XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG, TRƯỜNG HUFLIT, ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ TIN HỌC, TP.HCM
Trang 1PH ẠM THÚY HƯƠNG TRIÊU
ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ TIN HỌC
TP.HCM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS ĐOÀN VĂN ĐIỀU
Trang 2ạm TP Hồ Chí Minh, tôi đã tiếp thu được nhiều kiến thức mới, những kinh nghiệm quí báu, là hành trang cho tôi tiếp tục thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình
in trân trọng gởi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến Thầy Hướng Dẫn Khoa Học - Phó Giáo Sư Tiến Sĩ Đoàn Văn Điều- đã nhiệt tình định hướng, gợi mở, giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện và hoàn chỉnh đề tài này
in được gởi lời cảm ơn chân thành đến Tiến Sĩ Trưởng Khoa TLGD
Hồ Văn Liên, Tiến Sĩ Nguyễn Thị Bích Hồng, Tiến Sĩ Nguyễn Thị Thanh Bình đã hỗ trợ hết lòng trong việc góp ý và cung cấp các công
cụ tri thức hữu ích
in trân trọng gửi lời cảm ơn đến Giảng Viên Cao Cấp – Nhà Giáo Ưu Tú Huỳnh
Thế Cuộc, Hiệu Trưởng trường Đại Học Ngoại ngữ Tin học TP HCM, đã chắp cánh cho mong ước được học tập và cống hiến dài lâu vào công cuộc xây dựng Đất Nước
in chân thành gởi lời cảm ơn đến Tiến Sĩ Hồ Tấn Sính, Trưởng Ban Thanh tra Giáo dục và Đảm bảo Chất lượng; đến các chuyên gia Phạm
Hồng Kỳ, Nguyễn Đình Lý và quý thầy cô Giảng viên; cùng đến toàn
thể Sinh viên của HUFLIT đã nhiệt tình hưởng ứng đợt Khảo sát chất lượng này
in chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Khoa học Công nghệ và Sau Đại học, quý thầy cô Giảng viên, Cán bộ, Nhân viên của trường ĐH Sư phạm TP HCM đã
tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
tại trường
TP H ồ Chí Minh, ngày 26 tháng 11 năm 2010
NGƯỜI VIẾT LUẬN
PH ẠM THÚY HƯƠNG TRIÊU
Trang 3STT CỤM VIẾT TẮT Ý NGHĨA DIỄN ĐẠT
(Balanced Score Card)
(Customer relationship management )
(Total Quality Management)
Trang 4MỞ ĐẦU
1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI:
Việt Nam có dân số hơn 86 triệu người, trong đó có 26 triệu người ở độ tuổi từ 15 đến 301, và tỉ lệ biết chữ được tuyên bố chính thức vào năm 2006 là 93% 2 Giữa 2 năm học 1999 - 2000 và 2004 - 2005, tổng số người học đại học tăng 148% (từ 893,754 sinh viên lên 1,319,754 sinh viên) 11 Từ năm 1999, số trường đại học và cao đẳng đã tăng gấp đôi và số lượng giảng viên cũng tăng lên 43% 12 Mặc dù số sinh viên đậu đại học và cao đẳng sau kỳ thi đại học quốc gia đã tăng từ 10% lên
17% 13, việc tiếp cận GDĐH vẫn đang là một thách thức lớn đối với Việt Nam.9
Bên cạnh việc gia tăng về số lượng, rất cần thiết phải tăng về chất lượng GDĐH
Một trong những mục tiêu cụ thể được ban hành trong Quyết định Cải cách Cơ bản
và Toàn diện tại Việt Nam 2006 - 2020 (HERA) là "xây dựng và phát triển bộ máy
đảm bảo chất lượng và hệ thống kiểm định GDĐH" 8 Mặc dù hệ thống kiểm định chất lượng đã được triển khai và tiếp tục phát triển ở các cơ sở GDĐH, vấn đề về
đảm bảo chất lượng liên quan đến các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục bên ngoài (giáo dục xuyên biên giới) vẫn chưa nhận được cùng một mức độ quan tâm 10
Trong một môi trường toàn cầu mở rộng, hoạt động giáo dục đang ngày càng cạnh
tranh và chịu phí tổn cao Được điều hành trong những hoàn cảnh khác nhau, làm thế nào để đảm bảo chất lượng giáo dục đại học là một trong những thách thức lớn
mà các trường đại học và các chính phủ toàn cầu phải đối mặt Từ kinh nghiệm của các quốc gia phát triển, giáo dục đại học đã đóng một vai trò quan trọng trong lịch
sử, tạo sự năng động về mặt xã hội và kinh tế cho mỗi cá nhân hưởng thụ giáo dục, tạo ra một nền văn hóa, khoa học và công nghệ tiến bộ cho xã hội
Phát triển giáo dục Việt Nam được xem là chiến lược quốc sách hàng đầu trong công cuộc xây dựng đất nước giai đoạn hội nhập toàn cầu ngày nay trong đó vấn đề mở rộng biên độ ảnh hưởng cũng như củng cố chất lượng Đào Tạo Đại Học đang được đặt ra khá cấp bách cho ngành Giáo Dục- Đào Một hệ thống giáo dục đại học với các hình thức khác nhau, trong đó hoàn thiện về cơ bản tất cả các ngành học, kết hợp giữa hình thức giáo dục chính quy theo truyền thống và đa dạng loại hình mở rộng, tích hợp giáo dục cao đẳng, đại học và giáo dục cao học đã được thực hiện
Giáo dục đại học Việt Nam đang đương đầu với một nhu cầu cấp bách trong việc cải tổ!
Trang 5Vào năm 2004, Đại Học Quốc gia Tp HCM cho xuất bản quyển “Đánh giá chất lượng để đạt được sự hoàn hảo”, một kiểu mẫu trong số những tác phẩm nêu lên cơ
sở lý luận và thực tiễn trong nhận xét và đánh giá chất lượng giáo dục đại học nhưng cũng là một tác phẩm được dịch lại của nước ngoài (đã xuất bản năm1993) Việc mở cửa của giáo dục đại học Việt Nam mới bắt đầu phương hướng nhìn ra thế giới, học tập kinh nghiệm của các nước và tự tăng tốc phát triển rầm rộ về số lượng
Mặt khác, cơ chế kinh tế thị trường thúc giục sự cạnh tranh ngay trong giáo dục nói chung và giáo dục đại học Việt nam nói riêng Vấn đề đảm bảo chất lượng do vậy được đặt lại cho giáo dục đại học Việt Nam Một câu hỏi được đưa ra rằng liệu có sự thống nhất trên quan điểm đánh giá chất lượng giáo dục giữa các trường đại học Quản lý chất lượng tổng thể một cách hiệu quả trên cơ sở thống nhất các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng là điều kiện cần để thưc hiện bảo đảm chất lượng, đặc biệt, để cải tiến chất lượng giáo dục đại học
Giáo dục đại học Việt Nam đang giữ vai trò đòn bẫy phát triển kinh tế đất nước Do
đó, biện pháp nâng cao chất lượng đại học cần được quan tâm, đồng thời từng bước bảo đảm cân bằng chất lượng đại học khu vực và quốc tế Nâng cao vị thế giáo dục đại học Việt Nam cũng góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế đất nước
Với những lý do trên, đề tài “Xây dựng mô hình bảo đảm chất lượng đại học Trường Đại Học Ngoại ngữ Tin Học Thành Phố Hồ Chí Minh” được thực hiện
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Trên cơ sở khảo sát thực trạng bảo đảm chất lượng giáo dục đại học ở trường Đại Học Ngoại ngữ Tin học Thành Phố Hồ Chí Minh, đề tài xây dựng mô hình bảo đảm chất lượng áp dụng cho đại học này
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
Để đạt được mục đích nêu trên, đề tài đề ra ba nhiệm vụ cần giải quyết:
3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài
3.2 Khảo sát thực trạng bảo đảm chất lượng tại trường Đại Học Ngoại ngữ
Tin học Thành Phố Hồ Chí Minh
3.3 Đề xuất mô hình bảo đảm chất lượng cho đại học Việt Nam trên cơ sở
tham khảo một số lý thuyết bảo đảm chất lượng đại học trong nước, ngoài nước và tình hình thực tiễn
Trang 64 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU:
5 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU:
Đại học Việt Nam đã có những cố gắng đưa ra những tiêu chí đánh giá chất lượng nhưng chưa theo hệ thống và chưa mang tính toàn diện Nếu xây dựng được một mô hình bảo đảm chất lượng thì việc quản lý chất lượng sẽ được cải tiến
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Đề tài sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
6.4 Phương pháp Delphi- lấy ý kiến chuyên gia;
6.4 Phương pháp toán thống kê ứng dụng để xữ lý số liệu thông qua phần mềm SPSS for Window 16.0
Trang 7NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
1.1.1 Tại Việt Nam :
1.1.1.1 Giáo dục Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Năm 938, dân tộc Việt Nam khôi phục nền độc lập, thống nhất quốc gia, xây dựng nhà nước phong kiến Các triều đại thường chú trọng việc xây dựng một trường đại học ở kinh đô Nền giáo dục phong kiến do nhà nước chỉ đạo được hình thành và phát triển qua 10 thế kỷ, cơ bản là giống nhau về cơ cấu, nội dung, cách tổ chức việc dạy và học, thi hành chế độ khoa cử Trên dưới đều lấy Tứ thư, Ngũ kinh làm sách giáo khoa Các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn tổ chức các khoa thi (thi hương, thi hội, thi đình hay thi tiến sĩ) về cơ bản là giống nhau Từ năm 1075, nhà Lý mở khoa thi Minh Kinh đầu tiên, đến năm 1919, nhà Nguyễn tổ chức khoa thi Hán học cuối cùng Chế độ khoa cử của nền giáo dục phong kiến Việt Nam trải qua 844 năm với trên 180 khoá thi và hơn 2900 người đỗ tiến sĩ 84
Trải qua nghìn năm lịch sử ấy, nền giáo dục phong kiến Việt Nam đã đào tạo nhiều thế hệ tri thức tinh hoa của dân tộc, đồng thời cung cấp lực lượng chủ yếu cho hệ thống quan chức quản lý nhà nước và xã hội Nền giáo dục ấy đã đào tạo nên nhiều nhà bác học, nhà văn, nhà viết sử, nhà giáo, thầy thuốc có danh tiếng cùng những thế
