, “Just in time” phải nhằm loại bỏ:
- Lãng phí vật chất: Hàng trong kho nhiều, nguy cơ lỗi thời do tồn kho quá lâu;
- Lãng phí thời gian: Thời gian chờ giữa hai tác nghiệp,…
- Lãng phí công sức: Sản phẩm lỗi phải sửa, đổi hoặc khách hàng trả lại…
Kỹ thuật cạnh tranh (concurrent engineering): Áp dụng ngay từ khi hình
thành sản phẩm, các chức năng của doanh nghiệp như: sản xuất, dịch vụ sau bán Nó hoàn toàn đối lập với việc phân chia trách nhiệm quản lý giữa hình thành (sản phẩm, dự án) và thực hiện đã được ghi trong mô hình tổ chức của Henry Fayol và Frederich Taylor 5 điểm cần tuân theo khi áp dụng
Mô hình hoá các quy trình phát triển mới bằng việc áp dụng hệ thống QLCL (ISO
9001, RAQ 1…), áp dụng “kỹ thuật cạnh tranh”: Mạng PER-Program Evaluation and Review Technique, sơ đồ Gantt, CPM-Critical Part Method, QFD-Quality Funtional Deployment, DFO- Design For Operation, nghiên cứu khả thi…
2.3.2 Khái niệm và tính chất của QLDA đầu tư
2.3.2.1 Khái niệm QLDA đầu tư
Trang 17Nếu dự án được hiểu là đề xuất thay đổi một hệ thống vật chất (và có thể cả trạng thái tinh thần) nào đó thì QLDA chính là quản lý những thay đổi đó QLDA là nghệ thuật chỉ đạo, điều phối các nguồn nhân lực, thiết bị và vật tư trong suốt chu
kỳ của dự án thông qua việc sử dụng các kỹ thuật quản lý hiện đại và phù hợp để đạt được những mục đích đã được xác định trước theo các tiêu chí sau: Quy mô, phạm vi của sản phẩm hoặc dịch vụ; chi phí; thời gian; chất lượng; thoả mãn khách hàng và các bên tham gia
Đối với các dự án đầu tư cơ sở HTĐT, sản phẩm của dự án là một công trình cụ thể (đường giao thông, cầu cống, cấp thoát nước ); chi phí của dự án là tổng mức đầu tư của công trình được phê duyệt trước; tiến độ thực hiện được dự kiến trước; chất lượng công trình phải tuân theo các quy chuẩn chất lượng về thiết kế thi công Tất cả các tiêu chí này đều được thể hiện trong dự án đầu tư xây dựng công trình và phải đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương nơi thực hiện dự án
Dưới góc độ quản trị học, QLDA đầu tư được định nghĩa như sau: “QLDA đầu tư
là sự tác động của chủ đầu tư và các chủ thể có liên quan khác đến quá trình lập
và thực hiện dự án đầu tư bằng uỷ nhiệm hoặc ký kết hợp đồng với các đơn vị thực hiện; thông qua sử dụng các công cụ và kỹ thuật quản lý và một mô hình tổ chức không có tính tập trung cao, mềm dẻo, linh hoạt để dự án được thực hiện trong những ràng buộc về chi phí, thời gian và các nguồn lực”.
2.3.2.2 Tính chất của quản lý dự án
Khoa học mới về QLDA chứa đựng các tính chất có quan hệ hữu cơ và tác động qua lại với nhau đó là:
Văn hoá đặc biệt được hiểu là tập hợp các giá trị về nhận thức, thái độ, cách ứng
xử của người tham gia dự án Các giá trị chủ yếu của văn hoá QLDA là: Quan điểm thoả mãn khách hàng; xem xét môi trường của dự án; sáng kiến, khả năng khống chế rủi ro; phân chia trách nhiệm; tính chặt chẽ, kỷ luật tự giác; đòi hỏi năng lực; hợp tác Đó là một văn hoá yêu cầu rất cao, khuyến khích được mọi người có quan
hệ đến dự án
Phương thức tổ chức đặc biệt Đối lập với quản lý tổ chức chỉ đạo theo kiểu cấp
bậc, nó đề cao vai trò hoà nhập các bộ phận của giám đốc điều hành dự án: Ê kíp dự
Trang 18án có chuyên môn khác nhau, các bộ phận phân công, hợp tác chặt chẽ; cấu trúc ít cấp chỉ đạo, quản lý linh hoạt; quan hệ đồng cấp được coi trọng hơn quan hệ cấp trên, cấp dưới; cơ chế quản lý hiệu quả quan hệ giữa các nhân tố bên trong và bên ngoài dự án.
