1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG QUẢN LÍ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

122 776 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Quản Lí Công Tác Đào Tạo Giáo Viên Tiểu Học Quận Tân Bình Thành Phố Hồ Chí Minh
Tác giả Nguyễn Thị Hạnh
Người hướng dẫn PGS. TS. Đoàn Văn Điều
Trường học Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản lý giáo dục
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Tân Bình
Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

THỰC TRẠNG QUẢN LÍ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN, TIỂU HỌC QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :

PGS TS ĐOÀN VĂN ĐIỀU

Thành phố Hồ Chí Minh – 2009

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Xin trân trọng cảm ơn:

- Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh

- Ban lãnh đạo và cán bộ chuyên viên Phòng giáo dục đào tạo

quận Tân Bình, quận Tân Phú

- Các phòng ban thuộc Đại học Sư phạm, đặc biệt là phòng Khoa

học công nghệ và Sau đại học

- Các thầy cô khoa Tâm lí-Giáo dục, các giảng viên đã giảng dạy khóa 16 QLGD trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh (2005–2008)

- Ban Giám Hiệu và Giáo viên các trường tiểu học trên địa bàn

quận Tân Bình và quận Tân Phú

Đã tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ, hướng dẫn, cộng tác để chúng tôi hoàn thành luận văn

Đặc biệt, tác giả mong muốn bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến

PGS.TS ĐOÀN VĂN ĐIỀU , người thầy đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ

và hướng dẫn chu đáo để tác giả hoàn thành bản luận văn này

Tân Bình, ngày 6 tháng 2 năm 2009

Tác giả

NGUYỄN THỊ HẠNH

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Giáo dục phát triển không ngừng và là một trong những động lực cơ bản phát triển kinh tế xã hội Nhận định về triển vọng kinh tế xã hội châu Á thế kỉ hai mươi mốt, từ năm 1993 UNESCO đã

khẳng định: “Giáo dục là chìa khóa tiến tới một xã hội tốt hơn, là đòn bẩy mạnh mẽ nhất tiến vào

tương lai ” Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, giáo dục là lực duy trì khả năng cạnh tranh về nhiều

mặt giữa các quốc gia Sự phát triển của kinh tế đã luân chuyển các nguồn vốn, công nghệ, nhân lực và tạo ra sản phẩm xã hội có giá trị cao, tỉ lệ với chất xám đầu tư vào sản phẩm đó Trong nền kinh tế này, tài sản được tính đến là trí tuệ và được gọi là nền kinh tế tri thức Cùng với kinh tế tri thức, các thành tựu của khoa học và công nghệ đã làm biến đổi sâu sắc nhiều lĩnh vực như chính trị, kinh tế, xã hội, giáo dục, cách sống, cách làm việc của con người và các quan hệ xã hội

Ngoài việc là động lực cho phát triển kinh tế, giáo dục còn là điểm tựa cho công bằng xã hội

và qua giáo dục, mỗi cá nhân nỗ lực vươn lên tự khẳng định mình bằng tri thức và khả năng sáng tạo

Nền kinh tế tri thức toàn cầu đặt ra yêu cầu nước ta phải cấp bách đổi mới giáo dục và đào tạo

với mục tiêu “đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển tạo nền tảng để đến năm 2020 cơ bản

trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa rút ngắn thời gian so với các nước đi trước ”

Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001 – 2010 của Nhà nước Việt Nam đã đề ra sứ mạng mới

của giáo dục là “đào tạo người có trình độ chuyên môn cao, người công dân có trách nhiệm, có nhân

lực tư duy, có tinh thần tạo nghiệp, giữ gìn và thúc đẩy những giá trị xã hội.”

