Quản lý hoạt động giảng dạy, hiệu trưởng các trường trung học cơ sở, huyện Vĩnh Thạch, thành phố Cần Thơ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Đinh Trung Trực
Chuyên ngành : Quản lý Giáo dục
Mã số : 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HOÀNG TÂM SƠN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2010
THƯ
VIỆN
Trang 2LỜI CÁM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn chỉnh luận văn, tác giả đã nhận được sự quan tâm khích lệ, giúp đỡ từ quí thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè, người thân Tác giả tác giả xin chân thành cảm ơn :
Phòng Khoa học Công nghệ Sau đại học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
đã tổ chức giảng dạy, tạo điều kiện học tập và chấp nhận cho tác giả thực hiện luận văn này Thầy P.GS.TS Hoàng Tâm Sơn – P Hiệu trưởng trường Cao đẳng văn hóa du lịch Sài Gòn
đã hướng dẫn tác giả thực hiện luận văn
Quý thầy, cô đã giảng dạy và hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình học tập tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Cần Thơ, Sở Nội vụ thành phố Cần Thơ, Huyện ủy, Uỷ ban nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Vĩnh Thạnh, đã chấp thuận và tạo điều kiện cho tác giả được tham gia khoá học này
Quí thầy cô CBQL Phòng GD& ĐT, Hiệu trưởng, P.Hiệu trưởng và tất cả thầy cô các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ, đã cung cấp những thông tin bổ ích; quý đồng nghiệp, bạn bè cùng lớp CBQL khóa 18, đã cung cấp những tài liệu, góp ý quý báu để tác giả hoàn thành luận văn này
Mặc dù, tác giả đã hết sức cố gắng, nhưng chắc chắn không tránh khỏi những sai sót Tác giả kính mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý và giúp đỡ của Quý thầy cô, cán bộ quản lý và các bạn đồng nghiệp
Tác giả xin chân thành cám ơn!
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
Ngay từ đầu thập niên 90 của thế kỷ 20, tổ chức Unesco đã nêu lên 4 trụ cột của cải
cách giáo dục và đặc biệt nhấn mạnh: thời đại mới đòi hỏi con người phải có cái nhìn mới,
cách nghĩ mới và những kiến thức kỹ năng mới của chính thời dại mình Nói cụ thể hơn,
con người mới đó phải có khả năng tư duy độc lập, có phương pháp tư duy hệ thống và cách nhìn toàn thể; có năng lực sáng tạo và tinh thần đổi mới; có khả năng thích ứng với sự thay đổi thường xuyên, đa dạng, phức tạp, đầy biến động bất ngờ và bất định; có năng lực hành động hiệu quả và tinh thần hợp tác trong một môi trường đa văn hóa của một thế giới toàn cầu hóa (Võ Nguyên Giáp)
Sang thế kỷ 21, Việt Nam đã và đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thì nhiều nước trên thế giới đã vượt qua thời đại cách mạng CN, đi vào thời đại thông tin, xây dựng nền kinh tế tri thức và xã hội tri thức Điều đó cho thấy, đã có sự chênh lệch khá lớn về trình độ kinh tế, khoa học công nghệ… giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới, mà nguyên nhân chính là do có sự khác biệt về trình độ, trí tuệ, năng lực sáng
tạo và khả năng chuyên môn của nguồn nhân lực Nguồn nhân lực đó, chính là sản phẩm
của quá trình giáo dục và đào tạo
Trong xu thế phát triển của thế giới hiện nay, và vấn đề toàn cầu hóa nền KTTT đã làm cho các quốc gia dân tộc trên thế giới “ xích lại gần nhau ” Mỗi nước đều có biện pháp cạnh tranh để phát triển, nhưng không có con đường nào khác hơn là phải xuất phát từ GD
và bằng GD để xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội…
Ở Việt Nam, Đảng ta cũng đã xác định: “ GD là quốc sách hàng đầu ”, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển Vì vậy, khi đề cập đến phát triển GD&ĐT để phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước thì không phải chỉ chú trọng đến đổi mới ở bậc Đại Học, Cao Đẳng hay Trung Cấp dạy nghề…mà phải có sự đổi mới và phát triển toàn diện trong hệ thống GD quốc dân
Trong hệ thống GD quốc dân, Trung học cơ sở là cầu nối giữa tiểu học và Trung học phổ thông Đây là cấp học mang tính liên thông kiến thức, giúp “ Học sinh củng cố và phát triển những kết quả của GD Tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học THPT, Trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động ” [24]
Trang 4Trong những năm qua, việc huy động HS, duy trì sỉ số, đảm bảo chất lượng HS lên lớp, tốt nghiệp THCS ở huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ khá ổn định; đặc biệt năm 2004 được UBND tỉnh Cần Thơ cũ công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập THCS Trong đó, phải kể đến vai trò lãnh đạo, quản lý hoạt động giảng dạy của HT các trường THCS Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng GD&ĐT trong điều kiện phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội nhanh chóng hiện nay thì việc quản lý hoạt động giảng dạy của HT các trường THCS đã có bộc lộ những hạn chế, chưa ngang tầm Từ đó, chất lượng dạy học giữa các trường có chênh lệch lớn; HS tốt nghiệp THCS khá cao nhưng tỉ lệ trúng tuyển vào các
trường THPT còn thấp…Vì vậy, chọn đề tài nghiên cứu quản lý hoạt động giảng dạy của
HT các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh, Thành phố Cần Thơ Trên cơ sở nghiên cứu, tôi
đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng quản lý hoạt động này là vấn đề cấp thiết hiện nay
Sở dĩ tôi chọn đề tài này, bởi vì bản thân tôi công tác nhiều năm trong ngành GD&ĐT
và đã làm công tác quản lý tại phòng GD&ĐT huyện Vĩnh Thạnh, ( phụ trách chuyên môn )
Vì vậy, tôi có điều kiện và kinh nghiệm thực hiện đề tài
2 Mục đích của đề tài nghiên cứu
Làm rõ việc quản lý HĐGD của HT các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ; tìm ra nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý HĐGD trong thời gian tới
3 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý HĐGD của HT các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ
3.2 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động quản lý của HT và HĐGD của GV các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ
4 Giả thuyết khoa học
Quản lý HĐGD của HT các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ, đã đạt được kết quả khá tốt Tuy nhiên, vẫn còn những bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới Nguyên nhân chưa đáp ứng được những yêu cầu này, có thể phần lớn là do sự quản lý
của hiệu trưởng
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 55.1 Làm rõ cơ sở lý luận liên quan đến quản lý HĐGD của HT các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ
5.2 Khảo sát, phân tích, đánh giá về thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của HT các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ, trong giai đoạn mới
5.3 Trên cơ sở lý luận và thực trạng quản lý HĐGD, đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý HĐGD của HT các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn nghiên cứu: luận văn chỉ nghiên cứu nội dung công tác quản lý các hoạt động giảng dạy trong nhà trường, không nghiên cứu việc quản lý hoạt động học tập của học sinh cũng như các hoạt động giáo dục khác
- Phạm vi nghiên cứu: đề tài tập trung khảo sát, nghiên cứu tại 09/09 trường THCS đóng trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ, trong 02 năm học 2008 - 2009,
7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận nghiên cứu
- Quan điểm hệ thống, cấu trúc
Thể hiện trong việc xác định mối quan hệ tương tác giữa công tác quản lý hoạt động giảng dạy với các mối quan hệ khác của công tác quản lý nói chung được trình bày có hệ thống, lô gic
- Quan điểm lịch sử, lô gíc: nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy ở 09
trường THCS trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ trong năm học 2008 -
2009 và 2009 - 2010
Trang 6- Quan điểm thực tiễn: phương pháp này giúp tác giả tìm hiểu những mâu thuẫn, tồn
tại trong công tác quản lý HĐGD của HT Qua đó, đề ra một số giải pháp đảm bảo tính khả thi và phù hợp với điều kiện giảng dạy ở các trường THCS trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ
7.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
7.2.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
- Đọc sách, báo, tạp chí và thu thập các tài liệu thực tế, tìm hiểu đặc trưng, tính chất có
liên quan đến đề tài để xây dựng cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu
- Căn cứ vào điều lệ trường phổ thông, các văn kiện, chỉ thị nghị quyết của Đảng và nhà nước; các báo cáo sơ, tổng kết năm học của các trường, phòng giáo dục và đào tạo huyện Vĩnh Thạnh, sở giáo dục và đào tạo thành phố Cần Thơ Trên cơ sở đó, phân tích đánh giá thực trạng việc quản lý HĐGD của HT các trường THCS
7.2.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra: Nhằm làm rõ thực trạng quản lý HĐGD của giáo viên, quản
lý HĐGD của HT và nguyên nhân của thực trạng, với mẫu ngẫu nhiên dành cho CBQL ở PGD&ĐT và 09 trường THCS huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ, gồm có các đối tượng như chuyên viên PGD&ĐT, HT, các phó HT, tổ trưởng chuyên môn và giáo viên với
số lượng 288 phiếu hỏi Kết quả điều tra, sẽ được xử lý bằng phương pháp toán học thống