hệ tri thức giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng, vun đắp nền văn hiến Việt Nam Một nền giáo dục phong kiến coi trọng luân lý, lễ nghĩa, góp phần cơ bản xây dựng nền tảng đạo đức xã hội Tuy nhiên, quan điểm tồn cổ của một số người đã cản trở những tư tưởng cải cách, kìm hãm sự phát triển của xã hội do phương pháp học khuôn sáo, giáo điều, nặng về tầm chương trích cú, lý thuyết, chạy theo danh vị Chế
độ khoa cử nghiêm ngặt có thể xem là hình thức bảo đảm chất lượng ở Việt Nam thời bấy giờ
Cuối thế kỷ XIX, dưới chế độ thống trị của thực dân Pháp, nền giáo dục phong kiến Việt Nam bị thay đổi toàn bộ, chữ Hán thay bằng chữ quốc ngữ và chữ Pháp Nội dung chương trình, cách học, cách dạy, cách tổ chức các kỳ thi đều thay đổi; hệ thống các trường từ sơ cấp, tiểu học, cao đẳng tiểu học, trung học phổ thông đến các trường dạy nghề, đại học dần dần được hình thành, thay thế các trường lớp của nền giáo dục phong kiến
Trang 8Các trường trong giai đoạn này nhằm đào tạo số công chức cho bộ máy cai trị, các cơ
sở kinh doanh Số trường học ít và số người đi học lại càng ít hơn so với dân số
Khoảng từ năm 1931 đến năm 1940, trên 3 vạn dân mới có một sinh viên (cao đẳng,
đại học) 85
Nửa sau thế kỷ 19 cho đến năm 1945, chính phủ bảo hộ Pháp có sự đầu tư rất ít vào
hệ thống giáo dục đại học Trong những thập niên đầu của thế kỷ 20 một số học viện hàng đầu được thành lập tại Châu Á tạo thành một làn sóng cách tân thể chế giáo dục đại học nhưng giáo dục Việt Nam không có cơ hội tham gia vào đợt cách tân
này Chất lượng giáo dục trong giai đoạn do chính phủ Pháp quy định
1.1.1.2 Giáo dục Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay:
1) Giai đoạn xây dựng nền giáo dục dân tộc và dân chủ Giáo dục phục vụ kháng chiến và kiến quốc (1945- 1954)
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, nền giáo dục mới được hình thành trên cơ
sở tiếp quản và cải tổ nền giáo dục Pháp thuộc, được tiến hành trên 3 nguyên tắc: dân tộc, khoa học, đại chúng với mục tiêu là: "Tôn trọng nhân phẩm, rèn luyện chí khí, phát triển tài năng”; đề cao tinh thần khoa học, học tập và giảng dạy bằng tiếng Việt từ các trường phổ thông đến đại học
Khi thực dân Pháp quay lại xâm chiếm nước ta một lần nữa, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ Các trường học ở thành phố di chuyển về nông thôn và các khu an toàn Năm 1950, Trung ương Ðảng và Chính phủ quyết địng tiến hành cải cách giáo dục: Nền giáo dục của dân, do dân, vì dân được thiết kế trên 3 nguyên tắc: Dân tộc, khoa học, đại chúng Phương châm giáo dục là học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn Ðến năm học 1953- 1954, ở vùng giải phóng đã có 4 trường đại học đầu tiên của cả nước
Theo đánh giá từ phía bên ngoài của Neal Koblitz3, sau khi giành độc lập, Việt Nam xây dựng nền móng giáo dục đại học trên một thể chế giáo dục đại học rất yếu kém
2) Giai đoạn giáo dục phục vụ sự nghiệp xây dựng XHCN ở miền Bắc và thống nhất đất nước (1954- 1975)
Sau năm 1954, nền giáo dục dân chủ nhân dân được xây dựng trong kháng chiến chuyển hướng mạnh mẽ nhằm đáp ứng yêu cầu mới của nhiệm vụ xây dựng CNXH
ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.4
Trang 9Cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai ở miền Bắc là bước đi quan trọng trong quá trình xây dựng nền giáo dục XHCN Hệ thống giáo dục mới này được tiến hành cả ở giáo dục đại học và chuyên nghiệp lúc bấy giờ hãy còn rất khiêm tốn về số lượng Trong giai đoạn đất nước hai miền chia cắt, giáo dục đại học Miền Bắc chịu ảnh hưởng đậm nét của Liên Xô định hướng xây dựng theo chủ nghĩa xã hội Do cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, các trường học và các cơ sở giáo dục vừa tiến hành
sơ tán, vừa tiếp tục duy trì việc dạy và học ở tất cả các lớp học, các ngành học Bảo
vệ đất nước để sống còn và xây dựng giáo dục đại học để tồn tại: Mỗi công dân Việt Nam đều nâng cao ý thức trách nhiệm to tát hơn: gánh vác số phận dân tộc trên vai;
và vì vậy, khái niệm bảo đảm chất lượng đại học chưa được đề cập nhiều Nhưng dù không được gióng trống phất cờ, giáo dục đại học lúc bấy giờ vẫn kiên trì theo đuổi
sứ mạng của nó bằng đầy ý chí và lòng quyết tâm của dân tộc: Việt Nam bị chia cắt, miền Bắc dưới sự tàn phá của cuộc chiến tranh do người Mỹ mang đến không phải chỉ ở khía cạnh vật chất mà còn cả về mặt văn hoá Trong suốt thời gian Hà Nội bị ném bom, việc giảng dạy đại học và nghiên cứu khoa học được duy trì trong các khu rừng cách xa Thủ đô đã góp sức làm cho giáo dục được liên tục
3) Giai đoạn xây dựng hệ thống giáo dục thống nhất trong cả nước và đổi mới giáo dục Việt Nam
Năm 1975, đất nước hoàn toàn giải phóng Nhiệm vụ cấp bách của ngành giáo dục là xây dựng một nền thống nhất theo định hướng XHCN Ðến năm 1976, việc đào tạo sau đại học được triển khai, đến năm 1980 đã có 42 trường đại học và viện nghiên cứu khoa học được quyết định là cơ sở sau đại học
Tháng 1/1979, cuộc cách mạng lần thứ ba được triển khai Mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, các trường trung học chuyên nghiệp ở trung ương và địa phương được cải cách, từ mục tiêu đào tạo đến nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy Tuy nhiên, những khó khăn của nền kinh tế - xã hội và những trở ngại của bản thân ngành giáo dục đã tác động trực tiếp đến quá trình phát triển của ngành, làm cho chất lượng của hệ thống giáo dục ngày càng giảm sút Trước tình hình đó, Bộ Giáo dục đã xây dựng và triển khai chương trình phát triển giáo dục 3 năm (1987- 1990) Sau 3 năm đổi mới ấy, ngành giáo dục đã dần tháo gỡ khó khăn, khắc phục tình trạng yếu kém
Mặt khác, tình trạng đất nước bị bao vây, cấm vận được tháo gỡ dần dần đến ngày 11/ 7/1995, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ và ngày 17/7/1995, Việt Nam đã ký Hiệp định khung với EU; đến 28/7/1995 ta gia nhập ASEAN, là thành viên thứ 7 của tổ chức khu vực này Các điểm mốc của lịch sử đối ngoại nêu
Trang 10trên thực sự có ý nghĩa quan trọng trong việc cải tổ giáo dục Việt Nam trong đó có GDĐH Việt Nam Đất nước bắt đầu mở cửa nhìn ra thế giới vào giữa thập niên cuối của thế kỷ 20 và GDĐH Việt Nam đã bỏ ra vài năm định hướng trước khi lấy lại thế cân bằng trong xu thế toàn cầu hoá của thế giới: sự phát triển rầm rộ về số lượng các trường đại học (kể cả các trường cao đẳng và trung học chuyên nghiệp trực thuộc)
5làm cho vấn đề chất lượng trở thành một câu hỏi lớn cần được quan tâm nhiều hơn
Từ năm 2005 Việt Nam triển khai công tác kiểm định các trường đại học trên hệ thống toàn quốc Đây là một bước tiến đáng kể của các hoạt động bảo đảm chất lượng của GDĐH Việt Nam sau mười năm đổi mới Sự kiện Việt Nam gia nhập WTO 07/11/2006 và nhiều vai trò mới của đất nước trên thương trường cũng như
chính trường quốc tế cũng góp phần thúc đẩy trách nhiệm thể chế của GDĐH Việt
Nam6 trước nhân dân Việt Nam và toàn cầu
1.1.2 Xu hướng chất lượng và bảo đảm chất lượng giáo dục đại học thế giới trong giai đoạn hiện nay:
Giáo dục đại học Mỹ:
Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ là quốc gia trẻ có bề dày lịch sử không hơn thành phố Sài Gòn của Việt Nam Do vậy, về mặt kinh điển không thể so sánh với một số quốc gia Châu Âu như Anh, Pháp, Nga
Cấu trúc GDĐH Hoa Kỳ vay mượn từ các trường cao đẳng Anh quốc và các đại học nghiên cứu Đức, nhưng các đặc điểm của nó có ảnh hưởng sâu sắc bởi ba yếu
tố triết học hình thành niềm tin đời sống công cộng Mỹ
Đầu tiên GDĐH Mỹ hình thành từ ý tưởng của Jefferson về hạn chế sự ảnh hưởng của chính phủ, tự do ngôn luận chính phủ và tự do ngôn luận; các tiểu bang, cộng đồng tôn giáo, và cá nhân được thành lập và duy trì một loạt các viện GDĐH và tiếp tục để bảo vệ các tổ chức này khỏi sự kiểm soát của các cấp của chính phủ
Thứ 2 ảnh hưởng từ chủ nghĩa tư bản và niềm tin vào logic phát triển của thị trường Các trường cao đẳng và đại học Mỹ cạnh tranh vì lực lượng sinh viên, giảng viên, và tạo được nguồn ngân sách theo giả định sự đa dạng và chất lượng cao đạt được thông qua cạnh tranh chứ không phải do kế hoạch tập trung Triết lý này cuối cùng gây ảnh hưởng sâu sắc trong GDĐH Mỹ là sự bảo đảm trên diện rộng cơ hội bình đẳng và tính năng động của xã hội
Trang 11GDĐH là một hoạt động thực sự theo lý tưởng trong quá trình hình thành của bàn thân đại học, ngoại trừ các tổ chức và cá nhân dựa trên giới tính, tôn giáo, chủng tộc / sắc tộc, và tầng lớp xã hội Tuy nhiên, trong thế kỷ 20, các biến chuyển của kinh tế và xã hội đã biến GDĐH thành một lợi thế cho tầng lớp trung lưu Việc phụ nữ và dân tộc thiểu số theo học đại học ngày càng đông, đi ngược lại GDĐH truyền thống của Mỹ Quan điểm của người Mỹ xem GDĐH là điều kiện cần của
lý tưởng quốc gia, - lý tưởng về vùng đất "của cơ hội."
