NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG, GIÁO DÂN DI CƯ VÙNG NHÀ THỜ THÁI HÀ, HÀ NỘI TIẾP CẬN, GIÁO DỤC
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
VÀ NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC
- ˜ ² ™ -
NGUYỄN THỊ MINH PHƯỢNG
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG
VỀ GIÁO DÂN DI CƯ VÙNG NHÀ THỜ THÁI HÀ, HÀ NỘI
TIẾP CẬN VỚI GIÁO DỤC
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÀNH QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – NĂM 2008
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
VÀ NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC
- ˜ ² ™ -
NGUYỄN THỊ MINH PHƯỢNG
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG
VỀ GIÁO DÂN DI CƯ VÙNG NHÀ THỜ THÁI HÀ, HÀ NỘI
TIẾP CẬN VỚI GIÁO DỤC
Chuyên ngành Đo lường và Đánh giá trong giáo dục
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Đức Ngọc
HÀ NỘI – NĂM 2008
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là phần nghiên cứu do tôi thực hiện
Các số liệu, kết luận nghiên cứu trình bày trong luận văn này chưa được công
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Học viên xin trân trọng bày tỏ lòng cảm ơn đối với
Trung tâm đảm bảo chất lượng đào tạo và nghiên cứu phát triển giáo dục (CEQARD), các thấy, cô giáo của Trung tâm đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để học viên thực hiện nghiên cứu, viết khoá luận của mình
Luận văn sẽ không thể hoàn thành tốt nếu không có sự chỉ bảo, hướng dẫn của PGS.TS Lê Đức Ngọc, người đã định hướng và giúp đỡ học viên hoàn thành khoá luận Học viên xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn của mình
Đồng thời học viên cũng xin trân trọng gửi lời cảm ơn Trung tâm nghiên cứu Giới, Gia đình và Môi trường trong Phát triển (CGFED) đã ủng hộ và tạo cơ hội cho học viên được tiếp cận với đề tài nghiên cứu; cảm ơn các anh chị em, các bạn đồng nghiệp trong đơn vị đã giúp đỡ học viên trong quá trình nghiên cứu và viết khoá luận
Hà nội, ngày … tháng … năm 2008
Học viên Nguyễn Thị Minh Phượng
Trang 51 Câu hỏi nghiên cứu/giả thiết nghiên cứu 8
4.1 Khái niệm chung về tiếp cận dịch vụ xã hội 19
Trang 6Chương 2: Phương pháp nghiên cứu khoa học 21
1.3 Cơ hội tiếp cận với các dịch vụ xã hội (đặc biệt là khả năng tiếp cận
1.4 Những khó khăn thường gặp của Giáo dân di cư 36
II PHƯƠNG PHÁP THU THẬP THÔNG TIN 45
Chương 3: Thực trạng về Giáo dân di cư vùng nhà thờ Thái Hà,
1 Một số thông tin nghiên cứu ban đầu về Giáo dân di cư 49
3 Những khó khăn mà Giáo dân di cư thường gặp phải trong quá
trình sống, học tập và làm việc tại Hà nội 64
4 Cơ hội tiếp cận với giáo dục của Giáo dân di cư 69
4.3 Xây dựng mô hình ước lượng ước lượng các nhân tố về khả năng tiếp cận giáo dục của Giáo dân di cư vùng nhà thờ Thái Hà, Hà nội
73
Trang 74.3.1 Sự khác biệt giữa nam và nữ về cơ hội tiếp cận với giáo dục
4.3.2 Tìm hiểu sự khác biệt giữa các nhóm tuổi về khả năng tiếp
Trang 8đi làm ăn xa nhằm tìm kiếm những cơ hội việc làm và thu nhập tốt hơn Do vậy, di
cư trở thành một vấn đề có tính quy luật giống như quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở các quốc gia khác
Cũng giống nhiều đô thị lớn khác như thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Biên Hoà hiện tượng di cư trong những năm gần đây ngày càng lớn; riêng với Hà Nội, hiện tượng di cư phát triển mạnh hơn cả Với những chính sách đô thị hoá và mở rộng Hà Nội, gắn liền với phát triển công nghiệp, mở rộng các ngành dịch vụ, xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng đầu tư nước ngoài cùng với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng kinh tế thị trường, của các thành phần kinh tế đã tạo ra nhiều việc làm với lao động đơn giản, thu hút nhiều lao động từ tỉnh ngoài đến Bên cạnh đó, thực trạng tốt của môi trường giáo dục, đào tạo, nghiên cứu, điều kiện y tế, chăm sóc sức khoẻ, đời sống văn hoá tinh thần là những động lực hấp dẫn nhiều người đến Hà Nội để lập nghiệp, phát triển bản thân và mưu cầu cuộc sống tốt đẹp hơn
Dưới những hoàn cảnh mới, những mối quan hệ mới, lối sống hoàn toàn mới, để thích nghi với môi trường sống mới - môi trường đô thị với nhịp độ phát triển cao của công nghịêp hoá, hiện đại hoá, với cơ sở hạ tầng khác hẳn với môi trường sống
ở nông thôn, người di cư đến Hà Nội thực sự gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình
Trang 9học tập, làm việc và ổn định cuộc sống tại nơi hoàn toàn xa lạ và mới đối với mình Những bất cập đó đã đẩy không ít người di cư đến cảnh bần cùng và tham ra vào các tệ nạn xã hôi Vì vậy, cuộc sống của họ sẽ diễn biến theo chiều hướng nào, hoặc tốt lên hoặc xấu đi? Cơ hội tiếp cận với các dịch vụ xã hội của họ ra sao; mà đặc biệt là với giáo dục? Điều này vẫn còn là câu hỏi mở đối với các nhà hoạch định chính sách
Xuất phát từ thực tế nên trên, đề tài luận văn thạc sỹ “Nghiên cứu đánh giá thực
trạng về Giáo dân di cư vùng nhà thờ Thái Hà Nội tiếp cận với giáo dục” sẽ đi
tìm hiểu rõ hơn về những Giáo dân di cư đến Hà Nội trong vài năm gần đây Hy vọng nghiên cứu này sẽ cung cấp một cái nhìn bao quát hơn về điều kiện sống cũng như về cơ hội tiếp cận với giáo dục của họ, đồng thời những thông tin này sẽ phần nào giúp các nhà hoạch định chính sách xây dựng các chiến lược phát triển cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân di cư, góp phần nâng cao nhận thức và điều kiện sống của người dân nói chung - một trong nhiều nhân tố thúc đẩy sự phát triển của Hà Nội cũng như của cả nước
Mặt khác, xuất thân là một cán bộ nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu Giới, Gia đình và Môi trường trong Phát triển, với chức năng cơ bản của Trung tâm là nghiên cứu các vấn đề về Giới, Gia đình và Môi trường ở Việt Nam từ góc độ phát triển con người và trong mối quan hệ tương tác với các vấn đề này; Và một trong nhiều
sứ mệnh của Trung tâm đó là: Phát hiện những vấn đề xã hội nẩy sinh từ thực tiễn cuộc sống; Tìm giải pháp cho những vấn đề xã hội cơ bản, đặc biệt để tăng cường phát triển nguồn nhân lực, nên tôi chọn để tài nghiên cứu này nhằm chỉ ra một phần bức tranh chung về người di cư tại khu vực Hà Nội, đặc biệt là với các Giáo dân di
cư Những nhận định ban đầu về các Giáo dân di cư sẽ giúp cho Trung tâm xây dựng các hoạt động can thiệp nhằm đáp ứng đúng các nhu cầu cấp thiết trong đời sống và phù hợp với nhóm cư dân đặc thù này, đồng thời làm tiền đề cho việc xây dựng dự án Nâng cao kiến thức và kỹ năng bảo vệ quyền sức khoẻ sinh sản, quyền sức khoẻ tình dục – mở ra cơ hội để các Giáo dân di cư được tiếp cận với các dịch
Trang 10vụ nói chung, trong đó có dịch vụ y tế và được phát triển lành mạnh về mọi mặt, giúp Giáo dân di cư giải quyết những khó khăn và phòng ngừa những nguy cơ phải đối mặt trong quá trình sinh sống, học tập và làm việc tại Hà Nội
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Tìm ra được những yếu tố ảnh hưởng của điều kiện sống với việc tiếp cận giáo dục của các Giáo dân di cư; trên cơ sở đó đề xuất các chính sách xã hội hợp lý, cải thiện điều kiện sống, nâng cao cơ hội tiếp cận với các dịch vụ xã hội mà đặc biệt là tạo điều kiện để họ có cơ hội tiếp cận với giáo dục, nhằm đảm bảo sự đóng góp xây dựng thủ đô, mặt khác không đẩy người dân di cư tham gia các tệ nạn xã hội
3 Giới hạn nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá cơ hội tiếp cận giáo dục của các Giáo dân di cư thông qua các điều
kiện sống
- Chỉ ra những thuận lợi và khó khăn hiện tại mà Giáo dân di cư gặp phải trong
quá trình học tập cũng như làm việc tại Hà Nội
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Câu hỏi nghiên cứu/ giả thiết nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu
- Các Giáo dân di cư có cơ hội tiếp cận với giáo dục không?
