1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông quận Thốt Nốt thành phô Cần Thơ hiện nay

141 1,2K 13
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và giải pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông quận Thốt Nốt thành phố Cần Thơ hiện nay
Tác giả Nhan Ngọc Hà
Người hướng dẫn PGS.TS. Trần Tuấn Lộ
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản lý Giáo dục
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2009
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng,giải pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp, hiệu trưởng, các trường trung học phổ thông quận Thốt Nốt, thành phô Cần Thơ, hiện nay

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-

Nhan Ngọc Hà

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2009

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2009

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN - *** -

Tác giả xin cam đoan tất cả công trình nghiên cứu của bản thân dưới sự hướng dẫn của PGS TS TRẦN TUẤN LỘ

Tất cả các thông tin, dữ liệu và kết quả nghiên cứu được tác giả thu thập và trình bày trong đề tài là hoàn toàn trung thực, thực tiễn và chưa được công bố bởi bất cứ ai trong một công trình nào khác

Tác giả!

Trang 4

LỜI CẢM ƠN - *** -

Trong quá trình học tập và nghiên cứu luận văn, tôi đã nhận được sự giúp

đỡ và ủng hộ của nhiều tập thể và cá nhân

Tôi xin trân trọng cám ơn Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, Phòng Khoa học công nghệ & Sau đại học Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình tổ chức giảng dạy, tạo điều kiện học tập - nghiên cứu và chấp nhận cho tôi thực hiện luận văn này

Tôi xin trân trọng cám ơn PGS TS TRẦN TUẤN LỘ - Trưởng khoa Tâm lý học Trường Đại học Văn Hiến thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình hướng dẫn tôi thực hiện luận văn

Tôi xin trân trọng cám ơn tất cả Quý Thầy, Cô đã giảng dạy và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Tôi xin trân trọng cám ơn Sở Giáo dục – Đào tạo thành phố Cần Thơ, Sở Nội vụ thành phố Cần Thơ, Ủy ban nhân dân quận Thốt Nốt, các trường THPT của quận Thốt Nốt, trường THPT Thốt Nốt đã chấp thuận và tạo điều kiện cho tôi được tham gia và hoàn thành tốt khóa học này

Tôi xin trân trọng cám ơn lãnh đạo nhà trường cùng toàn thể giáo viên các trường THPT của quận Thốt Nốt, đã cung cấp cho tôi những thông tin, tài liệu và những ý kiến đóng góp quý báu cho đề tài; các thầy - cô đồng nghiệp cùng khóa đã cung cấp những thông tin, tài liệu và những đóng góp quý báu cho luận văn; các cha mẹ học sinh và học sinh đã đóng góp cho tôi những ý kiến chân tình nhằm đem lại ý nghĩa thực tiễn và khoa học cho luận văn

Song, do trình độ và năng lực còn hạn chế nên luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót Tác giả kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến, phê bình của quý Thầy – Cô, Hội đồng chấm, các bạn đồng nghiệp để đề tài được hoàn chỉnh hơn

Tôi xin chân thành cám ơn tất cả!

Trang 5

Ở nước ta, quá trình CNH-HĐH được tiến hành trong điều kiện tồn tại nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng XH chủ nghĩa Sản xuất hàng hóa phát triển làm cho thị trường lao động mở rộng, nhu cầu học tập tăng lên, mặt khác cũng làm thay đổi quan niệm về giá trị, ảnh hưởng đến việc lựa chọn ngành nghề, động cơ học tập, các mối quan hệ trong nhà trường và ngoài XH

Tình hình trên đòi hỏi ngành GD-ĐT phải ĐT ra những lớp người lao động

“Có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được ĐT, bồi dưỡng

và phát huy bởi một nền GD tiên tiến gắn liền với một nền khoa học công nghệ hiện đại” [21, tr 9] Song song, nguồn nhân lực này phải là một đội ngũ lao động có

năng lực thực sự đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH của cả nước cũng như ở từng địa phương

Một trong những giải pháp phát triển GD-ĐT mà Đại hội X đã đề ra là đổi mới toàn diện GD-ĐT, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao Để việc thực hiện mục tiêu đó Ðại hội còn xác định sự cần thiết phải đẩy mạnh công tác HN và

DN cho HSPT nhằm tạo điều kiện cho việc phân luồng sau tốt nghiệp THPT, để HS vào đời tham gia lao động sản xuất hoặc chọn ngành, nghề học tiếp sau tốt nghiệp

Trước thế giới nghề nghiệp đa dạng, phong phú, HS rất lúng túng trong việc lựa chọn ngành nghề phù hợp Phần lớn các em chọn nghề theo nhu cầu cá nhân, gia đình, bạn bè hoặc theo thị hiếu… chưa đáp ứng đúng năng lực, sở trường của bản thân hay nhu cầu phát triển KT-XH của địa phương cũng như của đất nước Nguyên

Trang 6

nhân của tình trạng này là do bản thân các em chưa được trang bị đầy đủ những kiến thức về thế giới nghề nghiệp, thiếu hiểu biết về tiêu chuẩn hay những yêu cầu của ngành nghề mình chọn và thường chưa đánh giá đúng năng lực của bản thân Điều này cần có sự quan tâm đúng mức của các cấp QLGD đối với công tác GDHN trong nhà trường, đặc biệt là những nhà QL trực tiếp chỉ đạo thực hiện công tác GDHN trong trường phổ thông nói chung, ở các trường THPT của quận Thốt Nốt nói riêng Nói cách khác, công tác QLHĐGDHN ở các trường THPT quận Thốt Nốt chưa thực sự được quan tâm đúng mức và hiệu quả chưa cao

Những vấn đề nêu trên đã thôi thúc tôi chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp của hiệu trưởng các trường THPT quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ hiện nay”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng QLHĐGDHN của HT các trường THPT quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ hiện nay, để từ đó đề ra các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác QLHĐGDHN của HT ở các trường này

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động QL GDHN của HT các trường THPT tại quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ hiện nay

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng và giải pháp QLHĐGDHN của HT các trường THPT quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ hiện nay

4 Giả thuyết khoa học

Thực trạng công tác QLHĐGDHN của HT các trường THPT ở quận Thốt Nốt hiện nay còn yếu kém Do đó, chất lượng và hiệu quả GDHN cho HS chưa cao, phần lớn các em chưa định hướng đúng trong việc lựa chọn ngành, nghề phù hợp với năng lực bản thân Nếu có những giải pháp đúng đắn và khả thi thì có thể nâng

Trang 7

cao chất lượng và hiệu quả công tác QLHĐGDHN của HT ở các trường THPT trong quận Thốt Nốt

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Tìm hiểu cơ sở lý luận về công tác QL của HT các trường THPT nói chung,

công tác QLHĐGDHN của HT các trường THPT nói riêng

5.2 Tìm hiểu thực trạng công tác QLHĐGDHN của HT các trường THPT quận

Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ hiện nay Phân tích nguyên nhân của thực trạng

5.3 Đề xuất một số giải pháp tăng cường công tác QLHĐGDHN của HT các

trường THPT quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Cơ sở phương pháp luận

6.1.1 Quan điểm hệ thống cấu trúc

Mỗi trường THPT trong quận Thốt Nốt có những nét hoạt động đặc trưng riêng về GDHN tùy thuộc vào hoạt động của bộ môn và ứng với điều kiện cụ thể của từng trường Vì vậy, việc đánh giá công tác QLHĐGDHN của quận phải được xem xét trong mối quan hệ các nhiệm vụ GD chung của các trường THPT trong quận Ngoài ra, cũng phải xem xét mối tương quan trong công tác QLHĐGDHN giữa các trường THPT trong quận, đồng thời cũng xem xét trong mối tương quan với các hoạt động GD khác trong nhà trường để tìm ra những giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác QLHĐGDHN ở các trường này

6.1.2 Quan điểm lịch sử và thực tiễn

Nghiên cứu và đánh giá thực trạng QLHĐGDHN của HT các trường THPT trong quận trong những điều kiện cụ thể của từng trường, trong tình hình phát triển KT-XH hiện tại của quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ, để đưa ra những giải pháp QL đảm bảo tính khoa học, phù hợp với thực tiễn GDHN của địa phương, góp phần đẩy mạnh nhiệm vụ GDHN của cả nước, đồng thời đảm bảo việc thực hiện mục tiêu GD THPT

Trang 8

6.1.3 Quan điểm toàn diện

Các giải pháp đưa ra được xét trên cơ sở tổng hợp từ nhiều khía cạnh của vấn đề và mang tính toàn diện, trong mối tương quan phụ thuộc lẫn nhau giữa

GD với tình hình kinh tế, văn hóa và XH hiện tại của vùng, để nâng cao hiệu quả công tác QLHĐGDHN của các trường THPT trong quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ

6.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

6.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp các văn kiện, văn bản, các Nghị quyết, các tài liệu, sách, báo, thông tin trên mạng, tham khảo các vấn đề có liên quan để làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu đề tài

6.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát: Quan sát công tác QL của HT, các

HĐGDHN của người GV, việc HN của cha mẹ đối với con, việc định hướng và lựa chọn các ngành nghề của HS THPT cũng như hiệu quả GDHN của 3 trường THPT trong quận Thốt Nốt

- Phương pháp điều tra: Xây dựng 4 phiếu trưng cầu ý kiến với: phiếu

số 1 thăm dò ý kiến ngẩu nhiên 100 HS của khối 12/mỗi trường; phiếu số 2 thăm dò

ý kiến của 100 cha mẹ của những HS này/mỗi trường ; phiếu số 3 thăm dò ý kiến đối với toàn thể GV của 3 trường (190 GV); phiếu số 4 thăm dò ý kiến của tất cả 49 CBQL (3 HT, 6 Phó HT và các tổ trưởng chuyên môn và các bộ phận khác) ở 3 trường THPT trong quận Thốt Nốt Việc xây dựng phiếu trưng cầu ý kiến chủ yếu dựa trên cơ sở lý luận, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn CBQL (HT, Phó HT) của 3

trường THPT trong quận Thốt Nốt về những vấn đề nghiên cứu của đề tài

- Phương pháp xin ý kiến chuyên gia: Tác giả đã xin ý kiến của các

chuyên gia: Thạc sĩ Trần Đình Lý – Giám đốc Trung tâm quan hệ doanh nghiệp và

QL sinh viên trường ĐH Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh; Giảng viên tư vấn HN Nguyễn Đăng Lập của khoa tâm lý học trường ĐH Văn Hiến thành phố Hồ Chí