Trong BĐCL, mỗi trường ĐH Mỹ sử dụng riêng cho mình một mô hình cơ cấu
và (công cụ) quản lý Tuy nhiên, mô hình chứng chỉ thẩm định (accredited)
được áp dụng rộng rãi và được xem như giấy phép hành nghề giúp cho các trường đại học có khả năng mở rộng tầm ảnh hưởng của mình Chứng chỉ thẩm định được cấp bởi cơ quan kiểm định GDĐH Mỹ CHEA – Council for Higher Education Accreditation- xác nhận các tiêu chuẩn và các tiến trình tổ chức thẩm định thích hợp với chất lượng hàn lâm, có qui trình cải tiến và đủ khả năng giải trình trách nhiệm trước SV, phụ huynh, chính quyền, các cơ quan tài trợ và người
sử dụng lao động 7 CHEA chủ quản 7 tổ chức CHEA-địa hạt
Hai qui định quan trọng về đánh giá chất lượng theo Hướng dẫn của
tổ chức UNESCO :
(Trích lược các điều khoản có liên quan tại Hội nghị UNESCO toàn cầu về chất lượng GDĐH 1998) 55, 83
Điều khoản 11 Đánh giá chất lượng:
Chất lượng trong GDĐH là một khái niệm đa hướng chứa đựng tất cả những chức
năng, hoạt động, việc giảng dạy và chương trình giáo khoa, việc nghiên cứu và học bổng, bộ phận văn phòng các khoa, sinh viên, cơ sở vật chất và trang thiết bị, dịch vụ cộng đồng và môi trường hàn lâm 83, 25
a Sự tự đánh giá trong và đánh giá ngoài, được thực hiện mở bởi các chuyên gia độc lập, nếu có thể bởi các chuyên gia quốc tế, rất quan trọng cho quy trình bảo đảm chất lượng
Các cơ quan quốc gia độc lập nên được thành lập và cần xác nhận những tiêu chuẩn chất lượng sao cho có thể nhận dạng được ở các cấp độ quốc tế Tuy vậy, nên chú ý đến các bối cảnh của quốc gia, địa phương, khu vực để xem xét sự phong phú đa dạng và tránh rập khuôn đồng bộ
Trang 12Các nhà đầu tư và các bộ phận hưởng phúc lợi xã hội của hệ thống GDĐH cũng nên
là một phần quan trọng của tiến trình đánh giá các viện 83, 28
b Chất lượng cũng đòi hỏi GDĐH nên được định tính bởi những hướng quốc tế
của nó: sự trao đổi kiến thức, hoạt động mạng, sự năng động của giảng viên
và sinh viên; cùng với những dự án nghiên cứu quốc tế có tính đến các giá trị
văn hóa và các điều kiện quốc tế
Các khuynh hướng BĐCL GDĐH của Châu Âu:
Bản Tuyên ngôn Sorbonne được ký giữa các bộ trưởng giáo dục Anh, Pháp, Ý và
Đức vào năm 1998 tại Paris thủ đô nước Pháp đã đề ra chương trình “Cân đối Kiến trúc Hệ thống Giáo dục Đại học toàn Châu Âu 86 mở đầu một cao trào chấn hưng
GDĐH khu vực này và làm bước đệm cho hiệp ước “Tiến trình Bologna” (The
Bologna Process) –sau đây sẽ được gọi tắt là BP - hình thành một năm sau đó Hiệp
ước Tiến trình Bologna xây dựng một hệ thống tiêu chuẩn chất lượng chung cho
hệ thống đại học Châu Âu ngày nay có 46 quốc gia Châu Âu8 tham gia trong đó có
299 thành viên của khối EU
Trong quá trình hoạt động của BP, hàng loạt các tổ chức thanh tra, kiểm định và chứng nhận tiêu chuẩn chất lượng được ra đời cũng như đã có từ trước trên toàn
châu lục ráo riết phục vụ cho các hoạt động chất lượng và bảo đảm chất lượng đại học Châu Âu trong đó có thể kể đến ESU10, EUA11, EURASHE12, EI, ENQA13, UNICE Council of Europe, the European Commission, UNESCO, ENIC14, NARIC15
và EURODOC
Bản tuyên ngôn của BP tạo tiền đề phát triển các vấn đề chủ yếu bao gồm:
o Quyền tự trị của trường đại học,
o Bảo đảm chất lượng,
o Tính tương hợp của các chương trình học,
o Hệ thống chuyển đổi tín chỉ trên toàn Châu Âu,
o Sắp xếp các cấp độ giáo dục,
o Bổ sung văn bằng
Các xu hướng cải tiến để đảm bảo chất lượng GDĐH Châu Âu dưới sự dẫn dắt của
BP được xác định có các đặc điểm chính sau:
Trang 13– Có sự thay đổi trong việc tập trung từ phía người dạy và những gì được dạy
đến người học và những gì được học
– Một sự tiếp cận mới “lấy người học làm trung tâm” liên quan đến mối quan
hệ mới giữa thầy và trò trong đó thầy chỉ đóng vai trò xúc tác, trách nhiệm học tập ( của trò) được chia sẻ và việc học tập được phép “ đàm phán”
Phương pháp tiếp cận này tập trung vào việc thực hiện quá trình học tập hơn so với
sự tiếp cận trước đó tập trung vào đối tượng đầu vào hơn Phương pháp “lấy người
học làm trung tâm tạo ra sự linh hoạt và dễ dàng đối với việc phát triển những mô hình được áp dụng bởi người thầy và vì vậy, có lợi cho người học, cung cấp cơ hội cho việc học suốt đời
o Tiến trình này hoạch định người học là những cá nhân độc lập, chịu trách nhiệm giải trình về các tình huống bản thân, kinh nghiệm, phương thức hoạt động, phong thái và nhu cầu học tập
o Người học liên quan đến những gì mình học, xây dựng việc học có ý nghĩa riêng cho bằng cách học tập một cách “chuyên nghiệp” chủ động, khám phá
và phản ánh những tri thức tiếp thu được; người thầy có trách nhiệm xây dựng những ý thức phê phán như một bộ phận của quá trình tiếp thu
o Sự đánh giá là để xây dựng một cách tổng quát, và có sự báo hồi liên tục
Hoạt động bảo đảm chất lượng của các cơ quan đánh giá chất lượng ngoài của các
nước Châu Âu đang tăng cường các nguyên tắc dành cho việc bảo đảm chất lượng
của các cơ quan đánh giá ngoài Các nguyên tắc ấy được xác định gồm các tính
– Hai cơ quan đồng trách nhiệm khác cho việc đăng ký và thanh tra định kỳ của GDĐH Châu Âu là European Standards and Guidelines và European Quality Assurance Register
Riêng về kinh nghiệm phát triển mô hình BĐCL, giới chức trách lãnh đạo Tiến
trình Bologna đưa ra mối quan tâm đối với các vấn đề xin được luận kèm sau đây:
Trang 14o Các bối cảnh trở nên phức tạp hơn khi áp dụng BĐCL, vì sự rất khác nhau
giữa các giai đoạn trong cùng hoàn cảnh cũng như sự rất khác biệt giữa các hoàn cảnh Châu Âu không thể đem cân đo trên cùng một tiêu chí,
o Để phát triển liên tục, các đòi hỏi ngày càng cao, và vì thế các yêu cầu đối với
việc phát triển các thủ tục dành cho BĐCL ngày càng cao,
o Sự chuyên môn hóa và chuyên biệt hóa của lĩnh vực phê phán cũng như lĩnh vực nhân sự ở các cơ quan BĐCL:
– Chuyên môn hóa phê phán và nhân sự làm cho BĐCL dần trở thành một bộ môn khoa học mới
– Chuyên biệt hóa phê phán để bảo đảm tính khách quan, trung lập, không thiên lệch khi có nhu cầu so sánh đưa đến đánh giá giữa hai đối tượng, quy định một xu thế cạnh tranh mới trong giáo dục đại học
– Chuyên biệt hóa nhân sự tách các chuyên viên BĐCL nếu có trong một
tổ chức ra thành nhân vật cầu nối trung gian giữa hai tác nhân
o Yêu cầu đối với trách nhiệm giải trình trong các nhóm đối tác khác nhau cần được thống nhất (ngôn ngữ diễn đạt),
o Ngày càng tăng nhu cầu chất lượng của BĐCL, do sự mở rộng của GDĐH
Có nghĩa là, sự đánh giá cần được công bố ở mức xếp hạng, cần chọn ra được thực thể có chất lượng cao nhất
Các quốc gia Châu Á:
Theo báo cáo của Hội thảo hàng năm năm 2010 về chất lượng giáo dục tại các quốc
gia Châu Á, Nhật Bản đã thành lập Viện Quốc Gia Định Mức Hàn Lâm và Đánh
Giá Đại Học 17năm 2000, áp dụng các mô hình đánh giá của Mỹ, đã thực hiện kiểm
định chất lượng cho 99 trường đại học trong nước
Trong khi đó, Hàn Quốc đã thành lập Ủy Ban Giáo Dục Đại Học Quốc Gia Hàn
Quốc từ năm 1984 để xem xét và cung ứng các vấn đề “pháp lý” trong tình trạng về chất lượng của các đại học trên đất nước này Hàn Quốc vào năm 2010 đang đi vào
cấp phép vòng thứ 2 cho các trường đại học trong nước
Trang 15Cũng theo báo cáo tại hội nghị nói trên, Hội Đồng Đánh Giá và Cấp Chứng Chỉ Hành Nghề Đại Học của Đài Loan18 HEEACT được thành lập vào năm 2005 đang
hoàn tất vòng 1 của chương trình cấp chứng nhận cho hơn 4.000 chương trình đại học 4 năm theo mô hình chứng chỉ hành nghề Theo mô tả, mô hình Chứng nhận hành nghề HEEACT áp dụng tính năng phiếu phản hồi (của người trực tiếp sử dụng sản phẩm giáo dục) và các “quan sát bên lề” (của các bộ phận không trực tiếp tham gia hay hưởng thụ tức thời lợi ích của sản phẩm) trong tiến trình và thủ tục đánh giá,
để có thể bảo đảm rằng chương trình đã cung cấp cho sinh viên một môi trường học tập tốt 83
Quan điểm của các quốc gia Arab
Quan điểm của các quốc gia Arab được thể hiện tại Hội Nghị 83 rằng hệ thống GDĐH nên đưa ra một ưu tiên để bảo đảm chất lượng của các chương trình, của hoạt động giảng dạy và các hoạt động khác Các cấu trúc, thủ tục và tiêu chuẩn trong việc bảo đảm chất lượng nên được phát triển ở mức độ khu vực và quốc gia theo hướng các tiêu chí quốc tế đồng thời cung cấp một sự đa dạng theo hướng đặc trưng của mỗi nước, viện hoặc chương trình đào tạo
Các quốc gia Châu Phi được đại diện bởi Dakar:
Theo các Tiến sĩ thuộc viện đại học Marié Ferreira (2003), Nam Phi cần một sự sắp xếp, làm mới lại sự bảo đảm chất lượng thay cho những gì đã cũ trong vài thập niên qua
Vào đầu những năm 1990, tất cả các cán bộ trong ngành giáo dục đại học đồng ý rằng để khôi phục lại chất lượng hệ thống giáo dục đại học và sau đại học trước tiên
phải thông qua ít nhất là ba chiến lược lớn: phát triển mới các hình thức giáo dục đại học (bao gồm cả các tổ chức giáo dục tư nhân có vốn chủ sở hữu và đại học mở
và học tập từ xa), nhận dạng các nguồn tài trợ mới, phát huy chất lượng và công bằng.34, 6
Để khôi phục nền giáo dục đại học ở châu Phi cần quan tâm đến các tổ chức cấp giấy chứng nhận đảm bảo chất lượng và công nhận bằng cấp Để đáp ứng đầy đủ
cho các mối quan tâm, các ủy ban khu vực châu Phi phụ trách việc thực hiện Công ước Arusha quyết định tại kỳ họp thứ 8 được tổ chức vào năm 2005 tại Dakar, Senegal sửa đổi Công ước để đưa vào xem xét các hình thức giáo dục mới cao hơn
và để tích hợp các vấn đề công nhận và bảo đảm chất lượng trong quá trình công nhận bằng cấp82,5
1.2 Cơ sở LL của đề tài:
1.2.1 Một số thuật ngữ :
Trang 161.2.1.1 Bảo đảm chất lượng (BĐCL)
Chất lượng (CL) và chất lượng giáo dục đại học ( CL GDĐH)
Chất lượng đã trở thành một trong những từ phổ biến nhất của ở đầu thế kỷ 21, đặc biệt là trong giáo dục, trong các chính phủ, thị trường lao động, và cha mẹ học sinh
đã chú ý nhiều hơn đến giáo dục Định nghĩa chất lượng thực sự là một câu hỏi, và
