Ở nước ta kinh tế tư nhân đã có một lịch sử phát triển thăng trầm. Trước đổi mới, do quan niệm sai lầm đánh đồng kinh tế quốc doanh với CNXH, nên chúng ta đã nôn nóng xoá bỏ kinh tế tư nhân. Sai lầm cực đoan đó đã dẫn tới lãng phí các nguồn lực làm chậm tiến trình phát triển kinh tế của đất nước.Kể từ Đại hội VI của Đảng, nhất là từ khi có Nghị quyết 16 NQTW của Bộ Chính trị BCHTW khoá VI về đổi mới chính sách và cơ chế quản lý kinh tế ngoài quốc doanh, kinh tế tư nhân ở nước ta mới được phục hồi phát triển.Nằm trong bối cảnh chung của cả nước, trong những năm đổi mới vừa qua kinh tế tư nhân ở Nam Định đã có những bước phát triển đáng kể. Khu vực kinh tế tư nhân đã góp phần quan trọng vào huy động các nguồn lực giải quyết việc làm tăng thu nhập và làm sống động nền kinh tế của địa phương, tạo áp lực cạnh tranh thúc đẩy tăng trưởng và phát triển nền kinh tế trên địa bàn.Bên cạnh những thành quả trên cũng như tình trạng chung của cả nước, hoạt động kinh tế tư nhân ở Nam Định vẫn bộc lộ không ít hạn chế tiêu cực. Tuy số lượng cơ sở và doanh nghiệp tư nhân tăng lên rất nhanh, nhất là từ khi có luật doanh nghiệp (năm 2000), nhưng chất lượng hoạt động chưa tương xứng với sự gia tăng đó. Hầu hết cơ sở doanh nghiệp tư nhân quy mô còn nhỏ, công nghệ lạc hậu, chất lượng nguồn nhân lực kém, còn mang nặng tính tự phát, chủ sản xuất kinh doanh chưa yên tâm phát triển lâu dài… tình trạng này gây tác động hạn chế không nhỏ đến yêu cầu đẩy mạnh CNH HĐH của thành phố và quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Nam Định đang thiếu các giải pháp và cơ chế để phát huy những yếu tố tích cực của thành phần kinh tế này và hạn chế những tiêu cực của nó trong quá trình phát triển.
Trang 1CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH
TẾ TƯ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
4
1.1 Bản chất, vai trò và đặc điểm của kinh tế tư nhân trong nền
kinh tế thị trường
4
1.2 Nhân tố ảnh hưởng và nội dung phát triển kinh tế tư nhân
trong nền kinh tế thị trường
22
1.2.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế tư nhân trong
nền kinh tế thị trường
22
1.2.2 Nội dung phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường 25
1.3 Kinh nghiệm phát triển kinh tế tư nhân của trung quốc và
thành phố hồ chí minh
28
1.3.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế tư nhân của Trung Quốc 29
1.3.2 Kinh nghiệm phát triển kinh tế tư nhân ở Thành phố Hồ Chí Minh 32
1.3.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra cho phát triển kinh tế tư
2.1 Sự cần thiết phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Nam Định 35
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Nam Định ảnh
hưởng đến sự phát triển kinh tế tư nhân
Trang 2tỉnh Nam Định từ năm 2000 đến nay
2.3.2 Những hạn chế, bất cập của KTTN và nguyên nhân 64
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN
KINH TẾ TƯ NHÂN Ở TỈNH NAM ĐỊNH
74
3.1 Phương hướng phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh nam định 74
3.1.1 Xu hướng phát triển của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN ở Việt Nam
74
3.1.2 Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và các thành phần
kinh tế xã hội của tỉnh Nam Định
77
3.1.3 Định hướng và mục tiêu phát triển KTTN ở tỉnh Nam Định 81
3.2 Các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển mạnh mẽ, đúng hướng và
có hiệu quả kttn ở tỉnh nam định thời gian tới
86
3.2.1 Tăng cường công tác tuyên truyền làm cho mọi người nhận
thức đúng đắn hơn chủ trương của Đảng về KTTN
86
3.2.2 Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách và pháp luật
tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân
3.2.5 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của các tổ
chức đoàn thể nhân dân và các hiệp hội doanh nghiệp đối với
Trang 3XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 4Biểu số 2.8 Cơ cấu trình độ trang thiết bị, công nghệ
Biểu số 2.9 Thị trờng tiêu thụ
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Ở nước ta kinh tế tư nhân đã có một lịch sử phát triển thăng trầm Trướcđổi mới, do quan niệm sai lầm đánh đồng kinh tế quốc doanh với CNXH, nênchúng ta đã nôn nóng xoá bỏ kinh tế tư nhân Sai lầm cực đoan đó đã dẫn tớilãng phí các nguồn lực làm chậm tiến trình phát triển kinh tế của đất nước
Kể từ Đại hội VI của Đảng, nhất là từ khi có Nghị quyết 16 NQ/TW của
Bộ Chính trị BCH-TW khoá VI về đổi mới chính sách và cơ chế quản lý kinh
tế ngoài quốc doanh, kinh tế tư nhân ở nước ta mới được phục hồi phát triển.Nằm trong bối cảnh chung của cả nước, trong những năm đổi mới vừa quakinh tế tư nhân ở Nam Định đã có những bước phát triển đáng kể Khu vực kinh
tế tư nhân đã góp phần quan trọng vào huy động các nguồn lực giải quyết việclàm tăng thu nhập và làm sống động nền kinh tế của địa phương, tạo áp lực cạnhtranh thúc đẩy tăng trưởng và phát triển nền kinh tế trên địa bàn
Bên cạnh những thành quả trên cũng như tình trạng chung của cả nước,hoạt động kinh tế tư nhân ở Nam Định vẫn bộc lộ không ít hạn chế tiêu cực.Tuy số lượng cơ sở và doanh nghiệp tư nhân tăng lên rất nhanh, nhất là từ khi
có luật doanh nghiệp (năm 2000), nhưng chất lượng hoạt động chưa tươngxứng với sự gia tăng đó Hầu hết cơ sở doanh nghiệp tư nhân quy mô còn nhỏ,công nghệ lạc hậu, chất lượng nguồn nhân lực kém, còn mang nặng tính tựphát, chủ sản xuất - kinh doanh chưa yên tâm phát triển lâu dài… tình trạngnày gây tác động hạn chế không nhỏ đến yêu cầu đẩy mạnh CNH - HĐH củathành phố và quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Nam Định đangthiếu các giải pháp và cơ chế để phát huy những yếu tố tích cực của thành phầnkinh tế này và hạn chế những tiêu cực của nó trong quá trình phát triển
Trước những vấn đề bức bách nêu trên tôi chọn đề tài “Phát triển kinh
tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Nam Định” làm đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế
của mình
Trang 62 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Vấn đề kinh tế tư nhân ở nước ta nói chung và ở các tỉnh nói riêng đã đượcquan tâm nghiên cứu, phân tích và đã trở thành chủ trương của Đảng trongđường lối chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong công cuộc đổi mới
Đến nay đã có các công trình được công bố trên sách tạp chí như: “ Pháttriển KTTN thực trạng và giải pháp” - Tạp chí nghiên cứu kinh tế số 12;
“KTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam” Đề tàikhoa học cấp bộ mã số 94-980076/ĐT Học viện chính trị quốc gia Hồ ChíMinh; “ Khuyến khích phát triển khu vực kinh tế tư nhân” TS Nguyễn ĐìnhTài Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW các công trình trên đã hướng vàonghiên cứu kinh tế tư nhân ở khía cạnh quản lý Tuy đã có công trình nghiêncứu từ góc độ kinh tế chính trị, nhưng hiện nay kinh tế tư nhân đã có nhiềuchuyển biến quan trọng, đang đứng trước đòi hỏi mới của sự phát triển Tácgiả lựa chọn nghiên cứu đề tài dưới góc độ kinh tế chính trị là mới mẻ và thiếtthực, không trùng lập với các công trình và đề tài đã được công bố
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở xác định bản chất, vai trò và xu hướng vận động của kinh tế tưnhân trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam luận văn phân tích, đánh giá thựctrạng thành phần kinh tế tư nhân ở Nam Định, trên cơ sở đó đề xuất phươnghướng và một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy mặt tích cực hạn chế mặt tiêucực của nó trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Nam Định
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về phát triển kinh tế tư nhân trongnền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta trên cơ sở đóvận dụng vào phân tích thành phần kinh tế tư nhân ở tỉnh Nam Định
- Phân tích đánh giá thực trạng kinh tế tư nhân ở Nam Định, chỉ rõnhững thành công, hạn chế và nguyên nhân những hạn chế trong phát triểnkinh tế tư nhân ở tỉnh Nam Định
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm phát triển kinh tế tư nhântrên địa bàn tỉnh Nam Định trong thời gian tới
Trang 74 Đối tượng - phạm vi nghiêm cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ các cơ sở và doanh nghiệp thuộc khuvực kinh tế tư nhân trong các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ thươngmại trên địa bàn tỉnh Nam Định
- Phạm vi thời gian từ năm 2000 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu:
- Luận văn sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác -Lênin và tưtưởng Hồ Chí Minh
- Các phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị được coi trọng sử dụngtrong luận văn là phương pháp khảo sát thực tiễn, phân tích và tổng hợp, phươngpháp trừu tượng hoá khoa học, phương pháp thống kê, phân tích kinh tế…
6 Đóng góp của luận văn:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận và các quan điểm của Đảng ta vềKTTN trong công cuộc đổi mới đất nước
- Đánh giá tổng quát quá trình khôi phục và phát triển KTTN ở tỉnh NamĐịnh từ năm 2000 đến nay
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm phát huy tính tích cực và hạnchế những tiêu cực của thành phần kinh tế này trên địa bàn Qua đó đóng gópvào thực hiện chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa của Đảng
7 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận vănđược chia làm 3 chương 7 tiết
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế tư nhân trong
Trang 8CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
TƯ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1 BẢN CHẤT, VAI TRÒ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Trong lịch sử loài người, kinh tế tư nhân ra đời và tồn tại như một tất yếulịch sử gắn với việc duy trì cuộc sống và phát triển xã hội thông qua lao độngsản xuất Khu vực này đã từng tồn tại hàng nghìn năm nay, từ thời nô lệ và pháttriển rất lâu trước khi hình thành khu vực kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước
Ở nước ta, trong một thời gian dài đã giáo điều cho rằng (Kinh tế tưnhân) KTTN tương đồng với chủ nghĩa tư bản, còn kinh tế quốc doanh vàkinh tế tập thể tương đồng với CNXH Do vậy khi nói đến KTTN trong xâydựng CNXH, người ta thường nhấn mạnh mặt tiêu cực, mặt xấu mà ít chú ýđến mặt tiến bộ và sự cần thiết của nó trong sự phát triển lực lượng sản xuất
xã hội Trong nhận thức cũng như trong tổ chức thực tiễn, chúng ta đã tìm cácgiải pháp xoá bỏ KTTN với mong muốn sớm có CNXH Sự ràng buộc củaquan niệm giáo điều này đã cản trở nghiêm trọng đến việc huy động cácnguồn lực cho sự tăng tưởng và phát triển kinh tế của đất nước
Từ khi đổi mới đến nay, chúng ta đã nhận thức lại khu vực KTTN và đãđạt được những thành tựu thực tiễn kinh tế - xã hội quan trọng KTTN ngàycàng tỏ rõ vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ởViệt Nam Thực tiễn này đặt ra cần phải nghiên cứu để phát huy hơn nữa vaitrò của khu vực kinh tế này trong quá trình phát triển của cả nước nói chung,các tỉnh nói riêng Để đạt được yêu cầu này, trước hết cần phải làm rõ bảnchất và đặc điểm của KTTN
1.1.1 Quan niệm về kinh tế tư nhân
Theo C.Mác, quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất có vai trò phản ánhđặc trưng của các hình thức quan hệ kinh tế nói chung cũng như hình thức tổchức kinh tế nói riêng, nó quyết định quan hệ tổ chức quản lý sản xuất và
Trang 9phân phối kết quả sản xuất Như vậy, có thể nhận thức rằng KTTN được đặctrưng bởi sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Mặc dù trong các tài liệu nghiêncứu của Mác và Lê Nin không sử dụng thuật ngữ KTTN, nhưng các ông lạithường đề cập đến các thuật ngữ sở hữu tư nhân, sở hữu tư nhân tư bản chủnghĩa, lao động tư nhân Nói KTTN TBCN chính là C.Mác nói đến một hìnhthức phát triển của KTTN trong thời đại TBCN.
