Nguồn vốn ODA với vấn đề xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Ninh Bình Nguyễn Thị Minh Hòa Trường Đại học Kinh tế Luận văn ThS chuyên ngành: Kinh tế Chính trị; Mã số: 60 31 01 Người hướng dẫn: T
Trang 1Nguồn vốn ODA với vấn đề xóa đói giảm nghèo
ở tỉnh Ninh Bình Nguyễn Thị Minh Hòa
Trường Đại học Kinh tế Luận văn ThS chuyên ngành: Kinh tế Chính trị; Mã số: 60 31 01
Người hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Kim Chi
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến nguồn vốn ODA và vấn đề
xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Ninh Bình Phân tích vai trò của nguồn vốn ODA với vấn đề xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Ninh Bình, rút ra những thành tựu, hạn chế của tỉnh Ninh Bình trong việc sử dụng nguồn vốn ODA đối với vấn đề xoá đói giảm nghèo Đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của nguồn vốn ODA trong công tác xóa đói giảm nghèo
ở tỉnh Ninh Bình trong thời gian tới
Keywords: Kinh tế chính trị; Đầu tư; Vốn ODA; Xóa đói giảm nghèo; Ninh Bình
Content
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Mặc dù đã bước ra khỏi hàng ngũ các nước có thu nhập bình quân đầu người thấp nhưng Việt Nam vẫn mang đặc điểm điển hình của một nước đang phát triển, nền kinh tế còn nghèo nàn, lạc hậu, đời sống nhân dân còn gặp rất nhiều khó khăn Ngay từ khi giải phóng đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức được thực trạng đói nghèo và những tác động của nó đến quá trình phát triển, chính vì vậy đã dành sự quan tâm đặc biệt đến việc trợ giúp người dân thoát khỏi đói nghèo và coi đó là một nhiệm vụ quan trọng để ổn định và phát triển đất nước Sau 26 năm thực hiện đường lối đổi mới, 21 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên CNXH, nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế và xoá đói giảm nghèo, tỷ lệ đói nghèo giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 12,3% năm 2009 và 10,7% vào năm 2010 [24] Tuy nhiên, tỷ lệ nghèo hiện nay vẫn còn ở mức cao, theo số liệu thống kê năm 2011 thì tỷ lệ nghèo tại Việt Nam là 12% (tính theo chuẩn nghèo mới) Trong khi đó, những người thu nhập thấp và người thất nghiệp không có thu nhập trong xã hội lại càng gặp khó khăn
Trang 2trong điều kiện lạm phát cao tới hai con số những năm gần đây Nhìn chung, Việt Nam vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức trong việc điều hành các chính sách để đảm bảo an sinh xã hội Những biến động về kinh tế vĩ mô, đặc biệt là tình hình lạm phát cao đang tạo thêm gánh nặng đối với người nghèo
Để tiếp tục thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững và thực hiện có hiệu quả chính sách xoá đói giảm nghèo, tỉnh Ninh Bình cũng như nhiều địa phương khác trong cả nước những năm qua đã xây dựng các chiến lược phát triển, huy động các nguồn lực phục vụ cho tăng trưởng
và xoá đói giảm nghèo Trong các nguồn lực có thể huy động cho công cuộc xoá đói giảm nghèo thì các nguồn lực trong nước giữ vai trò quyết định Bên cạnh đó, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) có vai trò quan trọng là chất xúc tác thúc đẩy công tác xoá đói giảm nghèo
Tuy nhiên, công tác xóa đói giảm nghèo vẫn chưa đạt kết quả cao, một số hộ thoát đói nghèo nhưng chưa vững chắc, số xã nghèo có tỷ lệ hộ nghèo cao còn nhiều Vậy những khó khăn, thách thức nào đang đặt ra cho công tác xoá đói giảm nghèo ở tỉnh Ninh Bình? Nguồn vốn ODA được huy động thời gian qua đã có những đóng góp gì cho sự phát triển của tỉnh Ninh Bình? Còn những tồn tại nào trong công cuộc xoá đói giảm nghèo ở tỉnh Ninh Bình? Qua đó tỉnh Ninh Bình có thể để lại bài học, kinh nghiệm gì cho các địa phương khác học tập cũng như tỉnh Ninh Bình cần phải làm gì để có thể tăng cường sử dụng nguồn vốn này trong công tác xoá đói giảm nghèo? Đây chính là những câu hỏi cần có lời giải