những người khác nhau khi được hỏi sẽ có những câu trả lời khác nhau Các học giả
đã đưa ra ít nhất năm định nghĩa về chất lượng Trong khuôn hạn của nghiên cứu này, hai định nghĩa gần nhất với chất lượng GDĐH được đưa ra xem xét dưới đây:
a) Đầu tiên là xem chất lượng (CL) như là việc sản xuất ra sự hoàn hảo bằng cách liên tục cải thiện thông qua việc áp dụng “quản lý chất lượng tổng thể” để tạo ra một triết lý về công việc, con người, và mối quan hệ con người được xây dựng
xung quanh những giá trị chung Định nghĩa chất lượng như thế khá lý tưởng và
phù hợp với các triết lý về quản lý giáo dục hiện đại
• Quan hệ trong quản lý giáo dục là quan hệ ở tầng bậc cơ bản, nhất là quan hệ giữa con người (chủ thể quản lý) với con người (đối tượng và khách thể quản lý) trong hoạt động sư phạm
Chủ thể quản lý Hoạt động sư phạm Đối tượng và khách thể quản lý
• Các tầng bậc cao hơn của quản lý giáo dục bao gồm các quan hệ chủ thể quản lý - hoạt động sư phạm - các yếu tố bên ngoài - khách thể quản lý.(mô hình ĐN1)
Hình 1
.1
Mô hình ĐN1
Như vậy, quản lý chất lượng giáo dục là một bộ phận của quản lý giáo dục
và vì vậy là một bộ phận của quản lý xã hội Quản lý chất lượng giáo dục
Trang 17là quản lý một bộ phận của cả một hệ thống quản lý giáo dục bao gồm mối
quan hệ chủ thể - đối tượng - khách thể (trong những trường hợp cụ thể
nhất định lại chuyển hóa cho nhau) Và vì vậy, quản lý giáo dục còn là quản lý sự quản lý; tự quản lý
b) Một định nghĩa khác cho thấy CL như là một cái gì đó phù hợp với mục đích
của sản phẩm hoặc dịch vụ một khi mục đích đã được vạch ra Vì vậy, nếu chúng
ta cung cấp một mô hình giáo dục đáp ứng được mục đích của nó, có nghĩa là
xem mục đích như là một trong những tiêu chuẩn của chất lượng David cho rằng
điều này là một phương pháp tiếp cận theo kiểu công cụ (CC), nó tránh được việc
xác định bản chất của chất lượng mà nhiều người tin là không thể làm, và, thay
vào đó, tập trung vào những gì cần thiết để đạt được mục đích hoặc nhiệm vụ của các cơ sở giáo dục
Hình 1.2
Mô hình ĐN5
1.2.1.2 Kiểm soát chất lượng và kiểm định chất lượng (KĐCL)
Thuật ngữ kiểm soát chất lượng ám chỉ quy trình áp đặt sự kiểm tra lên hệ thống sản phẩm trong quá trình sản xuất, là hoạt động mang tính đối nội, giữa hai đơn vị trong cùng một tổ chức Trong khi đó, kiểm định chất lượng (KĐCL) cần đến khái niệm tiêu chuẩn để định mức sản phẩm hoặc quy trình sản xuất, làm cơ sở so sánh, đánh giá giữa hai tổ chức khác nhau sử dụng cùng một tiêu chí đánh giá (trong cùng ngành sản xuất chẳng hạn)
Trong khi kiểm soát chất lượng được so sánh với quá trình thanh kiểm tra trong nhà trường thì trong GDĐH, kiểm định chất lượng mang lại cho cộng đồng, đặc biệt là giới sinh viên sự đảm bảo chắc chắn một trường đại học đã được chứng minh thoả
MỤC ĐÍCH GD
Trang 18mãn các yêu cầu và tiêu chí đáng tin cậy và có đủ cơ sở để tin rằng trường này sẽ tiếp tục đạt các yêu cầu và tiêu chí đã đề ra Quá trình kiểm định cũng giúp cho các trường cơ hội tự phân tích- đánh giá để có những cải tiến về chất lượng
Một trường đại học chỉ được công nhận đáp ứng được các yêu cầu và tiêu chí của Hội đồng sau khi nhà trường chịu sự kiểm tra của các cán bộ đánh giá giàu kinh nghiệm và hiểu các yêu cầu kiểm định của giáo dục đại học
Theo Nguyễn Kim Dung 2,5 kiểm định chất lượng và đánh giá thuộc về những đề tài gây nhiều tranh cãi ở các nước có nền giáo dục phát triển, và cũng gây được sự
chú ý ở Việt nam trong những năm gần đây
1.2.1.3 Mô hình đảm bảo chất lượng GDĐH :
a Khái niệm:
Thông qua khảo sát, từ sự hiện diện của các dạng mô hình trong khoa học, kỹ thuật
và đời sống, khái niệm về mô hình có thể được đúc kết như sau:
Mô hình là một đại diện chứa kiến trúc thiết yếu của một vật thể hay sự kiện trong một thế giới thực Có thể chia mô hình thành hai dạng chính:
- Dạng vật lý: mô hình được xây dựng (hoặc vẽ trên mặt phẳng) dưới dạng vật thể
ba chiều, có hình dạng thu nhỏ của vật thực ( như mô hình máy bay, mô hình kiến trúc nhà)
- Dạng tượng trưng: phác thảo hữu hình hóa những tư tưởng về một cấu trúc vốn
vô hình (như một chương trình máy tính, một hệ phương trình toán học )
b Đặc điểm của mô hình:
1 Sự thiếu hoàn hảo:
Vì nó là đại diên, không có m6 hình nào chứa đủ mọi khía cạnh của thế giới thực; ngược lại, nếu nó có đầy đủ mọi tính năng của thế giới thực, nó không còn là mô hình nũa Để sáng tạo ra một mô hình, nhà khoa học trước tiên phải có (tạo ra) những
ý tưởng về cấu trúc thiết yếu và các mối quan hệ giữa của vật thể hoặc/và các sự kiện trong thế giới thực Những ý tưởng ấy nói về những gì cần thiết hoặc quan trọng để giải thích cho các hiện tượng
2 Mô hình có thể được thay đổi hoặc điều chỉnh
Trang 19Mô hình có thể được thay đổi hoặc điều chỉnh tương đối dễ dàng hơn so với vật thực Các khoa học gia hoặc các nhà kỹ thuật thay đổi mô hình của họ và quan sát kết quả thay vì làm những điều chỉnh tương tự trên vật thực vì điều này đơn giản, tiện lợi hơn
Trong tính năng này, làm biến đổi mô hình dạng tượng trưng cũng dễ dàng hơn nhiều so với việc làm thay đổi các mô hình vật lý Charles Farrugia 19đã đưa ra nhiều minh họa và kết luận rằng, trong thực tế, nhiều quy tắc toán học có liên quan đến các hiệu quả của việc xữ lý các biểu tượng trong mô hình tượng trưng
Các giá trị, những gì có thể thay đổi trong một mô hình để sáng tạo ra mô hình mới được gọi là thước đo20 Trong mô hình tượng trưng, thước đo được đại điện bởi các biểu tượng Trong các mô hình toán học, thước đo chính là các biến21 Những thay đổi trong các con số được đưa vào các biến làm thay đổi mô hình
c Ngôn ngữ của mô hình:
Theo thống kê của Kain (Kain,1972)22, trong hai dạng mô hình được nêu trên, dạng
mô hình tượng trưng được sử dụng nhiều hơn trong khoa học: trong ngôn ngữ tự nhiên như trong các thứ tiếng Anh, Đức, Tây ban Nha , trong các ngôn ngữ nghiêm túc như toán, lô-gich học và ngôn ngữ maý tính Môn thống kê là một dạng mô hình được cấu trúc từ một nhánh của ngôn ngữ nghiêm túc toán học, môn đại số
Ngôn ngữ của mô hình bao gồm các chuỗi có trong bộ biểu tượng
Tiến trình chuyển đổi tồn tại hoàn toàn trong mọi lĩnh vực của ngôn ngữ Sự tồn tại của các từ sẽ minh chứng cho tiến trình này; nghĩa là, sẽ có thể chứng minh được một câu mang tính đại số học có ý nghĩa tương đương với một câu khác Tuy nhiên, cần hiểu rõ rằng nó không minh chứng cho sự đúng đắn của mô hình Điều này làm
rõ chức năng của môn Lô – gich học trong việc xây đựng mô hình trong nghiên cứu
khoa học
Phương pháp khoa học là một thủ tục đối với việc xây dựng và xác định các mô hình Sau khi vấn đề được lập công thức, tiến trình mô hình hóa gồm bốn giai đoạn:
1 Khái quát hóa hoặc tư tưởng hóa: Xác nhận các tính năng có
liên quan đến thế giới thực ấy
2 Lập đại diện:
Trang 20Các biểu tượng trong một ngôn ngữ được đưa ra có ý nghĩa như các vật thể, sự kiện hoặc mối quan hệ trong thế giới thực Đây là tiến trnh được sử dụng trong việc chuyển dịch các “bài toán ngôn ngữ” đến những diễn đạt đại số trong môn đại số ở trường trung học Tiến trình này được gọi là đại diện của thế giới Trong môn thống
kê, các biểu tượng của đại số được đưa ra có ý nghĩa trong một tiến trình được gọi là đại diện (có kích thước/ đo đạc được/ khả ước) (measuerment)
có thực hay không mà là mô hình ấy có đầy đủ cho mục đích phía trước, của vấn đề hay không! Xây dựng mô hình trong khoa học là một tiến trình liên tục Các mô hình mới hơn và có vẻ hiệu quả hơn thay thế cho những mô hình cũ không còn thích hợp, với “chân lý” rằng có một sự tiệm cận gần hơn đến thế giới thực
1.2.1.4 Mô hình phương pháp bảo đảm chất lượng:
Trang 21
Mô hình cải tiến liên tục Deming PDCA:
1.2.2 Một số quan điểm lý luận về bảo đảm chất lượng
1.2.2.1 Quan điểm hiệu quả:
Đánh giá hiệu quả của công việc hay thậm chí của một công đoạn của tiến trình
có một tầm quan trọng rất lớn trong vấn đề đảm bảo chất lượng Nhận định đó
cũng không loại trừ BĐCL trong GDĐH Giáo viên có thể sử dụng nhiều phương
pháp tiếp cận và phương pháp để đánh giá việc học tập của học sinh, chẳng hạn
như kiểm tra, kiểm tra cuối kỳ, hùng biện, thảo luận ngay tại lớp Có nhiều
phương pháp và cách tiếp cận có hiệu quả hơn để hoàn thành và đưa ra kết luận
về việc học tập của các sinh viên
Trên quan điểm thị trường, hiệu quả chất lượng được đánh giá trên khả năng
cung cấp giá trị của đồng tiền và phải được công khai bằng các con số
Hiệu quả, từ một bình diện khác còn mang ý nghĩa hiệu năng, chỉ khả năng của
một chính sách hay chương trình có thể đạt được mục tiêu đã đề ra hay không
Vấn đề là các chính sách và chương trình có nhiều đối tượng, mục tiêu mang
tính cạnh tranh và cái này có thể hoàn thành được dựa vào chi phí của cái kia
Nếu làm một phép tính đầu tư tổng quát từ phía phía nhà cung ứng thì
Hiệu năng = kết quả - chi phí
Để đạt được hiệu năng cao hay gia tăng hiệu năng từ với một định mức ban đầu,
hai biến hàm kết quả và chi phí có thể rơi vào một trong các trường hợp sau:
o Chi phí không tăng nhưng kết quả tăng: tăng năng suất hay chất
- đầu tư cho phương tiện lao động tối tân hiện đại
- đầu tư cho hệ thống đánh bóng danh vị mặt bằng tri thức
1.2.2.2 Quan điểm mục đích- Mục tiêu chiến lược
Trang 22 Trong quan điểm “ Giáo dục phải đáp ứng mục đích của nó” on page 923, để bảo đảm chất lượng giáo dục, trước hết, mục đích giáo dục cần được xác định rõ Việc xác lập mục đích giáo dục mang đầy tính lịch sử và mang tính chiến lược vĩ
mô là nhiệm vụ của cấp nhà nước tối cao
Các mục tiêu chiến lược được vạch ra và điều này có nghĩa là kết quả đã được dự kiến trước
