Tương lai của đồng tiền chung châu Âu trong bối cảnh khủng hoảng nợ công khu vực 1427 nước thuộc Liên minh châu Âu (có cả Anh và Pháp) có tỷ lệ nợ tương đương hơn 60% GDP, mức giới hạn an toàn mà Liên minh châu Âu đưa ra. Vấn đề nợ không chỉ của riêng Hy Lạp. 1427 nước thuộc Liên minh châu Âu có tỷ lệ nợ tương đương hơn 60% GDP, mức giới hạn mà Liên minh châu Âu đưa ra. Trong nhóm này có cả một số nền kinh tế lớn của khu vực như Anh hay Pháp.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Đề tài : Tương lai của đồng tiền chung châu Âu trong bối cảnh khủng hoảng nợ công khu vực
LỚP : CH21H Nhóm 2 : NGUYỄN QUỐC DŨNG
PHÙNG HỮU HẢI ĐẶNG THU HẰNG
VŨ THỊ BÍCH HẠNH TRẦN THỊ HỒNG HẠNH PHAN HẢI HIỆP
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
PHẦN I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TIỀN TỆ VÀ ĐỒNG TIỀN CHUNG CHÂU ÂU 3 1 Khái niệm tiền tệ: 3
2 Khái quát về đồng tiền chung Châu Âu (EUR) và các giai đoạn phát triển 5
PHẦN II: CUỘC KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG VÀ ẢNH HƯỞNG TỚI ĐỒNG EUR 11
1 Cuộc khủng hoảng nợ công ở Châu Âu 12
1.1 Các tiêu chí đánh giá nợ công 12
1.2 Tình hình nợ công của các nước ở Châu Âu 13
1.3 Nguyên nhân của khủng hoảng nợ công ở Châu Âu 13
1.4 Hy Lạp, nền kinh tế trên bờ vực phá sản của Châu Âu 15
2 Những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng nợ công đến vị thể của đồng Euro? 16
2.1 Sự suy yếu của các nền kinh tế Châu Âu 16
2.2 Sự suy yếu của đồng tiền EUR 21
PHẦN III: TƯƠNG LAI VÀ TRIỂN VỌNG CỦA ĐỒNG EUR 22
1 Dự báo tương lai của đồng EUR……… 23
2 Các giải pháp tăng cường vị thế EUR 25
PHẦN 5: BÀI HỌC RÚT RA TỪ KHU VỰC ĐỒNG TIỀN CHUNG CHÂU ÂU CHO KHU VỰC CHÂU Á 25
KẾT LUẬN 29
Trang 3MỞ ĐẦU Thực trạng nợ công châu Âu qua những con số
14/27 nước thuộc Liên minh châu Âu (có cả Anh và Pháp) có tỷ lệ nợ tương đương hơn 60% GDP, mức giới hạn an toàn mà Liên minh châu Âu đưa ra.
Hy Lạp không phải nước duy nhất đương đầu với khủng hoảng tín dụng và nợ
Vấn đề nợ không chỉ của riêng Hy Lạp 14/27 nước thuộc Liên minh châu Âu có tỷ lệ nợ tương đương hơn 60% GDP, mức giới hạn mà Liên minh châu Âu đưa ra Trong nhóm này có
cả một số nền kinh tế lớn của khu vực như Anh hay Pháp
Chi tiêu vào phúc lợi xã hội và một số chương trình khác của chính phủ đã tăng nhanh trong thập kỷ qua, đẩy tỷ lệ nợ công của khắp các nước trong khu vực lên cao
Tình hình nợ công đã thực sự trở nên nghiêm trọng và đe dọa trực tiếp đến đồng tiền EUR và các nền kinh tế Châu Âu
Trang 4PHẦN I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TIỀN TỆ VÀ ĐỒNG TIỀN CHUNG CHÂU ÂU
1 Khái niệm tiền tệ:
Tiền tệ là một phạm trù kinh tế nhưng cũng lại là một phạm trù lịch sử Sự xuất hiện của tiền
tệ là một phát minh vĩ đại của loại người trong lĩnh vực kinh tế, nó có tác dụng thúc đẩy nhanh chóng các hoạt động giao lưu kinh tế, làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội
Một truờng phái cho rằng tiền tệ ra đời là kết quả tất yếu khách quan của quá trình trao đổi hang hóa (Trường phái kinh tế chính trị học cổ điển như: Adam Smith, David Ricardo…)
Theo Mác, tiền tệ là một thứ hàng hoá đặc biệt, được tách ra khỏi thế giới hàng hoá, dùng để
đo lường và biểu hiện giá trị của tất cả các loại hàng hoá khác Nó trực tiếp thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hóa
Giá trị và giá cả của tiền tệ
• Tiền tệ có giá trị không phải vì nó có giá trị tự thân mà vì những gì tiền tệ có thể trao đổiđược Giá trị của tiền tệ là số lượnghàng hóa và dịch vụ mua được bằng một đơn vị của tiền tệ, ví