Xuất phát từ những suy nghĩ trên đây, đề tài “Nguồn vốn ODA với vấn đề xóa đói giảm
nghèo ở tỉnh Ninh Bình” được tác giả lựa chọn nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp Đây là đề tài
mang tính thực tiễn cao và có đóng góp lớn trong công cuộc xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Ninh Bình nói riêng và cả nước nói chung
2 Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến vấn đề nguồn vốn ODA hoặc khai thác khía cạnh ODA nói chung có một
số sách và khá nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố và có giá trị thực tiễn cao như:
- Quy chế Quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức ban hành kèm theo
Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Chính phủ Quy chế ban hành các quy định chung; trình tự các bước từ giai đoạn vận động đến ký kết điều ước quốc tế; theo dõi đánh giá chương trình, dự án và quản lý nhà nước về ODA Quy chế này đã thể hiện nhiều quan điểm mới trong việc thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA Sau bốn lần ban hành, Quy chế này được coi là phù hợp và dễ đưa vào ứng dụng nhất Nhưng quy chế mới chỉ là văn bản khung hướng dẫn việc quản lý và sử dụng ODA
- Cuốn “Hỗ trợ phát triển chính thức ODA: Những hiểu biết căn bản và thực tiễn ở Việt
Nam” - Hà Thị Ngọc Oanh - NXB Giáo Dục, 1998, 98 tr Trong đó, tác giả đã trình bày lịch sử
Trang 3hình thành, khái niệm, phân loại, tác dụng của ODA; tình hình cung cấp và tiếp nhận ODA trên thế giới; tình hình huy động, tiếp nhận vốn và nguồn huy động ở Việt Nam; những khó khăn và thuận lợi trong huy động, tiếp nhận ODA ở Việt Nam
- Cuốn “Quy định pháp luật về quản lý, sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức
ODA” - NXB Chính trị Quốc gia, 2003, 325tr thì bao gồm các văn bản qui định về việc miễn thu
lệ phí trước bạ, về thuế giá trị gia tăng, về quản lý hạch toán vốn hoàn thuế giá trị gia tăng, hướng dẫn kế toán tiếp nhận và sử dụng viện trợ… cho các dự án ODA không hoàn lại
Ngoài ra còn một vài luận văn ở trường ĐHKT - ĐHQG đã nghiên cứu về nguồn vốn ODA đối với một số ngành cụ thể như:
- “Thu hút và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức: Trường hợp ngành đường sắt
Việt Nam” của Bùi Thanh Hương - Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội (2008), luận văn
đã tổng hợp và phân tích chính sách thu hút ODA ở Việt Nam nói chung và ngành đường sắt nói riêng, làm rõ thực trạng việt thu hút, quản lý, sử dụng ODA trong ngành đường sắt Việt Nam trong thời gian từ 1995 - 2008 Trên cơ sở đó tác giả đưa ra được những giải pháp khả thi để thu hút và sử dụng có hiệu quả hơn nữa vốn ODA trong ngành đường sắt Việt Nam trong giai đoạn sau khi Việt Nam gia nhập WTO
- “ODA của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) trong ngành Lâm nghiệp (nghiên cứu
trường hợp 4 tỉnh Thanh Hóa, Quảng Trị, Gia Lai, Phú Yên) giai đoạn 2001 - 2005” của
Nguyễn Ngọc Hải – Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội (2008), luận văn đã nêu bật những thành công và hạn chế trong sử dụng ODA của ADB tại dự án vay đầu tiên của ngành Lâm nghiệp, trên cơ sở đó tác giả đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm khắc phục những hạn chế và rút ra kinh nghiệm cho các dự án vay ODA từ ADB trong Lâm nghiệp sau này
