1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận xét đặc điểm hình thái khớp cắn trên học sinh thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh lứa tuổi 15-17 tại trường THPT Đoàn Kết - Hai Bà Trưng Hà Nội

64 558 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀ Cùng với sự phát triển kinh tế, nhu cầu làm đẹp của người Việt Nam ngày càng tăng, trong đó chỉnh hình răng mặt là một lĩnh vực được nhiều người quan tâm chăm sóc. Một trong các bất thường về răng hàm mặt là hiện tượng thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh. Đây là hiện tượng bất thường của quá trình hình thành và phát triển răng, có thể một hoặc nhiều răng vĩnh viễn không mọc trên cung hàm, đồng thời không thấy răng hay mầm răng nằm trong xương hàm trên phim X-Quang và không có dấu hiệu răng đó bị nhổ hay mất vì các lý do khác. Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này với các kết quả khác nhau từ 2.8%-15,9% tùy theo các vùng địa lý và các chủng tộc khác nhau như: Malaysia 2.8% [37], Hong Kong 6,9% [19], Nhật Bản 9,4% - 15,9% [22], Thái Lan 8.6% [23], Nauy 6,5% [22], Hy Lạp 8,4% [25] . Các nghiên cứu đều cho thấy hiện tượng thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh biểu hiện khá đa dạng về vị trí cũng như hình thái. Các răng có tần suất thiếu nhiều nhất thường là răng cửa hàm dưới, răng cửa bên hàm trên, răng hàm nhỏ thứ 2.... Tuy nhiên tỉ lệ này phân bố khác nhau giữa người da đen, da trắng và người châu Á [21], [22], [55] Việc thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh sẽ ảnh hưởng đến sự sắp xếp vị trí của các răng trên cung hàm và gây xáo trộn trong hệ thống nhai. Tùy theo vị trí và số lượng răng vĩnh viễn bị thiếu mà dẫn đến các rối loạn khớp cắn và lệch lạc khác nhau như: sai khớp cắn vùng răng hàm, mất cân đối giữa hàm trên và hàm dưới, lệch đường giữa, răng thưa, khớp cắn sâu ... gây ảnh hưởng đến chức năng và thẩm mỹ. Năm 2004, Nele Mattheeuws, Luc Dermaut và Guy Martens tổng hợp 42 nghiên cứu khác từ năm 1957 đến 2004 về tỉ lệ thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh ở người da trắng và nhận thấy rằng các nghiên cứu gần đây có tỉ lệ thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh tăng cao hơn trước. [30] Các nghiên cứu ở Mỹ và Nhật Bản cho thấy sự liên quan giữa thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh với các bệnh khác như ung thư biểu mô tử cung, ung thu ruột kết và một số chứng dị ứng cũng đã được thực hiện [48]. Các tác giả này cho rằng các gene điểu khiển sự phát triển của răng cũng có thể có vai trò quan trọng đối với các cơ quan khác. Do đó sự biến đổi của các gen này có thể gây ra các bất thường khác trong cơ thể. [27], [48] Như vậy tỉ lệ thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh trên thế giới không phải là hiếm gặp, nó ảnh hưởng đến khớp cắn cũng như chức năng nhai và thẩm mỹ. Vấn đề này đang ngày nhận được sự quan tâm nghiên cứu nhiều hơn của các nhà khoa học trên thế giới. Tuy nhiên cho đến nay ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào về thiếu răng bẩm sinh được công bố chính thức . Để góp phần xây dựng một dữ liệu riêng cho người Việt Nam qua đó nhằm nâng cao kết quả chẩn đoán và điều trị trong chỉnh nha cũng như các lĩnh vực liên quan , chúng tôi chọn đề tài "Nhận xét đặc điểm hình thái khớp cắn trên học sinh thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh lứa tuổi 15-17 tại trường THPT Đoàn Kết - Hai Bà Trưng Hà Nội " nhằm 2 mục tiêu sau : 1. Xác định tỉ lệ thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh ở học sinh 15-17 tuổi ( trường THPT Đoàn Kết -Hai Bà Trưng - TP Hà Nội ) 2. Nhận xét các hình thái lệch lạc khớp cắn trên các học sinh thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh.

Trang 1

Cùng với sự phát triển kinh tế, nhu cầu làm đẹp của người Việt Nam ngày càng tăng, trong đó chỉnh hình răng mặt là một lĩnh vực được nhiều người quan tâm chăm sóc Một trong các bất thường về răng hàm mặt là hiện tượng thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh Đây là hiện tượng bất thường của quá trình hình thành và phát triển răng, có thể một hoặc nhiều răng vĩnh viễn không mọc trên cung hàm, đồng thời không thấy răng hay mầm răng nằm trong xương hàm trên phim X-Quang và không có dấu hiệu răng đó bị nhổ hay mất vì các lý do khác

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này với các kết quả khác nhau từ 2.8%-15,9% tùy theo các vùng địa lý và các chủng tộc khác nhau như: Malaysia 2.8% [37], Hong Kong 6,9% [19], Nhật Bản 9,4%

- 15,9% [22], Thái Lan 8.6% [23], Nauy 6,5% [22], Hy Lạp 8,4% [25] Các nghiên cứu đều cho thấy hiện tượng thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh biểu hiện khá đa dạng về vị trí cũng như hình thái Các răng có tần suất thiếu nhiều nhất thường là răng cửa hàm dưới, răng cửa bên hàm trên, răng hàm nhỏ thứ 2 Tuy nhiên tỉ lệ này phân bố khác nhau giữa người da đen, da trắng và người châu Á [21], [22], [55]

Việc thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh sẽ ảnh hưởng đến sự sắp xếp vị trí của các răng trên cung hàm và gây xáo trộn trong hệ thống nhai Tùy theo vị trí và số lượng răng vĩnh viễn bị thiếu mà dẫn đến các rối loạn khớp cắn và lệch lạc khác nhau như: sai khớp cắn vùng răng hàm, mất cân đối giữa hàm trên và hàm dưới, lệch đường giữa, răng thưa, khớp cắn sâu gây ảnh hưởng đến chức năng và thẩm mỹ

Năm 2004, Nele Mattheeuws, Luc Dermaut và Guy Martens tổng hợp

42 nghiên cứu khác từ năm 1957 đến 2004 về tỉ lệ thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh ở người da trắng và nhận thấy rằng các nghiên cứu gần đây có tỉ lệ thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh tăng cao hơn trước [30]

Các nghiên cứu ở Mỹ và Nhật Bản cho thấy sự liên quan giữa thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh với các bệnh khác như ung thư biểu mô tử cung, ung thu ruột kết và một số chứng dị ứng cũng đã được thực hiện [48] Các

Trang 2

tác giả này cho rằng các gene điểu khiển sự phát triển của răng cũng có thể

có vai trò quan trọng đối với các cơ quan khác Do đó sự biến đổi của các gen này có thể gây ra các bất thường khác trong cơ thể [27], [48]

