Nguyễn Văn Lương, Dương Quốc Hưng, Bùi Thị Xuân, Bùi Nhị Thanh, Đặng Đình Thiết 1999, “Đặc điểm biến dạng vỏ trái đất trong các hệ đứt gẫy sâu hoạt động ven biển Việt Nam.”, Các công trì
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT
-
BÙI NHỊ THANH
VÙNG THỀM LỤC ĐỊA ĐÔNG NAM VIỆT NAM
VÀ MỐI QUAN HỆ VỚI CÁC TAI BIẾN ĐỊA CHẤT
TRÊN CƠ SỞ TÀI LIỆU ĐỊA CHẤN
Chuyên ngành: Địa vật lý
Mã số: 62.44.61.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA CHẤT
HÀ NỘI - 2012
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Bộ môn Địa vật lý
Khoa Dầu khí, Trường Đại học Mỏ - Địa chất
Người hướng dẫn khoa học:
1 GS TSKH Mai Thanh Tân, Trường Đại học Mỏ - Địa chất
2 TS NCVCC Nguyễn Văn Lương, Viện Địa chất & Địa vật lý biển
Phản biện 1: GS.TS Bùi Công Quế, Viện Vật lý địa cầu –
Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Phản biện 2: TS Đỗ Tử Chung, Trung tâm Địa chất – Khoáng sản biển
Phản biện 3: TS Nguyễn Hồng Minh, Viện Dầu khí Việt Nam
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp Trường họp tại
Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội
Vào lúc giờ ngày tháng năm 2012
Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Quốc gia, Hà Nội hoặc Thư viện
Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Hà Nội
Long, Nam Côn Sơn và trũng sâu Trung tâm Biển Đông, với một bên là các kiến trúc liền kề, có tốc độ sụt lún phân dị yếu, thuộc đới Đà Lạt và
gờ nâng Cô n Sơn, các đới đứt gãy này là nơi tập trung ứng suất giãn cực đại phương á vĩ tuyến và TB-ĐN Sự giãn căng vỏ Trái Đất theo các hướng này, kết hợp với sự nâng trồi manti nhiệt dưới vỏ Trái Đất, tạo động lực thuận lợi cho hoạt động phun trào núi lửa, đặc biệt tại nơi giao cắt của các hệ đứt gãy sâu
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1 Nguyễn Văn Lương, Dương Quốc Hưng, Bùi Thị Xuân, Bùi Nhị Thanh, Đặng Đình Thiết (1999), “Đặc điểm biến dạng
vỏ trái đất trong các hệ đứt gẫy sâu hoạt động ven biển Việt
Nam.”, Các công trình nghiên cứu Địa chất và Địa vật lý
biển, T V Nxb KH & KT, Hà Nội
2 Nguyễn Văn Lương, Dương Quốc Hưng, Bùi Nhị Thanh (2000), “Đặc điểm phân bố và mức độ nguy hiểm của động đất
núi lửa trong dải ven biển Việt Nam.”, Các công trình nghiên
cứu Địa chất và Địa vật lý biển, T VI Nxb KH & KT, Hà Nội
3 Nguyễn Văn Lương, Dương Quốc Hưng, Nguyễn Thị Kim Thanh, Bùi Nhị Thanh, Tống Duy Cương (2003) “Kết quả thành lập danh mục cơ cấu chấn tiêu động đất khu vực Biển
Đông.”, Các công trình nghiên cứu Địa chất và Địa vật lý biển,
T VII Nxb KH & KT, Hà Nội
4 Nguyễn Văn Lương, Nguyễn Thị Kim Thanh, Bùi Nhị Thanh, Nguyễn Văn Dương (2005) “Các đặc trưng địa chấn
kiến tạo vùng rìa đông khu vực Bắc Biển Đông.”, Các công
trình nghiên cứu Địa chất và Địa vật lý biển, T VIII Nxb
KH & KT, Hà Nội Số đặc biệt kỷ niệm 30 năm thành lập Viện KH&CN Việt Nam
Trang 3nghiên cứu có dạng: Log N*(M) = 3.48 - 0.95 M, hệ số b= 0.95 được
gán chung cho tất cả các đứt gãy sinh chấn trong khu vực nghiên cứu
KẾT LUẬN
1) Bình đồ đứt gãy kiến tạo trẻ khu vực thềm lục địa Đông Nam
Việt Nam đã được xây dựng và hoàn thiện, được làm chính xác hóa theo
số liệu địa chấn và động đất Bình đồ này bao gồm 7 đứt gãy trên đất
liền, phát triển theo ba hướng ĐB-TN, TB-ĐN và á kinh tuyến; 10 đứt
gãy trên thềm lục địa, phát triển theo hai hướng á kinh tuyến và ĐB-TN
Các đặc trưng cấu trúc, hình thái - động học và hoạt tính kiến tạo của
các đứt gãy bước đầu được xác định
2) Trường ứng suất kiến tạo Pliocen-Đệ Tứ thềm lục địa Đông
Nam Việt Nam thay đổi phức tạp theo diện và theo độ sâu:
- Trên các độ sâu < 5 km, trường ứng suất thuộc kiểu thuận với
ứng suất nén cực đại dốc đứng; ứng suất giãn thay đổi từ á vĩ tuyến ở