Ở nước ta cho đến nay đã có nhiều quan niệm về KTTN Có quan niệmcho rằng KTTN là một thành phần kinh tế, nhưng ý kiến khác lại cho rằngKTTN là một khu vực kinh tế, một hình thức tổ chức doanh nghiệp hoặc làkhu vực kinh tế dân doanh
Trong các văn kiện của Đảng ta, KTTN thường được hiểu là một thànhphần kinh tế Chẳng hạn Nghị quyết 16 của Bộ chính trị (1988) và Nghị quyếthội nghị Trung ương lần thứ sáu (khoá VI) nêu quan niệm: KTTN là đơn vịkinh tế do những người có vốn, có tài sản lập ra, sản xuất, kinh doanh theopháp luật, bao gồm các hình thức xí nghiệp tư doanh, công ty hợp doanh,công ty cổ phần
Trong văn kiện Đại hội IX của Đảng, KTTN được hiểu bao gồm kinh tế
cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân Trong văn kiện có đoạn viết:
“Kinh tế tư nhân được phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, theo
sự quản lý hướng dẫn của Nhà nước, trong đó kinh tế cá thể và tiểu chủ cóphạm vi hoạt động tương đối rộng lớn ở những đơn vị chưa có điều kiện tổchức kinh tế tập thể, hướng kinh tế tư bản tư nhân phát triển theo con đường
tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức [3, tr.69]
Cách hiểu này được căn cứ vào tính chất của quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất và vốn
Quan niệm như trên cũng được ghi trong luật pháp và chính sách củaNhà nước ta Chẳng hạn, Hiến pháp năm 1992 quy định chế độ sở hữu ở ViệtNam bao gồm ba hình thức cơ bản: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư
Trang 10nhân Trên cơ sở chế độ sở hữu đó, nền kinh tế có các thành phần cơ bản làkinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân vàkinh tế tư bản nhà nước [16].
Nghị định 27-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) vềChính sách đối với kinh tế tư doanh và cá thể cũng có quan niệm tương tựnhư trong Hiến pháp năm 1992 Quyết định 147/TCTK-PPCĐ ngày27/2/1993 của Tổng cục thống kê đã phân chia nền kinh tế thành ba khu vực:kinh tế trong nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và kinh tế đầu tư ra nướcngoài Khu vực kinh tế trong nước bao gồm năm thành phần: kinh tế nhànước, kinh tế tập thể, KTTN, kinh tế cá thể và kinh tế hỗn hợp [31] Trong khi
đó, các số liệu thống kê lại tổng hợp theo hình thức tổ chức sản xuất, kinhdoanh như doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty tráchnhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các
Trong các nhà nghiên cứu cũng có những ý kiến khác nhau về KTTN:
- Loại ý kiến thứ nhất cho rằng KTTN là hình thức kinh tế dựa trên sởhữu toàn bộ hay đại bộ phận tư liệu sản xuất thuộc về tư nhân và lao động làmthuê, người chủ chiếm đoạt giá trị thăng dư do công nhân sáng tạo ra [30,tr.21 - 25] Về hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, KTTN bao gồm doanhnghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần (do tư nhân nắm tỷ lệ cổphiếu khống chế) Quan niệm KTTN như vậy đã không bao gồm các cơ sởkinh tế cá thể Trong các thuộc tính để xác định KTTN, ngoài quan niệm sởhữu đối với tư liệu sản xuất còn có các quan niệm về thuê mướn lao động, cóbóc lột
Trang 11- Loại ý kiến thứ hai cho rằng “KTTN gồm các đơn vị kinh tế mà phầnlớn vốn do một hoặc một số tư nhân góp lại, huy động cổ phần (nhưng do mộthay một nhóm tư nhân nắm cổ phiếu khống chế, chi phối), thuê lao động sảnxuất kinh doanh” [30, tr.16] Những người theo loại ý kiến này cho rằngkhông nên phân biệt tư nhân với cá thể vì không thể lấy tiêu chuẩn có thamgia lao động trực tiếp hay không bóc lột Ngoài ra, lý do chính mà trước đâycần có sự phân biệt như vậy là để “cải tạo tư sản” và phân biệt đối xử trongchính sách, nhưng hiện nay như vậy là không có lợi Hơn nữa cơ sở để xácđịnh KTTN hay loại hình kinh tế nào không chỉ căn cứ vào sở hữu tư liệu sảnxuất, mà còn phải tính đến cả sở hữu vốn và tài sản kể cả những thứ chưathành tư liệu sản xuất nhưng có thể đưa vào sản xuất [30, tr.21].
- Loại ý kiến thứ ba cho rằng, KTTN bao gồm các công ty, doanh nghiệp
tư nhân và các cơ sở kinh tế cá thể Nó còn bao gồm cả các hợp tác xã do tưnhân đội lốt, các doanh nghiệp có vốn nước ngoài [13, tr.3 - 6], hoặc bao gồmkinh tế gia đình, tiểu chủ và tiểu tư nhân có phân biệt theo giá trị tài sản và sốlao động làm thuê [5, tr.23] Nghĩa là, KTTN bao gồm tất cả các cơ sở kinh tếdựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất hoặc sở hữu tư nhân chiếm ưu thế,không bao gồm các hợp tác xã đích thực
- Loại ý kiến thứ tư, KTTN bao gồm tất cả các cơ sở kinh tế ngoài kinh
tế nhà nước (kể cả hợp tác xã và kinh tế gia đình) [21, tr.33-36]
- Loại ý kiến thứ năm lại coi KTTN là một khu vực, bao gồm các tổ chứckinh tế mà sở hữu tư nhân và hoạt động sản xuất, kinh doanh của chúng domột hoặc một nhóm tư nhân tổ chức và quản lý [17, tr.5] Như vậy, việc xácđịnh KTTN ở đây ngoài yếu tố cơ bản là sở hữu về tư liệu sản xuất (hoặc vốn)còn có cả yếu tố quản lý và tổ chức
Những ý kiến trên đã không thống nhất về quan niệm KTTN, tiêu thứcxác định KTTN chưa rõ ràng và chưa nhất quán Nếu lấy sở hữu tư nhânlàm cơ sở để xác định KTTN thì tại sao trong loại hình kinh tế này lại có cả
Trang 12kinh tế tư nhân cá thể và các hợp tác xã (trong khi Hiến pháp năm 1992 lạiquy định nước ta có ba hình thức sở hữu: toàn dân, tập thể và tư nhân) Nếucăn cứ vào tiêu chí có bóc lột người lao động hay không bóc lột để phânbiệt KTTN và kinh tế cá thể, thì ai dám khẳng định rằng các cơ sở kinh tế
cá thể có hàng chục, thậm chí hàng trăm lao động như hiện nay là khôngbóc lột Ở đây khó có thể xác định một cách chính xác khu vực KTTN dohiện tượng tư nhân núp bóng khu vực nhà nước, mượn tên doanh nghiệpnhà nước, xây dựng các “sân sau” bên cạnh các doanh nghiệp nhà nước,trốn tránh việc đăng ký kinh doanh, hoặc tư nhân đội lốt tập thể dưới dạngcác “tổ hợp” và đội lốt hộ gia đình
Trong tất cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở nước ta hiệnnay, có những doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, doanh nghiệp liêndoanh , nó không chỉ bao gồm các chủ đầu tư là tư bản tư nhân mà còn có cảcác chủ là nhà nước ở các nước Tư bản và các nước Xã hội chủ nghĩa Do vậykhông nên liệt kê các doanh nghiệp loại này vào KTTN Đại hội IX của Đảng
ta năm 2001 đã xác định các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là mộtthành phần kinh tế gọi là kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Sự xác định nhưvậy là đúng chứ không nên xếp chúng vào khu vực KTTN
Do sự thiếu rõ ràng, nhất quán trong nhận thức như trên, nên trong tổ chứcthực tiễn khu vực KTTN còn gặp không ít khó khăn, lúng túng, kém hiệu quả.Hiện nay, ở hầu hết các nước trên thế giới, nền kinh tế được phân chiathành hai khu vực chủ yếu là khu vực KTTN và khu vực kinh tế nhà nước.Khu vực kinh tế nhà nước do nhà nước là chủ sở hữu (hoặc có tỷ lệ cổ phầnkhống chế) nên nhà nước có thể chi phối và kiểm soát trực tiếp hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp Khu vực KTTN là phần còn lại ngoài khuvực nhà nước Nền kinh tế của Trung Quốc hiện nay cũng đươc chia ra thànhhai khu vực: khu vực kinh tế công hữu (gồm kinh tế quốc hữu và kinh tế tậpthể) và kinh tế phi công hữu (bao gồm KTTN và kinh tế có vốn đầu tư nước
Trang 13ngoài); tức là KTTN là một khu vực kinh tế phi công hữu Những sự phânchia trên chủ yếu dựa trên quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất và vốn.