- Những yếu tố về điều kiện sống có cản trở các Giáo dân di cư tiếp cận giáo dục không?
Giả thuyết nghiên cứu
- Giáo dân di cư ít có cơ hội tiếp cận với giáo dục
- Những thay đổi về điều kiện sống và công ăn việc làn của các Giáo dân di cư
thực sự có ảnh hưởng đến việc tiếp cận với giáo dục
Trang 112 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu:
Những Giáo dân từ nông thôn ra Hà Nội tìm việc làm đang tham gia sinh hoạt tại nhà thờ Thái Hà, quận Đồng Đa, Hà Nội
- Đối tượng nghiên cứu
Cơ hội tiếp cận với giáo dục của các Giáo dân di cư vùng nhà thờ Thái Hà, Hà Nội
3 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu
- Hình thức nghiên cứu của đề tài này thuộc loại hình nghiên cúu cơ bản, bước
đầu nhằm tìm hiểu thực trạng về Giáo dân di cư tiếp cận với giáo dục
- Các phương pháp tiếp cận: sử dụng phối hợp các phương pháp sau:
+ Nghiên cứu tài liệu
+ Điều tra khảo sát
+ Phỏng vấn sâu
4 Phạm vi, thời gian khảo sát
- Phạm vi nghiên cứu
§ Vùng dân cư nhà thờ Thái Hà, Quận Đống Đa, Hà Nội
§ Những Giáo dân di cư đến Hà Nội trong vòng 5 năm trở lại
- Thời gian tiến hành khảo sát
§ Từ tháng 3/2007 đến tháng 11/2007
Trang 12Một là: Tình trạng đô thị hoá đang diễn ra tại các khu vực nông thôn khiến cho diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp1
Hai là: Năng suất sản xuất nông nghiệp thấp dẫn đến thu nhập của người nông dân thấp2
Ba là: Thời gian nông nhàn nhiều3
Bốn là: Khoảng cách chênh lệch về mức sống, thu nhập, cơ hội việc làm ngày càng gia tăng giữa thành thị và nông thôn4
Ngoài ra còn có nhiều nguyên nhân khác như chính sách của nhà nước về quản
lý hộ khẩu, các chủ trương và chính sách về di cư
Các chuyên gia của Viện Khoa học xã hội Việt Nam nhận định rằng, tuy Việt Nam
là một nước nông nghiệp nhưng việc làm giàu từ nông nghiệp lại là một bài toán
3 Tỷ lệ thời gian sử dụng lao động của lực lượng lao động ở khu vực nông thôn là 80.65% ( www.tchdkh.org.vn/tchitiet.asp?code=2205 )
4 Chênh lệch về thu nhập giữa khu vực thành thị và nông thôn năm 2006 là 2.16 lần ( www.tchdkh.org.vn/tchitiet.asp?code=2205 ) Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê, tính đến thời điểm ngày 1 tháng 4 năm 2005, thì cả nước có khoảng hơn 1,5 triệu người di
chuyển nơi cư trú (Điều tra biến động về dân số và KHHGĐ năm 2005 _ Tổng cục Thống Kê)
Trang 13khó cho người nông dân Những năm gần đây, tỷ trọng dân số thành thị ngày một tăng và đạt 27% vào năm 2005 Nhà nước ta dự kiến phấn đấu để tỷ trọng dân số thành thị đạt 40% vào năm 2020; bởi vậy, thoát ly khỏi ruộng đồng đi tìm kế sinh nhai ở nhiều đô thị, vùng miền khác là hiện tượng không mới mẻ đối với nông thôn Việt Nam5 Điều này có nghĩa là sẽ có luồng di cư vào các đô thị: tỷ suất nhập cư đến các vùng Đồng bằng sông Hồng là 2,5‰, Đông Nam Bộ là 13,5‰ và Đồng bằng sông Cửu Long là 1,1‰6 Một số liệu điều tra mới nhất năm 2006 cho thấy
trong tống số 486.500 người di cư giai đoạn 5 năm trước cuộc điều tra, số người đến khu vực thành thị chiếm 57%, tiếp đến là luồng di cư nông thôn - nông thôn (30%).7Dưới tác động của toàn cầu hóa, những khác biệt mức sống, chênh lệch trong thu nhập, cơ hội việc làm, sức ép sinh kế, tiếp cận dịch vụ xã hội giữa các khu vực, vùng miền đã trở thành những nguyên nhân cơ bản tạo nên các dòng di cư hiện nay
So với di dân đến nông thôn, di chuyển dân số ra thành thị đa dạng hơn về thể loại Mức tăng trưởng nhanh và đầu tư nước ngoài tăng mạnh trong những năm qua đã thu hút khá hiệu quả lực lượng lao động nhập cư Với những cải cách theo cơ chế thị trường, Hà Nội cũng đã trở thành một trong nhiều tâm điểm của sự di cư Nhiều cuộc điều tra đã chỉ ra rằng lao động ngoại tỉnh vào Hà Nội tìm việc làm trong một vài năm gần đây có xu hướng ngày càng gia tăng Hà Nội mỗi năm lại có thêm 22.000 người di chuyển từ các tỉnh khác tới và phần nhiều là vào khu vực nội thành (TCTK, 2001) Theo điều tra của Công an thành phố Hà Nội, số lượng lao động ngoại tỉnh vào Hà Nội trong năm 2003 là 77.001 người, riêng 6 tháng đầu năm 2004
là 32.601 người Hầu hết người di cư tự do tại Hà Nội là từ các vùng nông thôn, trong số đó đa phần di cư theo mùa vụ và di cư tạm thời, chiếm 78.5% số người di
cư tự do vào Hà Nội Người di cư vào Hà Nội chủ yếu là từ các tỉnh đồng bằng sông Hồng, chiếm 69% (phần nhiều là từ Nam Định, Hà Nam, Hưng Yên, Hà Tây, Bắc
5 Nguồn: “Di dân từ nông thôn vào đô thị - Hiện trạng và thách thức cho phát triển đô thị”, Đồng Bá Hướng _ Vụ trưởng vụ thống
kê Dân số và Lao động, Tổng cục Thống kê ( http://www.tapchicongsan.org.vn/print_preview.asp?Object=4&news_ID1833323 )
6
Theo số liệu điều tra biến động dân số và KHHGĐ 1/4/2006 của Tổng cục thống kê.