phía Tây sang TB-ĐN ở phía Đông; ứng suất trung gian từ á kinh tuyến
ở phía Tây sang ĐB-TN ở phía Đông Trường ứng suất này phản ánh tác
động của trường ứng suất khu vực, cũng như các đặc điểm địa động lực
dưới sâu
- Trên các độ sâu lớn, trường ứng suất thay đổi từ trượt
bằng-thuận ở phía Tây, sang bằng-thuận hoặc bằng-thuận-trượt bằng ở phía Đông Kiểu
ứng suất đầu có trục nén và giãn gần nằm ngang phương BTB-NĐN và
ĐĐB-TTN, còn kiểu thứ hai có ứng suất nén dốc đứng, ứng suất giãn và
trung gian tương ứng với các ĐB-TN và TB-ĐN
3) Dựa vào các quy luật biểu hiện động đất và đặc điểm cấu trúc
kiến tạo khu vực, 12 đứt gãy sinh chấn đã được xác định Trong đó các
đứt gãy KT.1090, Mãng Cầu-Phú Quý, Thuận Hải-Minh Hải, Đông Côn
Sơn có thể tiềm ẩn động đất 5.5 ≤ Mmax ≤6.1; các đứt gãy Mũi Né-Tây
Mãng Cầu, Mũi Kê Gà, Hồng-Tây Mãng Cầu và Long Hải-Tuy Phong
có thể tiềm ẩn động đất 5.0 ≤ Mmax < 5.5
4) Hoạt động núi lửa chủ yếu xảy ra trong các đới đứt gãy Thuận
Hải-Minh Hải, Mãng Cầu-Phú Quý và KT.109o Đóng vai trò ranh giới
phân cách giữa một bên là các trung tâm sụt lún mạnh thuộc bể Cửu
5 Nguyễn Văn Lương, Bùi Nhị Thanh, Bùi Thị Xuân “Kết quả thành lập
bản đồ phân vùng động đất khu vực Biển Đông Việt Nam.”, Tạp Chí
KH & CN biển, Phụ trương 2,2006
6 Dương Quốc Hưng, Nguyễn Văn Lương, Bùi Nhị Thanh, Nguyễn Thị Kim Thanh, Bùi Thị Xuân (2006) “ Một số đặc điểm của các trầm tích Holocen khu vực vịnh Bắc Bộ trên cơ sở phân tích tài
liệu địa chấn nông phân giải cao”, Tạp Chí KH & CN biển, Phụ
trương 2,2006
7 Bùi Nhị Thanh, Nguyễn Văn Lương, Bùi Thị Xuân, Nguyễn Thị Kim Thanh (2007),“Đặc điểm một số loại hình tai biến khu vực quần đảo
Trường Sa và lân cận.”, Các công trình nghiên cứu Địa chất và Địa vật
lý biển, T IX Nxb KH & KT, Hà nội
8 Bùi Nhị Thanh (2008),“Một số kết quả nghiên cứu tai biến động đất và
sóng thần khu vực quần đảo Trường Sa.”, Tuyển tập báo cáo khoa học
“Hội nghị khoa học địa chất biển toàn quốc lần thứ nhất”,Nhà xuất bản
Khoa học tự nhiên và Công nghệ
9 Bùi Nhị Thanh (2009),“Các quy luật biểu hiện động đất khu vực ven
biển và thềm lục địa Đông Nam Việt Nam.”, Các công trình nghiên cứu
Địa chất và Địa vật lý biển, T X Nxb KH & KT, Hà nội
10 Bùi Nhị Thanh (2010),“Nghiên cứu các quy luật hoạt động động đất, núi lửa trên thềm lục địa Đông Nam Việt Nam và mối quan hệ giữa chúng
với các đặc điểm cấu trúc kiến tạo khu vực.”, Tuyển tập Báo cáo Hội
nghị khoa học lần thứ 19, Trường Đại học Mỏ- Địa chất, Hà Nội
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Đề Tài
Thềm lục địa Đông Nam Việt Nam là khu vực có vị trí chiến
lược, nơi đang diễn ra các hoạt động kinh tế như thăm dò và khai thác
dầu khí, đánh bắt nuôi trồng thủy sản, dịch vụ du lịch và xây dựng các
công trình biển (các giàn khoan dầu khí, các đường ống dẫn, đường
cáp quang trên biển, các công trình quốc phòng, các công trình cầu
cảng…) Trong những thập niên gần đây, cùng với sự phát triển của
các hoạt động kinh tế biển, các tai biến địa chất như động đất, núi lửa,
xói lở bờ biển, nứt đất, trượt lở đất… cũng không ngừng gia tăng
Hoạt động kiến tạo trẻ liên quan chặt chẽ đến nguồn gốc và điều
kiện hình thành tai biến địa chất Mối quan hệ này đã được xác định và
kiểm chứng qua nhiều công trình nghiên cứu phân vùng dự báo tai
biến địa chất, đặc biệt là trong các nghiên cứu dự báo độ nguy hiểm
động đất trên lãnh thổ Việt Nam Tuy nhiên, ở khu vực thềm lục địa
Đông Nam Việt Nam, các nghiên cứu này còn hạn chế và còn nhiều
vấn đề đặt ra cần giải quyết
Để phát triển bền vững nền kinh tế biển, các nghiên cứu hoạt
động kiến tạo trẻ và mối quan hệ với tai biến địa chất ở khu vực này là