dụ số lượng hàng hóa và dịch vụ mua được bằng một Dollar Nói cách khác giá trị của tiền tệ lànghịch đảo của giá cả hàng hóa
• Giá cả của tiền tệ chính là lãi suất, nói một cách khác, giá cả của tiền tệ là số tiền màngười ta phải trả cho cơ hội được vay nó trong một khoảng thời gian xác định
• Giá trị của tiền tệ là 1 lượng vàng nguyên chất nhất định làm đơn vị tiền tệ
tờ giấy bạc do ngân hàng trung ương phát hành cũng sẽ mất đi bản chất của nó khi mà trong thời
kỳ siêu lạm phát, người ta không chấp nhận nó như là một phương tiện trao đổi
• Tính dễ nhận biết: Muốn dễ được chấp nhận thì tiền tệ phải dễ nhận biết, người ta có thểnhận ra nó trong lưu thông một cách dễ dàng Chính vì thế những tờ giấy bạc do ngân hàng trungương phát hành được in ấn trông không giống bất cứ một tờ giấy chất lượng cao nào khác
• Tính có thể chia nhỏ được: tiền tệ phải có các loại mênh giá khác nhau sao cho người bánđược nhận đúng số tiền bán hàng còn người mua khi thanh toán bằng một loại tiền có mệnh giá
Trang 5lớn thì phải được nhận tiền trả lại Tính chất này giúp cho tiền tệ khắc phục được sự bất tiện củaphương thức hàng đổi hàng: nếu một người mang một con bò đi đổi gạo thì anh ta phải nhận về
số gạo nhiều hơn mức anh ta cần trong khi lại không có được những thứ khác cũng cần thiếtkhông kém
• Tính lâu bền: tiền tệ phải lâu bền thì mới thực hiện được chức năng cất trữ giá trị cũngnhư mới có ích trong trao đổi Một vật mau hỏng không thể dùng để làm tiền, chính vì vậy những
tờ giấy bạc được in trên chất liệu có chất lượng cao còn tiền xu thì được làm bằng kim loại bềnchắc
• Tính dễ vận chuyển: để thuận tiện cho con người trong việc cất trữ, mang theo, tiền tệphải dễ vận chuyển Đó là lý do vì sao những tờ giấy bạc và những đồng xu có kích thước, trọnglượng rất vừa phải chứ tiền giấy không được in khổ rộng ví dụ như khổ A4
• Tính khan hiếm: Để dễ được chấp nhận, tiền tệ phải có tính chất khan hiếm vì nếu có thểkiếm được nó một cách dễ dàng thì nó sẽ không còn ý nghĩa trong việc cất trữ giá trị và khôngđược chấp nhận trong lưu thông nữa Vì thế trong lịch sử những kim loại hiếm như vàng, bạcđược dùng làm tiền tệ và ngày nay ngân hàng trung ương chỉ phát hành một lượng giới hạn tiềngiấy và tiền xu
• Tính đồng nhất: tiền tệ phải có giá trị như nhau nếu chúng giống hệt nhau không phânbiệt người ta tạo ra nó lúc nào, một đồng xu 5.000 VND được làm ra cách đây 2 năm cũng có giátrị như một đồng xu như thế vừa mới được đưa vào lưu thông Có như vậy tiền tệ mới thực hiệnchức năng là đơn vị tính toán một cách dễ dàng và thuận tiện trong trao đổi
Làm thế nào để đồng tiền của một quốc gia nào trở thành một ngoại tệ mạnh
• - Đảm báo cho đồng tiền thực hiện đúng chức năng của nó: là phương tiện trao đổi hànghóa, dịch vụ
• - Tiền phát hành ra chỉ nên được đưa vào lưu thông thông qua kênh cho các doanh nghiệpthương mại vay- để tiền thực hiện chức năng trao đổi hàng hoá, giúp cho sự mua bán, trao đổihàng hoá của mọi người trong xã hội
• Không được lợi dụng dùng trực tiếp nguồn tiền phát hành để phát triển sản xuất, đầu tưxây dựng hạ tầng kỹ thuật, các công trình công cộng, tạo sức ép lên lạm phát và làm mất giáđồng tiền
Khủng hoảng tiền tệ
Trang 6• Hiện chưa có một định nghĩa được chấp nhận rộng rãi nhưng nhìn chung khủng hoảngtiền tệ được dùng để chỉ hiện tượng giá trị đối ngoại của đơn vị tiền tệ quốc gia bị suy giảm (nóicách khác là mất giá so với ngoại tệ) một cách nghiệm trọng và nhanh chóng Chính phủ trở nên