Như vậy tỉ lệ thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh trên thế giới không phải là hiếm gặp, nó ảnh hưởng đến khớp cắn cũng như chức năng nhai và thẩm mỹ Vấn đề này đang ngày nhận được sự quan tâm nghiên cứu nhiều hơn của các nhà khoa học trên thế giới

Tuy nhiên cho đến nay ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào về thiếu răng bẩm sinh được công bố chính thức Để góp phần xây dựng một dữ liệu riêng cho người Việt Nam qua đó nhằm nâng cao kết quả chẩn đoán và điều trị trong chỉnh nha cũng như các lĩnh vực liên quan, chúng tôi chọn đề tài

"Nhận xét đặc điểm hình thái khớp cắn trên học sinh thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh lứa tuổi 15-17 tại trường THPT Đoàn Kết - Hai Bà Trưng

Hà Nội" nhằm 2 mục tiêu sau :

1 Xác định tỉ lệ thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh ở học sinh 15-17 tuổi ( trường THPT Đoàn Kết -Hai Bà Trưng - TP Hà Nội )

2 Nhận xét các hình thái lệch lạc khớp cắn trên các học sinh thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh

Trang 3

1.1 Sự hình thành của mầm răng

Hình thành mầm răng là một quá trình liên tục, bắt đầu từ nguyên mầm răng ở tuần thứ 4 bào thai Những diễn biến hình thái ngay sau khi thành lập nguyên mầm răng cho phép phân chia sự phát triển của mầm răng thành các giai đọan nụ, chỏm và chuông

1.1.1 Giai đoạn nụ: còn gọi là giai đọan tăng sinh

Đặc trưng bởi một đám tế bào biểu mô hình cầu, phát triển từ các tế bào biểu mô của lá răng; hình thành một cơ quan men hình nụ

Hình 1.1 : Giai đoạn nụ

1.1.2 Giai đọan chỏm:

Các tế bào trung mô hình hình thành một nhú, cùng với việc cơ quan men hình nụ lõm xuống, tạo thành một chỏm trênnhú răng Các tế bào xung quanh cơ quan men và nhú răng phân chia và tạo thành một lớp tế bào ngoại trung mô tụ đặc; bao răng hay túi răng Đến giai đọan này, mầm răng gồm

cơ quan men, nhú răng và bao răng

Trang 4

Hình 1.2 : Giai đoạn chỏm

1.1 3 Giai đoạn chuông: sau quá trình tiếp tục lớn lên về kích thước,

mầm răng từ giai đọan chỏm chuyển sang giai đọan chuông, (còn gọi là giai đoạn biệt hóa) Có hai đặc điểm:

- Hình thể tương lai của thân răng được xác định bởi sự tiếp xúc giữa các tế bào biểu mô men lớp trong với tế bào của nhú răng, đây là kết quả của

sự phát triển từ giai đọan chỏm (chưa biệt hóa) sang giai đọan chuông trưởng thành đã biệt hóa;

- Có sự biệt hóa để tạo thành nguyên bào men, nguyên bào ngà cũng như một chuỗi biệt hóa của các loại tế bào khác của mầm răng Quá trình biệt hóa các tế bào cơ quan men và nhú răng như trên gọi là biệt hóa tế bào, biệt hóa mô Vị trí của các tế bào và của các giai đọan cảm ứng giữa chúng trong việc xác lập hình thể răng, gọi là biệt hóa hình thái Bốn loại tế bào của cơ quan men trong giai đọan hình chuông đã có sự phân biệt rõ ràng (Hình 1.3 )

Theo cùng trình tự mà chúng đã xuất hiện, các đám tế bào biểu mô biệt hóa qua nhiều giai đọan trung gian để trở thành mầm răng giờ đã sẵn sàng hoạt động Khi bắt đầu của giai đọan phát triển này (khoảng ngày thứ 45 – 48 sau thụ tinh), các sườn vòm miệng vẫn ở hai bên lưỡi Khi có sự tiếp nối các sườn vòm miệng và hình thành vách mũi (khoảng tuần thứ 8), chỏm răng với như răng và túi quanh răng đã được tạo thành Ở cuối giai đoạn này nghĩa là

Trang 5

Những quá trình phát triển này ở thai con trai sớm hơn thai con gái; Sự đóng của vòm miệng thứ cấp cũng diễn ra như vậy

Mầm răng từ giai đoạn chuông : Về cấu tạo mỗi mầm răng gồm:

ao răng B

Hình 1.3 : Giai đoạn hình chuông

1.1.3.1 Cơ quan men:

Cơ quan men có 4 tầng phân biệt về ba mặt: hình thái học, tế bào học,

và chức năng:

¾ Biểu mô men lớp ngoài: tạo thành mặt lồi ngoài của cơ quan men

và trải rộng đến vành đai chuông (vành cổ) nơi biểu mô men lớp ngoài và biểu mô men lớp trong gặp nhau Các tế bào của biểu mô men lớp ngoài rất thay đổi về hình thái tùy theo vị trí so với biểu mô men lớp trong (nguyên bào men) Ở thời kỳ biểu mô men lớp trong chưa biệt hóa, chúng có hình khối vuông hoặc lăng trụ, nhưng khi đối mặt với nguyên bào men, chúng phẳng hơn và sắp xếp lộn xộn hơn Trong mọi trường hợp, biểu mô men lớp ngoài tiếp xúc với tế bào của tầng lưới bằng các thể nối và khớp khe; chúng phân cách với bao răng chính danh bằng màng đáy

Trang 6

¾ Các tế bào của tầng lưới hay lưới tế bào sao: tạo nên khối lớn nhất của cơ quan men Chúng có hình sao và có nhiều đuôi bào tương dài, nối với nhau bằng thể nối và khớp khe Giữa các tế bào có khỏang gian bào mạng lưới, được lấp bởi mucopolysaccharide có tính acid và các chất cơ bản ái thủy, là sản phẩm của các tế bào lưới

¾ Tầng trung gian: được tạo thành bởi từ 3 – 4 lớp tế bào phẳng, lăng trụ đa giác và tương đối gần nhau, lớp này nằm kế cận với biểu mô men lớp trong Các tế bào lớp trung gian đặc biệt giàu men phosphatase kiềm và acid Chúng cũng có nhiều hình thức khác nhau tùy nơi chúng gần với nguyên bào men hay gần với lớp biểu

mô men chưa biệt hóa Các tế bào của lớp trung gian gần với biểu

mô men chưa biệt hóa có hình trụ đa giác và tiếp nối với nhau bằng thể nối hay bằng khớp khe có độ dài trung bình (2µm) Các tế bào lớp trung gian gần với nguyên bào men phẳng hơn và các khớp khe dài hơn (8µm) Khoảng liên bào trở nên nhiều acid mucopolysaccharid ngay trước khi có sự lắng đọng chất căn bản rắn