7 Nguồn: “Di cư và giảm nghèo ở nông thôn: Một số vấn đề thực tiễn và chính sách“, PSG, TS Đặng Nguyên Anh
Trang 14Ninh ), tiếp đến là các tỉnh miến núi trung du phía Bắc (Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hoà Bình, Thái Nguyên) và Bắc trung bộ (chủ yếu là Thanh Hoá)8
Mặc dù đã có một số cuộc điều tra về dân di cư được thực hiện nhưng chưa có cuộc điều tra nào thực sự gắn vấn đề di cư với các điều kiện kinh tế và xã hội mà người di cư nước ta đang phải đối mặt Ở nước ta, cuộc điều tra đầu tiên được tiến hành vào năm 1994, thuộc loại điều tra nhân khẩu học và sức khoẻ Đến năm 2004, Tổng cục Thống kê quyết định tiến hành điều tra di cư Mục tiêu chính của cuộc điều tra di cư Việt Nam, 2004 là bổ sung sự thiếu hiểu biết hiện nay về quyết định
và kết quả của di cư Như vậy, cho đến thời điểm này nhiều thông tin có liên quan tới các điều kiện kinh tế, xã hội của người di cư đến Hà Nội chưa được đưa ra và cũng chưa có những nhận định chuyên biệt về dân di cư công giáo Tính đến thời điểm năm 2004, đã có nhiều nghiên cứu về đối tượng di cư được công bố như : Tống Văn Đường, 1995; Doãn Mậu Diệp và các tác giả, 1996; Đỗ Văn Hoà, 1998;
Vũ Thị Hồng và các tác giả, 2003 , những nghiên cứu này đã chỉ ra nguyên nhân ban đầu của di cư, các đặc điểm đặc trưng cơ bản của di cư, việc làm và thu nhập của dân di cư nói chung v.v
Trong nghiên cứu về “Di cư tự do đến Hà Nội - Thực trạng và giải pháp” của TS
Hoàng Văn Chức, 2003 có đề cập đến tính hình di cư của người lao động trong những năm 1980 – 1990 Chỉ ra những nguyên nhân của di cư xuất phát từ sự chuyển đổi sang kinh tế thị trường Nghiên cứu cũng đặc biệt nhấn mạnh đến thực trạng di dân tự do đến Hà nội và những ảnh hưởng của di dân tự do đến môi trường, đến cơ sở hạ tầng của thành phố, đến việc quản lý nhân khẩu, các tệ nạn xã hội, trật tự an toàn xã hội v.v - những vấn đề đang ngày càng trở nên nan giải hơn khi dòng người đổ xô về đô thị ngày càng nhiều
Trên tạp chí Khoa học về phụ nữ có bài viết “Chiều cạnh giới của di cư lao động
thời kỳ CNH, HĐH đất nước” của PGS.TS Đặng Nguyên Anh, 2005 xem xét đặc
trưng của di dân nhìn từ góc độ giới, tập trung đánh giá loại hình di dân lao động nữ
8 Nguồn: “Di cư tự do đến Hà Nội - Thực trạng và giải pháp”, TS Hoàng Văn Chức, Hà Nội 2004
Trang 15ra đô thị và đến các khu công nghiệp, chế xuất Bài viết cho thấy sự gia tăng về quy
mô, tỷ trọng cũng như các loại hình di cư nữ, đặc biệt đến khu vực thành thị, các khu công nghiệp là một thực tế khách quan phản ánh quy luật phát triển trong thời
kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Bên cạnh đó là những bất cập, những khó khăn trở ngại mà phụ nữ phải đối diện trong quá trình di cư khi mà các chính sách, môi trường xã hội và pháp lý chưa tạo điều kiện thuận lợi để đảm bảo quyền lợi cho họ
Còn khi xem xét người di cư dưới khía cạnh tiếp cận các dịch vụ xã hội thì sao? Thực tế, nhiều nghiên cứu về dân số cũng đã tìm hiểu về khả năng tiếp cận các dịch
vụ nói chung của người di cư, chẳng hạn như:
Chuyên đề nghiên cứu ”Chất lượng cuộc sống của người di cư Việt Nam” của Tổng
cục thống kê thực hiện năm 2006 Nghiên cứu này quan tâm xem xét tác động của
di cư với bản thân những người di cư Chất lượng cuộc sống của người di cư được
đề cập trong báo cáo này đã mô tả các yếu tố quyết định sự thành công của di cư (cả khách quan và chủ quan) liên quan tới thu nhập, nhà ở, phúc lợi và an ninh nơi chuyển đến Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả di cư bao gồm từ các cơ hội kinh tế, tính sẵn sàng về nhà ở và các điều lệ, quy định của địa phương nơi đến, loại di cư, tức là di cư tạm thời, chuyển đến nơi mới rồi lại quay về, tạm trú dài hạn hoặc kết hợp của các hình thức trên, các hỗ trợ mà người di cư có thể có được thông qua hoặc hệ thống phúc lợi xã hội chung hoặc mạng lưới xã hội riêng của người di cư
Chuyên khảo ”Di cư trong nước và mối liên hệ với các điều kiện sống” do Tổng
cục thống kê thực hiện cũng trong năm 2006 nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc hoạch định chính sách và kế hoạch hoá phát triển các lĩnh vực khác nhau có tính đến sự khác biệt giữa các nhóm di cư Mục tiêu chính của chuyên khảo này là miêu tả mối quan hệ giữa di cư và các sự kiện cuộc sống Các sự kiện được phân tích xem xét bao gồm: việc làm, thay đổi nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, học vấn, sinh đẻ Tập trung phân tích các mô hình di cư theo chu trình cuộc sống, gắn với các nguyên nhân và hậu quả chính của di cư
Trang 16Hay như trong chuyên đề nghiên cứu "Di cư và sức khoẻ" năm 2006 của Tổng cục
thống kê đã chỉ ra những nhân tố tác động trực tiếp đến sức khoẻ của người di cư, bao gồm lối sống, các điều kiện kinh tế - xã hội (điều kiện sống và làm việc) và "cơ hội sống" (như nơi sinh, giáo dục, cơ hội việc làm; sự phân biệt đối xử và bất bình đẳng giới) Việc phân tích những nhân tố có liên quan đến quá trình di cư có tác động đến sức khoẻ đã cho biết người di cư có phải là nhóm yếu thế của xã hội không Chính các nhân tố này hoặc thúc đẩy hoặc cản trở cơ hội hoàn thành việc di
cư của từng cá nhân và cộng đồng Bên cạnh đó, chuyên đề cũng đưa ra một số nhân tố khác có liên quan đến chính quá trình của sự di cư, gắn liền với các điều kiện khác nữa của di cư này cũng có ảnh hưởng tới sức khoẻ của người di cư
Nhưng chưa hề có một nghiên cứu chính thức nào đề cập đến cơ hội tiếp cận với giáo dục của người di cư dựa trên những điều kiện sống của chính bản thân họ Và
với nhóm người di cư là người Công giáo thì lại càng chưa có nghiên cứu nào Với những lý do nêu trên, tôi đã chọn vấn đề này để: một mặt xem xét đời sống kinh tế