vô cùng khó khăn khi kiểm soát tỷ giá hối đoái và khi ngân hàng trung ương cố gắng can thiệp tỷgiá để bảo vệ giá trị của tiền tệ thì dự trữ ngoại hốicủa quốc gia bị mất đi ở quy mô lớn Đã cómột số mô hình khủng hoảng tiền tệ được nghiên cứu, một trong số đó là những nhà đầu cơ tấncông vào tiền tệ của một quốc gia và khi họ có nhiều tiền hơn ngân hàng trung ương của quốcgia đó thì khủng hoảng tiền tệ sẽ xảy ra
2 Khái quát về đồng tiền chung Châu Âu (EUR) và các giai đoạn phát triển
Euro (€; mã ISO: EUR), đơn vị tiền tệ chính thức của Liên minh Tiền tệ châu Âu, là tiền tệchính thức trong 17 quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu (Áo, Bỉ, Bồ Đào Nha, Đức, HàLan, Hy Lạp, Ireland,Luxembourg, Pháp, Phần Lan, Tây Ban Nha, Ý, Slovenia, Malta, Cyprus,Slovenia, Estonia) với dân số hơn 330 triệu người (bên cạnh đó, còn có hơn 175 triệu dân trênthế giới sử dụng các đồng tiền được neo giá với đồng Euro)
Việc phát hành đồng Euro rộng rãi đến người tiêu dùng bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 năm 2002.Tiền giấy Euro giống nhau hoàn toàn trong tất cả các quốc gia Tiền giấy Euro có mệnh giá 5Euro, 10 Euro, 50 Euro, 100 Euro, 200 Euro và 500 Euro Mặt trước có hình của một cửa sổ hayphần trước của một cánh cửa, mặt sau là một chiếc cầu Các đồng tiền kim loại euro cùng mộtmệnh giá giống nhau ở mặt trước, nhưng có trang trí khác nhau ở mặt sau, đặc trưng cho từngquốc gia phát hành
Ra đời từ năm 1999, đồng Euro hiện là đồng tiền chung của 17 nước châu Âu, và được hơn
330 triệu người (tháng 3/2012) trên thế giới sử dụng Là đồng tiền chung của một khu vực cóquy mô kinh tế lớn (với mức đóng góp trên 15% GDP toàn cầu, 2011), đồng Euro đã trở thànhmột trong những đồng tiền chủ chốt với vai trò và vị thế không ngừng được nâng cao trên các thịtrường tài chính quốc tế
Kể từ khi ra đời, giá trị của đồng EUR so với các đồng tiền chủ chốt (USD, GBP, JPY) đãkhông ngừng tăng lên Tính toán theo số liệu của Reuters cho thấy, đồng EUR đã tăng 13,6% sovới đồng USD trong giai đoạn 13 năm kể từ khi ra đời (tính đến ngày 25/6/2012) Tuy nhiên,trong giai đoạn 1999-2012, có thể nhận thấy rõ 3 giai đoạn biến động của đồng EUR: (i) Giaiđoạn 1999-2001 (giá trị đồng Euro giảm liên tục); (ii) Giai đoạn 2002-2008 (giá trị đồng Euro
Trang 7tăng mạnh); và (iii) Giai đoạn 2008-2012 (đồng Euro biến động mạnh sau khủng hoảng tài chính
EUR/JPY, 1999-2012
(Nguồn: Reuters)
Trang 8(i) Giai đoạn 1999-2001 (đồng Euro giảm giá, nhưng vai trò quốc tế cũng từng bước được định hình):
Trong giai đoạn này, đồng Euro được sử dụng như là một đơn vị hạch toán trên các thịtrường tài chính, thay thế cho Đơn vị tiền tệ châu Âu cũ (ECU) theo tỷ lệ trao đổi là 1:1 Kể từ1/1/1999, trái phiếu nhà nước được phát hành bằng đồng Euro và việc chuyển khoản giữa cácngân hàng được thực hiện bằng đồng tiền quốc gia hoặc bằng đồng Euro
Mặc dù vậy, việc tiếp nhận đồng Euro trong thanh toán thương mại quốc tế ở giai đoạn đầukhi đồng tiền này mới ra đời còn rất khó khăn do đồng Euro không tồn tại trên thực tế dưới dạngtiền mặt Bên cạnh đó, tình hình kinh tế - xã hội của châu Âu trong giai đoạn 1999-2001 vẫn cònnhiều khó khăn và khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài còn thấp Các yếu tố trên khiến đồngEuro giảm giá mạnh so với hầu hết các đồng tiền chủ chốt (USD, GBP, JPY, CHF, CAD) trong 3năm đầu khi mới ra đời Trong giai đoạn 1999-2001, đồng Euro giảm giá 26,5% so với Đôla Mỹ,giảm 12% so với Bảng Anh, giảm 8,5% so với Yên Nhật, giảm 8,4% so với Franc Thụy Sỹ, vàgiảm 22% so với Đôla Canada