hết sức cần thiết Xuất phát từ những vấn đề đã nêu, tác giả lựa chọn đề
tài “Đặc điểm hoạt động kiến tạo trẻ vùng thềm lục địa Đông Nam
Việt Nam và mối quan hệ với các tai biến địa chất trên cơ sở tài liệu
địa chấn”
2 Mục tiêu của luận án
Làm sáng tỏ các đặc điểm hoạt động kiến tạo trẻ và mối quan hệ
với các hoạt động động đất, núi lửa khu vực thềm lục địa Đông Nam
Việt Nam
3 Nhiệm vụ của luận án
- Nghiên cứu xác định hệ thống đứt gẫy kiến tạo trong giai đoạn
Pliocen - Đệ Tứ Xác định các đặc điểm hình thái - động lực và hoạt
- Đặc điểm phân bố động đất theo độ sâu, động đất chủ yếu tập trung trong dải độ sâu, 4-5 km đến 18-20 km, với sự tập trung cao hơn
ở 10-15 km Các trận động đất mạnh có độ sâu khoảng 12-13 km trong đới đứt gãy Mũi Né-Tây Mãng Cầu và 17- 18 km ở các đứt gãy Mãng Cầu-Phú Quý và KT.1090
- Đặc điểm phân bố động đất theo diện: động đất mạnh tập trung chủ yếu trong các đới đứt gãy sâu hoạt động: Mũi Né-Tây Mãng Cầu
(15 trận); Mãng Cầu-Phú Quý (14 trận); KT.1090 và Đông Côn Sơn (9 trận); Thuận Hải-Minh Hải (5 trận) và trong các đới đứt gãy khác (2-4 trận) Đó là các đứt gãy sâu đã tồn tại lâu dài, ranh giới giữa các khối, miền, đới hoặc phụ đới cấu trúc địa động lực, có biểu hiện tái hoạt động trong Pliocen-Đệ Tứ và hiện đại
- Động đất thềm lục địa Đông Nam Việt Nam thường xảy ra dưới dạng chuỗi Trong khu vực nghiên cứu đã xảy ra 4 chuỗi động đất vào các năm 1877-1882, 1923, 1963-1964 và 2005-2007 Chu kỳ lặp lại của các chuỗi khoảng 40-41 năm/1 lần, thời gian kéo dài của mỗi chuỗi 5-7 năm
• Các đứt gãy sinh chấn và các tham số nguy hiểm động đất
- Theo nguyên tắc địa chấn-kiến tạo có thể xác định được 12 đứt gãy sinh chấn ở khu vực thềm lục địa Đông Nam Đó là các đứt gãy KT.1090, Mãng Cầu-Phú Quý, Thuận Hải-Minh Hải, Sông Sài Gòn, Bình Long-Bình Châu, Đông Côn Sơn, Mũi Né-Tây Mãng Cầu, Mũi
Kê Gà, Hồng-Tây Mãng Cầu, Long Hải-Tuy Phong, Lộc Ninh-Sài Gòn và Đak Mil-Bình Châu
- Động đất cực đại Mmax dự báo trong các đới đứt gãy sinh
chấn được đánh giá theo tổ hợp 3 phương pháp: sử dụng hàm cực trị Gumbel III, theo quy mô đứt gãy và ngoại suy địa chất Kết quả đánh giá cho thấy động đất cực đại 5.5 ≤ Mmax ≤6.1 có thể tiềm ẩn trong các đứt gãy cấp 1, 2, trong khi động đất cực đại 5.0 ≤ Mmax ≤5.5 có thể tiềm
ẩn trong các đới đứt gãy cấp 3
- Từ tương quan tần suất-magnitude xác lập đối với khu vực
Trang 5bởi các yếu tố động lực: Hoạt động sụt lún kiến tạo kết hợp với sụt lún
do nguội nhiệt vỏ Trái Đất thời kỳ hậu rift xảy ra tại bể Cửu Long,
Nam Côn Sơn và khối vỏ đại dương Tây Nam Biển Đông, với vai trò
điều tiết là các đứt gãy sâu Thuận Hải-Minh Hải, Mãng Cầu-Phú Quý
và KT 109o; Sự dâng trồi của manti nhiệt dưới vỏ Trái Đất khu vực
Đông Nam thềm lục địa Việt Nam; Sự hội tụ giữa mảng Thái Bình
Dương và mảng Ấn Độ Dương với mảng Âu Á
4.2 Quan hệ giữa động đất, núi lửa và bình đồ kiến tạo trẻ
4.2.1 Mối quan hệ giữa núi lửa với bình đồ đứt gãy kiến tạo trẻ
Hoạt động núi lửa hiện đại liên quan đến các trận động đất
mạnh ở ven biển Bình Thuận vào cuối thế kỷ 19 và các trận động đất
M 5.1-6.1 (1923) ở vùng đảo Hòn Nước (1923) và nhiều động đất khác
xảy ra trong các năm (1928-2005) ở lân cận hòn đảo này Dấu ấn về
núi lửa hiện đại có thể phát hiện được ở Mũi Né, Mũi Kê Gà và Hòn
Lan (ven biển Bình Thuận) và lân cận đảo Phú Quý dọc đứt gãy Mãng
Cầu-Phú Quý
Núi lửa Pliocen-Đệ Tứ (chỉ núi lửa hình thành trong giai đoạn
Pleistocen giữa-muộn-Holocen) chủ yếu xảy ra trên các đứt gãy Mãng
Cầu-Phú Quý, KT.109o, Thuận Hải-Minh Hải và Bình Long-Bình
Châu, trong khi núi lửa hiện đại chỉ phát hiện được ở đứt gãy Mãng
Cầu-Phú Quý và Thuận Hải- Minh Hải, chủ yếu tại nơi giao cắt với các
đứt gãy sâu khác cắt ngang qua