xã hội nói chung của Giáo dân di cư, mặt khác đánh giá những cơ hội tiếp cận với các dịch vụ xã hội của họ, mà đặc biệt là cơ hội tiếp cận giáo dục dựa trên những điều kiện sống của họ Hy vọng những kết quả thu được từ nghiên cứu này sẽ góp phần xây dựng những chính sách hỗ trợ người di cư nói chung và Giáo dân người di
cư nói riêng trên bước đường mưu sinh ổn định cuộc sống
II MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ ĐỊNH NGHĨA CƠ BẢN
Hình thức nghiên cứu của đề tài này là nghiên cứu cơ bản, bước đầu nhằm tìm hiểu thực trạng về các Giáo dân di cư tiếp cận với giáo dục thông qua các điều kiện sống
Do vậy, hướng tiếp cận của nghiên cứu này chính là nghiên cứu chu trình sống: nghiên cứu những thay đổi của cá nhân theo thời gian trong mối liên quan với các
sự kiện sống Với hướng nghiên cứu này, cho phép nghiên cứu tập trung vào cá nhân người di cư và những sự kiện diễn ra trong quá trình di chuyển của họ, gắn liền các sự kiện kinh tế - xã hội của cuộc sống, với cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội nói chung, trong đó có cơ hội tiếp cận với giáo dục
Trang 171 Sự di cư (Lịch sử di cư)
Cho đến nay, sự di cư đã trở thành một phần quan trọng trong lịch sử của Việt Nam Trong quá trình phát triển đất nước, việc di cư đều đặn đã giúp mở rộng biên giới đất nước dưới chế độ phong kiến Tại thời điểm đó, thiếu đất nông nghiệp đã trở thành một trong nhiều lý do của sự di cư Trong thời kỳ Pháp thuộc (1858 – 1954) những người không có đất đi từ nông thôn tới thành thị, nhiều lao động túng bấn xa rời làng quê để tới những miền đất khác Như vậy, mùa di cư cứ thế quay vòng do
sự di chuyển của những người lao động nông nghiệp9
Thứ đến sự phân chia đất nước tại thời điểm năm 1954 đã dẫn đến một sự di cư lớn giữa 2 miền Nam, Bắc Việc ra đời của nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà và chiến tranh với để quốc Mỹ đã có những ảnh hưởng đáng kể tới mô hình di cư trong nước Trong thời gian này, sự phát triển của một cơ cấu quản lý kinh tế xã hội tập trung vào việc làm và hỗ trợ của nhà nước cho dân cư ở những nơi định cư ổn định
đã làm giảm sự di cư trong nước ở miền Bắc10
Sau năm 1975, quá trình di dân nông thôn để khai khẩn đất hoang đã trở thành chính sách chiến lược của nhà nước nhằm phân bổ lại một cách hợp lý lực lượng sản xuất giữa các vùng
Với thời kỳ đổi mới, đại diện cho "một sự chuyển dịch cơ cấu từ hệ thống kinh tế tập trung từ trung ương sang một nền kinh tế thị trường Sự tăng lên của việc thương mại hoá lao động có đầu tư tài chính là một yếu tố chính giải phóng cho lực lượng lao động nông thôn và thúc đẩy họ rời bỏ nông thôn".11
Đối với cộng đồng Giáo dân:
Cuộc di dân lớn nhất của người Công giáo dân diễn ra vào năm 1954 Sau khi kháng chiến chống Pháp 1946-1954 kết thúc, hàng nghìn người dân Công giáo đã
bỏ miền Bắc, nơi chế độ cộng sản nắm chính quyền, để vào Nam; trong khi đó, những người cộng sản lại tập kết ra Bắc Có nhiều đánh giá về số người di cư Phủ
8, 9 10 Nguồn: “Báo cáo đánh giá nhanh về tình hình trẻ em di cư tại Việt Nam” Save the Children UK, tháng 1/2006
Trang 18
Tổng uỷ Di cư (TUDC), cơ quan do chính quyền Ngô Đình Diệm lập ra phụ trách
về vấn đề di cư và định cư, đưa ra con số 928.152 người di cư tại thời điểm đó12
"Cuộc di cư là hệ quả trong cuộc đụng độ giữa chính quyền cách mạng với các thế lực chống cộng ở Việt Nam sau Hiệp định Giơnevơ Nếu không có những áp lực từ nhiều phía cả trong và ngoài Giáo hội, tự thân giáo dân Bắc Kỳ ít có nguyện vọng di
cư Họ đã không được tự do trong việc quyết định di cư hay ở lại, không được tự
do lựa chọn nơi cư trú theo ý muốn của mình theo tinh thần Hiệp định Giơnevơ."13 Đến nay, vẫn còn nhiều cách nhìn khác nhau về cuộc di dân này; nhưng nhìn chung, các cuộc di cư trước năm 1975 đều mang màu sắc chính trị
Cùng với sự đổi mới và ngày một phát triển của xã hội, tình hình di cư của đồng bào Công giáo đang ngày càng gia tăng Giáo hội Công giáo đã có những lo ngại trước việc tình hình giáo dân bỏ làng mạc, đổ xô vào các thành phố lớn kiếm việc làm Theo Linh mục Paul Phạm Trung Dong, hiện nay tính bình quân cả nước người Công giáo chiếm 7% Con số này chưa ổn định vì phần nhiều anh chị em di dân thay đổi chỗ ở luôn, tùy theo việc làm, lương bổng, điều kiện sinh hoạt, vật giá
và hoàn cảnh riêng từng người Giáo hội đã khẳng định rằng với người di dân chắc chắn phải quan tâm trước tiên đến đời sống đạo của họ, nhưng cũng phải để ý đến các vấn đề khác của họ như sức khoẻ, nghề nghiệp, nhà ở, giải trí v.v đến cả công bằng xã hội nữa Tuy sống di cư nhưng các anh chị em di dân cũng có những sinh hoạt chung như: Cắm trại họp mặt, thi đấu thể thao, tĩnh tâm chung, sinh hoạt chung v.v Là một tôn giáo có tổ chức chặt chẽ, có tính cộng đồng cao nên Giáo dân di cư đều nhận được sự quan tâm của Giáo xứ, cộng đoàn Ngày 13/01 đã trở thành ngày Quốc tế Di dân, tuần lễ di dân đối với người Công giáo di cư
Như vậy, di cư đã trở thành là một đòi hỏi tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị trường Những khác biệt mức sống, chênh lệch trong thu nhập, cơ hội việc làm, sức
12 Nguồn: Cuộc phỏng vấn với Linh mục Paul Phạm Trung Dong - Ủy Ban Mục vụ Di dân của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam
Thực hiện Minh Nguyên ( http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/index.htm )
13 Nguồn: Vài nét về cuộc di cư của giáo dân Bắc Kỳ sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954 TS Nguyễn Quang Hưng
( www.vae.org.vn )