kê, để chứng minh cho giả thuyết khoa học
Ngoài những phương pháp trên, tác giả sẽ kết hợp với các phương pháp:
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm HĐGD
8 Đóng góp mới của đề tài
8.1 Về lí luận: Bằng những tư liệu tổng hợp liên quan đến đề tài, sẽ làm rõ được lí luận về quản lý hoạt động giảng dạy của Hiệu trưởng các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ
8.2 Về thực tiễn: Bằng những số liệu do các phương pháp đưa lại sẽ làm rõ được thực trạng về hoạt động QLGD của HT Đồng thời, tìm ra nguyên nhân của những điều chưa đáp
Trang 7ứng yêu cầu, tác giả sẽ đưa ra những giải pháp khá hoàn thiện việc quản lý HĐGD của HT các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ
9 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Luận văn được chia làm 3 phần
Phần 1 : Mở đầu
Phần 2 : Nội dung Chương 1 : Cơ sở lý luận về công tác quản lý HĐGD của hiệu trưởng trường THCS
Chương 2 : Thực trạng quản lý HĐGD của HT các trường THCS huyện Vĩnh thạnh, thành phố Cần Thơ
Chương 3 : Một số giải pháp quản lý HĐGD của HT các trường THCS huyện Vĩnh
thạnh, thành phố Cần Thơ, trong thời gian tới
Phần 3 : Kết luận và kiến nghị
Danh mục tài liệu tham khảo Phụ lục
Trang 8NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIẢNG
DẠY CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quản lý là một trong những chức năng lao động bắt nguồn từ tính chất xã hội của lao động Từ khi xuất hiện nền sản xuất xã hội, các quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội càng tăng lên thì sự phối hợp các hoạt động riêng rẽ cũng tăng lên tương ứng Ngay từ buổi bình minh xã hội loài người, để cải tạo và chinh phục tự nhiên, để tồn tại và phát triển con người phải giảm dần lao động cá thể để lao động chung, kết hợp lại thành tập thể Điều đó đòi hỏi phải có sự
tổ chức, phải có phân công và hợp tác nhằm thực hiện mục tiêu chung đã định trong lao động tức là phải có sự quản lý Nói cách khác ngay từ khi con người bắt đầu lao động thành nhóm,
đã đòi hỏi có sự phối hợp hoạt động của các cá nhân để duy trì sự sống, do đó cần phải có sự quản lý
Các Mác đã từng nói rằng, tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ
cơ thể, khác với sự vận động của các khí quan độc lập của nó; một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng
Như vậy, quản lý xã hội về thực chất là một loại lao động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt được mục tiêu chung Lao động xã hội và quản lý không thể tách rời nhau và quản lý là lao động điều khiển lao động chung Khi xã hội phát triển với sự ra đời và thay thế các phương thức sản xuất và khi sản xuất đạt đến một quy mô phát triển nhất định thì sự phân công lao động tất yếu sẽ dẫn đến việc tách quản lý thành một hoạt động đặc biệt Lúc này, xã hội sẽ xuất hiện một bộ phận trực tiếp sản xuất, một bộ phận khác chuyên hoạt động quản lý, hình thành mối quan hệ trong quản lý Quản lý là một khoa học Hai vấn đề cơ bản trong tổ chức khoa học lao động
là phân công lao động và hợp tác lao động
Ngày nay, trong điều kiện nền kinh tế tri thức, quản lý được xem là một trong năm nhân tố phát triển kinh tế - xã hội: vốn, nguồn nhân lực lao động, khoa học - công nghệ, tài nguyên và quản lý Trong đó quản lý có vai trò quyết định sự thành công, bởi chỉ có tác động
có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý mới có thể sử dụng có
Trang 9hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt mục tiêu đề ra trong điều kiện môi trường luôn biến động và những thách thức
Quản lý giáo dục là một hoạt động thuộc lĩnh vực khoa học giáo dục Trong quản lý giáo dục, quản lý chuyên môn là lĩnh vực được xem là quan trọng và phức tạp nhất, trong đó
có quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên Trong trường THCS đây là lĩnh vực quản lý rất khó cho người hiệu trưởng bởi chuyên môn bậc THCS có tính chất chuyên biệt và chuyên sâu, hiệu trưởng cần phải có đội ngũ tham mưu giúp việc giỏi chuyên môn, nhiệt tình Mục tiêu chủ yếu của công việc này, là đảm bảo chất lượng giảng dạy và giáo dục học sinh theo mục tiêu cấp học Để làm tốt công tác quản lý nhà trường trong đó có quản lý hoạt động của giáo viên, người hiệu trưởng phải nghiên cứu thực tiễn quản lý nhà trường để tìm ra những biện pháp quản lý hữu hiệu nhất, khả thi nhất
- Theo một số nhà nghiên cứu quản lý giáo dục:
* Nghiên cứu ở nước ngoài
Các nhà nghiên cứu quản lý giáo dục Xô Viết trong những công trình nghiên cứu của mình đã cho rằng: “ Kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào công việc tổ chức đúng đắn và hợp lý công tác hoạt động dạy học ”[47]
P.V.Zimin, M.I.Kôndakôp, N.I.Saxerđôtôp đi sâu nghiên cứu lãnh đạo công tác dạy học, giáo dục trong nhà trường và xem đây là khâu then chốt trong hoạt động quản lý của người làm công tác quản lý giáo dục [47]
V.A.Xukhômlinxki, Jaxapob nêu lên một số vấn đề quản lý của Hiệu trưởng các trường phổ thông như phân công nhiệm vụ giữa HT và Phó Hiệu trưởng V.A Xukhomlinxki đã tổng kết những thành công cũng như thất bại qua kinh nghiệm thực tiễn làm công tác quản lý chuyên môn nghiệp vụ của hiệu trưởng, cùng với nhiều tác giả khác ông đã nhấn mạnh đến
sự phân công hợp lý, sự phối hợp chặt chẽ, sự thống nhất quản lý giữa hiệu trưởng và phó hiệu trưởng để đạt được mục tiêu hoạt động dạy học đã đề ra Các tác giả thống nhất khẳng định người HT phải là người lãnh đạo toàn diện và chịu trách nhiệm chính trong công tác quản lý nhà trường [49]
Về xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ GV các nhà nghiên cứu giáo dục cũng coi đây là nhiệm vụ vô cùng quan trọng của người làm công tác quản lý giáo dục Họ còn thống nhất rằng: Một trong những giải pháp hữu hiệu nhất để nâng cao chất lượng hoạt động dạy học
Trang 10trong nhà trường là phải bồi dưỡng đội ngũ GV, phát huy tính sáng tạo trong giảng dạy và nâng cao dần trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ GV
Về tổ chức dự giờ và phân tích sư phạm bài dạy, tác giả V.A.Xukhômlinxki nhấn mạnh hoạt động dự giờ thăm lớp và đưa ra nhiều cách phân tích sư phạm bài dạy cho GV Đó là đòn bẩy nâng cao chất lượng dạy học của đội ngũ GV [49]
Qua các công trình nghiên cứu, các nhà nghiên cứu giáo dục khẳng định rằng: kết quả toàn bộ hoạt động quản lý của nhà trường phụ thuộc nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp
lý HĐGD của đội ngũ GV [48]
* Ở Việt Nam
Vấn đề nâng cao chất lượng hoạt động chuyên môn của GV đã thu hút được sự quan tâm cũng như nhiều nhà nghiên cứu như là tác giả PGS.TS Nguyễn Ngọc Hợi, PGS.TS Phạm Minh Hùng, TS Thái Văn Thành khi nghiên cứu các tác giả đã nêu lên nguyên tắc chung về nâng cao chất lượng của đội ngũ GV như: Xác định đầy đủ nội dung hoạt động chuyên môn; Xây dựng hoàn thiện quy chế đánh giá, xếp loại chuyên môn của GV; Tổ chức đánh giá, xếp loại chuyên môn của GV Nhất là trong giai đoạn hội nhập, đổi mới những năm qua, Đảng và nhà nước ta rất quan tâm đến sự phát triển GD&ĐT, được thể hiện qua các văn bản cụ thể như sau:
Chỉ thị 40 CT/TW ngày 15/06/2004 của Ban Bí thư khóa IX, về việc xây dựng, nâng
cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đã nêu rõ: “ Phát triển giáo dục
và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn nhân lực con người Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng ”
Chỉ thị đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của cán bộ quản lý giáo dục và thể hiện rõ:
“ Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
Trang 11Nghị quyết số 37/2004/QH11 của Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 6 từ ngày 25/10 đến
ngày 03/12/2004, về giáo dục đã nêu: “ Tập trung xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý giáo dục đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đạt chuẩn về trình độ đào tạo; đặc biệt coi trọng việc nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lương tâm, trách nhiệm nghề nghiệp ”
- Thực hiện Chỉ thị, nghị quyết trên, ngày 11 tháng 01 năm 2005, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Gia Khiêm đã ký Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD giai đoạn 2005-2010 Mục
tiêu tổng quát là: “ xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD theo hướng chuẩn hóa, nâng cao
chất lượng, đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn của nhà giáo, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ” Nhiệm vụ là “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng để tiếp tục xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, CBQLGD Đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vai trò, trách nhiệm của nhà giáo và nhiệm vụ xây dựng đội ngũ nhà giáo, CBQLGD có chất lượng cao, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, trong sáng về đạo đức, tận tụy với nghề nghiệp, làm trụ cột thực hiện các mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài ”
- Trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận cũng như các giải pháp phát triển giáo dục Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001 - 2010 nêu bảy