Vào giữa thập niên 90, một phương pháp cải biến mới đã được sử dụng Trong phương pháp mới này, đơn vị đo lường được lựa chọn dựa trên những “ mục tiêu chiến lược “ được vẽ trên biểu đồ chiến lược Với cách tiếp cận này, những mục tiêu chiến lược được phân bổ xuyên suốt 4 viễn cảnh được xem là “ kết nối những điểm” để hình thành nên sự trình bày có thể thấy được dễ dàng của chiến lược và những đơn vị đo lường
MT = Chiến lược + tác nghiệp:
Để phát triển bản đồ chiến lược, những nhà quản lý phải lựa chọn một số mục tiêu chiến lược trong mỗi viễn cảnh, và sau đó định nghĩa nguyên nhân - hệ quả của những mục tiêu này bằng cách vẽ những liên kết giữa chúng Phương pháp
Bảng cân đối điểm (balanced scorecard) là một trong những công cụ quản lý
BĐCL được lập ra từ quan điểm mục tiêu chiến lược này Cách tiếp cận này cung cấp những ngữ cảnh tốt hơn cho việc chọn lựa đơn vị đo lường, và nó làm cho những nhà quản lý tác nghiệp dễ dàng hơn
Một số căn cứ để xác định mục tiêu chiến lược trong GDĐH:
– Đường lối, chính sách phát triển kinh tế-xã hội-giáo dục của Đảng và Nhà nước
– Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội-giáo dục của địa phương/ khu vực – Thị trường
– Nhu cầu đào tạo và nhu cầu khác
– Điểm mạnh và điểm yếu của trường về đào tạo, dịch vụ, về các nguồn lực,
kể cả tiềm lực
MT về số lượng: cơ sở vật chất của nhà trường là con số thực hữu hạn Mỗi đơn
vị cơ sở vật chất chủ thể chỉ có thể phục vụ cho một số lượng khách thể tối đa nào đó của nguồn nhân lực nhất định Phòng ốc, trang thiết bị, tài liệu học tập đều
được hoạch định trước tiên về số lượng để đáp ứng đủ yêu cầu cho công tác
giảng dạy, học tập bao gồm cả công tác nghiên cứu
MT về chất lượng được kể đến sau khi vấn đề số lượng được xác lập Số lượng khách thể đủ lớn và không vượt mức quá hạn phải là một trong những mục tiêu
Trang 23về chất lượng vì khi đó trật tự xã hội của tổ chức còn được bảo đảm để dao động trong mức ổn định
Chất và lượng của hệ thống cơ sở vật chất phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn tài lực của cơ quan Theo cách nói trên, khái niệm “chất lượng tuyệt đối” luôn biến đổi theo tiêu chuẩn và luôn được làm mới khi tiêu chuẩn hay mục tiêu mới được xác lập trên cơ sở phát triển của mục tiêu trước đó Ở nhà trường, để đảm bảo chất lượng tổng thể trong quy hoạch, chỉ tiêu đầu vào hàng năm của các trường luôn được xem xét phù hợp với số lượng tổng thể
MT về cơ cấu và thể chế: Chủ trương xã hội hóa giáo dục ảnh hưởng đến cơ cấu của các trường/ viện trong hệ thống GDĐH Việt Nam Có thể chia cấu trúc tổ chức của các trường/viện làm hai kiểu chính tương ứng với hai hệ thống công lập
và tư thục trong GDĐH24 Hai kiểu cấu trúc đa phần chỉ khác nhau ở cơ cấu hệ thống điều hành, không sai biệt nhiều trong các tổ chức khoa học
Tùy thuộc vào thể chế, chính sách nhà nước của mỗi quốc gia, mức độ phân cấp
và trao quyền cho GDĐH và tuyên bố sứ mệnh của ĐH mà các mục tiêu về cơ cấu được xác lập Những cải cách thành công nhất đều là do có những chủ thể liên quan được trao quyền để thúc đẩy thay đổi Trong các cải cách BĐCL gần đây của GDĐH, hệ thống giải trình trách nhiệm mới đang được xây dựng làm nẩy sinh các mục tiêu về cơ cấu mới
Một vấn đề nữa, thông tin đóng vai trò trung tâm trong bất cứ một hệ thống giải trình trách nhiệm nào và người dân ngày càng trở nên đòi hỏi hơn, áp lực cải thiện chất lượng dịch vụ, tiếng nói và nhu cầu được tham gia của người dân sẽ ngày càng mạnh mẽ hơn dần dà thúc đẩy sự phát triển thể chế và do đó thúc đẩy phát triển mục tiêu cơ cấu mới
Kết quả là mức độ đạt được mục tiêu về các mặt nói trên sau quá trình tiến hành hoạt động Kết quả đạt được của mô hình BĐCL GDĐH là kết quả quản lý giáo dục, thể hiện ở kết quả giáo dục mà việc đánh giá đầu ra trong thời đại công nghệ thông tin không còn là những cảm nhận hay chỉ dựa vào thông tin truyền miệng
nữa Mục tiêu đầu ra không những cần được công bố mà còn phải được minh
chứng trong kết quả báo cáo hàng năm của nhà trường và dần dà, hai25 hệ thống đánh giá và thông tin giáo dục quốc dân phải đạt được mức độ giải trình tường minh trong việc đánh giá xếp hạng giữa các trường
Trang 24Một số mô hình minh họa cơ cấu tổ chức các trường ĐH trên thế giới:
H 1.2c
1.2.2.3 Quan điểm đáp ứng (tính giá trị) và quan điểm phù hợp:
ĐẠI HỌC MWA- CƠ CẤU TỔ CHỨC 88
Ghi chú: : Kiểm soát tiến trình báo cáo và thông tin
:Tham vấn nội bộ :Tham vấn từ các tổ chức bên ngoài
GIÁM ĐỐC D.A
HẾ THỐNG
THI CÔNG
PHÂN TÍCH KHOA HỌC
KỸ SƯ ĐIỀU PHỐI D.A CÁC PHÓ G.Đ CHI
BAN GIÁM ĐỐC
GIÁM ĐỊNH THỜI LƯỢNG
XỮ LÝ
DỮ LIỆU
TIỀN TRẠM
CÁC CƠ QUAN ĐỠ ĐẦU
CÁC NHÓM HỢP TÁC
KỸ THUẬT
Trang 25H 1.2d
Sản phẩm, dịch vụ, một quy trình hay một mô hình lý thuyết chỉ bộc lộ được giá trị khi có tính năng đáp ứng:
Đáp ứng yêu cầu của xã hội:
Lịch sử phát triển nhân loại cho thấy, tất cả những tư tưởng, quan điểm, mô hình sản phẩm sẽ sớm bị loại mất nếu không đáp ứng các yêu cầu, thường là nhu cầu của xã hội các tầng bậc Cũng có những tư tưởng, khái niệm, sản phẩm tồn tại trong tầng bậc này lại không hề có mặt trong tầng bậc xã hội khác
Đáp ứng yêu cầu của tổ chức, đơn vị
Đáp ứng yêu cầu cá nhân người tiếp tiếp nhận, người sử dụng
Ngoài ra, một mô hình lý thuyết muốn đạt tính khả thi không thể bỏ qua quan điểm phù hợp Các cặp/nhóm phạm trù phổ biến trong quan điểm phù hợp:
Phù hợp giữa chủ thể, đối tượng và khách thể
Phù hợp giữa phương thức tiếp cận với các nguồn lực, điều kiện, hoàn cảnh
Phù hợp giữa vị trí của nó với vai trò, chức năng
Phù hợp các thuộc tính hoặc tính văn hóa của dân tộc, quốc tế; nói cách khác, tạo được sự kết nối hài hòa giữa văn hóa dân tộc và các vấn đề mang tính quốc tế Với BĐCL GD, phải tạo được sự hài hòa giữa GD các giá trị truyền thống và các
mô hình hiện đại
Phù hợp với hiện tại và tương lai
Sự phù hợp với mục tiêu có thể bao gồm việc đáp ứng đòi hỏi của những người quan tâm như các nhà quản lý, nhà giáo hay các nhà nghiên cứu giáo dục đại học Sự phù
CÁC TỔ CHỨC CHIẾN LƯỢC
QUAN
HỆ THÔNG TẤN
BAN KHOA GIÁO
BAN QUẢNG
BÁ HỌC ĐƯỜNG
CÁC QUAN
HỆ QUỐC TẾ
CHÍNH SÁCH VÀ CHƯƠNG TRÌNH QUỐC TẾ
CÁC
ĐỀ ÁN QUỐC
PHÓ HIỆU TRƯỞNG ĐỐI NGOẠI
Trang 26hợp với mục tiêu còn bao gồm cả sự đáp ứng hay vượt qua các chuẩn mực đã được đặt ra trong giáo dục và đào tạo Sự phù hợp với mục tiêu cũng đề cập đến những yêu cầu về sự hoàn thiện của đầu ra, hiệu quả của đầu tư Mỗi một trường đại học cần xác định nội dung của sự phù hợp với mục tiêu trên cơ sở bối cảnh cụ thể của nhà trường tại thời điểm xác định mục tiêu đào tạo của mình Sau đó chất lượng là vấn đề làm sao để đạt được các mục tiêu đó
– Cơ sở vật chất và phương tiện dạy học;
– Môi trường đào tạo;
– Chương trình đào tạo:
o Xây dựng chương trình;
o Thực hiện chương trình;
o Kiểm tra đánh giá việc thực hiện chương trình;
– Chất lượng sản phẩm hoàn tất hay chất lượng đầu ra (MT)
Như đã trình bày ở các phần trên, đánh giá CL của một đơn vị mang ý nghĩa so sánh thực trạng chất lượng của đơn vị đó với một bộ các tiêu chí của “chuẩn chất lượng” được lập ra trước Vậy, ít nhất mỗi nhân tố nêu trên cần một bộ tiêu chí
riêng khi đánh giá
Vấn đề tiếp theo, ai nên là người cầm cân nẩy mực trong quá trình đánh giá BĐCL GDĐH?
Hãy luận về vấn đề nguyên tắc Mhairi 41, 11-12 chỉ ra rằng, hai nguyên tắc quan
trọng nhất của việc đánh giá là tính giá trị pháp lý- bao gồm sự hợp lý và tính có hiệu lực- và sự đáng tin cậy trong đó không thể không tính đến tính nhất quán.Như vậy, ở cấp độ trường học, một ban BĐCL nên được thành lập trong đó thành viên phải bao gồm những nhân vật có đủ uy tín và kinh nghiệm trong lĩnh vực đánh giá, đồng thời am hiểu mọi hoạt động cần đánh giá của nhà trường
Trang 27Một số tài liệu khác cũng bổ sung các nguyên tắc phụ bao gồm các đòi hỏi như sự rõ ràng, dễ tiếp cận và minh bạch của thông tin, sự đánh giá toàn diện và công bằng,
việc đánh giá nên là một phần của thiết kế chương trình và có liên quan trực tiếp đến
các mục tiêu chương trình và kết quả học tập, khối lượng công việc đánh giá phải được quản lý, sự mô tả tiến trình và tổng kết cần được bao gồm trong mỗi chương
trình đánh giá trong đó nhiều chương trình cũng bao gồm cả đánh giá chẩn đoán,
thông tin phản hồi để khuyến khích học tập và tạo điều kiện cải tiến một phần của quá trình đánh giá và cuối cùng là chính sách phát triển nhân viên và chiến lược phải
được đánh giá Error! Hyperlink reference not valid
1.2.4 Các xu hướng phát triển chất lượng GDĐH ở thế kỷ 21
Những thay đổi của thế giới trong thập niên đầu của thế kỷ 21 tạo nên nhiều xu hướng mới cho hệ thống GDĐH vốn là cái nôi của mọi ngành khoa học Các cơ quan nghiên cứu trên khắp thế giới đã đưa ra các tổng kết cho thấy hàng trăm xu hướng phát triển của xã hội trong thời đại thông tin mạng làm bá chủ, làm cho hệ thống
GDĐH chịu ảnh hưởng và phân hóa hơn bao giờ cả
Theo thống kê của Nhóm Giải pháp Tổ chức Mạng Cisco,26 thuộc tập đoàn Cisco, một trong những tập đoàn kỹ thuật công nghệ đa quốc gia lớn nhất thế giới 84, có
12 xu hướng lớn nhất trong việc phát triển chất lượng GDĐH thế kỷ 21 77: Dẻo
hoạt hóa (Evergreen students), Toàn cầu hóa (Globalization), Xóa mù công nghệ và thông tin (Technical and information literacy), Thu hút đầu vào, duy trì sĩ số và quảng bá thương hiệu (Enrollment, retention, and branding), Dạy- học lưu động hóa (Mobility), An ninh và an toàn bảo mật ( Safety and security), Xây dựng các trung tâm sư phạm và các cộng đồng cải tổ cơ sở (Pedagogical centers and innovative campus commons), Tiến hóa quy trình Dạy-Học (Evolution of teaching and learning), Sự đồng hành (Collaboration), Có chiến lược và chiến thuật (Strategic plans and technology), Kết hợp học tập và giải trí (Edutainment) và Trào lưu Xanh (Green)
1.2.4.1 Xu hướng 1: Luôn linh hoạt:
Tuổi thanh niên từ 18 đến 26 thường đặc biệt thích áp dụng các kỹ thuật mới Họ sử dụng những món hàng mới nhất và mang chúng vào trường đồng thời mong muốn rằng trường của họ có đầy đủ cơ sở vật chất thích ứng để tiện nghi cho họ sử dụng các công nghệ tiến tiến nhất ấy
Một trong những khuynh hướng lớn nhất bao gồm nhu cầu cấp bách về Web 2.0 và các mạng xã hội như blogs and wikis, các kho và các website như YouTube, iTunes
Trang 28U, and Big Think Sự tràn ngập của các dòng điện thoại di động thông minh như iPhone, cùng với các công cụ thiết bị khác (như video mở rộng trên mạng ), tạo ra cả một kênh thông tin phục vụ việc học tập mà ngày nay được đưa vào như công cụ học tập chính thức có cả tên gọi “m-learning” Đối với hầu hết sinh viên năng động và bận rộn của thế kỷ 21, internet thực sự là đời sống thứ hai, cung cấp những chương trình theo nhu cầu và ý thích của sinh viên, giúp họ liên kết trong hoạt động học tập
và các sinh hoạt khác
Các đại học ngày nay tiếp tục thử nghiệm những phương cách có thể kết hợp những công cụ nêu trên để hỗ trợ cho việc cải thiện năng suất học tập trong một môi trường ngày càng dẻo hoạt Nhiều đại học còn xem kỹ thuật công nghệ là tài sản chủ yếu giúp họ sáng tạo nên hệ thống cơ sở ảo thông minh liên kết với các cơ sở vật chất, nhằm thu hút đội ngũ sinh viên và giảng viên xuất sắc nhất
1.2.4.2 Xu hướng 2: Toàn cầu hóa
Nhu cầu của giáo dục đại học toàn cầu đang ngày càng tăng về số lượng và phát triển
về chất lượng Hiện nay, trên bình diện thế giới, có trên 100 triệu sinh viên dạng này52, 2,84 Các cơ sở học đường mới được xây liên tục trong đó có cả những cơ
sở liên tục phát triển mạng lưới cũ của mình Các trường đại học quốc tế đang ráo riết cạnh tranh nhau thu hút các nguồn lực, các sản phẩm khoa giáo, sinh viên xuất sắc và cả quỹ đầu tư
Việc mở rộng biên giới giáo dục ra khỏi phạm vi một quốc gia tạo ra các cơ hội cho sinh viên và cán bộ khoa trong khía cạnh trao đổi chương trình học và môi trường làm việc Trung Quốc, Ấn Độ và các quốc gia Trung Đông đã nhanh chóng trở thành các khu vực chủ yếu cho việc phát triển các cơ sở học đường mới không riêng của Châu Âu và Mỹ, mà còn là mảnh đất màu của các nước phát triển Châu Á Môi trường học tập toàn cầu cho sinh viên một cơ hội để mở rộng mở rộng hồ sơ của họ
ra những trang kinh nghiệm đáng giá cho lực lượng lao động ngày nay Đã đến lúc đại học sử dụng các cơ sở nước ngoài của họ để đào tạo ra các tài năng xuất chúng của thế giới và xây dựng các mối quan hệ quốc tế, thành lập một sự hiện hữu của bản thân họ trên toàn cầu và hỗ trợ cho sự phát triển địa phương 75, 82
1.2.4.3 Xu hướng 3: Xóa mù tin học và kỹ thuật
Càng ngày, các cơ sở học đường càng nổ lực trong việc phát triển khả năng nắm bắt
kỹ thuật và tạo ra một văn hóa học đường cổ súy cho việc sử dụng vi tính, các thiết
bị thông minh và các công cụ đổi mới khác trong các chương trình giáo khoa
Trang 29Việc nắm bắt thông tin là một lãnh vực thuộc đề tài khác Có thể trong số rất nhiều sinh viên biết cách sử dụng các thiết bị không cần phải nắm giữ thông tin Thế hệ sinh viên lớn lên trong sự tiến bộ vượt bực của kỹ thuật ngày nay sở hữu thêm những khả năng công nghệ của vi tính và các phần mềm kỹ thuật Tuy nhiên nhiều người trong số họ không biết cách sử dụng công nghệ kỹ thuật vào những mục đích hàn
lâm Đại học đang đảm trách điều này qua các phương pháp đa dạng như các chương trình thư viện bao gồm cả các thao diễn lẫn sự phục vụ hướng dẫn
Đồng thời, các đại học đang phát triển nét văn hóa công nghệ thông qua các cảnh trí của những khu công cộng, các bàn hướng dẫn và các chương trình thuê mướn sinh viên
Sự nắm hiểu công nghệ và thông tin tiếp tục làm tăng thêm tầm quan trọng của các
cơ sở học đường đồng thời bảo đảm cho sinh viên trở thành những thí sinh hiện hữu trong thị trường nhân lực toàn cầu Đại học đang khám phá những phương thức cung cấp cho sinh viên nguồn năng lực được đòi hỏi để sử dụng công nghệ thông tin vừa khôn ngoan vừa mạnh mẽ
1.2.4.4 Xu hướng 4: Ba vấn đề Quảng bá thương hiệu, Chiêu sinh
và Duy trì chất lượng GDĐH:
Các trường học ngày nay cũng nhận ra rằng internet là cách tốt cho việc tiếp thị các
chương trình giáo khoa cho các sinh viên trong tương lai, đồng thời quảng bá thương hiệu của trường mình Các trường đại học cũng đang thiết lập các đường dẫn cũng như các trang web nối mạng dành riêng cho các sinh viên mới được công nhận vào năm nhất, cho phép họ liên hệ qua mạng với các dịch vụ và cộng đồng học đường của trường trước khi họ nhập học
Sự hiện diện của các trường trên các cộng đồng trên mạng 27nâng cao uy tín thương hiệu của chính các trường ấy Các kênh giáo dục của Youtube và i’Tune U không chỉ hiệu quả trong việc dạy và học mà còn giúp quảng bá những thứ khác hàn lâm hơn nhưng phải gọi là sức mạnh của học đường Video truyền đạt lại hình ảnh của các đại hội, hội thảo, hòa nhạc và các sự kiện khác được đưa lên các trang này sẽ tiếp cận với các sinh viên tiềm năng như một thông điệp do trường đưa ra
Để thu hút các khách hàng tiềm năng nói trên, một số trường đại học đã phát triển các chương trình Blogger sinh viên trong đó một trong những sinh viên đang học tại trường được phân nhiệm lên blog về những sinh hoạt, hoạt động hàng ngày của sinh viên Một số trường cũng có các “trang hâm mộ” trên Facebook để đẩy mạnh sự giao tiếp với các sinh viên mới vào trường
Trang 30Trung tâm điện thoại Voice-over-IP và tin nhắn văn bản là hai phương pháp đang được sử dụng không chỉ thu hút sinh viên mà còn cầm giữ họ Lấy thí dụ, một đại học quảng cáo trên Google và có các lộ trình dẫn đến trung tâm của trường khi sinh viên tiềm năng đang nhấp chuột vào quảng cáo ấy Một đại học khác sử dụng các trung tâm điện thoại như một phương pháp để lại thư thoại cho sinh viên khi họ bỏ lỡ một số lớp; hoặc cũng để trợ giúp các vấn đề làm thêm, sức khỏe và các vấn đề cá nhân khác “Phương pháp cá nhân” này cũng có hiệu quả trong việc giữ sỉ số sinh viên của trường, hạn chế tình trạng rút hồ sơ sang các trừơng khác
1.2.4.5 Xu hướng 5: Tính cơ động
Sinh viện ngày nay lệ thuộc nặng nề vào điện thoại di động và các thiết bị di động cá nhân kỹ thuật số28 Một phần ba của con số 97% sinh viên đại học có điện thoại di động cá nhân không còn sử dụng các mạng nối cáp để trò chuyện nữa 52, 5 Sự tự
do, tiện lợi và tiết kiệm chi phí của điện thoại di động sẽ chẳng có giá trị gì nữa khi sinh viên sống xa nhà hoặc đi xe vé tháng từ trường về nhà và đi làm
Với sự đáp ứng các tiện ích của điện thoại di động trong đại học đường, mọi nơi các
hệ thống cung ứng buộc phải đầu tư vào các dạng điện thoại giàu tính năng BlackBerry, iPhone và các thiết bị thông minh khác có cả hệ thống truy cập mạng cho phép sinh viên và nhân viên các phòng ban, giảng viên có thể thực hành các nhóm ảo làm việc trên một diện rộng các hoạt động, bất cứ lúc nào thích hợp, ở bất
cứ nơi nào có sự trang bị các dịch vụ cung ứng thích hợp Các hoạt động này như đã nêu trên, rất đa dạng Chẳng hạn, từ hoạt động điều hành của hệ thống văn phòng như đăng ký-ghi danh, hoạt động giáo khoa như truy cập tài liệu mạng, đến các hoạt động xã hội như tin nhắn khẩn, hoặc các hoạt động chức năng như kiểm tra lịch vận chuyển
Mobile phone cũng đang được sử dụng nhiều để truy cập các tệp máy tính từ một
máy chủ Với các dịch vụ như Soonr, sinh viên quên mang bài được phân công đến
lớp có thể chứng minh với giáo sư của họ việc họ đã hoàn tất công việc được giao bằng cách sử dụng điện thoại di động truy cập hình ảnh bài làm đã hoàn tất chứa trong máy tính của họ ở khu ký túc xá Cũng cần nói thêm rằng phương pháp học rất linh động như vậy hiện chưa được áp dụng ở Việt Nam vì sự giới hạn của cơ sở vật chất và cũng vì văn hóa học tập của ta chưa đạt đến những tương đồng trong quan hệ dạy-học với kiểu quá tự do như trên
Các ứng dụng của điên thoại di động như Twitter và CitySense giúp sinh viên lên lịch các buổi họp hay các ngày học (trong chương trình học từ xa chẳng hạn) Họ có
Trang 31thể tạo một trang trên mạng gồm các nội dung học tập và chia sẻ, hỗ trợ nhau một cách nhanh chóng
1.2.4.6 Xu hướng 6: An toàn và bảo đảm
Sự an toàn của các cơ sở học đường luôn là một ưu tiên hàng đầu trong GDĐH Diễn biến xã hội trong những năm gần đây (khoảng 2003 đến nay) khiến cho các viện đại học luôn trong tình trạng phải bảo vệ một vấn đề kỹ thuật thông tin hàng đầu nào đó của trường mình
Trước hết là sự bảo đảm an toàn về vật lý, bảo toàn những ghi chép của sinh viên và
dữ liệu chủ của cơ sở học đường Việc cung cấp những đường truyền có chất lượng làm tăng khả năng khám phá rủi ro và tăng thêm các dịch vụ bảo đảm của mạng đang được suy nghĩ nghiêm túc vì đây cũng là hướng phát triển các dịch vụ bảo đảm, bảo mật trong công nghệ thông tin
Việc bảo mật hệ thống máy tính và mạng là một vấn đề ưu tiên khác trong các trường đại học Việc bị mất cắp máy tính hoặc mất dữ liệu thông tin do bất cẩn hoặc
bị phát tán thông tin riêng lên mạng dẫn đến việc mất dữ liệu chủ ít nhất được báo cáo 30 lần từ các cơ sở đại học đường của nước Mỹ Trong môi trường được xác định “ đầy dẫy các vụ trộm đa dạng”, các cơ sở đại học đường phải được trang bị với những phương cách khác nhau để bảo vệ cho tài sản dễ mất trộm cũng như thông tin
cá nhân trên mạng lưới công việc chung
1.2.4.7 Xu hướng 7: Các trung tâm sư phạm và các cộng đồng học đường tiến bộ
Ngoài các thiết lập và cải tổ mới cho cơ sở vật chất, các trường đại học đã tạo ra các khu vực được gọi là các “khu cộng đồng thực”29 Các khu vục này được thiết kế ngay trong các sảnh, phòng, khu vực có sẵn, nơi có mật độ sinh viên đi lại cao Thí dụ, nhiều trường đang chuyển các thư viện của họ vào trong các khu cộng đồng thực này
bằng cách xây các sân hàng thực phẩm, tạo ra các nơi tập trung mang tính xã hội
và các khu trò chơi trên máy tính, có các chỗ ngồi thư giản
