Thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống, học sinh từ các lực lượng giáo dục, hiệu trưởng các trường trung học cơ sở , quận 11, thành phố Hồ chí Minh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS-TS ĐOÀN VĂN ĐIỀU
Thành phố Hồ Chí Minh - 2010
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên : TRẦN THỊ MỸ HẠNH, học viên cao học, chuyên ngành Quản lý giáo dục, khóa 17 (2006-2009) tại Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
Tôi xin cam đoan trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đoàn Văn Điều thì kết quả nghiên cứu đạt được trong luận văn là do chính bản thân tôi thực hiện và chưa có ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Người cam đoan TRẦN THỊ MỸ HẠNH
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến:
Ban giám hiệu Trường Đại học Sư Phạm TPHCM
Quý Thầy Cô Phòng Khoa Học Công Nghệ & Sau Đại Học Trường Đại học Sư Phạm TPHCM
Ban chủ nhiệm Khoa Tâm Lý Giáo Dục Trường ĐHSP TPHCM
Quý Thầy Cô giảng dạy lớp Cao học Quản lý giáo dục khóa 17
Ban lãnh đạo Phòng giáo dục và đào tạo Quận 11 TPHCM
Ban giám hiệu, quý Thầy Cô, quý phụ huynh và các em học sinh tại các trường trung học cơ sở Lê Quý Đôn, Chu Văn An, Lê Anh Xuân, Lữ Gia, Hậu Giang, Phú Thọ thuộc Quận 11 TPHCM đã nhiệt tình giúp đỡ, hỗ trợ tác giả trong suốt quá trình thu thập thông tin, số liệu nhằm hoàn thành tốt luận văn này
Đặc biệt cảm ơn PGS.TS Đoàn Văn Điều đã hướng dẫn tận tình và hết lòng giúp đỡ
để tác giả hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Mặc dù đã rất cố gắng song luận văn vẫn không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong Quý Thầy, Cô và các bạn đồng nghiệp chân tình góp ý thêm
TRẦN THỊ MỸ HẠNH
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
- Con người ngoài là một thực thể sinh lý còn là một thực thể mang bản chất tâm lý-xã hội bao gồm những phẩm chất, những thuộc tính tâm lý có ý nghĩa xã hội được hình thành do kết quả tác động qua lại giữa họ với nhau, giữa họ với các sự vật, hiện tượng xung quanh trong từng hoạt động Con người càng hoạt động thì càng có cơ hội khám phá, hiểu biết và phát triển Vì thế, họ cần phải có kiến thức, kỹ năng và thái độ để có thể giúp họ tự kiểm soát được hành vi của bản thân và kiểm soát được môi trường xung quanh một cách thành công Nói cách khác, để sống tốt và hoạt động hiệu quả, con người cần phải có những kỹ năng sống Kỹ năng sống có thể được hình thành một cách tự nhiên qua trãi nghiệm hoặc có thể thông qua giáo dục-học tập, rèn luyện
- Việc giáo dục kỹ năng sống ở trường học sẽ giúp thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tích cực cho người học; đồng thời tạo những tác động tốt đối với các mối quan hệ giữa thầy và trò, giữa các học sinh, bạn bè với nhau; giúp tạo nên sự hứng thú học tập cho trẻ đồng thời giúp hoàn thành nhiệm vụ của người giáo viên một cách đầy đủ hơn và đề cao các chuẩn mực đạo đức, góp phần nâng cao vị trí của nhà trường trong xã hội Tuy nhiên, trong những năm gần đây, cùng với sự
mở cửa, hội nhập quốc tế về quan hệ kinh tế, giao lưu văn hóa,… của đất nước một số thanh thiếu niên học sinh thiếu hiểu biết về thực tế cuộc sống, chưa được rèn dạy kỹ năng sống, có khi lại sớm phải tự mình đương đầu với nhiều vấn đề tâm lý xã hội phức tạp, đã bị lôi cuốn vào lối sống thực dụng, đua đòi, không đủ bản lĩnh nói “không” với cái xấu
- Trong những giai đoạn phát triển của con người thì lứa tuổi thiếu niên tức lứa tuổi học sinh bậc trung học cơ sở (từ 11, 12 tuổi đến 14, 15 thậm chí 16, 17 tuổi nếu trẻ học trễ) là lứa tuổi đang ở thời kỳ phát triển phức tạp nhất, nhiều biến động nhất nhưng cũng là thời kỳ chuẩn bị quan trọng nhất cho những bước trưởng thành sau này của trẻ Các em cần được quan tâm giáo dục, rèn luyện nhiều hơn những kỹ năng cần thiết trong học tập, trong quan hệ giao tiếp, trong xử trí, ứng phó trước những đòi hỏi, thử thách của cuộc sống
1.2 Tính khả thi của đề tài
- Căn cứ chỉ thị 40/2008/ CT – BGDĐT ngày 22/7/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và kế hoạch số 1842/GDĐT – TrH ngày 29/8/2008 của Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh về “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 – 2013 và kế hoạch số 606/KH – GDĐT ngày 16/9/2008 của Phòng giáo dục và đào tạo Quận 11 thì rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh bậc trung học cơ sở là một trong 5 nội dung thiết thực để xây dựng trường học thân thiện Đây là cơ sở pháp lý để việc giáo dục kỹ năng sống và
Trang 6công tác quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh bậc trung học cơ sở được quan tâm nhiều hơn
từ trước tới nay
- Bản thân tác giả hiện đang công tác tại một trường trung học cơ sở của Quận 11, có một số điều kiện tối thiểu để tìm hiểu thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh bậc học này
Từ một số lý do trên, đề tài: “Thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh từ
các lực lượng giáo dục của Hiệu trưởng các trường trung học cơ sở tại Quận 11- Thành phố Hồ Chí Minh” được thực hiện
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng quản lý của Hiệu trưởng về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường Trung học cơ sở tại Quận 11, Tp Hồ Chí Minh, tìm ra các giải pháp để tiến hành các hoạt động giáo dục kỹ năng sống nhằm chuẩn bị cho các em tham gia vào việc học tập và đời sống một cách hiệu quả
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác giáo dục kỹ năng sống bậc trung học cơ sở ở các trường tại Quận 11, Tp Hồ Chí Minh
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh từ các lực lượng giáo dục của các Hiệu trưởng trường Trung học cơ sở
4 Giả thuyết khoa học
Việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường trung học cơ sở tại Quận 11, Tp Hồ Chí Minh là một việc làm cần thiết trong hỗ trợ việc học tập và vận dụng vào đời sống của các em Muốn việc giáo dục những kỹ năng này hiệu quả hơn cần có sự tham gia của các lực lượng giáo dục dưới sự quản lý của Hiệu trưởng trong nhà trường
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh bậc THCS
Phân tích, tổng hợp các tài liệu, sách báo, tham khảo các văn bản chỉ đạo của ngành, các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài để hình thành cơ sở lý luận và thực tiễn cho đề tài
5.2 Nghiên cứu thực trạng quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh bậc THCS
Tìm hiểu thực trạng vấn đề quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh bậc THCS tại Quận 11, Tp Hồ Chí Minh
5.3 Đề xuất một số giải pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh bậc THCS
Trang 76 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu sau đây được sử dụng :
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các tài liệu, hồ sơ, sách, tạp chí, công trình nghiên cứu để hình thành cơ sở lý luận cho đề tài
6.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, thang đo
Thực hiện tại 6/9 trường THCS tại Quận 11 với các mẫu điều tra dự kiến dành cho các đối tượng sau :
Cán bộ quản lý trường (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, Cán bộ Đoàn-Đội), Giáo viên, Học sinh khối lớp 8, 9 để nắm được thực trạng giáo dục và quản lý giáo dục kỹ năng sống cho các em
6.3 Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn, trò chuyện với các Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, các Cán bộ đoàn thể, với các giáo viên, với đại diện Hội Cha mẹ học sinh, một số học sinh đại diện các khối lớp, đại diện các Chi đội, …
6.4 Phương pháp quan sát
Quan sát các hoạt động của nhà trường, của đoàn thể, của thầy và trò thông qua dự giờ một
số bộ môn (Văn học, Sinh vật, Giáo dục công dân, Thể dục, Mỹ thuật, …), thông qua các buổi Sinh hoạt của Hội đồng giáo dục, các buổi Sinh hoạt dưới cờ, các buổi Sinh hoạt ngoại khóa, Sinh hoạt Đội thiếu niên, các tiết Sinh hoạt chủ nhiệm, các tiết Hoạt động ngoài giờ lên lớp, các giờ chơi, nề nếp đầu giờ và cuối buổi học, các buổi tham quan dã ngoại, …
6.5 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Theo dõi các hoạt động học tập, sinh hoạt, vui chơi của học sinh nhằm tìm hiểu về các kỹ năng được biểu hiện, vận dụng trong học tập, giao tiếp ứng xử của các em
6.6 Phương pháp thống kê toán học
Lập bảng biểu, thống kê, phân tích, xử lý các số liệu của đề tài, giúp đánh giá vấn đề chính xác, khoa học
7 Giới hạn đề tài
Đề tài này được thực hiện tại 6/9 trường THCS công lập của Quận 11, TP Hồ Chí Minh Tuy nhiên, chỉ nghiên cứu trong giới hạn quản lý giáo dục một số kỹ năng sống đối với học sinh 2 khối lớp 8 và 9 (chủ yếu là những kỹ năng học tập, kỹ năng giao tiếp ứng xử trong các mối quan hệ thầy trò, bạn bè,… trong xử trí, ứng phó trước những đòi hỏi, thử thách của cuộc sống)
Trang 8Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ngay từ những năm 60 của thế kỷ 20, tổ chức UNESCO đã vạch rõ ba thành tố của học vấn,
đó là : kiến thức, kỹ năng và thái độ, trong đó thái độ và kỹ năng đóng vai trò then chốt [36]. Chính thái độ tích cực, năng động, dấn thân, và những kỹ năng cần thiết trong học tập và làm việc, trong quan hệ giao tiếp, trong xử trí, ứng phó trước những đòi hỏi, thử thách của cuộc sống đã chủ yếu giúp cho người học tự tin để vững bước tới một tương lai có định hướng Riêng về giáo dục kỹ năng sống tuy chỉ mới xuất hiện từ những năm 1990 của thế kỷ trước song đã nhanh chóng lan rộng ra khắp thế giới Và có nơi, giáo dục kỹ năng sống không chỉ là một sinh hoạt ngoại khóa mà còn là một môn học chính qui ở nhà trường
Ở Việt Nam, dù giáo dục kỹ năng sống được du nhập vào ngay sau đó nhưng triết lý và phương pháp giáo dục kỹ năng sống ít nhiều hãy còn lạ lẫm đối với xã hội ta nên chưa được sự quan tâm đúng mức [21, tr.2] Hơn nữa, giáo dục tại Việt Nam nhìn chung còn kém phát triển Ngoại trừ một số rất ít các trung tâm giáo dục phi chính quy như Trung tâm ABS Training, Trung tâm dạy nghề GDVT Swisscontact, Công ty Tâm Việt ở Hà Nội, Công ty bảo hiểm nhân thọ Dai-ichi Việt Nam phối hợp với Báo Người lao động, Cung văn hóa Lao động Thành phố Hồ Chí Minh, Nhà văn hóa Thanh niên Thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm hỗ trợ sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm học tập cộng đồng ở một số địa phương hay một số trường giáo dục trẻ khuyết tật, một