¾ Biểu mô men lớp trong: Có một hàng tế bào hình trụ thấp, (khoảng

25 µm), có nhân hình bầu dục và các bào quan phân tán tự do trong bào tương Những tế bào này liên hệ với nhau bằng thể nối và bằng khớp khe (dài khỏang 2 µm) Tế bào biểu mô men lớp trong giàu phosphatase acid và duy trì họat động phân bào cho đến khi được biệt hóa thành nguyên bào men Biểu mô men lớp trong phủ mặt lõm của cơ quan men hình chuông và được phân cách với các tế bào của nhú (răng) bởi màng đáy Ở vành cổ, màng đáy của biểu mô men lớp trong liên tục với màng đáy của biểu mô men lớp ngòai, vì vậy màng đáy bao phủ toàn bộ bề mặt của cơ quan men

Cần nhấn mạnh một số đặc điểm sau đây:

- Cơ quan men tiếp tục lớn lên bằng tăng sinh chứ không ngừng lại bằng việc hình thành cơ quan men hình chuông có 4 lớp và khi bắt đầu sự tạo thành các chất căn bản cứng của răng Tại thời điểm này, cơ quan men đã hình thành chỉ là phần nhỏ của rìa cắn hoặc mặt nhai của thân răng tương lai

Trang 7

trong; các tế bào của tầng lưới và của lớp trung gian góp phần phát triển đều đặn các tế bào của 4 lớp cơ quan men Quá trình tạo men và tạo ngà diễn ra

theo hướng nhai – chóp

- Các nguyên bào men tương lai xuất hiện chỉ từ các tế bào con của biểu mô men lớp trong Các tế bào biểu mô men lớp ngoài không di chuyển qua đai cổ vào vùng của biểu mô men lớp trong Ở vùng đã hoàn thành của

cơ quan men, tập đoàn tế bào biểu mô men thế hệ con lớp trong cũng trực tiếp tăng lên, bên cạnh các tế bào tầng trung gian

Những dấu hiệu của sự biệt hóa là:

- Có sự tổng hợp và tụ lại các sợi ngoại bào,

- Sự tăng lên các khoảng gian bào ái kiềm,

- Sự xâm nhập các mạch máu mà sau này tạo thành đám rối mạch bao quanh dưới tạo ngà bào,

- Sự xâm nhập của dây thần kinh

Sự tụ đặc tế bào và tính ái kiềm tạo nên ranh giới của vùng như răng với trung

mô xung quanh vốn có cấu trúc lỏng lẻo hơn nhiều Trong đoạn chuông muộn, ngay trước khi bắt đầu hình thành ngà, màng đáy của lớp biểu mô men lớp trong trở nên dày hơn rõ rệt Khi đó nó bao gồm màng đáy tụ đặc (khoảng 30 nm chiều dày), và lớp giàu mucoprotein trong lưới sợi và collagen, đó là màng tiền tạo Nhú răng sẽ phát triển thành các thành phần ngà răng và tủy răng

Trang 8

- Rất sớm sau khi hình thành cơ quan men hình chuông có bốn lớp và nhú răng xuất hiện, cả hai được bao bọc xung quanh bởi một lớp mô mỏng và

có mật độ cao Lớp này chạy ở ngoài vành chuông và phân cách mô của nhú răng với vùng trung mô xunh quanh ở vùng mở ra của đáy chuông

- Ngoài các tế bào dạng sợi, lớp này còn chứa tỉ lệ cao sợi collagen có hướng song song với bề mặt của mầm răng, tạo nên đặc điểm sợi của bao răng Phần trong cùng của bao răng (còn gọi là bao răng chính danh hay túi răng chính danh) là phần sẽ được biến đổi thành các thành phần của nha chu (xêmăng, dây chằng, xương ổ răng)

- Kích thước răng phụ thuộc hai yếu tố hoạt động của tế bào: tăng sinh

và chế tiết Răng lớn và răng nhỏ là kết quả của ảnh hưởng sự tăng trưởng của mầm răng ở giai đọan chỏm và giai đọan chuông Các trường hợp răng lớn (hoặc nhỏ) thật, tòan bộ các răng bị ảnh hưởng, có thể do tác động của hoóc môn tăng trưởng Các trường hợp răng lớn (hoặc nhỏ) giả, từng răng riêng lẻ bị ảnh hưởng

– Thiếu răng một phần hoặc toàn bộ do rối loạn sự hình thành răng ở giai đọan đầu tiên Trường hợp loạn sản ngoại bì di truyền, toàn bộ răng bị thiếu, khi đó, các bộ phận có nguồn gốc ngoại bì: da, tóc, tuyến bã…cũng bị ảnh hưởng Trường hợp thiếu răng từng phần thường gặp nhất là các răng khôn; trong khi các răng nanh ít khi bị thiếu nhất

1.2 SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC MẦM RĂNG

1.2.1 Sự phát triển của các mầm răng thay thế

Trang 9

răng sữa, nơi lá răng chính thức đi theo con đường gợn sóng từ mầm này sang mầm khác của bộ răng sữa Lá này kéo dài về phía chóp từ mức mà ở đó lá biểu mô (lá răng bên) được tiếp nối Phần mở rộng thêm này gọi là lá thứ cấp Sự xuất hiện chờm lên của lá răng thứ cấp diễn ra với sự phân rã của lá răng bên và với sự tách rời các mối liên kết của các mầm răng sữa với lá răng Nguyên mầm của các răng thay thế phát triển ở đầu tận cùng của lá răng thứ cấp Những mầm này tăng trưởng và biệt hóa giống như quá trình của các răng sữa và các răng hàm lớn Sự phát triển của chúng diễ ra trong một thời gian dài Bắt đầu ở tháng thứ 5 sau thụ tinh với sự tạo thành của các

nụ răng cửa giữa, kết thúc ở 2 – 3 tuổi với sự bắt đầu hình thành mô cứng ở răng hàm nhỏ 2

Vị trí của các mầm răng thay thế thay đổi theo tuổi Khởi thủy, các nụ mằm ở phía lưỡi của các răng sữa đang phát triển, ở khoảng từ đai cổ đến mức đường vòng lớn nhất của thân răng Về sau, do kết quả của sự tăng trưởng và sự mọc răng sữa, mầm của các răng trước nằm ở phía chóp của răng sữa, trong khi đó, mỗi mầm răng hàm nhỏ nằm ở khoảng giữa các chân răng sữa chẽ ra Trong quá trình dịch chuyển bị trí ấy, các mầm răng hàm nhỏ trên

đi vào vùng chẽ từ phía gần trong, đi qua các chân răng trong của răng hàm sữa đang trong giai đoạn hình thành Các mầm răng hàm nhỏ dưới đi vào vùng chẽ giữa các chân răng hàm sữa đã hình thành từ phía trong