Thư viện đã từng là nơi tiên phong áp dụng hình thức sáng tạo này một khi ngày càng nhiều người sử dụng sách điện tử và các không gian dành cho việc chứa sách truyền thống đang dần dà được tái thiết Các “khu cộng đồng thực” thường có liên quan đến một số nơi chủ yếu có thể đặt được các hệ thống công nghệ thông tin Một
số trường đại học đang tái tạo những khu vực này thành những nơi phục vụ cho các hoạt động sư phạm và những trung tâm đổi mới nơi các khoa có thể học cách sáp
Trang 32nhập những kỹ thuật công nghệ vào chương trình giáo khoa, hoặc nơi sinh viên có thể đến xem và làm những dự án của họ
Một khi mà đại học sáng tạo ra việc sử dụng các kỹ thuật công nghệ, việc ứng dụng
và các dịch vụ thông minh thì các khu vực thêm vào như phòng nghe nhìn chẳng hạn, sẽ được chuyển đổi từ một lượng lớn những kỹ thuật công nghệ, không đơn thuần là một phòng thực hành ngôn ngữ như trước đây
1.2.4.8 Xu hướng 8: Cuộc cách mạng Dạy- Học
Tiến trình giáo dục tiếp tục tiến hóa từ cơ chế tác động một chiều (từ thầy đến trò)
đến cơ chế học lẫn nhau Web 2.0 và các công cụ mạng xã hội khác như nhật ký mạng (blog) và wikis, cùng với những trang web mạng xã hội tập trung như Flickr, đang cải tiến và đơn giản hóa quá trình học lẫn nhau và đang được sử dụng rộng rãi trong đại học đường Việc chuyển tải nội dung giảng dạy đang trên đà tiến hóa với tốc độ cực nhanh khi các giảng viên ngày nay có thể chọn cách chuyển toàn bộ tài liệu học tập bao gồm các bài nói và video đầy đủ lên các trang như iTunes U hay YouTube
Vì sinh viên ngày nay dành nhiều thì giờ cho cuộc sống trên mạng, các giảng viên đại học nhận thấy giá trị của các tài liệu giáo khoa được đưa lên các trang phổ biến nói trên, các trang mà sinh viên của họ có thể vào truy cập và thực hành một cách dễ dàng; và về mặt tâm lý, các trang ấy cũng nằm trong số danh mục các điểm giải trí
mà có lẽ không sinh viên nào là không biết đến Hệ thống điều hành các khóa có nguồn mở như Moodle và các hệ thống tương tự trên mạng xã hội Facebook là một
số ứng dụng đang được thiết kế lại cho phù hợp để sử dụng vào việc đặc biệt hỗ trợ thêm cho những nội dung và các hoạt động đồng đội của sinh viên 52, 6
1.2.4.9 Xu hướng 9: Sự đồng hành
Sự đồng hành là một thuộc tính phân biệt của GDĐH Các đại học ngày nay đang tìm kiếm những phương thức xây dựng sự đồng hành trong phát triển nghiên cứu, các tổ chức lớp, các dịch vụ hối đoái , các mối quan hệ cựu học sinh và các quan hệ đối tác với các khu vực tư nhân Một sự đa dạng của các bối cảnh được sáp nhập lại
để làm cho sự đồng hành, với ý nghĩa của sự cùng chung sức trong một giải pháp của
một vấn đề nào đó, hoặc giả để có thể đạt được muc đích dễ dàng hơn 48
Điểm họp ảo và các công cụ chia sẻ ứng dụng như Cisco® WebEx® là những giải pháp đồng hành trên cơ sở mạng có hiệu quả, giúp cải thiện năng suất và giảm chi phí đi lại cũng như chi phí truyền thông WebEx là công cụ đóng vai trò truyền tin
Trang 33qua mạng, nơi diễn ra sự trao đổi thông tin giữa giảng viên và sinh viên của họ trong việc tổ chức các lớp học truyền thống Giảng viên sử dụng tính năng “tác động lưu ý” của WebEx để điều khiển và biết được sinh viên của họ có đang tập trung chú ý trong một đơn vị bài giảng nào đó hay không (có thể thống kê định lượng được các vấn đề tương tự như thế)
1.2.4.10 Xu hướng 10: Kế hoạch chiến lược và Kỹ thuật Chiến lược (chiến thuật)
Ngân sách và hiệu quả đang là các mối quan tâm của GDĐH Để giải quyết cho các vấn đề này, các trường đang bắt đầu chấp thuận các hoạt động thực tiễn nào đó thỏa thuận với các doanh nghiệp tư nhân như lập kế hoạch chiến lược trong đó xem công nghệ như một nhân tố chính yếu Đám mây điện tử (electric cloud), một tiến trình cho phép các tập tin và hệ thống dữ liệu được lưu trữ trên một hệ thống mạng từ xa khi sử dụng mạng, là một phương thức tiềm năng khác cho phép hạ thấp chi phí công nghệ thông tin và cũng là một đề tài mang tính thời sự nhất của sinh viên ngày nay Thêm vào đó, đại học đường đang phát triển các chiến lược tài chính dài hạn để bảo đảm công nghệ được kết hợp vào ngân sách Việc thuê trang thiết bị công nghệ tin học đang trở nên ngày một phổ biến trong chiến lược quản lý chi phí và ngân sách Các trường và viện đại học đang sử dụng phương thức này một cách hiệu quả và có thể bảo đảm sự phân bố các nguồn quỹ dành cho việc trang bị mới và nâng cấp công nghệ của trường mình Việc đánh giá hiệu quả của công nghệ qua chương trình phân tích ROI30 đang trở thành một nhân tố chủ yếu trong hoạch định và đặc biệt trong các lĩnh vực bảo mật, lưu trữ, kết hợp thông tin và các hệ thống ERP 80 hoạch định
nguồn lực
1.2.4.11. Xu hướng 11: Kết hợp học tập và giải trí
Nội dung GDĐH và giải trí đang trở nên ngày càng gắn kết Điều này được chỉ ra
trước tiên phải kể đến trên các trang iTunes và YouTube Các trang này thoạt đầu chỉ tải những nội dung giải trí nhưng gần đây, các giảng viên, giáo sư đang kết hợp việc
sử dụng chúng: các video đa dạng chứa cả hai giá trị giáo dục và và giải trí được truyền đa phương tiện và việc đưa những nội dung các khóa học trên các kênh giáo dục đã sáng tạo ra một môi trường học tập thực sự thu hút đối với sinh viên ngày nay
Các giảng viên ngày nay đang kết hợp hai việc học và giải trí, sử dụng những video chứa cả giá trị giáo dục lẫn giải trí trong các tập tin đa phương tiện 31và đưa nội dung khóa học lên mạng trên các kênh giáo dục và tạo một môi trường học tập được tham gia ngày càng rộng khắp Việc tham gia các trò chơi vi tính ( computer gaming) cũng
Trang 34đang sáp nhập vào các hoạt động dạy - học: khảo sát cho thấy có trên 120 trường
52, 8 hiện diện trên mạng SecondLife, sử dụng các không gian ảo cho các hoạt động xã hội hóa, giảng dạy, học tập và quảng bá thương hiệu trường học Vấn đề còn lại là sự cân đối mức độ và chất lượng của nội dung cũng như hình thức “học và vui” nói trên
Các công ty truyền thông như BBC, MTV, NBC và ABC đang nhanh chóng phát triển các phương pháp để sáp nhập truyền thông đa phương tiện với đại học đường Chiều hướng này hỗ trợ cho sự phát triển các ứng dụng của các thiết bị đa phương tiện ở các cơ sở trường đại học, nơi mà các nội dung học tập không chỉ được truy cập qua máy tính mà còn qua hệ thống truyền hình và cả các dạng điện thoại di động thông minh Các cơ sở học đường đại học đang đánh giá lợi ích của việc phát các chương trình truyền hình cơ sở qua mạng thông qua hệ IP32
1.2.4.12 Xu hướng 12: Trào lưu Xanh
“Xanh”đã trở thành một đề tài chủ yếu trong nhiều khu vực công nghệ toàn cầu, bao gồm cả “công nghệ giáo dục đại học” Các trường đại học đang liên tục tìm kiếm và xác định những phương thức bảo toàn năng lượng một cách có hiệu quả để cung cấp
năng lượng; sử dụng những nguồn, những phương pháp tuần hoàn và tái chế các thành phần phế liệu từ ổ cứng kỹ thuật được gọi là “chất thải điện tử”33 Ký túc xá xanh 84, viện đại học xanh, và kế hoạch xanh 83, chỉ là một vài thí dụ trong số hàng nghìn chương trình xanh được hình thành ở các cơ sở đại học khắp nơi trên thế giới Các bài thực hành bao gồm việc thực hiện những đám mây điện tử thông qua sự
ảo hóa máy chủ và cung cấp sự chia sẻ nguồn sử dụng, gắn kết hóa các thiết bị để giảm sự tiêu thụ năng lượng, giảm chi phí, giảm năng lượng nguồn và giảm không gian hoạt động; bao gồm cả việc mua những thiết bị năng lượng có hiệu suất cao, việc tặng thiết bị vi tính, việc khai thác các chương trình tái chế và hỗ trợ các hoạt động thông tin vi tính- viễn thông.68
Các phương tiện truyền thông đang ráo riết đưa tin hỗ trợ việc các cơ sở đại học đi
tiên phong trong các dự án bảo tồn năng lượng có hiệu quả Đại học đường đang
thực hiện việc giáo dục sinh viên, các khoa và các phòng ban về các giải pháp của họ trong vấn đề này Nhiều giảng viên theo cách riêng của mình đang chọn việc sử dụng thư điện tử, tin nhắn gửi nhanh hoặc dịch vụ tin ngắn 34 thay cho việc sử dụng giấy
để phân công và cung cấp phản hồi cho sinh viên của mình
Có thể kết luận, ở thế kỷ 21, vai trò của kỹ nghệ sẽ được nâng cao hơn trong
GDĐH Các viện đại học sẽ thực hiện các giải pháp cải tiến để thay đổi cách học, cách thông tin, cách sáng tạo, cách gắn kết và cách nghiên cứu của sinh viên trong
Trang 35quá trình học tập ở trường cũng như các hoạt động bên ngoài trường học, các giải pháp nói trên cũng sẽ cải thiện những hoạt động trong các khoa, các bộ phận hành chánh, và sinh viên Việc sáng tạo ra các dịch vụ từ các kỹ thuật công nghệ gần đây
và trong tương lai đòi hỏi một cơ sở hạ tầng trang bị hệ thống công nghệ thông tin có các tính năng mạnh mẽ, đáng tin cậy, có thể mở rộng và an toàn, được bảo mật tốt trong một bình diện rộng theo thuật ngữ có đủ chất lượng dịch vụ và lưu trữ Nhiều trường đã đi vào phát triển các kế hoạch ngắn hạn và dài hạn để đảm bảo thành công trong việc đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai của trường mình
1.2.5 Một số mô hình quản lý BĐCL GDĐH:
ĐBCL, một khi được xem như một hệ thống quản lý, được trao cho những người có
trách nhiệm bên trong một trường đại học Câu hỏi được đặt ra là liệu hệ thống quản
lý đó nên được kiểm soát từ bên ngoài nhằm giúp quá trình trở nên công bằng và
khách quan không Các mô hình quản lý chất lượng sẽ giữ vai trò các công cụ cải tiến khả năng đảm bảo chất lượng
1.2.5.1 Mô hình BS 5750/ISO 9000
Mô hình BS 5750/ISO 9000 (Tiêu chuẩn Anh Quốc- British Standards)là một hệ thống các văn bản đưa ra tiêu chuẩn và quy trình chi tiết quy định nghiêm ngặt bằng các thông số kỹ thuật về mẫu mã, quy cách ở mỗi giai đoạn của quá trình sản xuất để
đảm bảo mọi sản phẩm hay dịch vụ phải phù hợp, các quy định trước đó với mục tiêu là tạo một đầu ra “phù hợp với mục đích” BS 5750/ISO 9000 đưa ra một kỷ