Trang 9

Minh; Giám đốc Trung tâm kỹ thuật tổng hợp – HN thành phố Cần Thơ; Giám đốc Trung tâm GD thường xuyên quận Thốt Nốt… nhằm đúc kết thêm cơ sở khoa học

và những kinh nghiệm thực tiễn về công tác QLHĐGDHN cho HSPT, đồng thời mang lại ý nghĩa khoa học cho các giải pháp tăng cường công tác QLHĐGDHN của

đề tài

6.2.3 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng các phép toán thống kê để xử lý số liệu thu thập được từ các điều tra bằng bảng hỏi

7 Giới hạn nghiên cứu

Do điều kiện nghiên cứu còn hạn chế nên đề tài được nghiên cứu chủ yếu về thực trạng công tác QLHĐGDHN cho HS ở 3 trường THPT thuộc quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ hiện nay, trên cơ sở đó chỉ đề xuất một số giải pháp chung nhất

để tăng cường một bước công tác QLHĐGDHN của HT ở 3 trường này

Đối với hai đối tượng HS và CMHS thì đề tài chỉ nghiên cứu ngẩu nhiên ở

100 HS khối 12 và 100 vị cha mẹ của những HS này ứng với mỗi trường THPT trong quận Thốt Nốt

Trang 10

Chương 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP TRONG CÁC TRƯỜNG THPT 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường THPT

Ở nước ta, Đảng ta đã có nhiều văn kiện, Nghị quyết về GD nhấn mạnh ý nghĩa, tầm quan trọng của việc GDHN, phân luồng HS các cấp nhằm góp phần GD toàn diện, chuẩn bị nguồn nhân lực cho sự nghiệp đổi mới, CNH-HĐH đất nước Những quan điểm của Đảng về GDHN đã được cụ thể hóa bằng những Nghị quyết, Luật của Quốc hội, Nghị định, Chỉ thị của Chính phủ và các văn bản chỉ đạo của Bộ GD-ĐT Cụ thể như:

Ở Nghị quyết Trung Ương 2 khóa VIII trong văn kiện của Đảng, đã đề ra nhiệm vụ cho ngành GD cần mở rộng và nâng cao chất lượng GD kỹ thuật tổng hợp – HN; ở Nghị quyết Trung Ương 6 khóa IX tiếp tục khẳng định lại những mục tiêu

và yêu cầu về GD kỹ thuật tổng hợp – HN Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

X của Đảng cũng có thông qua văn kiện xác định đổi mới toàn diện GD-ĐT, trong

đó yêu cầu dạy học phân ban và tự chọn ở cấp THPT trên cơ sở làm tốt công tác HN

và phân luồng HS từ THCS

Quyết định 126/CP ngày 19/3/1981 của Thủ tướng Chính phủ về công tác HN cho HSPT và sử dụng HS các cấp THCS và THPT ra trường cũng có quy định rõ về mục đích, nhiệm vụ của công tác HN, biện pháp thực hiện và giao nhiệm vụ cho các

Bộ, ngành, địa phương phối hợp với ngành GD thực hiện Thông tư 31/TT ngày 17/8/1981 của Bộ GD-ĐT có hướng dẫn thực hiện Quyết định 126/CP với những nội dung về vị trí, nhiệm vụ của công tác HN; thực hiện công tác HN cho HSPT có

4 con đường… Trong các quan điểm chỉ đạo của chiến lược phát triển GD 2001 –

2010 do Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 201/2001/QĐ-TTg ngày 28/12/2001,

có nêu rõ: “Thực hiện nguyên lý học đi đôi với hành, GD kết hợp với lao động sản

xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, GD nhà trường kết hợp với GD gia đình và GD XH” Trong mục tiêu phát triển GD đến 2010 đối với THCS và THPT cũng như

trong Luật GD 2005, ở Điều 27 có nêu “Mục tiêu GD phổ thông là chuẩn bị cho HS

Trang 11

tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc”, “GD THPT nhằm giúp cho HS… có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và HN, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học lên ĐH, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào lao động cuộc sống”; ở Điều 28 cũng có ghi “… Nội dung GD phổ thông đảm bảo tính phổ thông,

cơ bản, toàn diện, HN và có hệ thống…” Ở Nghị định quy định chi tiết và hướng

dẫn thi hành một số điều của Luật GD cũng đề cập đến nội dung HN và phân luồng

HS trong GD

Bộ trưởng Bộ GD-ĐT đã chỉ đạo việc xây dựng chương trình GD THCS, THPT theo mục tiêu quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 27 của Luật GD có chú trọng việc đổi mới nội dung, phương pháp GD, cụ thể hóa chuẩn kiến thức, kỹ năng

GD kỹ thuật tổng hợp – HN Đối với cấp THCS, các nội dung HN được lồng ghép vào các môn học, đặc biệt là môn công nghệ; đối với cấp THPT các nội dung HN được bố trí thành môn học cụ thể Theo Chỉ thị 33/2003/CT-BGD&ĐT ngày 23/7/2003 cũng đã đề cập về việc tăng cường GDHN cho HS Quyết định số 16/2006/QĐ–BGD&ĐT ngày 5/6/2006 cũng đề cập về việc ban hành chương trình

GD phổ thông và trong chương trình GD phổ thông cũng có chương trình chuẩn

“HĐGDHN”

Bên cạnh đó là những nghiên cứu của nhiều Nhà GD và các chuyên gia phần lớn tập trung nghiên cứu về xu hướng chọn nghề, hứng thú nghề nghiệp, định hướng và tư vấn nghề nghiệp cho HS việc ĐT chuyên gia tư vấn HN hay một số

vấn đề chung nhất về công tác HN Chẳng hạn như đề tài: “Nghiên cứu một số đặc

điểm tâm lý HSPT trung học tại thành phố Hồ Chí Minh và bước đầu xây dựng bộ trắc nghiệm HN và chọn nghề” của Quang Dương ở Viện Nghiên cứu GD-ĐT phía

Nam, thành phố Hồ Chí Minh 1998 Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng tâm

lý chọn nghề của HS lúc này chủ yếu cũng có hướng chọn nghề nhằm chạy đua vào các trường ĐH và đa phần chọn nghề theo cảm tính

Vấn đề QLHĐGDHN cho HSPT trong những năm qua cũng đang là mối quan tâm nghiên cứu của rất nhiều Nhà khoa học, Nhà GD và các Nhà QLGD như:

Trang 12

- GD lao động, kỹ thuật tổng hợp, HN trường phổ thông (1985) của Nguyễn

Trọng Bảo

- Đổi mới công tác HN phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước (1996) của

Phạm Tất Dong

- Đề tài “QL công tác HN cho HSPT bậc trung học tại các Trung tâm GD

thường xuyên trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, Thực trạng và giải pháp”, Luận văn

Thạc sĩ khoa học QL, Trường ĐH Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh - Huỳnh Thị Tam Thanh (2003) Ở đề tài này chỉ tập trung làm rõ thực trạng QL công tác HN cho HS tại các trung tâm GD thường xuyên trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và đưa

ra giải pháp nhằm tăng cường việc QL công tác này Đề tài còn khảo sát về thực trạng phân luồng HS sau bậc trung học, sự bất cập về tỉ lệ lao động kỹ thuật trong tổng số lao động, sự không phù hợp về trình độ trong cơ cấu lao động, việc tổ chức

và QL công tác HN chưa đồng bộ của thành phố Đà Nẵng… Tuy vậy, cơ sở lý luận

đề tài chưa đáp ứng cho việc giải quyết sâu sát các nội dung của thực trạng, như phần lý luận chưa nêu rõ tính chất HN trong nhà trường phổ thông đối với từng cấp học, chưa chỉ rõ mục đích, phương hướng và nhiệm vụ GDHN trong trường THPT cho từng thành viên của nhà trường

- Đề tài “Tìm hiểu thực trạng công tác QL hoạt động HN cho HS THPT tại

thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất một số biện pháp”, Luận văn Thạc sĩ khoa học

QL, Trường ĐH Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh - Nguyễn Hữu Thiện (2004) Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng về công tác QL hoạt động HN cho HS THPT tại thành phố Hồ Chí Minh chưa đạt hiệu quả cao trên cơ sở phân tích các thực trạng

về sự thiếu thông tin, sự thiếu hiểu biết của HS về các ngành, nghề trong XH dẫn đến việc chọn nghề nghiệp tương lai của các em HS không phù hợp, các HTGDHN trong nhà trường THPT còn nhiều hạn chế Bên cạnh, đề tài chưa đề cập đến sự lãnh đạo phối hợp GD của nhà trường – gia đình – XH trong công tác GDHN cho HS Vì công tác GDHN trong nhà trường THPT là một bộ phận của công tác HN của toàn

XH Gia đình lại là cái nôi đầu đời có ảnh hưởng lớn tới sự chọn lựa nghề nghiệp

Trang 13

tương lai của HS Ở đây đề tài chưa đề cập đến nhiệm vụ của CMHS trong việc GDHN và chưa có sự phối hợp GD của nhà trường với gia đình để HN cho các em Nhìn chung, chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách đầy đủ

về công tác QLHĐGDHN nói chung và rất ít công trình nghiên cứu về công tác QLHĐGDHN của HT các trường THPT nói riêng Hiện tại, ở Cần Thơ chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến thực trạng công tác QLHĐGDHN của HT các trường THPT trong quận Thốt Nốt một cách hoàn chỉnh

1.2 Một số khái niệm và lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp

trong trường THPT

1.2.1 Một số khái niệm

1.2.1.1 Khái niệm quản lý

Có nhiều quan niệm tiếp cận khác nhau:

Theo Từ điển Tiếng Việt căn bản (1998) của Nhà xuất bản GD, QL là tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan [ 44, tr 583]

Theo F.W.Taylor: “QL là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần

làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”

Theo Kozlova O V và Kuznelsov I N: “QL là sự tác động có mục đích

đến những tập thể con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình sản xuất”

Theo Glushkov A A và Eitingon V N: “QL là một hoạt động đa diện

phức tạp, bảo đảm sự phối hợp có chủ định, sự ăn nhịp của lao động XH”

Cũng vậy, Tereebnenko V I cho “QL tập hợp các biện pháp phối hợp

Trang 14

QL là sự tác động có ý thức của chủ thể QL lên đối tượng QL nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình XH và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan [29, tr 40]