nhóm giải pháp phát triển giáo dục “ Trong đó, đổi mới chương trình giáo dục, phát triển
đội ngũ nhà giáo là giải pháp trọng tâm; đổi mới quản lý giáo dục là khâu đột phá ”
Xuất phát từ những yêu cầu đổi mới của sự phát triển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục còn có những hạn chế
và bất cập Tình hình trên đòi hỏi phải tăng cường xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản
lý một cách toàn diện Đây là nhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa mang tính chiến lược lâu dài, nhằm thực hiện thành công Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010 và chấn
hưng giáo dục “ Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được
chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao
Trang 12chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ” Do đó, đòi hỏi cả hệ thống giáo dục phải có những thay
đổi một cách đồng bộ; từ nội dung chương trình, sách giáo khoa đến phương pháp giảng dạy; đầu tư xây dựng cơ sở vật chất hiện đại; đổi mới phương pháp quản lý các cấp học
Giáo dục phổ thông nói chung và giáo dục trung học cơ sở nói riêng là nền tảng của hệ
thống giáo dục quốc dân
Luật Giáo dục năm 2005, đã khẳng định mục tiêu của giáo dục trung học cơ sở là: “
Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật
và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động ”
Từ mục tiêu trên, Luật Giáo dục năm 2005 cũng đã xác định yêu cầu về nội dung,
phương pháp giáo dục trung học cơ sở là: “ Giáo dục THCS phải củng cố, phát triển những
nội dung đã học ở tiểu học, bảo đảm cho học sinh những hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt, toán, lịch sử dân tộc; kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có những hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp ”
Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX, xác định phương hướng của giáo dục & đào tạo Việt Nam những năm đầu thập kỷ XXI: "… xác định rõ các tiêu chí đánh giá sản phẩm xã hội của giáo dục là con người, chuẩn hoá đội ngũ giáo viên và quản lý giáo dục ( chất lượng chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực và trình độ nghề nghiệp ) …"
Nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo Lê Vũ Hùng cũng khẳng định tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục này không tự hình thành, mà phải trải qua một giai đoạn sàng lọc, thử thách và được đào tạo có hệ thống [38]
Kế thừa và rút kinh nghiệm chỉ đạo có tính đột phá của BGD&ĐT những năm gần đây, năm học mới 2009 – 2010 với chủ đề : “ Đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục ” được đông đảo cán bộ, giáo viên trong ngành đồng thuận và người dân quan tâm theo dõi Nhưng đổi mới quản lý GD như thế nào, hiệu quả đến đâu? Thì ngoài những chủ trương chung, còn đòi hỏi phải có sự nỗ lực, tận tâm của đội ngũ CBQL và giáo viên…ở các
cơ sở giáo dục
Trang 13Nói tóm lại, các nhà nghiên cứu ở nước ngoài, ở Việt Nam và quan điểm chỉ đạo đổi mới quản lý GD của Đảng ta đã đề ra nhiều biện pháp quản lý hoạt động giảng dạy ở nhà trường
1.2 Một số khái niệm cụ thể
1.2.1 Khái niệm Quản lí
Trong tất cả các hoạt động của con người, đối với từng cá nhân cũng như tập thể, hiệu
quả đạt được cao hay thấp, chất lượng tốt hay xấu đều có sự tác động của yếu tố “ Quản lý ”
Quản lý là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính chất xã hội của lao động Như vậy, có thể nói rằng quản lý chính là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của người khác nhằm thu được kết quả mong muốn, là sự tổ chức, kết hợp vận dụng tri thức với lao động để phát triển sản xuất xã hội Quản lý trở thành một nhân tố của sự phát triển xã hội, quản lý có nhiều cách hiểu khác nhau:
Theo từ điển Tiếng Việt của Hội Ngôn ngữ học Việt Nam 1997:
- Quản lý: là trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định như quản lý hồ sơ,
quản lý vật tư
Cũng theo từ điển Tiếng Việt: Quản lý ( hiểu theo ý nghĩa là một động từ ) nghĩa
là:
- Quản: Trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định
- Lý: Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định.[44]
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: Hoạt động quản lý là hoạt động bao gồm 2 quá trình “
Quản ” và “ Lý ” kết hợp với nhau trong đó “ Quản ” có nghĩa là duy trì và ổn định hệ “ Lý
” có nghĩa là sửa sang, sắp xếp đưa vào thế phát triển Nếu chỉ “ Quản ” mà không “ Lý ” thì
tổ chức dễ trì trệ, nếu chỉ “ Lý ” mà không “ Quản ” thì phát triển không bền vững Do đó, “ quản phải có lý ” và ngược lại, làm cho hệ thống cân bằng động, vận động phù hợp thích ứng
và có hiệu quả trong môi trường tương tác giữa các nhân tố bên trong và các nhân tố bên ngoài.[6]
Theo Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: « Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình
có mục đích, quản lý là một hệ thống, là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định » [28]
Theo tác giả Trần Kiểm: « Quản lý là những tác động chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực)
Trang 14trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất » và « Quản lý một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người – thành viên của hệ – nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt tới mục đích dự kiến »[28]
Theo tác giả Hoàng Tâm Sơn: “ Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có hướng
đích của chủ thể quản lý, nhằm sử dụng hiệu quả các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường ” [36]
Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là một bộ phận trong hệ thống quản lý Nhà nước về lĩnh vực giáo dục, là sự tác động và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các hoạt động giáo dục & đào tạo do các cơ quan quản lý giáo dục từ Trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện những chức năng và nhiệm vụ về GD & ĐT do Nhà nước ủy quyền nhằm phát triển sự nghiệp GD & ĐT, duy trì kỷ cương, thỏa mãn nhu cầu GD & ĐT của nhân dân
Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng
xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người Tuy nhiên, trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân [20]
Quản lý giáo dục có thể xác định là tác động của hệ thống có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắc xích của hệ thống (
từ Bộ Giáo dục – Đào tạo đến các Sở, Phòng, trường học) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của
xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em.[39]
Quản lý giáo dục là phức tạp và khó khăn Chính vì vậy, tác giả Trần Kiểm đưa ra hai định nghĩa về quản lý giáo dục:
+ Một là ở cấp vĩ mô ( hệ thống giáo dục ): « Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể nhằm huy động, tổ chức điều phối, điều chỉnh, quan sát … một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục ( nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu kinh tế - xã hội » [19]
Trang 15+ Hai là ở cấp vi mô ( nhà trường ): « Quản lý giáo dục thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục ( được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội ) nhằm hình thành phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường [20]
* Quản lý trường học: khái niệm quản lý giáo dục ở cấp độ vi mô cũng chính là khái
niệm quản lý trường học Nói cách khác, quản lý trường học là quản lý, lãnh đạo hoạt động dạy của giáo viên, hoạt động học của học sinh, hoạt động phục vụ việc dạy và học của cán
bộ, nhân viên trong trường Nhà trường là đơn vị cơ sở trực tiếp giáo dục & đào tạo, là cơ quan chuyên môn của ngành giáo dục & đào tạo, hoạt động của nhà trường rất đa dạng, phong phú và phức tạp, nên việc quản lý, lãnh đạo chặt chẽ, khoa học sẽ bảo đảm đoàn kết, thống nhất được mọi lực lượng, tạo nên sức mạnh đồng bộ nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục đích giáo dục [25, tr.36]
Dù ở cấp độ vĩ mô hay vi mô, quản lý giáo dục có 4 yếu tố: chủ thể quản lý, đối tượng bị quản lý ( đối tượng quản lý ), khách thể quản lý và mục tiêu quản lý Bốn yếu tố này có mối quan hệ và tác động nhau theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1 Các yếu tố của quá trình quản lý
Quản lý giáo dục thực chất là sự tác động của chủ thể quản lý ( Hiệu trưởng ) đến các
bộ phận, tập thể giáo viên và học sinh của nhà trường cùng với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội ( cấp ủy, chính quyền địa phương, các ban, ngành, đoàn thể, Ban Đại diện CMHS …) nhằm cung cấp, trang bị cho học sinh những kiến thức khoa học phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, từ đó góp phần phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo nhà trường
1.2.2 Khái niệm hoạt động
Theo từ điển Tiếng Việt, hoạt động là:
- Tiến hành những việc làm có quan hệ với nhau chặt chẽ nhằm một mục đích nhất
định trong đời sống xã hội
lý
Kháchthể quản
lý
Mục tiêu quản lý
Trang 16- Thực hiện một chức năng nhất định nào đó trong một chỉnh thể [44, tr.436]
Có nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động, tùy theo từng góc độ để xem xét Dưới góc độ triết học thì hoạt động là quan hệ biện chứng của chủ thể và khách thể Trong quan hệ