Trong quá trình thực hiện sứ mạng giáo dục, vai trò của mỗi cấp học có những giá trị quan

trọng khác nhau Tiểu học là bậc học nền tảng của giáo dục quốc dân, “nhằm giúp học sinh hình thành

những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản ” trong đó “Giáo viên là nhân tố hàng đầu quyết định chất lượng giáo dục” [38,

phần IV]

Để đáp ứng được yêu cầu mới, giáo dục Việt Nam phải quan tâm đặc biệt đến yếu tố chất lượng, nhất là chất lượng người thầy Việc nâng cao chất lượng đội ngũ ngày càng tác động mạnh mẽ lên tiến trình đổi mới giáo dục nước ta trong giai đoạn hiện nay và cả trong tương lai vì mô hình trường học theo kiểu cũ không phù hợp nữa Việc học tập của học sinh là sự tham gia tích cực vào các hoạt động học Xã hội ngày nay quan niệm học sinh tốt nghiệp là người có thể nhận diện và giải quyết các vấn đề liên quan với họ bằng kĩ năng thích ứng nên việc giúp học sinh đạt đến trình độ này đòi hỏi người thầy phải được đào tạo để tạo ra sự thay đổi

Trang 6

Thời gian gần đây xã hội chú ý đặc biệt đến chất lượng giáo dục thông qua những mục tiêu có thể đo lường được của các khóa học, các chương trình đào tạo nhằm kiểm soát việc thực hiện sứ mạng giáo dục của các nhà trường

Trong những năm qua, quận Tân Bình đã tiến hành nhiều cải cách quan trọng cho giáo dục tiểu học: tăng cường cải tạo trường lớp, tăng kinh phí đầu tư đào tạo- bồi dưỡng giáo viên, mở nhiều lớp đào tạo nâng chuẩn Chất lượng đội ngũ được đánh giá hàng năm dựa vào tiêu chí số lượng GV đã đạt bằng cấp theo quy định Số GVTH đạt chuẩn ở từng đơn vị trường tăng lên khá nhanh nhưng chưa đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội cũng như thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của trò đồng thời áp dụng dạy tiểu học theo phân môn, mở rộng diện trường tiểu học dạy 2 buổi/ngày và tăng tỉ lệ trường đạt chuẩn quốc gia theo chương trình hành động của quận

Những lí do trên đòi hỏi cần phải xây dựng những giải pháp quản lí công tác đào tạo đội ngũ,

là một công việc có ý nghĩa quyết định trong việc nâng cao chất lượng Giáo dục tiểu học Vì thế “Thực

trạng quản lí công tác đào tạo giáo viên tiểu học Quận Tân Bình thành phố Hồ Chí Minh” được chọn

là đề tài nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng quản lí công tác đào tạo giáo viên tiểu học, một số giải pháp trong công tác đào tạo giáo viên tiểu học được đề xuất để góp phần đáp ứng yêu cầu đổi mới chất lượng giáo dục tiểu học tại quận Tân Bình trong giai đoạn sắp tới

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Xuất phát từ mục đích đã nêu, nhiệm vụ cụ thể của đề tài như sau:

- Hệ thống hóa những vấn đề lí luận về chất lượng đào tạo nâng chuẩn trình độ và năng lực của người giáo viên

- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lí công tác đào tạo giáo viên tiểu học

- Đề xuất một số giải pháp quản lí công tác đào tạo giáo viên Tiểu học quận Tân Bình trong giai đoạn sắp tới

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng công tác đào tạo giáo viên Tiểu học quận Tân Bình Tp HCM

- Khách thể nghiên cứu: biện pháp quản lí công tác nâng chuẩn trình độ đào tạo giáo viên tiểu học tại quận Tân Bình Tp HCM

5 Giả thuyết nghiên cứu

Dù đội ngũ giáo viên tiểu học quận Tân Bình đáp ứng chuẩn trình độ đào tạo rất cao, nhưng năng lực chuyên môn nghiệp vụ của nhiều nhà giáo còn hạn chế về chất lượng, hiệu quả công tác, chưa thực sự đổi mới phương pháp giảng dạy

Trang 7

Nguyên nhân có thể xuất phát từ chất lượng việc thực hiện đào tạo nâng chuẩn của người GVTH

Cần điều chỉnh việc tổ chức, quản lý và thực hiện công tác đào tạo nâng chuẩn trình độ theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hoá nguồn lực

Xây dựng, quy hoạch đội ngũ hợp lý, có cơ cấu đồng bộ về trình độ, độ tuổi, giới tính…đảm bảo tính kế thừa và phát triển