luật nghiêm ngặt đối với những người sử dụng, đồng thới đòi hỏi sự đầu tư về nhân lực, tài lực và thời gian Mọi ủy viên điều hành và thành viên thực thi phải nắm được các yếu cầu đặt ra và tuân thủ các quy trình một cách nghiêm túc BS 5750/ ISO
9000 còn xa lạ với giáo dục đại học Do có nguồn gốc từ lĩnh vực sản xuất hàng hóa nên ngôn ngữ dùng trong bộ tiêu chuẩn này không phù hợp
Chủ nghĩa nghệ thuật quản lý và phong trào tiếp thị hóa xuất hiện trong những năm
1980, cùng với ISO được đưa vào các lĩnh vực kinh doanh, và sau đó được giới thiệu vào lĩnh vực GDĐH (Russo, 1995) Tư tưởng chủ đạo của các chuẩn ISO: nói những
gì bạn làm Làm những gì bạn nói, ghi lại những gì bạn đã làm, kiểm tra lại kết quả
và hành động khi có sự khác biệt (Russo, 1995; Woodhouse, 1999) Có thể thấy là nếu như quá trình chất lượng của một công ty được tiến hành trôi chảy thì nó sẽ cho
ra được những sản phẩm có chất lượng
Tuy nhiên, khi sử dụng ISO trong giáo dục, để có được các tiêu chí thích hợp với tổ chức cần phải có các thay đổi phù hợp, vì câu hỏi có thể đặt ra là: sản phẩm trong
Trang 36giáo dục là gì? Có nhiều tranh luận với các quan điểm rất khác nhau Một trong những ý kiến có lẽ bao quát các ý còn lại cho rằng SVTN đóng ba vai trò quan trong quá trình giáo dục: một khách hàng, một người diễn viên trong quá trình sự giáo dục diễn ra và một sản phẩm
Giải thưởng chất lượng quốc gia Hoa Kỳ Malcolm Baldrige (The Malcolm Baldrige National Quality Award-MBNQA), là một ví dụ về một phiên bản của ISO trong giáo dục (Russo, 1995) Tuy nhiên, các tiêu chí của MBNQA được ghi rõ bằng những thuật ngữ chung chung hơn là trong kinh doanh Chương trình chất lượng quốc gia Baldrige cơ bản là dựa vào việc tự đánh giá và nhận phản hồi từ phía học viên, và khen thưởng cho những ai thực hiện xuất sắc Tuy vậy, các tiêu chí thử nghiệm giáo dục (The Education Pilot Criteria-EPC) lại không phải là phiên bản của MBNQA mà là một cấu trúc giải thưởng tương tự khác cũng có giá trị như các tiêu chí của MBNQA (Woodhouse, 1999)
Các Tiêu chí giáo dục của Giải thưởng Malcolm Baldrige cho việc thực hiện xuất sắc (Malcolm Baldrige Education Criteria for Performance Exellence-MBECPE) có bốn mục nhằm:
- Giúp cho việc cải tiến việc thực hiện công việc và chia sẻ các thông tin và kinh nghiệm tốt nhất giữa các đơn vị giáo dục cũng như tất cả các dạng tổ chức khác;
- Khuyến khích việc phát triển các mối quan hệ đối tác bao gồm nhà trường, các công ty kinh doanh, các cơ quan nhân lực, và các tổ chức khác mà trong các tiêu chí đánh giá có liên quan đến có liên quan đến; và
- Phục vụ như một công cụ làm việc nhằm giúp cho việc hiểu và cải tiến công việc của cơ quan và việc hướng dẫn cũng như đào tạo
1.2.5.2 Quản lý chất lượng tổng thể (Total Quality Management) –
TQM TQM là một triết lý quản lý tổng quát và thành lập các công cụ cho phép cơ quan theo đuổi một định nghĩa của chất lượng và phương tiện để đạt đến chất lượng đó Các nguyên tắc cơ bản của triết lý TQM trong một tổ chức là tìm cách thỏa mãn khách hàng gồm cả hai đối tượng khách hàng bên ngoài và khách hàng nội bộ), thỏa mãn các nhà cung ứng (cũng gồm có hai đối tượng bên ngoài và nội bộ) và cải tiến liên tục tiến trình của tổ chức thông qua các hoạt động xuất sắc và việc sử dụng các phương pháp chất lượng đặc biệt
Trang 37Cũng như một hệ thống đảm bảo chất lượng khác, TQM tập trung vào năm lĩnh vực:
– Sự phục vụ hết mực (Sherr & Lozier, 1991; Lewis & Smith, 1994)
Theo Sherr và Lozier (1991), có năm thành phần chính ảnh hưởng đến việc cải tiến
chất lượng ở đại học; sự trung thực, chia sẻ quan điểm, kiên nhẫn, hết lòng làm việc, và lý thuyết TQM Trong năm thành tố trên, chỉ có cái cuối cùng là có thể mang
ra phân tích thống nhất trong một tổ chức
Về mặt lý thuyết, TQM đòi hỏi có sự tham gia của tất cả các bộ phận và nhân viên của một tổ chức (Ellis, 1993;1993a) TQM nhấn mạnh việc sử dụng các đội ngũ đa chức năng (gồm ban chuyên môn và nhân viên từ tất cả các bộ phận có liên quan) khi giải quyết vấn đề Các đội ngũ được đào tạo để có thể sử dụng các công cụ thống
kê trong thu thập và phân tích dữ liệu Các công cụ thống kê có thể bao gồm các bảng kiểm tra, các biểu đồ 35
Tuy nhiên, dù TQM được xem là một hệ thống có hiệu quả trong việc đảm bảo chất lượng trong lĩnh vực kinh doanh thì chỉ có một số nhỏ các trường đại học thông báo
là họ suy nghĩ đến khả năng áp dụng TQM trong trường của mình (Aly & Akpovi, 2001) Điều đó cho thấy rằng phần lớn các trường có vẻ nghi ngờ mức độ hiệu quả của TQM trong lĩnh vực chuyên môn Đối với những trường hợp nghĩ đến việc áp dụng TQM thì hầu như họ chỉ làm điều này trong các lĩnh vực như quản lý vì chúng giống như quản lý kinh doanh hay trong công nghiệp hơn (Aly & Akpovi, 2001) Đặc trưng của TQM khi áp dụng vào GDĐH là nó không áp đặt một hệ thống cứng
nhắc cho bất lỳ cơ sở đào tạo đại học nào, nó tạo ra một nền “văn hóa chất lượng”
bao trùm lên toàn bộ quá trình đào tạo Triết lý của TQM là tất cả mọi người bất kỳ ở cương vị nào, vào bất kỳ thời điểm bào cũng đều là người quản lý chất lượng của phần việc mình được giao và hoàn thành nó một cách tốt nhất, với mục đích tối cao
là thỏa mãn nhu cầu của khách hàng
Ba đặc điểm của TQM là cải tiến liên tục, cải tiến từng bước và hệ thống tổ chức phải hướng tới khách hàng
Trang 38Trong sản xuất, các tính năng của sản phẩm thể hiện được giá trị hữu hình có thể đánh giá định lượng được Khái niệm “sản phẩm không mắc lỗi” (6 sigma- zero defect) được sử dụng để chỉ các sản phẩm đạt mức “tiêu chuẩn trần”(ceiling standard) Trong GDĐH, các sinh viên tốt nghiệp (SVTN) đạt chất lượng cao nhất thực chất luôn vượt qua khỏi mức chuẩn trần được quy hoạch Con số này rất hiếm
và luôn là điểm ngắm của các công ty săn lùng người tài cho công tác tuyển dụng nhân sự (head hunter) Mặt khác, khi SVTN ra trường, họ cần bảo đảm có được các năng lực tối thiểu được tính như “tiêu chuẩn sàn” (floor standard) nhất định để có thể thực hiện được nhiệm vụ sau này Trên quan điểm đó, nhà tuyển dụng không thể có
đủ cũng như không thể xác định được“sản phẩm không mắc lỗi”trong SVTN Trong quá trình BĐCL GDĐH do những lẽ trên, cộng thêm nhu cầu tiến bộ không ngừng
của khoa học, sự cải tiến liên tục là đặc điểm không thể bỏ đi
Một đặc điểm khác của TQM là cải tiến từng bước Phương thức tiếp cận của TQM
là theo mức độ tăng dần từ một loạt dự án có quy mô nhỏ Các chuyên gia hoạch
định giáo dục Việt Nam 15,14-17 cho rằng sự can thiệp mạnh không phải là phương sách tốt để tạo chuyển biến lớn trong quản lý chất lượng tổng thể Các dự án đồ sộ
do vấn đề thiếu kinh phí, nếu thất bại sẽ dẫn đến sự thờ ơ bất bình
Hướng tới “khách hàng” là đặc điểm thứ ba của TQM và được xem là chìa khóa
của sự thành công của mô hình này
Trong hệ thống tổ chức của nhà trường vai trò của các cán bộ quản lý cấp trường là
hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ giáo chức, sinh viên, chứ không phải chỉ là lãnh đạo kiểm tra họ Trong quản lý chất lượng tổng thể mô hình cấp bậc trong hệ thống tổ chức quản lý nhà trường phải là mô hình đảo ngược (xem hình minh họa trang sau)
Sự đảo ngược về thứ tự trong hệ thống chức quản lý của trường đại học theo mô hình quản lý chất lượng không làm phương hại tới cơ cấu quyền lực của trường đại học, cũng không làm giảm sút vai trò lãnh đạo của cán bộ lãnh đạo trường, khoa Trong thực tế sụ lãnh đạo của cán bộ quản lý vẫn gữ vai trò quyết định của quản lý chất lượng tổng thể Đảo ngược thứ bậc chỉ nhằm nhấn mạnh mối tường quan trong quá trình đào tạo hướng tới sinh viên như nhân vật trung tâm
Bốn mô hình Giản đồ 5 yếu tố TQM mang tính cạnh tranh nhất trong hệ thống hàng trăm mô hình 5 yếu tố 55 được lập ra bởi các nhà quản trị học:
Trang 39H 1.2e - Bốn giản đồ 5 yếu tố TQM
MÔ HÌNH 1: “MÔ HÌNH GIÁ TRỊ”
Xây dựng mới
Chất lƣợng dịch vụ
Chất lƣợng dịch vụ
Giá trị DV
Đáp ứng
Mục đích
hành vi
Trang 401.2.5.3 Mô hình các yếu tố tổ chức( Organizational Elements Model)
Chất lượng đầu vào: trình độ đầu vào thỏa mãn các tiêu chí, mục tiêu đề ra
Chất lượng quá trình đào tạo: mức độ đáp ứng yêu cầu của quá trình dạy và học
và các quá trình đào tạo khác
Chất lượng đầu ra: mức độ đạt được của đầu ra (sinh viên tốt nghiệp, kết quả nghiên cứu khoa học và các dịch vụ khác) so với Bộ tiêu chí hoặc so với các mục tiêu đã định sẵn
Chất lượng sản phẩm: mức độ đạt các yêu cầu công tác của sinh viên tốt nghiệp qua đánh giá của bản thân sinh viên, của cha mẹ, của cơ quan công tác và của xã hội
Chất lượng giá trị gia tăng: mức độ năng lực của sinh viên tốt nghiệp (kiến thức,
kỹ năng, quan điểm) đóng góp cho xã hội và đặc biệt hệ thống giáo dục đại học
Theo các nhà hoạch định chiến lược GD Việt Nam, trong các mô hình quản lý
GDĐH nêu trên, nếu xem “chất lượng GDĐH là sự trùng khớp với mục tiêu” thì sử dụng mô hình TQM là phù hợp hơn cả Mô hình này cho phép nghiên cứu đề ra các mục tiêu chiến lược của các chính sách lớn của chính phủ đối với GDĐH Từ đó tùy thuộc vào nguồn lực hiện có, các nhà quản lý chất lượng giáo dục đại học có thể chủ động tới những khâu, những lĩnh vực quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng và từ đó nâng cao dần chất lượng giáo dục đại học theo kế hoạch đã đề ra
1.2.5.4 Mô hình Bảng điểm cân đối (Balanced Score Card – BSC)
Bảng điểm cân đối (BSC)là một kế hoạch chiến lược và hệ thống quản lý sử dụng để gắn kết các hoạt động kinh doanh với tầm nhìn và chiến lược của tổ chức, cải thiện thông tin liên lạc nội bộ và bên ngoài và tổ chức 36 , giám sát hoạt động chống lại các mục tiêu chiến lược.
BSC do Kaplan (1992- Harvard Business School) 34 đề xuất có thể xem như một tiến trình hỗ trợ cho các phương pháp tổ chức quản lý tổng thể TQM hay Six Sigma