đó, chủ thể là con người, khách thể là hiện thực khách quan “ Hoạt động là mối quan hệ tác
động qua lại giữa con người và thế giới ( khách thể ) để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới
và cả về phía con người ( chủ thể ) ”.[42.Tr.55]
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: Hoạt động là sự tương tác giữa chủ thể và đối tượng, nhằm biến đổi đối tượng theo mục tiêu mà chủ thể đặt ra Quá trình chủ thể tác động vào đối tượng nhằm tạo ra sản phẩm [33]
Hoạt động có các đặc điểm cơ bản như sau:
- Hoạt động luôn luôn có đối tượng
- Con người là chủ thể của hoạt động
- Hoạt động có sử dụng các phương tiện, công cụ để tác động đến đối tượng
- Hoạt động được thực hiện trong những điều kiện lịch sử xã hội nhất định Mỗi hoạt động thường bao gồm hai mặt thống nhất và biện chứng, đó là:
+ Quá trình đối tượng hóa năng lực thể chất và tinh thần của chủ thể trở thành sản phẩm hoạt động
+ Quá trình chủ thể hóa nội dung của đối tượng thực chất là quá trình chủ thể lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm xã hội và chuyển hóa thành kinh nghiệm bản thân
Vì vậy, theo TS Nguyễn Thị Bích Hồng và TS Võ Văn Nam thì“ Cuộc sống của con người là một chuỗi hoạt động Con người sống là còn hoạt động, hoạt động là một phương thức tồn tại của con người, là nhân tố quyết định trực tiếp sự hình thành và phát triển nhân cách ”.[17]
1.2.3 Khái niệm giảng dạy và hoạt động giảng dạy
Theo quan điểm của các tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, Trần Bá Hoành, Vũ Văn Tảo,
Nguyễn Kỳ thì hoạt động dạy là hoạt động tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho
người học hoạt động, để tự người học thu lượm tri thức, chiếm lấy làm tài sản sở hữu của mình Người dạy giúp đỡ người học thực hiện phương pháp học
Hoạt động giảng dạy: Là hoạt động dạy học bao gồm hai hoạt động: hoạt động dạy và
hoạt động học
a Hoạt động dạy:
Trang 17Là hoạt động trong đó giáo viên tổ chức, điều chỉnh, hướng dẫn và tư vấn hoạt động học tập cho học sinh Hoạt động dạy giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động dạy học
b Hoạt động học:
Là hoạt động trong đó học sinh lĩnh hội, rèn luyện kỹ năng, hình thành nhân cách,
là hoạt động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học tập của mình, dưới sự chỉ đạo của giáo viên Hoạt động học của học sinh giữ vai trò chủ động ( tự giác, tích cực, tự lực và sáng tạo )
c Quá trình dạy học và bản chất của quá trình dạy học
Hoạt động dạy và hoạt động học luôn gắn bó mật thiết với nhau, tồn tại cùng nhau
và vì nhau Trong đó hoạt động dạy thầy đóng vai trò chủ đạo, tổ chức và điều khiển HS Trong hoạt động học, HS chủ động tích cực tự giác và sáng tạo dưới sự điều khiển của GV
* Quá trình hoạt động dạy học là quá trình tương tác và thống nhất giáo viên và học sinh Trong đó dưới sự chỉ đạo ( tổ chức, điều khiển, hướng dẫn, tư vấn ) của giáo viên, học sinh chủ động ( tự giác, tích cực, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học tập ) để thực hiện các nhiệm vụ dạy học: dạy học kiến thức, dạy học kỹ năng, dạy học thái độ
* Bản chất của quá trình dạy học:
Quá trình dạy học là quá trình hoạt động tương tác và thống nhất của hai hoạt động giáo viên và học sinh, phản ánh tính chất hai mặt của quá trình dạy học
Quá trình dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của học sinh dưới sự chỉ đạo của giáo viên
Quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn, tích hợp, cân bằng động Các thành tố của nó tương tác với nhau theo quy luật riêng để tạo thành sự thống nhất biện chứng giữa:
+Dạy và học
+Truyền đạt và điều khiển trong dạy
+Lĩnh hội và tự điều khiển trong học
Khái niệm khoa học là điểm xuất phát của dạy lại là điểm kết thúc của học Dạy tốt, học tốt chính là đảm bảo được ba phép biện chứng của điều khiển, bị điều khiển và tự điều khiển, đảm bảo mối liên hệ nghịch thường xuyên, vững bền
Như vậy, vai trò của người GV không chỉ truyền thụ nội dung kiến thức, mà cái chính
là người tạo hứng thú học tập, hướng dẫn người học về phương pháp Ngoài ra, người thầy lúc bấy giờ đóng vai trò là người trọng tài, cố vấn, kết luận về các cuộc tranh luận, đối thoại trò – trò, thầy – trò, để khẳng định về mặt khoa học kiến thức do người học tìm ra Cuối
Trang 18cùng, thầy là người kiểm tra, đánh giá kết quả học của HS trên cơ sở tự đánh giá, tự điều chỉnh
1.2.4 Khái niệm quản lí hoạt động giảng dạy
Quản lý hoạt động giảng dạy cũng sẽ là quản lý quá trình dạy học vì những mục đích, nhiệm vụ dạy học được thực hiện đồng thời thống nhất với nhau trong quá trình dạy của thầy
và quá trình học của trò Quản lý quá trình dạy học là một hệ thống cân bằng động gồm nhiều thành tố tác động qua lại lẫn nhau, chế ước lẫn nhau với đời sống xã hội theo những quy luật và nguyên tắc nhất định, nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học, nhằm đạt chất
lượng và hiệu quả dạy học [31, tr.30]
Quản lý HĐGD là quản lý việc thực hiện mục tiêu, nội dung, chương trình, kế hoạch dạy học và quản lý việc đổi mới phương pháp dạy học
+ Thực hiện chương trình dạy học là thực hiện kế hoạch đào tạo theo mục tiêu đào tạo của trường THCS Về nguyên tắc chương trình là pháp lệnh Nhà nước do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
+ Hiệu trưởng phải làm cho mọi giáo viên nắm vững chương trình không được tuỳ tiện thay đổi, thêm bớt làm sai lệch nội dung chương trình dạy học
+ Hiệu trưởng điều khiển hoạt động giảng dạy và phải dựa vào nội dung chương trình
Do đó việc nắm vững chương trình dạy học là một tiền đề để bảo đảm hiệu quả quản lý HĐGD
+ Việc quản lý chương trình dạy học của giáo viên là việc quản lý HĐGD đúng và đủ hương trình theo quy định Muốn vậy, hiệu trưởng phải yêu cầu tổ trưởng chuyên môn, giáo viên lập kế hoạch giảng dạy bộ môn, đảm bảo thời gian quy định cho chương trình, thường xuyên theo dõi chương trình hàng tuần, hàng tháng
Quản lý việc thực hiện nề nếp, kỷ cương dạy học trong nhà trường THCS Hiệu trưởng quản lý việc thực hiện nề nếp, kỷ cương HĐGD trong trường THCS bằng hệ thống các quy định được dân chủ bàn bạc thống nhất và tổ chức thực hiện trên các lĩnh vực sau:
+ Thực hiện kế hoạch giảng dạy theo chương trình và kế hoạch năm học
+ Kế hoạch soạn bài
+ Kế hoạch chỉ đạo tổ chức chuyên môn thực hiện dạng bài hoặc những bài khó, những tư liệu cần bổ sung cho bài giảng, những phương tiện cần sử dụng đảm bảo cho bài giảng đạt hiệu quả cao
Trang 19+ Chỉ đạo chuyên môn, tập thể sư phạm nhà trường vận dụng văn bản mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định tiêu chuẩn đánh giá tiết dạy trên lớp của từng loại bài đối với từng môn học Sự vận dụng cụ thể vừa giúp cho việc đánh giá giờ học, vừa giúp cho việc nâng cao tay nghề của giáo viên
+ Để nâng cao trình độ chuyên môn của giáo viên, hiệu trưởng cần phải chỉ đạo tổ chức về giờ lên lớp, dự giờ thăm lớp thường xuyên, giúp giáo viên khắc phục những mặt còn hạn chế
+ Tổ chức và hướng dẫn học sinh cũng là một mặt công tác chỉ đạo của Hiệu trưởng nhưng chủ yếu là thông qua nhiệm vụ của giáo viên
Quản lý việc kiểm tra - đánh giá trong quá trình giảng dạy
+ Hiện nay Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có chỉ đạo đổi mới việc kiểm tra, đánh giá trong quá trình giảng dạy, hiệu trưởng cần phải chỉ đạo kiên quyết vấn đề này Hiệu trưởng phải nắm được tình hình giáo viên; việc thực hiện kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh; xác định tác dụng của việc kiểm tra là giúp cho giáo viên điều chỉnh phương pháp, nội dung, yêu cầu đánh giá đúng chất lượng, khắc phục bệnh thành tích , học sinh đổi mới cách học trở thành người năng động sáng tạo, kích thích việc tự học, tự hoàn thiện nhân cách
+ Hiệu trưởng phải có lịch kiểm tra hàng tháng, giữa học kỳ và cả học kỳ đối với giáo viên khi thực hiện các hình thức kiểm tra Việc thực hiện ra đề kiểm tra theo hình thức tự luận khách quan và trắc nghiệm khách quan Việc giáo viên thực hiện chế độ kiểm tra, cho điểm, chấm trả bài đúng quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo Quản lý, kiểm tra và đánh giá trong quá trình dạy học thông qua báo cáo của tổ chuyên môn theo quy định của nhà trường; thông qua kết quả xếp loại học sinh cuối học kỳ, cuối năm học
1.3 Lý luận về quản lý hoạt động giảng dạy của HT trường THCS
1.3.1 Đặc điểm của trường THCS
Trường THCS, có vị trí và mục tiêu theo qui định của BGD & ĐT như sau :
* Vị trí của trường trung học cơ sở
Trong khoản 2 Điều 4 của Luật Giáo dục về hệ thống giáo dục quốc dân có ghi:“ Giáo
dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông ” [24]
Trang 20Trong Điều 26 của Luật Giáo dục có ghi: “ Giáo dục Tiểu học được thực hiện trong 5
năm học, từ lớp 1 đến lớp 5, tuổi của học sinh vào lớp 1 là 6 tuổi Giáo dục THCS được thực hiện trong bốn năm học, từ lớp 6 đến lớp 9, học sinh vào lớp 6 phải hoàn thành chương trình
TH, có tuổi là 11 tuổi, Giáo dục THPT được thực hiện trong 3 năm học, từ lớp 10 đến lớp
12 Học sinh vào học lớp 10 phải có bằng tốt nghiệp THCS có độ tuổi là 15 tuổi " [24] Cấp