Các chuyển động sụt lún cường độ mạnh trong Pleistocen
giữa-muộn-Holocen tại các trung tâm tác giãn ở các bể Cửu Long và Nam
Côn Sơn làm tăng đáng kể bề dày và tải trọng trầm tích tại trung tâm
các bể này, gia tăng ứng suất tách giãn tại các đới rìa, nơi chuyển động
nâng hạ phân dị mạnh nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động
núi lửa, đặc biệt tại nơi giao cắt của các đứt gãy sâu
4.2.2 Mối quan hệ giữa động đất với bình đồ kiến tạo trẻ
Các quy luật biểu hiện động đất: Trên cơ sở phân tích danh mục
179 trận động đất, giai đoạn 1877-2008, một số quy luật biểu hiện động
đất khu vực thềm lục địa Đông Nam Việt nam đã được xác định
tính kiến tạo của các đứt gãy
- Nghiên cứu trường ứng suất kiến tạo hiện đại, xác định các điều kiện phát sinh động đất và núi lửa khu vưc thềm lục địa Đông Nam Việt Nam
- Nghiên cứu mối liên quan giữa các quy luật biểu hiện động đất, núi lửa với đặc điểm cấu trúc kiến tạo và địa động lực khu vực, xác định các đứt gãy sinh chấn và các tham số nguy hiểm động đất liên quan với chúng
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Ý nghĩa khoa học: Góp phần làm sáng tỏ các đặc điểm cấu trúc -
kiến tạo và địa động lực thềm lục địa Đông Nam Việt Nam giai đoạn Pliocen - Đệ Tứ; xác định rõ các yếu tố động lực chi phối trường ứng suất kiến tạo khu vực và mối quan hệ giữa các tai biến địa chất với đặc điểm hoạt động kiến tạo trẻ
Ý nghĩa thực tiễn: Cung cấp cơ sở khoa học cho công tác phân
vùng, dự báo độ nguy hiểm tai biến địa chất; phục vụ cho công tác quy hoạch, xây dựng công trình và phát triển kinh tế biển; đề xuất các giải pháp phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai, phục vụ phát triển bền vững khu vực Đông Nam thềm lục địa Việt Nam
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Thềm lục địa Đông Nam Việt Nam, vùng biển nằm trong tọa độ địa lý: 70-11030’ vĩ độ Bắc và 106030’-109030’ kinh độ Đông
6 Cơ sở tài liệu của luận án
Các tài liệu đã công bố:
- Báo cáo tổng kết đề tài KHCN cấp nhà nước, mã số KC09-09,
do GS.TSKH Mai Thanh Tân làm chủ nhiệm
- Báo cáo kết quả đề tài độc lập cấp nhà nước mã số ĐTĐL 2007G/45, do GS.TS Bùi Công Quế làm chủ nhiệm
- Báo cáo kết quả đề tài trọng điểm cấp nhà nước, mã số
Trang 6KC.09.11/06-10, do PGS.TS Phan Trọng Trịnh làm chủ nhiệm
- Các báo cáo đề tài cấp Viện Khoa học và Công Nghệ
Việt nam
Các tài liệu thực tế, các kết quả nghiên cứu mà NCS trực tiếp
thực hiện từ năm 2000 đến nay:
- Kết quả thu thập và xử lý trên 3000 km tuyến địa chấn nông
phân giải cao khu vực thềm lục địa Đông Nam trong khuôn khổ các
chuyên đề và đề tài cấp cơ sở do NCS chủ trì
- Kết quả thu thập và phân tích số liệu động đất núi lửa khu vực
khu vực Biển Đông và thềm lục địa Việt Nam, trong khuôn khổ các đề
tài KC-09 (KC09-02, KC 09-24), Các đề tài thuộc các chương trình
trọng điểm, Biển Đông - Hải đảo do NCS chủ trì hoặc trực tiếp tham
gia thực hiện
7 Các điểm mới của luận án
1 Đã xây dựng, hoàn thiện, làm chính xác bình đồ đứt gãy hoạt
động Pliocen-Đệ Tứ khu vực thềm lục địa Đông Nam Việt Nam, bao
gồn 5 đứt gãy phương á kinh tuyến (KT.109o, Mãng Cầu-Phú Quý,
Mũi Né-Tây Mãng Cầu, Sông Đồng Nai và Sông Hậu), 5 đứt gãy
ĐB-TN (Thuận Hải-Minh Hải, Đông Côn Sơn, Hồng-Tây Mãng Cầu, Mũi
Kê Gà và Long Hải-Tuy Phong), trong đó các đứt gãy Mũi Né-Tây
Mãng Cầu và Mũi Kê Gà lần đầu tiên được phát hiện ở khu vực này
Các đặc trưng hình thái, động học và hoạt tính kiến tạo của các đứt gãy
đã được xác định và được minh chứng bằng các bằng chứng trực tiếp,
có sức thuyết phục
2 Trường ứng suất kiến tạo khu vực thềm lục địa Đông Nam
Việt Nam lần đầu tiên được nghiên cứu theo số liệu động đất, núi lửa