Theo các khái niệm trên đây có thể hiểu khái niệm QL như sau:

QL là một hoạt động đa diện phức tạp, là sự tác động có tổ chức, có hướng đích, hợp quy luật của chủ thể QL đến đối tượng bị QL cùng nhằm thực hiện mục tiêu chung

1.2.1.2 Khái niệm quản lý giáo dục

Khái niệm QLGD cũng giống như khái niệm QL, được tiếp cận theo nhiều quan niệm khác nhau:

Theo P.V Khuđôminxky: QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có

ý thức và có mục đích của chủ thể QL, ở các cấp độ khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm mục đích đảm bảo việc GD cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hòa của họ [37, tr 28]

QLGD là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể QL đến tập thể GV, công nhân viên, tập thể HS, CMHS và các lực lượng XH trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện

có chất lượng và hiệu quả mục tiêu GD của nhà trường [29, tr 38]

QLGD nằm trong QL văn hóa - tinh thần QL hệ thống GD là tác động của hệ thống có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể QL ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những qui luật chung của XH cũng như các qui luật của quá trình GD, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em [28, tr 16]

Từ các quan niệm trên ta có thể hiểu khái niệm QLGD là hệ thống những tác động có định hướng, có kế hoạch, có ý thức của chủ thể QL lên các hệ thống vận hành GD trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu GD của nhà trường

Trang 15

1.2.1.3 Khái niệm quản lý trường học

QL trường học là QL vi mô, nó là một hệ thống con của QL vĩ mô:

QLGD, QL trường học là một chuổi tác động hợp lý (có mục đích, tự giác, hệ thống, có kế hoạch) mang tính tổ chức - sư phạm của chủ thể QL đến tập thể GV và

HS, đến những lực lượng GD trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp, tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường nhằm làm cho quá trình này vận hành tối ưu tới việc hoàn thành những mục tiêu dự kiến [28, tr 16]

1.2.1.4 Khái niệm giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT

Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam định nghĩa: “HN là hệ thống

các biện pháp giúp cho con người lựa chọn và xác định nghề nghiệp của bản thân trong cuộc sống tương lai trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trường của cá nhân với nhu cầu XH”

Xét trên bình diện XH: HN là hệ thống tác động của XH về GD học, y học, XH học, kinh tế học… nhằm giúp cho thế hệ trẻ chọn được nghề vừa phù hợp hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường của cá nhân, vừa đáp ứng được nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân [8, tr 42]

HN là quá trình dẫn dắt thế hệ trẻ đi vào thế giới nghề nghiệp, giúp cho

họ phát huy được hết năng lực lao động trong thế giới đó, có được cuộc sống thỏa mãn với lao động nghề nghiệp

Xét trên bình diện trường phổ thông: HN là một hình thức hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò Với tư cách là hoạt động dạy của thầy, HN được coi như là công việc của tập thể GV, tập thể sư phạm có mục đích GD HS trong việc chọn nghề, giúp các em tự quyết định nghề nghiệp tương lai trên cơ sở phân tích khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của các ngành sản xuất trong XH [8, tr 43]

GDHN là một hệ thống các biện pháp GD nhằm chuẩn bị cho HS sớm có

ý thức chọn ngành, nghề vừa phù hợp với nguyện vọng cá nhân vừa phù hợp với sự phân công lao động XH ngay từ khi còn học ở trường phổ thông [4, tr 29]

Trang 16

Như vậy, GDHN là một hệ thống các biện pháp GD của nhà trường, gia đình và XH, nhằm dẫn dắt thế hệ trẻ đi vào thế giới nghề nghiệp, giúp cho các em

có định hướng đúng trong việc lựa chọn nghề phù hợp với nguyện vọng, sở trường của bản thân, đáp ứng được nhu cầu nhân lực mà XH đang đặt ra Đồng thời, giúp các em phát huy hết năng lực của mình với nghề đã chọn

1.2.1.5 Khái niệm về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong trường học

Từ khái niệm QLGD và QL trường học, ta có thể hiểu khái niệm QLHĐGDHN trong nhà trường là tập hợp các tác động có tổ chức, có kế hoạch, có định hướng của chủ thể QL đến tập thể GV, HS, các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường, nhằm thực hiện mục đích GD HS trong việc chọn nghề vừa đáp ứng được nhu cầu của XH và yêu cầu của nghề, vừa phù hợp với nguyện vọng, hứng thú, năng lực, sở trường của bản thân

1.2.2 Một số kiến thức lý luận về giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT

1.2.2.1 Mục đích của công tác giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường phổ

thông nhằm bồi dưỡng, hướng dẫn HS chọn nghề phù hợp với yêu cầu phát triển

của XH, đồng thời phù hợp với thể lực và năng khiếu của cá nhân (Theo thông tư

31/TT của Bộ GD-ĐT ban hành ngày 17/11/1981)

1.2.2.2 Nội dung giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông

mà XH đang có nhu cầu nhân lực [10, tr 10]

b) Nội dung hướng nghiệp ở cấp THCS và THPT

Nội dung HN ở cấp THCS và THPT gồm những mạch nội dung sau:

- Định hướng phát triển KT-XH của địa phương, cả nước

- Nhu cầu về thị trường lao động

Trang 17

- Thông tin nghề nghiệp và cơ sở ĐT

- Năng lực bản thân, hoàn cảnh và truyền thống nghề nghiệp gia đình

- Lập kế hoạch lựa chọn hướng đi và chọn nghề sau khi tốt nghiệp THCS và THPT

Những nội dung được thể hiện thành những chủ đề trong chương trình Trong một số chủ đề, HS phải lập kế hoạch lựa chọn hướng đi và chọn nghề sau khi tốt nghiệp THCS và THPT Nội dung chương trình lớp 9 giúp HS có được những kiến thức cơ sở; nội dung chương trình lớp 10, 11 giúp các em tìm hiểu thông tin nghề nghiệp cụ thể; nội dung chương trình lớp 12 tập trung vào tìm hiểu thông tin ĐT và hướng phát triển kinh tế nhằm giúp cho việc quyết định chọn nghề [10, tr 13]

1.2.2.3 Phương hướng chủ yếu của nội dung hướng nghiệp hiện nay

a) Công tác hướng nghiệp góp phần điều chỉnh việc lựa chọn nghề của thanh thiếu niên, học sinh theo hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế

Một trong những mục đích chính của công tác HN là điều chỉnh hướng chọn nghề của thế hệ trẻ cho phù hợp với những yêu cầu phát triển của kinh

tế Vì thế, trong công tác HN Nhà GD luôn đòi hỏi thanh thiếu niên, HS phải trả lời

được câu hỏi: “Nghề định chọn có nằm trong những nghề mà XH đang cần phát

triển hay không?”

Đất nước ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp CNH-HĐH, cơ cấu kinh tế sẽ chuyển đổi theo hướng giảm tỉ trọng nông nghiệp, tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ trong thu nhập quốc nội Xu hướng chọn nghề của thanh thiếu niên, HS phải phù hợp với xu hướng dịch chuyển cơ cấu kinh tế là một yêu cầu của

HN Chính điều này đã đặt ra trong GD phải thông tin chính xác về yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế để thế hệ trẻ có cơ sở cân nhắc định hướng chọn nghề cho bản thân Và vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải được nhà trường quan tâm như là một định hướng chuẩn bị cho HS ra trường

Trang 18

b) Hướng nghiệp phát huy tác động giáo dục ý thức chính trị và lý tưởng nghề nghiệp cho người lao động

Trong GDHN những bài toán tăng trưởng kinh tế, phát triển XH phải được đặt ra trước cho HS khi các em quyết định con đường lao động nghề nghiệp của mình

Hiện nay, nước ta đang bước vào thời kỳ mở cửa, mở rộng thị trường

ra bên ngoài, sự cạnh tranh về thị trường hàng hóa trong quá trình phát triển kinh tế giữa quốc gia càng quyết liệt Đòi hỏi thị trường lao động phải đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH của quốc gia Thông qua những thông tin về thị trường lao động, phân tích cho HS thấy sự cần thiết phải vươn lên nắm lấy những công nghệ cao… Bởi các công nghệ lạc hậu sẽ làm chi phí đầu tư quá lớn, từ đó năng suất lao động

và chất lượng sản phẩm thấp Bên cạnh, cũng cho HS thấy sự cần thiết phải nâng cao năng lực sản xuất, năng lực tiếp thị và năng lực sáng tạo Đó là những yếu tố sẽ quyết định năng lực cạnh tranh của CSSX, của doanh nghiệp

Là một nước nông nghiệp lạc hậu, trên con đường CNH-HĐH đất nước, cần phải thật sự có một cuộc cách mạng trong nông nghiệp, phát triển nền nông nghiệp sinh thái, nền nông nghiệp sạch, bảo đảm chất lượng cao về những mặt hàng nông sản Chúng ta không chỉ quan tâm đến an ninh lương thực mà còn phải

đề cao an toàn thực phẩm, đây là vấn đề quyết định đến việc phát triển thị trường hàng hoá nông nghiệp

Mặt khác, qua HN và các hoạt động khác trong nhà trường nhằm cho

HS thấy tính tất yếu của việc chuyển nhà nông sang các nghề thuộc lĩnh vực phi

nông nghiệp với khẩu hiệu “ly nông bất ly hương” Ngay trong quá trình học ở

trường phổ thông, HS phải được định hướng đi vào những nghề mà chính địa phương đang có, các khu công nghiệp hoặc các khu chế xuất mọc lên…

c) Hướng nghiệp gắn với việc học tập làm chủ công nghệ mới

Thông qua HN, HS thấy được sự sống còn của nghề nghiệp gắn bó chặt chẽ với đổi mới công nghệ với việc làm chủ những tri thức hiện đại, với việc học hỏi liên tục và ĐT suốt đời

Trang 19

Nền sản xuất hiện nay đang thừa hưởng thành quả của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại Với vòng đời của công nghệ rút ngắn, các sản phẩm có mặt hàng trên thị trường không thể kéo dài hàng năm, mà là hàng tháng, hàng tuần Các doanh nghiệp buộc phải nâng cao tính cạnh tranh trên cơ sở nâng cao năng lực làm chủ những công nghệ mới Lẽ sống của các doanh nghiệp là đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường Trong điều kiện này, hệ thống trường học, bệnh viện, nhà in, nhà xuất bản, các nhà hát, thư viện, câu lạc bộ…cũng thay đổi về nội dung và hình thức hoạt động theo nhịp độ đổi mới công nghệ