THCS là “ Cầu nối giữa bậc Tiểu học và THPT ” tiếp nhận những thành tựu của giáo dục
TH, trên cơ sở đó thực hiện nhiệm vụ của mình, xây dựng những bước đầu của giáo dục Trung học phổ thông, THCS mang tính chất liên thông với Trung học chuyên nghiệp và Trung học nghề
Như vậy, có thể nói THCS có vai trò và vị trí trọng yếu trong hệ thống giáo dục quốc dân, trong đời sống kinh tế, xã hội của đất nước Một số học sinh THCS sẽ tiếp tục lên học THPT hoặc vào các trường THCN, số còn lại bước vào cuộc sống lao động, vào các ngành nghề trong xã hội Vị trí của THCS trong hệ thống giáo dục quốc dân được thể hiện qua sơ
đồ sau:
Trang 21Sơ đồ 2: Trung học cơ sở trong hệ thống giáo dục quốc dân
Bằng Tú tài
Bằng THCS
Giấy chứng nhận hoàn thành chương trình TH TH 5 4 3 2 1 Đại Học Cao đẳng
THPT
12
11
10
Học Nghề THCN
Giáo dục thường xuyên THCS
9
8
7
6
Vào đời
* Mục tiêu đào tạo của trường THCS
Luật Giáo dục được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ
họp thứ 7, thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005, ghi rõ Mục tiêu của giáo dục phổ thông “
Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách
Trang 22nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ” [24]
Mục tiêu của giáo dục THCS là: “ Giáo dục THCS nhằm giúp học sinh củng cố và
phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động ” [24]
Do đó, THCS là điểm tựa của giáo dục phổ thông, là cơ sở của bậc trung học, là tiền
đề của quá trình đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
1.3.2 Vị trí, Vai trò, nhiệm vụ và quyền hạn của HT trường THCS
Luật Giáo dục quy định: “ Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt
động của nhà trường ”
Căn cứ theo Điều 17 của Điều lệ trường Trung học thì Hiệu trưởng có những nhiệm vụ
và quyền hạn sau:
- Xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường;
- Thực hiện các quyết nghị của Hội đồng trường được quy định tại khoản 2 Điều 20 của Điều lệ trường trung học;
- Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học;
- Quản lý giáo viên, nhân viên; quản lý chuyên môn; phân công công tác, kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên, nhân viên; thực hiện công tác khen thưởng, kỷ luật đối với giáo viên, nhân viên theo quy định của Nhà nước; quản lý hồ sơ tuyển dụng giáo viên, nhân viên;
- Quản lý học sinh và các hoạt động của học sinh do nhà trường tổ chức; xét duyệt kết quả đánh giá, xếp loại học sinh, ký xác nhận học bạ và quyết định khen thưởng, kỷ luật học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
- Quản lý hành chánh, tài chính, tài sản của nhà trường;
- Thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đối với giáo viên, nhân viên, học sinh; tổ chức thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường; thực hiện công tác
xã hội hoá giáo dục của nhà trường
- Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và hưởng các chế
độ, chính sách theo quy định của pháp luật;
- Chịu trách nhiệm trước cấp trên về toàn bộ các nhiệm vụ được quy định trong khoản
1 Điều này
Trang 23Như vậy, HT trường THCS là người đại diện cho Nhà nước về mặt pháp lý, có trách nhiệm và thẩm quyền về mặt hành chánh và chuyên môn, chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý cấp trên và ra các quyết định quản lý, tác động điều khiển các thành tố trong các hệ thống nhà trường nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ Giáo dục & Đào tạo được quy định bằng luật pháp hoặc bằng các văn bản, thông tin hướng dẫn do các cấp có thẩm quyền ban hành
1.3.3 Nội dung quản lý hoạt động giảng dạy của HT các trường THCS.( theo qui
Nội dung quản lý hoạt động giảng dạy:
- Quản lý mục tiêu, chương trình, kế hoạch dạy học
- Lập kế hoạch quản lý hoạt động dạy học
- Quản lý việc chuẩn bị và lên lớp của giáo viên
- Quản lý việc đổi mới PP dạy học
- Quản lý hoạt động của tổ chuyên môn
- Quản lý công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên
- Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
- Quản lý các phương tiện, điều kiện hỗ trợ hoạt động dạy học
Để quản lý hoạt động giảng dạy có hiệu quả cần chú ý những vấn đề cơ bản trong các nội dung quản lý sau:
- Quản lý nội dung chương trình giảng dạy : Nội dung chương trình giảng dạy được cụ thể hóa bằng mục tiêu dạy học trong từng bộ môn, thông qua đó người học tiếp tục phát triển những năng lực trí tuệ và nhân cách của mình đáp ứng được mục tiêu giáo dục của cấp học
- Quản lý việc sử dụng SGK: việc thực hiện nghiêm túc chương trình, SGK là yêu cầu mang tính pháp chế, tuy nhiên cũng cần chú ý đến tính linh hoạt trong quản lý nội dung giảng dạy thể hiện ở chỗ tinh giản, mở rộng hay bổ sung những nội dung đặc thù trong phạm
vi cần thiết đối với từng loại trường ở các vùng miển khác nhau
- Quản lý việc giảng dạy trên lớp: Cần chú ý đến phương hướng chính trị, tư tưởng của bài giảng, vì đó là yếu tố quan trọng góp phần hình thành nhân cách cho người học
Trang 24CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY CỦA HIỆU TRƯỞNG CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN VĨNH THẠNH THÀNH PHÔ CÂN THƠ
2.1 Khái quát tình hình phát triển kinh tế, văn hóa-xã hội của huyện
Huyện Vĩnh Thạnh có điều kiện diện tích tự nhiên 29.759,06 ha diện tích tự nhiên ( đất nông nghiệp 26.376,61ha), dân số 112.663 người với 26.299 hộ
Là một huyện nông thôn ngoại thành của thành phố Cần Thơ; giáp với huyện Thoại Sơn ( An Giang); Tân Hiệp và Giồng Riềng ( Kiên Giang) thuộc vùng ảnh hưởng ngập sâu hàng năm vào mùa lũ Cơ sở vật chất toàn huyện có 40% cơ sở vật chất xuống cấp do lũ lụt hàng năm Phần lớn người dân nông thôn sống bằng nghề trồng lúa, dân cư phân bổ khắp trên hệ thống kênh rạch Với các điều kiện thiên nhiên như thế; Vĩnh Thạnh cũng có nhiều điều kiện thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn trong việc phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội ở địa phương
* Về kinh tế
Kinh tế của huyện Vĩnh Thạnh phát triển tương đối toàn diện và liên tục tăng trưởng với nhịp độ khá cao Nhiều năm qua, Vĩnh Thạnh là huyện có tốc độ phát triển kinh tế và thu ngân sách đạt chỉ tiêu đề ra trong thành phố Tốc độ tăng trưởng bình quân các năm là 14,49% GDP bình quân đầu người 720,79USD Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực theo hướng tăng nhanh tỉ trọng các ngành dịch vụ và công nghiệp Huyện đã và đang tích cực huy động mọi nguồn lực để thực hiện mục tiêu CNH, HĐH nông nghệp, nông thôn
* Về văn hóa – xã hội
Các mặt văn hóa xã hội được quan tâm đầu tư phát triển Hệ thống giáo dục và đào tạo phát triển tương đối đồng bộ và vững chắc; chất lượng giáo dục và đào tạo, trình độ dân trí được tăng lên rõ rệt Mạng lưới khám chữa bệnh được xây dựng và củng cố có nhiều trạm y
tế đạt chuẩn, hầu hết các trạm y tế ở 09 xã, 02 thị trấn có bác sĩ Hoạt động văn hóa – văn nghệ có nhiều chuyển biến tích cực Phong trào xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa được giữ vững và phát triển Đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân trong huyện được cải thiện Đặc biệt các xã khó khăn được đầu tư đúng mức, góp phần cải thiện cơ sở hạ tầng, xóa đói giảm nghèo An ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội được giữ vững và ổn định Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, đời sống được cải thiện, càng ngày các gia đình càng có thêm ý thức đầu tư cho việc học hành của con em mình, về việc học và học lên
Trang 25Với tình hình này, đã tạo ra nhu cầu to lớn về học tập ở tất cả các cấp học Sự phát triển về kinh tế - xã hội còn là môi trường và điều kiện thuận lợi để huyện Vĩnh Thạnh phát triển giáo dục
2.2 Thực trạng về giáo dục Trung học cơ sở
2.2.1- Vài nét về tình hình giáo dục và đào tạo huyện Vĩnh Thạnh
Vĩnh Thạnh là một trong những huyện có phong trào giáo dục khá mạnh, cơ sở vật chất trường học ngày càng được tăng cường, quy mô giáo dục và đào tạo phát triển nhanh và tương đối đồng đều, chất lượng giáo dục ổn định và được nâng lên qua từng năm Toàn huyện có 09 xã, 02 thị trấn với số trường là 50 ( Trong đó : Mầm non – Mẫu giáo : 15 ( 01 trường Mầm non); 26 trường Tiểu học ( có 01 Dân Lập Ân Bình); Trung học cơ sở: 09 trường Hầu hết các điểm trường phân tán trên các tuyến kênh, địa bàn rộng, dân số đông, người dân chủ yếu sống theo các kênh rạch, canh tác nông nghiệp là chủ yếu
Hệ thống giáo dục từng bước được hoàn chỉnh với mạng lưới trường lớp phù hợp với địa bàn dân cư, tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh đến trường Huyện Vĩnh Thạnh, được công nhận phổ cập tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập trung học cơ sở nhiều năm, từ 2004 và đang thực hiện phổ cập trung học
Người dân Vĩnh Thạnh có truyền thống hiếu học, hàng năm một số lượng lớn học sinh đạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp thành phố và quốc gia; có nhiều Thạc sĩ, Tiến sĩ dạy học ở các trường THPT, Cao đẳng; Đại học ở các tỉnh đồng bằng đều xuất thân từ huyện
2.2.2 - Về quy mô, số lượng, chất lượng giáo dục THCS
- Về quy mô, số lượng:
Năm học 2009 – 2010 huyện có 9 trường trung học cơ sở với 142 lớp/5331 học sinh: 6.072 học sinh
Tiến độ huy động học sinh có nhiều thuận lợi hơn; liên tục trong các năm qua tỉ lệ học sinh vào lớp 6 luôn đạt trên 98%; xét tốt nghiệp trung học cơ sở hàng năm trên 97%, tỉ lệ học sinh lưu ban bỏ học hàng năm không quá 0,2% so với các quận, huyện trong thành phố thì Vĩnh Thạnh có tỷ lệ học sinh bỏ học thấp Hầu hết cấp uỷ, UBND các xã, thị trấn đều rất quan tâm phối hợp với Ngành để triển khai và thực hiện có hiệu quả công tác phổ cập trung học cơ sở, phổ cập Trung học
- Về chất lượng:
Trang 26Chất lượng giáo dục ở các mặt được duy trì phát triển tốt:
+ Đạo đức: Học sinh trung học cơ sở đều ngoan và biết giữ gìn kỷ luật, biết vâng lời
thầy cô, cha mẹ, học sinh có được những hiểu biết cơ bản thường thức về lối sống, các quy tắc trong ứng xử trong các mối quan hệ với nhà trường, gia đình và xã hội; rất hiếm có học sinh cá biệt
+ Văn hóa: Chất lượng trung học cơ sở tiếp tục ổn định và ngày càng tiến bộ Nhìn
chung, học sinh trung học cơ sở ngày càng hoạt bát, kiến thức xã hội ngày càng được rộng
mở do tiếp xúc với nhiều lượng thông tin phong phú; trong đó việc đổi mới phương pháp giảng dạy, chương trình và nội dung mới góp phần tạo điều kiện cho học sinh phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo, năng động hơn trong học tập Chất lượng hạnh kiểm và học lực được đánh giá cuối năm của các trường có nhiều chuyển biến tích cực; học sinh có hạnh kiểm xếp loại tốt, học lực xếp loại giỏi tăng dần
- Về giáo dục nghề phổ thông tiếp tục được tổ chức và duy trì, mục đích là nhằm giáo dục, định hướng nghề nghiệp cho các em từ khi đang học ở trường phổ thông
- Thực hiện đúng, đủ chương trình nội dung sách giáo khoa: 100% các trường thực hiện đầy đủ phân phối chương trình của Bộ GD&ĐT
- Đảm bảo dạy đầy đủ các tiết thực hành thí nghiệm, các tiết hoạt động ngoài giờ lên lớp, giáo dục thể chất, giáo dục thẩm mỹ, hướng nghiệp, dạy nghề phổ thông: 09/09 trường thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Tổ chức tốt việc dạy và học các môn tự chọn và chủ đề tự chọn, thực hiện giảng dạy môn tự chọn ở tất cả các khối lớp theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGD&ĐT ngày 05/5/2006; Hướng dẫn số 7092/BGDĐT-GDTrH ngày 10/8/2006 của Bộ GD&ĐT, phù hợp với tình hình, đặc điểm ở địa phương Chú trọng bổ sung trang thiết dạy và học
- Thực hiện đúng hướng dẫn đánh giá, xếp loại học sinh do Bộ GD&ĐT ban hành
- Sơ kết, đánh giá, rút kinh nghiệm việc vận dụng phương pháp mới để dạy chương trình thay sách trong tổ chuyên môn hàng tuần
- Tổ chức hội thảo đánh giá việc thực hiện chương trìmh và sách giáo khoa phổ thông
- Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động dạy và học, công tác soạn giảng Trước mắt khuyến khích, tạo điều kiện cho giáo viên soạn và in bài dạy trên máy
vi tính, giảm viết tay Thực hiện tốt kế hoạch giảng dạy tin học, ngoại ngữ, hướng nghiệp dạy nghề phổ thông
Trang 27+ Về giáo dục thể chất: tiếp tục được đầu tư và nâng cao hiệu quả Hầu hết các đơn vị
đều đảm bảo kế hoạch dạy theo chương trình chính khóa
- Về thực hiện chương trình môn học Thể dục theo qui định 2 tiết / tuần / lớp đạt 100% 2.2.3- Về đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên:
Giáo viên trung học cơ sở 253 người, nữ 142 giáo viên trong biên chế đạt tỉ lệ giáo viên/lớp là 1,76; trong đó trình độ đại học sư phạm: 109/253 chiếm tỉ lệ: 43,08%; cao đẳng
sư phạm: 144/253 chiếm tỉ lệ: 56,91% Như vậy, toàn huyện có 100% giáo viên trung học cơ
sở đạt chuẩn hoặc vượt chuẩn
2.2.4 Về cơ sơ vật chất, thiết bị dạy học phục vụ cho HĐGD
Huyện ủy, UBND huyện đã có quy hoạch mạng lưới trường lớp trên toàn địa bàn huyện giai đoạn 2010-2015, cho phù hợp với tình hình thực tế địa phương và địa bàn dân cư; trong năm học 2009- 2010 đầu tư xây dựng 2 trường THCS đạt chuẩn Quốc gia ( THCS TT Thạnh An, trường THCS Thạnh Thắng )
Ngành giáo dục quan tâm đầu tư cơ sở vật chất và mua sắm trang thiết bị để phục vụ tốt cho việc đổi mới phương pháp giảng dạy; đầu tư theo hướng kiên cố hoá trường học; sách-thiết bị cung ứng đủ cho hoạt động dạy và học
Một số trường đã chú trọng đầu tư phòng bộ môn đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình GDPT
2.3 Về quản lý HĐGD của HT các trường THCS
Thực tế khảo sát ở 9 trường THCS và Phòng GD&ĐT, với 288 phiếu hỏi dành cho CBQL Phòng GD&ĐT, hiệu trưởng, các phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn và giáo viên cụ thể như sau:
Bảng 1: Thống kê các dơn vị phát phiếu thăm dò
Đơn vị
Frequency Percent Valid Percent
Cumulative Percent V
Trang 282.3.1 QL việc phân công giảng dạy và xếp thời khóa biểu cho GV
Frequency Percent
Valid Percent Cumulative Percent
Dạy mỗi năm một
Theo năng lực
Đúng theo chuyên
Dạy chéo môn, (do
Trang 29Qua khảo sát thực trạng được thể hiện trên bảng 2A và 2B cho thấy: đa số HT phân công cho GV giảng dạy dựa vào khả năng chuyên môn và đúng chuyên ngành được đào tạo
là chủ yếu
Khi trao đổi với HT, các phó HT và GV thì việc phân công giảng dạy cho GV thường dựa vào những căn cứ như: đúng chuyên ngành được đào tạo, năng lực chuyên môn, khả năng hoàn thành nhiệm vụ, nguyện vọng, hoàn cảnh từng người, biên chế giáo viên của từng năm học theo từng bộ môn cụ thể và yêu cầu công tác kiêm nhiệm Tuy nhiên, khi phân công công tác chuyên môn, các trường cũng chú ý đến những nguyên tắc cơ bản như sau:
- Đảm bảo tính công khai dân chủ, dựa vào chuyên ngành được đào tạo, có bản lĩnh về chuyên môn, thâm niên công tác và nhiều kinh nghiệm sẽ ưu tiên phân công giảng dạy các lớp cuối cấp, bồi dưỡng HS giỏi, phụ đạo HS yếu kém
- Thông thường GV bộ môn có sự thay đổi theo từng năm học, khác với GV chủ nhiệm lớp thì có tính cố định hơn Rất ít trường hợp phân công GV chỉ chuyên dạy xuyên suốt một khối lớp trong nhiều năm liền Bởi vì, như vậy sẽ làm cho GV thụ động, chây ì, mất hứng thú, không có động lực để phấn đấu
- Việc sắp xếp thời khóa biểu phần lớn không để GV bị trống giờ giữa buổi dạy; không dồn ép và cũng không trải mỏng các tiết dạy trong tuần để GV có thời gian chuẩn bị bài và nghiên cứu tài liệu
Có thể thấy kết quả điều tra, quan sát, phỏng vấn CBQL và GV ở các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ, phần lớn HT đã phân công giảng dạy chuyên môn cho GV cũng như xây dựng thời khóa biểu là khá hợp lý Vì vậy, những năm qua đã duy trì tốt nề nếp giảng dạy ở các trường THCS cho nên kết quả nghiên cứu này là phù hợp giả thuyết khoa học
2.3.2 QL việc thực hiện chương trình, kế hoạch giảng dạy của GV
Bảng 3 HT với việc quản lý kế hoạch và chương trình giảng dạy
1 Xây dựng kế hoạch giảng dạy từng môn 176 90 20 2 4,52
2 Phân công tổ trưởng bộ môn xây dựng kế hoạch thực hiện chương trình hàng
tháng
Trang 303 Phân công tổ trưởng bộ môn xây dựng kế hoạch thực hiện chương trình từng
Qua khảo sát thực tế các đối tượng CBQL, GV gồm 288 phiếu cho thấy những nội dung khảo sát đều có tỉ lệ X trên 3,0 Tức từ 4,52 đến 4,68, trong đó: Xây dựng kế hoạch
giảng dạy từng môn, tốt 176/288 phiếu, tỉ lệ 61,1%; khá 31,3%; trung bình 6,9%; yếu còn
0,7%
Xây dựng kế hoạch thực hiện chương trình hàng tháng, học kỳ, năm học có tỉ lệ X
từ 4,64 đến 4,68 Điều đó cho thấy việc cụ thể hóa kế hoạch giảng dạy được thống nhất trong tổ chuyên môn và được HT phê duyệt ngay từ đầu năm học Việc chỉ đạo này, thể hiện bằng kế hoạch hàng ngày, tuần, tháng, học kỳ và năm học Đó là kế hoạch giảng dạy của giáo viên khi lên lớp với thời khoá biểu đã được duyệt, kế hoạch dự giờ, thăm lớp; kế hoạch
tự học, tự bồi dưỡng; kế hoạch thao giảng; kế hoạch khảo sát giáo viên dạy giỏi các cấp; kế hoạch kiểm tra định kỳ, đột xuất sổ điểm, sổ đầu bài, giáo án; kế hoạch thi làm đồ dùng và thiết bị dạy học; kế hoạch đổi mới phương pháp giảng dạy; kế hoạch ngoại khoá, tham quan,
dã ngoại, thực hành; kế hoạch kiểm tra việc chấm, chữa, trả bài cho học sinh; kế hoạch lấy phiếu tín nhiệm của hội đồng giáo dục, giáo viên đăng ký danh hiệu giáo viên dạy giỏi, chiến
sĩ thi đua các cấp và kế hoạch thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của giáo viên Việc thực hiện chương trình, kế hoạch giảng dạy của GV ở các trường THCS trên địa bàn huyện
Trang 31Vĩnh Thạnh những năm qua, có nhiều cố gắng và đạt được kết quả nhất định, thể hiện qua kết quả học tập của học sinh các trường
Tuy nhiên, khi thông qua 288 phiếu khảo sát thì tỉ lệ tốt chỉ đạt 68,5% Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động giảng dạy góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục
và đào tạo trong giai đoạn hiện nay, thì việc quản lý chỉ đạo trên chưa có sức thuyết phục cao Nó còn mang tính hình thức, kế hoạch bao quát mọi hoạt động nhưng vẫn nặng về hành chính, đủ việc mà chưa có thang đo chất lượng việc thực hiện các kế hoạch Tình trạng năm nào kế hoạch cũng như thế, công việc dẫn đến nhàm chán, giáo viên làm đủ việc, đúng việc
mà chất lượng học tập của học sinh chưa đáp ứng theo “ đơn đặt hàng của XH ”
2 Qui định giáo viên được sử dụng giáo án cũ
4 Qui định về kiểm tra giáo án theo định kỳ 239 47 2 4,82