và địa vật lý giếng khoan Đặc tính phân dị của trường ứng suất, theo
diện và theo độ sâu, đã được được làm sáng tỏ Nguồn gốc trường ứng
suất và các chuyển động hiện đại trong vỏ Trái Đất trong các đới đứt
gãy đã được đề cập khá chi tiết
4.1.3 Nguồn gốc trường ứng suất và các chuyển động hiện đại trong
vỏ Trái đất
- Trường ứng suất và các chuyển động trượt bằng khu vực thềm lục địa Đông Nam có nguồn gốc từ chuyển động thúc trồi hướng Đông Nam của khối Đông Dương, do sự va chạm giữa lục địa Ấn Độ và mảng Âu-Á tiếp tục diễn ra trong hiện đại Chuyển động này cũng gây
ra hiệu ứng giãn căng-kéo tấm tại rìa Đông Nam khối Đông Dương, tạo bể sụt địa hào Cửu Long trong Eocen muộn-Oligocen, đồng thời cũng là động lực tạo thành phần thuận trong chuyển động hiện đại của đứt gãy Thuận Hải-Minh Hải và các đứt gãy cùng phương khác ở đới rìa này
- Các chuyển động thẳng đứng trong khu vực bị chi phối mạnh
Trang 7hướng ĐB-TN, phù hợp với xu thế phát triển của các yếu tố cấu
trúc-kiến tạo chính trong khu vực này
4.1.2 Trường ứng suất và các chuyển động hiện đại trong vỏ Trái
Đất
- Trong dải độ sâu nhỏ hơn 5km, trường ứng suất thuộc kiểu
thuận, với trục nén gần dốc đứng, trục giãn thay đổi từ á vĩ tuyến ở đứt
gãy Mũi Né-Tây Mãng Cầu đến TB-ĐN ở Đông Bắc bể Nam Côn Sơn;
ứng trung gian (SH), thay đổi từ BTB-NĐN trong đới đứt gãy Mũi
Né-Tây Mãng Cầu đến ĐB-TN ở Đông Bắc bể Nam Côn Sơn Các trạng
thái ứng suất này thể hiện ảnh hưởng của trường ứng suất kiến tạo khu
vực và các hoạt động đứt gãy dưới sâu
- Trên các độ sâu lớn: Ở phía Tây, trường ứng suất thuộc kiểu trượt
bằng-thuận: các ứng suất nén và giãn cực đại gần nằm ngang phương
BTB-NĐN và ĐĐB-TTN, ứng suất trung gian gần dốc đứng Trường
ứng suất này, làm tái hoạt động các đứt gãy á kinh tuyến và á vĩ tuyến
theo cơ chế trượt bằng-thuận, được thể hiện bởi cơ cấu chấn tiêu của
các trận động đất mạnh, M=5.2-5.3 (2005, 2007) xảy ra trên đứt gãy
Mũi Né-Tây Mãng Cầu Ở phía Đông, trường ứng suất chủ yếu thuộc
kiểu thuận hoặc thuận-trượt bằng, bị chi phối chủ yếu bởi các hoạt
động sụt lún cường độ mạnh tại bể Cửu Long, Nam Côn Sơn và Trũng
sâu Trung tâm Biển Đông
3 Đã nghiên cứu, xác lập mối quan hệ mật thiết giữa động đất, núi lửa với đặc điểm hoạt động kiến tạo trẻ Trong khu vực nghiên cứu
đã xác định được 12 đứt gãy sinh chấn có khả năng gây ra động đất cực đại Mmax ≥ 5.0 và 03 đứt gãy có khả năng hoạt động núi lửa
8 Các luận điểm bảo vệ
1 Hoạt động kiến tạo Pliocen - Đệ Tứ khu vực thềm lục địa Đông Nam Việt Nam biểu hiện rõ nét trong các đới đứt gãy phương á kinh tuyến và ĐB-TN Các đứt gãy KT.109o, Mãng Cầu-Phú Quývà Thuận Hải-Minh Hải có quy mô lớn, đóng vai trò quan trọng trong quá trình tạo dựng bình đồ cấu trúc-kiến tạo Pliocen-Đệ Tứ ở khu vực nghiên cứu Các chuyển động bằng trái-thuận chỉ xảy ra trong các đới đứt gãy á kinh tuyến, ở phía Tây (Mũi Né-Tây Mãng Cầu) trong khi các chuyển động thuận và thuận-bằng phải chiếm ưu thế trong các đới đứt gãy phía Đông khu vực (Mãng Cầu Phú Quý, KT 1090…)
2 Trường ứng suất kiến tạo khu vực thềm lục địa Đông Nam
Việt Nam được hình thành dưới tác động tổng hợp của 3 yếu tố động lực:1) Chuyển động thúc trồi hướng Đông Nam của khối Đông Dương
do va chạm giữa mảng Ấn Độ và mảng Âu-Á; 2) Sụt lún kiến tạo kết hợp với lún chìm do nguội nhiệt thời kỳ hậu rift xảy ra mạnh mẽ ở bể Cửu Long, Nam Côn Sơn và khối vỏ đại dương Tây Nam Biển Đông
và 3) Sự dâng trồi của manti dưới vỏ Trái Đất Trường ứng suất này thay đổi phức tạp theo không gian, đặc trưng bởi kiểu bằng-thuận ở phía Tây làm tái hoạt động các đứt gãy á kinh tuyến, ĐB-TN và
TB-ĐN, kiểu thuận và thuận-bằng phải ở phía Đông, làm tái hoạt động các