Mỗi giai đoạn của dự án tương ứng với các kỹ thuật và công cụ: Giai đoạn xác định
dự án sử dụng các kỹ thuật và công cụ đánh giá như phân tích lợi ích/chi phí, tổng hợp kỹ thuật “triển khai chức năng chất lượng”; công cụ đánh giá tác động môi trường và các bên liên quan đến dự án; quản lý rủi ro; khung lôgic của dự án…
- Giai đoạn xác định dự án và chuẩn bị đầu tư: (Xin chủ trương QH, khảo sát địa hình, lập QHCT 1/500, khảo sát ĐCCT, lập dự án đấu tư, xin thoả thuận quy hoạch, đánh giá ĐTM, đền bù GPMB, thiết kế kỹ thuật - lập dự toán chi tiết…) sử dụng kỹ thuật nghiên cứu khả thi về thị trường, khả thi kỹ thuật, khả thi tài chính, khả thi môi trường, điều chỉnh khung lôgic…
- Giai đoạn thực hiện dự án (Hồ sơ mời thầu, đấu thầu, hợp đồng xây lắp, thi công HTKT, lắp đặt thiết bị, nghiệm thu - bàn giao, vận hành dự án…): dùng cấu trúc phân chia công việc; lập kế hoạch mạng; lịch Gantt, đường quyết định; Phân công lao động; quản lý chất lượng; quản lý chi phí quản lý rủi ro; quản lý tiến độ;…
- Giai đoạn kết thúc dự án (đánh giá hiệu quả tài chính, hiệu quả KTXH…): sử dụng các kỹ thuật đánh giá chất lượng, hiệu quả đầu tư
Ta có thế khái quát dự án bằng mô hình chung về QLDA đầu tư như sau:
Các nguồn bên trong
Tổ chức bên trong dự án
Các bên tham gia
dự án
Phạm vi quy mô Thời gian
Các chức năng của QLDA:
Lập kế hoạch
Tổ chứcChỉ đạo, điều phốiKiểm tra, giám sátQuản lý mặt phân giới
Môi trường của dự án
Trang 19Hình 2.3 Mô hình QLDA
Trung tâm mô hình gồm bốn chức năng quản lý truyền thống và chức năng riêng của QLDA Phương pháp QLDA là phân nhỏ dự án thành các phần việc đơn giản Vì vậy, việc quản lý các bộ phận của dự án là một chức năng quan trọng, nó quyết định thành công của dự án Ngoài ra dự án bị ảnh hưởng rất lớn bởi môi trường bên trong
và bên ngoài của nó, đòi hỏi các nhà QLDA phải dự kiến, đánh giá được các ảnh hưởng này để có điều chỉnh kịp thời tạo ra một môi trường tốt nhất cho dự án
2.3.3 Nội dung của QLDA đầu tư
QLDA là một quá trình phải bắt đầu từ giai đoạn xác định dự án, chuẩn bị đầu
tư đến khi kết thúc, từ giai đoạn nghiên cứu cơ hội đầu tư đến giai đoạn thực hiện các kết quả đầu tư Quá trình quản lý dự án được mô tả trong (hình 2.3) Xét theo đối tượng quản lý, nội dung chủ yếu của quản lý dự án bao gồm các nội dung trình bày ở (hình 2.4, 2.5)
Xác định nhu cầu về
sản phẩm - dịch vụ
dự án Nghiên cứu tiền khả thi
Nghiên cứu khả thi (phát triển dự án)
Xây dựng kế
hoạch
Dự trù ngân sách, nguồn lực
Lựa chọn quy trình công nghệ
Tổng hợp kế hoạch dự án
Thực hiện dự án
Kiểm soát, điều phối dự án
Trang 20Hình 2.4 Quy trình QLDA
Các bước thực hiện:
- Xác định mục tiêu dự án một cách rõ ràng
- Phân chia công việc dự án thành các gói công việc nhỏ; Xác định các hoạt động chuyên biệt cho từng gói công việc
- Lập mạng biểu đồ công việc; Xác định thời gian dự kiến cho mỗi công việc; chi phí dự kiến cho mỗi công việc
- Tính toán lịch biểu và ngân quỹ cho dự án
Hình 2.5 Mô hình hoạt động QLDA đầu tư cơ sở HTĐT
Đưa vào sử dụng
Khảo sát địa hình Lập QHCT TL 1/500
Lập DAĐT,
ĐCCT
Thiết kế công nghệ
Kế hoạch,
Hợp đồng cung cấp
Thi công Đấu thầu
PA đền bù GPMB
Đền bù GPMB
Hợp đồng thuê đất
Cắm mốc, giao đất
Lắp đặt
Nghiệm thu, bàn giao
Xin thoả thuận QH
Đánh giá ĐTM
Phê duyệt
dự án
Phản hồi dự án Rút kinh nghiệm
Trang 21(Nguồn: Quy trình quản lý dự án PMUTH, 2007)
Trang 22Quản lý tiến độ dự án
ổi phạm vi
Xác định hoạt động Sắp xếp thứ tự các hoạt động
Ước tính thời gian thực hiện hoạt động
Xây dựng lịch thực hiện dự án
Kiểm soát lịch thực hiện dư án
Quản lý
thông tin dự án
Quản lý rủi ro dự án
Quản lý việc cung ứng
Lập kế hoạch trao đổi
thông tin
Phân phối thông tin
Báo cáo thực hiện
Kết thúc công việc
quản lý
Nhận diện rủi ro Định lượng rủi ro Đối phó rủi ro Kiểm soát việc đối phó rủi ro
Kế hoạch mua hàng
Kế hoạch cung ứng Thu hút nhà cung cấp hàng hoá
Nguồn cung ứng
Ký kết hợp đồng Kết thúc hợp đồng
Quản lý
chi phí dự án
Quản lý chất lượng dự án
Quản lý nguồn nhân lực
Kế hoạch tổ chức Tuyển nhân viên Phát triển đội ngũ
Nội dung của QLDA gồm 9 quá trình quản lý trong suốt chu kỳ của dự án:
Hình 2.6 Các nội dung chính của QLDA
Quản lý hoà nhập dự án: Là quá trình tổ chức dự án theo một trình tự
logic, đảm bảo các lĩnh vực quản lý khác nhau của dự án kết hợp một cách đầy đủ và chính xác
Quản lý phạm vi: Là việc xác định, giám sát việc thực hiện mục đích, mục
tiêu dự án, xác định công việc nào thuộc về dự án, xác định công việc nào ngoài phạm vi dự án