Tuy vậy, vai trò dự trữ quốc tế của đồng Euro cũng đã bước đầu được định hình Đồng Euro
là đồng tiền chiếm tỷ trọng lớn thứ hai (sau USD) trong cơ cấu dự trữ ngoại hối toàn cầu Tỷtrọng đồng Euro trong tổng dự trữ ngoại hối của toàn cầu được nâng từ mức 17,9% (năm 1999)lên mức 19,2% vào cuối năm 2001, mặc dù con số này còn khá khiêm tốn
(ii) Giai đoạn 2002-2008 (đồng Euro tăng giá; vai trò và vị thế được nâng lên):
Kể từ khi được lưu hành chính thức tại châu Âu dưới hình thức tiền giấy và đồng xu tại 12quốc gia (năm 2002), đồng Euro đã không ngừng tăng giá so với các đồng tiền mạnh khác, đồngthời, vai trò và vị thế của đồng tiền này cũng từng bước được củng cố và nâng lên Tính chungtrong giai đoạn 2002-2008, đồng Euro đã tăng giá 48,5% so với Đôla Mỹ, tăng 46,4% so vớiBảng Anh, tăng 12,7% so với Yên Nhật và tăng 21,8% so với Đôla Canada
Cùng với việc tăng giá trên thị trường tiền tệ, vai trò và vị thế quốc tế của đồng tiền chungchâu Âu cũng tăng lên Các giao dịch sử dụng đồng Euro đã tăng mạnh trong giai đoạn này,khiến các ngân hàng trung ương chuyển sang xu hướng tích trữ nhiều hơn các tài sản được địnhgiá bằng đồng Euro trong dự trữ ngoại hối của mình Đồng Euro được sử dụng nhiều nhất ở cácnước châu Âu, sau đó đến khu vực Bắc Mỹ Tỷ trọng của đồng Euro trong dự trữ ngoại hối toàncầu đã tăng từ mức 19,2% (2001) lên 23,8% (2002), 26,4% (2008) và thậm chí lên 27,7% vào
Trang 9cuối năm 2009 – tỷ trọng cao nhất của đồng tiền này trong dự trữ ngoại hối toàn cầu kể từ khi rađời
Giá trị của các chứng khoán nợ được định danh bằng EUR cũng tăng đáng kể, từ khi đồngtiền này ra đời Tỷ trọng của EUR trên thị trường chứng khoán quốc tế cũng tăng từ mức 20%năm 1999) lên hơn 30% vào năm 2009, cao hơn mức 10% của Yên Nhật
(iii) Giai đoạn 2008-2012 (đồng Euro biến động mạnh; vai trò và vị thế suy giảm):
Kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, tỷ giá đồng Euro biến động mạnh hơn vànhìn chung theo xu thế đi xuống Vai trò và vị thế của đồng tiền chung này cũng suy giảm theo,đặc biệt trong bối cảnh cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu có nguy cơ biến thành cuộc khủnghoảng xã hội và thể chế, khiến khu vực đồng Euro phải đối mặt với nguy cơ tan rã Điều nàykhiến khả năng tồn tại của đồng Euro cũng được đặt nghi vấn
Trước đây, với những tiêu chí chặt chẽ để được tham gia khu vực đồng tiền chung Châu Âu(như thâm hụt ngân sách quốc gia dưới 3% GDP, nợ công dưới 60% GDP, minh bạch về ngânsách ), đồng Euro đã tạo sự tin cậy khá cao trong giới tài chính quốc tế kể từ khi ra đời vàongày 1/1/1999 Tuy nhiên, kể từ khi Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha rơi vào cuộc khủnghoảng nợ công, cùng với tình trạng nợ công ngày càng xấu đi ở các nước thành viên khác, thì giátrị và sức mạnh của đồng Euro đã bị suy giảm
Hình 4 Chỉ số giá EUR giai đoạn 2009-2012
Trang 10(Ghi chú: Chỉ số giá EUR đo lường sự biến động của đồng EUR so với một rổ tiền tệ gồm
6 loại: USD, JPY, GBP, CAD, CHF, SEK.)
Tính chung trong vòng hơn 3 năm sau khủng hoảng tài chính toàn cầu (từ đầu năm 2009 đến
25/6/2012), chỉ số giá EUR đã giảm 16,1% (Hình 4) Đồng Euro giảm giá 8,6% so với Đôla Mỹ,
giảm 15,8% so với Bảng Anh, giảm 20,5% so với Yên Nhật, giảm 19,7% so với Franc Thụy Sỹ
và giảm 24,5% so với Đôla Canada trong giai đoạn 2009-2012 Đặc biệt, chỉ trong vòng 1 nămtrở lại đây (6/2011-6/2012), chỉ số giá đồng Euro giảm 9,8%, trong đó, đồng Euro giảm 12,3%
so với Đôla Mỹ, giảm 10% so với Bảng Anh, giảm 13,7% so với Yên Nhật (Tính toán từ số liệu
của Reuters đến ngày 25/6/2012).