Trong nền kinh tế các nước hiện nay, sự đan xen sở hữu khu vực kinh tếnhà nước và KTTN làm cho sự phận loại thêm phức tạp Trong các công tyhỗn hợp, khu vực tư nhân được xác định dựa vào tỷ lệ vốn khống chế thuộc
về tư nhân Tỷ lệ vốn đó tuỳ thuộc vào điều kiện mỗi nước và có thể dao động
từ 18 - 40%, không nhất thiết phải trên 50%
Qua những phân tích trên, căn cứ vào quá trình ra đời và phát triển củaquan hệ sản xuất theo đó là quan hệ tổ chức, quản lý sản xuất và quan hệ phânphối sản phẩm, căn cứ vào quan niệm của Đảng ta về kinh tế tư nhân trongnền kinh tế nhiều thành phần, có thể hiểu KTTN là loại hình kinh tế ra đời vàphát triển trên cơ sở chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và vốn, tồn tạidưới nhiều hình thức tổ chức khác nhau tuỳ thuộc vào tính chất của chế độ sởhữu mà nó đại diện
KTTN đã từng tồn tại lâu dài qua những biến đổi của các hình thái kinh
tế - xã hội trong lịch sử Nó chứng tỏ có một sức sống mạnh mẽ đã vượt quanhững thử thách để tồn tại và phát triển lâu dài Trong nền kinh tế ở nước ta,KTTN tồn tại chủ yếu dưới ba hình thức: Kinh tế cá thể, Kinh tế tiểu chủ vàKinh tế tư bản tư nhân, tuy ranh giới không phải bao giờ cũng phân chia rạchròi giữa ba hình thức đó, nhất là giữa Kinh tế tiểu chủ và KTTN KTTN làmột bộ phận hữu cơ của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay
1.1.2 Đặc điểm của kinh tế tư nhân
KTTN có ba đặc điểm chủ yếu sau đây:
Một là Về hình thức sở hữu: KTTN tồn tại và phát triển dựa trên quan
hệ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và vốn cũng như tất cả của cải vật chấtđược tạo ra nhờ tư liệu sản xuất và vốn ấy Trong quá trình phát triển sản xuất
xã hội, sở hữu tư nhân đã trải qua các trình độ phát triển từ thấp đến cao.Trình độ thấp là sở hữu tư nhân nhỏ, đây là sở hữu của những người lao động
Trang 14tự do sản xuất ra sản phẩm từ lao động của mình và các thành viên trong giađình là chính Trình độ cao là sở hữu tư nhân lớn Tuy nó được phát triển từ
sở hữu tư nhân nhỏ, nhưng khi đã được hình thành thì nó lại là cơ sở làm nảysinh quan hệ kinh tế mới, đó là quan hệ giữa chủ sở hữu với người làm thuê.Những trình độ khác nhau của sở hữu tư nhân là những hình thức sở hữu đặctrưng của các phương thức sản xuất trong lịch sử Sở hữu tư nhân của chủ nôđặc trưng cho phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ, sở hữu tư nhân của địachủ và phương hội đặc trưng cho phương thức sản xuất phong kiến, sở hữu tưnhân tư bản chủ nghĩa đặc trưng cho phương thức sản xuất TBCN
Mặc dù sở hữu tư nhân đã tồn tại và phát triển trong các giai đoạn lịch sửkhác nhau về cả phương thức sản xuất và chế độ chính trị, nhưng chúng đều
có đặc điểm chung là tồn tại và phát triển khách quan dựa trên quy luật quan
hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ lực lượng sản xuất, chứ khôngphải theo ý muốn chủ quan của bất cứ một người hay một tổ chức nào
Để xác định vai trò và xu hướng vận động của KTTN trong nền kinh tếthị trường định hướng XHCN ở nước ta, dưới đây là những đặc điểm khácnhau cơ bản về sở hữu của khu vực này trong lịch sử
- Sở hữu tư nhân trong nền kinh tế thị trường khác sở hữu tư nhân trongnền kinh tế tự cung, tự cấp ở chỗ sở hữu tư nhân trong kinh tế thị trường dựatrên lực lượng sản xuất đã xã hội hoá Nó tồn tại và phát triển không thể táchrời với các hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế khác Nó như mộtthành tố trong hệ thống Chính nó đã đưa đến một mâu thuẫn nội tại trong sởhữu tư nhân của kinh tế thị trường: mâu thuẫn giữa tính chất xã hội về hoạtđộng sản xuất kinh doanh với tính chất tư nhân về chiếm hữu Đặc điểm nàykhông có ở sở hữu tư nhân trong nền kinh tế tự cung, tự cấp
Do sự phát triển của mẫu thuẫn nêu trên, nên kết cấu của sở hữu tư nhântrong kinh tế thị trường dần dần biến đổi theo hướng xã hội hoá như kinh tế
cổ phần, kinh tế hợp doanh
Trang 15- Sở hữu tư nhân trong kinh tế thị trường ra đời là kết quả của sự xoá bỏ
sở hữu tư nhân trong nền kinh tế tự cung, tự cấp (bằng kinh tế hay bằng tướcđoạt) C.Mác coi đây là bước phủ định thứ nhất Khi quá trình phát triển mâuthuẫn nói trên đến mức độ nào đó sẽ diễn ra bước phủ định thứ hai, được coi
là “phủ định của phủ định” đối với sở hữu tư nhân Quá trình đó tất yếu dẫnđến sở hữu xã hội
Điều này nghĩa là chỉ có sở hữu tư nhân trong kinh tế thị trường, chứkhông phải sở hữu tư nhân tự cung, tự cấp, mới có khả năng phát triển, dẫnđến sở hữu xã hội thông qua những biến đổi theo đòi hỏi của lực lượng sảnxuất Còn tất cả các hình thức sở hữu trong kinh tế tự cấp hay bao cấp dù quy
mô lớn (như các hợp tác xã kiểu cũ ở Việt Nam, nông trang, nông trường ởLiên Xô, công xã nhân dân ở Trung Quốc) không bao giờ có thể đưa đến sởhữu xã hội thực tế
- Sở hữu tư nhân trong các chế độ chính trị khác nhau thì địa vị có khác nhau, ở đây chỉ nói sở hữu tư nhân trong chế độ TBCN và trong chế độ doĐảng cộng sản cầm quyền
Trong nền kinh tế thị trường TBCN, sở hữu tư nhân giữ vai trò thống trị,
nó phù hợp với trình độ xã hội hoá của lực lượng sản xuất Vai trò lịch sử của
sở hữu tư nhân là thúc đẩy quá trình xã hội hoá, thông qua sản xuất giá trịthặng dư để tích luỹ tư bản Về khách quan, nó chuẩn bị tiền đề vật chất cho
xã hội sau này Vì vậy, tính chất bóc lột của kinh tế tư nhân TBCN đưa đếntăng trưởng và phát triển kinh tế, mặc dù người lao động phải trả giá cho sựphát triển ấy Còn kinh tế tư nhân trước CNTB chỉ kìm hãm kinh tế và xã hộitrong tình trạng lạc hậu Vì vậy, tính chất bóc lột TBCN khác với tính chấtbóc lột của kinh tế tư nhân trước CNTB Vì tính chất khác nhau đó, nên trong
“Lời tựa” viết cho Bộ “tư bản”, C.Mác nêu nhận xét: Chúng ta đau khổ khôngnhững vì sự phát triển của sản xuất TBCN mà còn đau khổ vì nó phát triểnchưa đầy đủ
Trang 16Còn trong nền kinh tế thị trường ở các nước do Đảng cộng sản cầmquyền thì sở hữu tư nhân chỉ là một bộ phận trong cơ cấu nhiều hình thức sởhữu Nó chịu tác động qua lại giữa các hình thức sở hữu khác, tạo ra cơ hội vàgiới hạn nhất định đối với KTTN.
Ở đây, KTTN vẫn còn bóc lột ở mức độ nhất định, nhưng khác vớiKTTN trong chế độ TBCN ở chỗ mức độ bóc lột được điều chỉnh cho phùhợp với yêu cầu của chế độ mới, ở đây động lực làm giàu của tư nhân đượckết hợp với mục tiêu mà xã hội mới lựa chọn và được xác định là làm giàuchính đáng Do thể hiện đường lối quan điểm của Đảng cộng sản, nên hệthống pháp luật và hoạt động quản lý của nhà nước cơ bản phản ảnh quan hệhợp lý giữa lợi ích của tư nhân với lợi ích toàn xã hội Trong điều kiện đó,kinh tế tư nhân có phát triểntheo định hướng TBCN hay không chủ yếu quyếtđịnh bởi hoạt động quản lý của nhà nước, bởi năng lực và phẩm chất của bộmáy nhà nước
Đặc điểm này đòi hỏi tư duy kinh tế chính trị của những người lãnh đạođối với KTTN trong điều kiện Đảng cộng sản cầm quyền phải phát triển caohơn, mới hơn so với nhận thức về KTTN trước khi giành được chính quyền.Chỉ như vậy mới tìm ra được giải pháp phát huy các nguồn lực (về vốn, côngnghệ, năng lực quản lý, thu hút lao động tạo việc làm ) để mở rộng giới hạnkhả năng, nâng cao hiệu quả của nền sản xuất xã hội, thúc đẩy tăng trưởngkinh tế và tạo tiềm năng cho đất nước trong mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế.Thật không đúng nếu áp dụng chủ trương “trải thảm đỏ” mời gọi đầu tư nhânnước ngoài, nhưng lại coi thường, đối đãi thiếu bình đẳng đối với kinh tế tưnhân trong nước
Hai là Về hình thức tổ chức, quản lý: Trong thời kỳ kinh tế tự cung, tự cấp,
KTTN tồn tại dưới hình thức tổ chức hộ sản xuất, còn trong kinh tế thị trường,hoạt động kinh tế của tư nhân được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau Dướiđây là các hình thức tổ chức, quản lý chủ yếu của KTTN trong kinh tế thị trường:
Trang 17- Doanh nghiệp một chủ: Đây là hình thức truyền thống và phổ biến củaKTTN Nó do một cá nhân nắm quyền sở hữu Hình thức này đặc biệt thíchhợp với các hoạt động sản xuất, kinh doanh nhỏ, không đòi hỏi vốn lớn vàcông nghệ phức tạp Ưu thế của loại hình doanh nghiệp này là:
Chủ doanh nghiệp được toàn quyền thu lợi nhuận tại doanh nghiệp, qua
đó kích thích người có vốn vừa và nhỏ ham muốn kinh doanh tham giathương trường
Trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp thường là vô hạn gắn liền với tài sản
và uy tín, thân nhân của cá nhân người chủ, điều này làm cho doanh nghiệp dễhoạt động (được bạn hàng tin cậy trong làm ăn) dù số vốn đầu tư có thể rất nhỏ
Về tâm lý, chủ doanh nghiệp có được cảm giác hài lòng khi tự mình làmchủ doanh nghiệp, nó kích thích người có vốn tự khẳng định mình trong hoạtđộng kinh tế
Quản lý doanh nghiệp do một người, cá nhân chủ sở hữu, trực tiếp quyếtđịnh Điều này làm cho doanh nghiệp có ưu thế trong xử lý các tình huống, linh hoạt trong hoạt động kinh doanh