số ít trường tiểu học trọng điểm ở Hà Nội, có các chương trình giáo dục kỹ năng sống Còn lại, các trường phổ thông nhất là các trường từ bậc trung học cơ sở trở lên chưa quan tâm nhiều cũng như chưa tạo ra được môi trường học tập trang bị đầy đủ kỹ năng sống cho thanh thiếu niên học sinh Cho nên giới trẻ Việt Nam nhìn chung còn kém so với thanh thiếu niên tại các nước phát triển Trong khi đó, bản lĩnh sống của thanh thiếu niên trong xã hội ngày càng chuyên môn hoá cao như
xã hội Việt Nam hiện nay không thể thiếu được và cần phải được nâng cao hơn ở hai mảng kỹ năng
đó là kỹ năng chuyên môn và kỹ năng mềm mà có thể gọi chung là những kỹ năng cuộc sống [35]
Kể từ năm học 2008-2009, Bộ GD-ĐT nước ta đã phát động trong các trường phổ thông trên toàn quốc phong trào "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" nhằm mang lại cho học sinh cả nước một "môi trường giáo dục an toàn thân thiện, hiệu quả, phù hợp điều kiện địa phương
và đáp ứng nhu cầu xã hội" Hưởng ứng phong trào này, Trung tâm Giáo dục môi trường và các vấn
đề xã hội đã phối hợp với Ban dự án Phát triển giáo dục THPT nhanh chóng xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động nhằm hỗ trợ triển khai đến cơ sở một số nội dung thiết thực Một trong những hoạt động đó là chương trình Tập huấn giáo dục kỹ năng sống và bình đẳng giới tổ chức tại Hà Nội vào 5 ngày đầu tháng 10/2008 cho các giáo viên cốt cán một số trường THPT của 11 tỉnh phía Bắc tham gia (Trong thời gian tới, nội dung hoạt động trên sẽ được Trung tâm triển khai tiếp tục cho các tỉnh
Trang 9phía Nam) Qua đợt tập huấn này, giáo viên sẽ biết cách hình thành cho học sinh các kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng đặt mục tiêu, biết cách giúp các em hiểu kỹ hơn về giới và bình đẳng giới cùng các tri thức thiết yếu để hiểu biết bản thân, tự bảo vệ mình và hòa nhập cộng đồng Đồng thời chính bản thân giáo viên được củng cố và phát triển nhiều kỹ năng khác như hoạt động nhóm, xây dựng kế hoạch, xử lý tình huống, các cách giải quyết vấn đề, mà các học sinh cần được trang bị để tồn tại, đáp ứng được nhu cầu của cuộc sống và phát triển tốt trong một xã hội đầy biến động như hiện nay Từ đó, tháng 11/2008 Phòng tư vấn và hỗ trợ đào tạo Trường THPT Lương Thế Vinh ở Ba Vì, Hà Tây đã xây dựng môn học “Kỹ năng sống và học tập hiệu quả” nhằm trang bị cho học sinh những kỹ năng sống, những công cụ học tập thích hợp nhằm đạt được kết quả cao trong học tập cũng như có thái độ sống tích cực [35] Ở Thành phố Hồ Chí Minh, các trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, Trần Đại Nghĩa, chỉ mới lồng ghép việc giáo dục kỹ năng sống vào trong các buổi hội thảo chuyên đề, sinh hoạt câu lạc bộ từng bộ môn Bên cạnh đó, dần dần cũng có một số ít cá nhân giáo viên có hứng thú nghiên cứu, vận dụng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở một cách đơn lẻ, tự phát, sáng tạo
Tuy nhiên, việc nghiên cứu thực trạng giáo dục kỹ năng sống cũng như nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh bậc trung học cơ sở cả nước nói chung và trên địa bàn Quận 11 - Tp Hồ Chí Minh nói riêng từ trước đến nay thật sự còn lạ lẫm, chưa được các đơn vị trường học cũng như các lực lượng giáo dục quan tâm thực hiện một cách có hệ thống
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường trung học
cơ sở tại Quận 11
1.2.1 Khái quát về địa bàn Quận 11
Quận11 chính thức có tên trên bản đồ Sài Gòn-Gia Định từ ngày 01/07/1969 theo sắc luật số
73 của chính quyền Sài Gòn cũ Ban đầu gồm 4 phường được tách ra từ Quận 5 và Quận 6: Phường Phú Thọ (Quận 5 cũ), Phường Cầu Tre, Bình Thới, Phú Thọ Hòa (Quận 6 cũ) Sau đó lập thêm 2 phường là Bình Thạnh và Phú Thạnh
Trang 10(Bản đồ địa giới Quận 11- Nguồn : Ủy ban nhân dân Quận 11-Năm 2008)
Sau ngày giải phóng 30/04/1975, địa bàn Quận 11 được giữ nguyên với 6 phường và 47 khóm Đến ngày 01/06/1976 được phân chia lại thành 21 phường Sau nhiều lần điều chỉnh địa giới, đến nay Quận 11 có 16 phường
Quận 11 có tổng diện tích 513,58 ha, nằm ở Tây Nam thành phố Giáp quận Tân Bình ở phía Bắc và Tây Bắc; phía Đông giáp Quận 5, Quận 10; phía Nam và Tây Nam giáp ranh Quận 6 Tính đến cuối năm 2007, quận 11 có dân số là 230.014 người, có 120.562 nữ (tỷ lệ 52,41%) Người Hoa
có 108.003 người (tỷ lệ 46,95%), mật độ dân số trung bình là 44.540 người/km2.
Hơn 30 năm qua, Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân quận 11 đã ra sức phấn đấu phát huy các nhân tố thuận lợi, vượt qua mọi khó khăn thử thách thực hiện công cuộc đổi mới đất nước và các mục tiêu nhiệm vụ của các Nghị quyết Đại hội Đảng bộ quận đề ra trong từng thời kỳ Đến nay kinh tế - xã hội của quận có những nét chuyển biến tích cực như sau :
Về kinh tế : - Giá trị sản lượng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 1986-2000 tăng bình
quân là 11%, giai đoạn 2001-2004 tăng bình quân 10,2% Doanh thu thương mại - dịch vụ giai đoạn 1986-2000 tăng bình quân 18%, giai đoạn 2001-2004 tăng bình quân 16%
- Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng thương mại dịch vụ - sản xuất TTCN Cơ cấu thành phần kinh tế có bước chuyển đổi theo chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng và Nhà nước Tính đến nay, có hơn 900 doanh nghiệp dân doanh và hơn 10.000 cơ sở hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn quận, đã đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách Nhà nước, nhiều sản phẩm được người tiêu dùng bình chọn là hàng Việt Nam chất lượng cao, hình thành các khu vực chuyên doanh cung cấp hành hóa cho các tỉnh và cả nước
CN Công viên Văn hoá Đầm Sen không ngừng đầu tư phát triển, mở rộng nhiều loại hình dịch vụ phong phú, hiện đại đáp ứng nhu cầu giải trí ngày càng tăng của nhân dân, góp phần vào sự phát triển chung của quận
Trang 11 Về cơ sở hạ tầng kỹ thuật - xã hội phục vụ đời sống, sinh hoạt của nhân dân : luôn được Đảng
bộ, Chính quyền quận quan tâm đầu tư Đến nay toàn bộ các hẻm trong quận đã được xi măng hoá; nhiều tuyến đường lớn được mở rộng, nhiều khu nhà ở, cơ sở vật chất cho giáo dục, y tế, thể dục thể thao được xây dựng Đặc biệt trong năm 2003 - 2004 cùng với việc triển khai thực hiện các dự án lớn, các công trình trọng điểm, quận đã hoàn thành công tác giải toả di dời và tái định cư hơn 1.600 hộ dân khu vực Trường đua Phú Thọ, đã góp phần làm thay đổi diện mạo đô thị của quận ngày càng khang trang, sạch đẹp hơn, thúc đẩy kinh tế phát triển, nâng cao đời sống nhân dân
Hoạt động văn hoá xã hội : luôn được đẩy mạnh nhằm phát huy truyền thống yêu nước, cách
mạng, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Cơ sở vật chất phục vụ các hoạt động văn hoá - thể thao được đầu tư mới và nâng cấp trở thành nơi vui chơi, giải trí, sinh hoạt văn hoá lành mạnh trong nhân dân
- Song song với việc phát triển các loại hình văn hoá văn nghệ, các phong trào rèn
luyện thân thể theo chủ trương xã hội hoá, nhiều phong trào thi đua xây dựng các thiết chế văn hoá như : gương người tốt việc tốt, gia đình văn hoá, cuộc vận động toàn dân xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở, đã bắt rễ sâu rộng, được đông đảo các ngành, các giới và quần chúng nhân dân đồng tình hưởng ứng
- Bên cạnh việc thực hiện tốt chính sách đền ơn đáp nghĩa, xoá đói giảm nghèo, thúc đẩy xã hội hoá các hoạt động văn hoá - giáo dục - y tế - thể dục thể thao, nâng cao đời sống nhân dân, Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân quận luôn ra sức chăm lo sự nghiệp phát triển giáo dục Hàng năm tỷ lệ trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 99% trở lên; trẻ 5 tuổi vào mẫu giáo đạt 98% trở lên Quận đã hoàn thành xóa mù chữ, phổ cập tiểu học và trung học cơ sở
Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội : tiếp tục được giữ vững và ổn định Hiện nay
trên địa bàn quận cơ bản không còn tệ nạn ma túy
Sơ đồ tổ chức bộ máy chính quyền quận 11 : Trải qua hơn 30 năm hình thành và phát triển, cơ
cấu tổ chức chính quyền Quận 11 có nhiều thay đổi theo hướng ngày càng hoàn thiện, chuyên môn hóa Hiện nay, bộ máy chính quyền Quận 11 chia thành các phòng ban hành chính và cấp phường Mỗi phòng ban đảm nhận một chức năng riêng, luôn đảm bảo hoạt động tốt để phục vụ nhân dân
Trang 12SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY CHÍNH QUYỀN QUẬN 11
1.2.2 Khái quát về Phòng giáo dục và đào tạo Quận 11
Phòng giáo dục và đào tạo quận 11 : là cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND Quận, chịu sự
lãnh đạo trực tiếp và toàn diện của UBND Quận, đồng thời chịu sự chỉ đạo và hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố; có chức năng giúp UBND Quận quản lý nhà nước đúng chủ trương chính sách đối với toàn bộ hoạt động có liên quan đến lĩnh vực giáo dục và đào tạo theo thẩm quyền được UBND thành phố phân cấp Phòng giáo dục và đào tạo có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch dài hạn và hàng năm về Giáo dục và Đào tạo tại địa phương, tổ chức chỉ đạo việc thực hiện các chỉ tiêu, kế hoạch do Sở Giáo dục - Đào tạo giao sau khi Sở đã thống nhất với UBND Quận giúp UBND Quận tổ chức thực hiện các Nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trên các mặt công tác có liên quan đến lĩnh vực giáo dục, đào tạo; thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các trường lớp, cơ sở giáo dục dạy nghề tập thể, tư nhân đóng trên địa bàn quận theo sự phân cấp của UBND Thành phố
Khối các trường trung học cơ sở thuộc Phòng giáo dục và đào tạo quận 11:
Trang 13Tính đến cuối năm học 2008 -2009, quận 11 có 09 trường trung học cơ sở trong đó có 03 trường công lập chuyên, đạt chuẩn quốc gia (Chu Văn An, Lê Quý Đôn, Nguyễn Văn Phú), 04 trường công lập (Lữ Gia, Hậu Giang, Lê Anh Xuân, Nguyễn Minh Hoàng), 02 trường gốc bán công nhiều năm liền mới chuyển sang công lập (Phú Thọ và Nguyễn Huệ)
Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của CBQL các trường trung học cơ sở thuộc Quận 11 :
Bảng 1.1 : Cơ cấu đội ngũ cán bộ quản lý bậc THCS Q11 về trình độ tay nghề
(Nguồn : Trường Bồi dưỡng giáo viên Quận 11-Năm 2008)
Nhìn chung đội ngũ CBQL các trường THCS ở Quận 11 có trình độ chuyên môn đạt chuẩn và trên chuẩn (100%) Tỉ lệ CBQL đã qua đào tạo về nghiệp vụ quản lý giáo dục chiếm 85,2% số còn lại đều là các Phó Hiệu trưởng các trường sẽ và đang theo các khóa đào tạo về nghiệp vụ quản lý giáo dục bằng hình thức học tại chức
Trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên các trường trung học cơ sở thuộc quận 11 :
Bảng 1.2 : Cơ cấu đội ngũ giáo viên THCS Q11 về trình độ chuyên môn
Trang 14(Nguồn : Trường Bồi dưỡng giáo viên Quận 11-Năm 2008)
Từ bảng số liệu khảo sát tình hình đội ngũ giáo viên các trường THCS thuộc Quận 11 trên ta thấy về tổng thể, so với nhiều địa phương trong cả nước và so với một số quận huyện trong Tp.HCM thì lực lượng giáo viên bậc THCS của Quận 11 có trình độ chuyên môn đạt chuẩn và trên chuẩn cao (chiếm 98,9% ), chỉ còn 1,1% giáo viên chưa đạt chuẩn do sắp đến tuổi nghỉ hưu nên ngại khó không tham gia học nâng chuẩn, do phần lớn thời gian học bồi dưỡng nâng cao là ngoài giờ và số giáo viên này lại ngại mình lớn tuổi tiếp thu bài vở có hạn chế
Thâm niên công tác của đội ngũ cán bộ-giáo viên các trường trung học cơ sở thuộc quận 11 :
Bảng 1.3 : Cơ cấu đội ngũ cán bộ giáo viên THCS Q11 về thâm niên nghề
Trường THCS
Tổng Nữ
Dưới 5 năm
Từ 6 – 15 năm
(Nguồn : Phòng giáo dục và đào tạo Quận 11- Quý 1 Năm 2009)
Bảng số liệu này cho thấy hơn một nửa đội ngũ CBGV Quận 11 (chiếm 58.2%) có thâm niên dưới 15 năm nghĩa là có tuổi nghề trẻ nên có thể thể hiện tốt sự năng động sáng tạo phù hợp với xu thế phát triển và hội nhập thế giới, dễ dàng nắm bắt và thực hiện chủ trương đổi mới của giáo dục theo nhu cầu chung hiện nay
Trang 15Bên cạnh đó, còn gần một nửa lực lượng có thâm niên từ 16 năm trở lên thể hiện được sự dày dạn kinh nghiệm chuyên môn Lực lượng này có tuổi nghề cao, tay nghề vững có thể rèn dạy các phẩm chất đạo đức, hình thành nhân cách tốt cho học sinh, giúp các em trở nên người hữu dụng cho
xã hội
Tuy nhiên, thông qua quan sát thực tiễn số CBGV cao tuổi nghề này thường dựa vào kinh nghiệm, thiếu sự năng động trong việc tiếp nhận, chọn lọc những tri thức mới, năng lực tự học, tự bồi dưỡng chưa cao, chưa nhạy bén, linh hoạt trong việc tổ chức các hoạt động theo hướng tích cực hóa Nhìn chung số CBGV này còn khá lúng túng, thụ động đối với việc tổ chức các hình thức rèn dạy kỹ năng sống cho học sinh theo yêu cầu đổi mới giáo dục
1.3 Cơ sở lý luận
1.3.1 Một số khái niệm
1.3.1.1 Quản lý
Có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm quản lý, cụ thể như sau :
- Từ điển Từ và ngữ Hán Việt của tác giả Nguyễn Lân (1989) có ghi : “Quản lý là phụ trách việc chăm nom và sắp đặt công việc trong một tổ chức” [16, tr.555]
- Còn theo Nguyễn Ngọc Quang (1989), nhà sư phạm, người góp phần đổi mới lý luận dạy học, đã nêu về khái niệm quản lý trong tập bài giảng “Những khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục” như sau : “Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động gọi chung là khách thể quản lý, nhằm thực hiện các hoạt động để đạt được mục tiêu
dự kiến” [22, tr.130]
- Trần Kiểm (1997), trong giáo trình “Quản lý giáo dục và trường học” dùng cho học viên cao học chuyên ngành Giáo dục học đã viết : “Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” [15, tr 15]
- Và cũng chính Nguyễn Ngọc Quang (1989), trong tác phẩm của mình đã nêu: “Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định” [22, tr 131]
- Còn Nguyễn Bá Sơn (2000), trong tác phẩm “Một số vấn đề cơ bản về khoa học quản lý” đã viết : “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động” [23, tr.15] Như vậy, có thể nói : Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu
nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất
Tóm lại, quản lý là một khoa học vì nó nghiên cứu, phân tích về công việc quản lý, các quan
hệ quản lý trong các tổ chức Nó tổng quát hóa các kinh nghiệm tốt thành các nguyên tắc và lý
Trang 16thuyết áp dụng cho mọi hình thức quản lý tương tự Nó cung cấp khái niệm cơ bản làm nền tảng cho việc nghiên cứu các môn học về quản lý
Để quản lý có hiệu quả, nhà quản lý phải linh hoạt vận dụng các lý thuyết vào những tình huống cụ thể Nó đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế cao để đạt tới mục tiêu Nghệ thuật này chủ yếu phải được học ngay trong thực tiễn
1.3.1.2 Giáo dục
- Từ điển Từ và ngữ Hán Việt của tác giả Nguyễn Lân (1989) có nêu : “Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm bồi dưỡng cho người học những phẩm chất đạo đức và tri thức cần thiết để họ có khả năng tham gia mọi mặt đời sống của xã hội” [16, tr.269]
- Trong Giáo dục học : Giáo dục là quá trình toàn vẹn tác động đến thế hệ trẻ về đạo đức, tư tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ và những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội [14, tr.52]
- Theo tinh thần nghị quyết TW2 Khóa 8 của Đảng ta về giáo dục đào tạo thì nhà trường phải đào tạo ra những con người có đủ tri thức và kỹ xảo, năng lực và phẩm chất với tinh thần trách nhiệm đầy đủ của người công dân tham gia vào cuộc sống lao động xã hội, tham gia vào cuộc Cách mạng trí tuệ, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển; nhà trường phải đào tạo những con người học được cách chung sống, hợp tác với nhau, cùng nhau giải quyết những vấn đề chung của dân tộc, của quốc gia, của toàn cầu, của thời đại [6, 11]
Do đó giáo dục ngày nay không phải chỉ là tích tụ tri thức mà còn thức tỉnh tiềm năng sáng tạo to lớn trong mỗi con người
1.3.1.3 Quản lý giáo dục
- Theo tác giả Hồ văn Liên, trong tập bài giảng về “Tổ chức và quản lý giáo dục trường học” thì : “Quản lý giáo dục là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý giáo dục đến khách thể quản lý trong một tổ chức, làm cho tổ chức đó vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [17, tr.9]
- Cụ thể hơn : “Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên đối tượng giáo dục và khách thể quản lý giáo dục về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế, bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp, các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [8, tr.7]
Như vậy, quản lý giáo dục là một loại hình quản lý được hiểu là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất Trong tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý
Trang 17có sự tác động của người đến người Đó là sự tác động qua lại tạo thành một loại quan hệ xã hội đặc biệt là quan hệ quản lý
Tóm lại, quản lý giáo dục là một loại lao động điều khiển lao động Quản lý giáo dục trong
xã hội ta hiện nay là hướng tới việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài [7, tr.21]
Ở cấp độ nhân cách, quản lý giáo dục là quản lý sự hình thành và phát triển nhân cách
Bản chất của quản lý giáo dục được biểu hiện ở các chức năng quản lý Các công trình nghiên cứu về khoa học quản lý trong những năm gần đây đã đưa đến một kết luận tương đối thống nhất về 5 chức năng cơ bản của quản lý, đó là:
* Kế hoạch hóa tức là lập kế hoạch, phổ biến kế hoạch hoạt động
* Tổ chức gồm tổ chức triển khai hoạt động, tổ chức nhân sự, phân công trách nhiệm trong
thực hiện kế hoạch hoạt động
* Kích thích nghĩa là khuyến khích, tạo động cơ hoạt động
* Kiểm tra gồm theo dõi thực hiện, kiểm soát, kiểm kê, hạch toán, phân tích quá trình thực
hiện
* Và Điều phối nghĩa là phối hợp, điều chỉnh công tác
Tổ hợp tất cả các chức năng quản lý nêu trên tạo nên nội dung của quá trình quản lý, nội dung làm việc của chủ thể quản lý, phương pháp quản lý và là cơ sở để phân công lao động quản lý Vậy : “Quản lý giáo dục là quá trình đạt đến mục tiêu giáo dục của hệ thống giáo dục bằng cách vận dụng các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra,…” [17, tr.9]
1.3.1.4 Quản lý trường học : Trường học (hay nhà trường) là tổ chức cơ sở của hệ thống
giáo dục quốc dân Việt Nam, là nơi trực tiếp thực hiện công tác đào tạo và giáo dục thế hệ trẻ
Khái niệm quản lý trường học đã được các nhà lý luận quản lý giáo dục giải thích như sau :
- Theo nhà giáo Phạm Minh Hạc : “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục
để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” [10, tr.13]
- Phạm Viết Vượng đã nêu : “Quản lý nhà trường là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao giáo dục và đào tạo trong nhà trường” [34, tr.26]
- Hoặc “Quản lý trường học chính là những công việc của nhà trường mà người cán bộ quản
lý trường học thực hiện những chức năng quản lý để thực hiện các nhiệm vụ công tác của mình Đó chính là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý tác động tới các hoạt động của nhà trường nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà tiêu điểm là quá trình dạy và
Trang 18học” [19, tr.8]
Từ đó có thể nói : “Quản lý trường học được hiểu là một hệ thống những tác động sư phạm hợp lý và có hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh, các lực lượng xã hội trong và ngoài trường nhằm huy động và phối hợp sức lực, trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động của nhà trường, hướng vào việc hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu đã đề ra” [19, tr 10]
1.3.1.6 Kỹ năng sống
- Theo nhóm biên soạn tài liệu giáo dục kỹ năng sống của Vụ giáo dục thể chất mà chủ biên
là Nguyễn Võ Kỳ Anh thì : “Kỹ năng sống là khả năng có được những hành vi thích nghi và tích cực, cho phép chúng ta xử trí một cách có hiệu quả các đòi hỏi và thử thách của cuộc sống thường ngày” [1, tr.3]
- Định nghĩa vừa nêu trên cũng trùng lặp với định nghĩa về kỹ năng sống của Tổ chức Y tế thế giới WHO : “Kỹ năng sống là khả năng thích nghi và những hành vi tích cực để cá nhân có thể đáp ứng hiệu quả những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày” [37]