Mặc dù đã có rất nhiều đầu sách và công trình nghiên cứu khác nhau đề cập tới vấn đề ODA như trên, nhưng ODA trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam thì chưa nhiều
Hiện nay vẫn chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về nguồn vốn ODA với vấn đề xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Ninh Bình dưới góc độ chuyên ngành kinh tế chính trị, chưa có bài viết nào hệ thống hóa được toàn bộ các tác động của nguồn vốn này trong xóa đói giảm nghèo ở tỉnh giai đoạn 2000 - 2010 Vì vậy, có thể khẳng định đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu một cách
có hệ thống, tương đối đầy đủ và cập nhập về ODA đối với công tác xoá đói giảm nghèo của một tỉnh cụ thể, đó là tỉnh Ninh Bình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích
Luận văn đi sâu nghiên cứu đánh giá thực trạng sử dụng nguồn vốn ODA và vai trò của
nó đến vấn đề xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, từ đó đề xuất những quan điểm,
Trang 4định hướng, giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của nguồn vốn ODA trong việc xóa đói giảm nghèo của tỉnh Ninh Bình trong thời gian tới
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến nguồn vốn ODA và vấn đề xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Ninh Bình;
- Phân tích vai trò của nguồn vốn ODA với vấn đề xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Ninh Bình, rút ra những thành tựu, hạn chế của tỉnh Ninh Bình trong việc sử dụng nguồn vốn ODA đối với vấn đề xoá đói giảm nghèo
- Đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của nguồn vốn ODA trong công tác xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Ninh Bình trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu vai trò của nguồn vốn ODA trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Ninh Bình
* Phạm vi nghiên cứu
Luận văn đi sâu nghiên cứu về vai trò của nguồn vốn ODA với vấn đề xóa đói giảm nghèo, tập trung vào các lĩnh vực hỗ trợ phát triển nông nghiệp, giáo dục công bằng và chất lượng cho người nghèo, tạo công ăn việc làm, cải thiện mạng lưới an sinh xã hội…
Luận văn tập trung đi sâu nghiên cứu vào lĩnh vực xoá đói giảm nghèo ở tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2000 - 2010
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng tổng hợp các phương pháp điều tra khảo sát, thống kê, phân tích, tổng hợp để giải quyết các nội dung nghiên cứu của đề tài Các phương pháp đó được kết hợp chặt chẽ với nhau dựa trên cơ sở các quan điểm, chính sách kinh tế đối ngoại và chính sách
sử dụng nguồn vốn ODA của Đảng và Nhà nước nói chung và tỉnh Ninh Bình nói riêng
Nguồn tư liệu được sử dụng trong bài nghiên cứu chủ yếu được lấy từ các báo cáo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban Nhân dân tỉnh Ninh Bình, Sở Tài chính tỉnh Ninh Bình, Sở
Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Ninh Bình, Niên giám thống kê, các bài báo, tạp chí và thông tin từ mạng Internet…
6 Những đóng góp mới của luận văn
Trang 5- Làm rõ hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn về ODA nói chung và xoá đói giảm nghèo
- Phân tích được vai trò của nguồn vốn ODA đối với xoá đói giảm nghèo ở tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2000 - 2010
- Chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân trong việc thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA trong xoá đói giảm nghèo ở tỉnh Ninh Bình
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của nguồn vốn ODA trong công tác xoá đói giảm nghèo ở tỉnh Ninh Bình trong thời gian tới