HN trong giai đoạn hiện nay phải chỉ ra hướng phát triển của các nghề theo hướng ứng dụng những tri thức mới, những công nghệ mới và vẽ nên viễn cảnh phát triển của nghề Đây là chỗ khó của HN và cũng là lẽ tồn tại của HN HS chỉ thấy được thực trạng của nghề trong hiện tại, không thấy được những biến đổi mau lẹ của nội dung, hình thức, phương pháp công tác trong nghề bằng những công nghệ mới, không mường tượng được con đường hiện đại hoá của nghề nên khó có thể quyết định việc lựa chọn lĩnh vực lao động sau khi rời trường học

d) Hướng nghiệp chuẩn bị con người năng động thích ứng với thị trường

Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế đã đặt ra cho công tác HN những yêu cầu mới như cùng với việc giới thiệu nghề cụ thể cho HS còn phải cho HS thấy rằng, thiếu năng lực sáng tạo sẽ không bảo đảm được sức cạnh tranh trên thị trường Song song, trong quá trình làm một nghề, người lao động còn phải tăng tính thích ứng của mình với những thay đổi lớn lao của thị trường hàng hoá, có những trường hợp còn phải có năng lực chuyển sang nghề khác Đây là tinh thần mới của HN

Trong thời đại mới, do sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, rất nhiều thành tựu khoa học mới được ứng dụng rộng rãi

trong đó có công nghệ thông tin Việc “máy tính hoá” các hoạt động nghề nghiệp và

phổ cập Internet đang ngày càng bức bách buộc người lao động phải nắm chắc việc

sử dụng máy tính và ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh trước khi dự tuyển vào bất kỳ ngành, nghề nào

Trang 20

Trong điều kiện phát triển của thị trường, công tác HN cần hướng một

bộ phận không nhỏ những HS tốt nghiệp phổ thông đi vào lĩnh vực kinh doanh Đây

là đội ngũ có một vị trí quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của nước nhà Chân dung các nhà doanh nghiệp được mô tả khoa học trong các giờ HN để HS có năng khiếu kinh doanh chú ý đến các nghề thuộc lĩnh vực này

Trên đường tiếp cận với kinh tế tri thức, trong sinh hoạt HN cần dành một thời gian thích đáng cho việc làm quen với những lĩnh vực công nghệ mũi nhọn: như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới và công nghệ tự động hoá nhằm giúp cho HS hiểu được phương hướng và các mục tiêu phát triển các công nghệ này ở nước ta Mặt khác, trong nội dung HN cũng cần nói đến những đặc điểm kinh tế tri thức và những yêu cầu đặt ra trước cho người lao động phục vụ nền kinh tế này

1.2.2.4 Những hình thức giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông

GDHN cho HS được tiến hành dưới nhiều hình thức ở gia đình, nhà trường và XH, trong đó các HTGDHN ở trường phổ thông giữ vai trò chủ đạo

Những HTGDHN cơ bản trong trường phổ thông có tính hệ thống, liên quan chặt chẽ và hỗ trợ lẫn nhau

a) Hướng nghiệp thông qua các môn học

Việc chọn nghề của HS phụ thuộc vào sự hiểu biết chung về hệ thống nghề nghiệp và phụ thuộc vào những tri thức khoa học khác, vào kỹ năng, kỹ xảo được hình thành Bởi vậy cần phải cố gắng dạy các môn học theo tinh thần GD kỹ thuật tổng hợp – HN

Những môn khoa học tự nhiên có khả năng HN rất lớn Qua mối liên

hệ chặt chẽ giữa nội dung các môn học với hoạt động lao động sản xuất của ngành

kỹ thuật, HS sẽ thấy những tri thức về toán, lý, hoá, sinh vật được dùng trong những ngành sản xuất nào? Việc nắm những tri thức sẽ mở đường đi vào những nghề gì?

Việc dạy và học các môn khoa học XH có nhiều ý nghĩa chuẩn bị cho

HS đi vào các lĩnh vực XH như: công tác GD, công tác Đoàn - Đội, công tác báo trí, thư viện, xuất bản, công tác trong lĩnh vực điều khiển, QL, lãnh đạo

Trang 21

Các môn văn học có khả năng hình thành những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết cho công tác viết văn bản, sách báo, thông tin…

Môn ngoại ngữ giúp cho HS hình thành những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết cho nghiên cứu văn học nước ngoài, nghiên cứu các tư liệu, sách, báo khoa học, dịch thuật, phiên dịch, phục vụ các khách quốc tế, phóng viên thường trú ở nước ngoài

Qua việc học môn lịch sử, GD công dân, HS hiểu được vai trò của lao động trong sự phát triển XH, những mục tiêu KT-XH mà cả nước và địa phương, sẽ hiểu rõ truyền thống và vị trí của giai cấp nông dân, của người lao động Bản thân những môn học này có khả năng tạo điều kiện để một số HS trở thành những người nghiên cứu và giảng dạy các môn nhân văn

b) Hướng nghiệp thông qua học tập lao động kỹ thuật và lao động sản xuất

Việc dạy môn kỹ thuật và lao động sản xuất nhằm trang bị những tri thức về các nguyên lý kỹ thuật, QL sản xuất, tổ chức lao động và hình thành một số

kỹ năng, kỹ xảo lao động, kỹ thuật với một số công cụ kỹ thuật phổ biến

Như vậy có nghĩa là phải đảm bảo tinh thần GD kỹ thuật tổng hợp –

HN qua dạy lao động kỹ thuật cho HS Việc tổ chức lao động tạo ra của cải vật chất cũng được coi là hoạt động dạy và học theo tinh thần GD kỹ thuật tổng hợp – HN

Khi tổ chức cho HS tham gia lao động với nông dân, công dân cần có

kế hoạch tỉ mỉ, tổ chức chặt chẽ, lao động khoa học, được tiếp xúc với kỹ thuật mới

để đảm bảo năng suất cao, chất lượng tốt và hình thành những hiểu biết mới trong lao động, gây cho các em có hứng thú với lao động sản xuất công, nông nghiệp

c) Giới thiệu các ngành, nghề và hướng dẫn chọn nghề dưới hình thức các buổi sinh hoạt hướng nghiệp

Theo quy định của Bộ GD, để giúp cho HS hiểu biết các ngành, các nghề, các trường tạm thời sử dụng mỗi tháng một buổi lao động để giới thiệu, tuyên truyền, giải thích ngành, nghề

Trang 22

Chương trình sinh hoạt HN có tính hệ thống, liên tục chặt chẽ nhằm cung cấp cho HS biểu biết về:

- Cách lựa chọn nghề nghiệp cho tương lai

- Tình hình và yêu cầu phát triển kinh tế, nghề nghiệp của đất nước và của địa phương trong thời gian tới

- Đặc điểm, yêu cầu tâm - sinh lý của hệ thống nghề cơ bản trong XH

và địa phương

- Hệ thống trường, lớp DN của Trung Ương và của địa phương đối với khu vực kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể và nhân dân

- Các hướng đi của HS sau khi ra trường

d) Hướng nghiệp qua các hoạt động ngoại khoá

Có rất nhiều hoạt động ngoại khoá về GDHN như:

- Cho HS tham quan các CSSX, các trường học nghề

- Tổ chức các buổi gặp gỡ, trao đổi về nghề nghiệp với cán bộ lãnh đạo địa phương, cán bộ kinh tế, kỹ thuật, những người lao động giỏi, HSPT đã ra trường đang lao động sản xuất hay đang học tập trong các trường học nghề, trường chuyên nghiệp

- Phối hợp với Đoàn, Đội tổ chức các buổi tọa đàm, diễn đàn, ra báo tường để tranh luận về lựa chọn nghề nghiệp

- Tổ chức các nhóm nghiên cứu, sưu tầm các tài liệu có liên quan với nghề nghiệp mà mình thích thú

- Tổ chức đọc báo, nghe đài, giới thiệu sách, xem phim để tìm hiểu đặc điểm và yêu cầu của các nghề đang cần phát triển

1.2.2.5 Một số phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông

HN là một hoạt động GD nhằm mục đích hình thành ở HS năng lực hành động, phát triển ở các em tính tích cực XH, nhằm ĐT những con người năng động, thích ứng và góp phần phát triển cộng đồng Vì vậy, phương pháp tổ chức HĐGDHN có những đặc thù riêng và gồm một số phương pháp đặc thù sau:

Trang 23

- Soạn bài giảng bằng phần mềm MS PowerPoint [39, tr 62 - 76]

1.2.2.6 Tính chất hướng nghiệp của nhà trường phổ thông Việt Nam

Trong quá trình GD ở trường phổ thông, HS đều chịu những tác động GDHN, đều được chuẩn bị để sẵn sàng tham gia lao động nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp cấp học

Ở trường tiểu học, thông qua nhiều hoạt động khác nhau HS sẽ được GD

ý thức tôn trọng và gần gũi với người lao động, giúp cho HS hiểu được các nghề ở địa phương, yêu mến nghề và người lao động của những nghề đó, tự hào với những nghề truyền thống của địa phương

Ở trường THCS, HS được làm quen với lao động của một nghề, được

định hướng vào những nghề cần phát triển của địa phương Tính chất HN ở THCS

đã được thể hiện sâu sắc hơn, đậm nét hơn so với ở tiểu học Công tác HN đã gắn với định hướng chọn nghề của HS

Ở trường THPT, vấn đề học nghề cũng như công tác HN được đặt ra bức

thiết hơn Một bộ phận HS tốt nghiệp THPT sẽ học tiếp lên, do đó công tác HN có trách nhiệm giúp cho các em định hướng vào các trường ĐH, cao đẳng hoặc TCCN nào đó Đối với bộ phận HS còn lại, công tác HN chuẩn bị cho các em đi vào những ngành, nghề ở địa phương và trên cơ sở đó sẽ DN cho các em [8, tr 44]