Như vậy, kỹ năng sống khuyến khích thái độ tích cực, phòng ngừa và giảm thiểu các hành vi nguy cơ Nó giúp con người phát huy sức mạnh nội lực để có thể làm chủ được cuộc sống của mình
và sống khỏe mạnh, hạnh phúc, có mục đích, có ý nghĩa
- Còn theo UNICEF : “Kỹ năng sống là tập hợp nhiều kỹ năng tâm lý xã hội và giao tiếp cá nhân giúp cho con người đưa ra những quyết định có cơ sở, giao tiếp một cách có hiệu quả, phát triển các kỹ năng tự xử lý và quản lý bản thân nhằm giúp họ có một cuộc sống lành mạnh và có hiệu quả Từ kỹ năng sống có thể được thể hiện thành những hành động cá nhân và những hành động đó
sẽ tác động đến hành động của những người khác cũng như dẫn đến những hành động nhằm thay đổi môi trường xung quanh, giúp nó trở nên lành mạnh” [33]
1.3.1.7 Giáo dục kỹ năng sống
- Giáo dục kỹ năng sống là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến học sinh nhằm giúp học sinh có những kiến thức về cuộc sống, có những thao tác, hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ xã hội như quan hệ của cá nhân với xã hội, của cá nhân với lao động, của cá nhân
Trang 19với mọi người chung quanh và của cá nhân với chính mình, giúp cho nhân cách mỗi học sinh được phát triển đúng đắn đồng thời thích ứng tốt nhất với môi trường sống
Việc giáo dục những kỹ năng cuộc sống chính là sự bổ sung về kiến thức và năng lực cần thiết cho các cá nhân thanh thiếu niên học sinh để họ có thể hoạt động độc lập và giúp họ chủ động tránh được những khó khăn trong thực tế đời sống
- Đối với học sinh, nhất là học sinh bậc trung học cơ sở, giáo dục kỹ năng sống là môn học trang bị những tri thức giúp học sinh hình thành những kỹ năng sống cần thiết, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của con người với môi trường sống Thông qua hoạt động Giáo dục kỹ năng sống sẽ trang bị thêm cho học sinh những kỹ năng tự chủ, kỹ năng nói không, khả năng tự đưa ra quyết định và thích nghi, biết chấp nhận, hóa giải được những tác động tiêu cực trong cuộc sống chung quanh [1, tr.6]
- Giáo dục kỹ năng sống là hoạt động giúp cho người học có khả năng về mặt tâm lý xã hội
để phán đoán và ra quyết định tích cực, nghĩa là để “nói không với cái xấu” [21, 4] Nhưng giáo dục
kỹ năng sống cho trẻ không phải là đưa ra những lời giải đơn giản cho những câu hỏi thông thường
mà giáo dục kỹ năng sống phải nhằm hướng đến thay đổi hành vi
Công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh chỉ đạt được kết quả tốt khi nó có sự tác động đồng thời của các lực lượng giáo dục : Nhà trường, gia đình và các lực lượng xã hội
1.3.2 Lý thuyết về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở
1.3.2.1 Đặc điểm tâm-sinh lý lứa tuổi của học sinh THCS
Lứa tuổi học sinh trung học cơ sở từ lớp 6 đến lớp 9 (còn gọi là lứa tuổi thiếu niên) là giai đoạn phát triển của trẻ từ 11 đến 15, 16 tuổi Lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt và tầm quan trọng trong thời kỳ phát triển của trẻ em vì nó là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như: “thời kỳ quá độ”, “tuổi khó bảo”, “tuổi khủng hoảng”, “tuổi bất trị”
Đây là lứa tuổi có bước phát triển nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, các em đang tách dần khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn (người trưởng thành) tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt trong mọi mặt phát triển: thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức… của thời kỳ này [4, tr.20]
Ở lứa tuổi này có sự tồn tại song song “vừa tính trẻ con, vừa tính người lớn”, điều này phụ thuộc vào sự phát triển mạnh mẽ về cơ thể, sự phát dục, điều kiện sống và hoạt động… của các em Mặt khác, ở những em cùng độ tuổi lại có sự khác biệt về mức độ phát triển các khía cạnh khác nhau của tính người lớn - điều này do hoàn cảnh sống, hoạt động khác nhau của các em tạo nên Hoàn cảnh đó có cả hai mặt:
Trang 20- Mặt thứ nhất: Những điểm yếu của hoàn cảnh kiềm hãm sự phát triển tính người lớn: đó là
trẻ chỉ bận tâm vào việc học tập, không có những nghĩa vụ khác, nhiều bậc cha mẹ có xu thế không
để cho trẻ hoạt động, làm những công việc khác nhau của gia đình, của xã hội
- Mặt thứ hai: Những yếu tố của hoàn cảnh thúc đẩy sự phát triển tính người lớn: đó là sự gia
tăng về thể chất, về giáo dục, nhiều bậc cha mẹ quá bận, gia đình gặp khó khăn trong đời sống, đòi hỏi trẻ phải lao động nhiều để sinh sống Điều đó đưa đến trẻ sớm có tính độc lập, tự chủ hơn
Phương hướng phát triển tính người lớn ở lứa tuổi này có thể xảy ra theo các hướng sau:
- Đối với một số em, tri thức sách vở làm cho các em hiểu biết nhiều, nhưng còn nhiều mặt khác nhau trong đời sống thì các em hiểu biết rất ít
- Có những em ít quan tâm đến việc học tập ở nhà trường, mà chỉ quan tâm đến những vấn đề làm thế nào cho phù hợp với “mốt”, coi trọng việc giao tiếp với người lớn, với bạn lớn tuổi để bàn bạc, trao đổi với họ về các vấn đề trong cuộc sống để tỏ ra mình cũng như người lớn
- Ở một số em khác không biểu hiện tính người lớn ra bên ngoài, nhưng thực tế đang cố gắng rèn luyện mình có những đức tính của người lớn như : dũng cảm, tự chủ, độc lập, e ấp, dịu dàng, … không còn quan hệ với bạn khác phái như trẻ con
Thời kỳ thiếu niên quan trọng ở chỗ: trong thời kỳ này những cơ sở, phương hướng chung của sự hình thành quan điểm xã hội và đạo đức của nhân cách được hình thành, chúng sẽ được tiếp tục phát triển trong tuổi thanh niên
Hiểu rõ vị trí, ý nghĩa của giai đoạn phát triển tâm lý thiếu niên sẽ giúp ta có cách đối xử đúng đắn và giáo dục để các em có một nhân cách toàn diện
1.3.2.2 Mục tiêu của giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS
Giáo dục kỹ năng sống ở bậc trung học cơ sở nhằm thực hiện mục tiêu sau:
Chuyển dịch kiến thức (cái chúng ta biết), thái độ và giá trị (cái chúng ta nghĩ, cảm thấy hoặc tin tưởng) thành thao tác, hành động và thực hiện thuần thục các thao tác, hành động đó như khả năng thực tế (cái cần làm và cách thức cần làm nó) theo xu hướng tích cực và mang tính chất xây dựng [1, tr.4]
1.3.2.3 Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS [1, tr.6]
Với ý nghĩa kỹ năng sống là những kỹ năng mang tính cá nhân và xã hội cần thiết đối với thanh thiếu niên giúp họ có khả năng học tập tốt hơn, ứng xử một cách tự tin đồng thời là một phương sách để hoàn thiện bản thân mình trước mọi người và cộng đồng thì kỹ năng sống cần thiết cho học sinh THCS, theo WHO, gồm các nhóm kỹ năng chính sau đây, cần được giảng dạy và tổ chức cho các em thực hành :
* Nhóm kỹ năng nhận biết và sống với chính mình :
- Kỹ năng tự nhận thức : là kỹ năng mà mỗi con người, trước hết, cần phải tự nhận biết và
Trang 21hiểu rõ bản thân, hiểu rõ những tiềm năng, tình cảm, những xúc cảm cũng như vị trí của mình trong cuộc sống và xã hội, cả những mặt mạnh và mặt yếu của họ nữa Khi các cá nhân càng nhận thức được khả năng của mình, họ càng có khả năng sử dụng các kỹ năng sống khác một cách có hiệu quả
và càng có khả năng lựa chọn những gì phù hợp với các điều kiện sẵn có với bản thân, với xã hội
mà họ sống và với khả năng của bản thân họ nữa Họ cũng cần có sự hiểu biết rõ ràng về bản sắc dân tộc và nền văn hóa mà từ đó họ đã được sinh ra và cũng chính nền văn hóa đó đã tạo nên con người họ
- Lòng tự trọng : Sự tự nhận thức đưa đến sự tự trọng Khi mỗi người tự nhận thức được năng
lực tiềm tàng của bản thân và vị trí của mình trong cộng đồng thì lòng tự trọng được mô tả như là
”sự nhận thức những điều tốt đẹp của bản thân” Nó còn đề cập đến việc mỗi người cảm nhận như thế nào những khía cạnh mang tính cá nhân như diện mạo, khả năng và hành vi, … và họ sẽ phát triển như thế nào trên cơ sở những kinh nghiệm bản thân để trở nên thành thạo và thành công khi làm những điều mà họ dự định
Tuy nhiên, lòng tự trọng bị ảnh hưởng một cách mạnh mẽ bởi mối quan hệ của một cá nhân với những người khác Những người lớn tuổi có ảnh hưởng đến trẻ như bố mẹ, các thành viên trong gia đình, thầy cô giáo và cả bạn bè đồng lứa có thể hoặc trợ giúp nhằm phát triển hoặc làm mất sự tự trọng của một cá nhân qua những quan hệ, tiếp xúc của họ đối với cá nhân đó
- Sự kiên quyết : Sự kiên quyết hay tính kiên định có nghĩa là nhận biết được những gì bản
thân mình muốn và tại sao lại muốn đồng thời là khả năng tiến hành các bước cần thiết để đạt được những gì bản thân mình muốn trong những hoàn cảnh cụ thể bao gồm một loạt các tình huống khác nhau như : từ chối sự tán tỉnh, cám dỗ; thuyết phục người khác đồng thuận theo mình; nêu gương, kêu gọi, hướng dẫn mọi người làm những việc có lợi cho cộng đồng,… Tuy nhiên, cách thể hiện tính kiên định có liên quan đến văn hóa và việc lắng nghe, đánh giá những điều người khác cảm nhận và mong muốn bởi vì kiên định là biết được nhu cầu và quyền của mình, cũng như điều mình mong muốn và thực hiện những điều đó có xét tới nhu cầu, quyền và mong muốn của người khác
- Đương đầu với cảm xúc : Xúc cảm là sự phản ánh rõ nét bản chất của mỗi người Những
cảm xúc như sợ hãi, yêu thích, e thẹn, phẫn nộ, mong muốn được thừa nhận,… hoàn toàn mang tính chủ quan và thường có là do đáp ứng một cách tức thời đối với tình huống Vì thế mà chúng không thể đoán trước được và có thể dễ dàng đưa con người ta đến những hành vi mà sau này họ sẽ phải hối tiếc
Do vậy, việc xác định và sau đó là đối phó với những cảm xúc là khả năng cho thấy rằng con người ta có thể nhận thấy và phải tính đến những xúc cảm của mình cùng nguyên nhân cụ thể của chúng để có những quyết định chế ngự, không để cho những cảm xúc của bản thân chi phối
Trang 22- Đương đầu với căng thẳng (kỹ năng ứng phó với stress) : Căng thẳng là một phần hiển
nhiên của cuộc sống Những vấn đề trắc trở của bản thân, của bạn bè thân thiết, của các thành viên trong gia đình; những mối quan hệ bị đổ vỡ, … là những minh họa các tình huống gây căng thẳng trong cuộc sống con người Trong những mức độ hữu hạn, khi một cá nhân có khả năng đương đầu với sự căng thẳng thì căng thẳng lại có thể là một nhân tố tích cực bởi vì chính những sức ép của sự căng thẳng đó buộc cá nhân phải tập trung vào công việc của mình và hưởng ứng một cách thích hợp Tuy nhiên, sự căng thẳng còn có một sức mạnh hủy diệt cuộc sống cá nhân nếu sự căng thẳng