Cùng với sự suy giảm về giá trị, vai trò và vị thế quốc tế của đồng Euro cũng chịu tác độngtiêu cực Bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động hơn kể từ sau khủng hoảng tài chính toàncầu cũng như cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu lan rộng khiến các nước có xu hướng đa dạnghóa dự trữ ngoại hối nhằm giảm bớt rủi ro Điều này khiến tỷ trọng dự trữ bằng đồng Euro giảm
từ mức 27,7% (năm 2009) xuống mức 25% vào cuối năm 2011, mặc dù vẫn là đồng tiền dự trữquốc tế lớn thứ hai trên thế giới, sau Đôla Mỹ Trong khi đó, cơ cấu dự trữ của các đồng tiềnkhác tăng từ mức 2% (năm 2007) lên 3,9% vào cuối năm 2011 trong bối cảnh các nước tìm kiếm
việc đa dạng hóa rủi ro sau khủng hoảng (Bảng 1)
Bảng 1 Cơ cấu dự trữ ngoại hối toàn cầu theo loại tiền
9
200 5
200 6
200 7
20 08
20 09
20 10
20 11 Tổng dự trữ ngoại hối
chính thức (nghìn tỷ USD) 1,8 4,3 5,3 6,7
7, 3
8, 2
9, 3
10 ,2
Dự trữ thống kê được và
có phân loại tỷ trọng tiền tệ
4, 2
4, 6
5, 2
5, 6
64,1
62,0
61,8
62,1
26,4
27,7
26,0
25,0
Trang 11Yên Nhật (%) 6,4 3,6 3,1 2,9
3,1
2,9
3,7
3,7
4,0
4,2
3,9
3,9
2,3
3,2
4,6
5,3
(Nguồn: IMF Statistics Department COFER Database, updated 30 March 2012)
Quan ngại về khả năng đồng Euro sụp đổ đã lên đến đỉnh điểm trên thị trường tài chính quốc
tế khi các nhà đầu tư từ chối mua một số loại trái phiếu Chính phủ châu Âu Bên cạnh đó, lãi suấttrái phiếu chính phủ nhiều nước thuộc khu vực đồng Euro đã tăng lên mức cao kỷ lục trongnhững tháng cuối năm 2011 Lãi suất trái phiếu của Italy đã tăng lên mức 7,6-7,9%/năm để huyđộng hơn 7,5 tỷ USD trong khi lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm của Pháp đã tăng 0,5điểm phần trăm trong bối cảnh các khoản nợ của Pháp đã chạm ngưỡng 1.700 tỷ Euro, gấn mức1.900 tỷ Euro của Italia Lãi suất trái phiếu 10 năm của Đức cũng tăng 0,145 điểm phần trăm lên2,056%, lần đầu tiên tăng cao hơn chi phí vay của Mỹ kể từ tháng 10/2011, đe dọa nghiêm trọngđến sự ổn định của khu vực
Nhằm tăng cường củng cố và bảo vệ đồng Euro, tại Hội nghị Thượng đỉnh EU (kết thúcngày 9/12/2011), 26/27 thành viên EU (trừ Anh) đã đồng ý đưa ra một thỏa thuận mới về giámsát tài chính chặt chẽ hơn Theo đó, giới hạn thâm hụt cơ cấu sẽ ở mức 0,5% GDP của mỗi nướcthành viên, trong khi đó trần nợ công vẫn duy trì ở mức 3% GDP, kèm theo điều luật mới quyđịnh nếu nước nào vi phạm sẽ tự động bị trừng phạt nặng nề
Một giải pháp khác cũng được thông qua nhằm cứu nguy cho Khu vực đồng Euro đó làthành lập quỹ cứu trợ thường trực của khu vực có quy mô 500 tỷ EUR với tên gọi là Cơ chế Ổnđịnh châu Âu (ESM), dự kiến có hiệu lực vào tháng 7/2012 ESM sẽ được cấp một giấy phéphoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, giúp ESM có thể tiếp cận thanh khoản của Ngân hàngTrung ương châu Âu (ECB), nâng cao khả năng của cơ chế này đối phó với cuộc khủng hoảng
nợ của khu vực đồng Euro ESM cũng có khả năng trực tiếp tái cấp vốn cho các ngân hàng Mặc
dù vậy, để thỏa thuận này được ký kết vào năm tới với sự tham gia của 17 nước thành viên và 9nước còn lại sẽ không phải là vấn đề đơn giản, nếu không muốn nói là quá khó khăn Do đó,
Trang 12đồng Euro sẽ còn phải đối mặt với nguy cơ tan rã trong năm 2012 nếu cuộc khủng hoảng nợcông không được kiểm soát và các nước trong khu vực không ký kết được thỏa thuận chung
Kỳ vọng về đồng tiền chung Châu Âu