5 Qui định ủy quyền cho tổ trưởng bộ môn
6 Qui định việc sử dụng đồ dùng và phương
7 Qui định viêc sử dụng các loại tài liệu tham
8 Qui định nền nếp giảng dạy của GV 226 52 10 4,75
9 Qui định GV giảng dạy ngoại khóa theo đặt
13 HT kiểm tra đột xuất giáo án, sổ báo giảng,
sổ đầu bài; sổ dạy bù của giáo viên khi có 186 82 15 5 4,55
Trang 32yêu cầu
Khảo sát thực trạng 13 giải pháp của hiệu trưởng về ban hành những qui định giảng dạy trên lớp và ngoài lớp đối với giáo viên các môn, có tỉ lệ X khá cao Chiếm từ 4,43 đến 4,82 Những qui định cụ thể của HT như : Qui định về soạn giáo án; Qui định giáo viên được
sử dụng giáo án cũ có bổ sung; Qui định về ký duyệt giáo án; Qui định nền nếp giảng dạy của GV; Qui định về kiểm tra giáo án theo định kỳ Kết quả cho thấy, có sự thống nhất cao trong nhận định đánh giá giữa CBQL và giáo viên giảng dạy nói chung
Mặt khác, khi đến tìm hiểu thực tế tại các trường THCS, tác giả nhận thấy hầu hết HT rất chú trọng đến việc ứng dụng CNTT trong đổi mới PPGD; Chú trọng đến việc soạn bài mới, giáo án phải thể hiện rõ các yêu cầu về mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức lớp học, hình thức xử lý các tình huống trên lớp Một số HT có lưu ý GV quan tâm trang bị kiến thức đời thường, vốn sống thực tế ngoài XH, đồng thời xử lý khéo léo, thuyết phục HS những vấn đề các em đặt ra, nhất là những tiết dạy ngoại khóa theo đặt thù của từng
bộ môn
Tuy nhiên, thông qua phiếu hỏi và tọa đàm “ tâm sự ” đối với CBQL, GV thì được biết còn một vài trường chưa có thư viện độc lập ( tủ sách dùng chung ) Có trường có thư viện, phòng bộ môn, phòng thiết bị nhưng lại thiếu điện, thiếu nước (!) nên chưa tạo điều kiện tốt cho GV soạn giảng; ứng dụng CNTT trong đổi mới PPGD Nhưng cũng phải thừa nhận rằng trong công tác QL của HT về Qui định việc sử dụng đồ dùng và phương tiện dạy học ( 4,56 ); Qui định viêc sử dụng các loại tài liệu tham khảo ( 4,43 ); Qui định GV giảng dạy ngoại khóa theo đặt thù của từng bộ môn Vì vậy, tỉ lệ X tuy trên 3,0 nhưng chưa cao lắm, cần được quan tâm nhiều hơn
Bên cạnh đó, khi nghiên cứu hồ sơ quản lý của HT, PHT chuyên môn, tổ trưởng các bộ môn, tác giả nhận thấy: Hầu hết đều có đầy đủ hồ sơ, có xây dựng kế hoạch, phân công kiểm tra, qui định xếp lịch kiểm tra, đối tượng kiểm tra Nhưng thực chất công tác kiểm tra còn qua loa, hời hợt còn mang tính hình thức theo kiểu “ Dễ người, dễ ta ” cho nên tỉ lệ X
dù đạt từ 4,46 đến 4,55 nhưng cần được quan tâm chỉ đạo nhiều hơn
Như vậy, trong việc quản lý này, Hiệu trưởng đã chú trọng đưa ra cách thức mẫu bài soạn, cũng như cho phép GV được sử dụng giáo án cũ có bổ sung và có kế hoạch cụ thể để kiểm tra đồng thời góp ý cho giáo viên những mặt còn thiếu sót
Trang 33Tuy nhiên, các Hiệu trưởng còn chưa tiến hành hoặc ít tiến hành kiểm tra đột xuất giáo viên, có lẽ là do cả nể, e dè, ngại va chạm Mặt khác, vấn đề bồi dưỡng nghiệp vụ cho giáo viên về cách soạn bài cũng chưa được coi trọng HT nghĩ rằng giáo viên đã được học kỹ
ở trong trường đại học nên không cần bồi dưỡng lại Thêm vào đó, việc kiểm tra phần lớn giao cho phó HT chuyên môn hoặc tổ trưởng chuyên môn đảm nhiệm, hiệu trưởng ít trực tiếp kiểm tra Mặt khác, Hiệu trưởng còn chưa sâu sát trong việc kiểm tra đối chiếu giữa sổ báo giảng với sổ ghi đầu bài, giáo án và sổ dạy bù xem GV có thực hiện giữa ghi chép với thực tế hay không Do vậy, hiệu trưởng khó lồng ghép giữa kiểm tra vào đánh giá xếp loại thi đua GV vì thiếu căn cứ chính xác
2.3.5 Quản lý đổi mới phương pháp giảng dạy
Bảng 5 HT với việc quản lý đổi mới phương pháp giảng dạy
Qui định về quyền tự chủ, tự chịu trách
nhiệm trong việc lựa chọn, đổi mới phương
pháp giảng dạy của GV
4,43
3 Theo dõi kiểm tra, uốn nắn kịp thời việc sử dụng các PPGD dạy cho phù hợp với đối
đề đã dạy Giáo án được thiết kế theo trình tự đường thẳng, chung cho cả mọi học sinh Bài giảng trên lớp được tiến hành trong phòng học, mà bàn giáo viên và bảng đen là trung tâm thu hút sự chú ý của mọi học sinh Giáo viên là người độc quyền đánh giá kết quả học tập của học sinh GV chỉ chú ý chủ yếu tới khả năng ghi nhớ và tái hiện thông tin của học sinh
Trang 34Phương pháp thuyết trình được GV sử dụng là chủ yếu, dẫn đến tình trạng hạn chế hoạt động tích cực của học sinh Các phương pháp phát huy tích cực, tự lực và sáng tạo ở mức độ hạn chế
Nội dung dạy học chưa gắn với các tình huống thực tiễn; ít tổ chức thí nghiệm, thực hành; chưa chú trọng sử dụng các phương tiện dạy học mới; công nghệ thông tin chỉ bước đầu thực hiện ở một số trường; việc rèn luyện khả năng vận dụng tri thức liên môn để giải quyết các chủ thể phức hợp gắn với thực tiễn chưa chú ý đúng mức
Nhìn chung, việc truyền thụ kiến thức, kiểm tra đánh giá quá trình học tập của người học được diễn ra theo công thức độc thoại, một chiều là chính Các phương pháp khác như tự học, tự nghiên cứu theo hướng dẫn của giáo viên, phương pháp nêu vấn đề, phương pháp làm việc theo nhóm…ít được áp dụng, nếu có đi chăng nữa vẫn còn mang tính hình thức, chưa có chất lượng và hiệu quả thực sự Học sinh hoàn toàn thụ động kiến thức do giáo viên cung cấp, còn giáo viên chủ yếu kiểm tra, đánh giá khả năng ghi nhớ và tái hiện kiến thức của học sinh Chính thói quen đó, dần dần giết chết khả năng tìm tòi, sáng tạo của học sinh
Vì vậy, học sinh luôn mang tính thụ động cao, hạn chế khả năng sáng tạo và năng lực vận dụng tri thức đã học để ứng dụng những vấn đề bắt nguồn từ thực tiễn cuộc sống
Thực trạng nêu trên, có thể bắt nguồn từ những nguyên nhân sau:
- Nguyên nhân khách quan:
Do lệ thuộc chương trình, sách giáo khoa và các tài liệu giảng dạy (bài soạn) có sẵn cho giáo viên, đối với trường phổ thông
Điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học còn thiếu thốn, lạc hậu và kém chất lượng…gây cản trở việc ứng dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại vào việc đổi mới phương pháp giảng dạy
Do điều kiện cơ sở vật chất thiếu thốn, phòng học nhiều nơi chưa đúng qui cách; Điện, nước chưa đáp ứng cho việc tổ chức thí nghiệm, thực hành; tỉ lệ người học/ phòng học còn cao (từ 35-45 người /phòng) làm ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy và học tập
Đời sống giáo giáo viên còn gặp khó khăn, lương chưa đủ sống, phải làm thêm nên không đủ thời gian đầu tư cho đổi mới phương pháp giảng dạy
Nguyên nhân chủ quan:
Một số cán bộ quản lý, giáo viên chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp giảng dạy Có một số người tuyệt đối hoá vai trò của năng lực
Trang 35chuyên môn, họ có suy nghĩ chỉ cần giỏi về chuyên môn thì sẽ trở thành giáo viên giỏi; một
bộ phận giáo viên khác ngại đổi mới phương pháp giảng dạy, khó thay đổi phương pháp giảng dạy khi mà tuổi “ nghề ” đã cao nhưng trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, tin học và năng lực thực tiễn có giới hạn, trong khi phương pháp giảng dạy truyền thống đã ăn sâu vào tiềm thức và thói quen của họ…
Tuy nhiên, sau khi quán triệt điều 28, luật giáo dục năm 2005, về đổi mới phương pháp giảng dạy ở phổ thông đã có yêu cầu: “ PPGD phổ thông phải phát huy tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh ” Phải thừa nhận rằng, đã có sự xoay chuyển nhận thức trong đội ngũ CBQL và GV đối với việc ứng dụng CNTT gắn với đổi mới PPGD đã đạt mức X 4,56 ; Theo dõi kiểm tra, uốn nắn kịp thời việc sử dụng các PPGD cho phù hợp với đối tượng người học, đạt mức X 4,54; Tổ chức thao giảng rút kinh nghiệm về đổi mới PPGD, đạt mức X 4,60; Dự giờ thao giảng về đổi mới phương pháp giảng dạy đạt mức X 4,62
Điều đó cho thấy, hầu hết CBQL và GV từng bước có quan tâm đến chất lượng GD và học tập Nhưng đối với CBQL nói chung, nhất là HT các trường THCS còn cứng nhắc và máy móc trong công tác quản lý HDGD Do đó, khi khảo sát thực tế thì HT chưa giao “
quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc lựa chọn, đổi mới phương pháp giảng dạy
của GV ” chỉ đạt mức X 4,43 Mặc dù tỉ lệ này, cũng khá cao đã cho thấy có sự tiến bộ trong quản lý đổi mới PPGD, nhưng vẫn thấp so với các yêu cầu khác, cần được quan tâm hơn khi đề xuất những giải pháp Quản lý đổi mới phương pháp giảng dạy
2.3.5 Quản lý việc dự giờ và đánh giá xếp loại GV
Bảng 6 Quản lý việc dự giờ và đánh giá xếp loại GV
1 Qui định về việc dự giờ của giáo viên 230 52 6 4,78
2 Qui định về việc rút kinh nghiệm giảng dạy
3 Tổ chức đánh giá xếp loại giảng dạy của giáo
4 Công khai các chỉ thị, văn bản, qui định về
hoạt động chuyên môn, giảng dạy 251 32 4 1 4,85
Trang 365 Công bằng trong việc đánh giá, xếp loại giáo
Thông qua khảo sát thực trạng bằng phiếu thăm dò, kết hợp với việc nghiên cứu tài liệu quản lý và trao đổi với HT, PHT chuyên môn, tổ trưởng chuyên môn, cán bộ chỉ đạo chuyên môn ở PGD & ĐT cho thấy: Hầu hết HT các trường THCS đều có công khai các chỉ thị, văn bản, qui định về hoạt động chuyên môn, giảng dạy Đồng thời, xây dựng kế hoạch