đó quá lớn và không giải tỏa nổi Do đó, cũng như kỹ năng đối phó với cảm xúc, thanh thiếu niên học sinh cần phải có khả năng nhận biết sự căng thẳng, nguyên nhân và hậu quả cũng như biết cách khắc phục nó
** Nhóm kỹ năng nhận biết và sống với người khác :
- Mối quan hệ giữa các cá nhân : Các mối quan hệ là bản chất của cuộc sống Chúng có hình
thái và quy mô khác nhau Khi đứa trẻ lớn lên, trẻ phải phát triển các mối quan hệ với những người lớn có vai trò quan trọng trong cuộc sống của trẻ như bố mẹ, họ hàng, láng giềng, thầy cô giáo, với những con người mà trẻ gặp gỡ trong cuộc sống như bạn bè của bố mẹ, những người bán hàng, những nhà lãnh đạo địa phương, với bạn bè đồng lứa trong và ngoài trường lớp Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể là bạn bè tốt, thân thiết, ngang hàng được Trẻ cần phải biết cách đối xử một cách phù hợp trong từng mối quan hệ để chúng có thể phát triển tối đa tiềm năng sẵn có trong môi trường của chúng
- Kỹ năng thiết lập tình bạn : Một cá nhân cần có nhiều bạn để cùng chia sẻ các hoạt động,
niềm hy vọng, sự sợ hãi, chia sẻ cuộc sống và cả tham vọng Việc thiết lập tình bạn bắt đầu từ giai đoạn sớm nhất của cuộc đời Vì vậy, trẻ cần phải nhận biết rằng tình bạn được hình thành như thế nào và phải thiết lập, phát triển tình bạn ra sao để cả hai bên cùng đạt được những lợi ích chân chính
Trẻ cần phải có khả năng nhận biết, để khi cần thiết, mạnh dạn khước từ kiểu tình bạn có thể đưa trẻ đến những hành vi nguy hiểm hoặc phạm tội như hành vi sử dụng ma túy, trộm cắp,
- Sự cảm thông (kỹ năng thấu cảm) : là khả năng tự đặt mình vào vị trí của người khác khi họ
phải đương đầu với những vấn đề nghiêm trọng do hoàn cảnh hoặc do những hành động của chính bản thân họ gây ra để hiểu được tình cảnh của họ và tìm ra cách giảm bớt gánh nặng bằng sự chia sẻ chân tình với người đó thay vì lên án, thương hại hoặc coi khinh họ với bất kỳ lý do nào Cảm thông cũng đồng nghĩa với việc hỗ trợ người đó để họ có thể tự quyết định và đứng vững trên đôi chân của
họ một cách nhanh chóng nhất
- Đứng vững trước sự lôi kéo của bạn bè : Đối với thanh thiếu niên, sức ép để bản thân được
giống như các thành viên khác trong nhóm bạn là rất lớn Vì vậy, đứng vững trước sự lôi kéo của
Trang 23bạn bè cùng lứa là một kỹ năng rất quan trọng Nếu phải đương đầu với những ý nghĩ hoặc những việc làm trái ngược của bạn bè cùng lứa khi họ gây ảnh hưởng và thói quen xấu thì bản thân cần phải dũng cảm khước từ, phản đối, dừng ngay những đề xuất không thể chấp nhận được đó, kiên quyết bảo vệ những giá trị và niềm tin của bản thân cho dù có thể bị chế nhạo, đe dọa hoặc ghẻ lạnh
từ nhóm bạn đó
- Kỹ năng thương lượng : là một kỹ năng quan trọng trong mối quan hệ giữa các cá nhân với
nhau Kỹ năng này có liên quan đến tính kiên định, sự cảm thông và mối quan hệ giữa cá nhân với
cá nhân cũng như khả năng thỏa hiệp những vấn đề không có tính nguyên tắc của bản thân Kỹ năng thương lượng còn liên quan đến khả năng đương đầu với những áp lực, sự đe dọa của hoàn cảnh, những rủi ro tiềm tàng trong các mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau kể cả sức ép của bạn bè Cần phải nhận định rõ vị trí của cá nhân và thiết lập kỹ sự hiểu biết lẫn nhau trong các mối quan hệ
để có kỹ năng thương lượng tốt
- Kỹ năng giải quyết xung đột không dùng bạo lực : là kỹ năng có liên quan đến mối quan hệ
giữa các cá nhân với nhau, đến kỹ năng thương lượng và các kỹ năng đương đầu với xúc cảm, với căng thẳng, lo âu Xung đột là điều không thể tránh khỏi và đôi khi lại là điều cần thiết song kỹ năng giải quyết xung đột không dùng bạo lực sẽ giúp cho những xung đột trở nên có tính xây dựng
- Kỹ năng giao tiếp có hiệu quả : Giao tiếp là bản chất của các mối quan hệ của con người
Do vậy, một trong những kỹ năng sống quan trọng nhất là khả năng giao tiếp một cách có hiệu quả với mọi người Khả năng này bao gồm cả kỹ năng lắng nghe và hiểu được người khác thực hiện việc giao tiếp của họ như thế nào cũng như nhận biết được nhiều cách giao tiếp của họ khác nhau ra
sao
*** Nhóm kỹ năng ra quyết định một cách có hiệu quả :
- Tư duy phê phán : Như đã nêu, giới trẻ lớn lên trong thế giới ngày nay phải đối đầu với
nhiều vấn đề, sự mong đợi, những đòi hỏi đa dạng, phức tạp và trái ngược của bố mẹ, thầy cô, bạn bè, phải tiếp nhận, đáp ứng nhiều thông điệp của các phương tiện truyền thông đại chúng, của các nhà lãnh đạo, của quảng cáo, cuả âm nhạc, tôn giáo, Vì thế, trẻ cần phải có khả năng phân tích,
gạn lọc, phê phán để có được quyết định phù hợp
- Tư duy sáng tạo : Trong cuộc sống, con người thường xuyên bị đặt vào những hoàn cảnh
bất ngờ và bất thường Do vậy, họ cần phải có tư duy sáng tạo nghĩa là có khả năng tiếp cận với sự việc mới, phương thức mới, ý tưởng mới, cách sắp xếp và tổ chức mới để có thể có một hoặc nhiều
phương cách đáp ứng lại những hoàn cảnh đó một cách phù hợp
- Kỹ năng ra quyết định : Mỗi ngày, mỗi người đều phải đứng trước những lựa chọn để ra
những quyết định Có những quyết định tương đối đơn giản và có thể không ảnh hưởng nghiêm trọng đến định hướng cuộc sống nhưng cũng có những quyết định nghiêm túc liên quan đến các mối
Trang 24quan hệ, đến tương lai cuộc đời Do đó, khi không thể đáp ứng liền một lúc những nhu cầu đối lập người ta cần có khả năng lựa chọn để ra một quyết định có hiệu quả đồng thời phải ý thức được các tình huống có thể xảy ra, phải lường được những hậu quả trước khi ra quyết định từ sự lựa chọn của
mình
- Kỹ năng giải quyết vấn đề : là khả năng xem xét tình hình một cách cẩn thận, phân tích
những vấn đề gì đang tồn tại và xác định các bước nhằm cải thiện tình hình Đây là kỹ năng có liên quan đến kỹ năng ra quyết định và nhiều kỹ năng khác Chỉ khi trãi qua thực hành việc ra quyết định
và giải quyết vấn đề thì trẻ mới có thể xây dựng được những kỹ năng cần thiết để có thể có những lựa chọn tốt nhất trong bất kỳ hoàn cảnh nào mà chúng phải đương đầu
Tóm lại, trong cuộc sống, các kỹ năng sống thường không hoàn toàn tách rời nhau và để đạt được hiệu quả mong muốn thì việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ không nên giảng dạy riêng biệt
mà phải được thực hiện như là một phần không thể tách rời của các chương trình giáo dục đa dạng gồm giáo dục sức khỏe thể chất, giáo dục trách nhiệm công dân,
1.3.2.3 Một số hình thức và phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS
Để tạo thuận lợi cho việc học tập kỹ năng sống của học sinh bậc trung học cơ sở, có thể kể đến các phương pháp giáo dục cụ thể sau : [1, tr.14]
* Phương pháp động não : Động não là một kỹ thuật sáng tạo để làm nảy sinh ra các ý tưởng và giả định về một vấn đề Để nắm bắt được các ý tưởng của đối tượng về một chủ đề, ta có thể đặt câu hỏi, nêu vấn đề, thăm dò đối tượng bằng phương pháp động não Với phương pháp này,
ta yêu cầu đối tượng nói ra cái mà họ nghĩ về chủ đề được đặt ra để xem mức độ hiểu vấn đề và cách mô tả vấn đề bằng thuật ngữ riêng của họ Phương pháp này cho phép tạo cơ hội để ý tưởng của mỗi người đều có giá trị và chấp nhận không cần phê phán đồng thời cũng là một cách rất hiệu quả để nghe các ý tưởng từ các đối tượng trong một giai đoạn thời gian hạn chế
* Phương pháp đóng vai : là phương pháp thể hiện hành động trong một trò giả định đối tượng học sinh của ta là nhân vật của một kịch bản định sẵn đứng trước một tình huống đặt ra Đây
là phương pháp quan trọng trong giảng dạy kỹ năng sống vì những học sinh tham gia có thể được thử trãi qua việc sử dụng các kỹ năng đã học trong các tình huống khác nhau Bên cạnh đó, người học còn có thể tham quan, thực hành các cách xử trí trong một môi trường an toàn và được giám sát trước khi chạm trán với các tình huống thực
* Phương pháp học tập trên cơ sở tham gia : Học tập tham gia là trọng tâm của việc giảng dạy kỹ năng sống, phương pháp này chủ yếu dựa vào việc học và làm việc theo nhóm để các thành viên có thể học tập, chia sẻ kinh nghiệm và thực hành các kỹ năng cùng nhau Tính ưu việt của phương pháp học tập tham gia thể hiện ở chỗ làm tăng sự nhận thức của mỗi thành viên về bản thân
Trang 25họ và về những người khác, tạo điều kiện cho các thành viên trong nhóm hiểu nhau tốt hơn, động viên sự hợp tác, phát triển kỹ năng nghe và kỹ năng giao tiếp,
* Phương pháp giải quyết vấn đề : là phương pháp sử dụng kỹ năng giải quyết vấn đề làm
kỹ năng cơ bản giúp học sinh hình thành các kỹ năng xác định (phát hiện) vấn đề; xem xét, phân tích vấn đề; tiến hành thử nghiệm về những giải pháp khác nhau, lựa chọn giải pháp tốt nhất, xây dựng kế hoạch tạo ra những thay đổi để cải thiện, kết thúc vấn đề
* Phương pháp xây dựng đề án : là phương pháp hướng dẫn học sinh học tập thông qua việc xây dựng kế hoạch hoạt động và tổ chức thực hiện hoạt động đó nhằm khắc sâu ý nghĩa thực tiễn của tri thức khoa học Phương pháp này giúp rèn các kỹ năng xác định vấn đề; xem xét, phân tích vấn đề; giải quyết vấn đề, kỹ năng hoạt động nhóm,
* Và một số hình thức, phương pháp giáo dục khác như kể chuyện, thảo luận nhóm, thực nghiệm, chơi các trò chơi giáo dục minh họa,… thông thường là các phương pháp giáo dục mang tính trãi nghiệm
1.3.2.4 Các lực lượng tham gia giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS
Chủ yếu gồm đội ngũ thầy cô giáo (giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm), cán bộ đoàn thể trường học, tổ chức đoàn thể địa phương,… và đặc biệt là gồm cả cha mẹ học sinh tại chính trong gia đình các em Cụ thể :
* Giáo viên bộ môn : là những người đã qua trường lớp sư phạm đào tạo để giảng dạy cho
học sinh các tri thức khoa học tự nhiên, xã hội được phân thành các bộ môn như Toán học, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Âm nhạc, Mỹ thuật, Giáo viên bộ môn có những nhiệm vụ sau đây : [2, tr.14]