- Đối với khu vực đồng Euro (Eurozone), đồng tiền chung ra đời đã thúc đẩy sự phát triểnthương mại giữa các quốc gia thành viên, giúp tối đa hóa lợi ích trao đổi thương mại trong khuvực nhờ vào việc giảm thiểu biến động tỷ giá và hạn chế chi phí giao dịch liên quan đến chuyểnđổi các đồng tiền khác nhau Việc niêm yết một đồng tiền chung cũng giúp thị trường tài chínhhoạt động hiệu quả hơn, các chính phủ và doanh nghiệp cũng giảm được chi phí tiếp cận với cácnguồn vốn trên thị trường tài chính
- Giảm thiểu rủi ro về tỷ giá hối đoái
Với đồng tiền chung Châu Âu, người ta cũng tin rằng giá cả của sản phẩm và dịch vụ sẽkhông còn chênh lệch nhau nhiều nữa Điều này dẫn đến cạnh tranh mạnh hơn giữa các doanhnghiệp và vì thế sẽ làm giảm lạm phát và tăng sức mua của người tiêu thụ
PHẦN II: CUỘC KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG VÀ ẢNH HƯỞNG TỚI ĐỒNG EUR
1 Cuộc khủng hoảng nợ công ở Châu Âu
1.1 Các tiêu chí đánh giá nợ công
Theo WB (2002) thì nợ công là toàn bộ những khoản nợ của Chính phủ và những khoản nợđược Chính phủ bảo lãnh Với định nghĩa như thế này, nếu như hiểu nợ của Chính phủ bao gồm
nợ của Chính phủ Trung ương và nợ của chính quyền địa phương thì có thể thấy định nghĩa của
WB giống với định nghĩa được đưa ra trong Luật quản lý nợ công của Việt Nam
Còn theo IMF (2010), thì nợ công được hiểu là nghĩa vụ trả nợ của khu vực công Đi kèmvới đó là định nghĩa cụ thể về khu vực công, bao gồm khu vực Chính phủ và khu vực các tổ chứcCông
Để đánh giá tính bền vững của nợ công, tiêu chí tỷ lệ nợ công/GDP được coi là chỉ số đánhgiá phổ biến nhất Để bảo đảm an toàn của nợ công, các nước thường sử dụng các tiêu chí saulàm giới hạn vay và trả nợ: (i) Giới hạn nợ công không vượt quá 50% - 60% GDP hoặc khôngvượt quá 150% kim ngạch xuất khẩu; (ii) Dịch vụ trả nợ công không vượt quá 15% kim ngạchxuất khẩu và không vượt quá 10% chi ngân sách Theo khuyến cáo của các tổ chức quốc tế, tỷ lệhợp lý với trường hợp các nước đang phát triển nên ở mức dưới 50% GDP Tuy nhiên, trên thực
tế không có hạn mức an toàn chung cho các nền kinh tế; không phải tỷ lệ nợ công trên GDP thấp
Trang 13là trong ngưỡng an toàn và ngược lại Chẳng hạn, Hoa Kỳ có tỉ lệ nợ bằng 96% GDP, nhưng vẫnđược xem ở ngưỡng an toàn bởi năng suất lao động cao nhất thế giới là cơ sở đảm bảo cho việctrả nợ Nhật Bản có số nợ tương đương với 200% GDP vẫn được coi là ở ngưỡng an toàn Trongkhi đó, nhiều nước có tỷ lệ nợ trên GDP thấp hơn rất nhiều nhưng đã rơi vào tình trạng khủnghoảng nợ như Argentina năm 2001 là 45% GDP; Ukraina năm 2007 với 13 % GDP, và Rumani
là 20% GDP Mới đây là trường hợp của Hy Lạp với tỷ lệ nợ lên đến 113,5 % GDP, Ireland ướckhoảng 98,5 % GDP Vì vậy, để đánh giá đúng mức độ an toàn của nợ công, không thể chỉ quantâm đến tỷ lệ nợ trên GDP, mà cần phải xem xét một cách toàn diện trong mối liên hệ với hệthống các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, nhất là tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế, năng suất laođộng tổng hợp, hiệu quả sử dụng vốn (qua tiêu chí ICOR), tỉ lệ thâm hụt ngân sách, mức tiếtkiệm nội địa và mức đầu tư toàn xã hội Bên cạnh đó, những tiêu chí như: cơ cấu nợ công, tỷtrọng các loại nợ, cơ cấu lãi suất, thời gian trả nợ… cũng cần được phân tích kỹ lưỡng khi đánhgiá tính bền vững nợ công
1.2 Tình hình nợ công của các nước ở Châu Âu
Khủng hoảng nợ công châu Âu là một cuộc khủng hoảng nợ công với điểm bùng nổ đầu tiên