Trang 23 Quản lý tiến độ: Là việc lập kế hoạch, phân phối tiến độ thời gian nhằm đảm
bảo thời hạn hoàn thành Chỉ rõ mỗi công việc kéo dài bao lâu, điểm bắt đầu
và điểm kết thúc công việc và của cả dự án Theo dõi sát sao tiến độ thực hiện đội dự án, của nhà cung cấp, tiến độ thực hiện của bên liên quan có giải pháp khắc phục và điều chỉnh tiến độ hợp lý, khoa học nhất
Quản lý chi phí: Là quá trình dự toán kinh phí, giám sát thực hiện chi phí
theo tiến độ cho từng công việc và toàn bộ dự án, là việc tổ chức, phân tích số liệu và báo cáo những thông tin về chi phí:
- Cập nhật thông tin, phân tích chính xác diễn biến thị trường có các biện pháp cam kết với các khách hàng bằng đặt cọc, bằng hợp đồng ghi nhớ để tránh những yếu tố biến động về giá hoặc trượt giá
- Sớm điều chỉnh chi phí khi cần thiết
Quản lý chất lượng: Là quá trình triển khai, giám sát tiêu chuẩn chất lượng
cho việc thực hiện các công việc của dự án, đảm bảo chất lượng sản phẩm theo đúng các tiêu chuẩn, quy phạm hiện hành, thỏa mãn, đáp ứng yêu cầu của chủ đầu tư từ các khâu: Lập dự án, tư vấn thiết kế, đấu thầu, xây lắp, mua sắm thiết bị, nghiệm thu, bàn giao…
Quản lý nguồn nhân lực: Là việc hướng dẫn, tổ chức phối hợp nỗ lực của
mọi thành viên của đội dự án vào việc hoàn thành mục tiêu dự án trên cơ sở phát huy điểm mạnh, hạn chế điểm yếu của từng cá nhân Là quá trình phân quyền, giao quyền, khuyến khích động viên và giải quyết các mâu thuẫn phát sinh trong đội dự án
Quản lý thông tin dự án: Là quá trình đảm bảo các dòng thông tin thông suốt
một cách nhanh nhất, chính xác giữa các thành viên dự án và các cấp quản lý cũng như khách hàng Quản lý thông tin bao trên cơ sở: Ai cần thông tin? Cần ở mức độ nào? Mục đích làm gì? Phương tiện truyền tin? Thông tin phải đúng đối tượng, phù hợp nội dung, vừa đủ, phù hợp với không gian, thời gian, địa điểm hạn chế tối đa nhiễu thông tin, quản lý văn bản liên quan
Trang 24 Quản lý rủi ro dự án: Là nhận diện các nhân tố rủi ro, dự báo rủi ro cho từng công
đoạn thực hiện dự án, lập biện pháp dự phòng (phương án 2), kế hoạch thực hiện phương án
Quản lý cung ứng: Là quá trình thương thảo ký kết hợp đồng với các nhà
cung cấp sau khi họ trúng thầu hoặc được chọn thầu, theo dõi sát sao tiến độ của nhà cung cấp (dịch vụ tư vấn, hàng hóa, thiết bị) theo dõi việc cung ứng theo nội dung đã thống nhất nhằm đảm bảo tiến độ, chất lượng sản phẩm
Các yêu cầu đối với QLDA đầu tư:
- Tuân thủ thời hạn, ngân quỹ
- Kiểm tra chặt chẽ; cơ chế để đảm bảo một sự thoả hiệp giữa những đòi hỏi của các ràng buộc: Trách nhiệm chủ nhiệm dự án
- Hệ thống thông tin và kiểm tra theo yêu cầu của dự án; sáng kiến, khả năng quy trách nhiệm, chú trọng vào các kết quả
- Phân nhỏ các hoạt động
3 Thời gian sống giới hạn, chu
kỳ sống biến động, vì vậy
những đòi hỏi cũng biến đổi
theo chu kỳ của dự án
- Tổ chức tạm thời, đặc biệt (lập riêng cho dự án), mềm dẻo, ít
có tính mô hình hoá và có thể thay đổi trong thời gian thực hiện DA
- Kỹ thuật và các công cụ thích hợp với mỗi một thời kỳ DA
- Cơ chế để đảm bảo sự hoà nhập toàn bộ dự án trong suốt chu kỳ sống của nó: Chủ nhiệm dự án chịu trách nhiệm
4 Nhiều người liên quan đến
dự án có nguồn gốc khác
nhau và quyền lợi của họ
cũng khác nhau
- Ê kíp chuyên môn khác nhau và cơ chế để hoà nhập
- Năng lực và ý chí của người làm việc trong ê kíp và quyền lực hạn chế của chủ nhiệm dự án
- Xây dựng đội ngũ - quản lý xung đột
5 Môi trường phức tạp, không
ổn định và đôi khi chống đối
lại dự án
- Quản lý chặt chẽ rủi ro giám đốc DA vai trò hoà nhập quản lý
- Yêu cầu dự kiến trước được môi trường trong đó dự án sẽ được thực hiện
Bảng 2.2 Các yêu cầu đối với QLDA
Trang 252.3.4 Cấu trúc tổ chức của dự án
Vấn đề cốt lõi ở đây là lựa chọn một cấu trúc tổ chức phù hợp để thực hiện một dự
án trong một tổ chức (một doanh nghiệp xây dựng hoặc một công ty tư vấn) cho mỗi một giai đoạn của dự án Các dạng cấu trúc tổ chức QLDA phổ biến là:
2.3.4.1 Cấu trúc theo chức năng chuyên môn
Cấu trúc theo chức năng chuyên môn là một cấu trúc tổ chức nhóm các nguồn nhân lực theo chuyên môn của họ Các thành phần chính của cấu trúc này là các chức năng thuộc lĩnh vực chuyên môn kỹ thuật hoặc quản lý hành chính
Hình 2.7 Mô hình cấu trúc theo chức năng
(Nguồn: Hà nội School of Business - Project Management, 2006)
Theo mô hình này, người quản lý các phòng chức năng (trưởng phòng chuyên môn) kết hợp với nhau điều phối dự án Khi triển khai dự án các phòng chức năng không thay đổi tổ chức mà chỉ nhận nhiệm vụ tham gia vào một hoặc một số dự án