đứt gãy á kinh tuyến và ĐB-TN
3 Động đất liên quan chặt chẽ với bình đồ đứt gãy kiến tạo trẻ: các chấn tâm động đất mạnh chủ yếu tập trung trong các đới đứt gãy sâu hoạt động; các phá hủy địa chấn tại chấn tiêu động đất phù hợp với hướng dịch chuyển và kiểu phân bố ứng suất dọc theo đứt gãy Đới đứt
Trang 8gãy Mãng Cầu-Phú Quý và Thuận Hải-Minh Hải là nơi tập trung các
ứng suất giãn ngang cực đại phương TTB-ĐĐN và TB-ĐN Sự giãn
căng vỏ Trái Đất theo các hướng này kết hợp với sự dâng trồi của
manti dưới vỏ Trái Đất, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động phun
trào núi lửa, đặc biệt tại nơi giao cắt với các đứt gãy sâu khác
Nội dung luận án được trình bày trong 146 trang (không kể phụ
lục), 43 hình, 4 bảng trình bày trong các chương sau:
9 Cấu trúc luận án
Mở đầu
Chương I Tổng quan các nghiên cứu địa chất, kiến tạo và tai biến địa
chất khu vực thềm lục địa Đông Nam Việt Nam
Chương II Kiến tạo trẻ và các phương pháp nghiên cứu
Chương III Đặc điểm cấu trúc-kiến tạo khu vực thềm lục địa Đông
Nam Việt Nam
Chương IV Đặc điểm hoạt động kiến tạo trẻ và mối quan hệ với các
tai biến địa chất
Kết luận
Lời cảm ơn
Luận án này được hoàn thành tại bộ môn Địa vật lý, khoa
Dầu khí, trường Đại học Mỏ-Địa chất dưới sự hướng dẫn khoa học
của GS.TSKH Mai Thanh Tân và TS NCVCC Nguyễn Văn Lương,
tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất Trong quá trình nghiên
cứu và hoàn thành luận án, tác giả luôn nhận được sự động viên
khích lệ, sự giúp đỡ tận tình của gia đình, các thầy cô giáo, các cán
bộ đồng nghiệp ở bộ môn Địa vật lý, Phòng sau đại học, Viện Địa
chất và Địa vật lý biển, Viện Địa chất, Viện Khoa học và Công
nghệ Việt Nam, Viện Dầu khí Tác giả xin cảm ơn về sự giúp đỡ
động viên quý báu đó
Chương I TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT, KIẾN TẠO
VÀ TAI BIẾN ĐỊA CHẤT KHU VỰC THỀM LỤC ĐỊA
chấn tiêu thuận-trượt bằng, với thành phần thuận khoảng 4.5 lần lớn hơn thành phần trượt bằng Chúng có trục nén P gần dốc đứng (80-810), các trục giãn, T, á vĩ tuyến và trục trung gian, B, gần nằm ngang phương á kinh tuyến
Kết quả xác định các trạng thái ứng suất theo số liệu núi lửa
Trường ứng suất xác định theo số liệu vúi lửa có các đặc điểm sau:
- Trong các đới đứt gãy Mãng Cầu-Phú Quý, KT 1090, Thuận Hải-Minh Hải và Bình Long-Bình Châu, trường ứng suất chủ yếu thuộc kiểu thuận hoặc thuận-trượt bằng với trục nén dốc đứng, trục giãn nằm ngang phương á vĩ tuyến (ĐĐB-TTN đến TTB-ĐĐN), phản ánh cơ chế giãn căng vỏ Trái Đất theo các hướng này
- Ở Đông Bắc bể Nam Côn Sơn, trường ứng suất này thuộc kiểu thuận thuần túy, có trục nén dốc đứng, trục giãn và trục trung gian gần nằm ngang theo các phương TB-ĐN và ĐB-TN, tương tự như các trường ứng suất trên các độ sâu < 5km, theo tài liệu địa vật lý giếng khoan
Kết quả xác định các trạng thái ứng suất theo số liệu địa vật lý giếng khoan
Các thành phần ứng suất ứng suất ngang cực đại (SH), ứng suất ngang cực tiểu (Sh) và ứng suất thẳng đứng (SV) xác định theo tài liệu địa vật lý giếng khoan, đặc trưng cho trường ứng suất hiện đại ở dải độ sâu <5km Trường ứng này thuộc kiểu thuận (SV < SH < Sh) và có những đặc điểm sau:
- Các trạng thái ứng suất ở khu vực đứt gãy Mũi Né-Tây Mãng Cầu có đặc điểm tương tự nhau: SH và Sh định hướng ngang gần với các phương á kinh tuyến và á vĩ tuyến, SV dốc đứng
- Các trạng thái ứng suất phía Đông Bắc bể Nam Côn Sơn tương
tự nhau, đặc trưng bởi SH và Sh nằm ngang gần với các phương ĐB-TN
và TB-ĐN, SV gần dốc đứng Các hệ khe nứt (trùng với SH) phát triển
Trang 9Trong giai đoạn này, môi trường trầm tích kiểu biển ven bờ và
biển nông chiếm ưu thế, hình thành các tầng trầm tích khá đồng nhất theo