là Hy Lạp vào đầu năm 2010 khi chi phí cho các khoản nợ Chính phủ liên tục tăng lên; cụ thể làlãi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 2 năm của Hy Lạp liên tục tăng cao từ 3,47% vào tháng 01năm 2010, lên 9,73% thời điểm tháng 07 năm 2010 và nhảy vọt lên 26,65%/năm vào tháng 07năm 2011 Cuộc khủng hoảng sau đó đã lan sang Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và tiếp theo là Ýtrong khu vực đồng euro Pháp đang là quốc gia có nhiều nguy cơ tụt hạng tín dụng Cộng hòaSip cũng đã bị đẩy tới bờ vực để nhận gói cứu trợ
Từ cuối năm 2009, lo ngại về cuộc khủng hoảng nợ quốc gia gia tăng giữa các nhà đầu tưliên quan đến một số nước châu Âu, mối lo sợ này tăng lên vào đầu năm 2010 Các quốc gia cóvấn đề về nợ công trong khu vực châu Âu bao gồm các thành viên Hy Lạp, Ireland, Ý, Tây BanNha và Bồ Đào Nha, và cũng có một số khu vực châu Âu không thuộc Liên minh châu Âu.Iceland, đất nước trải qua cuộc khủng hoảng tài chính lớn nhất trong năm 2008 khi toàn bộ hệthống ngân hàng quốc tế của nó sụp đổ, ít bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng nợ công TrongLiên minh châu Âu, đặc biệt là ở các nước nơi các khoản nợ công tăng mạnh do kế hoạch giảicứu ngân hàng, khủng hoảng niềm tin dấy lên với việc mở rộng lây lan lãi suất trái phiếu và bảohiểm rủi ro giao dịch hoán đổi tín dụng mặc định giữa các nước này và các nước thành viên EUkhác, quan trọng nhất là Đức Ngày 2/5/2010, các nước thành viên khu vực đồng euro và QuỹTiền tệ Quốc tế đã thông qua khoản vay 110 tỷ euro cho Hy Lạp, với điều kiện nước này phải
Trang 14thực thi các biện pháp thắt lưng buộc bụng khắc nghiệt Ngày 09/05/2010, Bộ trưởng Bộ Tàichính châu Âu đã thông qua gói giải cứu trị giá 750 tỷ euro nhằm đảm bảo sự ổn định tài chính ởkhu vực châu Âu, và lập ra Ủy ban Ổn định Tài chính châu Âu Tiếp theo đó là gói cứu trợ trị giá
85 tỷ euro cho Ireland vào tháng 11 năm 2010 và 78 tỷ euro cho Bồ Đào Nha vào tháng 5 năm
2011 Cuộc khủng hoảng nợ công đã đe dọa sự tồn tại của đồng tiền euro, gây ảnh hưởng nền tàichính toàn cầu
1.3 Nguyên nhân của khủng hoảng nợ công ở Châu Âu
Nguyên nhân đầu tiên của cuộc khủng hoảng này chính là do dư âm từ cuộc khủng hoảng tàichính toàn cầu cuối năm 2007 đánh mạnh vào nền kinh tế tại các quốc gia phát triển Sự suythoái kinh tế khiến cho các quốc gia phải thực hiện các biện pháp kích thích kinh tế thông quaviệc tăng chi và giảm thu ngân sách, khiến cho ngân sách chính phủ thâm hụt mạnh
Những chính sách tăng trưởng tại các quốc gia này không đi kèm với một chính sách tàikhóa bề vững và sự mất cân đối trong việc vay nợ của mình Hy Lạp, kể từ khi gia nhập khốiđồng tiền chung Eurozone vào năm 2011 cho đến khủng hoảng tài chính năm 2008 , mức thâmhụt ngân sách được công bố trung bình vào khoảng 5% mỗi năm, trong khi con số này của cảkhối Eurozone chỉ là khoảng 2% (IMF, 2009) Chính vì thế, Hy Lạp đã không thể duy trì đượcnhững chỉ số theo quy định chuẩn của Ủy ban kinh tế và tiền tệ của EU (EMU), với mức trầnthâm hụt ngân sách là 3% và nợ nước ngoài là 60% Tuy nhiên, Hy Lạp không phải là quốc giaduy nhất , bởi có đến 25 trên 27 thành viên EU không đạt được cam kết này