Tuy nhiên doanh nghiệp một chủ còn có những bất lợi như trách nhiệmpháp lý về tài chính doanh nghiệp là vô hạn nên dễ gây tâm lý nặng nề khichủ doanh nghiệp đầu tư dài hạn, đổi mới công nghệ thường gặp khó khăn, vìkhông có người chia sẻ trách nhiệm trong quản lý nên các quyết định lớnthường có độ rủi ro cao
- Doanh nghiệp nhiều chủ (sở hữu nhóm): Đây là doanh nghiệp mà
sở hữu gồm ít nhất là hai chủ Họ ký kết với nhau một hợp đồng sở hữu nhóm đểxác lập doanh nghiệp Ưu thế của loại doanh nghiệp này là huy động được nhiềuvốn ban đầu, các thành viên tích cực cao vì cùng tham gia điều hành doanhnghiệp Song nó cũng có những bất lợi như tất cả các thành viên đều phải chịutrách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của doanh nghiệp, tính bền vững của doanhnghiệp không cao vì có thể xảy ra bất đồng giữa các thành viên
Trang 18- Công ty: Đây là một thực thể kinh doanh tồn tại độc lập với các chủ sởhữu của nó Lợi thế của hình thức này là các chủ sở hữu chỉ phải chịu tráchnhiệm hữu hạn trên phần vốn góp vào công ty; công ty thường có khả năngtồn tại và phát triển lâu dài không phụ thuộc vào những biến đổi gắn với cuộcđời các chủ sở hữu, quyền sở hữu công ty sẵn sàng chuyển nhượng; dễ huyđộng được nguồn vốn lớn thông qua phát hành các loại chứng khoán Song nó
có những bất lợi như thường phải chịu sự kiểm soát của các cơ quan quản lýtài chính nên thường không có bí mật hoạt động
Ngoài ba hình thức chủ yếu trên, KTTN còn có thể tồn tại dưới các hìnhthức tổ chức, quản lý như doanh nghiệp nhóm hữu hạn (có một hoặc mộtnhóm nhỏ chủ sở hữu tham gia chính cùng với một hoặc nhiều chủ sở hữutham gia phụ), liên doanh giữa các chủ tư nhân, uỷ quyền kinh doanh
Ba là Về hình thức phân phối: Trong KTTN hình thức này được thực
hiện dựa trên cơ sở sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất đồng thời là người laođộng, không có thuê mướn nhân công, thì phân phối sản phẩm được thực hiệntrực tiếp trong nội bộ gia đình Đối với các cơ sở tư nhân mà chủ sở hữu có sửdụng lao động làm thuê, thì phân phối sản phẩm căn cứ vào giá trị sức laođộng của lao động làm thuê để trả công cho họ, còn phần thặng dư thuộc vềngười sở hữu Đối với các công ty tư nhân có nhiều chủ đồng sở hữu, việcphân phối kết quả sản xuất kinh doanh được dựa trên cơ sở vốn góp của mỗichủ có ở trong công ty Tất nhiên, trong các chế độ xã hội khác nhau thì cơchế phân phối của kinh tế tư nhân có sự khác biệt nhất định Trong nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta, hình thức phân phối trong KTTNđược dựa trên nguyên tắc vốn góp và các đóng góp của tư nhân vào kết quảhoạt động của doanh nghiệp Nó được tồn tại và phát triển cùng với các hìnhthức phân phối khác, trong đó phân phối theo kết quả lao động và hiệu quảkinh tế là chủ yếu
Trang 191.1.3 Vai trò của kinh tế tư nhân
Thông thường, để đánh giá vai trò của một khu vực kinh tế, các nướcthường sử dụng các chỉ tiêu như tỷ trọng của nó trong GDP (hoặc trong giá trịgia tăng, trong tổng doanh thu), tỷ lệ trong huy động vốn kinh doanh (hoặcvốn cố định) và tỷ lệ thu hút lao động xã hội (tạo việc làm) Ngoài ra, cácnước còn sử dụng các chỉ tiêu khác để đánh giá vai trò của KTTN trong tăngtrưởng kinh tế, đóng góp cho ngân sách quốc gia… Song, việc đánh giá vàphát triển, nhằm tổng kết vai trò của một khu vực kinh tế trong nền kinh tếquốc dân, chứ chưa có tính khái quát về lý luận
Từ phương pháp tiếp cận của kinh tế chính trị, trên cơ sở khái quát thựctiễn ở các nước từ trước tới nay, có thể xác định vai trò của KTTN trên cácnội dung chủ yếu sau:
Một là Thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư xã hội vào đầu tư phát triển KTTN bao gồm các cơ sở sản xuất, kinh doanh được hình thành và phát triển
dựa trên vốn của các cá nhân Các nhà kinh doanh tự bỏ vốn đầu tư, tự mìnhxây dựng doanh nghiệp, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình
Sự phát triển của khu vực này có vai trò rất lớn trong thu hút các nguồn vốn
xã hội vào đầu tư phát triển Nguồn vốn của các doanh nghiệp tư nhân phầnlớn được tích luỹ bằng lao động sáng tạo của cá nhân và gia đình họ, đượcgòm góp lại từ thế hệ này qua thế hệ khác (tất nhiên không loại trừ các biệnpháp tích luỹ cực đoan, không chính đáng, song nếu nhà nước cấm đoán hoặckhông cho phép tồn tại các cơ sở KTTN thì nguồn vốn đó không được đưavào đầu tư phát triển) Sở hữu các chủ tư nhân chính là nguồn vốn khởi đầu
để các nền kinh tế có thể tồn tại và phát triển
Sở hữu tư nhân cùng với sự phát triển của hình thức kinh doanh mộtchủ có vai trò là cơ sở để hình thành các hình thức kinh doanh chung vốn,công ty trách nhiệm hữu hạn, các hợp tác xã… con đường hợp quy luật đểphát triển các hình thức sở hữu tập thể, sở hữu nhà nước là phải biết huy độngcác nguồn vốn thông qua phát triển KTTN
Trang 20KTTN làm tăng nguồn thu từ thuế Qua đó, tạo điều kiện để nhà nướcthực hiện tốt chức năng của mình Kinh nghiệm các nước cho thấy, để pháttriển kinh tế đất nước, nếu chi trông chờ vào nguồn đầu tư của nhà nước thìkhông thể thực hiện được các mục tiêu kinh tế - xã hội đã đặt ra Sự phát triểnkinh tế tư nhân sẽ tạo ra nguồn đầu tư quan trọng đóng góp vào quá trình tăngtrưởng và phát triển của nền kinh tế.
Hai là Tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp phần rất quan trọng vào giải quyết nạn thất nghiệp trong xã hội Ở các nước phát triển, các
doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc khu vực KTTN chiếm tỷ trọng tương đối lớntrong tổng số doanh nghiệp của mỗi nước và giải quyết việc làm cho khoảng 2/3lực lượng lao động công nghiệp Ở Trung Quốc, năm 1989 mới chỉ có 90.581 hộkinh tế tư nhân sử dụng 164 vạn lao động, đến năm 1997 đã tăng lên 960.726 hộthu hút 1.349 vạn lao động; số lượng lao động thu hút vào khu vực này tăng bìnhquân 30,1% năm trong khoản thời gian này [24, t.401]; đến năm 2001, lao động
đã có khoảng 2,209 triệu doanh nghiệp tư nhân và 2,4533 triệu hộ cá thể với sốvốn đăng ký 2.164,8 tỉ nhân dân tệ [5.tr.13] Ở nước ta năm 2000, lao động củakhu vực tư nhân là 21.017.326 người, chiếm 56,3% số lao động có việc làmthường xuyên trong cả nước Nhưng các khảo sát thực tế cho thấy số lao độnglàm việc trong khu vực tư nhân (nhất là ở hộ kinh doanh cá thể) nhiều hơn so với
số thống kê 20 - 30% [2, tr.31] Trong 4 năm vừa qua (năm 2000 - 2004), khuvực KTTN đã thu hút khoảng 1,6 đến 2 triệu chỗ làm việc mới và trở thành nơichủ yếu thu hút lao động [23, tr.5] Đến hết năm 2005, cả nước có 205.000doanh nghiệp tư nhân đăng ký theo Luật Doanh nghiệp; 2,5 triệu hộ kinh doanh
cá thể công thương nghiệp và dịch vụ; 130.000 trang trại và 12 triệu hộ nông dânsản xuất hàng hóa, tạo ra sinh khí mới năng động, sáng tạo trước nay chưa từng
có cho nền kinh tế KTTN đã và đang đảm bảo cho khoảng 90% lực lượng laođộng có việc làm Theo một nghiên cứu gần đây thì cứ 10 lao động trong doanhnghiệp cần 1 lao động ngoài doanh nghiệp thực hiện các công việc cung ứng đầuvào, tiêu thụ đầu ra, vệ tinh…
Trang 21Do có quy mô nhỏ và vừa, các cơ sở và doanh nghiệp tư nhân dễ thíchnghi với điều kiện nông thôn, nơi có nhiều lao động dôi dư, lao động nôngnhàn, trình độ dân trí thấp và đời sống còn nhiều khó khăn Trong điều kiệnnhư vậy, KTTN có vai trò quan trọng đối với vấn đề giải quyết việc làm, giảmthất nghiệp Theo điều tra gần đây của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trungương, các doanh nghiệp tư nhân đầu tư trung bình từ 70 - 100 triệu đồng là đãtạo ra được 1 chỗ làm việc, trong khi đó doanh nghiệp nhà nước phải 210 - 280triệu đồng (cao gấp khoảng 3 lần) [1, tr.15]
Ba là Góp phần nâng cao chất lượng lao động, nuôi dưỡng tinh thần kinh doanh của nhân dân Tiềm năng trí tuệ, kinh nghiệm quản lý, tay nghề
và những kinh nghiệm sản xuất kinh doanh, bí truyền được tích luỹ từ đời nàyqua đời khác trong từng gia đình và dòng họ sẽ là nguồn sáng tạo vô tận cho
sự tăng trưởng kinh tế nếu ở đó chính phủ biết cách khơi dậy tiềm năng nàythông qua kích thích động cơ của họ KTTN là hình thức tổ chức có hiệu quảtrong đáp ứng đòi hỏi này Theo các khảo sát thực tiễn ở nước ta, nguồn tiềmnăng "chất xám" của khu vực KTTN rất đa dạng: có loại là Nhà nước đào tạotrong các trường chính quy như công nhân, kỹ thuật, nhà kinh tế đến các tiến
sĩ giáo sư…; có loại cá nhân tự bỏ tiền để học lấy một nghề nhất định, có loại
do các doanh nghiệp tư nhân sau khi tuyển dụng đã bỏ tiền ra để đào tạo vàđào tạo lại… Đây là nguồn lực rất to lớn của tăng trưởng kinh tế