diện, không những chỉ trong phạm vi các bể Oligocen-Miocen mà còn
mở rộng đến các kiến trúc nâng đã từng phân cách chúng Tuy nhiên,
kiến tạo thềm lục địa Đông Nam Việt nam trong thời kỳ này không đơn
thuần diễn ra theo xu thế sụt lún cân bằng nhiệt-trọng lực Hoạt tính kiến
tạo của khu vực vẫn tiếp tục, biểu hiện ở chỗ: các tập trầm tích có bề dày
khác biệt từ kiến trúc này sang kiến trúc khác; sự thành tạo mạnh mẽ các
nêm lấn ở đới thềm ngoài; sự xuất hiện động đất, núi lửa dọc theo các đứt
gãy sâu hoạt động phương á kinh tuyến và ĐB-TN
Chương IV: ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG KIẾN TẠO TRẺ VÀ MỐI QUAN
HỆ VỚI CÁC TAI BIẾN ĐỊA CHẤT
4.1 Trường ứng suất kiến tạo và các chuyển động hiện đại trong vỏ
Trái Đất
Trường ứng suất kiến tạo khu vực thềm lục địa Đông Nam Việt
Nam (Hình 4.5) được xác lập theo số liệu cơ cấu chấn tiêu động đất, số
liệu núi lửa và địa vật lý giếng khoan:
4.1.1 Các kết quả xác định các trạng thái ứng suất theo số liệu động
đất, núi lửa và địa vật lý giếng khoan
Kết quả xác định các trạng thái ứng suất theo số liệu cơ cấu
chấn tiêu động đất
Các trận động đất mạnh xảy ra trong đới đứt gãy Mũi Né-Tây
Mãng Cầu có cơ cấu chấn tiêu tương tự nhau, thuộc kiểu bằng-thuận,
được đặc trưng bởi các ứng suất nén và giãn, P và T, gần nằm ngang
phương BTB-NĐN và ĐĐB-TTN; ứng suất trung gian, B gần dốc đứng;
các bề mặt ứng suất tiếp tuyến cực đại, nP1 và nP2 phương BĐB-NTN và
TTB-ĐĐN Bề mặt nP1, gần trùng với sự định hướng của đứt gãy Mũi
Né-Tây Mãng Cầu, được xác định là bề mặt phá hủy thực tại chấn tiêu
Về phía Tây của khu vực nghiên cứu, trường ứng suất kiến tạo thể
hiện sự khác biệt rõ rệt Các trận động đất ở Vịnh Thái Lan có cơ cấu
ĐÔNG NAM VIỆT NAM
1.1 Lịch sử nghiên cứu địa chất-địa vật lý thềm lục địa Đông Nam
Trước năm 1975, các kết quả khảo sát địa chất, địa vật lý mới chỉ đưa ra những nét khái quát về cấu trúc địa chất khu vực Từ sau 1975, các khảo sát tìm kiếm dầu khí được đẩy mạnh Đó là các khảo sát của tàu POISK, ISKATEL, GAMBURSEV, MALƯGIN (1979-1987), đo hàng chục nghìn km tuyến địa chấn ở các bể Cửu Long và Nam Côn Sơn; các khảo sát của Công ty ONGC Videsh, Enterprise Oil, Petro Canada (1988-1989), thực hiện trên 30 000 km tuyến địa vật lý ở thềm lục địa phía Nam; của các tàu Vulcanolog, Nexmeianov, Vinogrodop, Gagarinski (1980-1990) tại vùng biển Phú Khánh-Thuận Hải; của tàu Atlanta (1993), đo trọng lực, từ và địa chấn kết hợp lấy mẫu tầng mặt tại các vùng biển miền Trung và Đông Nam Việt Nam; của tàu Sonne (1996-1999), đo địa hình, địa chấn và lấy mẫu trầm tích tại các vùng biển thuộc thềm lục địa Việt Nam, cung cấp nguồn tài liệu tin cậy để nghiên cứu địa chất Pliocen - Đệ Tứ tại các vùng biển này
Từ năm 1998 đến nay, đề án "Điều tra địa chất và tìm kiếm khoáng sản rắn biển nông ven bờ (0 - 30m nước) Việt Nam" đã tiến hành đo địa chấn, địa từ và đo sâu hồi âm dọc đới ven biển Hàm Tân - Thuận Hải (1998), Cà Mau-Bạc Liêu (1998), Bạc Liêu-Vũng Tàu (1999); các đề tài KHCN-06-11, KC 09-09 (2001-2004), ĐTĐL 2007G/45 (2007-2009) đã thực hiện hàng nghìn km tuyến địa chấn, địa
từ và đo sâu hồi âm kết hợp với lấy mẫu trầm tích tại thềm lục địa Đông Nam Việt Nam
1.2 Một số kết quả đã đạt được trong nghiên cứu địa chất, kiến tạo
và tai biến địa chất khu vực thềm lục địa Đông Nam Việt Nam
1.2.1 Đặc điểm địa tầng: Địa tầng thềm lục địa Đông Nam Việt Nam
có thể phân thành hai phần: trước Pliocen-Đệ Tứ và Pliocen-Đệ Tứ, ranh giới là đáy Mio-Pliocen, hình thành khoảng 5.5 triệu năm về trước
Trang 10- Các thành tạo trước Pliocen-Đệ Tứ: Đá móng trước Kainozoi
tương đương với phức hệ Hòn Khoai, Định Quán và Cà Ná Các thành