Trang 24

1.2.3 Một số kiến thức lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT

1.2.3.1 Chức năng của công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông

Trong công tác GD, HN là quá trình chuẩn bị cho HS đi vào cuộc sống lao động nghề nghiệp Nghề nghiệp là vị trí chiến đấu của người lao động trên mặt trận sản xuất Trong quá trình này, hình thành ở các em tâm lý sẵn sàng đi vào lao động sản xuất trong một nghề cụ thể Sự sẵn sàng tâm lý đi vào lao động sản xuất là một khái niệm cơ bản trong lĩnh vực HN, là trạng thái tích cực của nhân cách cụ thể trước nghề nghiệp tương lai và là trạng thái tâm lý cần có của thanh niên, HS phấn khởi bước vào nghề, cống hiến được nhiều nhất cho nghề, làm tăng năng suất lao động XH, đưa nền sản xuất nước nhà ra khỏi tình trạng trì trệ và thấp kém… Sự sẵn sàng tâm lý được thể hiện ở nhiều phương diện khác nhau: sẵn sàng về đạo đức, về tri thức, về tình cảm, về tư tưởng… Vì vậy, HN không đơn thuần là việc chuẩn bị cho HS năng lực lao động, năng lực tiếp thu kỹ thuật sản xuất, mà còn chuẩn bị về đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, về ý thức và lòng yêu nghề, về tình cảm gắn bó với nghề… [8, tr 46 - 47]

1.2.3.2 Nhiệm vụ của giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông

Dưới góc độ XH, công tác HN có ba nhiệm vụ chủ yếu:

a) Định hướng nghề nghiệp cho học sinh

Cuộc đời lập nghiệp của thanh niên, HS thường trải qua bốn giai đoạn: Định hướng nghề, chọn nghề, học nghề và hành nghề

Định hướng nghề là một quá trình hoạt động tích cực, tự giác của HS dưới sự hướng dẫn của nhà trường, của gia đình cùng sự hỗ trợ của các Trung tâm

kỹ thuật HN và của các tổ chức XH để giúp HS tìm hiểu về thế giới nghề nghiệp để sau này chọn được một nghề phù hợp trong kỳ thi tuyển sinh hằng năm hay trực tiếp tham gia lao động sau khi rời khỏi trường phổ thông

Công việc chủ yếu của định hướng nghề trong nhà trường phổ thông bao gồm:

Trang 25

- GD nghề nghiệp cho HS làm quen với một số nghề cơ bản, phổ

biến ở XH và địa phương, tìm hiểu xu thế phát triển các nghề và những yêu cầu tâm

- sinh lý của nghề Tạo điều kiện ban đầu để HS phát triển năng lực tương ứng với hứng thú nghề nghiệp đã hình thành

- GD thái độ lao động đúng đắn, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc

trong dự định chọn nghề của HS

- Tuyên truyền nghề nghiệp nhằm làm cho HS chú ý với những nghề

đang có nhu cầu cấp thiết về nhân lực đang cần lao động trẻ tuổi; định hướng chú ý của HS vào những ngành, nghề hay lĩnh vực kinh tế mà nhà nước địa phương đang cần phát triển Đồng thời, điều chỉnh húng thú, động cơ nghề nghiệp của HS thông qua các gương lao động dũng cảm, sáng tạo trong sản xuất và đời sống XH

b) Tư vấn nghề nghiệp cho HS nhằm xác lập tương quan giữa những đặc

điểm của nhân cách HS với những yêu cầu tâm – sinh lý của nghề nghiệp Trên cơ

sở đó cho những lời khuyên bổ ích, chỉ ra hướng đi và sự lựa chọn nghề nghiệp thích hợp cho từng HS

Tư vấn HN là mảng thứ hai giúp cho HS định hướng nghề, bao gồm bốn hoạt động chính:

- Một là tư vấn tuyển sinh trong kỳ thi ĐH, cao đẳng và TCCN hàng năm

- Hai là tư vấn HN để giúp HS tìm hiểu thế giới nghề nghiệp, tìm hiểu

và đối chiếu giữa năng lực của bản thân với những nhu cầu đòi hỏi khách quan của nghề để từ đó có sự lựa chọn cho mình một nghề phù hợp

- Ba là giới thiệu về gương người thật, việc thật tiêu biểu, giới thiệu về một số nghề phổ biến ở địa phương và trong XH, giới thiệu về một số nghề thủ công trong các làng nghề truyền thống Đây là hoạt động giúp cho HS có ý chí phấn đấu vươn lên và có kinh nghiệm trong cuộc sống tương lai

- Bốn là cung cấp cho HS những kiến thức, kỹ năng sống để HS dễ hòa nhập vào nhịp sống mà không bị những sai lầm trên đường lập nghiệp

Trang 26

c) Tạo điều kiện cho việc tuyển chọn nghề nghiệp

Để thực hiện được nhiệm vụ này nhà trường phải cung cấp tư liệu về đặc điểm nhân cách của từng HS khi ra trường, góp ý kiến cho việc tuyển sinh vào các trường ĐT nghề, tuyển chọn người lao động vào các lĩnh vực kinh tế được thuận lợi, chính xác Do vậy, trường phổ thông nhất thiết phải đánh giá HS dưới góc

độ HN và bàn giao HS ra trường

Để thực hiện được ba nhiệm vụ cơ bản trên, trường phổ thông cần tiến hành GD thái độ lao động và ý thức đúng đắn về nghề nghiệp; tổ chức cho HS làm quen một số nghề chủ yếu trong XH và các nghề truyền thống ở địa phương; tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng HS để khuyến khích, hướng dẫn và bồi dưỡng khả năng nghề nghiệp thích hợp nhất; cuối cùng động viên hướng dẫn HS đi vào những nghề, những nơi đang cần lao động trẻ tuổi có văn hoá [10, tr 6 - 7)]

1.2.3.3 Các công việc quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT

GDHN cho HSPT là giai đoạn mở đầu của công tác HN toàn XH, là một bộ phận của GD phổ thông, được Bộ GD-ĐT quy định hàng năm đều có văn bản hướng dẫn chỉ đạo

a) Thành lập Ban hướng nghiệp và xác định chức năng, nhiệm vụ cụ thể của từng thành viên trong Ban hướng nghiệp

Theo hướng dẫn của Thông tư 31/TT của Bộ GD-ĐT ban hành ngày 17/11/1981 thì trong mỗi trường thành lập Ban HN gồm các tiểu Ban HN, lao động sản xuất, và sử dụng HS ra trường Thành phần Ban HN gồm Phó HT (là trưởng ban), GV kỹ thuật, đại diện GV chủ nhiệm các tổ trưởng bộ môn, đại diện của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, đại diện Hội CMHS, đại diện các CSSX ở địa phương (là ủy viên) Chức năng của Ban HN là tham mưu cho HT về nội dung, kế hoạch HN và phối hợp với địa phương trong việc sử dụng HS ra trường

Trang 27

- Ghi nhận xét, đánh giá vào phiếu HN của các em

- Có ý kiến kịp thời với cấp ủy và chính quyền địa phương về những trường hợp sử dụng HS ra trường chưa hợp lý

b) Tổ chức phòng triển lãm hướng nghiệp và xác định nội dung trưng bày của phòng này

Cách trang trí, trang bị, phòng HN phải có tác dụng tuyên truyền, GD nghề nghiệp Phòng HN cần có:

- Tranh ảnh, báo chí, tài liệu, giới thiệu các nghề và nói về chọn nghề

- Các biểu để giới thiệu đặc điểm các nghề

- Tài liệu giới thiệu về các trường lớp ĐT công nhân, TCCN, cao đẳng và ĐH, các trường DN ở địa phương

- Ảnh các anh hùng, chiến sĩ, người lao động giỏi tiêu biểu cho các ngành, nghề

- Tài liệu về những HS đã ra trường có thành tích trong lao động nghề nghiệp

- Tài liệu, bản đồ và hình ảnh giới thiệu các địa phương, các vùng kinh tế mới đang cần nhiều lao động trẻ tuổi có sức khỏe, có văn hoá

- Trình bày các sản phẩm sản xuất ở địa phương hay do HS làm ra Tùy theo điều kiện từng trường, quy mô phòng HN có thể to, nhỏ khác nhau

Trang 28

c) Phân công trách nhiệm hướng nghiệp trong nhà trường

* HT có nhiệm vụ:

- Lập kế hoạch HN trong cả năm, từng học kỳ, từng tháng;

- Chủ động phối hợp với chính quyền các CSSX, các trường DN đóng tại địa phương trong việc xây dựng kế hoạch giúp trường phổ thông CSVC, cán bộ kỹ thuật nghiệp vụ để dạy lao động kỹ thuật, HN và tổ chức lao động sản xuất cho HSPT;

- Tổ chức thông báo cho GV về tình hình phát triển kinh tế của địa phương và nhu cầu sử dụng nguồn lao động dự trữ;

- Chỉ đạo và kiểm tra công tác HN của các GV, phối hợp các HTGDHN trong và ngoài nhà trường;

- Kết hợp với địa phương trong việc sử dụng hợp lý HS ra trường;

- Cuối mỗi năm học, tổ chức bàn giao HS ra trường cho địa phương, báo cáo rõ phẩm chất, năng lực của từng em để địa phương có hướng sử dụng và tiếp tục bồi dưỡng một cách hợp lý; đề nghị với cấp ủy và Ủy ban nhân dân địa phương mở các hướng đi đúng đắn, các lớp học nghề thiết thực cho HS ở lại địa phương sản xuất và công tác; thường xuyên theo dõi việc bồi dưỡng, sử dụng HS sau khi ra trường và kịp thời động viên, khuyến khích vấn đề này

* GV chủ nhiệm có nhiệm vụ:

- Có trách nhiệm nắm tình hình, động viên HS lớp mình phụ trách tiếp thu tốt nội dung GDHN; đối với lớp cuối bậc học cần GD tốt ý thức phục vụ; nắm tình hình cụ thể mỗi HS để chuẩn bị tư tưởng cho các em sau khi tốt nghiệp, ngoài việc tiếp tục học, làm nghĩa vụ quân sự tham gia tích cực các lớp bồi dưỡng nghề nghiệp và trực tiếp tham gia lao động sản xuất, công tác theo yêu cầu của địa phương

- Tổ chức giới thiệu hoặc phối hợp với chi đoàn thanh niên tổ chức cho HS thảo luận về ý nghĩa, cơ sở khoa học của việc lựa chọn nghề và những nghề nghiệp đang cần phát triển

Trang 29

- Tổ chức cho HS tham gia các nhóm ngoại khoá hoặc tham quan các CSSX, các trường DN có liên quan

- Trao đổi với HS và CMHS về xu hướng phát triển hứng thú, năng lực của mỗi em bằng một số phương pháp nghiên cứu như đàm thoại, phỏng vấn, trắc nghiệm…để tìm hiểu hứng thú, nguyện vọng, động cơ, dự định chọn nghề của