Có chính sách sử dụng hiệu quả giáo viên sau đào tạo nâng chuẩn trình độ

Hoàn thiện các chức năng quản lý công tác đào tạo

6 Các phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Phân tích, hệ thống hóa các vấn đề lý luận từ các tài liệu, văn bản, nghị quyết của Đảng và Nhà nước, của Bộ Giáo dục và Đào tạo, của Sở Giáo dục thành phố HCM có liên quan đến đề tài

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Sử dụng phiếu điều tra để thu thập thông tin từ CBQL, GV về hiệu quả của nội dung đào tạo

GV

- Nghiên cứu tổng hợp số liệu thông qua sổ sách, văn bản chỉ đạo của phòng Giáo dục Quận, Kế hoạch, phương hướng hoạt động và báo cáo của Phòng đào tạo bồi dưỡng giáo dục, của Hiệu trưởng các trường tiểu học

6.3 Phương pháp hỏi ý kiến các chuyên gia: chuyên viên phòng giáo dục và đội ngũ Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn

6.4 Phương pháp thống kê toán học, sử dụng phần mềm SPSS 16.0 for Windows để xử lí số liệu

* Vài nét về mẫu khảo sát

Để thu thập thông tin cho đề tài, bảng câu hỏi đã được thiết kế và sử dụng để thực hiện việc thu thập số liệu thông qua phỏng vấn và trao đổi với GV đang tham gia giảng dạy tại 23 trường trong quận Tân Bình và tất cả CBQL trường công lập

Mẫu khảo sát chú ý chọn toàn bộ GV và CBQL trường tiểu học dạy 2 buổi/ ngày, những trường chỉ dạy một buổi thì khảo sát toàn bộ CBQL và GV là Tổ trưởng chuyên môn Trong số trường khảo sát có 11 trường đang thực hiện phân công GV dạy theo môn học, 12 trường còn lại vẫn theo quy định trước đây: 1 GV chủ nhiệm 1 lớp học và dạy đủ môn

Tổng số GV đã tham gia khảo sát là 451 người, thu về được 396 phiếu có nội dung trả lời đầy

đủ, trong đó số GV là 288, CBQL là 108

- Mục đích khảo sát :

Trang 8

Điều tra về thực trạng năng lực của GVTH trong giảng dạy, ý kiến đánh giá của GV về hiệu quả của chương trình đào tạo nâng chuẩn trình độ hiện hành để có cơ sở đề ra các giải pháp cho việc xây dựng chương trình đào tạo giáo viên phù hợp với yêu cầu mới

- Nội dung khảo sát :

Khái quát về tình hình đội ngũ và tình hình cơ sở trường lớp

Đánh giá tính hiệu quả của nội dung đào tạo, những hạn chế bất cập trong kĩ năng và kiến thức của GV

Những năng lực nghề nghiệp mà người GV mong muốn được cải thiện

- Lập bảng hỏi :

Phiếu hỏi có 22 câu, gồm 4 phần chính với 87 mục hỏi (169 biến quan sát)

Phần đầu của phiếu hỏi là những chi tiết về cá nhân (tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn, thâm niên dạy học và quản lí) và đặc điểm của đơn vị trường

Phần 2 (từ câu 1-7) là thông tin về đặc điểm đào tạo và cách thức tham gia của GV, nhận xét của

GV & CBQL về nội dung đào tạo

Phần 3 (từ câu 8- 16) đánh giá của GV & CBQL về lợi ích, hiệu quả cũng như những hạn chế cơ bản của GVTH hiện nay

Phần 4 (từ câu 17-22) đánh giá của GV & CBQL về năng lực cần cải thiện, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố trong điều kiện, phương thức tổ chức đào tạo, các giải pháp đề nghị và ý kiến riêng của

họ nhằm nâng cao chất lượng công tác đào tạo GVTH tại địa phương

Số liệu được nhập và xử lý trên phần mềm SPSS 16.0

7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Chỉ nghiên cứu hiệu quả giảng dạy sau đào tạo nâng chuẩn trình độ giáo viên Tiểu học