a) Dạy học và giáo dục theo chương trình, kế hoạch giáo dục; soạn bài; dạy thực hành thí nghiệm, kiểm tra, đánh giá theo quy định; vào sổ điểm, ghi học bạ đầy đủ, lên lớp đúng giờ, quản lý học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức, tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn;
b) Tham gia công tác phổ cập giáo dục ở địa phương;
c) Rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục;
d) Thực hiện Điều lệ nhà trường; thực hiện quyết định của Hiệu trưởng, chịu sự kiểm tra của Hiệu trưởng và các cấp quản lý giáo dục;
đ) Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo, gương mẫu trước học sinh, thương yêu, tôn trọng học sinh, đối xử công bằng với học sinh, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của học sinh, đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp;
Trang 26e) Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên khác, gia đình học sinh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh trong dạy học và giáo dục học sinh
g) Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật
* Giáo viên chủ nhiệm lớp : là các giáo viên bộ môn được phân công thêm các nhiệm vụ sau
có liên quan trong hoạt động giảng dạy và giáo dục học sinh của lớp mình chủ nhiệm;
c) Nhận xét, đánh giá và xếp loại học sinh cuối kỳ và cuối năm học, đề nghị khen thưởng và kỷ luật học sinh, đề nghị danh sách học sinh được lên lớp thẳng, phải kiểm tra lại, phải rèn luyện thêm về hạnh kiểm trong kỳ nghỉ hè, phải ở lại lớp, hoàn chỉnh việc ghi vào sổ điểm và học bạ học sinh;
d) Báo cáo thường kỳ hoặc đột xuất về tình hình của lớp với Hiệu trưởng
* Cán bộ đoàn thể trường học - Tổng phụ trách Đội :
Giáo viên làm Tổng phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh là giáo viên bộ môn được bồi dưỡng về công tác Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, có nhiệm vụ thiết kế các hoạt động của Đội ở nhà trường và phối hợp hoạt động với địa phương nhằm tổ chức cho Đội viên, thiếu niên tham gia nhiều hoạt động phong trào học tập, vui chơi bổ ích Qua đó xác định mục tiêu, định hướng cho các em đội viên học sinh, giáo dục các em về nhận thức tư tưởng, dìu dắt các em học tập tiến bộ, giúp các em phát triển một cách toàn diện về thể chất cũng như tinh thần
Tổng phụ trách Đội phải có lòng yêu trẻ và thích làm việc với trẻ Vì chỉ khi yêu thích, quan tâm chăm sóc trẻ thì mới hòa nhập cùng vui chơi, sinh hoạt với trẻ, mới hiểu được trẻ cần gì để chia
sẻ với trẻ; tạo được sự tôn trọng, tin tưởng, gần gũi, quý trọng nơi trẻ ; thật sự là một chỗ dựa tinh thần cho trẻ, giúp các em có ý thức sâu sắc về lối sống và mục đích của bản thân Từ đó, thực hiện tốt hơn công tác gáo dục kỹ năng sống cho trẻ
Vai trò trách nhiệm của người phụ trách Đội càng quan trọng hơn khi được giao nhiệm vụ giáo dục và hướng dẫn thiếu nhi thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy để các em xứng đáng là một “thế hệ cách mạng" của Đảng
* Cha mẹ học sinh : là các bậc sinh ra và nuôi dưỡng các em học sinh; chịu trách nhiệm trong
gia đình và trước xã hội (pháp luật) đối với việc chăm lo việc học tập và giáo dục các con mình khi
Trang 27chúng còn độ tuổi vị thành niên để chúng phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, thành công dân có ích cho xã hội
Trong gia đình mối quan hệ cha mẹ - con cái là quan hệ huyết thống cật ruột, là cha mẹ thì phải hiền từ biết thương yêu và nuôi dạy con cái, biết làm gương cho con cái học tập Ngược lại, phận làm con phải biết ghi nhớ công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, biết hiếu thuận với cha
mẹ Cần tạo điều kiện để con cái biết ơn, thương yêu, gần gũi cả cha và mẹ Thiếu cha hay thiếu mẹ đều là một sự thiệt thòi không thể bù đắp đối với trẻ, đặc biệt là trong việc hình thành nhân cách toàn diện của chúng Thiếu cha, trẻ thấy thiếu sự tự tin, mạnh dạn Thiếu mẹ, trẻ thấy cuộc sống khô khan, cô độc và thiếu tình mẫu tử, sự hiền từ, dịu dàng của người mẹ [9, tr.6]
* Các đoàn thể xã hội : Có vai trò rất quan trọng trong việc tập hợp, vận động, đoàn kết rộng
rãi các tầng lớp nhân dân; các đoàn thể xã hội đại diện cho quyền lợi hợp pháp và nguyện vọng chính đáng của nhân dân; đưa các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các chương trình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng thành hoạt động thực tiễn sinh động trong cuộc sống của nhân dân
Đối với đơn vị trường học, các tổ chức đoàn thể xã hội như Công đoàn, Chi đoàn, Đội thiếu niên, thực hiện đúng vai trò chức năng của tổ chức mình đồng thời thông qua các hoạt động góp phần thực hiện nhiệm vụ năm học của nhà trường: tạo môi trường sinh hoạt, học tập sinh động, thuận lợi, thoải mái cho học sinh, giáo dục các em thông qua các hoạt động thực tiễn
1.3.3 Lý thuyết về quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở
1.3.3.1 Mục tiêu và nội dung quản lý trường học
* Mục tiêu quản lý : là các nhiệm vụ, chức năng, các mong muốn, dự kiến phải thực hiện đạt được trong quá trình triển khai các hoạt động Mục tiêu quản lý cũng chính là kết quả của hoạt động
và là lực thúc đẩy quá trình hoạt động
* Nội dung quản lý : bao gồm các nội dung sau :
- Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
- Xây dựng đội ngũ giáo viên và học sinh, xây dựng các đoàn thể và tổ chức trong nhà trường
- Sử dụng, xây dựng và bảo quản cơ sở vật chất kỹ thuật
- Thu hút, tổ chức và phối hợp sự tham gia hỗ trợ của các lực lượng xă hội
- Tiến hành kiểm tra nội bộ kết hợp với sự thanh tra từ bên ngoài trường nhằm đảm bảo mối liên hệ nghịch thường xuyên và bền vững trong đánh giá khách quan chất lượng và hiệu quả của giáo dục
1.3.3.2 Vai trò, nhiệm vụ quản lý của Hiệu trưởng trường THCS : Hiệu trưởng là người
đứng đầu đơn vị trường học có nhiệm vụ : [2, tr.12]
Trang 28a) Xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường;
b) Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học;
c) Quản lý giáo viên, nhân viên; quản lý chuyên môn; phân công công tác, kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên, nhân viên; thực hiện công tác khen thưởng, kỉ luật đối với giáo viên, nhân viên theo quy định của Nhà nước; quản lý hồ sơ tuyển dụng giáo viên, nhân viên;
d) Quản lý học sinh và các hoạt động của học sinh do nhà trường tổ chức; xét duyệt kết quả đánh giá, xếp loại học sinh, ký xác nhận học bạ, ký xác nhận hoàn thành chương trình tiểu học vào học bạ học sinh tiểu học (nếu có) của trường phổ thông có nhiều cấp học và quyết định khen thưởng, kỷ luật học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
e) Quản lý tài chính, tài sản của nhà trường;
g) Thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đối với giáo viên, nhân viên, học sinh; tổ chức thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường; thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục của nhà trường
h) Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật;
i) Chịu trách nhiệm trước cấp trên về toàn bộ các nhiệm vụ được quy định
Trong nhà trường phổ thông : “Hiệu trưởng quản lý mọi hoạt động của nhà trường theo chế
độ thủ trưởng” (điều 4 theo điều lệ nhà trường phổ thông) “Hiệu trưởng là người phụ trách cao nhất ở nhà trường, chịu trách nhiệm trước nhà nước, trước nhân dân, trước cấp trên trực tiếp quản
lý mình, về mọi hoạt động giáo dục của nhà trường” (điều 2, quyết định số 243 – CP ngày
28/06/1979 của Hội đồng chính phủ về tổ chức bộ máy biên chế của nhà trường phổ thông)
Vì thế, hiệu trưởng các nhà trường phải có vai trò như những nhạc trưởng trong một dàn giao hưởng
1.3.3.3 Các nội dung quản lý của Hiệu trưởng đối với công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
* Hiệu Trưởng quản lý chỉ đạo thực hiện mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh :
Cũng như tất cả các hoạt động giáo dục khác, để thực hiện đạt hiệu quả công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, người Hiệu trưởng phải quản lý chỉ đạo việc thực hiện mục tiêu của giáo dục kỹ năng sống, đó là : “Chuyển dịch kiến thức, thái độ và giá trị thành thao tác, hành động và thực hiện thuần thục các thao tác, hành động đó như khả năng thực tế theo xu hướng tích cực và mang tính chất xây dựng” Muốn vậy, người Hiệu trưởng phải đảm bảo việc chỉ đạo thực hiện một số nguyên tắc sau :
Giáo dục học sinh qua thực tiễn sinh động của xã hội : Nguyên tắc này đòi hỏi nhà trường phải gắn liền với đời sống thực tiễn của xã hội, của cả nước và địa phương, phải nhạy bén
Trang 29với tình hình chuyển biến của địa phương và của cả nước, đưa những thực tiễn đó vào những giờ lên lớp, vào những hoạt động của nhà trường để giáo dục các em học sinh
Giáo dục theo nguyên tắc tập thể : Nguyên tắc này thể hiện ở cả 3 nội dung: Hướng dẫn, dìu dắt học sinh trong sinh hoạt tập thể; Giáo dục các phẩm chất, các kỹ năng bằng sức mạnh của tập thể; Giáo dục học sinh tinh thần vì tập thể Bởi vì tập thể ở đây có vai trò làm nảy nở, khuyến khích các phẩm chất tốt đẹp như tinh thần tập thể, tính tổ chức kỷ luật, tình đồng chí và tình bạn, tinh thần hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau, tính khiêm tốn học hỏi mọi người,… nó phát huy và có tác dụng điều chỉnh những động cơ kích thích bên trong góp phần rất lớn vào việc giáo dục kỹ năng sống cũng như việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh
Giáo dục kỹ năng sống phải phối hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh và đặc điểm hoàn
cảnh cá nhân học sinh : Đối với học sinh trung học cơ sở, là lứa học sinh có đặc điểm quá
độ, phức tạp và nhiều mâu thuẫn trong sự phát triển tâm lý cũng như sinh lý lứa tuổi Các
em dễ vui, dễ buồn, dễ hăng say, dễ chán nản, muốn hiểu biết nhiều và làm nhiều việc lớn nhưng vì khả năng còn hạn chế nên dễ nảy sinh mâu thuẫn giữa ước mơ và năng lực Do
đó, công tác giáo dục kỹ năng sống cần phải chú ý những đặc điểm đó đồng thời chú ý đến
cá tính, giới tính của các em để có hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục phong phú,
sinh động cũng như có phương pháp giáo dục thích hợp
* Hiệu Trưởng quản lý chỉ đạo công tác giáo dục kỹ năng sống thông qua công tác xây dựng