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về nguồn vốn ODA và xóa đói giảm nghèo
Chương 2: Thực trạng của nguồn vốn ODA với vấn đề xóa đói giảm nghèo ở tỉnh
Ninh Bình giai đoạn 2000 - 2010
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao vai trò của nguồn vốn ODA trong công tác xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Ninh Bình trong thời gian tới
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGUỒN VỐN ODA VÀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 1.1 Tổng quan về nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
1.1.1 Khái niệm và nguồn gốc ODA
ODA hình thành và ra đời từ những năm sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, các nước công nghiệp phát triển đã thoả thuận về sự giúp đỡ dưới dạng viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với điều kiện ưu đãi cho các nước đang phát triển
Hỗ trợ phát triển chính thức hay Viện trợ phát triển chính thức được go ̣i tắt là ODA b ắt nguồn từ cụm từ tiếng Anh - Oficial Development Assistance Cho đến nay chưa có định nghĩa hoàn chỉnh về ODA Mỗi chính phủ, mỗi tổ chức có thể đưa ra khái niệm về ODA theo cách riêng của mình
Mặc dù trên thế giới có rất nhiều quan điểm khác nhau về ODA nhưng nói chung những
quan điểm ấy đều có chung một bản chất: Hỗ trợ Phát triển Chính thức (ODA) là hoạt động viện
Trang 6trợ đầu tư của một chính phủ hay một tổ chức Liên chính phủ cho chính phủ một nước khác giúp chính phủ nước đó giải quyết các vấn đề về phát triển kinh tế xã hội
1.1.2 Đặc điểm của nguồn vốn ODA
1.1.2.1 Tính ưu đãi của nguồn vốn ODA
1.1.2.2 Tính ràng buộc của nguồn vốn ODA
1.1.2.3 ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ
1.1.3 Phân loại nguồn vốn ODA
1.1.3.1 Phân loại theo nguồn cung cấp: ODA gồm hai loại: nguồn ODA từ các nhà tài tr ợ song
phương và nguồn ODA từ các nhà tài tr ợ đa phương
1.1.3.2 Phân loại theo tính chất nguồn vốn: ODA gồm 3 loại: ODA không hoàn lại, ODA vốn
vay ưu đãi và Hình thức hỗn hợp
1.1.3.3 Phân loại theo điều kiện: ODA gồm 3 loại: ODA không ràng buộc, ODA có ràng buộc
và ODA ràng buộc một phần
1.1.3.4 Phân loại theo hình thức: ODA gồm hai loại: Hỗ trợ dự án và Hỗ trợ phi dự án
1.2 Những vấn đề chung về xóa đói giảm nghèo
1.2.1 Khái niệm về đói nghèo
1.2.1.1 Quan niệm của một số tổ chức quốc tế
Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhaghen (Đan Mạch)
tháng 03/1995 cho rằng: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la
(USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như mua đủ những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”
Còn Ngân hàng Thế giới (WB) quan niệm: “Nghèo là một khái niệm đa chiều vượt khỏi
phạm vi túng thiếu về vật chất Nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực”
Chuyên gia hàng đầu của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) – ông Abapia Sen, người được
giải Nôben về kinh tế năm 1998, cho rằng: “Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào
quá trình phát triển của cộng đồng”
Tuy nhiên quan niệm của Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á Thái Bình Dương, tổ chức tại Băng Cốc – Thái Lan (tháng 09/1993), ESCAP đã đưa ra khái niệm về nghèo một cách
Trang 7hệ thống hơn: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu
cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy thuộc vào trình
độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương”
1.2.1.2 Quan niệm của Việt Nam
Hiện nay ở nước ta tách riêng đói và nghèo thành hai khái niệm riêng biệt:
* Khái niệm đói
Đói là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập
không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống
* Khái niệm nghèo
Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản
của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh
tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương
Như vậy qua các định nghĩa trên, ta có thể đưa ra định nghĩa chung về nghèo đói: “Đói
nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có những điều kiện về cuộc sống như ăn, mặc, ở,
vệ sinh, y tế, giáo dục, đi lại, quyền được tham gia vào các quyết định của cộng đồng”
* Khái niệm về xóa đói
Xóa đói là làm cho bộ phận dân cư nghèo sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ
đảm bảo nhu cầu vâ ̣t chất để du y trì mức sống , từng bước nâng cao mức sống đến mức tối thiểu
và có thu nhập để đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống
* Khái niệm về giảm nghèo
Giảm nghèo là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống , từng bước thoát khỏi tình
trạng nghèo
1.2.2 Phương pháp tiếp cận đói nghèo
Tiếp cận đói nghèo có thể được hiểu là việc xác định ai là người nghèo trong xã hội và được
thực hiện thông qua chuẩn nghèo, hay nói cách khác chuẩn nghèo là ranh giới để phân biệt
người nghèo với các thành viên khác trong xã hội
* Theo chuẩn đói nghèo quốc tế
* Theo chuẩn đói nghèo của Việt Nam
1.2.3 Phương pháp đánh giá nghèo đói hiện nay
* Chỉ tiêu đánh giá hộ đói nghèo của Việt Nam:
Trang 8- Chỉ tiêu chính: thu nhập quốc dân một người một tháng hoặc một người một năm, và nó
được đo bằng chỉ tiêu giá trị, hay hiện vật quy đổi, và ở nước ta thường lấy lương thực (gạo để
đánh giá)
- Chỉ tiêu phụ: là dinh dưỡng bữa ăn, nhà ở, mặc và các điều kiện học tập, y tế, đi lại, giao
tiếp…
1.2.4 Các thước đo xác định mức độ nghèo
- Đói nghèo theo thu nhập
- Y tế và giáo dục
- Nguy cơ dễ bị tổn thương
- Không có tiếng nói và quyền lực
1.3 Vai trò của nguồn vốn ODA với xóa đói giảm nghèo
1.3.1 Tạo công ăn việc làm
1.3.2 Tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho người nghèo
1.3.3 Giúp người nghèo khắc phục các tệ nạn xã hội
1.3.4 Phòng chống dịch bệnh, bảo vệ môi trường, cấp nước sinh hoạt
1.3.5 Phát triển giáo dục, y tế
1.4 Kinh nghiệm của một số địa phương về việc sử dụng vốn ODA trong xóa đói giảm nghèo
1.4.1 Kinh nghiệm của một số địa phương
1.4.1.1 Kinh nghiệm của Thái Bình
1.4.1.2 Kinh nghiệm của Quảng Trị
1.4.1.3 Kinh nghiệm của Ninh Thuận
1.4.2 Bài học kinh nghiệm cho tỉnh Ninh Bình
Ba tỉnh trên đã lồng ghép vấn đề giảm nghèo trong các chương trình phát triển của địa phương
Đồng thời, cần phải tiếp tục hoàn thiện, điều chỉnh thể chế, cơ chế chính sách kinh tế để thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững
Bên cạnh đó cả ba tỉnh Thái Bình, Quảng Trị và Ninh Thuận đã phối hợp các nhà tài trợ của các tổ chức quốc tế về hỗ trợ chính sách, xây dựng và triển khai các dự án giảm nghèo, đồng thời tạo điều kiện cho người dân tham gia vào các dự án
Trang 9Ngoài ra, các dự án cần phải được xây dựng, thiết kế cẩn thận để khi đã ký kết hiệp định vay vốn thì có thể triển khai được ngay
Cần tiếp tục ưu tiên bố trí vốn đối ứng cho các dự án ODA, nhất là trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo
Các dự án ODA phải được xây dựng phù hợp với kế hoạch phát triển tổng thể của đất nước, của các ngành chủ quản và các đơn vị hưởng lợi
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CỦA NGUỒN VỐN ODA VỚI VẤN ĐỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở TỈNH NINH BÌNH
2.1.1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