tạo Kainozoi từ dưới lên, gồm các thành tạo Eocen, hệ tầng Cà Cối hoặc
Cù Lao Dung; các thành tạo Oligocen dưới, hệ tầng Trà Cú; các thành
tạo Oligocen trên, hệ tầng Trà Tân, hệ tầng Cau; các thành tạo Miocen
dưới, hệ tầng Bạch Hổ, hệ tầng Dừa; các thành tạo Miocen giữa, hệ tầng
Côn Sơn, hệ tầng Thông-Mãng Cầu; các thành tạo Miocen trên, hệ tầng
Đồng Nai, hệ tầng Nam Côn Sơn
- Các thành tạo Pliocen-Đệ Tứ gồm 10 phân vị địa tầng, 3 phân
vị trong Pliocen và 7 phân vị trong trầm tích Đệ Tứ: Địa tầng Pliocen
gồm các hệ tầng Cam, Sư Tử Trắng, Sư Tử Đen ở bể Cửu Long và
Hướng Dương, Thần Mã, Phi Mã ở bể Nam Côn Sơn; Địa tầng Đệ Tứ
gồm các phân vị: Đại Hùng, Rồng, Tam Đảo thuộc thống Pleistocen và
Hậu Giang, Gò Công thuộc thống Holocen
- Các bất chỉnh hợp địa tầng: Địa tầng Kainozoi thềm lục địa
Đông Nam Việt Nam có mặt các bất chỉnh hợp cuối Creta muộn-đầu
Paleocen, cuối Eocen đầu Oligocen sớm, cuối Oligocen
muộn-đầu Miocen sớm, cuối Miocen sớm-muộn-đầu Miocen giữa, cuối Miocen
giữa-đầu Miocen muộn, cuối Miocen muộn-giữa-đầu Pliocen (5.5 trn.), cuối
Pliocen- đầu Đệ Tứ, cuối Pleistocen sớm-đầu Pleistocen giữa và cuối
Pleistocen muộn-đầu Holocen, trong đó, các bất chỉnh hợp Pliocen-Đệ
Tứ chủ yếu liên quan đến các chu kỳ biển thoái do nguyên nhân khí hậu
Yếu tố kiến tạo không có vai trò rõ ràng trong việc hình thành chúng
1.2.2 Đặc điểm cấu trúc kiến tạo và địa động lực: Một số kết quả
nghiên cứu kiến tạo-địa động lực Pliocen-Đệ Tứ được tổng hợp trong
các công trình của Võ Năng Lạc & nnk (1997); Lê Duy Bách & nnk
(2007); Phạm Năng Vũ & nnk (2008); Phan Trọng Trịnh (2010) Võ
Năng Lạc &nnk.(1997) xác định rằng, trong Pliocene-Đệ Tứ, hoạt động
tách giãn Đông-Tây thể hiện rõ rệt, tạo các đứt gẫy, khe nứt phương kinh
tuyến, mang tính thuận ngang Các đứt gẫy TB-ĐN và ĐB-TN tái hoạt
các khối cấu trúc ở Đông Nam Á bị biến dạng dịch chuyển, với cường
độ và cơ chế khác nhau (xoay, trượt bằng, nâng hạ khối tảng…), tạo các kiến trúc mới (các bồn trũng dọc các đới khâu, kiến trúc vỏ đại dương, các hệ cung đảo, đới hút chìm…), đồng thời cũng làm tiêu biến các kiến trúc cổ (Proto-Biển Đông, các đới hút chìm…)
Cho đến nay, nhiều mô hình tiến hóa kiến tạo vùng Đông Nam Á
đã được đưa ra để giải thích nguồn gốc kiến tạo Biển Đông và các bể Kainozoi khác Theo đó, các bể Kainozoi ở Đông Nam Á được hình thành: do căng giãn sau cung, kết quả của sự hội tụ xiên theo cơ chế hút chìm dọc rãnh sụt Sumatra-Java (Kinhston &nnk,1983; Ian Longly
&nnk., 1997); do sự kéo toác dọc các đới đứt gãy trượt bằng trái lớn (Tapponnier &nnk., 1982, 1986; Huchon, 1994); do tách rift liên quan đến sự dâng trồi manti nhiệt dưới vỏ lục địa (Hutchinson, 1989; Tamaki, 1996); do sự xoay trường ứng lực (Huchon &nnk, 1994) Tuy nhiên, quan điểm về sự kết hợp một số mô hình kể trên có thể là phương án hợp lý để giải thích nguồn gốc kiến tạo các bể Kainozoi ở Đông Nam Á Theo phương án này, tiến hóa kiến tạo Đông Nam Á trong Kainozoi có thể phân thành ba giai đoạn chính: giai đoạn tiền rift (trước Eocen giữa), giai đoạn tạo rift (Eocen giữa-Miocen sớm) và giai đoạn sau rift (Miocen giữa-hiện đại)
3.4.2 Kiến tạo thềm lục địa Đông Nam Việt Nam trong Pliocen-Đệ Tứ
Khu vực thềm lục địa Đông Nam Việt Nam chịu tác động của các nguồn lực từ: sự va chạm giữa lục địa Ấn Độ và mảng Âu Á dọc đới hộ
tụ Himalaya, gây chuyển động thúc trồi hướng Đông Nam của khối Đông Dương; sự tương tác giữa mảng Âu-Á với mảng Ấn-Úc từ phía Nam; sự tương tác giữa mảng Âu-Á với mảng Thái Bình Dương từ phía Đông; sự hình thành rãnh sâu Manila cuốn hút khối vỏ đại dương Biển Đông dưới khối đảo Luzon; sự tồn tại dị thường manti nhiệt dưới vỏ Trái Đất tại phần Đông Nam thềm lục địa Việt Nam