Trang 19ép sinh kế, tiếp cận dịch vụ xã hội giữa các khu vực, vùng miền đã tạo thành nguyên nhân của các dòng di cư hiện nay
2 Một vài nét về Giáo dân di cư vùng Nhà thờ Thái Hà, Hà nội
Trong các giáo xứ ở Hà Nội, Giáo xứ Thái Hà là nơi tập trung đông lao động nhập
cư nhất, và Giáo xứ này được gọi là “Giáo xứ nhà nghèo”14 Trong đánh giá sơ bộ ban đầu của các linh mục Giáo xứ thì ở đây hiện đang có khoảng 1.000 giáo dân tham gia sinh hoạt, chủ yếu là phụ nữ ở các địa phương khác nhập cư vào Hà Nội Phần nhiều giáo dân là người từ các tỉnh Hà Tây, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình,
Hà Nam, Phú Thọ v.v có tuổi đời từ 15 đến 55 Thực tế cho thấy hầu hết Giáo dân
di cư thường là những người trẻ tuổi Tại Giáo xứ Thái Hà cũng vậy, Giáo dân di cư phần nhiều là tầng lớp thanh niên trong khoảng tuổi từ 23 đến 29 - những thành phần trẻ, năng động Trong đó phần nhiều là lao động phổ thông, chủ yếu làm nghề mua bán phế liệu hoặc giúp việc gia đình Số ít còn lại là cán bộ công chức nhà nước đến tham dự các sinh hoạt tôn giáo, số khác vừa đi làm vừa đi học Nhóm lao động đặc thù này thường gặp các vấn đề về đời sống, việc làm, nhà ở, đặc biệt là việc tiếp cận với các dịch vụ y tế, giáo dục v.v phần do thiếu thông tin, phần do tính chất nghề nghiệp tạo nên Chính vì vậy, việc tiếp cận và đảm bảo các quyền lợi
về mọi mặt cho các Giáo dân nhập cư chưa được thực hiện đầy đủ và toàn diện
3 Người di cư
Theo TS Kinh tế học Lao động Harvey B.King "di cư thường được hiểu là chuyển đến một chỗ ở khác cách chỗ ở cũ một khoảng đủ lớn buộc người di cư phải thay đổi “hộ khẩu thường trú”: chuyển đến một thành phố khác, một tỉnh khác hay một nước khác".15
Trang 20Di cư và nhập cư được coi là 2 khái niệm tương đồng nhau Nhập cư là hành động
di chuyển chỗ ở đến vào một vùng hay một quốc gia mới Dân nhập cư là người dân
di chuyển từ một vùng đến một vùng khác để sinh sống, tạm trú
Trong cuộc điều tra di cư Việt Nam năm 2004, người di cư cũng được định nghĩa là những người di chuyển từ quận/huyện này sang quận/huyện khác: "Người di cư là những người từ 15 – 59 tuổi di chuyển từ quận/huyện này sang quận/huyện khác trong vòng 5 năm trước thời điểm điều tra và đã cư trú trên địa bàn điều tra từ một tháng trở lên Một người di cư từ quận này sang quận khác trong nội thành phố trong khoảng thời gian 5 năm trước điều tra được xem là người không di cư".16 Thực tế, nhiều nghiên cứu cả trong và ngoài nước đã chỉ ra rằng không có một định nghĩa duy nhất về người di cư Tuỳ theo mục đích di cư của người di cư để phân chia thành nhiều hình thức khác nhau: có thể di cư để định cư, di cư thời hạn dài và
di cư thời gian ngắn hạn Sự phân biệt giữa hai loại sau này được thực hiện theo thời gian cư trú dự kiến
Với những điểm nêu trên, các Giáo dân di cư trong nghiên cứu này được định nghĩa
như sau: là những người có tôn giáo, tín ngưỡng của riêng mình (Đạo Thiên chúa
giáo) từ 15-50 tuổi, dưới những tác động khác nhau của môi trường xã hội, hoàn cảnh địa lý, kinh tế v.v di chuyển từ tỉnh/thành phố này sang tỉnh/thành phố khác
để lập nghiệp, sinh sống; sự di chuyển này có khoảng cách về mặt địa lý đủ để Giáo dân đó phải thay đổi hộ khẩu thường trú hoặc khai báo tạm trú dài hạn (từ 3 tháng trở lên, trước thời điểm thực hiện khảo sát) Các trường hợp di chuyển trong cùng
khu vực thành thị/nông thôn không được coi là người di cư và không được xem xét trong khảo sát này
Xét đến cùng, có thể hiểu sự di cư như là một quá trình mà theo thời gian nó sẽ làm thay đổi bản thân các điều kiện đã làm nảy sinh ra nó với thái độ và các sự kiện của những người đã di cư, hay nói cách khác là bởi nó gắn liền với các sự kiện diễn ra trong đời sống như học tập, hôn nhân, thay đổi nghề nghiệp v.v
16 Nguồn: Điều tra di cư năm 2004: Di cư trong nước và mối liên hệ với các sự kiện của cuộc sống Tổng cục Thống kê, tháng 11
năm 2006)
Trang 214 Khái niệm về tiếp cận dịch vụ xã hội
4.1 Khái niệm chung về tiếp cận dịch vụ xã hội
Khái niệm tiếp cận ở đây được hiểu là cơ hội đến gần các nguồn lực và có khả năng
sử dụng nguồn lực Tiếp cận dịch vụ xã hội đã trở thành một thuật ngữ quen thuộc,
và cũng là một trong nhiều nội dung gắn bó chặt chẽ với các hoạt động xã hội trong chiến lược phát triển bền vững của các quốc gia Dịch vụ xã hội chính là cầu nối để mỗi cá nhân khắc phục trở ngại về trình độ học vấn, khả năng và trình độ tay nghề, khả năng tiếp cận thông tin về việc làm v.v bảo đảm cuộc sống Như vậy "tiêu chí
và phạm vi dịch vụ xã hội chính là khả năng cung ứng dịch vụ xã hội cần thiết, khả
năng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ xã hội, năng lực kiểm soát các dịch vụ xã hội của các cơ quan quản lý"17
4.2 Cơ hội tiếp cận với giáo dục
Có 5 tiêu chí cần thiết để đảm bảo quyền lợi của công dân cũng như của người nhập
cư đối với giáo dục, đó là: (i) không có sự phân biệt đối xử, (ii) có đủ khả năng tiếp
cận, (iii) có đầy đủ các điều kiện cần thiết, (iv) có khả năng chấp nhận và (v)theo đuổi đến cùng Có thể nhiều nguyên tắc cơ bản trong các khía cạnh của yêu cầu này
là cơ hội tiếp cận với giáo dục Tiếp cận với giáo dục đã được ngầm hiểu thông qua nhiều nhân tố Chúng ta hiểu tiếp cận giáo dục nghĩa là như thế nào? Có 3 khuynh hướng tiếp cận giáo dục Điều này có nghĩa giáo dục phải thể hiện:
+ Tất cả đều không có sự phân biệt đối xử (cả trong luật và thực tế)
+ Có khả năng tiếp cận một cách tự nhiên
+ Và có khả năng về tài chính.18
Như vậy, tiếp cận giáo dục ở đây cần thiết phải được hiểu là sự chủ động tiếp cận
của cá nhân, là xem xét đến khả năng liệu cá nhân có hội tụ đủ những điều kiện cần thiết để tiếp cận với nguồn lực phát triển hay không?