2.1.1.2 Thực trạng nghèo đói ở tỉnh Ninh Bình
Các xã sau đây là các xã nghèo đói trọng điểm:
- Huyện Nho Quan có 9 xã là: Thạch Bình, Kỳ Phú, Phú Long, Quảng Lạc, Gia Sơn, Văn
Phương, Văn Phong, Thanh Lạc và Thượng Hoà
- Huyện Kim Sơn, có 3 xã bãi ngang: Kim Trung, Kim Hải và Kim Đông
- Thị xã Tam Điệp, có 2 xã là: Yên Sơn và Đông Sơn
- Huyện Yên Mô có 3 xã miền núi là: Yên Đồng, Yên Thái, Yên Thành
- Huyện Gia Viễn: có 3 xã vùng phân lũ là Gia Minh, Gia Phong, Gia Lạc
- Huyện Hoa Lư có 2 xã là: Ninh Xuân và Ninh Hoà
- Huyện Yên Khánh có 1 xã là Khánh Công [15, tr.4]
Năm 2006, tỉ lệ hộ nghèo toàn tỉnh là 12,83%, năm 2009, đã giảm xuống, chỉ còn 6,87%
Và đến năm 2010, tỉ lệ hộ nghèo là 6,15% (tính theo năm 2005) và năm 2011 là dưới 6% (tính theo năm 2005)
Trang 102.1.1.3 Nguyên nhân của nghèo đói
Một số nguyên nhân chính của nghèo đói ở tỉnh Ninh Bình:
- Do xuất phát điểm kinh tế thấp và điều kiện tự nhiên không thuận lợi
- Do thiếu việc làm
- Do thiếu vốn sản xuất, thiếu phương tiện sản xuất
- Trình độ hiểu biết hạn chế
- Do gia đình có người ốm đau kéo dài
- Một số ít do lười lao động, không có ý thức vươn lên thoát nghèo, luôn luôn trông chờ, ỷ
lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng
- Do đông người ăn theo, tai nạn rủi ro hoặc có người mắc các tệ nạn xã hội
2.1.2 Nguồn vốn ODA ở tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2000 – 2010
2.1.2.1 Khuôn khổ pháp lý của việc thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA
2.1.2.2 Các nguồn tài trợ và mục tiêu ưu tiên
Hiện nay, Việt Nam đang có quan hệ hợp tác với 51 nhà tài trợ, trong đó có 28 nhà tài trợ song phương, 23 nhà tài trợ đa phương và hơn 400 tổ chức phi chính phủ Mục tiêu chung nhất của các nhà tài trợ là giúp Việt Nam thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và xoá đói giảm nghèo, song mỗi nhà tài trợ lại có những mục tiêu cụ thể khác nhau và có những ưu tiên khác nhau Sau đây
là một số nhà tài trợ tiêu biểu và mục tiêu ưu tiên của họ
Cùng với xu thế chung của cả nước, tỉnh Ninh Bình cũng nhận được viện trợ chủ yếu từ Nhật Bản, JICA, JIBIC, OECF, ADB và WB Nguồn tài trợ này có một vai trò vô cùng quan trọng trong công tác xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Ninh Bình
2.1.2.3 Tình hình thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA giai đoạn 2000 - 2010
Thời gian qua, cũng như các địa phương khác trong cả nước, Ninh Bình tiếp nhận nguồn vốn ODA cho việc XĐGN cùng với các lĩnh vực cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội khác thông qua việc cấp phát của nhà nước (ngân sách nhà nước) và cho vay lại
Từ năm 1993, khi các nhà tài trợ chính thức nối lại viện trợ cho Việt Nam thì tỉnh Ninh Bình cũng bắt đầu tiếp nhận nguồn vốn này với mục tiêu để xây mới, cải thiện và nâng cấp cơ sở
hạ tầng và phát triển kinh tế xã hội Một số dự án sử dụng nguồn vốn ODA nhằm mục tiêu XĐGN ở tỉnh Ninh Bình giai đoạn 1993 – 2003 như các dự án về giao thông; hay như các dự án cấp nước; các dự án về ngành điện; các dự án về lĩnh vực y tế…
Số dự án sử dụng ODA thu hút được trong thời kỳ này là 37, trong đó ngành giao thông
Trang 11chiếm tỷ trọng lớn nhất với 12 dự án (chiếm 32,43%), đứng thứ hai là ngành cấp nước với 10 dự
án (chiếm 27,03%), còn ngành thứ ba là ngành điện với 8 dự án (chiếm 21,62%)
Có thể nhận thấy Nhật Bản là nhà tài trợ lớn nhất cho tỉnh Ninh Bình, với các cơ quan viện trợ đặc thù của mình như JICA, JIBIC, OECF và viện trợ trên hầu hết các lĩnh vực như giao thông, cấp nước, điện, giáo dục ADB là nhà tài trợ lớn thứ hai với lĩnh vực tài trợ là các dự án