Hơn nữa, trong khu vực KTTN do các nhà kinh doanh tự bỏ vốn củamình để đầu tư và chịu trách nhiệm (khác với doanh nghiệp nhà nước), và dophải trực tiếp chịu các áp lực của thị trường, nên các chủ doanh nghiệp phảitính toán chặt chẽ việc lựa chọn sản xuất kinh doanh Qua nhiều công trìnhnghiên cứu cho thấy hiệu quả sản xuất, kinh doanh ở nhiều lĩnh vực củaKTTN cao hơn so với các doanh nghiệp nhà nước; các chỉ tiêu hiệu quả vềvốn, thời gian thu hồi vốn, hiệu suất lao động… của khu vực tư nhân đều đạtmức cao hơn khu vực nhà nước [29, tr.11]
Trang 22Trong quá trình phát triển, do cạnh tranh trên thị trường, không ítdoanh nghiệp tư nhân bị đào thải, nhưng cũng không ít doanh nghiệp tư nhânvươn lên phát triển rồi trở thành các doanh nghiệp lớn đầy sức sống Ví dụ ởnước ta nhờ chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần và đổi mới cơ chếquản lý kinh tế trong nông nghiệp mà từ năm 1996 đến tháng 10 năm 2001 cảnước có 55.852 trang trại (theo số liệu khác thì đến 31/12/2001 cả nước cóhơn 130.000 trang trại trong nông nghiệp [15, tr.339] Đây là những đơn vịkinh tế được hình thành và phát triển từ các cơ sở kinh tế hộ ở nông thôn
Bốn là Cung cấp các sản phẩm và dịch vụ cụ thể cho xã hội KTTN đã
và đang là khu vực rộng lớn trong việc tạo ra sản phẩm và dịch vụ cụ thể cho
xã hội, đóng góp vào sản lượng quốc dân, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ỞTrung Quốc, tính đến năm 2001 đã có khoảng 2,209 triệu kinh doanh tư nhânsản xuất ra 1.231,7 tỷ nhân dân tệ Đây là một nguồn đóng góp rất quan trọngvào tổng sản phẩm quốc dân ở nước ta, từ năm 1995 đến nay, khu vực KTTNthường chiếm tỷ trọng khá ổn định, trên dưới 40% GDP toàn quốc [26, tr.53]
Ở các nước có nền kinh tế phát triển, nhờ áp dụng nghiệm ngặt chế độ
kế toán và kiểm toán, có luật thuế khoa học và hợp lý, người dân tự giác thựchiện nghĩa vụ công dân của mình, nên tỷ lệ thất thu thuế không đáng kể.Trong điều kiện này, khu vực KTTN thường có mức độ đóng góp lớn hơnngân sách nhà nước Ngoài ra, các doanh nghiệp trong khu vực này còn cócác khoản tự giác tài trợ, đóng góp cho sự phát triển chung của cộng đồng
Năm là Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và trang bị kỹ thuật, công nghệ đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước, nhất là CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Để CNH, HĐH đất nước, không thể không có doanh
nghiệp quy mô lớn, nhiều vốn, kỹ thuật, công nghệ hiện đại trong số cácngành như các doanh nghiệp nhà nước, nhằm tạo ra sức mạnh để cạnh tranhthắng lợi trên thị trường trong nước và quốc tế Bên cạnh đó, cần phải tăngkhả năng tích tụ và tập trung vốn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa để chúng
Trang 23vươn lên thành doanh nghiệp lớn Điều này có thể thực hiện thông qua pháttriển KTTN Thực tế các nước cho thấy, quá trình phát triển doanh nghiệp tìmkiếm phương thức kinh doanh có hiệu quả hơn nhằm giảm chi phí sản xuất,nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của hàng hoá trên thịtrường Đó chính là quá trình các chủ tư nhân phải đổi mới cơ sở vật chất - kỹthuật tại doanh nghiệp của mình, chuyển hướng kinh doanh vào các sản phẩm
có lợi nhất Quá trình này, tự nó làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướnghiện đại, hợp lý Nó lại càng trở nên có ý nghĩa đối với sự nghiệp CNH, HĐHnông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay Bởi vì KTTN là loại hình doanhnghiệp sử dụng phổ biến công nghệ trung gian - một cầu nối quan trọng trongviệc chuyển nền nông nghiệp còn nhiều lạc hậu lên sản xuất với kỹ thuật,công nghệ hiện đại Các cơ sở KTTN trong các lĩnh vực công nghiệp và dịch
vụ sẽ là những chủ thể cơ bản ban đầu đóng vai trò thực hiện và thúc đẩychuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.Thực tế ở nước ta vừa qua cho thấy, trình độ sản xuất, kinh doanh của KTTNngày càng tiến bộ hơn, số lượng hàng hoá thay thế hàng nhập khẩu và thamgia xuất khẩu tăng lên Một số sản phẩm đã góp phần chặn đứng đẩy lùi sựxâm nhập của hàng ngoại nhập
Sáu là KTTN đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành cơ cấu sở hữu XHCN Vai trò này được nhận thức từ sự phân tích logic kinh tế xã hội
hoá trong điều kiện thời đại và dân tộc hiện nay Trước đây, do không nhậnthức đúng sở hữu XHCN, nên đã gây ra nhận thức không đúng về sở hữu tưnhân, do đó cản trợ sự phát triển KTTN và nền kinh tế quốc dân
Theo C.Mác, sở hữu XHCN là kết quả của một quá trình xã hội hoá lâudài trong kinh tế thị trường Quá trình xã hội hoá ấy đưa đến hai hình thức sởhữu: Sở hữu xã hội và sở hữu cá nhân Hai bộ phận đó hợp thành sở hữuXHCN Do dựa trên phân tích logic xã hội hoá kinh tế mà các nhà sáng lậpchủ nghĩa Mác - Lênin đã cho rằng CNXH thay thế CNTB là một tất yếu
Trang 24Ở đây, sở hữu xã hội là kết quả quá trình phát triển xã hội hoá trongnền kinh tế nhiều thành phần Nó không hoàn toàn đồng nhất với sở hữunhà nước Còn sở hữu cá nhân thì hoàn toàn khác về bản chất với sở hữu tưnhân C.Mác đã từng dự báo rằng: sau này sở hữu cá nhân sẽ được khôiphục trên cơ sở những thành tựu của CNTB Sở hữu cá nhân là một điềukiện cần để con người phát triển tự do và toàn diện, khác hẳn với nhữngcon người trong chế độ nhà nước bao cấp và khác với những con ngườitrong chế độ TBCN Không có sở hữu cá nhân thì không có sự phát triển tự
do toàn diện của mỗi người Hơn nữa, sự phát triển toàn diện của cá nhân
là động lực và mục tiêu xây dựng xã hội mới là xã hội hoá mà "sự pháttriển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọingười" [8] Điều này nghĩa là mục tiêu xây dựng CNXH ở nước ta khôngthể bỏ qua vấn đề con người phát triển tự do toàn diện, và do đó không thể
bỏ qua vấn đề sở hữu cá nhân
Để rõ ràng hơn, cũng cần phải nói rõ về sở hữu nhà nước Trước đây,người ta đồng nhất sở hữu nhà nước, kinh tế nhà nước với sở hữu XHCN, còn
sở hữu cá nhân thì không nói tới Đó là nhận thức không đầy đủ
Nhìn lại lịch sử các chế độ xã hội trước đây, từ khi có nhà nước thì có
sở hữu nhà nước, kinh tế nhà nước dưới những hình thức khác nhau Sở hữunhà nước thường gắn liền với điều kiện tồn tại của giai cấp cầm quyền Vìvậy, kinh tế nhà nước chưa bao giờ thay thế vai trò kinh tế quốc dân
Trong điều kiện nước ta, với chế độ nhân dân làm chủ, kinh tế nhànước có vai trò cực kỳ quan trọng trong sự ra đời và phát triển nền kinh tế thịtrường định hướng XHCN như: vai trò tổ chức, xây dựng kết cấu hạ tầng.Đầu tư phát triển nền khoa học, công nghệ hiện đại, đầu tư cho khu vực dịch
vụ, phát triển giáo dục, liên doanh với các thành phần kinh tế khác trong vàngoài nước nhằm mục tiêu tăng trưởng Trong quá trình đó, sở hữu nhà nướcmới mang phương hướng đầu tư và hiệu quả đầu tư của kinh tế nhà nước
Trang 25Sự phân tích ở trên cho thấy rằng phát huy vai trò của kinh tế tư nhânhướng tới sự hình thành sở hữu XHCN là một tất yếu thuận lợi Đây là mộtthuận lợi cho sự phát triển theo con đường rút ngắn trong điều kiện nước ta.
Ngoài ra, KTTN còn có vai trò tạo ra điều kiện để thúc đẩy xuất khẩuhàng hoá, mở rộng hợp tác kinh tế với nước ngoài, góp phần quan trọng vàoviệc thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế
* Những hạn chế của kinh tế tư nhân.
Bên cạnh vai trò to lớn nêu trên, quá trình hoạt động của KTTN có thểdẫn đến những hạn chế (tiêu cực) như:
- Do bản chất tư hữu, chạy theo mục tiêu lợi nhuận tối đa, nên các chủdoanh nghiệp tư nhân thường tự phát đổ xô vào các ngành, lĩnh vực có tỷ suấtlợi nhuận cao (như thương mại, dịch vụ…), dẫn đến tình trạng có các ngành,lĩnh vực rất cần cho đời sống nhưng tỷ suất lợi nhuận thấp, nếu không đượcngân sách nhà nước tài trợ thì sẽ ít được tư nhân đầu tư
- Ở các nước đang phát triển trong đó có nước ta, do luật pháp chưahoàn thiện, nên khu vực KTTN sẵn sàng bộc lộ những tiêu cực như buôn lậu,làm hàng giả, gian lận thương mại, trốn tránh đăng ký kinh doanh, trốn thuế…
Ở các nước này môi trường, cạnh tranh lành mạnh chưa được đảm bảo Thôngqua cạnh tranh, các chủ tư nhân thường tìm các thủ đoạn không kinh tế đểtriệt tiêu nhau Các biện pháp mà họ thường dùng là bán phá giá, đầu cơ, tíchtrữ… Đây là những khả năng tiềm tàng gây ra sự mất ổn định kinh tế, rối loạnthị trường, dễ dẫn đến các cơn sốt giá cả, thổi bùng lạm phát
- Do quá chú trọng đến lợi ích cá nhân, lợi ích trước mắt nên hoạt độngcủa các chủ tư nhân thường thiếu tổ chức phối hợp, tự gây khó khăn cho nhautrên thị trường, làm suy yếu sức mạnh cạnh tranh của nhau, hạn chế khả năngchen chân và đứng vững trên thị trường thế giới
- Năng lực quản lý của các chủ tư nhân rất không đồng đều Nên cạnhtranh các nhà quản lý dày dạn kinh nghiệm, cha truyền con nối…, còn có
Trang 26không ít nhà doanh nghiệp nhảy ra thương trường với trình độ quản lý rấtnông cạn, thiếu kiến thức cần thiết về nghiệp vụ kinh tế, nghiệp vụ trongngành, thiếu hiểu biết về pháp luật… Đây là là nguyên nhân dẫn đến hàng loạtcác vụ đổ vỡ phá sản diễn ra trên thị trường ở nhiều nước.