Trang 26Ưu điểm Nhược điểm Khả năng kỹ thuật
- Phát triển và duy trì khả năng kỹ thuật
chuyên môn
- Hiệp đồng giữa các nhà cùng chuyên
môn
- Nhận thức thiếu cái nhìn tổng quan
- Khó hoà nhập nhiều nhà chuyên môn khác nhau của dự án
- Khó tạo ra một sự khích lệ đối với dự án
- Thiếu gắn kết với môi trường của dự án
- Hiệu quả thực hiện các nhiệm vụ cao
nhờ việc tiêu chuẩn hoá
- Quan hệ giữa các cá nhân ổn định
- Các kế hoạch nghề nghiệp được xác định
rõ
- Có khả năng quy tụ những người có
cùng chuyên môn vào một đơn vị
- Khó đáp ứng, thích nghi với những sự thay đổi
- Truyền thông tin nội bộ khó khăn
- Quá trình ra quyết định chậm
Kiểm tra
- Dễ dàng kiểm tra chất lượng và các chỉ
tiêu hiệu suất
- Mềm dẻo và kinh tế trong việc sử dụng
nhân công
- Các chỉ tiêu thời gian ít được kiểm tra chặt chẽ
- Liên kết với bên ngoài hạn chế
- Thiếu tầm nhìn đối với khách hàng
- Hạn chế phát triển quản lý nhân công
Bảng 2.3 Ưu nhược điểm của cấu trúc theo chức năng
2.3.4.2 Cấu trúc theo dự án
Cấu trúc được hình thành trong một tổ chức, chịu trách nhiệm thực hiện dự án quan trọng mà tổ chức đó được giao trách nhiệm, được thành lập tạm thời, độc lập với các bộ phận khác của tổ chức
Trang 27Hình 2.8 Mô hình cấu trúc theo dự án
(Nguồn: Hà nội School of Business - Project Management, 2006)
- Dễ dàng liên kết với các bên tham gia
dự án ở ngoài tổ chức
- Cho phép một cái nhìn tổng quan dự án
- Cho phép dung hoà một cách hiệu quả
các chỉ tiêu chất lượng - thời gian - chi phí
- Dễ dàng hợp tác và điều phối
- Có khả năng dễ dàng đáp ứng thay đổi
- Quyền lực phân định rõ ràng, kiểm
soát toàn bộ các nguồn lực
- Khích lệ tốt nhất thành viên tham gia DA
- Cấu trúc tạm thời, phải thành lập lại mỗi một lần thực hiện dự án
- Hầu như không phát triển kỹ thuật chuyên môn cho dài hạn
- Có ít khả năng chuyển giao những kiến thức mới từ dự án này cho dự án khác
- Tính liên tục ít, không ổn định việc làm cho các cá nhân
- Không sử dụng hết các nguồn lực và khi cần huy động nhiều hơn các nguồn lực sẵn có
Bảng 2.4 Ưu nhược điểm của cấu trúc theo dự án
Trang 28Giám đốc điều hành
QL chuyên môn 1
QL chuyên môn 2
QL chuyên môn 3
QL chuyên môn 4
Theo mô hình này mỗi dự án có một người trực tiếp điều phối các thành viên của
dự án đó dưới sự chỉ đạo của giám đốc, ê kíp dự án được hành thành tạm thời, khi
dự án kết thúc nó cũng giải thể, hình thành ê kíp mới cho một dự án khác
2.3.4.3 Cấu trúc ma trận
Một cấu trúc kết hợp giữa cấu trúc chuyên môn và cấu trúc theo dự án, nó có đặc tính thể hiện đồng thời các bộ phận của dự án và các bộ phận chuyên môn độc lập trên cùng một mặt bằng phân cấp nhưng độc lập với nhau trong khi thực hiện các dự án
Hình 2.9 Mô hình cấu trúc ma trận
(Nguồn: Hà nội School of Business - Project Management, 2006)
Theo mô hình này người QLDA điều phối các thành viên của dự án thực hiện dự
án, nhưng họ phải được sự nhất trí của các nhà quản lý chuyên môn bởi vì mỗi một nhân viên của ê kíp dự án đồng thời chịu sự chỉ đạo của hai cấp: trưởng dự án
và trưởng phòng chức năng
Trang 29Ưu điểm Nhược điểm Chuyên môn:
- Liên tục phát triển năng lực chuyên
môn; lập kế hoạch cho dài hạn
- Sử dụng mềm dẻo và hiệu quả các nguồn
lực
- Hiệu quả đối với các hoạt động quen
thuộc do việc tiêu chuẩn hoá
- Đảo lộn các hoạt động chuyên môn vì việc điều động nhân lực
Dự án:
- Quan điểm tổng thể của dự án
- Điều phối và hoà nhập các nguồn lực
- Dễ dàng liên kết với khách hàng và các
bên tham gia dự án ở ngoài tổ chức
- Quan điểm tốt nhất về các mục tiêu của
dự án, dung hoà tốt nhất giữa các mục
- Tranh giành nguồn lực; Dễ bị tổn thương vì các xung đột cá nhân
- Nguy hiểm vì có xung đột giữa dự án và chức năng chuyên môn
- Nguy hiểm vì xu thế phân nhóm nhỏ
- Phát sinh việc tạo các liên kết bên trong tăng thêm chi phí quản trị
Nguồn lực:
- Có liên kết với các nguồn cung ứng
- Có kinh nghiệm quản trị các nguồn lực
- Quan hệ giữa các cá nhân không ổn định
- Tiến bộ nghề nghiệp không chắc chắn
- Khó tương đồng hai sự chỉ đạo của DA
và đơn vị chức năng nên có sự nhập nhằng
Bảng 2.5 Ưu nhược điểm của cấu trúc ma trận
Thông thường các dự án đầu tư cơ sở HTĐT là những dự án có quy mô lớn (tổng mức đầu tư lớn) các yếu tố môi trường của dự án rất phức tạp, cấu trúc tổ chức phù hợp nhất cho các dự án này trong giai đoạn thực hiện dự án là loại cấu trúc theo dự
án, vì nó tạo cho giám đốc dự án khả năng tự chủ cao trong việc ra quyết định, quản