Sự thâm hụt tài khóa của các quốc gia trong khối PIIGS đến từ nhiều nguyên nhân Tại HyLạp là việc thu ngân sách không đảm bảo trong khi chính phủ lại chi tiêu quá nhiều Quốc gianày được báo chí nhắn nhiều về nạn trốn thuế, khi tăng trưởng GDP danh nghĩa trong giai đoạn2000-2007 đạt mức trung bình 8.25% thì mức tăng về thu thuế chỉ là 7% Ngoài mức chi tiêucông thông thường, Hy Lạp còn phải trả giá cho khoản đầu tư công khổng lồ từ Olympic 2004.Trường hợp của Ireland, là do chính phủ thực thi để cứu lấy các ngân hàng, biến nợ xấu ngânhàng thành các khoản nợ công Trường hợp của Bồ Đào Nha cũng là do sự chi tiêu hoang phícủa chính phủ vào quá nhiều dự án công không bền vững
Một nguyên nhân nữa liên quan đến chính sách tài khóa chính là sự hạn chế trong cơ chếphối hợp điều hành trong khu vực sử dụng đồng tiền chung Eurozone Các quốc gia trong khuvực chủ yếu hợp tác trong các chính sách tiền tệ, nhằm đảm bảo duy trì giá trị đồng EURO, trongkhi các chính sách tài khóa lại chưa có được một sự đồng thuận và hài lòng tương ứng Rõ ràng,
Trang 15mặc dù đã có những quy định cụ thể về mức thâm hụt ngân sách cũng như nợ công nhưng lạikhông có một cơ chế giám sát và quản lý hiệu quả đối với từng quốc gia thành viên Chính vìvậy, sự vỡ nợ tại một quốc gia là Hy Lạp đã kéo theo khủng hoảng niềm tin lan sang các quốcgia có chính sách tài khóa lỏng lẻo khác
Cuối cùng, nguyên nhân khiến cuộc khủng hoảng lan rộng và có nguy cơ trầm trọng hơnchính là việc thiếu cơ chế phổi hợp ứng phó giữa các quốc gia trong khu vực Thứ nhất, mức độnghiêm trọng cũng như rủi ro của cuộc khủng hoảng kể từ khi bắt đầu chưa được nhận thức đầy
đủ do giới chính trị gia vẫn cố chấp và không chịu thừa nhận thực trạng của nền kinh tế Ví dụnhư việc Hy Lạp chê giấu thông tin về mức thâm hụt ngân sách của mình Sự hỗ trợ ban đầu của
EU lại bị từ chối thẳng thừng, để đến khi Hy Lạp chính thức phải cầu cứu viện trợ thì khủnghoảng niềm tin ngay lập tức đã lan sang các quốc gia thành viên khác Thứ hai, các quốc gia rơivào khủng hoảng cũng không có sự đồng thuận nhất trí chung nào trong việc tìm kiếm nguyênnhân và có những chính sách giải cứu thích hợp Hầu hết các quốc gia đều cố gắng thực hiệnnhững chính sách của riêng mình trước khi khó khăn chồng chất và phải nhờ đến sự viện trợ của
EU và IMF, không hề có một chiến lược xử lý về dài hạn được đưa ra
1.4 Hy Lạp, nền kinh tế trên bờ vực phá sản của Châu Âu
Hy Lạp là một trong những mắt xích tương đối yếu của trong khối nước sử dụng đồng tiềnchung châu Âu (Eurozone) Hiện tại, vấn đề nợ công quá cao và sự yếu kém của nền kinh tế dokhủng hoảng tài chính khiến Hy Lạp đang đối diện với rủi ro lớn mà khó có thể giải quyết trongngắn hạn Rủi ro này xuất phát từ nợ công cao do thâm hụt ngân sách cao, kéo dài, và thêm vào
đó một tỷ lệ lớn khoản nợ này là các khoản vay từ nước ngoài
Tiết kiệm trong nước thấp, vay nợ nước ngoài cho chi tiêu công Kinh tế Hy Lạp tăng trưởngmạnh, bình quân ở mức 4.2%/năm trong giai đoạn 2002-2007 Lợi tức trái phiếu liên tục giảmnhờ vào việc gia nhập liên minh châu Âu (EU), tạo điều kiện cho chính phủ Hy Lạp tăng cườngvay nợ tài trợ cho chi tiêu công Thêm vào đó, tiết kiệm nội địa của nước này cũng sụt giảmnhanh chóng Những năm cuối của của thập niên 90 tỷ lệ tiết kiệm trong nước bình quân chỉ ởmức 11%, thấp hơn nhiều so với mức 20% của các nước như Bồ Đào Nha, Ý và Tây Ban Nha
Do vậy, đầu tư trong nước phụ thuộc khá nhiều vào các dòng vốn đến từ bên ngoài
Chi tiêu kích thích kinh tế sau khủng hoảng năm 2008 làm trầm trọng thêm vấn đề Năm
2008, khủng hoảng tài chính toàn nổ ra đã ảnh hưởng khá mạnh đến các ngành công nghiệp chủchốt của nước này Ngành du lịch và vận tải biển, doanh thu đều sụt giảm trên 15% trong năm