Các lá răng của răng thay thế bị thoái hóa ngay sau khi các mầm đạt đến giai đoạn chuông và bắt đầu chế tiết men và ngà Sau khi phân chia các mầm răng vĩnh viễn từ lá răng chính thức và các mầm răng sữa từ lá răng thức cấp, di tích của cả hai lá răng vẫn tồn tại Những biểu mô còn sót lại tụ tập dưới biểu mô miệng, tại đó chúng có thể tạo thành các tiểu nang sừng; Các tiểu nang này khi lộ ra trước hoặc sau khi đẻ, được gọi là những hạt trai Serres, hạt trai Epstein hoặc hạt Bohn

Trang 10

1.2.2 Sự phát triển của các mầm răng hàm lớn vĩnh viễn

Ba răng hàm lớn vĩnh viễn (M1, M2, M3) xuất hiện ở phía sau bộ răng sữa Nguyên mầm của chúng ở đầu tận cùng của lá răng các răng hàm sữa lan

về phía xa trong quá trình phát triển tăng sinh Dây biểu bì này bắt đầu như một phần của lá răng chính thức của răng hàm sữa thứ II Từ đầu xa của phần

mở rộng này, mầm của răng hàm lớn I phát triển qua các giai đoạn nụ, chỏm

và chuông Sau đó theo cách này các mầm của răng hàm lớn thứ 2 và 3 xuất hiện ở đầu xa của phần nối dài lá răng Như vậy, lá răng của các răng hàm lớn vĩnh viễn chỉ có sự liên hệ gián tiếp với biểu mô hốc miệng ở phía gần qua răng hàm sữa II Sự liên hệ này bị mất trong quá trình phát triển của mầm răng hàm lớn I, và như vậy biểu mô sinh răng hàm lớn thứ 2 và 3 cũng bị mất toàn bộ sự lên hệ với biểu mô khoang miệng

Nguyên mầm của răng hàm lớn 1 xuất hiện từ tuần thứ 13 đến 15 sau thụ tinh Những mầm răng này đạt được giai đoạn chuông ở khỏang tuần thứ

24 và bắt đầu tạo thành ngà trước khi sinh (tuần thứ 28 – 32) Các mầm của răng hàm lớn 2 đạt đến giai đoạn chuông 6 tháng sau đẻ; răng hàm lớn 3 lúc

6 tuổi Bắt đầu sự tạo ngà ở răng hàm lớn 2 là từ 2 – 3 tuổi, ở răng hàm lớn 3

là 7 – 10 tuổi Các mầm răng hàm lớn phát triển trong vùng lồi của xương hàm trên và cành lên xương hàm dưới Mặt phẳng các chóp răng hàm trên hướng về phía gần, của các răng hàm dưới hướng về phía xa Thành gần của mầm răng hàm lớn 1 nằm về phía ngoài hơn và nhau hơn so với các răng hàm sữa II

Có một khoảng thời gian khoảng 6 năm cách biệt cho các pha của sự phát triển các răng hàm lớn vĩnh viễn Điều này cho phép xương hàm trên và xương hàm dưới đủ thời gian tăng trưởng và tạo không gian cần thiết cho vị trí của các răng hàm lớn Tất cả các nụ phát triển tương tự như quá trình diễn

ra ở răng sữa Những tương đồng lớn về hình thể và các pha của sự tạo thành răng hàm sữa II và răng hàm lớn I là rất nổi bật về mặt mô học Cả ba răng hàm lớn bĩnh viễn được quan niệm là một phần của bộ răng sữa vì chúng xuất hiện từ phần mở rộng phía xa của lá răng sữa, chúng không có răng sữa mọc trước đó, cần nhớ rằng nếu lá này bị teo đét thì cũng không có sự tạo thành mầm răng

Trang 11

1.3.1 Thời kỳ mọc và thứ tự mọc của răng vĩnh viễn

Bảng 1.1 Thời kỳ mọc răng vĩnh viễn [31]

b: Đôi khi xảy ra

1.3.2 Sự thay đổi của cung hàm trong quá trình thay răng

Trong giai đọan từ răng sữa qua răng vĩnh viễn không chỉ kích thước răng, khớp cắn các răng thay đổi mà ngay cả kích thước, độ lớn cung hàm cũng thay đổi theo thời gian Kết quả chủ yếu là do sự thay đổi kích thước giữa răng sữa và răng vĩnh viễn Sự viến đổi chiều hướng mọc răng, sự loại

Trang 12

Kích thước của các răng vĩnh viễn (trừ răng hàm sữa thứ hai hàm trên

và răng hàm sữa thứ nhất, thứ hai hàm dưới có kích thước lớn hơn kích thước răng vĩnh viễn thay thế nó) đều lớn hơn kích thước răng sữa mà nó sẽ thay thế [2], [6], [9]

Bảng 1.3 : Sự khác biệt về kích thước răng sữa và răng vĩnh viễn

(Moyers, 1976) [34]

Răng cửa (mm)

Răng nanh/

răng hàm nhỏ (mm)

Để bù sự thiếu hụt đó có bốn hiện tượng ở cung xương hàm đã xảy ra:

Hiện tượng 1: Có khe giữa các răng cửa Khe thưa từ khi răng cửa

sữa mọc tới thời điểm ngay trước khi răng cửa rĩnh viễn mọc thay thế, tăng lên 5mm ở hàm trên và 3mm ở hàm dưới Nếu không có khỏang cách giữa các răng cửa sữa thì răng cửa vĩnh viễn sẽ không hoặc ít bị khấp khểnh

Hiện tượng 2: Sự tăng chiều rộng cung răng tại vùng răng nanh (trung

bình khỏang 2mm) vì trong quá trình lớn lên, răng mọc hướng lên trên và ngả

Trang 13

dài cung răng 1 – 2mm; 2,2mm ở hàm trên; 1,3mm ở hàm dưới – theo Brume)

Hiện tượng 4: Khe Simiens ở mỗi bên hàm (hàm trên khe trước răng

nah sữa; hàm dưới khe sau răng nanh sữa và trước răng hàm sữa thứ nhất) Khi răng cửa hàm dưới mọc răng nanh sữa dịch chuyển nhẹ ra phía sau tại vùng Simiens Nếu có khe Simiens thì tình trạng khấp khểnh răng cửa vĩnh viễn sẽ phụ thuộc vào ba hiện tượng trên [1]

1.4 Phân loại khớp cắn

1.4.1 Khái niệm khớp cắn lý tưởng

1.4.1.1 Tương quan giữa các răng trong một hàm

Tương quan theo chiều trước sau: Tất cả các răng đều tiếp xúc nhau ở

cả mặt gần và xa, ngoại trừ răng khôn chỉ có một điểm tiếp xúc phía gần Với thời gian, các điểm tiếp xúc sẽ trở thành mặt phẳng tiếp xúc

Độ nghiêng ngoài-trong của răng: Trục ngoài – trong của răng (nhìn từ phía trước, theo mặt phẳng trán), hàm trên các răng sau hơi nghiêng về phía ngoài, hàm dưới các răng hơi nghiêng về phía trong

Độ nghiêng gần – xa của răng: trục gần xa của răng, nhìn từ phía bên

và chiều trước sau thì hàm trên các răng trước nghiêng gần và các răng sau nghiêng xa, hàm dưới các răng trước và sau đều nghiêng gần [39]