lý các nguồn lực, liên kết với bên ngoài…Giai đoạn nghiên cứu khả thi, tiền khả thi đòi hỏi sự hợp tác các nhà chuyên môn, ít bị tác động của các yếu tố bên ngoài, cấu trúc tổ chức phù hợp nhất cho giai đoạn này là cấu trúc theo chức năng
Trang 302.3.5 Khái quát về dự án đầu tư xây dựng cơ sở HTĐT:
Đô thị Việt Nam đang phát triển nhanh chóng Theo định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2020 thì dân số đô thị ở Việt Nam trong
17 năm tiếp theo sẽ lên tới 46 triệu người, chiếm 45% dân số toàn quốc (dự báo dân số Việt Nam năm 2020 là 103 triệu người) sống trên 600 điểm dân cư đô thị lớn nhỏ, trong đó có hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, nhiều đô thị tỉnh lỵ và nhiều đô thị mới sẽ được xây dựng
Đây là con số rất lớn, đang đặt ra cho chúng ta những nhiệm vụ hết sức nặng nề trong công tác quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị ở nước ta Xây dựng và phát triển đô thị hiện nay là một trong những vấn đề trọng tâm, quyết định sự đi lên của cả nước, tạo hạt nhân và động lực thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước Các đô thị có sự đóng góp to lớn vào tỷ trọng kinh tế quốc dân cho chính bản thân nó, cho từng vùng và cho cả nước Đảng và Nhà nước ra chủ trương phấn đấu đến năm 2020, nước ta sẽ trở thành một nước công nghiệp phát triển hiện đại Muốn đạt mục tiêu đó, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường
có định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay thì không thể có cách nào khác là phải khai thác triệt để mọi tiềm năng và lợi thế có sẵn của đất nước và con người, tập trung xây dựng và phát triển đồng bộ có trọng tâm trọng điểm, đặc biệt là công tác xây dựng đô thị - nông thôn và việc tạo lập các cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội và kỹ thuật cho đất nước
Vai trò của đô thị thực sự đang chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong quá trình phát triển đất nước Hàng trăm đô thị ở nhiều vùng khác nhau đang đòi hỏi được cải tạo, xây dựng mới và phát triển theo hướng văn minh, hiện đại, đẹp và có bản sắc; hàng chục triệu người dân đô thị đòi hỏi có cuộc sống mới bền vững, an toàn, hạnh phúc, có việc làm và nơi ở hợp lý Đây là những vấn đề đang đặt ra cho chúng ta những bài toán khó phải có lời giải chính xác và cụ thể với những định hướng đúng đắn và hiện thực
Để có thể giải quyết được vấn đề này thì điều quan trọng trước tiên là tất cả các đô thị phải có quy hoạch tổng thể phát triển không gian cho các giai đoạn trước mắt
và lâu dài Các vùng kinh tế trọng điểm các liên vùng và cùng tỉnh cũng phải
Trang 31được nghiên cứu quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị và các điểm dân cư một cách thích hợp Trong quy hoạch đô thị có nhiều loại hình và công đoạn khác nhau, tất cả các quy hoạch đều phải xuất phát từ thực tiễn cuộc sống và quy hoạch
đô thị phải phục vụ lại cho cuộc sống xã hội phát triển Vì vậy, nó có rất nhiều vấn
đề và giải pháp nghiên cứu thiết kế để đưa quy hoạch đi vào cuộc sống tốt nhất
Đặc trưng của các dự án đầu tư cơ sở HTĐT:
i) Chịu ảnh hưởng lớn của môi trường:
Các dự án đầu tư cơ sở HTĐT chịu ảnh hưởng rất lớn của các yếu tố môi trường trong đó dự án tồn tại: Quá trình xây dựng chịu ảnh hưởng rất lớn của địa chất, thuỷ văn, thời tiết, khí hậu có thể ảnh hưởng quyết định đến việc lựa chọn công nghệ xây dựng cũng như lịch trình xây dựng; tiềm năng kinh tế của vùng hấp dẫn công trình cơ sở HTĐT vì vậy nó quyết định quy mô công trình Các quy định pháp luật như Luật Bảo vệ môi trường, Luật Xây dựng, 16/2005/NĐ-CP, 112/2006/NĐ-CP, 02/2007/TT-BXD hướng dẫn về quản lý đầu tư xây dựng bắt buộc các dự án đầu tư xây dựng cơ sở HTĐT phải tuân thủ; hệ thống tổ chức quản lý đầu tư xây dựng công trình HTĐT cũng có ảnh hưởng rất quan trọng đến quá trình thực hiện dự án, một mô hình tổ chức mềm dẻo linh hoạt, ít cấp chỉ đạo, tạo cho giám đốc điều hành dự án khả năng tự chủ lớn nhất sẽ tạo thuận lợi cho quá trình thực hiện dự án
Các yếu tố môi trường khác như văn hoá - xã hội, công nghệ, cơ sở hạ tầng đều
có ảnh hưởng rất quan trọng đến việc thực hiện dự án Chính vì vậy, việc đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố môi trường của dự án là rất cần thiết trong quá trình lập dự án đầu tư (lựa chọn dự án) cũng như trong quản lý rủi ro dự án
ii) Chịu ảnh hưởng lớn của các bên liên quan đến dự án:
Một dự án đầu tư cơ sở HTĐT nào cũng có nhiều tổ chức và cá nhân có liên quan có tác động đến dự án: Hầu hết với các dự án đầu tư cơ sở HTĐT, chủ đầu tư không trực tiếp thực hiện dự án mà ký hợp đồng với các tổ chức khác thực hiện từng phần của dự án Giai đoạn xác định dự án và chuẩn bị đầu tư thường được giao cho một đơn vị tư vấn thực hiện, một số dự án lớn lại do
Trang 32nhiều tư vấn cùng phối hợp thực hiện; giai đoạn thực hiện dự án phân thành nhiều giai đoạn nhỏ; giai đoạn kết thúc dự án cũng có nhiều tổ chức tham gia như chủ đầu tư, nhà thầu, tư vấn giám sát, Cục giám định và Quản lý chất lượng công trình, Sở Kế hoạch đầu tư, Sở Tài chính, Sở xây dựng, phòng quản
lý đô thị …
Bên cạnh đó có rất nhiều tổ chức cùng tham gia vào dự án như chính quyền địa phương: UBND xã, huyện (cùng phối hợp GPMB); các Sở, Ban ngành có liên quan (Nông nghiệp, Xây dựng, Giao thông, Công nghiệp… tham gia ý kiến cho các thiết kế kỹ thuật của công trình)
Tuỳ theo quy mô và tính chất của dự án (theo Nghị định 16/2005/NĐ-CP đối với dự án nhóm A, B, C), Quản lý Nhà nước về đầu tư xây dựng công trình HTĐT cũng có rất nhiều tổ chức tham gia vào quá trình thẩm định, phê duyệt
dự án như: Chính phủ (có dự án lớn phải thông qua Quốc hội), Bộ Kế hoạch
và Đầu tư, Bộ Tài chính, UBND tỉnh … Đội dự án cũng gồm rất nhiều người
có thể đến từ các bộ phận khác nhau của cùng một tổ chức hoặc từ các tổ chức khác nhau
iii) Thường có quy mô lớn, việc lập kế hoạch và tổ chức thực hiện dự án khó khăn
Rất nhiều dự án đầu tư cơ sở HTĐT có quy mô lớn (dự án quan trọng quốc gia
và dự án nhóm A), dự án bao gồm nhiều khối công việc trong mỗi một khối công việc lại gồm nhiều mảng công việc trong mỗi một mảng công việc lại gồm rất nhiều công việc,… Chính vì vậy, việc tổ chức thực hiện dự án gặp khó khăn, cần ứng dụng các kỹ thuật và công cụ QLDA giúp cho các nhà QLDA
có một cái nhìn tổng quan về toàn bộ dự án với tất cả các công việc phải hoàn thành từ đó đề xuất các phương án tổ chức thực hiện dự án hiệu quả như “cấu trúc phân chia công việc của dự án”
Việc lập kế hoạch, xây dựng lịch trình thực hiện dự án, điều phối các nguồn lực của các dự án quy mô lớn như vậy không thể thực hiện tốt nếu không có
sự trợ giúp của các phần mềm QLDA Có như vậy kế hoạch lập ra mới tối ưu
về chi phí và thời gian thực hiện dự án và đảm bảo dự án được thực hiện với
số lượng các nguồn nhân lực và thiết bị hạn chế dành cho dự án
Trang 33iv) Mức độ không chắc chắn cao:
Các dự án đầu tư cơ sở HTĐT bị tác động bởi rất nhiều yếu tố như đã trình bày, các tác động này không thể dự kiến trước được chính xác, chính vì vậy phải rất chú ý đến quản lý rủi ro dự án
v) Kết quả của dự án ảnh hưởng lớn đến kinh tế xã hội:
Các dự án đầu tư cơ sở HTĐT đều là các dự án công cộng, vùng ảnh hưởng của dự án thường rất lớn là cả thành phố hoặc một vùng có khi cả tỉnh, mục tiêu tổng quát của dự án đều nhằm phát triển kinh tế xã hội vùng hấp dẫn của
dự án, số người được hưởng lợi từ dự án nhiều Chính vì vậy, thành công của
dự án có tác động quan trọng đến kinh tế xã hội của vùng có dự án Phân tích hiệu quả kinh tế của dự án phải đánh giá đầy đủ các tác động này
vi) Tuân thủ các quy định nghiêm ngặt về QLDA đầu tư xây dựng cũng như các tiêu chuẩn chất lượng trong xây dựng công trình đô thị:
Hệ thống các văn bản pháp lý trong quản lý đầu tư xây dựng công trình HTĐT rất đồ sộ bao gồm các Luật như: Luật Xây dựng, Luật Bảo vệ môi trường, các Nghị định Chính phủ về quy chế QLDA đầu tư xây dựng công trình, quy chế đấu thầu, quy chế QLCL công trình xây dựng, các tiêu chuẩn chất lượng trong thiết kế thi công … Quản lý Nhà nước về đầu tư xây dựng cơ sở HTĐT phải tuân thủ các quy định pháp lý này
Một hệ thống các văn bản pháp lý hoàn thiện, đầy đủ, có hiệu lực pháp lý cao
là một trong những nguyên nhân cơ bản quyết định chất lượng của các dự án
2.4 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QLCL CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ CƠ SỞ HTĐT
2.4.1 Khái niệm QLCL dự án đầu tư cơ sở HTĐT
Theo Tiêu chuẩn ISO 9000:2000, “Quản lý chất lượng là các hoạt động có phối hợp để định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng”.
Theo quyết định số 17/2000/QĐ-BXD quy định về QLCL công trình xây dựng,
“Chất lượng công trình xây dựng là những yêu cầu tổng hợp đối với đặc tính về an toàn, bền vững, kỹ thuật và mỹ thuật công trình, phù hợp với quy chuẩn xây dựng,
Trang 34nước” Quản lý chất lượng công trình xây dựng là tập hợp những hoạt động của cơ quan có chức năng quản lý thông qua các biện pháp như lập kế hoạch chất lượng, kiểm tra chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng công trình”.