Những hạn chế trên bắt nguồn từ bản chất và trình độ của KTTN Tuynhiên, sự bộc lộ những hạn chế đó còn do môi trường kinh tế, trình độ và chế
độ quản lý của nhà nước ở mỗi quốc gia Bởi vậy, cùng với chính sách pháttriển KTTN, cần phải tăng cường sự hướng dẫn và quản lý của nhà nước đốivới sự phát triển khu vực kinh tế này
1.2 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ NỘI DUNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.2.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường
Nhân tố ảnh hưởng phát triển kinh tế tư nhân gồm có các loại nhân tố
cơ chế luật pháp, chủ chương chính sách của nhà nước sau:
Một là Chính phủ Việt Nam đã coi trọng vai trò và có những chính
sách định hướng đúng cho kinh tế tư nhân phát triển, khẳng định khu vực này
là một trong những động lực của nền kinh tế, việc đó thể hiện rõ trong cácNghị quyết của Đảng:
Nghị quyết Trung ương 6 khoá VI (29/3/1989) tiếp tục khẳng địnhđường lối đổi mới và bổ xung cụ thể hóa một bước quan trọng: khuyến khích
tư nhân đầu tư, kinh doanh trong những ngành nghề, lĩnh vực có lợi cho quốc
kế dân sinh Nhưng, để bảo đảm sự kiểm soát và điều tiết của nhà nước, Đảng
ta chủ trương hướng kinh tế tư nhân vào kinh tế hợp tác xã với quy mô hoạtđộng sản xuất, kinh doanh không hạn chế, địa bàn hoạt động trong nhữngngành nghề sản xuất, xây dựng, vận tải, dịch vụ mà luật pháp không cấm
Đại hội lần thứ VIII của Đảng (6/1996) khẳng định: "Tiếp tục thực hiệnnhất quán, lâu dài chính sách kinh tế nhiều thành phần, khuyến khích mọi cá
Trang 27nhân trong và ngoài nước khai thác tiềm năng, ra sức phấn đấu đầu tư pháttriển, yên tâm làm ăn lâu dài, hợp pháp, có lợi cho quốc kế dân sinh, đối xửbình đẳng với mọi thành phần kinh tế trước pháp luật, không phân biệt sở hữu
và hình thức tổ chức kinh doanh
Đặc biệt Đại hội IX còn quan tâm tạo điều kiện cho "kinh tế tư bản tưnhân phát triển trên những định hướng ưu tiên của Nhà nước, kể cả đầu tư ranước ngoài" Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) đã xác định: "Kinh tế tưnhân là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân Pháttriển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tếnhiều thành phần định hướng XHCN, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợinhiệm vụ trọng tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nângcao nội của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế"
Đại hội X đề ra mục tiêu trong 5 năm (2006-2010) nhấn mạnh: thànhphần kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân) hoạt động theo phápluật, là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác
và cạnh tranh lành mạnh Cụ thể hoá hơn, Đảng ta đã khẳng định "Kinh tế tưnhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế" Vềchỉ đạo, Trung ương đã quyết định "Phát triển mạnh các hộ kinh doanh cá thể
và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân", "Xoá bỏ mọi rào cản hữu hình và
vô hình, tạo tâm lý xã hội và môi trường kinh doanh thuận lợi cho các loạihình doanh nghiệp của tư nhân phát triển không hạn chế quy mô trong mọingành nghề, lĩnh vực, kể cả các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh quan trọng củanền kinh tế mà pháp luật không cấm" Đối tượng tham gia vào khu vực kinh
tế tư nhân cũng được mở rộng hơn: "Mọi công dân có quyền tham gia cáchoạt động đầu tư, kinh doanh với quyền sở hữu tài sản và quyền tự do kinhdoanh được pháp luật bảo hộ; có quyền bình đẳng trong đầu tư, kinh doanh,tiếp cận các cơ hội, nguồn lực kinh doanh, thông tin và nhận thông tin" Một
Trang 28trong những nhân tố cốt lõi, là do Việt Nam có chính sách ngày càng cởi mở
và đúng đắn hơn đối với khu vực kinh tế tư nhân
Hai là Về mặt nhân thức phải thể hiện được tính tiên tiến nhất định về các
mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và tổ chức quản lý, nhất là phải có tráchnhiệm cao đối với người lao động, bình đẳng và dân chủ trong quản lý, công bằng
về lợi ích giữa chủ sở hữu với người quản lý, lao động trong doanh nghiệp Có thể
cụ thể hóa những điều kiện đó thành những tiêu chuẩn chủ yếu sau đây:
+ Về chủ thể sở hữu: tư nhân có thể một mình bỏ vốn đầu tư, nhưng tốthơn là đứng ra vận động nhiều người cùng góp vốn, góp công thành lập doanhnghiệp tập thể dưới nhiều hình thức như: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty
cổ phần, hợp tác xã Bởi theo C Mác, sự ra đời của công ty cổ phần " là sự thủtiêu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở ngay trong lòng phương thức sảnxuất tư bản chủ nghĩa" và điều này: chứng tỏ sự xuất hiện công ty cổ phần vềmặt lịch sử là bước tiến từ sở hữu tư nhân lên sở hữu tập thể của các cổ đông
+ Về quản lý: phải tôn trọng và phát huy trên thực tế quyền làm chủcủa công nhân, lao động trong doanh nghiệp, tạo điều kiện cho họ được thamgia quản lý và phát huy tính năng động sáng tạo của họ
+ Về phân phối: không những trả lương tương xứng với giá trị sức laođộng mà còn thực hiện chế độ phân chia kết quả sản xuất, kinh doanh chongười lao động với tỷ lệ nhất định và ngày càng cao, nhằm biến quá trìnhphân phối thành quá trình xác lập quyền làm chủ thực chất của người laođộng và từng bước biến họ trở thành các cổ đông, là những người chủ thực sự
có cổ phần trong doanh nghiệp
Ba là Do các chính sách tự do hoá, khuyến khích sự phát triển đa dạng
của các loại hình doanh nghiệp mới, tích cực thu hút đầu tư trực tiếp nướcngoài (FDL), chú trọng cải cách đối với thị trường vốn… tạo môi trường vàđộng lực mới cho kinh tế tư nhân phát triển; đồng thời thúc đẩy cải cách và tái
cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hoá mở rộng thị trường lao động mở
Trang 29rộng nguồn vốn phát triển để nhiều ngành có thể cạnh tranh được trên thịtrường quốc tế…
Nhìn sâu hơn vào khu vực kinh tế tư nhân của Việt Nam, tốc độ tăngtrưởng bình quân của khu vực này trong khoảng 5 năm gần đây đạt trên 10%(cao hơn so với 8% của cả nền kinh tế); đặc biệt đã có rất nhiều công ty tưnhân có mức tăng trưởng về doanh thu lên tới trên 50%/năm Và trong hơnmột thập kỷ vừa qua, chính sự tăng trưởng của khu vực kinh tế tư nhân là mộtnhân tố quan trọng đối với sự phát triển chung của Việt Nam
Trong năm 2006, khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam đã chiếm hơn mộtnửa GDP của cả nước Trong giai đoạn 2001-2005 khu vực tư nhân đã tạo ra6,75/7,5 triệu việc làm (chiếm khoảng 90%) Nhiều đại biểu tham dự Hội nghịcho rằng, để giải quyết vấn đề việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, Chínhphủ Việt Nam cần khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân phát triển mạnh hơn nữa
1.2.2 Nội dung phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường
Để phát triển mạnh mẽ kinh tế tư nhân đáp ứng yêu cầu của công cuộccông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, có hai nộidung sau đây cần được chú trọng
Một là Về mặt Nhà nước: Trước hết là xóa bỏ những thể chế, chính
sách còn thể hiện sự phân biệt đối xử giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tưnhân, giữa doanh nghiệp nhà nước với doanh nghiệp tư nhân Trong thực tế,một môi trường kinh doanh thuận lợi, các doanh nghiệp đều bình đẳng trướcpháp luật là yêu cầu hàng đầu để phát triển đất nước trong tình hình mới Hơnnữa, khi hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu, việc phân biệtđối xử giữa doanh nghiệp nhà nước với doanh nghiệp tư nhân và doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ bị thu hẹp dần, môi trường kinh doanhbình đẳng không thể không thiết lập
Điều đáng mừng là, từ 1-7-2006, Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật đầu
tư 2005 có hiệu lực sẽ tạo sân chơi bình đẳng hơn giữa các loại hình doanh
Trang 30nghiệp (trong nước và có vốn đầu tư nước ngoài) trong việc gia nhập thịtrường, đầu tư kinh doanh và quản trị nội bộ doanh nghiệp Thế nhưng, trongnhững thể chế, chính sách thuộc nhiều lĩnh vực, doanh nghiệp tư nhân vẫncòn bị đối xử không bình đẳng, từ sản xuất đến lưu thông, từ đào tạo đến ứngdụng khoa học, công nghệ Nổi cộm nhất hiện nay là trong lĩnh vực vốn tíndụng và trong việc tìm kiếm mặt bằng sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp tưnhân rất khó tiếp cận Về vốn, có đến 7- 80% vốn tín dụng của các ngân hàngthương mại quốc doanh được dành cho doanh nghiệp nhà nước; doanh nghiệp
tư nhân rất khó vay vốn; trong đó ngoài những nguyên nhân khác, có mộtnguyên nhân không kém quan trọng là: ngân hàng cho doanh nghiệp nhà nướcvay, nếu không thu hồi được thì Nhà nước sẽ thực hiện nhiều biện pháp đểkhắc phục, ngân hàng có thể yên tâm, nhưng nếu cho doanh nghiệp tư nhânvay mà không thu hồi được vốn, ngân hàng rất dễ bị "hình sự hóa", bị xét hỏi
về lập trường, quan điểm
Về mặt bằng, doanh nghiệp tư nhân đi tìm đất cũng rất khó khăn Ngaytại Hà Nội, nơi hiện có khoảng 40.000 doanh nghiệp tư nhân, nhưng có đến8.000 doanh nghiệp thiếu mặt bằng sản xuất nghiêm trọng; thành phố có 20cụm công nghiệp nhỏ và vừa nhưng cũng chỉ thu hút có 143 doanh nghiệp tưnhân, giải quyết được hơn 10% nhu cầu Nếu tìm đất ngoài khu công nghiệp,thì quy trình cũng rất phức tạp: từ việc doanh nghiệp tự đi tìm đất, tự thỏathuận đền bù với dân, xin địa phương phê duyệt dự án đầu tư, v.v đến khi cóđất, tất cả tới 8 bước, vài chục con dấu, chữ ký và nhanh nhất cũng mất gầnmột năm Trong khi đó, có nhiều doanh nghiệp nhà nước lại đang thừa đất,doanh nghiệp tư nhân buộc phải thuê lại, nhưng với giá cả khá cao và thờigian không hạn định chắc chắn
Chính vì vậy, việc rà soát lại và sửa đổi, bổ sung toàn bộ hệ thống thể chế,chính sách cho phù hợp với tư duy mới, loại bỏ những thể chế, chính sách cònphân biệt đối xử giữa doanh nghiệp nhà nước với doanh nghiệp tư nhân là hết
Trang 31sức cấp bách Đương nhiên, đi đôi với việc hình thành hệ thống thể chế, chínhsách, phải đẩy mạnh cải cách hành chính, khắc phục những hành vi tiêu cực,sách nhiễu doanh nghiệp tư nhân của những công chức trong bộ máy côngquyền đang làm tăng chi phí, hạn chế khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.Những nhiệm vụ này đã được nói nhiều lần, vấn đề hiện nay là sự chỉ đạo thựchiện với quyết tâm ở tất cả các ngành, các cấp quản lý nhà nước.