HS Trên cơ sở đó đề ra những biện pháp GD thích hợp Khi có điều kiện, tiến hành

tư vấn nghề nghiệp cho HS

- Tham gia tổ chức phòng triển lãm HN

- Hướng dẫn HS lao động sản xuất HN

- Nhiệm vụ của GV giảng dạy kỹ thuật: Có trách nhiệm giảng dạy nội dung HN mỗi tháng một buổi (lấy trong thì giờ lao động quy định) và tiến hành GDHN qua việc giảng dạy các môn kỹ thuật phổ thông

* Đoàn thanh niên có nhiệm vụ:

- Tổ chức những Hội nghị, chuyên đề về lựa chọn nghề nghiệp và diễn đàn về lao động nghề nghiệp

- GD ý thức, thái độ lao động, lý tưởng nghề nghiệp

- Phối hợp chặt chẽ với Đoàn thanh niên trong các nông trường, nhà máy, hợp tác xã để các cơ sở Đoàn giúp đở HS tìm hiểu nghề nghiệp

- Giữ vững mối liên hệ với HS đã ra trường, trao đổi với họ về tình hình bố trí nghề nghiệp, rút ra những bài học bổ ích để giúp cho HS sắp ra trường

Trang 30

- Động viên HS tham gia có hiệu quả những buổi lao động sản xuất,

HN của nhà trường

* Hội CMHS có nhiệm vụ:

- Giải thích cho CMHS về sự cần thiết phải giúp con em trong việc lựa chọn nghề phù hợp với những yêu cầu phát triển KT-XH của đất nước, của địa phương, phù hợp với năng lực sở trường của các em Hội có thể tổ chức trao đổi về đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, về việc chuẩn bị cho HS sẵn sàng đi vào lao động nghề nghiệp, về cách thức lựa chọn nghề nghiệp tương lai cho con em, thông báo về tình hình nhu cầu nhân lực của các nghề trong XH, đặc biệt là các nghề của địa phương, hướng dẫn dư luận của CMHS trước việc chọn nghề của con

em mình Đề cử những đại biểu có nhiệt tình với công tác HN vào Ban HN của nhà trường

- Lôi cuốn CMHS vào công việc tư vấn nghề nghiệp cho con em, tham gia xây dựng phòng triển lãm HN cũng như những biện pháp HN khác

- Dựa vào lực lượng CMHS trong CSSX để theo dõi tình hình HS đã tham gia lao động ở đó

* Thư viện trường học:

- Lựa chọn và giới thiệu sách báo có nội dung HN để HS tham khảo

- Triển lãm sách, báo có tính chất HN Họp bạn đọc HS về sách HN

- Nghiên cứu hứng thú đọc sách của HS, hướng dẫn các em đọc những sách có tác dụng chọn nghề

* Phòng tư vấn HN (có thể kết hợp phòng tư vấn học đường):

- Thực hiện tư vấn hướng học, HN cho HS có nhu cầu được tư vấn Việc tư vấn này có thể được thực hiện ở một góc của phòng triển lãm HN

- Hướng dẫn cho HS cách thức lựa chọn nghề nghiệp tương lai, trên

cơ sở hình thành những hứng thú nghề nghiệp vững chắc phù hợp với phẩm chất, năng lực của cá nhân và yêu cầu của nghề cũng như nhu cầu của XH

Trang 31

- Hướng dẫn cho HS làm trắc nghiệm HN để HS tự đánh giá năng lực bản thân, từ đó có những định hướng đúng trong việc lựa chọn ngành, chọn nghề tương lai

- Việc tư vấn HN phải được tiến hành bởi một chuyên viên tư vấn, hay một cán bộ kiêm nhiệm có nhiều kinh nghiệm và việc tiến hành tư vấn phải theo đúng quy trình: tìm hiểu xu hướng nghề nghiệp của HS; sử dụng các phép đo chỉ số tâm – sinh lý HS; từ kết quả đo cho lời khuyên sơ bộ; kết hợp việc quan sát quá trình học tập và rèn luyện của HS (ở việc học tập văn hóa, học kỹ thuật công nghệ, học nghề phổ thông) để cho lời khuyên vào hồ sơ HN của HS [9, tr 23 - 27]

Trang 32

Chương 2 - THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CỦA HIỆU TRƯỞNG CÁC TRƯỜNG

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUẬN THỐT NỐT,

THÀNH PHỐ CẦN THƠ HIỆN NAY

Để thấy được thực trạng công tác QLHDDGDHN của HT các trường THPT quận Thốt Nốt cần phải đánh giá được thực trạng HĐGDHN đã và đang được thực hiện ở các trường này dưới sự QL của HT Qua đó, thấy được những mặt nào đã làm được và những mặt nào chưa làm được đã dẫn đến chất lượng và hiệu quả GDHN của nhà trường kém Chính điều này cũng cho thấy những mặt hạn chế trong công tác QL của HT và nguyên nhân của những hạn chế này

2.1 Thực trạng công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông ở nước ta hiện nay

Ngày 19/03/1981, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 126/CP về công tác HN trong trường phổ thông và việc sử dụng HS các cấp phổ thông cơ sở và phổ thông trung học tốt nghiệp ra trường Đây là cột mốc quan trọng cho sự phát triển GD trong hệ thống nhà trường phổ thông, từ đó HN được chính thức coi như một môn học, đồng thời được coi như một hoạt động có trong các tiết dạy, các môn học khác

Quyết định số 126/CP đã khẳng định, công tác HN trong trường phổ thông được tiến hành theo 4 con đường, đó là: HN qua các môn học; HN qua hoạt động lao động sản xuất; HN qua các buổi sinh hoạt HN; HN qua hoạt động ngoại khóa trong và ngoài nhà trường, với mục tiêu chung là giúp HS định hướng chọn nghề sao cho vừa phù hợp với hứng thú, năng lực và hoàn cảnh của cá nhân, vừa đáp ứng yêu cầu phát triển ngành, nghề trong XH

Trong những năm thập kỷ 80, sau quyết định 126/CP, công tác HN đã tạo ra một khí thế mới trong trường học Nhiều trường đã có phòng HN, nhiều lớp đã có góc HN với nhiều tư liệu giúp HS tìm hiểu các nghề của địa phương và trên toàn quốc Nhiều phòng HN cho HS tập trung sinh hoạt HN, HS được giới thiệu về nghề

và được tư vấn trong việc chọn nghề Vào thời điểm này, các trung tâm GD kỹ thuật

Trang 33

tổng hợp – HN được tổ chức tại hàng trăm quận, huyện, có trung tâm làm cả chức năng DN Không khí học kỹ thuật, thực hành lao động sản xuất và học nghề tại các trung tâm khá sôi động Các trường THPT vừa học, vừa làm và chủ trương HN đưa vào nhà trường đã được nhiều nơi hưởng ứng mạnh mẽ Cuối thập kỷ 80, do sự khủng hoảng kinh tế và lạm phát tiền tệ, đời sống của người lao động bấp bênh… nhiều CMHS không muốn cho con đi vào một số nghề có thu nhập thấp, không có viễn cảnh phát triển, từ đó xu hướng chạy đua vào ĐH, cao đẳng, xu thế tách học với hành, GD với lao động sản xuất tăng Vai trò của công tác HN bắt đầu bị coi nhẹ, việc học nghề của HSPT ít được quan tâm, nhiều trường đã tự ý bỏ sinh hoạt

HN Những năm (1992 – 1993) trở đi, việc chạy đua trong thi cử tạo ra một tâm trạng căng thẳng trong HS THPT Công tác HN tiếp tục bị lu mờ, nhường chổ cho việc học thi, luyện thi là cứu cánh đối với HS tốt nghiệp THPT Cuộc chạy đua vào

ĐH, cao đẳng đã kéo theo những việc làm tiêu cực

Đại hội lần thứ VIII (1996) đến Đại hội lần thứ IX (2001), Trung ương Đảng luôn nhấn mạnh việc tăng cường công tác HN, đẩy mạnh việc DN, song các trường phổ thông chưa có chuyển biến mới trong công tác HN Mặt khác, Nhiều vấn đề đặt

ra trong nội dung, phương pháp HN được xây dựng vào năm (1981) không còn thích ứng với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế giới, cùng với xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức đang từng bước trở thành hiện thực Kinh tế thị trường đang đặt ra nhiều yêu cầu đối với việc ĐT người lao động, đòi hỏi người lao động phải năng động, sáng tạo trong hoạt động nghề nghiệp Bên cạnh đó là sự phát triển của nhiều ngành, nghề trong XH đã tác động lớn đến việc chọn nghề ở người lao động, song song việc chọn nghề còn phải hướng vào biên chế nhà nước, ý thức sản xuất các sản phẩm mới theo nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng cao Nên người lao động dễ bị bỏ lỡ những cơ hội kiếm việc làm, nếu không đáp ứng được các nhu cầu nhân lực trên

Bước vào thế kỷ XXI, sự nghiệp CNH-HĐH đất nước đẩy mạnh theo hướng rút ngắn nhằm “đi tắt, đón đầu” Một trong những vấn đề quan trọng của công tác

HN là gắn việc chọn nghề của thanh niên, HS với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và

Trang 34

cơ cấu lao động ở từng địa phương và trong cả nước Trong tổng thu nhập quốc nội (GDP) tỷ trọng công nghiệp hóa và dịch vụ tăng lên, tỷ trọng nông nghiệp giảm dần, dẫn đến những chuyển biến trong hệ thống ngành, nghề, làm nhiều người phải chuyển sang các nghề phi nông nghiệp Quá trình CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn đã làm xuất hiện nhiều nghề mới Nhiều làng nghề truyền thống được khôi phục, phát triển theo hướng hiện đại hóa, nhiều làng nghề mới hình thành, những xí nghiệp vừa và nhỏ mọc lên, một số doanh nghiệp xuất hiện… Ngoài địa bàn nông nghiệp, nông thôn sự phát triển nghề nghiệp cũng có sự tăng lên nhanh chóng của nhiều lĩnh vực, các hoạt động du lịch được mở rộng với rất nhiều hình thức khác nhau, việc phát triển nhanh chóng của các doanh nghiệp, việc xây dựng các khu công nghiệp và khu chế xuất với sự nhập khẩu nhiều công nghệ mới và công nghệ cao Chính vì vậy, công tác HN trong nhà trường phải hướng sự lựa chọn nghề của