về y tế và nông nghiệp Đan Mạch cũng đã giúp tỉnh Ninh Bình cải thiện hệ thống cấp nước của mình thông qua các dự án trong lĩnh vực cấp nước Ngoài ra còn có một số các dự án khác do Na
Uy, Italia và UNIDO tài trợ
Hầu hết các dự án trong giai đoạn 1993-2003 có tỷ lệ giải ngân cao, đặc biệt là các dự án trong lĩnh vực giao thông (hầu như tỷ lệ giải ngân đạt 100%) song bên cạnh đó vẫn còn có một
số dự án có tỷ lệ giải ngân tương đối thấp
Còn trong giai đoạn 2006 – 2011, tổng số vốn ODA lên tới 1.816,5 tỷ đồng, tập trung vào các lĩnh vực y tế, xây dựng cơ sở hạ tầng, cải thiện hệ thống cấp nước với mục tiêu chung là XĐGN Các nhà tài trợ chính trong giai đoạn này là ADB, JBIC, JICA và WB
Tất cả nguồn vốn ODA đầu tư trong giai đoạn này đều là vay ưu đãi và chi cho 14 dự án, trong đó có 9 dự án đã kết thúc và 6 dự án đang được triển khai Các dự án đã kết thúc có tỷ lệ giải ngân rất cao (trên 90%), có nhiều dự án đạt tỷ lệ giải ngân 100% Các dự án đang được thực hiện được triển khai với tốc độ giải ngân khá nhanh và nguồn vốn đối ứng được bổ sung khá kịp thời
Nhìn chung, có thể nhận thấy rằng nguồn vốn ODA đã được triển khai khá hiệu quả ở tỉnh Ninh Bình và nó đã góp phần rất lớn vào việc cải thiện đời sống kinh tế-xã hội của người dân nói chung và người nghèo nói riêng
2.2 Vai trò của các chương trình, dự án ODA đến công tác xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Ninh Bình
2.2.1 Thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ công
Có thể thấy được ảnh hưởng của các dự án cơ sở hạ tầng đối với tỉnh Ninh Bình như sau: Với 12 dự án trong lĩnh vực giao thông đã xây dựng 118,489km đường, cầu và cống cho các huyện Nho Quan, Gia Viễn, Yên Mô, Hoa Lư, Yên Khánh, Kim Sơn [Bảng 2.5] Những dự
án này sau khi hoàn thành đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân đi lại giao lưu với nhau, tiếp cận được với khu trung tâm một cách dễ dàng hơn
Đặc biệt, trong lĩnh vực cấp nước với 10 dự án (giai đoạn 1993-2003) đã cải tạo hệ thống cấp nước ở nhiều địa phương trong tỉnh, đồng thời thực hiện các dự án phát triển nguồn nước
Trang 12ngầm cung cấp nước nông thôn tạo điều kiện cho người dân có thể tiếp cận với nguồn nước sạch, nhờ đó đời sống vệ sinh của người dân được cải thiện, đặc biệt là ở các xã nghèo và các xã, huyện khó khăn của tỉnh
Ngành điện với tổng số vốn ODA đầu tư trong giai đoạn 1993-2003 là 3,4 tỷ đồng, kết hợp với nguồn vốn của các địa phương như sự đóng góp công sức của người dân đã giúp xây dựng nhiều hệ thống cấp điện tại các xã của các huyện Yên Khánh, Kim Sơn, Nho Quan với tổng
số 100 trạm biến áp và hàng ngàn km đường dây điện
Có thể nói rằng các công trình hạ tầng cơ sở sử dụng vốn ODA đã góp phần không nhỏ vào việc cải thiện đời sống của những người nghèo, nhờ đó đời sống kinh tế-xã hội không ngừng được nâng lên và đã làm thay đổi bộ mặt của tỉnh Ninh Bình
2.2.2 Hỗ trợ phát triển nông nghiệp và nông thôn tạo điều kiện xóa đói giảm nghèo trên diện
rộng
Một số tác động lên tình hình kinh tế-xã hội của các dự án sử dụng vốn ODA trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn là:
Thứ nhất, giúp người dân Ninh Bình thay đổi cung cách sản xuất theo hướng sản xuất
hàng hoá với năng suất và chất lượng cao
Thứ hai, giúp việc bảo vệ tài nguyên rừng đồng thời tạo công ăn việc làm và thu nhập ổn
định cho người dân ở những khu vực có dự án
Thứ ba, hỗ trợ kỹ thuật và công nghệ sản xuất hiện đại giúp tăng năng suất lao động trong
nông nghiệp Từ đó làm tăng giá trị của các sản phẩm nông nghiệp và tăng thu nhập cho người dân