Quản lý chất lượng của dự án đầu tư cơ sở HTĐT bao gồm các quy trình cần thiết để đảm bảo rằng dự án sẽ thoả mãn những sự cần thiết phải thực hiện dự án (lý do tồn tại) Nó bao gồm toàn bộ các hoạt động của chức năng quản lý chung như xác định chính sách chất lượng, mục tiêu về chất lượng và trách nhiệm quản lý thực hiện các mục tiêu này bằng cách lập kế hoạch chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng với hệ thống chất lượng Trên thực tế quản lý chất lượng
dự án đầu tư cơ sở HTĐT là sự phối hợp của các chủ thể cùng tham gia vào quá trình
dự án đầu tư xây dựng: Nhà nước (Sở Xây dựng, TNMT, Sở GTVT, Cục Giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng…), Chủ đầu tư (Ban QLDA), nhà thầu khảo sát, cơ quan thẩm định, nhà thầu thiết kế, nhà thầu thi công, tư vấn giám sát, cơ quan kiểm tra chứng nhận sự phù hợp chất lượng, công ty bảo hiểm, các tổ chức xã hội, cộng đồng…
2.4.2 Quy trình QLCL dự án
2.4.2.1 Lập kế hoạch chất lượng (Quanlity Planning):
Xác định các tiêu chuẩn cho dự án và cách thức đạt được tiêu chuẩn đó, tập trung vào thiết lập các yêu cầu người thụ hưởng/các bên liên quan và đáp ứng các yêu cầu đó; thiết lập các mục tiêu chất lượng, các quy trình và đề ra các biện pháp kiểm tra các quy trình đó
Nội dung của bản kế hoạch chất lượng:
- Kiểm duyệt các tài liệu về yêu cầu, xác định thước đo chất lượng của dự án, các tiêu chuẩn chất lượng theo quy định hiện hành của Nhà nước về hoạt động xây dựng;
- Thiết lập lịch trình kiểm tra định kỳ dựa trên các đặc điểm kỹ thuật của dự án;
- Thiết lập vai trò và trách nhiệm QLCL, đưa các công việc vào lịch trình dựa án;
- Báo cáo hoạt động và kết quả kiểm tra thực tế phù hợp với TCCL theo thiết kế
và mục tiêu về hiệu quả hoạt động;
Trang 35- Xây dựng vòng lặp cho những điều chỉnh và xử lý các sự cố chất lượng;
- Xây dựng các phương pháp giải quyết bất đồng giữa các thành viên trong đội
dự án về sự phù hợp các kết quả;
- Lập kế hoạch báo cáo hiệu quả hoạt động bằng các cơ chế phản hồi cho các bên liên quan về TCCL với các mục tiêu hiện tại của dự án Có thể thể hiện trong bảng sau:
Đội dự án Họp hàng tuần, thông báo nhanh đến đội dự án
những biến động quan trọngChủ đầu tư Báo cáo thực hiện hàng tháng
Các bên liên quan đến
Họp các nhà cung cấp về việc sắp xếp lịch cung cấp,
có thể phải phối hợp các nhà cung cấp đảm bảo tiến
độ cũng như chất lượng dự án
Bảng 2.6 Cơ chế phản hồi trong việc xây dựng kế hoạch QLCL dự án
(Nguồn: Quản lý dự án, Ths Nguyễn Hữu Quốc, 2007)
2.4.2.2 Đảm bảo chất lượng (Quality Assurance):
Là hoạt động thường xuyên đánh giá một cách có hệ thống chất lượng tổng thể của dự án trong quá trình thực hiện để các bên liên quan đến dự án tin rằng dự
án đảm bảo các mục tiêu chất lượng đã đặt ra cũng như theo các tiêu chuẩn hiện hành của Nhà nước, tiêu chuẩn ngành Đảm bảo chất lượng chính là hoạt động phòng ngừa
Các biến động về chất lượng:
Hệ thống quản lý chất lượng tổng thể (TQM) theo mô hình phát triển quy trình liên tục.Quy trình QLCL dưới đây chính là việc cụ thể hóa vòng tròn Deming hay chu trình PDCA: P (plan), D (do), C (check), A (action) (Dr W.Edwards Deming người Mỹ, cha đẻ của quản lý chất lượng)
Lập kế hoạch chất lượng
Kiểm tra chất lượng
Thực hiện
Điều chỉnh các thay đổi CL cho phù hợp
Điều chỉnh các thay đổi CL cho phù hợp
Có Không
Trang 36Hình 2.10 Quy trình quản lý chất lượng liên tục
(Nguồn: Quản lý dự án, Ths Nguyễn Hữu Quốc, 2007)
- Quy trình chất lượng theo hình 2.10 bắt đầu từ giai đoạn lập kế hoạch, khi
đó Ban QLDA sẽ quyết định sẽ làm gì và bằng cách nào Giai đoạn này được thực hiện khi triển khai kế hoạch dự án và kế hoạch QLCL, nó bao gồm các bước xác định yêu cầu (theo Nghị định 209/NĐ-CP ngày 16/12/2004 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình, hệ thống TCCL của Việt Nam có liên quan…), rủi ro khi thực hiện, kiểm định chất lượng và các biện pháp đảm bảo
- Giai đoạn thực hiện, các kế hoạch được thực, việc tiến hành kiểm tra chất lượng dựa trên các quy trình kiểm định (thông qua tư vấn giám sát, đại diện chủ đầu tư, Cục Giám định chất lượng Bộ Xây dựng và các bên liên quan)
- Giai đoạn hiệu chỉnh, nếu các thay đổi chất lượng bị vượt quá thì ngay lập tức phải điều chỉnh và lặp lại quá trình kiểm tra Bước này phải được lặp lại cho đến khi nó thỏa mãn mục tiêu chất lượng đặt ra
Mức độ quan trọng của các biến động:
Giám đốc dự án phải xác định tầm quan trọng của các biến động để có các hành động điều chỉnh chính xác Biến động lịch trình dự án xảy ra khi đội dự án thiếu
Trang 37nhân viên, giám đốc dự án phải điều động nhân viên của đội khác ít quan trọng hơn nhằm đảm bảo chất lượng cũng như tiến độ thực hiện của dự án này.