Trang 22Cùng với quan điểm trên, TS Munir Mahmud cho rằng nhu cầu, cơ hội tiếp cận với giáo dục chủ yếu phụ thuộc vào bốn nhân tố chính, đó là:
1 Khác biệt về mức lương hay thu nhập (giữa người có học và không học)
2 Khả năng thành công trong việc tìm kiếm công ăn việc làm trong khu vực hiện tại (tỷ lệ thất nghiệp)
3 Các chi phí riêng trực tiếp cho giáo dục (tiền học phí)
4 Chi phí cơ hội hay gián tiếp cho giáo dục (tiền có thể kiếm được thay vì không đi học).19
Khi không có đủ nguồn lực để thoả mãn/đảm bảo nhu cầu của các cá nhân/xã hội, các cá nhân/xã hội phải đưa ra sự lựa chọn trong số các lựa chọn thay thế cạnh tranh
để kiến tạo nên cơ hội phát triển bản thân; Và cũng bởi sự phát triển nhanh chóng số
lượng các cơ hội giáo dục là một nhân tố then chốt để các cá nhân phát triển bản
thân và thích ứng với hoàn cảnh mới
Trong nghiên cứu này, cơ hội tiếp cận giáo dục được xem xét thông qua các điều kiện sống của chính bản thân người di cư: sự ảnh hưởng của tính chất di cư, việc làm, thu nhập và các điều kiện vật chất khác v.v nhằm đáp ứng những yêu cầu thiết yếu cho việc tiếp cận với giáo dục Cơ hội tiếp cận giáo dục của các Giáo dân
di cư được xem xét dưới các khía cạnh sau:
1 Năng lực bản thân (trình độ văn hoá)
2 Tính ổn định cá nhân (thời gian sống và làm việc ở Hà nội)
3 Khả năng về tài chính (mức thu nhập)
4 Cơ hội được học tập và đào tạo thêm về lĩnh vực chuyên môn, công việc
5 Các chi phí trực tiếp cho giáo dục (tiền học phí)
6 Cơ hội gián tiếp cho giáo dục: thời gian dành cho việc học tập và phát triển bản thân
Đây có thể coi là yếu tố nền tảng để cá nhân người Công giáo di cư xem xét hoàn cảnh và lựa chọn xu hướng phát triển bản thân
19 Nguồn: Giáo trình Kinh tế học: Giáo dục và Phát triển TS Munir Muhmud, người dịch Lê Thu
( www.kinhtehoc.com/index.php?name=pnforum )
Trang 23CHƯƠNG 2
Phương pháp nghiên cứu khoa học
I VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1 Xây dựng bộ công cụ đo lường
Trong nghiên cứu này, bảng hỏi được xây dựng để thu thập thông tin từ các đối tượng là người Công giáo từ nhiều tỉnh thành di cư đến Hà Nội làm ăn, sinh sống và hiện đang tham gia sinh hoạt tôn giáo tại nhà thờ Thái Hà Bảng hỏi được thiết kế
để sử dụng chung cho các đối tượng Công giáo di cư, không phân biệt nam, nữ, lứa tuổi, trình độ văn hoá, thành phần gia đình v.v Nội dung của bảng hỏi sẽ bao gồm các phần sau:
1/ Thông tin chung về đối tượng: giới tính, năm sinh, nơi xuất cư, dân tộc, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp trước khi di cư và nơi ở sau khi nhập cư Hà nội
2/ Lịch sử di cư
3/ Điều kiện - chất lượng cuộc sống
4/ Cơ hội tiếp cận với các dịch vụ xã hội, đặc biệt chú ý đến việc xem xét cơ hội tiếp cận giáo dục
5/ Những khó khăn hiện tại, nhu cầu và mong muốn của các Giáo dân di cư
Sau khi bảng thu thập thông tin được thiết lập và đưa vào thử nghiệm, áp dụng lý thuyết đánh giá thông qua kiểm nghiệm mô hình Rasch và phân tích bằng phần mềm chuyên dụng Quest và SPSS để phát hiện ra những câu hỏi không phù hợp với mục đích nghiên cứu đã đặt ra
Mô hình Rasch chính là mô hình lý thuyết hồi đáp trong đó điểm của từng đặc tính của một cá nhân được tính tổng cộng lại Nó cũng là mô hình đơn giản nhất cho các thông số nhỏ nhất về một người (chỉ một khía cạnh) và cũng có thể chỉ một thông số tương quan với các mức biểu hiện của một câu hỏi Thông số của câu hỏi nhìn chung được đề cập như là một ngưỡng biểu hiện của người đó
Trang 24Phân tích theo mô hình Rasch dựa trên điểm tổng cộng của một người theo các câu trả lời được hình thành theo nhiều yêu cầu cơ bản: có sự so sánh giữa hai người riêng biệt với những câu hỏi được sử dụng trong bộ câu hỏi đánh giá cùng khía cạnh Vì vậy, mô hình Rasch được thực hiện như một tiêu chí về cấu trúc của câu trả lời mà các câu trả lời này được sẽ được thống kê
Đại lượng cần đo được hình dung như là một đường nào đó (thẳng hoặc cong) và kết quả đo lường được mô tả như một điểm đặt trên đường đó Điều kiện cốt yếu để người trả lời được câu hỏi được xem xét qua hai đại lượng:
Năng lực của người tham gia trả lời (tham biến năng lực hay tham biến người trả lời)
Độ khó của câu hỏi (tham biến độ khó hay tham biến câu hỏi)
Năng lực của người trả lời và độ khó của câu hỏi là những đại lượng được phân bố trên đường đặc trưng có tính liên tục bao gồm các giá trị của đại lượng cần đo Thông thường, với các câu hỏi được
sử dụng để định cỡ, thì độ khó của các câu hỏi giữ vai trò thang giá trị thể hiện dọc theo đường đặc trưng của đại lượng cần đo
Lý thuyết hồi đáp quan tâm đến xác suất trả lời đúng đối với một câu hỏi Xác suất đó được thể hiện
là một hàm số của năng lực người trả lời và độ khó câu hỏi và có thể có thêm một số tham biến khác (ví dụ: mức độ đoán mò)
Những hàm số xác suất khác nhau (thể hiện mối quan hệ giữa năng lực người trả lời và độ khó câu hỏi) dẫn đến những mô hình lý thuyết hồi đáp khác nhau
Xác suất trả lời đúng một câu hỏi được biểu thị bằng một hàm số liên quan đến năng lực của người trả lời θ (hàm P(θ) – một đường cong đặc trưng của câu hỏi)
Việc tính toán theo mô hình Rasch thường được tiến hành như sau: người ta lấy số liệu thực nghiệm
từ kết quả trả lời các câu hỏi của một bài trắc nghiệm trên một nhóm mẫu người tham gia trả lời nào
đó, từ đó phỏng tính các số đo năng lực của mỗi người và độ khó của từng câu hỏi Từ các số đo phỏng tính này người ta tính toán các đường cong đáp ứng câu hỏi, so sánh với các đường cong được dựng từ số liệu thực nghiệm và xem xét độ phù hợp giữa chúng theo một tiêu chuẩn nào đó Nếu độ phù hợp chưa đạt mức chính xác quy định, quá trình tính toán được lặp lại cho đến lúc đạt được sự phù hợp mong muốn Các phép tính lặp được thực hiện nhanh chóng nhờ máy tính điện tử Thực tế áp dụng IRT chứng tỏ lý thuyết này cho phép tạo dựng các phép đo lường trong giáo dục thoả mãn hai yêu cầu được đặt ra với một sai số có thể chấp nhận trong thực tế Đó là yêu cầu: mức năng lực xác định được không phụ thuộc vào câu hỏi (item free) và các đặc trưng của câu hỏi trắc nghiệm xác định được không phụ thuộc vào mẫu thí sinh (sample free) Đó là tính bất biến quan trọng được đề ra đối với phép đo lường mà mô hình Rasch cho phép thỏa mãn
(Trích dẫn tài liệu bài giảng lý thuyết đánh giá và Mô hình Rasch trong phân tích kết quả học tập,
2007 của TS Phạm Xuân Thanh)
Trang 25Việc điều chỉnh dựa trên mô hình Rasch sẽ giúp nghiên cứu thu được kết quả đảm bảo tính giá trị và độ tin cậy của các luồng thông tin, cũng như tính lôgíc của phiếu hỏi Kết quả thu được như sau:
1.1 Về lịch sử di cư
Mô hình ban đầu nghiên cứu đưa ra thử nghiệm với 30 items nhằm thu thập các thông tin về mục đích di cư, quyết định di cư, nghề nghiệp sau khi nhập cư, tính chất công việc, sự thay đổi nghề nghiệp, :
Các thông tin có liên quan đến vấn đề Các phưong án trả lời
(code thông tin)
0 Mã số có liên quan đến cá nhân người di cư
1 Số lần di chuyển nơi ở (tỉnh/thành phố này sang tỉnh/thành
Trang 269 Bao nhiêu lâu anh/chị về thăm quê một lần?