Thứ tư, hỗ trợ các hoạt động xuất khẩu và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm nông
nghiệp, giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn ví dụ như Dự án hỗ trợ xây dựng làng thủ
công mỹ nghệ Việt Nam tại Ninh Bình do UNIDO tài trợ
Thứ năm, với các chương trình đầu tư cho thuỷ lợi như Dự án nâng cấp đê hữu sông Hoàng Long do ADB tài trợ với tổng số vốn ODA là 53,735 tỷ đồng đã nâng tầng suất chống lũ
5%, nâng cấp 30,1km đê, cống và 3 trạm phân lũ; hay như Dự án sửa chữa, nâng cấp hồ chứa
nước Yên Đồng cũng do ADB tài trợ với tổng nguồn vốn ODA là 49,234 tỷ đồng đã xây dựng
gạt lũ sông Vạc, tạo điều kiện tưới tiêu cho 1.250ha, đồng thời tạo khu sinh thái và nuôi trồng thủy sản cho người dân Các dự án này đã giúp phòng chống và giảm nhẹ thiên tai để hạn chế thiệt hại và tổn thương cho người nghèo đồng thời tạo điều kiện phát triển kinh tế, nâng cao đời sống cho người dân, đặc biệt là người nghèo
Trang 13Trong những năm qua, với nhiều chương trình, dự án hỗ trợ trên nhiều lĩnh vực, thực hiện rộng khắp ở các huyện trong tỉnh Ninh Bình của nhiều nhà tài trợ khác nhau đã giúp cho nhiều vùng nghèo, xã nghèo, hộ nghèo và người nghèo thoát nghèo Trên phương diện vĩ mô, các chương trình, dự án ODA trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đã hỗ trợ tích cực cho việc thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo trên diện rộng
2.2.3 Tạo việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho người nghèo
Các dự án ODA trong lĩnh vực giao thông, cấp nước, nông nghiệp không chỉ mang lại điều kiện thuận lợi cho người dân mà còn tạo công ăn việc làm cho nhiều người nơi dự án thực hiện
Hay như các dự án trong lĩnh vực nông nghiệp không chỉ cải thiện hệ thống tưới tiêu của các xã mà còn giúp người dân tiếp cận với điều kiện thuận lợi để nâng cao năng suất cây trồng, nhờ đó mà nâng cao thu nhập của mình
2.2.4 Hỗ trợ phát triển nền giáo dục công bằng và chất lượng cho người nghèo
Nhiều dự án ODA đã đầu tư cho việc tăng cường cơ sở vật chất trong giáo dục và góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của các vùng nghèo, xã nghèo, bảo đảm cho con
em vùng nghèo có điều kiện thuận lợi tiếp cận với nền giáo dục tiểu học chất lượng cao thông qua việc hỗ trợ tiền học phí, xây dựng các trường học mới và hỗ trợ các công cụ học tập cho học
sinh như Dự án xây dựng tiểu học tại các xã thuộc tỉnh Ninh Bình do JICA tài trợ với số vốn
ODA ước tính là 8,166 tỷ đồng đã góp phần cung cấp 116 phòng học tiêu chuẩn và bàn ghế cho
7 huyện, thị xã thuộc tỉnh Ninh Bình
Nhìn chung, các dự án ODA trong những năm qua đã góp phần quan trọng trong việc cải thiện chất lượng giáo dục ở tỉnh Ninh Bình, đặc biệt là các đối tượng thuộc các vùng nghèo, xã nghèo đã có điều kiện tiếp cận với một nền giáo dục đầy đủ và chất lượng hơn
2.2.5 Giúp cải thiện mạng lưới an sinh xã hội
Người nghèo, những đối tượng yếu thế trong xã hội là những đối tượng dễ bị tổn thương khi có những thay đổi dù là nhỏ trong cuộc sống hàng ngày Vì vậy, cải thiện chất lượng và khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản của người nghèo như chăm sóc sức khoẻ ban đầu, giáo dục tiểu học, vệ sinh dinh dưỡng, nhà ở, cứu trợ đột xuất… có ý nghĩa hết sức quan trọng để giúp các đối tượng là người nghèo hoặc những người yếu thế trong xã hội có điều kiện tồn tại và hoà nhập với cộng đồng
Đây là những việc làm vừa là trách nhiệm vừa mang tính nhân đạo cao cả Trong những năm qua, các nhà tài trợ quốc tế cũng đã đã đóng góp một phần quan trọng giúp đỡ người nghèo