1.4.1.2 Tương quan giữa các răng hàm trên và hàm dưới

Độ cắn chìa: Là khoảng cách giữa bờ cắn răng cửa trên và dưới theo chiều trước sau Độ cắn chìa trung bình là 1-2mm

Trang 14

Độ cắn phủ: Là khoảng cách giữa bờ cắn răng cửa trên và dưới theo chiều đứng khi hai hàm cắn khớp Trung bình độ cắn phủ bằng 1/3 chiều cao thân răng dưới

Đường cắn khớp: Là đường nối múi ngoài của các răng sau và bờ cắn của các răng trước hàm dưới, hoặc là đường nối trũng giữa các răng sau và cingulum của các răng trước hàm trên Khi hai hàm cắn khớp với nhau, đường cắn khớp của răng hàm trên và hàm dưới chồng khít lên nhau Khi hàm trên và hàm dưới cắn khớp, mỗi răng trên hàm sẽ khớp với hai răng ở hàm đối diện Ngoại trừ răng cửa giữa hàm dưới và răng khôn hàm hàm trên chỉ khớp với một răng của hàm đối diện

1.4.1.3 Quan niệm răng hàm hài hòa lý tưởng

Về mặt hình thái học tỷ lệ các tầng mặt cân đối, hài hòa giữa kích thước rộng, dài theo ba chiều không gian Răng cân đối hài hòa với nhau, với cung hàm và khuôn mặt Răng cùng số ở vị trí cân xứng hai bên đường nối giữa hàm trên đối với cung răng trên và ở vị trí cân xứng hai bên đường nối phanh lưỡi và phanh môi dưới với hàm dưới Trên thực tế khớp cắn lý tưởng là không thể đạt được vì nó đòi hỏi mọi thứ phải hoàn hảo cả về sự phát triển răng, môi trường phát triển như trương lực cơ, dây chằng, khớp, sự bồi xương tiêu xương… cũng như khả năng bù trừ chống mòn cơ học Vì vậy trên lâm sàng một khớp cắn lý tưởng khi các răng sắp xếp đều đặn trên cung hàm và có đường cắn đúng

1.4.2 Quan niệm khớp cắn bình thường của Andrews [4], [11]

Nghiên cứu của Lawrence F Andrews từ 1960 – 1964 dựa trên việc quan sát 120 mẫu hàm có khớp cắn bình thường Các mẫu hàm được chọn lựa theo tiêu chuẩn:

(1) chưa qua điều trị chỉnh hình

(2) các răng mọc đều đặn và thẩm mỹ

(3) khớp cắn có vẻ đúng

Trang 15

chỉnh hình hoàn hảo Từ đó, sáu đặc tính khớp cắn mà Andrews quan sát được đã trở thành mục tiêu của điều trị CHRM

1.4.2.1 Đặc tính 1: Tương quan ở vùng răng hàm

- Gờ bên xa của múi ngoài xa của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên tiếp xúc với gờ bên gần của múi ngòai gần của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ hai hàm dưới

- Múi ngoài gần của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên khớp với rãnh ngoài gần của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới

- Múi trong gần răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên khớp với trũng giữa của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới

1.4.2.2 Đặc tính II: Độ nghiêng gần xa của thân răng

- Độ nghiêng gần xa của thân răng là góc tạo bởi đường vuông góc với mặt phẳng nhai và trục thân răng Góc độ (+) khi phần phía lợi của trục răng

ở về phía xa so với phần bờ cắn hay mặt nhai Ngược lại là góc độ (-)

- Bình thường, các răng có góc độ (+) và độ nghiêng này thay đổi theo từng răng

1.4.2.3 Đặc tính III: Độ nghiêng ngoài trong của thân răng

Độ nghiêng ngoài trong của thân răng là góc tạo bởi đường thẳng vuông góc với mặt phẳng nhai và đường tiếp tuyến với điểm giữa mặt ngoài thân răng Góc độ (+) khi phần phía lợi của đường tiếp tuyến (hay của thân răng) ở về phía trong so với phần bờ cắn hay mặt nhai Ngược lại là góc độ (-)

Độ nghiêng ngoài trong của thân răng cửa trên và dưới tương quan nhau và ảnh hưởng đáng kể đến độ cắn phủ và khớp cắn của các răng sau Các răng sau hàm trên (từ răng nanh đến răng hàm lớn thứ hai) có phần bờ cắn hay mặt nhau ở về phía trong so với phần lợi của thân răng Ở hàm trên,

Trang 16

1.4.2.4 Đặc tính IV: Không có răng xoay

Không có răng xoay hiện diện trên cung răng Vì nếu có, chúng sẽ chiếm chỗ nhiều hoặc ít hơn răng bình thường

1.4.2.5 Đặc tính V: Không có khe hở giữa các răng

Các răng phải tiếp xúc chặt chẽ với nhau ở phía gần và xa của mỗi răng, trừ răng hàm lớn thứ ba chỉ tiếp xúc phía gần

Khe hở trên cung răng thường do bất hài hòa kích thước răng-hàm

1.4.2.6 Đặc tính VI: Đường cong Spee phẳng hay cong ít

Khớp cắn bình thường có đường cong Spee không sâu quá 1,5mm

1.4.3 Phân loại khớp cắn theo Angle [39], [3]

Phân loại sai khớp cắn của Angle được công bố năm 1890 là một mốc quan trọng trong sự phát triển của ngành nắn chỉnh răng Nó không chỉ phân loại sai khớp cắn mà còn định nghĩa đơn giản và rõ ràng về khớp cắn bình thường của hàm răng thật

Theo giả thiết của Angle, răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên là

“chìa khóa khớp cắn” Đây là răng vĩnh viễn được thành lập và mọc sớm nhất Nó cũng là răng vĩnh viễn to nhất của cung hàm trên, có vị trí tương đối

cố định so với nền sọ, khi mọc không bị cản trở bởi chân răng sữa và còn được hướng dẫn mọc đúng bị trí nhờ vào hệ răng sữa

Theo Angle, khớp cắn bình thường là khớp cắn có múi ngoài gần của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên khớp với rãnh ngoài gần của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới, và các răng trên cung hàm sắp xếp theo một đường cắn khớp đều đặn Đường cắn là một đường cong đều đi qua hố trung tâm của các răng hàm lớn hàm trên và đi qua gót răng của các răng nanh

và răng cửa hàm trên Đường cắn này cũng đi theo núm ngoài và rìa cắn của

Trang 17

Angle căn cứ vào tương quan khớp cắn của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên và răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới khi hai hàm cắn khớp để xếp thành 4 nhóm khớp cắn:

* Khớp cắn bình thường : Đỉnh núm ngoài gần của răng hàm lớn

vĩnh viễn thứ nhất hàm trên ăn khớp với rãnh ngoài gần của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới Các răng sắp xếp theo đường cắn