10 Mục đích chính của các đợt về quê thường là mang tiền về
cho gia đình 0 1 Không lựa chọn Lựa ch ọn
11 Mục đích chính của các đợt về quê thường là về xin tiền gia
đình
0 Không lựa chọn
1 Lựa chọn
12 Mục đích chính của các đợt về quê thường là Mùa vụ 0 Không lựa chọn 1 Lựa chọn
13 Mục đích chính của các đợt về quê thường là Ngày lễ/quan
thầy của làng 0 Không lựa chọn 1 Lựa ch ọn
14 Mục đích chính của các đợt về quê thường là Thăm gia
15 Mục đích chính của các đợt về quê thường là Khác 0 Không lựa chọn 1 Lựa chọn
16 Công việc chính hiện nay của anh/chị là gì?
27 Công việc của anh/chị là do Trung tâm giới thiệu việc
làm/người môi giới
Trang 27Item Estimates (Thresholds) 6/ 1/ 5 2: 4
all on lichsu (N = 50 L = 30 Probability Level= 50)
4 items with zero scores
1 items with perfect scores
0 cases with zero scores
0 cases with perfect scores
================================================================================
Ta xét các phần nhỏ điều kiện sau:
Phần “Summary of item Estimates”, theo các điều kiện cần kiểm tra trước khi phân
tích, ta thấy:
+ Giá trị Mean = 0.00 bằng Mean điều kiện (bằng 0.00)
+ Giá trị SD = 1.01 xấp xỉ SD điều kiện (bằng 1.00)
Khi dữ liệu phù hợp với mô hình thì:
Mean phải bằng hoặc gần 0.00
SD phải tiến tới 1.00
Mean phải bằng hoặc gần 1.00
SD phải bằng hoặc gần 0.00
Trang 28Nên có thể phân tích bảng dữ liệu item theo mô hình Rasch
Phần “Infit Mean square của Summary of item Estimates”
+ Giá trị Mean = 1.05 xấp xỉ Mean điều kiện (bằng 1.00) + Giá trị SD = 48 hơi lớn hơn SD điều kiện (bằng 0.00)
Nên có thể phân tích bảng dữ liệu item theo mô hình Rasch
Căn cứ vào các thông tin thu được, nghiên cứu cho thấy nhóm câu hỏi này có Mean
và SD đáp ứng đủ điều kiện cần thiết cho việc thiết lập mô hình theo như lý thuyết
mô hình Rasch Do đó, có thể kết luận rằng dữ liệu hoàn toàn phù hợp với mô
hình Rasch
Khi kiểm tra mức độ phù hợp của các câu hỏi (items), kết quả thu được trong file
lichsu.map cũng cung cấp thông tin để kiểm tra mức độ phù hợp của các câu hỏi
thông qua bảng dưới đây:
DKKT TEST LDPT - Item Fit 6/ 1/ 5 2: 4 all on lichsu (N = 50 L = 30 Probability Level= 50) - INFIT MNSQ .32 .42 .59 1.00 1.70 2.40 3.10 -+ -+ -+ -+ -+ -+ -+ -
16 và câu 23 trong nhóm câu hỏi về quá trình di cư của Giáo dân nằm ngoài khoảng cho phép (.80 – 1.30) Trong bảng thu thập thông tin, các câu trên là những thông tin về:
Trang 29(2) Nghề nghiệp của anh/chị trước khi ra Hà Nội?
(5) Lý do của lần di chuyển gần đây nhất?
(8) Anh/chị có tiếp tục ở lại đây lâu dài nữa không?
(16) Công việc chính hiện nay của anh/chị là gì?
(23) Anh/chị tìm công việc có khó không?
Đây là những câu hỏi mà nghiên cứu xác định là có liên quan đến quá trình di cư của các Giáo dân, nhưng kết quả phân tích từ mô hình Rasch lại không cho thấy sự liên kết giữa các thông tin kể trên trong một cấu trúc đã xác định Thực chất những thông tin này không phải là không đóng vai trò quan trọng tạo nên yếu tố di cư của Giáo dân; Nhưng rất có thể theo Giáo dân những thông tin này không quan trọng đối với quá trình di cư của họ hay vì người trả lời không muốn để cập sâu đến việc
di cư của bản thân Các thông tin thu trên theo mô hình phân tích có độ tin cậy kém hơn so với những câu hỏi khác - nằm ngoài khoảng cho phép theo phân tích mô hình Rasch
Để đảm bảo những điều kiện cần thiết cho việc thiết lập một cấu trúc/miền đo, các thông tin trên (hay còn gọi là các yếu tố ngoại lai) cần phải được lược bỏ ra khỏi dữ liệu phân tích để tạo thành một nhóm/miền đo xác định
Sau khi điều chỉnh, rút bớt các câu từ 30 câu xuống nhóm 25 câu, phân tích Quest cho kết quả như sau:
Trang 304 items with zero scores
1 items with perfect scores
0 cases with zero scores
0 cases with perfect scores
================================================================================
Các giá trị Mean và SD vẫn đảm bảo phù hợp mô hình Rasch Tuy nhiên, phân tích
mức độ phù hợp của các câu hỏi, ta có kết quả DKKT TEST LDPT: DKKT TEST LDPT
28 câu hỏi còn lại đều có INFIT MNSQ ở trong khoảng (0.77 - 1.30) do đó chúng
đã tạo thành một cấu trúc đo, hình trên cho thấy không còn một biến ngoại lai nào
tồn tại Điều này có nghĩa là các câu hỏi được sử dụng trong đợt khảo sát này đã đo
Trang 31được đúng cái cần đo, các thông tin quá trình di cư là hoàn toàn có thể tin cậy được
(với Reliability of items estimate = 87)
1.2 Điều kiện - chất lượng cuộc sống: Mô hình nghiên cứu ban đầu đưa ra thử
nghiệm với 33 câu có liên quan đến sự ổn định nghề nghiệp, mức thu nhập đảm bảo cuộc sống, trách nhiệm với gia đình, sự thích nghi với điều kiện sống thường ngày,
(code thông tin)
0 Mã số có liên quan đến cá nhân người di cư
1 Thu nhập của anh/chị có đảm bảo cho cuộc sống bản
thân/gia đình không?