kế hoạch giáo dục : Việc xây dựng kế hoạch là một công đoạn không thể thiếu được trong quản lý
bất kỳ một công tác nào của Hiệu Trưởng Có xây dựng kế hoạch, người Hiệu Trưởng mới xác định được mục tiêu sẽ đạt đến, các biện pháp thực hiện, thời gian tiến hành và hoàn thành, chỉ tiêu cần đạt, … Tránh trường hợp được chăng hay chớ, tới đâu hay tới đó
Để việc xây dựng kế hoạch giáo dục được tốt, người Hiệu Trưởng phải dựa trên cơ sở tình hình cụ thể của học sinh, của đội ngũ giáo viên trường mình trong năm học, của địa phương mà trường đóng để định ra nội dung, yêu cầu, biện pháp cho thích hợp Việc nắm tình hình thực tế đội ngũ giáo viên và học sinh phải bao gồm tình hình có tính chất thường xuyên, lâu dài, phổ biến và tình hình có tính chất thời sự, tình hình cá biệt, có thể ảnh hưởng tiêu cực ít nhiều đối với tập thể học sinh trường
* Hiệu Trưởng quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống thông qua công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và quản lý tốt các hoạt động trường, lớp : Bằng nhiều hình thức và nhiều biện pháp,
người Hiệu Trưởng cần làm cho tập thể sư phạm của nhà trường nhận thức được rằng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là công tác cấp thiết, cần tiến hành thường xuyên, liên tục, ở mọi lúc, mọi nơi; trong tất cả các hoạt động đều có thể và phải thực hiện yêu cầu này Một giờ dạy trên lớp không
Trang 30chỉ đơn thuần là truyền thụ kiến thức khoa học cho học sinh mà còn là rèn các thao tác, kỹ năng học tập, ứng xử, giáo dục cho các em những hành vi, cử chỉ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan đúng đắn… như : trong một giờ tập thể dục không chỉ yêu cầu học sinh biết kỹ thuật động tác mà còn yêu cầu các em phải rèn luyện được ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần tập thể, thao tác linh hoạt
để rèn luyện phát triển thể chất tự bảo vệ bản thân tránh được bệnh tật … Với những bài dạy thuộc các môn khoa học xã hội có khả năng rất phong phú trong việc giáo dục những nhận thức chính trị đúng đắn, những tình cảm đạo đức tốt như : tình yêu quê hương đất nước, yêu lao động, lòng tự hào dân tộc, lòng căm ghét bọn cướp nước, bán nước, ăn bám,… “chuẩn bị cho các em một cuộc sống
có trách nhiệm trong một xã hội tự do, với tinh thần hiểu biết, hòa bình, khả năng dung thứ, bình đẳng về giới tính, và hữu nghị, ” theo Công ước quốc tế về quyền trẻ em rất phù hợp với mục tiêu giáo dục kỹ năng sống Còn những bài học về các môn tự nhiên lại có khả năng giáo dục cho học sinh lòng yêu thiên nhiên, yêu đất nước, tác phong khoa học, tính chính xác, tính cần cù, kiên trì, nhẫn nại, lòng ham thích khoa học, chống mê tín dị đoan,… những kỹ năng tính toán, tư duy phân tích, phê phán, kỹ năng giải quyết vấn đề,
Nói chung, nhiều bài giảng nếu dạy tốt theo nghĩa đầy đủ là : đảm bảo tính chính xác khoa học, có hệ thống, có trọng tâm và dạy với cả lương tâm người thầy thì tự bản thân những giờ lên lớp
đó đã mang tính giáo dục cao, đạt được hiệu quả ở cả ba thành tố của học vấn, đó là : kiến thức, kỹ năng và thái độ
Tuy nhiên người Hiệu Trưởng cũng cần lưu ý giáo viên tránh lối giáo dục kỹ năng sống một cách đơn giản, lý thuyết sáo rỗng, gượng ép hoặc đơn điệu,… bởi sẽ kém hiệu quả, mất đi tác dụng giáo dục vì bản thân các kỹ năng sống là khả năng ứng xử theo những cách nhất định trong một môi trường cụ thể phù hợp với các giới hạn về kinh tế, xã hội và văn hóa mà người ta sống; giáo dục kỹ năng sống phải là hoạt động sinh động bổ sung cho các cá nhân thanh thiếu niên học sinh về kiến thức và năng lực cần thiết để họ có thể hoạt động độc lập và giúp họ chủ động tránh được những
khó khăn trong thực tế đời sống
* Hiệu Trưởng quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống thông qua lao động, qua các hoạt động ngoại khóa, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động đoàn thể, xã hội và sinh hoạt tập thể : Hoạt động lao động, hoạt động học tập ngoại khóa, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt
động đoàn thể, xã hội và sinh hoạt tập thể, là những hoạt động có nhiều thuận lợi để giáo dục, rèn luyện học sinh các kỹ năng sống trong thực tế, có tác dụng trực tiếp đến việc giáo dục tư tưởng, giáo dục nhận thức, thái độ cho học sinh Thông qua những hoạt động này sẽ rèn luyện cho các em những thao tác, kỹ năng, thói quen, hành vi tốt
Vì vậy, người Hiệu Trưởng phải có kế hoạch cụ thể, cân đối; phải quan tâm tổ chức tốt đối
với các hoạt động này
Trang 31* Hiệu Trưởng tổ chức, xây dựng các lực lượng và điều kiện giáo dục trong và ngoài nhà trường để giáo dục kỹ năng sống cho học sinh : Một đặc điểm quan trọng của công tác giáo dục học
sinh là giáo dục thông qua nêu gương có tính thuyết phục cao Công tác giáo dục cho học sinh là công việc và trách nhiệm của mỗi giáo viên, của toàn bộ các thành viên trong nhà trường chứ không phải là của riêng giáo viên chủ nhiệm hay một vài giáo viên nào Do đó, để làm tròn trách nhiệm này thì trước hết mỗi thầy cô giáo phải là người thể hiện tốt những mẩu mực về nhân cách, về các
kỹ năng nhất là kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp ứng xử,
Hiệu Trưởng phải giúp cho giáo viên nhận thức rõ trách nhiệm nặng nề nhưng vẻ vang của mình là đào tạo con người, để giáo viên phải thương yêu học sinh thật sự, phải có ý thức trách nhiệm về mọi hành vi, ngôn ngữ, cử chỉ của mình đối với học sinh, bản thân thầy cô phải là tấm gương cho học sinh noi theo, phải tin tưởng, tôn trọng học sinh thì mới có thể giáo dục tốt được Muốn vậy, người Hiệu Trưởng phải chú trọng công tác bồi dưỡng, phải tổ chức làm sao cho tập thể giáo viên trong trường gương mẫu về mọi mặt, đoàn kết nhất trí thành một khối thống nhất có tác dụng giáo dục mạnh mẽ đối với học sinh Vì một trong những nguyên tắc giáo dục là : Phải thống nhất mọi ảnh hưởng giáo dục ngay trong nhà trường, tránh tình trạng “ông nói gà, bà nói vịt”, người quan tâm, kẻ thờ ơ …
Ngoài ra, người Hiệu Trưởng cũng cần phải lưu ý đến việc tạo những điều kiện phương tiện cần thiết để các em thực hiện những yêu cầu, những thao tác, kỹ năng, những hành vi do nhà trường
đề ra cho các em, tránh việc nhà trường chỉ biết yêu cầu này đến yêu cầu khác mà không xây dựng, không tạo điều kiện, phương tiện để thực hiện những yêu cầu đó
* Hiệu trưởng chỉ đạo giáo viên chủ động phối hợp với gia đình và xã hội để giáo dục kỹ năng sống cho học sinh :
Nhà trường cần phối hợp với Ban đại diện cha mẹ học sinh, các tổ chức đoàn thể xã hội và cá nhân nhằm : Tạo mối quan hệ gắn kết giữa nhà trường, gia đình và xã hội để thống nhất quan điểm, nội dung, phương pháp giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội; huy động mọi lực lượng của cộng đồng chăm lo sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh, góp phần xây dựng cơ sở vật chất nhà trường
Bên cạnh đó, nhà trường phải làm sao xứng đáng là trung tâm giáo dục của địa phương phải làm sao để địa phương đồng tình ủng hộ, kết hợp với nhà trường nhằm mục đích chung là: giáo dục con em nên người
* Hiệu Trưởng quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống thông qua chỉ đạo xây dựng môi trường giáo dục tốt để giáo dục học sinh :
Trang 32Một trong các yếu tố góp phần hết sức quan trong việc giáo dục học sinh đó là : cảnh quan sư phạm Làm sao để “trường ra trường, lớp ra lớp” và tự nhà trường đúng nghĩa của nó đã mang yếu
tố giáo dục
Dù trong hoàn cảnh nào, Hiệu Trưởng cũng cần tổ chức, sắp xếp tu sửa, tô điểm bộ mặt vật chất, khung cảnh của nhà trường, làm sao cho toàn bộ khung cảnh của trường đều toát lên ý nghĩa giáo dục đối với học sinh Ngoài khung cảnh vật chất, Hiệu Trưởng cần tạo ra một bầu không khí giáo dục trong toàn trường và ở mỗi lớp học, hình thành nên một phong cách sinh hoạt của nhà trường, biểu hiện ở những nề nếp tốt như trật tự, vệ sinh, ngăn nắp, nghiêm túc Có dư luận tập thể tốt, ủng hộ cái tốt, cái tiến bộ, phê phán cái sai, cái lạc hậu, có phong trào thi đua sôi nổi và đúng thực chất Và có quan hệ tốt giữa các thành viên trong trường như giữa thầy và thầy, giữa thầy và trò, giữa học sinh với nhau
Trong các mối quan hệ phải thật sự đúng mực, hài hòa; giáo viên thương yêu tôn trọng học sinh, không đánh đập xỉ vả, mỉa mai, chế giễu, áp bức, dọa nạt, thiên vị hay thành kiến Học sinh không hỗn xược, không khúm núm sợ sệt mà thật lòng yêu kính, tin tưởng thầy cô Học sinh đối với nhau thì đoàn kết, thân ái, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, không kèn cựa, suy bì, thù hằn, bè cánh, không đánh cãi nhau, không nói tục chưởi bậy Với một bầu không khí như vậy, sẽ có tác dụng hết sức tích cực đến việc hình thành các kỹ năng cần thiết trong học tập, trong các mối quan hệ, trong giao tiếp ứng xử và góp phần hình thành nên các phẩm chất đạo đức tốt đẹp cho các em
1.3.3.4 Các phương pháp quản lý của Hiệu Trưởng
Trước hết ta cần phải nhớ lại rằng: Các phương pháp quản lý giáo dục của Hiệu trưởng chính
là cách thức tác động đến khách thể quản lý bằng việc sử dụng các phương tiện khác nhau của hệ thống quản lý giáo dục nhằm đạt được mục tiêu quản lý giáo dục [25]
Thông thường, các phương pháp quản lý của Hiệu Trưởng gồm:
* Phương pháp kế hoạch hóa : là phương pháp Hiệu trưởng đi tìm những quyết định và
những giải pháp thực hiện các quyết định đó của nhà quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra và hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học
* Phương pháp tổ chức hành chính : là phương pháp tác động trực tiếp bằng những quyết
định, bằng mệnh lệnh có tính bắt buộc của Hiệu trưởng đối với tập thể sư phạm
Đây là phương pháp thường sử dụng của nhà quản lý có ưu điểm nổi bật là đạt hiệu quả nhanh chóng nếu nhà quản lý làm cho khách thể quản lý hiểu rõ các cơ sở khoa học và thực tiễn của các quyết định của mình tức là làm cho họ ý thức được quyền uy của các quy luật khách quan chứ không phải là uy quyền hành chính của một vị Hiệu trưởng
Trang 33* Phương pháp kinh tế : là phương pháp tác động gián tiếp của Hiệu trưởng đối với tập thể