* Lệch lạc khớp cắn loại I : Quan hệ răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất

hàm trên và răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới là loại I, nhưng đường cắn không đúng do các răng trước mọc sai chỗ, răng xoay hoặc do những nguyên nhân khác

* Lệch lạc khớp cắn loại II : Múi ngòai gần của răng hàm lớn vĩnh

viễn thứ nhất hàm trên khớp về phía gần so với rãnh ngoài gần của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới Loại II có hai tiểu loại:

- Tiểu loại 1: Cung răng hàm trên hẹp, hình chữ V, nhô ra trước

với các răng cửa trên nghiêng về phía môi (răng vẩu), độ cắn chìa tăng, môi dưới thường chạm mặt trong các răng cửa trên

- Tiểu loại 2: Các răng cửa giữa hàm trên nghiêng vào trong

nhiều, trong khi các răng cửa bên hàm trên nghiêng ra phía ngoài khỏi răng cửa giữa, độ cắn phủ tăng, cung răng hàm trên ở vùng răng nhanh thường rộng hơn bình thường Tiểu loại 2 thường do di truyền

* Lệch lạc khớp cắn loại III : Múi ngòai gần răng hàm lớn vĩnh viễn

thứ nhất hàm trên khớp về phía xa so với rãnh ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới Các răng cửa dưới có thể ở phía ngoài các răng cửa trên (cắn chéo răng cửa hay móm) Cần phân biệt sai khớp cắn loại III giả, quan hệ của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên với răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới là trung tính

Trang 18

Hình 1.4 : Phân loại khớp cắn theo Angle

1.5 Đại cương về thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh

1.5.1 Khái niệm thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh

Một răng vĩnh viễn được xác định là thiếu bẩm sinh khi răng đó không mọc trên cung hàm và cũng không nằm trên phim Xquang, đồng thời không

có bằng chứng gì cho thấy nó bị mất do các nguyên nhân khác như : nhổ răng, mất răng do tai nạn, sâu răng

1.5.2 Nguyên nhân thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh

Đối với các trường hợp thiếu răng hàng loạt như olidontia hay anodontia thường kèm theo hội chứng như loạn sản ngoại bì, hội chứng Down [1], [16]

Nguyên nhân của hiện tượng này còn chưa thống nhất, đây có thể kết quả của sự kém biệt hóa của các mô răng ( Moyer, 1988; Proffit, 1993) hay liên quan đến sự biến đổi gen ( Arte, 1996; Lyngstadaas, 1996; Peter và

Trang 19

Đặc biệt nguyên nhân do tiếp xúc với hóa chất gây đột biến gien được chú ý nhiều sau khi một nghiên cứu tại Italy năm 2004 cho thấy ở vùng Seveso nơi xảy ra tai nạn dioxin từ một nhà máy hóa chất có tới 12,5% trường hợp thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh so với tỉ lệ vùng ko bị nhiễm dioxin gần đó chỉ là 4,3% [41]

Cùng với sự tiến bộ của công nghệ sinh học phân tử và đặc biệt là các kiến thức mới về bộ gen người đã chỉ ra được một số gen liên quan đến sự phát triển bộ răng như MSX1, PAX9 [32], [38], [45]

Đồng thời qua nghiên cứu cây phả hệ cũng xác định được các gen gây thiếu răng này có tính di truyền lặn [32], [42],

Hình 1.5 : ví dụ về sơ đồ phả hệ ở 1 gia đình TRVVBS [42]

1.5.3 Phân loại và lâm sàng

Theo phân loại mã bệnh của tổ chức Y tế thế giới WHO, thiếu răng bẩm sinh có mã ICD-10 K00.0 (WHO 2007) và được chia thành 3 loại:

Hypodontia: thiếu 1 hoặc vài răng nhưng tối đa không đến 6 răng

Đây là loại thường gặp nhất và ít liên quan đến các hội chứng

Oligodontia: Thiếu từ 6 trở lên Ít gặp hơn và thường liên quan đến

các hội chứng như loạn sản ngoại bì, Down

Anodontia: Thiều hầu hết toàn bộ các răng Loại này hiếm gặp nhất

Trang 20

A : Hypodontia ( thiếu 2 răng )

B : Oligodontia (thiếu >6 răng)

C : Anodontia (thiếu toàn bộ răng) Hình 1.6 Minh họa về thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh

Trang 21

A: Hypodontia (R35, 45, 18) C: Anodontia ( nhiều răng ) B: Hypodontia (R41) D: Hypodontia ( răng cửa trên ) Hình 1.7 : Xquang minh họa thiếu răng bẩm sinh

Biểu hiện lâm sàng của TRVVBS tùy theo mức độ, đối với oligodontia

và anodontia điển hình nhất là răng thưa, kèm theo kém phát triển cả 2 hàm

Đối với các trường hợp thiếu răng đơn lẻ, tùy theo vị trí thiếu răng dẫn tới các lệch lạc khớp cắn khác nhau: [24], [26], [29], [33]

Nếu thiếu răng hàm dưới vùng cửa thường dẫn đến khớp cắn sâu

Thiếu răng hàm trên vùng cửa thường có khớp cắn đối đầu và khe thưa hàm trên

Thiếu răng hàm nhỏ tùy theo răng sữa có mất hay tồn tại trên cung hàm

mà ảnh hưởng đến khớp cắn vùng răng hàm lớn, có thể loại 1, loại 2 hoặc loại

3

1.1.2 Dịch tễ học

Qua một số nghiên cứu đã được thực hiện trên thế giới có thể thấy tỉ lệ TRVVBS phân bố tương đối đa dạng giữa các vùng địa lí

Trang 22

Tác giả Năm Địa điểm/

(Thành phố

Cỡ mẫu

Đối tượng (tuổi)

Trang 23

Edward F Harris và Larkin L Clark: giữa người Mỹ da trắng (0,64%) và người Mỹ da đen (6%) chênh lệch gần 9 lần [21] Người Nhật Bản trung bình từ 8-10% (bảng 1.4) Các nước châu Âu 5-8% [36], [55]

1.2.3 Một số nghiên cứu liên quan khác :

Các nghiên cứu về thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh chủ yếu là tìm ra tỉ lệ

và phân bố các răng thiếu cũng như xác định hình thái khớp cắn trên các bệnh nhân này để tìm ra hướng điều trị thích hợp nhất

Ngày nay một xu hướng mới trong nghiên cứu về thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh là nghiên cứu sự liên quan giữa TRVVBS với các bệnh khác trong

cơ thể Theo một số tác giả, các gen giữ vai trò điểu khiển sự phát triển răng

có thể cũng có vai trò điểu khiển sự phát triển các bộ phận khác trong cơ thể, khi các gen này bị ảnh hưởng gây thiếu răng có thể kéo theo sự khiếm khuyết một số loại tế bào hay bộ phận khác trong cơ thể Điều này dẫn đến một số bệnh mà có thể ít biểu hiện ra ngoài hay khó chẩn đoán, khi đó ta có thể dùng TRVVBS như một dấu hiệu gợi ý Theo hướng này đã có một số nghiên cứu được thực hiện như :