1 Có
2 Không
2 Thu nhập so với trước đây khi sống ở quê?
1 Cao hơn nhiều
Trang 3213 Tính trung bình 1 tháng anh/chị chi tiêu hết bao nhiêu
14 Trung bình 1 tháng anh/chị để dư được bao nhiêu tiền?
0 Không để dư được
Trang 3328 Nơi ở của anh/chị có Đầu video/VCD/DVD 1 Có
Summary of item Estimates
1 items with zero scores
0 items with perfect scores
================================================================================ DKKT TEST LDPT - Case Estimates 4/ 1/ 5 9:49 all on dkkt (N = 50 L = 33 Probability Level= 50) -
Summary of case Estimates
0 cases with zero scores
0 cases with perfect scores
================================================================================
Khi dữ liệu phù hợp với mô hình thì:
Mean phải bằng hoặc gần 0.00
SD phải tiến tới gần 1.00
Mean phải bằng hoặc gần 1.00
SD phải bằng hoặc gần 0.00
Trang 34Căn cứ vào các thông tin trên, ta nhận thấy Mean và SD xấp xỉ điều kiện, do đó có
thể kết luận: dữ liệu phù hợp với mô hình Rasch
Khi kiểm tra mức độ phù hợp của các câu hỏi (item), kết quả thu được trong file
DKKT.map cũng cung cấp thông tin để kiểm tra mức độ phù hợp của các câu hỏi
thông qua bảng dưới đây:
DKKT TEST LDPT - Item Fit 4/ 1/ 5 9:49 all on dkkt (N = 50 L = 33 Probability Level= 50) - INFIT MNSQ .53 .63 .77 1.00 1.30 1.60 1.90 -+ -+ -+ -+ -+ -+ -+ -
và câu 20 trong nhóm câu hỏi về điều kiện - chất lượng cuộc sống nằm ngoài khoảng cho phép (.77 – 1.30); nghĩa là chúng không tạo thành một cấu trúc, hay còn gọi là các yếu tố ngoại lai và cần phải loại bỏ chúng ra khỏi nhóm Trong bảng câu hỏi, các câu 2, 12, 14, 15 và câu 20 của phần này là các câu về:
(2) Thu nhập so với trước thời điểm di cư?
(12) Thu nhập bình quân của anh/chị trong tháng?
Trang 35(14) Tính trung bình 1 tháng anh/chị để dư được bao nhiêu tiền?
(15) Nơi ở hiện nay
(20) Nơi anh/chị ở có đủ nước sinh hoạt hằng ngày không?
Đây là những câu hỏi liên quan đến việc xác định điều kiện - chất lượng cuộc sống của Giáo dân, tuy nhiên, qua kết quả phân tích mô hình ta thấy trong cuộc khảo sát này, chúng đã không tạo thành một cấu trúc đo (mức độ thống nhất để tạo thành 1 nhân tố) cùng với những câu khác và nghiên cứu sẽ loại kết quả khảo sát liên quan đến các câu hỏi này ra khỏi dữ liệu phân tích
Sau khi điều chỉnh từ 33 câu xuống nhóm 28 câu, phân tích Quest cho kết quả như sau:
SCALES
1 all ( 33 items ) : All items
2 dkkt ( 28 items ) : 1,3-11,13,16-19,21-33
DKKT TEST LDPT - Item Estimates (Thresholds) 4/ 1/ 5 9:58 all on dkkt (N = 50 L = 28 Probability Level= 50) - Summary of item Estimates
1 items with zero scores
0 items with perfect scores
================================================================================ DKKT TEST LDPT - Case Estimates 4/ 1/ 5 9:58 all on dkkt (N = 50 L = 28 Probability Level= 50) - Summary of case Estimates
Trang 360 cases with zero scores
0 cases with perfect scores
================================================================================
Các giá trị Mean và SD vẫn đảm bảo phù hợp mô hình Rasch Tuy nhiên, phân tích
mức độ phù hợp của các câu hỏi, ta có kết quả DKKT TEST LDPT: DKKT TEST LDPT
28 câu hỏi còn lại đều có INFIT MNSQ ở trong khoảng (0.77-1.30) do đó chúng đã
tạo thành một cấu trúc đo, hình trên cho thấy không còn một biến ngoại lai nào tồn
tại Điều này có nghĩa là các câu hỏi được sử dụng trong đợt khảo sát này đã đo
được đúng cái cần đo, các thông tin về điều kiện - chất lượng cuộc sống là hoàn
toàn có thể tin cậy được (với Reliability of items estimate = 92)
Trang 371.3 Cơ hội tiếp cận với các dịch vụ xã hội (đặc biệt là khả năng tiếp cận với giáo dục): Mô hình nghiên cứu đưa vào thử nghiệm gồm 6 câu có liên quan đến sự đảm
bảo về tài chính, sự ổn định về cuộc sống, thời gian Đây là những câu hỏi ước lượng về khả năng tiếp cận với giáo dục của Giáo dân di cư
Các thông tin có liên quan đến vấn đề Các phương án trả lời
(code thông tin)
0 Mã số có liên quan đến cá nhân người di cư
4 Anh/chị có cơ hội được học tập và đào tạo thêm về lĩnh
vực chuyên môn, nghề nghiệp không?
0 items with zero scores
0 items with perfect scores
================================================================================
Khi dữ liệu phù hợp với mô hình thì:
Mean phải bằng hoặc gần 0
SD phải tiến tới 1.00
Mean phải bằng hoặc gần 1
SD phải bằng hoặc gần 0
Trang 38KNTCGD TEST LDPT - Case Estimates 3/ 1/ 5 2:10 all on tiepcangiaoduc (N = 350 L = 6 Probability Level= 50) - Summary of case Estimates
0 cases with zero scores
0 cases with perfect scores
KNTCGD TEST LDPT - Item Fit 3/ 1/ 5 2:10 all on tiepcangiaoduc (N = 350 L = 6 Probability Level= 50) - INFIT MNSQ .63 .71 .83 1.00 1.20 1.40 1.60 -+ -+ -+ -+ -+ -+ -+ -
1.4 Những khó khăn thường gặp của Giáo dân di cư: Mô hình nghiên cứu được
đưa vào thử nghiệm với 57 câu hỏi có liên quan đến những khó khăn hiện tại mà Giáo dân di cư thường gặp phải trong quá trình sống và làm việc ở Hà Nôi Nội dung của các câu hỏi như sau:
Trang 39Các thông tin có liên quan đến vấn đề Các phương án trả lời
(code thông tin)
0 Mã số có liên quan đến cá nhân người di cư
1 Anh/chị có hài lòng với cuộc sống ở Hà Nội
4 Nguyên nhân chưa đăng ký khai báo tạm
vắng/tạm trú vì thấy không cần thiết
7 Nguyên nhân chưa đăng ký khai báo tạm
vắng/tạm trú vì không biết nơi đăng ký
9 Ngoài việc làm chính, anh/chị có làm thêm công
việc nào khác không?
19 Khi gặp chuyện buồn hoặc khó khăn thường
không tâm sự với ai cả
1 Có
2 Không
20 Khi gặp chuyện buồn hoặc khó khăn thường tâm
sự với người trong gia đình
Trang 4022 Khi gặp chuyện buồn hoặc khó khăn thường tâm
24 Khi gặp chuyện buồn hoặc khó khăn thường tâm
sự với người yêu
2 Thanh toán BHYT
3 Nơi ở xa các cơ sở khám chữa bệnh
4 Thái độ của nhân viên y tế
5 Chất lượng dịch vụ
6 Khác
7 Thanh toán chi phí khám chữa bệnh
27 Anh/chị gặp khó khăn trong việc tìm việc làm? 1 Có
38 Anh/chị gặp khó khăn trong thích nghi lói sống,
môi trường mới?
43 Khi gặp khó khăn cha/thầy/sơ là người thường
xuyên giúp đỡ? 1 Có 2 Không
44 Khi gặp khó khăn trung tâm tư vấn là người
thường xuyên giúp đỡ?
1 Có
2 Không
45 Khi gặp khó khăn gia đình/họ hàng là người
thường xuyên giúp đỡ?
1 Có
2 Không
46 Khi gặp khó khăn một số người khác là người
thường xuyên giúp đỡ?
1 Có
2 Không
47 Khi gặp khó khăn, không ai giúp đỡ? 1 Có
2 Không