dự giờ, đánh giá GV ghi trong kế hoạch tháng, học kỳ và năm học HT có qui định cụ thể số tiết dự giờ và thao giảng cho mỗi GV theo từng tháng, học kỳ, năm học Thậm chí có quan tâm ưu tiên dự giờ GV mới ra trường nhiều hơn các GV khác Tổ trưởng chuyên môn, chịu trách nhiệm quản lý việc dự giờ và thao giảng của GV trong tổ mình dưới sự theo dõi, giám sát của PHT chuyên môn Đồng thời, qui định mỗi GV phải có sổ dự giờ, có nhận xét những
ưu điểm, hạn chế qua mỗi tiết dạy của đồng nghiệp
Có thể nói, dự giờ là việc làm thường xuyên theo kế hoạch chuyên môn phải thực hiện của mỗi GV Thông qua đó, để trao đổi học tập kinh nghiệm giảng dạy với nhau trong đồng nghiệp Mặt khác, thông qua dự giờ đánh giá chất lượng giảng dạy, chất lượng đội ngũ để làm cơ sở xét thi đua hàng năm
Thực tế công tác quản lý dự giờ theo như khảo sát ở bảng 6 thì tỉ lệ X đạt từ 4,68 cho đến 4,85 là khá cao Nhưng thực chất việc quản lý dự giờ, đánh giá tiết dạy của GV thời gian qua ở các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ, vẫn còn mang tính hình thức, chưa thoát khỏi tâm lý nễ nang đối với GV cũ và thiếu khách quan công bằng với
GV mới, trẻ, có kiến thức khoa học HT chưa dành nhiều thời gian cho công tác này, phần lớn phó thác cho PHT chuyên môn và tổ trưởng tổ bộ môn Bởi vì, HT không chỉ nễ nang né tránh, ngại va chạm mà còn thiếu tự tin trong quản lý chuyên môn Do vậy, chưa dám giao
quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc lựa chọn, đổi mới phương pháp giảng dạy
của GV
Bên cạnh đó, Hiệu trưởng các trường cũng chưa chú ý tới việc dự giờ thường xuyên của mình đối với GV và giữa GV với nhau Từ đó, Hiệu trưởng không nắm bắt chính xác trình độ, năng lực của GV để bồi dưỡng, phát huy hay giúp đỡ GV nhất là việc kiểm tra toàn diện GV xưa nay vẫn còn mang nặng tính hình thức, đánh giá mang tính động viên là chính
và hầu như giao hẳn cho cán bộ QL cấp dưới Vì thế, đòi hỏi người HT cần xây dựng nghị quyết về qui định chế độ dự giờ cho từng thành viên Trên cơ sở đó, làm căn cứ đánh giá xếp
Trang 37loại thi đua từng học kỳ Có như vậy, mới thúc đẩy việc tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao năng lực của mỗi thành viên trong trường THCS
2.3.6 Quản lý hồ sơ chuyên môn của GV
Bảng 7 Hiệu trưởng quản lý hồ sơ chuyên môn giáo viên
5 Thực hiện việc kiểm tra hồ sơ chuyên môn đột xuất (nhất là việc thực hiện
điểm số học sinh trên sổ điểm)
Việc Hiệu trưởng quản lý hồ sơ chuyên môn của giáo viên, tuy mang nặng tính hành chánh trong công tác QLGD, nhưng đã góp phần rất lớn đến việc quản lý giảng dạy của GV những năm qua Chính 5 giải pháp ở bảng 7 này, đã thúc đẩy GV có trách nhiệm hơn đối với việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của từng người Nó cũng làm cơ sở cho HT theo dõi quá trình rèn luyện, phấn đấu, trao dồi chuyên môn của mỗi GV Tuy nhiên, HT thực hiện việc kiểm tra hồ sơ chuyên môn đột xuất (nhất là việc thực hiện điểm số học sinh trên sổ điểm) tỉ lệ X đạt 4,62 là còn thấp so với các giải pháp khác Đây là một trong những nhiệm vụ của HT cần được quan tâm nhiều hơn
2.3.7 Quản lý hoạt động của tổ chuyên môn
Bảng 8 HT với việc xây dựng và quản lý hoạt động tổ bộ môn
2 Giao cho P HT chuyên môn sinh
3 Giao cho P HT chuyên môn kiểm tra
4 Giao cho P HT chuyên môn theo dõi 229 53 6 4,77
Trang 38duyệt giáo án của giáo viên bộ môn
5 Giao cho tổ trưởng bộ môn hướng
6 Giao cho tổ trưởng bộ môn duyệt
7 Giao cho tổ trưởng bộ môn xây dựng
8 Giao cho tổ trưởng bộ môn dự giờ
9 Giao cho tổ trưởng bộ môn nhận xét,
đánh giá tay nghề giáo viên 210 63 15 4,67
10 Giao cho tổ trưởng bộ môn xét thi
11 Năng lực và uy tín điều hành của tổ
Về tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn theo đúng quy định của Điều lệ phổ thông, nhìn chung HT các trường THCS đều đánh giá cao biện pháp quản lý này của các tổ
trưởng Các tổ trưởng đã duy trì rất tốt những buổi sinh hoạt chuyên môn trong nhà trường
và xem đây là một hoạt động cần thiết trong nhà trường để đưa nền nếp chuyên môn đi vào quy củ
Các tổ chuyên môn thực hiện nghiêm túc chế độ kiểm tra chuyên môn, thường
xuyên báo cáo về các hoạt động chuyên môn Nhìn chung, các tổ trưởng rất chú ý đến việc
kiểm tra chuyên môn của GV và xem đây là công việc cần thiết để duy trì nề nếp chuyên môn trong nhà trường Những nội dung các tổ chuyên môn thường xuyên thực hiện chủ yếu xoay quanh các vấn đề mang tính hành chánh theo thứ tự sau: ( theo số liệu thống kê báo cáo hoạt động chuyên môn năm học 2008 – 2009, 2009 – 2010 của PGD&ĐT huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ.)
Trang 391/ Thông báo các kế hoạch của tổ chuyên môn trong thời gian tới (96,43%)
2/ Bình xét các danh hiệu thi đua cuối học kỳ, cuối năm (84,52%)
3/ Báo cáo việc thực hiện chương trình của từng GV (74,40%)
4/ Kiểm tra hồ sơ chuyên môn của từng GV (60,12%)
Mặc dù, những nội dung chuyên môn có thể hiện sự quan tâm Nhưng việc đổi mới phương pháp giảng dạy, cải tiến phương pháp thi cử nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy thì ít được đề cập đến trong các buổi sinh hoạt chuyên môn như:
- Nhận xét chất lượng bài kiểm tra và đề kiểm tra trong thời gian qua và rút kinh nghiệm (14,88%)
- Trao đổi kinh nghiệm giảng dạy, sử dụng thiết bị dạy học (12,50%)
- Thảo luận , giải quyết các vướng mắc, khó khăn khi giảng dạy(6,50%)
- Thảo luận về đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao hiệu quả giảng dạy (5,95%) Qua đó cũng cho thấy rằng, sinh hoạt chuyên môn ở các trường vẫn còn nặng về quản
lý hành chánh, kiểm tra chứ chưa thật sự đi sâu vào giải quyết các nhiệm vụ chuyên môn Nội dung các buổi sinh hoạt chuyên môn chưa thể hiện đúng chức năng là nhân tố thúc đẩy việc đổi mới phương pháp giảng dạy Một điều cần nhấn mạnh hơn nữa, đó là các HT, P HT chuyên môn và tổ trưởng chuyên môn vẫn chưa có những sáng tạo trong việc tổ chức sinh hoạt chuyên môn nhằm làm cho hoạt động này, trở nên phong phú và hấp dẫn, lôi kéo mọi
GV tích cực tham gia
Mặc dù, kết quả thanh tra chuyên môn, thanh tra giáo viên trong 4 năm gần đây chưa phát hiện giáo viên nào giảng dạy không đạt yêu cầu, đa số đều được xếp loại khá, giỏi…Vì vậy, chất lượng giảng dạy từng môn đều đáp ứng yêu cầu theo chương trình qui định, theo mong muốn của xã hội Mỗi năm, học sinh được lên lớp từ 99%, tốt nghiệp THCS đạt từ 98% trở lên; học sinh giỏi cấp huyện, thành phố được phân bố đều ở các môn và tăng số lượng hàng năm…
Tuy nhiên, việc quản lý của tổ trưởng chuyên môn các trường THCS thời gian qua cũng bộc lộ một số mặt hạn chế là do:
- Hiệu trưởng một số trường chưa phát huy tốt vai trò của tổ trưởng chuyên môn, phần lớn còn phó thác cho phó hiệu trưởng chuyên môn HT giao cho P HT chuyên môn sinh hoạt chuyên môn có tỉ lệ X rất cao là 4,80 Nhưng Năng lực và uy tín điều hành của tổ
trưởng bộ môn, có tỉ lệ X chưa cao 4,51 so với các giải pháp khác được mô tả ở bảng 8 nêu
trên
Trang 40- Việc phân công tổ trưởng chuyên môn còn cả nể theo kiểu “dễ người, dễ ta” chưa mạnh dạn thay đổi tổ trưởng chuyên môn theo hướng trẻ hoá (nữ), những người có khả năng chuyên môn; có năng lực quản lý điều hành
- Một số tổ trưởng chuyên môn lớn tuổi, làm việc theo kinh nghiệm hay góp ý người khác, nhưng bản thân tổ trưởng chưa thực sự là tấm gương về hoạt động chuyên môn
- Một số trường có qui mô nhỏ, tổ trưởng chuyên môn được ghép nhiều môn, nên hoạt động không sâu, kém hiệu quả…
Nguyên nhân của hạn chế, yếu kém:
Nguyên nhân khách quan
- Về đội ngũ GV: Đội ngũ GV ở các trường THCS còn thiếu về số lượng ở một số môn, chất lượng chưa cao và không đồng bộ về cơ cấu Một số GV khác, tuy lớn tuổi nhưng chưa có ý thức nghề nghiệp tốt, chưa có lòng yêu nghề và đặc biệt là ý thức vươn lên trong công tác còn thấp Trình độ Ngoại ngữ, Tin học đa số còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới PPGD (Ứng dụng công nghệ thông tin trong soạn giảng…) Mặt khác, chế độ tiền lương còn thấp không đủ sống đã buộc GV phải làm thêm nhiều do đó không có thời gian để toàn tâm toàn ý cho công tác giảng dạy
- Về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho giảng dạy: mặc dù được trang bị tương đối đầy đủ để phục vụ tốt cho hoạt động giảng dạy Nhưng một số nơi cò thiếu điện, nước; nhân viên phòng thiết bị chưa được đào tạo bài bản và chủ yếu là kiêm nhiệm; phòng thiết bị được bố trí tương đối xa các dãy phòng học, do đó việc chuẩn bị đồ dùng, phương tiện hỗ trợ cho giảng dạy gặp nhiều khó khăn, gây nên sự e ngại của GV trong việc sử dụng
- Nguồn tài chính phục vụ cho hoạt động giảng dạy còn eo hẹp nên HT các trường THCS chưa tạo điều kiện thuận lợi để tổ trưởng có thể thực hiện các biện pháp tích cực trong quản lý đặc biệt là trong công tác đổi mới phương pháp giảng dạy
Nguyên nhân chủ quan
- Đa số tổ trưởng chuyên môn ở các trường chưa kinh qua lớp bồi dưỡng CBQL, chưa
có nền tảng cơ sở lý luận vững chắc về quản lý, nên chủ yếu làm việc theo kinh nghiệm và cảm tính, tính kế hoạch trong quản lý còn thấp
- Các tổ trưởng chưa thực sự nhận thức sâu sắc về vai trò, nhiệm vụ và nội dung quản
lý hoạt động giảng dạy trong nhà trường, để từ đó đề ra các biện pháp tích cực nhằm thực hiện chặt chẽ các nội dung quản lý họat động giảng dạy trong nhà trường