- Phạm vi nghiên cứu: 23 trường tiểu học thuộc quận Tân Bình

Trang 9

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề đào tạo giáo viên từ trước đến nay là một đề tài luôn thu hút sự quan tâm của các triết

gia và các nhà nghiên cứu Hơn hai nghìn năm trước, Tuân Tử của Trung quốc đã nêu ra 4 chữ “giáo

học tương trưởng”, nghĩa là dạy và học cùng nhau lớn lên Khi xuất hiện cùng với kỉ nguyên công

nghiệp hóa ở đầu thế kỉ 20, chủ nghĩa Mác-Lênin đã quan tâm đến việc phát triển giáo dục trong đó có

đội ngũ giáo viên Trong Luận cương số 3 về Feuerbach, Mác đã viết: “Nhà giáo dục cũng phải được

giáo dục” Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng thể hiện quan điểm “muốn làm tốt công tác giáo dục, phải xây dựng đội ngũ những người thầy giáo”, trong di sản để lại cho chúng ta ngày nay, Bác đã khuyến khích

cán bộ giáo dục “luôn cố gắng học tập thêm, học chính trị, học chuyên môn” [23, tr.394]

Trong giáo dục hiện đại, việc học để dạy của người thầy đã trở thành hoạt động cần thiết, thường xuyên và là đề tài cho nhiều công trình nghiên cứu khoa học:

- Tác giả Trần Bá Hoành trong bài “Đổi mới chương trình đào tạo bồi dưỡng giáo viên tiểu

học” nhấn mạnh để nâng chất lượng người thầy cần xem việc đổi mới phương pháp đào tạo GV là

trọng điểm và phải đặt nó trong mối quan hệ với các thành tố khác trong hệ thống giáo dục [15, tr.24]

- Tác giả Phạm Xuân Thanh trong bài “Xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong các

trường đào tạo giáo viên tiểu học” quan tâm làm rõ những khái niệm về chất lượng, các công cụ được

sử dụng để đánh giá chất lượng trong một chu trình đào tạo giáo viên tại các trường sư phạm [30, tr.28]

- Với đề tài “Chất lượng giáo viên tiểu học, thực trạng và giải pháp” các tác giảNguyễn Ngọc Hợi, Phạm Minh Hùng, Thái văn Thành đã nhất trí nhận định việc nâng cao chất lượng GVTH là một yêu cầu cấp thiết để nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ các giải pháp về tuyển sinh, đổi mới nội dung, PP đào tạo bồi dưỡng GVTH [16, tr.11]

- Trong đề tài “Tìm hiểu kĩ năng dạy học của giáo viên tiểu học” tác giả Phạm Minh Hùng đã phân tích những hạn chế cụ thể trong kĩ năng dạy học của GVTH hiện nay và chỉ ra nguyên nhân dẫn đến thực trạng này đồng thời yêu cầu phải đổi mới công tác đào tạo bồi dưỡng để tăng cường nghiệp

vụ sư phạm cho người GVTH [18, tr.30]

- Với bài viết “Người thầy trong nhà trường hiện đại” tác giảHoàng Tụy, đã nhấn mạnh vai trò quyết định nhất đối với hiệu quả giáo dục thuộc về các yếu tố có liên quan trực tiếp tới người thầy [37]

Trang 10

- Trong “Biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo” tác giả Phạm Phi Yên đã quan tâm đánh giá

yếu tố đồng bộ của quản lí, phương pháp giảng dạy, chương trình, CSVC với chất lượng đào tạo và nhấn mạnh chính quản lí quyết định chất lượng giáo dục [44]

Ngoài ra còn có các đề tài nghiên cứu của các tác giả Lê Khánh Bằng “Một số phương hướng

đổi mới việc nghiên cứu, học và dạy các khoa học giáo dục góp phần nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên” năm 2006, tác giả Phạm Quang Huân “Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác bồi dưỡng giáo viên phổ thông đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục” năm 2006, tác giả Lê Thị Phương

Hồng “Thực trạng và giải pháp đào tạo – bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học, Trung học cơ sở tại

tỉnh Hải Dương”, các tác giả đã đề xuất những biện pháp rà soát lại đội ngũ, tuyển dụng và điều chỉnh

lại cơ cấu cho cân đối về số lượng, phân công dạy chéo môn để đảm bảo sử dụng hiệu quả đội ngũ hiện

có đồng thời với việc nâng số lượng GV được bồi dưỡng đào tạo

Trong Luận văn tốt nghiệp của học viên Cao học QLGD trường ĐHSP thành phố HCM đã có nhiều tác giả tập trung nghiên cứu đề tài đào tạo GV như:

“Thực trạng và một số giải pháp về quản lí quá trình đào tạo tại trường Đại học Mở bán công

thành phố HCM” của tác giả Phạm Thị Phương Trang năm 2002

“Thực trạng quản lí đào tạo tại khoa ngoại ngữ trường CĐSP Tp.HCM và một số giải pháp”

của tác giả Lê Văn Việt năm 2002

“Vấn đề quản lí công tác đào tạo giáo viên THCS môn Âm nhạc của trường CĐSP Bình

Dương” của tác giả Phạm Phúc Tuy

“Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học ở tỉnh Bình Thuận” của tác

giả Hoàng Tấn Rư

“Thực trạng quản lí giảng dạy trong việc đào tạo giáo viên tiểu học ở trường cao đẳng sư phạm

và một số giải pháp” của tác giả Lê Văn Mạnh năm 2006

Các công trình nghiên cứu trên tập trung làm rõ những khó khăn, thuận lợi, những nỗ lực và sự chuyển biến tích cực của công tác đào tạo giáo viên Hầu hết các tác giả đề cập đến kĩ năng dạy học, chương trình đào tạo bồi dưỡng GV trong những năm qua và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo viên trong những điều kiện cụ thể

Trong một nghiên cứu về công tác đào tạo người thầy, “Peut-on former les enseignants - Một số

vấn đề về đào tạo giáo viên” (1994), tác giả Michel Develay đã xác định: công tác đào tạo giáo viên tốt

hơn sẽ làm giảm đáng kể khả năng thất bại trong việc học của học sinh do đó phải trang bị để GV nắm vững công việc mình giảng dạy hoặc chính xác hơn dạy những gì học sinh cần học [46]

Các tác giả Patrice Pelpel và Troger Vincent trong tác phẩm “Histoire de l’enseignement

technique – Tự đào tạo để dạy học” (2001) cho rằng việc đào tạo GV cần dựa trên quan điểm toàn

diện, cân đối giữa trang bị kiến thức và phương pháp luận bộ môn cũng như những hiểu biết khác để

hình thành một hệ thống năng lực, kĩ năng nghề nghiệp có tính chuyên môn hoá [47]

Trang 11

Các tác giả Tom Peters và Robert Waterman trong “In Search of ExcellenceQuản lí chất lượng tổng thể” đã nêu rõ: “Năng suất thông qua con người – Cần đối xử và xem nhân viên như là nguồn gốc của chất lượng.” [48]

1.2 Cơ sở lí luận của đề tài

1.2.1 Một số khái niệm

* Quản lí: là quá trình tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lí lên

khách thể hay một hệ thống về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế và bằng các luật lệ, chính sách, nguyên tắc, phương pháp cụ thể nhằm tạo ra ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng, làm thay đổi hiện trạng của đối tượng đó hoặc đưa vào hệ thống đó những thuộc tính mới

Quản lí là phương tiện chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hoạt động của con người

nhằm đạt đến mục tiêu đúng ý chí của người quản lí và phù hợp với quy luật khách quan “Mục tiêu

của mọi nhà quản lí là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [10, tr.29]

“Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ

chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy” - Fayel

Quản lý không đơn giản chỉ là khái niệm, nó là sự kết hợp của 3 phương diện

* Thứ nhất, thông qua tập thể để thúc đẩy tính tích cực của cá nhân

* Thứ hai, điều hoà quan hệ giữa người với người, giảm mâu thuẫn giữa các bên

* Thứ ba, tăng cường hợp tác hỗ trợ lẫn nhau, thông qua hỗ trợ để làm được những việc mà một cá nhân không thể làm được, thông qua hợp tác tạo ra giá trị lớn hơn giá trị cá nhân - giá trị tập thể

* Quản lí giáo dục

Dù có rất nhiều định nghiã về quản lí giáo dục nhưng những định nghiã này đều thống nhất về mặt bản chất cuả quản lí giáo dục:

“Quản lí giáo dục là tập hợp những biện pháp kế hoạch hóa nhằm đảm bảo sự vận hành bình

thường cuả các cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt

số lượng cũng như chất lượng”- M.Zade

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì “Quản lí giáo dục thực chất là tác động đến nhà trường

làm cho nó tổ chức tối ưu được quá trình dạy học, giáo dục thể chất theo đường lối và nguyên lí giáo dục cuả Đảng, quán triệt được những tính chất cuả nhà trường xã hội chủ nghiã Việt Nam bằng cách

đó tiến tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái chất lượng mới” [26, tr.75]

Nội dung QLGD bao gồm một số vấn đề cơ bản: xây dựng và chỉ đạo chiến lược, kế hoạch, chính sách phát triển GD; ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục như tiêu chuẩn nhà giáo, CSVC thiết bị trường học, tổ chức bộ máy QLGD, tổ chức chỉ đạo công tác

đào tạo bồi dưỡng đội ngũ, huy động và quản lí việc sử dụng các nguồn lực Tóm lại “Quản lí giáo

Trang 12

dục là tập hợp những biện pháp (tổ chức, cán bộ, kế hoạch hóa ) nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong toàn hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng” [28, tr 93]

Ðó là quá trình nhằm tạo nên sức mạnh, gắn liền các vấn đề lại với nhau trong tổ chức và thúc đẩy các vấn đề chuyển động Mục tiêu của QLGD là tạo ra giá trị thặng dư, tìm ra phương thức thích hợp để thực hiện nhiệm vụ giáo dục đạt hiệu quả cao nhất với chi phí các nguồn lực ít nhất

Quản lí giáo dục có những đặc trưng:

- QLGD là loại quản lí nhà nước Các hành động trong giáo dục dựa trên cơ sở quyền lực nhà nước mà đại diện là các cơ quan QLGD và đào tạo các cấp Mọi hoạt động của chủ thể quản lí và đối tượng chịu sự quản lí đều thông qua hệ thống các quy phạm pháp luật như Luật Giáo dục, Nghị quyết của quốc hội, Nghị định của chính phủ

- QLGD là quản lí con người Quản lí con người trong ngành giáo dục có ý nghĩa là đào tạo con người, dạy cho họ thực hiện vai trò xã hội, những chức năng, nghĩa vụ trách nhiệm, phát triển nghề nghiệp để họ làm tròn trách nhiệm xã hội của mình

- QLGD có 2 thuộc tính chủ yếu là tổ chức kĩ thuật và kinh tế xã hội Trong mọi lĩnh vực của cuộc sống khi đã xuất hiện quản lí thì thuộc tính đầu tiên là tổ chức – kĩ thuật Thuộc tính này thể hiện phải có một tổ chức để thực hiện công tác quản lí và đòi hỏi phải thường xuyên cải tiến, đổi mới công việc nhằm nâng cao hiệu quả chất lượng hoạt động trong tổ chức Thuộc tính kinh tế xã hội thể hiện ở chỗ QLGD có hiệu quả sẽ đem lại lợi ích cho xã hội

1.2.2 Tổng quan về hiệu quả và quản lí hiệu quả

1.2.2.1 Hiệu quả

* Khái niệm: hiệu quả là kết quả mong muốn mà con người chờ đợi và hướng tới; hiệu quả có

nội dung khác nhau ở những lĩnh vực khác nhau Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, là năng suất Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận Trong lao động nói chung, hiệu quả là năng suất lao động, được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc là bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian

Trong xã hội học, một hiện tượng, một sự việc có hiệu quả xã hội, tức là có tác dụng tích cực đối với sự phát triển của một lĩnh vực xã hội đó Hiệu quả là kết quả tối ưu đạt được so với mục tiêu Hiệu quả mô tả các kết quả được thực hiện đích thực và rõ rệt như thế nào so với mục tiêu đề ra

* Quản lí hiệu quả

"Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích"-

Peter F Druker

“Quản lý phải được giới hạn bởi môi trường bên ngoài nó Theo đó, quản lý bao gồm 3 chức năng chính là: quản lý tổ chức, quản lý ban điều hành, quản lý công việc và nhân công" - Peter F

Dalark

Trang 13

Quản lý tổ chức phải theo nguyên tắc: "lấy hiệu quả kinh tế thực tế làm nguyên tắc hoạt động,

nhìn tổng thể lấy thành tích làm cốt lõi"