- Nghiên cứu của Leigh Chalothorn và cộng sự năm 2008 tại Mỹ cho thấy phụ nữ bị ung thư biểu mô tử cung có tỉ lệ TRVVBS cao gấp 8,1 lần so với phụ nữ không bị ung thư biểu mô tử cung Các tác giả này đề xuất TRVVBS là một dấu hiệu gợi ý cho chẩn đoán ung thư biểu mô tử cung [27]

- Nghiên cứu của Yamaguchi và cộng sự năm 2008 tại Nhật Bản cho thấy có sự liên qua mật thiết giữa thiếu răng bẩm sinh và các chứng dị ứng [48]

Trang 24

Chương II

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu :

Nghiên cứu được thực hiện trên các học sinh trường trung học phổ thông Đoàn Kết - Hai Bà Trưng , quận Hai Bà Trưng , tp Hà Nội

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

• Học sinh là người Việt Nam, có cha mẹ là người Việt Nam

• Tình trạng sức khỏe bình thường

• Độ tuổi từ 15-17 tuổi

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

• Học sinh không đủ các tiêu chuẩn trên

• Học sinh không hợp tác

• Học sinh mất răng do các nguyên nhân khác như nhổ nhầm răng, tai nạn mất răng, mất răng do sâu

• Có các bệnh lý vùng hàm mặt

• Răng số 8 không được tính đến trong nghiên cứu này

2.1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu:

• Địa điểm : Viện Đào Tạo Răng Hàm Mặt - ĐH Y Hà Nội và

trường THPT Đoàn Kết - Hai Bà Trưng , TP Hà Nội

• Thời gian: Từ tháng 1 năm 2010 đến tháng 11 năm 2010

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

¾ Tiến hành theo phương pháp mô tả cắt ngang

Trang 25

Tính theo công thức tính cỡ mẫu cho việc ước tính tỷ lệ phần trăm (%)

p

p Z

p

p p Z

n 2( 1 2) 2 2( 1 2) ( 1 2 )

) (

) 1 (

¾ p : tỉ lệ thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh trong cộng đồng

Chọn p= 0,05 (ước tính theo nghiên cứu của một số tác giả châu Á) [19, 23,43]

Dự kiến mỗi ngày khám 6 lớp, mỗi lớp khoảng 50 học sinh Như vậy mỗi ngày khám được khoảng 300 học sinh Khám trong khoảng

3-4 ngày

Trang 26

• Nhân lực : khoảng 4 người Gồm 2 người khám và 2 trợ thủ

• Chuẩn bị dụng cụ:

Gương Thám châm

Cồn 70%

Găng tay, khẩu trang

Bước 1 : Tiến hành khám sàng lọc ngẫu nhiên khoảng 900 học sinh

các khối 10, 11, 12 Chọn ra các học sinh có các dấu hiệu của thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh Cụ thể là các dấu hiệu sau :

• Thiếu bất kể răng nào từ răng số 1 đến răng số 7 trên cả 4 cung hàm ( tổng số 28 chiếc )

• Còn răng sữa chưa thay

Bước 2: Xác định xem răng thiếu đó là có thuộc các đối tương loại trừ hay không dựa vào :

¾ Khai thác bệnh sử : hỏi học sinh có biết răng đó có bị mất do một số nguyên nhân sau :

- Có nhổ răng để chỉnh nha ?

- Có nhổ răng do điều trị nội nha thất bại ?

- Có bị gãy hoặc rơi mất do tai nạn ?

- Các nguyên nhân khác ?

Trang 27

vấn và hẹn chụp phim Xquang panorama để xác định chính xác học sinh đó bị thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh hay không

¾ Tư vấn, giải thích cho bệnh nhân

¾ Ghi giấy hẹn chụp phim : ( mẫu giấy hẹn ở phụ lục ) Trên phim Panorama xem tổng thể toàn bộ cấu trúc xương hàm trên và xương hàm dưới xem :

¾ Có mầm răng hoặc răng lạc chỗ không.?

¾ Có các dấu hiệu chân răng xót lại không ?

¾ Có nang hoặc dấu hiệu bất thường không ? Các bệnh nhân sau khi đã được chẩn đoán xác định là thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh sẽ được lấy mẫu nghiên cứu và khám chi tiết

2.2.3.3 Khám chi tiết

Khám ngoài mặt

• Nhìn thẳng : Có cân đối không giữa 2 bên không ?

Có cân đối giữa 3 tầng mặt hay không ?

• Nhìn nghiêng:

Loại mặt thẳng Loại mặt lồi Loại mặt lõm

• Các cơ

Khám chức năng : khớp TDH có đau không ? có tiếng kêu không ?

Trang 28

Há ngậm miệng: bình thường hay không

- Đường cong Spee

2.2.3.4 Lấy dấu Alginate

Lấy Alginate và sáp cắn khớp ở tư thế tương quan trung tâm

Đổ mẫu thạch cao 2 hàm ( 1 hàm trên và 1 hàm dưới ) Lấy dấu khớp cắn 2 hàm bắng lá sáp mỏng

Trang 29

+ Hình thể nguyên vẹn , không vỡ + Mẫu không bị bọt

+ Sắp cắn ghi được chính xác vị trí tương quan của 2 hàm + Ghi tên , tuổi, lớp, mã số

Số lượng 1 mẫu hàm trên và 1 mẫu hàm dưới

2.2.3.4 Phân tích mẫu thạch cao

Trên mẫu thạch cao xác định các thông số sau :

- Khớp cắn vùng răng hàm

- Độ cắn chìa

- Độ cắn phủ

- Đường cong Spee

- Mức độ thưa hay chen chúc của các răng

2.2.4 Xử lý số liệu

• Các số liệu thu thập được dựa trên các phiếu khám lâm sàng kết

hợp phân tích mẫu thạch cao

• Số liệu được nhập vào máy tính, xử lý bằng phần mềm SPSS

Trang 30

• Dùng phương pháp thống kê y học để phân tích số liệu Kiểm định các đại lượng bằng χ2 test, Fisher Extact test

2.2.5 Sai số và các biện pháp khống chế

• Chúng tôi chọn lựa những đối tượng đạt tiêu chuẩn Thống nhất cách

thức thu thập thông tin

• Kết hợp số liệu khám lâm sàng với phân tích mẫu thạch cao để tăng độ chính xác đồng thời so sánh ngẫu nhiên với kết quả đo của một bác sĩ

chỉnh nha có kinh nghiệm

2.3 Khía cạnh đạo đức của đề tài

• Tuân thủ các nguyên tắc vệ sinh, vô trùng khi khám

• Đối tượng nghiên cứu là học sinh dưới 18 tuổi nên cần có sự đồng ý của cha mẹ

• Đối tượng nghiên cứu không phải nộp bất cứ chi phí nào cho nghiên cứu

• Các thông tin được thu thập của bệnh nhân được giữ bí mật tuyệt đối

và chỉ dùng với mục đích nghiên cứu

• Đối tượng nghiên cứu sẽ được tư vấn về các vấn đề liên quan

• Đề tài này được thực hiện nhằm bổ sung những dữ liệu về người Việt Nam qua đó góp phần nâng cao kết quả điều trị đối với bệnh nhân