Hai là Về phía doanh nghiệp tư nhân: Bản thân doanh nghiệp tư nhân,
chủ yếu vẫn là doanh nghiệp nhỏ và vừa, đang còn nhiều yếu kém, nhất là vềkhả năng tìm hiểu thị trường, trình độ lập dự án, xác định chiến lược kinhdoanh; khả năng ứng dụng khoa học, công nghệ mới; cũng như trình độ, kỹnăng quản lý doanh nghiệp, v.v Khó khăn lớn nhất hiện nay là nguồn nhânlực: là trình độ hạn chế của đội ngũ doanh nhân cũng như của người lao độngtrong doanh nghiệp khi phải đối mặt với yêu cầu nâng cao khả năng cạnhtranh của từng sản phẩm, dịch vụ cũng như của cả doanh nghiệp
Điều này đòi hỏi mỗi doanh nghiệp, mỗi doanh nhân phải xem lạimình, nhận rõ chỗ mạnh, chỗ yếu, để đề ra cho được những giải pháp thiếtthực, bảo đảm hiệu quả Mỗi doanh nghiệp đề ra cho mình một chiến lượckinh doanh phù hợp với tình hình mới, khi bao cấp không còn, hàng rào bảo
hộ phải gỡ bỏ Mỗi doanh nghiệp tư nhân phải đề cao văn hóa kinh doanh,tôn trọng pháp luật, tôn trọng người tiêu dùng, tôn trọng bạn hàng, khắc phụctình trạng trốn thuế, lậu thuế, kinh doanh bất hợp pháp
Doanh nghiệp tư nhân ngày càng tăng nhanh, với yêu cầu cắp bách nângcao hiệu quả kinh doanh cũng như năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp,cũng là nơi để đội ngũ doanh nhân thể hiện tài năng kinh doanh của mình; nóirộng ra, doanh nghiệp tư nhân trở thành nơi đào tạo một đội ngũ những nhàkinh doanh chuyên nghiệp, những tài năng kinh doanh trong nước và vươn rathế giới của đất nước Nhân tài quản lý kinh tế, quản lý doanh nghiệp chỉ có thểnảy nở trong quá trình vật lộn trên thương trường, trưởng thành trong cạnh
Trang 32tranh gay gắt Vì thế, mỗi doanh nhân ngày nay chú trọng bồi dưỡng nguồnnhân lực, phát huy cao nhất vốn con người trong doanh nghiệp vào việc hiến
kế, nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, chính là vừa đáp ứng yêucầu trước mắt, song không kém phần quan trọng là vừa góp phần đào tạo nhântài cho công cuộc quản trị kinh tế đất nước trong tương lai
Đồng thời, để khắc phục yếu kém, bổ sung năng lực cho mỗi doanh nghiệp
tư nhân trong tình hình mới, nhất là về các mặt tìm kiếm thị trường, đối mới côngnghệ, cải tiến quản lý, rất cần thiết mở rộng hơn nữa việc liên doanh, liên kết giữacác doanh nghiệp, trước hết là doanh nghiệp kinh doanh cùng một mặt hàng
Tóm lại, KTTN là một bộ phận cấu thành quan trọng trong nền kinh tế thịtrường định hướng XHCN ở nước ta Sự tồn tại và phát triển của nó không chỉ làkhách quan mà còn cần thiết cho quá trình phát triển kinh tế của đất nước Từkhi đổi mới đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã có những quyết sách quan trọng và
đã có một số kinh nghiệm trong phát triển khu vực kinh tế này Tuy nhiên, sựphát triển KTTN ở nước ta hiện nay nói chung, cũng như các tỉnh nói riêng còn
có nhiều hạn chế Việc nghiên cứu thực tiễn giải quyết vấn đề KTTN ở tỉnh NamĐịnh không chỉ có ý nghĩa nhằm xử lý các vấn đề cụ thể nảy sinh trên địa bàn
mà còn góp thêm vào giải pháp chung trên phạm vi cả nước Với ý nghĩa đó,trong nội dung của Chương I, tác giả quan tâm đến kinh nghiệm giải quyết vấn
đề KTTN ở Trung Quốc và ở thành phố Hồ Chí Minh, coi đó là một tài liệutham khảo cần thiết khi nghiên cứu vấn đề KTTN ở tỉnh Nam Định
1.3 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN CỦA TRUNG QUỐC VÀ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Để phát triển KTTN ở tỉnh Nam Định đúng hướng và có hiệu quả, cầnthiết phải nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn của các nước và các địa phương
đã có nhiều thành công về vấn đề này Dưới đây là khái quát kinh nghiệm củaTrung Quốc và thành phố Hồ Chí Minh
Trang 331.3.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế tư nhân của Trung Quốc
Sau khi áp dụng chính sách mở cửa năm 1979, kinh tế tư nhân ngàycàng đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế Trung Quốc Nếu trước năm
1985, sản lượng công nghiệp của khu vực này chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ trongtổng sản lượng công nghiệp cả nước thì đến năm 1999 đã là 38,8%, đạt 5.800
tỷ Nhân dân tệ (NDT)
Sự phát triển của kinh tế tư nhân phải kể đến đóng góp lớn của cácdoanh nghiệp tư nhân Sau khi Đặng Tiểu Bình tiến hành cải cách, doanhnghiệp tư nhân đã phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng Nếu như năm 1991,doanh nghiệp tư nhân chỉ chiếm 17% tổng sản lượng của khu vực tư nhân, thìđến năm 1997, con số đó đã là 47% Trong giai đoạn 1991-2000, tốc độ tăngtrưởng hàng năm về số lượng doanh nghiệp, lao động và sản lượng là 38,1%,34,4%, 59,4%; riêng năm 2000 đã có 1,76 triệu doanh nghiệp đăng ký với24,1 triệu lao động
Trong hơn 20 năm cải cách và mở cửa, Trung Quốc luôn coi cải cáchchế độ sở hữu là việc làm cần thiết không thể né tránh nhằm giải phóng vàphát triển sản xuất Mặc dù còn có những nhận thức khác nhau đối với nộihàm và ngoại diên của khái niệm KTTN, nhưng khu vực kinh tế này củaTrung Quốc đã trở thành một bộ phận cấu thành của nên kinh tế quốc dân,thành đội quân sinh lực đầy sức sống trong sự nghiệp phát triển nền kinh tế
Có thể rút ra những kinh nghiệm trong thực tiễn giải quyết vấn đề này ởTrung Quốc trên các khía cạnh sau đây:
- Về nhận thức và quan điểm: Trung Quốc cho rằng KTTN là loại
kinh tế chế độ phi quốc hữu và là kinh tế dân doanh Sở dĩ gọi là kinh tế dândoanh vì nó là một loại hình kinh tế lấy dân lập nghiệp làm cơ sở, lấy kinh tế
cá thể và tư doanh làm chủ thể, lấy cạnh tranh thị trường làm điểm xuất phát
cơ bản, do chính quyền điều hành vĩ mô, khuyến khích, nâng đỡ và hướngdẫn, làm cho nước lợi, dân giàu Đặc trưng của nó là dân làm, dân doanh, dân
Trang 34có, dân hưởng Động lực sẵn có để phát triển là yêu cầu về lợi ích và nội tại
và tinh thần lập nghiệp bền bỉ của đông đảo nhân dân Chỉ có dân có mới cóthể dân giàu, chỉ có dân giàu mới có thể nước giàu mạnh, do vậy phải pháttriển KTTN
Trên cơ sở quan điểm này, kể từ Đại hội XV Đảng cộng sản Trung
Quốc, khái niệm “nhiều hình thức sở hữu” được sử dụng thay cho khái niệm
“nhiều thành phần kinh tế” Theo sự lý giải của Trung Quốc thì sự thay đổi
cách sử dụng khái niệm như vậy có tác dụng nâng cao vai trò, địa vị của kinh
tế tư nhân, tôn trọng sự bình đẳng trong các hình thức sở hữu của kinh tế tưnhân đối với các hình thức công hữu Theo đó, quan niệm phân biệt, đối lập
“họ tư”, “họ công” bị xoá bỏ và khẳng định kinh tế phi công hữu là một bộphận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường XHCN ở Trung Quốc.Đại hội XVI của Đảng cộng sản Trung Quốc khẳng định:
Kiên trì lấy chế độ công hữu làm chủ thể, đẩy mạnh phát triển kinh tế phi công hữu, thống nhất tiến trình hiện đại hoá XHCN, hai thứ này không thểđối lập với nhau Các loại hình kinh tế có chế độ sở hữu khác nhau hoàn toàn
có thể phát huy uy thế của mình, thúc đẩy lẫn nhau, cùng phát triển trong cạnhtranh thị trường (3, trang 5)
- Nhà nước có chính sách đối xử bình đẳng đối với tất cả các loại hình
doanh nghiệp không phân biệt nó thuộc công hữu hay phi công hữu nhằmkhuyến khích sự phát triển lành mạnh của các doanh nghiệp Trung Quốc rấtquan tâm đến việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, ban hành Luật bảo vệ quyền
sở hữu tư nhân, kiện toàn chính sách kinh tế vĩ mô để tạo điều kiện cạnh tranhbình đẳng giữa các doanh nghiệp và đảm bảo hiệu lực, hiệu quả quản lý, giámsát của Nhà nước Để phát huy tính tích cực của kinh tế tư nhân, từ sau Đạihội XVI của Đảng, Trung Quốc chủ trương thiết lập hệ thống thị trường hiệnđại và trật tự thị trường theo pháp luật Tất cả các doanh nghiệp tham gia thịtrường đều được đối xử bình đẳng và việc “phân biệt đối xử” phải được loại
bỏ Các doanh nghiệp phi công hữu nhỏ và vừa được khuyến khích phát triển
Trang 35mạnh và có nhiều ưu đãi về tín dụng, thuế, hỗ trợ công nghệ, cung cấp thông tin thị trường…
- Tiến hành cải cách sâu rộng chế độ phân phối và thực hiện nguyên tắc
kết hợp phân phối theo lao động với phân phối theo nhân tố sản xuất Đại hội
XVI Đảng cộng sản Trung Quốc coi nguyên tắc phân phối theo yếu tố sảnxuất là một bước đột phá mới trong lĩnh vực KTTN hay trong kinh tế Nhànước Theo nguyên tắc này, mọi công dân Trung Quốc, dù hoạt động tronglĩnh vực KTTN hay trong kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể…đều được hưởnglợi từ việc sử dụng các yếu tố như: lao động, công nghệ, vốn, kỹ năng quảnlý… của bản thân khi tham gia vào nền sản xuất xã hội Nhà nước có chínhsách khuyến khích mọi người tham gia kinh doanh và hỗ trợ phát triển, tôntrọng các thu nhập chính đáng của họ Nhà nước thừa nhận sự góp vốn bằngcông nghệ, bí quyết kỹ thuật hoặc tri thức thành cổ phần của công ty Cơ cấu
sở hữu trong công ty được thay đổi tương ứng Dù doanh nghiệp lúc đầu làdoanh nghiệp Nhà nước hay doanh nghiệp tư nhân, cơ cấu cổ phần cũng thayđổi khi những nhà quản lý tham gia mua cổ phần bằng kiến thức quản lý của
họ Điều này giúp tăng động lực cho các nhân viên kỹ thuật, nhà quản lý cũngnhư người lao động vì họ không chỉ được khuyến khích bằng lợi ích vật chất
mà còn vì họ đã thực sự là chủ sở hữu doanh nghiệp Theo một số liệu điềutra của Trung Quốc về thu nhập bình quân đầu người của gia đình dân cưthành thị, tỷ trọng của thu nhập từ tài sản và các thu nhập khác đã tăng từ19,4% (năm 1995) lên 26,2% (năm 2001), tỷ trọng của thu nhập từ lao độnggiảm tương ứng từ 80,6% xuống còn 73,8% (31)
Nhờ những nỗ lực từ khi cải cách đến nay, kinh tế tư nhân ở TrungQuốc luôn phát triển với tốc độ cao Đến cuối năm 2000, doanh nghiệp tưnhân đã tạo ra giá trị sản phẩn tổng cộng là 1.074 tỷ nhân dân tệ, hàng tiêudùng xã hội là 581,3tỷ, xuất khẩu thu ngoại tệ 74,1 tỷ nhân dân tệ KTTN từ
số không đến nay đã thu hút được 82.6 triệu người và trở thành động lực chủ
Trang 36yếu thúc đẩy kinh tế Trung Quốc tăng trưởng.