Thủ tục quản lý chất lượng dự án:
- Tiến hành kiểm định gói các công việc đảm bảo kế hoạch dự án;
- Phân tích biến động chất lượng và xác định nguyên nhân sâu xa để có thể giải quyết tận gốc vấn đề, tránh phải lặp lại việc điều chỉnh;
- Phân tích tầm quan trọng của các biến động, mức độ chấp nhận rủi ro đã được xác định trong bước lập kế hoạch, tránh lãng phí nguồn lực;
- Xác định các giai đoạn nghiệm thu để có biện pháp thực hiện các gói công việc một cách hiệu quả
2.4.2.3 Kiểm soát chất lượng dự án:
Là quá trình đánh giá các kết quả chất lượng cụ thể dựa trên các TCCL yêu cầu và xác định nâng cao chất lượng, loại bỏ những nguyên nhân làm chất lượng không đảm bảo (thông qua tư vấn giám sát, tư vấn thiết kế và các bên liên quan ) Dùng lược đồ PARETO (Pareto diagram) là loại biểu đồ đặc biệt giúp cho đội dự án xác định vấn đề ưu tiên cho những vấn đề của dự án theo mức độ nghiêm trọng:
System locks up
System is too slow
System is too hard
Reports are inaccurate
Trang 382.4.3 QLCL trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư
Giai đoạn này dự án được hình thành, đây là một bước rất quan trọng vì hiệu quả tài chính, hiệu quả kinh tế xã hội của dự án trong tương lai phụ thuộc vào nhiều vào giai đoạn này Thông thường chủ đầu tư thuê các đơn vị tư vấn có nhiều kinh nghiệm, uy tín để thực hiện các công việc như: Khảo sát địa hình 1/1000, 1/500, lập quy hoạch chi tiết 1/1000, 1/500, khảo sát địa chất công trình phục vụ cho công tác lập TKCS… Công việc chính trong giai đoạn này là việc kiểm soát chất lượng hồ sơ, bản vẽ, tiến độ của các đơn vị tư vấn và làm việc với các Sở Ban ngành về việc thẩm định, phê duyệt những hồ sơ đó Chủ đầu tư cần đặc biệt lưu ý đến hệ thống các văn bản pháp lý của Nhà nước điều chỉnh và có liên quan đối với các loại hồ sơ bản vẽ này và nó quyết định chất lượng và tính phù hợp với hệ thống các quy chuẩn quy phạm hiện hành của Nhà nước
Khi lập dự án đầu tư (gồm thuyết minh và TKCS) thể hiện: sự cần thiết phải đầu tư; hình thức đầu tư; nguồn vốn; phương án đền bù GPMB; lựa chọn công nghệ, kỹ thuật; bảo vệ môi trường; tiến độ; phương án quản lý, khai thác sử dụng; phân tích hiệu quả tài chính (nếu cần); hiệu quả kinh tế xã hội; hình thức QLDA… Đòi hỏi các chuyên gia giỏi các ngành: kiến trúc, kết cấu, kinh tế, tài chính… để có thể đánh giá, điều chỉnh các hồ sơ bản vẽ theo đúng các quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện hành của Nhà nước
2.4.4 QLCL trong giai đoạn thực hiện đầu tư
2.4.4.1 Thiết kế công trình
Các tài liệu về thăm dò khảo sát địa chất, khí tượng, thủy văn và tài liệu khác dùng thiết kế phải được kiểm soát chặt chẽ Mặc dù quy định chặt chẽ như vậy rất nhiều các cá nhân, đơn vị đã khảo sát qua loa, không đúng quy trình kỹ thuật… dẫn đến các số liệu khảo sát không chính xác Người thiết kế tính toán dựa trên các số liệu không chính xác, đưa ra các phương án không phù hợp dẫn đến công trình có thể
bị phá hoại sau này Các số liệu hồ sơ khảo sát theo quy định không cần phải thẩm định, do đó cần đề xuất để Nhà nước ban hành bổ sung trong các Nghị định mới, chỉ có như vậy mới có thể đảm bảo chất lượng dự án
Hồ sơ thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán được hoàn thành phải qua một khâu kiểm định hết sức nghiêm ngặt, chủ đầu tư cần thuê đơn vị kiểm định có uy tín của Bộ Xây dựng để có thể phát hiện sai sót và sửa chữa kịp thời
Trang 392.4.4.2 Đấu thầu xây lắp
Là tiến bộ trong hoạt động tổ chức xây dựng, trước đây việc đánh giá và xác định tiêu chí lựa chọn nhà thầu chủ yếu dựa vào việc bỏ giá thầu rẻ mà không quan tâm đến với giá như vậy nhà thầu có đảm bảo được chất lượng của dự án hay không Nhà thầu để đảm bảo lợi nhuận của đơn vị mình chắc chắn phải ăn bớt vật liệu, làm tắt các quy trình quy phạm dẫn đến chất lượng dự án không đảm bảo Quy trình đấu thầu để lựa chọn nhà thầu xây lắp theo Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11 được mô tả theo sơ đồ sau:
Hình 2.12 Quy trình tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà thầu xây lắp
Tiếp nhận và bảo quản hồ sơ dự thầu3
4 Mở thầu
Đánh giá xếp hạng
hồ sơ thầu5
Trình duyệt kết quả đấu thầu6
Công bố trúng thầu, thương thảo HĐ7
Ký kết HĐ, kết thúc đầu thầu
Cấp có thẩm quyền
Chủ đầu
tư
Chuyên gia tư vấn đấu thầu
Trang 40Để có chất lượng công trình tốt thì trong thang điểm chấm thầu phải cho điểm cao đối với nhà thầu có chính sách và kết quả đảm bảo chất lượng (ví dụ: quản lý chất lượng theo hệ thống ISO-9001:2000) Chỉ có như vậy mới khuyến khích các nhà thầu tự đảm bảo chất lượng công trình, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, tiến tới xây dựng được một “văn hóa xây dựng” cho ngành xây dựng Việt Nam.
2.4.4.3 Thi công
Đóng vai trò đặc biệt quan trọng, QLCL trong các giai đoạn trước chỉ là gián tiếp thì QLCL giai đoạn thi công là trực tiếp Vì vậy, các chính sách chất lượng tập trung chủ yếu vào giai đoạn này Các chủ thể tham gia QLCL bao gồm: Nhà nước, Chủ đầu tư, các nhà thầu thi công, cơ quan kiểm định chất lượng, TVGS, nhà thầu thiết kế, cộng đồng…Mối quan hệ giữa các chủ thể trong hệ thống QLCL công trình xây dựng thể hiện:
Hình 2.13 Mối quan hệ giữa các chủ thể trong hệ thống QLCL công trình xây dựng
(Nguồn: Quản lý dự án đầu tư xây dựng, PGS.TS Trịnh Quốc Thắng, 2007)
Giám sát
Chất lượng Giá thành Tiến độ
An toàn lao động Môi trường
Kiểm tra
Chủ đầu tư: Ban Quản lý dự án
Công ty bảo hiểm
H Đ K T
H Đ K T
H Đ K T