Trang 31

3.1 Đặc điểm về tuổi và giới của đối tượng nghiên cứu

Tổng số 887 học sinh thuộc đối tượng nghiên cứu khám sơ bộ có:

452 học sinh nam - chiếm 51%

Độ tuổi trung bình là 15,9±0,7 tuổi

Thấp nhất là 15 tuổi và cao nhất là 17 tuổi

Biểu đồ 3.1 Tỉ lệ học sinh theo giới

Trang 32

3.2 Các tỉ lệ về thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh

452 (100%)

Nữ

39

(8,97%)

396 (91,03%)

435 (100%)

0,0002

(5,96%)

834 (94,04%)

887 (100%)

Ngày đăng: 03/02/2015, 11:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 : Giai đoạn nụ - Nhận xét  đặc  điểm hình thái khớp cắn  trên học sinh  thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh lứa tuổi 15-17 tại trường THPT Đoàn Kết - Hai Bà Trưng Hà Nội
Hình 1.1 Giai đoạn nụ (Trang 3)
Hình 1.2 : Giai đoạn chỏm - Nhận xét  đặc  điểm hình thái khớp cắn  trên học sinh  thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh lứa tuổi 15-17 tại trường THPT Đoàn Kết - Hai Bà Trưng Hà Nội
Hình 1.2 Giai đoạn chỏm (Trang 4)
Hình 1.3 : Giai đoạn hình chuông - Nhận xét  đặc  điểm hình thái khớp cắn  trên học sinh  thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh lứa tuổi 15-17 tại trường THPT Đoàn Kết - Hai Bà Trưng Hà Nội
Hình 1.3 Giai đoạn hình chuông (Trang 5)
Hình 1.4  : Phân loại khớp cắn theo Angle - Nhận xét  đặc  điểm hình thái khớp cắn  trên học sinh  thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh lứa tuổi 15-17 tại trường THPT Đoàn Kết - Hai Bà Trưng Hà Nội
Hình 1.4 : Phân loại khớp cắn theo Angle (Trang 18)
Hình 1.5 : ví dụ về sơ đồ phả hệ ở 1 gia đình TRVVBS [42] - Nhận xét  đặc  điểm hình thái khớp cắn  trên học sinh  thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh lứa tuổi 15-17 tại trường THPT Đoàn Kết - Hai Bà Trưng Hà Nội
Hình 1.5 ví dụ về sơ đồ phả hệ ở 1 gia đình TRVVBS [42] (Trang 19)
Bảng 1.4 : Tổng hợp tỉ lệ thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh ở một số nước - Nhận xét  đặc  điểm hình thái khớp cắn  trên học sinh  thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh lứa tuổi 15-17 tại trường THPT Đoàn Kết - Hai Bà Trưng Hà Nội
Bảng 1.4 Tổng hợp tỉ lệ thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh ở một số nước (Trang 22)
Bảng 3.1 : Phân bố thiếu răng ở nam và n ữ - Nhận xét  đặc  điểm hình thái khớp cắn  trên học sinh  thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh lứa tuổi 15-17 tại trường THPT Đoàn Kết - Hai Bà Trưng Hà Nội
Bảng 3.1 Phân bố thiếu răng ở nam và n ữ (Trang 32)
Bảng 3.2 :  Số răng thiếu trung bình theo giớ i - Nhận xét  đặc  điểm hình thái khớp cắn  trên học sinh  thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh lứa tuổi 15-17 tại trường THPT Đoàn Kết - Hai Bà Trưng Hà Nội
Bảng 3.2 Số răng thiếu trung bình theo giớ i (Trang 35)
Bảng 3.3  Số lượng răng thiếu theo từng nhóm răng thiếu - Nhận xét  đặc  điểm hình thái khớp cắn  trên học sinh  thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh lứa tuổi 15-17 tại trường THPT Đoàn Kết - Hai Bà Trưng Hà Nội
Bảng 3.3 Số lượng răng thiếu theo từng nhóm răng thiếu (Trang 36)
Bảng 3.6  Nhận thức về TRVVBS ở 2 giới - Nhận xét  đặc  điểm hình thái khớp cắn  trên học sinh  thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh lứa tuổi 15-17 tại trường THPT Đoàn Kết - Hai Bà Trưng Hà Nội
Bảng 3.6 Nhận thức về TRVVBS ở 2 giới (Trang 39)
Bảng 3.13  Phân bố đường cong Spee theo nhóm răng thiếu - Nhận xét  đặc  điểm hình thái khớp cắn  trên học sinh  thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh lứa tuổi 15-17 tại trường THPT Đoàn Kết - Hai Bà Trưng Hà Nội
Bảng 3.13 Phân bố đường cong Spee theo nhóm răng thiếu (Trang 48)
Bảng 4.1 So sánh tỉ lệ TRVVBS với các tác giả khác - Nhận xét  đặc  điểm hình thái khớp cắn  trên học sinh  thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh lứa tuổi 15-17 tại trường THPT Đoàn Kết - Hai Bà Trưng Hà Nội
Bảng 4.1 So sánh tỉ lệ TRVVBS với các tác giả khác (Trang 51)
Bảng 4.2  So sánh mức chênh lệch tỉ lệ TRVVBS nam và nữ với các nghiên  cứu khác - Nhận xét  đặc  điểm hình thái khớp cắn  trên học sinh  thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh lứa tuổi 15-17 tại trường THPT Đoàn Kết - Hai Bà Trưng Hà Nội
Bảng 4.2 So sánh mức chênh lệch tỉ lệ TRVVBS nam và nữ với các nghiên cứu khác (Trang 52)
Bảng 4.4 So sánh chỉ số thiếu răng trung bình ở một số nghiên cứu - Nhận xét  đặc  điểm hình thái khớp cắn  trên học sinh  thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh lứa tuổi 15-17 tại trường THPT Đoàn Kết - Hai Bà Trưng Hà Nội
Bảng 4.4 So sánh chỉ số thiếu răng trung bình ở một số nghiên cứu (Trang 55)
Bảng 4.6.  So sánh độ cắn chìa và độ cắn phủ với N/c của Đống Khắc Thẩm - Nhận xét  đặc  điểm hình thái khớp cắn  trên học sinh  thiếu răng vĩnh viễn bẩm sinh lứa tuổi 15-17 tại trường THPT Đoàn Kết - Hai Bà Trưng Hà Nội
Bảng 4.6. So sánh độ cắn chìa và độ cắn phủ với N/c của Đống Khắc Thẩm (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w