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển KTTN ở Trung Quốc vẫn còn tồntại những khó khăn và vấn đề như: ngưỡng cửa vào thị trường quá cao, đãingộ không bình đẳng, sự bảo vệ tài sản và quyền lợi chưa đủ mức và tố chấtcủa doanh nghiệp chưa cao Nền kinh tế Trung Quốc sau khi gia nhập WTO,các doanh nghiệp tư nhân Trung Quốc phải cố gắng rất nhiều để thích ứng vớinhu cầu kinh tế toàn cầu hoá, phải được mở rộng về số lượng và nâng cao vềchất lượng mới có thế phát triển vững chắc
1.3.2 Kinh nghiệm phát triển kinh tế tư nhân ở Thành phố Hồ Chí Minh
Theo báo cáo của Đảng bộ TPHCM, năm 2004, tốc độ tăng trưởng củakhu vực kinh tế Nhà nước đạt 8,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt12%, trong khi mức tăng trưởng của khu vực kinh tế dân doanh đạt tới14,1% Với sự “qua mặt” trên, kinh tế dân doanh vươn lên dẫn đầu trongđóng góp vào tốc độ tăng trưởng chung của
Ngoài việc đóng góp vào GDP, cái được lớn nhất của khối DN tư nhân
đó chính là giải quyết công ăn việc làm cho người dân TP Số lượng lao độngđược giới thiệu việc làm bình quân đạt 215.000 người/năm, vượt chỉ tiêu kếhoạch đề ra là 190.000 người/năm Số lượng việc làm mới được tạo ra hằngnăm tăng, năm sau cao hơn năm trước Chỉ tính riêng giai đoạn 2001-2005 đãtạo ra khoảng 350.000 việc làm mới cho người lao động Trong đó, bình quânmỗi năm có trên 50.000 người có việc làm mới từ các hoạt động kinh doanh,dịch vụ cá thể, kinh tế hộ gia đình Góp phần giảm tỉ lệ thất nghiệp trên địabàn TP từ 6,8% năm 2001 xuống còn 6,1% năm 2004
Thành phố Hồ Chí Minh đã và đang dẫn đầu cả nước trong phát triểnKTTN Tính đến nay, thành phố đã có trên 86.000 DN hoạt động theo LuậtDN; 200.000 hộ kinh doanh thương mại và khoảng 30.000 hộ sản xuất Tuynhiên, điều quan trọng nhất là sự “thay đổi về chất” của khối DN này Số DN
tư nhân làm ăn chụp giựt, những DN “ma” giảm dần, thay vào đó là sự gia
Trang 37tăng của những DN làm ăn bài bản, chuyên nghiệp, nhiều DN đang dần trởthành những công ty lớn mạnh
KTTN tại thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu hoạt động trong lĩnh vựcthương mại, dịch vụ chiếm 73,38%, còn lại là trong công nghiệp (14,13%),xây dựng (8,58%), giao thông vận tải (2,03%) và nông, lâm, ngư nghiệp(2,11%) Tỷ trọng đóng góp của nền kinh tế tư nhân hàng năm chiếm khoảng35% GDP của Thành phố và có xu hướng ngày càng tăng lên, đã thu hút76,5% trong tổng số hơn 2,5 triệu lao động đang làm việc tại Thành phố
Những kinh nghiệm của Thành phố trong việc giải quyết vấn đề KTTNtrong thời gian qua là:
- Trên cơ sở quán triệt đường lối đổi mới và chủ trương, chính sách củaĐảng và Nhà nước, Thành phố đã mở rộng công tác tuyên truyền, giáo dụcnhằm xoá bỏ tâm lý kỳ thị, mặc cảm với KTTN, giúp các nhà đầu tư nhữngkiến thức cần thiết trong khởi sự doanh nghiệp, trong tổ chức các nghiệpđoàn, hiệp hội nhằm giúp nhau trong hoạt động sản xuất kinh doanh Tiếnhành các sinh hoạt xã hội nhằm tôn vinh các chủ doanh nghiệp trẻ không kể
đó là của kinh tế Nhà nước hay KTTN, coi họ là những chiến sỹ tiên phongtrong công cuộc phát triển kinh tế của Đất nước
- Đã kịp thời xây dựng và thực thi các giải pháp nhằm tạo môi trườngthuận lợi cho việc thành lập và hoạt động sản xuất, kinh doanh của KTTN Từkhi có Luật doanh nghiệp (năm 2005), Thành phố đã chú ý cải cách thủ tụcđăng ký doanh nghiệp mới theo hướng đơn giản, thuận lợi hơn Trong hầu hếtcác trường hợp, chỉ cẩn 3 giấy tờ loại đơn giản gồm: đơn đăng ký kinh doanh,điều lệ của doanh nghiệp và danh sách thành viên, doanh nhân có thể chínhthức đăng ký một doanh nghiệp trong thời gian khoảng 2 tuần rồi sau đó đưadoanh nghiệp vào hoạt động ở bất kỳ lĩnh vực và địa điẩm nào mà pháp luậtkhông cấm Những khó khăn của doanh nghiệp thường gặp phải khi thành lập
và đăng ký kinh doanh như vốn pháp định tối thiểu, xác nhận về vốn của ngânhàng, hợp đồng thuê văn phòng… được bãi bỏ
- Bước đầu cải tiến thủ tục thuê đất theo hướng đơn giản hoá nhằm tạo
Trang 38điều kiện về mặt bằng sản xuất, kinh doanh cho các chủ doanh nghiệp Đầu tưxây dựng kết cấu hạ tầng gồm khu công nghiệp, khu chế xuất cho các doanhnghiệp kể cả doanh nghiệp tư nhân thuê với giá cả phù hợp
Bên cạnh những thành công nói trên, trong giải quyết vấn KTTN ởthành phố Hồ Chí Minh còn có những việc cần phải tiếp tục điều chỉnh, bổsung và hoàn thiện Nổi lên là các chính sách, luật pháp, cơ chế quản lý vĩ môcủa chính quyền Thành phố đã được bổ sung nhiều lần, nhưng vẫn chưa đủtạo lòng tin cho các nhà doanh nghiệp, nhất là những nhà doanh nghiệp cóvốn lớn, có đầu óc kinh doanh Sự chuyển biến trong triển khai cụ thể hoá cácchủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với KTTN trên địa bàn cònthiếu đồng bộ trong toàn bộ máy quản lý các cấp
1.3.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra cho phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Nam Định
Từ những kinh nghiệp trong giải quyết vấn đề phát triển KTTN ởTrung Quốc và ở Thành phố Hồ Chí Minh Thực tiễn ở các địa bản trên chothấy rằng KTTN có được phát triển mạnh mẽ và đúng hướng hay không, điều
đó phụ thuộc một phần rất quan trọng vào cơ chế, chính sách và biện pháp tổchức, quản lý của nhà nước các cấp
Đây là bài học kinh nghiệm thực tiễn mà tỉnh Nam Định học tập pháthuy tốt hiệu qủa của cơ chế chính sách,biên pháp tổ chức quản lý trong đó đặcbiệt tạo điều kiện tốt để cho kinh tế tư thuận lơi như ban hành cơ chế ưu đãikhi vào các khu công nghiệp và khuyến khích đầu tư phát triển nghành nghềthủ công truyền thống mà tỉnh có nhiều lợi thế Ngoài ra tỉnh chó ý nhữngviệc cần phải tiếp tục điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện cơ chế chính sáchthích ứng từng thời kỳ và tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nhằmxoá bỏ tâm lý kỳ thị, mặc cảm với KTTN, giúp các nhà đầu tư những kiếnthức cần thiết trong khởi sự doanh nghiệp
CHƯƠNG 2
Trang 39THỰC TRẠNG KINH TẾ TƯ NHÂN Ở TỈNH NAM ĐỊNH
Nam Định nằm trong vùng trọng điểm sản xuất lương thực - thực phẩmcủa đồng bằng Bắc bộ, mỗi năm sản xuất được từ 950 ngàn - 1 triệu tấn lươngthực, hơn 50 ngàn tấn lợn thịt, không những đủ cho tiêu dùng trong tỉnh màcòn xuất khẩu Đồng thời, nơi đây còn có sản xuất công nghiệp phát triểntương đối sớm với nhiều ngành nghề truyền thống, trong đó có công nghiệpDệt - May là một trong những trung tâm dệt may của cả nước
Với vị trí cách thủ đô Hà Nội gần 90 km và gần khu vực kinh tế trọngđiểm Bắc bộ (Hà Nội - Hải Phòng - Hải Dương - Hưng Yên - Quảng Ninh),trung tâm phía nam đồng bằng sông Hồng ; Nam Định có mạng lưới giaothông gồm cả đường sắt, đường bộ, đường sông, đường biển và có mạng lướibưu điện, ngân hàng khắp trong tỉnh, tạo cho giao lưu với các tỉnh trong vùng,trong nước và nước ngoài được thuận lợi.Về đường bộ có quốc lộ 21A nối vớiquốc lộ 1 đi Hà Nội và xuống cảng biển Hải Thịnh, quốc lộ 10 nối Nam Địnhvới các tỉnh Ninh Bình, Thái Bình, Hải Phòng, Quảng Ninh Các tuyến đườngliên tỉnh, nội tỉnh đều đã được đầu tư mở rộng, nâng cấp có khả năng đáp ứngtốt cho việc vận chuyển hàng hoá và tham quan du lịch Tuyến đường sắtxuyên Việt đi qua địa phận Nam Định dài 42 km với 5 ga, trong đó ga NamĐịnh là một trong những điểm dừng của các chuyến tàu nhanh Bắc - Nam.Trên 72 km bờ biển, Nam Định đã xây dựng cảng biển Hải Thịnh phục vụ
Trang 40nhiệm vụ phát triển kinh tế và an ninh quốc phòng.
Nam Định có nền văn hiến lâu đời, nơi phát tích của Vương Triều Trần
và có nhiều di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh như: Đền Trần, chùaTháp, chùa Cổ Lễ, chùa Keo, Phủ Giầy, nhà thờ Bùi Chu, Phú Nhai Vùngbiển có: Khu du lịch sinh thái vườn quốc gia Xuân Thuỷ quy tụ nhiều loàichim quý hiếm đã được nhiều nhà sinh học nổi tiếng Quốc tế tìm về nghiêncứu và được tham gia vào công ước RAMSA; có bãi tắm Thịnh Long (HảiHậu), Quất Lâm (Giao Thuỷ) với bãi cát trải dài đang được đầu tư nâng cấp
cơ sở hạ tầng để đón khách về thăm quan du lịch nghỉ mát và tắm biển
Nam Định là một vùng quê văn hiến, một môi trường văn hoá tổnghợp, hoà quyện và đan xen văn hoá biển với văn hoá miền châu thổ, văn hoábác học với văn hoá dân gian, văn minh đô thị với văn minh thôn dã, giá trịtinh thần truyền thống với tác phong công nghiệp hiện đại… Nam Định làmột vùng đất học với nhiều trường học nổi tiếng và nhiều thầy giỏi, tròngoan, nhiều người người đỗ đạt cao, nhiều nhà văn hoá lớn
Hiện nay, trong xu thế hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, Nam Địnhđang hội tụ được cả hai lợi thế rất căn bản là kinh tế biển và công nghiệp dệt -may Nam Định lại là nơi có nguồn lao động rất dồi dào và chất lượng laođộng đang ngày một nâng cao cùng với sự nâng cao của trình độ văn hoá, họcvấn, tay nghề và sự năng động, nhanh nhạy trong cơ chế thị trường NamĐịnh có hướng đầu tư đúng và có chỉ số phát triển con người cao Lợi thế nàykhông còn ở dạng tiềm năng mà đang trở thành hiện thực sinh động
Nam Định đang dần dần hội tụ được các yếu tố “thiên thời”, “địa lợi”
và “nhân hoà” để phát triển
Khả năng bồi tụ nhanh của biển Nam Định không chỉ làm cho diện tíchđất được mở rộng, mà còn tạo ra một vùng sinh thái tự nhiên phong phú, hứahẹn tiềm năng du lịch dồi dào
Người dân Nam Định có truyền thống cần cù lao động, hiếu học, thông