Quản lý công việc thì nhấn mạnh công việc cần có sức sản xuất và phải thông qua những công

cụ phân tích, tổng hợp, kiểm soát và thí nghiệm

Quản lý nhân công coi trọng nguồn nhân lực, làm cho họ “có cơ hội, chủ động phát huy ưu điểm

của mình, thoả mãn nhu cầu về chức năng và địa vị xã hội của họ trong công việc, đưa đến cho họ cơ hội, quyền lợi như nhau để mỗi người thể hiện giá trị, hoài bão của mình” [45, tr.2]

Trong nội dung, các định nghĩa trên đã đề cập đến bản chất của quản lý là theo đuổi năng suất, hiệu quả. Nếu không quản lý hiệu quả thì tổ chức không thể tồn tại

1.2.2.2 Các khía cạnh thể hiện của hiệu quả

Hiệu quả được đo lường bằng tỉ lệ tương quan giữa đầu ra và mức độ tiêu hao nguồn lực đầu vào, thể hiện ở 3 khía cạnh: hiệu quả về kĩ thuật, hiệu quả về kinh tế, hiệu quả về xã hội

- Hiệu quả về kĩ thuật: cùng một sản lượng nhưng sử dụng ít nguồn lực hơn do thực hiện với

công nghệ có sẵn hoặc với cùng số lượng nguồn lực đầu vào có sẵn, đạt được mức sản lượng tối đa

- Hiệu quả về kinh tế: phản ánh tương quan giữa kết quả đạt được so với hao phí lao động, vật

tư, tài chính Là chỉ tiêu phản ánh trình độ và chất lượng sử dụng các yếu tố, nhằm đạt được kết quả kinh tế tối đa với chi phí tối thiểu

- Hiệu quả về xã hội: phân tích trên lợi ích của toàn xã hội để xem xét sự phát triển chung của

xã hội như mức tăng trưởng, sự công bằng xã hội, sự phát triển cộng đồng và cả về môi trường Hiệu quả xã hội được đo lường bằng mức độ công bằng trong phân bổ nguồn lực toàn xã hội, nếu tái phân

bổ lợi ích, tổng lợi ích xã hội có thể được tăng thêm

Trong đào tạo, hiệu quả được xem là đại lượng cho biết giá trị của kết quả đạt được ở đầu ra so với mục tiêu và so với giá trị của nguồn lực đầu vào của chu trình đào tạo

Hiệu quả đào tạo thường được xem xét dựa trên 3 tiêu chí cơ bản: Chất lượng đào tạo; mức độ đáp ứng mục tiêu kinh tế xã hội; hiệu suất sử dụng các nguồn lực sau đào tạo

1.2.3 Chất lượng và hệ thống quản lí chất lượng

Ngày nay, chất lượng là một trong những phạm trù quan trọng và thường gắn với lợi thế cạnh tranh cơ bản của một tổ chức Thực tế cho thấy việc hiểu đúng, đầy đủ khái niệm quản lí chất lượng và mối quan hệ của nó với hoạt động của hệ thống góp phần quan trọng để hoạt động quản lí được triển khai một cách có hiệu quả

Trang 14

“Chất lượng tốt không nhất thiết là chất lượng cao, nó có nghĩa là mức độ đồng đều ( về hình

thức, về tính chất ) và sự tin cậy với giá thành thấp nhưng chất lượng được thị trường chấp nhận.”-

W.E.Deming

Từ những định nghĩa trên ta có thể rút ra một số đặc điểm của khái niệm chất lượng :

 Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu Nếu 1 sản phẩm vì 1 lí do nào đó không được nhu cầu chấp nhận thì phải coi là chất lượng kém cho dù công nghệ chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại

 Chất lượng quan tâm đến các yếu tố: đạt được yêu cầu, ổn định và phù hợp, sự tin cậy

 Chất lượng không phải chỉ là thuộc tính của sản phẩm, chất lượng còn áp dụng cho một hệ thống, một quá trình

Trong giáo dục, chất lượng là một lĩnh vực rộng bao gồm các tiêu chuẩn, kết quả, quá trình giảng dạy học tập, sinh hoạt của nhà trường với sự tương hợp giữa mục tiêu chương trình và khả năng của người học sau khi tốt nghiệp.(Frazer 1992,1994)