HS cho phù hợp theo sự thay đổi của xu thế

Hơn nữa, việc trang bị hoặc trang bị lại những công nghệ mới cho các ngành sản xuất, nhất là những ngành sản xuất mũi nhọn là một trong những vấn đề cơ bản của CNH-HĐH Việc tăng cường làm chủ công nghệ nhập, làm công nghệ nhập được thích ứng nhanh trong sản xuất và sáng tạo công nghệ mới đã trở thành vấn đề lớn trong nội dung GDHN và DN Con đường HN qua dạy học bộ môn kỹ thuật và lao động sản xuất khép dần HN thông qua dạy học các môn công nghệ là vấn đề mới mang tính cần thiết, vì việc dừng lại ở kỹ thuật sẽ không thể nắm được những tri thức mới, không thể nắm được những bí quyết trong sản xuất

Trong những năm gần đây Bộ GD-ĐT rất quan tâm tới công tác GDHN cho HSPT Song song, tình trạng chung ở các trường THPT là hầu như chưa có GV đúng chuyên môn DN và HN, mà chủ yếu là các GV dạy văn hóa kiêm DN và HN luôn; còn việc HS học nghề cũng chỉ lấy chứng chỉ để cộng vào điểm tốt nghiệp THCS, THPT Công tác tư vấn, GD nghề nghiệp cho HSPT thì chưa được quan tâm đúng mức Nhìn chung, công tác HN trong nhà trường THPT không chỉ thiếu

về nhân lực, mà còn thiếu và yếu về công nghệ, phương pháp tổ chức, chính sách, thông tin một bộ phận cán bộ, GV THPT chưa nhận thấy rõ tầm quan trọng của

Trang 35

công tác GDHN cho HS trong nhà trường THPT, nên phần lớn cán bộ, GV của các trường chỉ thực hiện GDHN qua loa, thậm chí phớt lờ Đa phần các trường chỉ thực hiện GDHN thông qua các buổi sinh hoạt HN và một số trường đã bỏ ngõ các hình thức HĐGDHN khác Mặt khác, hoạt động DN, HN cho HSPT còn chưa phù hợp

về thời lượng cả chất lượng, điều này thể hiện ở chổ là hiện nay các trường phổ thông chưa định hướng tốt cho HS trong việc chọn ngành, chọn nghề phù hợp Mặc dù hiện nay, HĐGDHN cho HS đã được đưa vào chương trình bậc trung học Thực tế, vẫn còn nhiều trường thực hiện GDHN mang tính hình thức qua loa, chiếu lệ, có trường mới bắt tay vào làm còn nhiều lúng túng, vừa làm, vừa rút kinh nghiệm… Điều này chứng tỏ, công tác QL hoạt động GD ở các trường THPT chưa đạt hiệu quả cao, một số nơi chưa có sự quan tâm đúng mức của các cấp QLGD, cũng như chưa có sự quan tâm của các lãnh đạo nhà trường

2.2 Tổng quan về quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ hiện nay

2.2.1 Đặc điểm tự nhiên của quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ hiện nay

Thành phố Cần Thơ là một thành phố trực thuộc Trung Ương nằm trên bờ phải sông Hậu, ở vị trí trung tâm Đồng bằng sông Cửu Long thuộc miền Tây Nam

Bộ, cách Thủ đô Hà Nội 1888 km, cách thành phố Hồ Chí Minh 169 km về phía Tây Nam tính theo đường bộ Thành phố Cần Thơ có diện tích 1.389,59 km² (diện tích nội thị 53 km²), chiếm 0,42% diện tích cả nước, tương ứng 3,5% diện tích vùng Đồng bằng sông Cửu Long, có dân số là 1.138.269 người với mật độ dân số là 818 người/km2 (2005) Thành phố Cần Thơ là một đô thị trực thuộc Trung Ương, giáp với 5 tỉnh: An Giang, Hậu Giang, Kiên Giang, Vĩnh Long và Đồng Tháp; có 9 đơn

vị hành chính, gồm 5 quận: Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng, Ô Môn, Thốt Nốt và

4 huyện: Phong Điền, Cờ Đỏ, Thới Lai, Vĩnh Thạnh Với tổng số 68 thị trấn, xã, phường (2009)

Thành phố Cần Thơ có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên rất thuận lợi, có khí hậu nhiệt đới với 2 mùa rõ rệt, nhiệt độ trung bình 27°C Cần Thơ nằm ở trung tâm của vùng châu thổ sông Cửu Long màu mỡ, với đất phù sa và nước ngọt quanh năm thuận lợi cho sinh hoạt và sản xuất Thành phố Cần Thơ có dạng địa hình bằng

Trang 36

phẳng kết hợp với mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt thuận lợi cho giao thông trong vùng và quốc tế

Theo Nghị định số 12/NĐ-CP, ngày 23-12-2008 của Chính phủ công bố thành lập huyện Thốt Nốt thành quận Thốt Nốt Quận Thốt Nốt là một đơn vị hành chính trực thuộc thành phố Cần Thơ, gồm 9 phường: Thới Thuận, Thuận An, Thốt Nốt, Thạnh Hòa, Trung Nhứt, Trung Kiên, Thuận Hưng, Tân Hưng Và Tân Lộc Quận Thốt Nốt, cách trung tâm thành phố Cần Thơ 45 km, cách An Giang 18 km và Kiên Giang 70 km tính theo đường bộ Phía Đông giáp tỉnh Đồng Tháp; phía Tây giáp huyện Vĩnh Thạnh và tỉnh An Giang; phía Nam giáp quận Ô Môn, huyện Cờ Đỏ; phía Bắc giáp tỉnh An Giang và tỉnh Đồng Tháp Có diện tích tự nhiên là 11.780,74 ha và 160.580 nhân khẩu (năm 2009) Có địa hình dạng bãi bồi và dạng bồn trũng Chính địa giới hành chính hiện nay của quận đã tạo ra cho Thốt Nốt một

vị thế quan trọng về các đầu mối giao thông, thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, văn hóa với các tỉnh, thành phố trong khu vực và cả nước Đây cũng chính là một tiềm năng cho sự phát triển KT-XH, văn hóa và sự đa dạng, phong phú của các ngành nghề, bên cạnh các làng nghề truyền thống cũng được phát triển theo hướng hiện đại Điều này đã góp phần cho những thay đổi trong định hướng GD HSPT về việc chọn ngành, chọn nghề tương lai và cũng làm ảnh hưởng rất lớn đến xu hướng chọn

nghề của các em (Dữ liệu lấy từ cổng thông tin điện tử thành phố Cần Thơ -

CanTho Portal; 12, tr 5-15)

2.2.2 Đặc điểm tình hình KT-XH của quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ hiện nay

Trên tinh thần thực hiện Nghị quyết 45-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây

dựng và phát triển thành phố Cần Thơ trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước “… Xây

dựng và phát triển thành phố Cần Thơ trở thành thành phố đồng bằng cấp quốc gia, văn minh, hiện đại, xanh, sạch, đẹp, xứng đáng là thành phố cửa ngõ của cả vùng hạ lưu sông Mê Công; là trung tâm công nghiệp, trung tâm thương mại dịch

vụ, du lịch, trung tâm GD-ĐT và khoa học - công nghệ, trung tâm y tế và văn hóa,

là đầu mối quan trọng về giao thông vận tải nội vùng và liên vận quốc tế; là địa

Trang 37

bàn trọng điểm giữ vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh của vùng Đồng bằng sông Cửu Long và của cả nước”

Cần Thơ còn là vị trí trung tâm, là đô thị lớn nhất trong hệ thống các đô thị Đồng bằng sông Cửu Long, có cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỉ trọng nông - lâm - thủy sản, tăng tỉ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, nhất là dịch

vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thông tin liên lạc… Cơ cấu lao động từng bước chuyển dịch theo hướng giảm tỉ trọng khu vực nông nghiệp, tăng tỉ trọng lao động phi nông nghiệp Vấn đề tạo việc làm cho người lao động luôn được Cần Thơ quan tâm Cần Thơ còn chú trọng khuyến khích phát triển các nghề tiểu thủ công nghiệp, Cần Thơ còn là nơi cung ứng lao động có tay nghề cao cho các doanh nghiệp đang hoạt động trong các khu công nghiệp, các trung tâm công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trong các quận, huyện nhà Bên cạnh, Cần Thơ Thực hiện chương trình ĐT một số nghề cho lao động nông thôn để người dân tự tạo việc làm

Quận Thốt Nốt, một trong những tiềm năng phát triển kinh tế của thành phố Cần Thơ, với vị thế cặp các đầu mối giao thông, thuận lợi trong giao lưu kinh tế, văn hóa với các tỉnh, thành phố trong khu vực và cả nước Hiện nay, Thốt Nốt đang đẩy nhanh quá trình chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, tạo sự đột phá trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, công nghiệp, ổn định chính trị, phát triển văn hoá - xã hội Các dịch vụ vận tải, dịch vụ cơ khí, dịch vụ phi nông nghiệp phát triển mạnh Mặt khác, Thốt Nốt còn là thế mạnh về chế biến lương thực, chế biến thủy sản và thức ăn gia súc, bao bì, nhiều ngành công nghiệp đang dần khẳng định ưu thế trong cơ cấu kinh

tế quận Nhiều tổng công ty, công ty lớn đã đặt chi nhánh và nhà máy tại Thốt Nốt như: Công ty Gentraco, Xí nghiệp chế biến lương thực Sông Hậu, Công ty trách nhiệm hữu hạn Hiệp Thanh, Hiệp Tài Song song, trong quận còn có khu vực Lộ

Tẻ là trung tâm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tập trung Với vị thế nằm cạnh quốc lộ 91, đường thủy có sông Hậu, giáp với ba tỉnh An Giang, Kiên Giang và Đồng Tháp - vùng nguyên liệu nông thủy sản dồi dào, phong phú, lại dễ dàng thâm nhập vào thị trường Campuchia và các nước khác - Lộ Tẻ đang trở thành một trong những tâm điểm thu hút đầu tư của Cần Thơ Hiện nay, ở Thốt Nốt đang được xây

Trang 38

dựng một khu công nghiệp với tổng diện tích xây dựng giai đoạn I là 22,5 ha Khu này được định hướng là khu công nghiệp năng động thứ ba của thành phố Cần Thơ,

sau khu công nghiệp Trà Nóc và Hưng Phú (Dữ liệu lấy từ cổng thông tin điện tử

thành phố Cần Thơ - CanTho Portal; 12, tr 21)