sư phạm thông qua cơ chế tác động vào lợi ích kinh tế của từng thành viên, của tập thể, … trong đó lợi ích chính đáng của từng thành viên chính là nguồn động lực phấn đấu giúp hoàn thành nhiệm vụ
đề ra
* Phương pháp giáo dục : là phương pháp tác động về tinh thần của Hiệu trưởng đối với tập
thể sư phạm thông qua công tác giáo dục tư tưởng và qua các phong trào thi đua nhằm nâng cao ý thức tự giác, tích cực và năng lực sáng tạo, chủ động của mỗi thành viên
* Phương pháp tâm lý – xã hội : là phương pháp vận dụng những tri thức về tâm lý của Hiệu
trưởng vào công tác quản lý giáo dục
Với phương pháp này, nhà quản lý phải chú ý tìm hiểu được bản chất tâm lý người của khách thể quản lý, phải quan sát tìm hiểu động cơ phấn đấu của thuộc cấp, phải luu tâm phát triển nhân cách của người dưới quyền để họ làm việc tích cực hơn khi được tác động
Và còn một số phương pháp khác mà Hiệu trưởng phải nghiên cứu vận dụng một cách thích hợp đối với từng thành viên, từng yêu cầu công tác
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC
SINH THCS TẠI QUẬN 11 Trong phần này, các mục sau đây được trình bày theo thứ tự:
- Kết quả tổng quát các tham số nghiên cứu từ cán bộ, giáo viên và học sinh
- Đánh giá của giáo viên về việc giáo dục rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở
- Tự đánh giá của học sinh về việc rèn luyện kỹ năng sống
- Thực trạng quản lý của Hiệu trưởng trường trung học cơ sở tại Quận 11 đối với công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
2.1 Kết quả tổng quát các tham số nghiên cứu của cán bộ, giáo viên và học sinh
2.1.1 Thông tin về cán bộ giáo viên
- Thạc sĩ: 1 - Tiến sĩ: 0 - Khác: 10
- từ 16 đến 25 năm: 50 - 25 năm trở lên: 41
* Đơn vị trường công tác :
Trang 352.2 Đánh giá của giáo viên về việc giáo dục rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ
sở
Ghi chú:
Khác biệt ý nghĩa thống kê giữa các tham số của khách thể nghiên cứu về cách đánh giá một
ý kiến : nếu P > 0,05 thì kiểm nghiệm chi bình phương không có sự khác biệt ý nghĩa thống
kê giữa các tham số của khách thể nghiên cứu về cách đánh giá ý kiến đó
Khi kiểm nghiệm F được dùng và 2 cột trị số F và P có trong bảng:
- Nếu P < 0,05 thì kiểm nghiệm F có sự khác biệt ý nghĩa thống kê giữa các tham số của khách thể nghiên cứu về cách đánh giá ý kiến đó;
- Nếu P > 0,05 thì kiểm nghiệm F không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê giữa các tham
số của khách thể nghiên cứu về cách đánh giá một ý kiến đó
Khi kiểm nghiệm X 2 được dùng và 2 cột trị số X 2 và P có trong bảng:
- Nếu P < 0,05 thì kiểm nghiệm chi bình phương có sự khác biệt ý nghĩa thống kê giữa các tham số của khách thể nghiên cứu về cách đánh giá ý kiến đó;
- Nếu P > 0,05 thì kiểm nghiệm chi bình phương không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê giữa các tham số của khách thể nghiên cứu về cách đánh giá ý kiến đó
Tùùy theo thang đo, điểm trung bình cộng sẽ thay đổi Trong phiếu thăm dò ý kiến, có hai loại
thang:
- đối với thang 5 bậc, thì trung bình cộng là 3;
- đối với thang 3 bậc, thì trung bình cộng là 2
Theo kết quả này, có thể quy định về các bậc như sau:
+ Đối với thang 5 bậc:
Trang 36Bảng 2.1 Đánh giá của giáo viên về kỹ năng sống tổng quát cần cho học sinh trung học cơ sở: (Thang 5 bậc)
Kỹ năng sống trong cộng đồng (thứ bậc 6), Kỹ năng sắp xếp thời gian (thứ bậc 7), những kỹ năng có liên quan đến thực hành sức khỏe (thứ bậc 8), Kỹ năng lịch thiệp (thứ bậc 9), Sáng tạo (thứ bậc 10)
Kỹ năng kiếm sống và tay nghề (thứ bậc 11), Ghi nhớ (thứ bậc 12), Các kỹ năng vận động thể chất (thứ bậc 13), Kỹ năng tính toán (thứ bậc 14), Kỹ năng thông tin (thứ bậc 15)
Kỹ năng sống thực tế (thứ bậc 16), Kỹ năng kiểm soát cảm xúc (thứ bậc 17), Kỹ năng giải quyết vấn đề riêng tư (thứ bậc 18), Kỹ năng soạn thảo văn bản thông thường (thứ bậc 19), Lập kế hoạch tài chính cho bản thân (thứ bậc 20)
Như vậy, các kỹ năng liên quan đến học tập và tự ý thức của học sinh trung học cơ sở được đánh giá ở các thứ bậc từ 1 đến 5; tiếp theo là những kỹ năng liên quan đến giao tiếp, lập kế hoạch,
Trang 37giữ gìn sức khỏe; rồi đến các kỹ năng học tập thông thường như ghi nhớ, tính toán, trao đổi thông tin, vận động thể chất và kỹ năng nghề nghiệp Ngoài ra, những kỹ năng dành cho người lớn tuổi hơn được xếp ở các thứ bậc từ 16 đến 20
Nói cách khác, việc đánh giá của giáo viên về các kỹ năng sống cần cho học sinh trung học
cơ sở mang tính thực tế và phù hợp với độ tuổi của các em Điều này cho thấy trong đội ngũ giáo viên hiện nay đã có nhận thức về nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh của mình
18 Kỹ năng thể hiện thái độ chừng mực trong giao tiếp với
Trang 3829 Kỹ năng đối đầu với những vấn đề tình cảm riêng tư của
32 Kỹ năng giải quyết những vấn đề tế nhị đối với bạn khác
46 Kỹ năng sử dụng các công cụ cơ khí trong sửa chữa vật
52 Kỹ năng thể hiện những quy ước giao tiếp (như bắt tay,
54 Kỹ năng nhận biết trách nhiệm và thực hiện việc giúp đỡ
56 Kỹ năng nhận biết trách nhiệm và đóng góp vào sự phát
58 Kỹ năng nhận biết trách nhiệm và giúp đỡ đối với người
Trang 39các giai đoạn cuộc đời
61 Kỹ năng chống lại những điều không thỏa mãn trong cuộc
kỹ năng sống nói chung (thứ bậc 7), Kỹ năng tư duy (thứ bậc 8), Kỹ năng xưng hô lịch thiệp với người khác (thứ bậc 9), Kỹ năng kiềm hãm tính nông nỗi (thứ bậc 10), Kỹ năng thể hiện lòng biết
ơn người khác (thứ bậc 11), Kỹ năng nhận biết trách nhiệm và giúp đỡ đối với người thân (thứ bậc 12), Kỹ năng chăm sóc sức khỏe (thứ bậc 13), Kỹ năng tử tế với những người xung quanh (thứ bậc 14), Kỹ năng độc lập suy nghĩ của bản thân (thứ bậc 15)
Từ những đánh giá của giáo viên về các kỹ năng sống cần bồi dưỡng cho học sinh qua bảng 2.2, chúng ta thấy kĩ năng được đánh giá cao nhất vượt lên trên cả kỹ năng học tập đó là kĩ năng giao tiếp
Bởi hằng ngày, chúng ta thấy trẻ vẫn còn nhiều hạn chế trong giao tiếp, thể hiện rõ trong ứng
xử, xưng hô với người khác Đa số trẻ còn tỏ ra thiếu lịch thiệp, không thể hiện được sự tôn trọng đúng mực, ngại bày tỏ lòng biết ơn, ngại xin lỗi, nhận lỗi khi sai phạm Hầu hết các em chưa biết cũng như chưa có kỹ năng dám chịu trách nhiệm về việc làm của bản thân Số đông trẻ thiếu kỹ năng nhận biết và thực hiện trách nhiệm đối với gia đình cũng như chưa biết giúp đỡ người thân
Đặc biệt, do sự thay đổi tâm sinh lý lứa tuổi cùng với sự phát triển nhanh về thể chất nên trong giao tiếp các em chưa biết cách kiềm hãm tính nông nỗi, thiếu sự cảm thông đối với những người xung quanh Ngoài ra các em cũng chưa biết tự chăm sóc sức khỏe bản thân mình Trong học tập các em chưa có kỹ năng học tập tốt, khoa học; đa số chưa có được kỹ năng độc lập suy nghĩ của bản thân, tư duy còn yếu kém hoặc còn phụ thuộc vào người khác khi suy nghĩ để giải quyết một vấn đề
+ Cần thiết ở mức độ cao:
Kỹ năng nhận biết trách nhiệm và thực hiện việc giúp đỡ người khác (cho dù chưa quen biết) (thứ bậc 16), Kỹ năng chăm sóc thể chất của bản thân (thứ bậc 17), Kỹ năng nhận biết khả năng của bản thân (thứ bậc 18), Kỹ năng giải quyết vấn đề bằng suy nghĩ chín chắn (thứ bậc 19), Kỹ năng
Trang 40làm chủ xúc cảm của bản thân (thứ bậc 20), Kỹ năng đối mặt với những thất bại trong cuộc sống (thứ bậc 21), Kỹ năng nhận biết lập trường của bản thân (thứ bậc 22), Kỹ năng sử dụng máy tính (thứ bậc 23), Kỹ năng nhận biết niềm tin của bản thân (thứ bậc 24), Kỹ năng tự khẳng định của bản thân (thứ bậc 25), Kỹ năng giải quyết những vấn đề liên quan đến sức khỏe của bản thân (thứ bậc 26), Kỹ năng nhận biết trách nhiệm và thực hiện các hoạt động chung của cộng đồng, đất nước (thứ bậc 27)
Qua đánh giá của giáo viên đã nêu trên và qua thực tế quan sát ta thấy còn nhiều học sinh chưa có kỹ năng làm chủ cảm xúc bản thân nên cũng chưa có kỹ năng nhận biết lập trường, niềm tin cũng như khả năng của bản thân, từ đó thiếu nhận biết trách nhiệm và thực hiện việc giúp đỡ người khác Trong cuộc sống nhiều em chỉ lo học và vui chơi mà quên chăm sóc bản thân, ít tham gia các môn thể dục, thể thao rèn luyện thể chất Một số em không có kỹ năng đối mặt với những thất bại trong cuộc sống nên khi gặp thất bại trong học tập thì tìm cách giải thoát bằng con đường tự tử, bỏ nhà ra đi Trong thực tế, có một số em thiếu kỹ năng giải quyết vấn đề bằng suy nghĩ chín chắn nên đôi lúc gây ra hậu quả nghiêm trọng: Bạn chết, bản thân mình vào tù, gián đoạn học tập
+ Cần thiết ở mức trung bình:
Kỹ năng tổ chức cuộc sống hằng ngày (thứ bậc 28), Kỹ năng thể hiện những quy ước giao tiếp (như bắt tay, chào hỏi lịch sự…) (thứ bậc 29), Kỹ năng đối đầu với những vấn đề tình cảm riêng tư của bản thân (thứ bậc 30), Kỹ năng thể hiện thái độ chừng mực trong giao tiếp với người khác (thứ bậc 31), Kỹ năng sắp xếp phòng riêng của bản thân (thứ bậc 32), Kỹ năng giải quyết những vấn đề liên quan đến giới tính của bản thân (thứ bậc 33), Kỹ năng diễn tả một cách hoạt bát qua viết và nói (thứ bậc 34), Kỹ năng kiềm hãm những nhu cầu không cần thiết của bản thân (thứ bậc 35), Kỹ năng thực hiện những công việc làm tăng tính tự trọng của bản thân (thứ bậc 36), Kỹ năng biết đặt mình vào vai trò của người khác (thứ bậc 37), Kỹ năng giải quyết những vấn đề tế nhị đối với bạn khác giới của bản thân (thứ bậc 38), Kỹ năng lý giải một cách hoạt bát qua viết và nói (thứ bậc 39), Kỹ năng thể hiện sự đồng cảm trong giao tiếp với người khác (thứ bậc 40)
Xuyên suốt các ý kiến đánh giá xếp loại của giáo viên qua các thứ bậc thể hiện trong bảng 2.2 trên, ta thấy rõ chính kỹ năng giao tiếp giúp cho quá trình tương tác giữa các cá nhân, tương tác trong nhóm và với tập thể đông đảo hơn sẽ giúp đạt kết quả tốt đẹp Kỹ năng giao tiếp giúp cá nhân bày tỏ suy nghĩ cảm xúc và tâm trạng của mình, giúp người khác hiểu mình rõ hơn Thái độ cảm thông đối với người khác cũng góp phần giúp họ giải quyết vấn đề mà họ gặp phải nhưng thực tế cũng còn nhiều trẻ nhất là trẻ được sinh ra trong những gia đình ít con thì hầu như thiếu kỹ năng tổ chức cuộc sống hằng ngày, không biết sắp xếp phòng riêng của bản thân, không biết kiềm hãm những nhu cầu không cần thiết của bản thân