Trước vị thế chuyển mình của quận Thốt Nốt hòa cùng với xu thế phát triển KT-XH chung của cả thành phố Cần Thơ như hiện nay, nhất là trước sự mọc lên như nấm của các công ty, xí nghiệp, nhà máy, cùng sự lớn nhanh của các lĩnh vực thương mại, dịch vụ, du lịch, công nghiệp và các dịch vụ phi nông nghiệp cũng phát triển ngày càng nhanh, nhiều… thì nhu cầu về nguồn lực lao động trẻ có chất lượng,

để đáp ứng cho mọi ngành, nghề của địa phương đã và đang là một yêu cầu bức thiết Điều này, đã đòi hỏi các ban ngành đoàn thể của địa phương có kế hoạch và

sự điều phối hợp lý đội ngũ nhân lực trẻ qua ĐT, đồng thời có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ sở ĐT để cung ứng nguồn lực này Mặt khác, chính vị thế phát triển hiện nay của quận đã mở ra cho sự phát triển nhanh của nhiều ngành, nghề ở địa phương, tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người dân, cũng có tác động làm ảnh hưởng lớn trong xu hướng lựa chọn ngành, chọn nghề của các em HS sau tốt nghiệp THPT Đồng thời, cũng đặt ra trách nhiệm quan trọng cho công tác GDHN trong nhà

trường về việc phân luồng HS sau tốt nghiệp THPT (Dữ liệu lấy từ cổng thông tin

điện tử thành phố Cần Thơ - CanTho Portal)

2.2.3 Tình hình Giáo dục – Đào tạo của quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ hiện nay

Ngày 12/8/08, Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Quyết định số 1984/QĐ-UBND phê duyệt chương trình ĐT nguồn nhân lực thành phố Cần Thơ đến năm (2010) và tầm nhìn đến năm (2020) Mục tiêu của chương trình nhằm nâng cao dân trí và chất lượng nguồn nhân lực để phát huy thế mạnh của địa phương, ĐT lao động có chuyên môn - nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH Phấn đấu trở thành Trung tâm cung cấp lao động có trình độ cao cho khu vực đồng bằng sông Cửu Long, cả nước và hướng tới xuất khẩu lao động có trình độ cao ra khu vực Châu Á và Quốc tế; đồng thời, phát triển mạng lưới các cơ sở ĐT theo các cấp học,

Trang 39

ĐT nghề tầm cỡ cấp vùng Hiện Cần Thơ đã ĐT nghề cho hơn 31.700 lao động, giải quyết việc làm cho 40.849 lao động, trong đó giải quyết việc làm trong nước là 40.549 lao động và xuất khẩu là 300 lao động Ngoài ra, Cần Thơ còn tăng cường giao lưu hợp tác quốc tế trong việc ĐT và phát triển nhân lực, hình thành làng ĐH

để phát triển mạnh các ngành: kỹ thuật, kinh tế tài chính, kinh tế phát triển, quy hoạch và QL đô thị Trên đà phát triển nhanh, rộng của thành phố Cần Thơ tiến tới việc thực hiện mục tiêu chung của toàn thành phố đến năm (2010) đã mở ra cho thành phố nhiều ngành, nghề rất đa dạng và phong phú, đồng thời cũng tác động lớn đến việc chọn ngành, chọn nghề của HS, vừa đem lại cho HS nhiều cơ hội thuận lợi trong việc chọn ngành, chọn nghề, vừa tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho HS sau tốt nghiệp THPT đi vào cuộc sống tham gia lao động sản xuất, mặt khác cũng đặt ra nhiều thách thức lớn ở năng lực của mỗi HS

Quận Thốt Nốt là một quận mới được thành lập trực thuộc thành phố Cần Thơ, cũng là một trong những tiềm năng phát triển về GD-ĐT của thành phố Cần Thơ Hiện nay, Đảng và nhân dân quận Thốt Nốt đang ra sức phấn đấu để xây dựng quận Thốt Nốt ngày càng giàu mạnh xứng đáng với những tiềm năng thế mạnh hiện

có của vùng về kinh tế, GD-ĐT, văn hóa, XH… Tuy nhiên, tình hình GD-ĐT và điều kiện thực tại trong quận có 45 trường, trong đó có 10 trường mầm non, 25 trường tiểu học, 7 trường THCS, 3 trường THPT, 1 trung tâm GD thường xuyên, 1 trung tâm DN và 8 trung tâm học tập cộng đồng Phần lớn CSVC trường học trên địa bàn quận đều được xây dựng lâu năm, bán kiên cố, đang có chiều hướng xuống cấp nghiêm trọng Có trường chưa đủ số lượng phòng học, phòng thiết bị, phòng thí nghiệm, phòng bộ môn

Về GD THPT của quận Thốt Nốt có 3 trường THPT: THPT Thốt Nốt, THPT Bán công Thốt Nốt, THPT Trung An Sau đây là vài nét sơ lược về biên chế lớp 12, đội ngũ cán bộ, GV, HS, CMHS ở 3 trường THPT trong quận Thốt Nốt:

Trang 40

Bảng 2.1 Sơ lược về tình hình biên chế lớp 12, đội ngũ cán bộ, GV, HS,

CMHS ở 3 trường THPT trong quận Thốt Nốt (theo các báo cáo tổng kết năm

học 2008 – 2009 và qua kết quả phiếu thăm dò ý kiến CMHS 12 của các trường)

Số lượng

Thành phần

Số lượng (có biên chế)

lượng

Thành phần

chuẩn ĐH,

4 cao đẳng,

8 vượt chuẩn (thạc sĩ)

665 Phần lớn là

nông dân, buôn bán, một số là công chức

và các nghề khác THPT

chuẩn ĐH,

2 vượt chuẩn (thạc sĩ)

111 Phần lớn là

nông dân, buôn bán, một số là công chức

và các nghề khác THPT

phận)

chuẩn ĐH,

8 vượt chuẩn (thạc sĩ)

246 Phần lớn là

nông dân, buôn bán, một số là công chức

và các nghề khác Tổng

cộng

Ngày đăng: 31/03/2013, 19:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Sơ lược về tình hình biên chế lớp 12, đội ngũ cán bộ, GV, HS, - Thực trạng và giải pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông quận Thốt Nốt thành phô Cần Thơ hiện nay
Bảng 2.1. Sơ lược về tình hình biên chế lớp 12, đội ngũ cán bộ, GV, HS, (Trang 40)
Bảng 2.4. Thống kê số lượng và tỉ lệ % các câu trả lời được nêu trong  phiếu thăm dò ý kiến CMHS lớp 12 của 3 trường THPT trong quận Thốt Nốt - Thực trạng và giải pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông quận Thốt Nốt thành phô Cần Thơ hiện nay
Bảng 2.4. Thống kê số lượng và tỉ lệ % các câu trả lời được nêu trong phiếu thăm dò ý kiến CMHS lớp 12 của 3 trường THPT trong quận Thốt Nốt (Trang 47)
Bảng 2.3. Cơ bản về nghề nghiệp của CMHS 12 ở 3 trường THPT quận  Thốt Nốt hiện nay - Thực trạng và giải pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông quận Thốt Nốt thành phô Cần Thơ hiện nay
Bảng 2.3. Cơ bản về nghề nghiệp của CMHS 12 ở 3 trường THPT quận Thốt Nốt hiện nay (Trang 47)
Bảng 2.5. Thống kê số lượng và tỉ lệ % các câu trả lời được nêu trong  phiếu thăm dò ý kiến GV của 3 trường THPT trong quận Thốt Nốt - Thực trạng và giải pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông quận Thốt Nốt thành phô Cần Thơ hiện nay
Bảng 2.5. Thống kê số lượng và tỉ lệ % các câu trả lời được nêu trong phiếu thăm dò ý kiến GV của 3 trường THPT trong quận Thốt Nốt (Trang 49)
Bảng 2.6. Thống kê số lượng và tỉ lệ % các câu trả lời được nêu trong  phiếu thăm dò ý kiến CBQL của 3 trường THPT trong quận Thốt Nốt - Thực trạng và giải pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông quận Thốt Nốt thành phô Cần Thơ hiện nay
Bảng 2.6. Thống kê số lượng và tỉ lệ % các câu trả lời được nêu trong phiếu thăm dò ý kiến CBQL của 3 trường THPT trong quận Thốt Nốt (Trang 57)
Bảng 2.5) có 7,9 % GV và (Câu 3 - Bảng 2.6) có 24,5% đều cho thấy nhà trường - Thực trạng và giải pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông quận Thốt Nốt thành phô Cần Thơ hiện nay
Bảng 2.5 có 7,9 % GV và (Câu 3 - Bảng 2.6) có 24,5% đều cho thấy nhà trường (Trang 69)
Bảng 2.8. Trình độ QL, trình độ chính trị của CBQL ở các trường - Thực trạng và giải pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông quận Thốt Nốt thành phô Cần Thơ hiện nay
Bảng 2.8. Trình độ QL, trình độ chính trị của CBQL ở các trường (Trang 70)
Bảng 2.9. Cơ cấu đội ngũ GV được phân công giảng dạy HN tại các  trường THPT của quận Thốt Nốt (2006 – 2009) (theo kế hoạch phân công giảng - Thực trạng và giải pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông quận Thốt Nốt thành phô Cần Thơ hiện nay
Bảng 2.9. Cơ cấu đội ngũ GV được phân công giảng dạy HN tại các trường THPT của quận Thốt Nốt (2006 – 2009) (theo kế hoạch phân công giảng (Trang 71)
Bảng 2.10. Số lượng và thành phần GV được huấn thay sách HN tại  các trường THPT của quận Thốt Nốt (2006 – 2009) (theo danh sách đề cử GV đi - Thực trạng và giải pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông quận Thốt Nốt thành phô Cần Thơ hiện nay
Bảng 2.10. Số lượng và thành phần GV được huấn thay sách HN tại các trường THPT của quận Thốt Nốt (2006 – 2009) (theo danh sách đề cử GV đi (Trang 72)
Bảng 2.11. Cơ sở vật chất tại các trường THPT quận Thốt Nốt hiện  nay (Theo số liệu báo cáo thống kê CSVC của các trường) - Thực trạng và giải pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông quận Thốt Nốt thành phô Cần Thơ hiện nay
Bảng 2.11. Cơ sở vật chất tại các trường THPT quận Thốt Nốt hiện nay (Theo số liệu báo cáo thống kê CSVC của các trường) (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w