Hệ thống chất lượng bao gồm cơ cấu tổ chức, các thủ tục, quá trình và các nguồn lực cần thiết

để thực hiện quản lí chất lượng

1.2.3.2 Các mô hình quản lí chất lượng

Với sự tiến bộ của xã hội loài người, công nghiệp và dịch vụ ngày càng phát triển, hàng hóa sản xuất ngày càng nhiều, con người ngày càng quan tâm đến chất lượng hơn Chính vì lẽ đó mà khoa học quản lí chất lượng được hình thành, trước hết ở trong công nghiệp, sau đó được đưa vào áp dụng trong giáo dục Ba cấp độ quản lí chất lượng được nhiều người biết đến là: kiểm soát chất lượng (Quality Control), đảm bảo chất lượng (Quality assurance) và quản lí chất lượng tổng thể (Total Quality Management )

* Kiểm soát chất lượng là hình thức quản lí chất lượng đã được sử dụng lâu đời nhất, được thực

hiện ở khâu cuối cùng trong quá trình đào tạo (sản xuất) nhằm phát hiện, loại bỏ toàn bộ hay từng phần

ở sản phẩm cuối cùng do không đạt các chuẩn mực chất lượng quy định hoặc làm lại, nếu có thể Đây

là quá trình xảy ra sau khi sản phẩm đã được tạo ra nên nếu phải loại bỏ sẽ dẫn đến lãng phí nguyên vật liệu, thời gian và công sức

* Đảm bảo chất lượng là cấp độ quản lí chất lượng tiến bộ hơn kiểm soát chất lượng, được

thực hiện trước và trong quá trình sản xuất và đào tạo Đảm bảo chất lượng là toàn bộ các hoạt động có

kế hoạch, có hệ thống được tiến hành trong hệ thống chất lượng và được chứng minh là đủ mức cần thiết để khách hàng thỏa mãn yêu cầu chất lượng Đảm bảo chất lượng nhằm phòng ngừa sự xuất hiện

những sản phẩm có chất lượng thấp, Philip B.Crossby gọi là “nguyên tắc không lỗi”, “làm đúng ngay

từ đầu và làm đúng ở mọi thời điểm” ( Sallis, 1993)

* Quản lí chất lượng tổng thể là cấp độ quản lí chất lượng cao nhất hiện nay Quản lí chất

lượng tổng thể có mối quan hệ chặt chẽ với đảm bảo chất lượng, tiếp tục và phát triển toàn hệ thống

Trang 15

đảm bảo chất lượng Quản lí chất lượng là việc tạo ra nền văn hóa chất lượng, nơi mà mục đích của mọi người trong tổ chức kinh doanh làm hài lòng khách hàng, nhà trường làm hài lòng người học (trên phương diện học thuật) [48]

1.2.3.3 Quản lí chất lượng và chất lượng giáo dục

* Quản lí chất lượng :

John S Oakland (đại học Bradfort- vương quốc Anh) cho rằng hiện nay chúng ta đang đứng

giữa cuộc “cách mạng chất lượng” vì trong nền kinh tế thị trường, giá thành giảm và chất lượng sản

phẩm luôn được cải thiện luôn là yếu tố sống còn đối với bất kì tổ chức nào [11, tr.152]

Theo tiêu chuẩn ISO 9000:2005, quản lí chất lượng là “các hoạt động có phối hợp nhằm định

hướng và kiểm soát một tổ chức về mặt chất lượng” Quản lí chất lượng là quá trình nhằm nâng cao

khả năng đạt được các kết quả, các yêu cầu đã hoạch định trước thông qua việc áp dụng một cách nhất quán những phương pháp tiêu chuẩn, thực hiện bởi những người có đủ nhận thức và năng lực, được cung cấp thông tin, cơ sở vật chất và môi trường làm việc thích hợp

Mục đích của quản lí chất lượng là “nâng cao sự thỏa mãn của khách hàng, cải tiến liên tục hệ

thống, bảo đảm sự phù hợp với các yêu cầu của khách hàng và yêu cầu chế định được áp dụng” - ISO

9000:2000

Là một phần của công tác quản lí chung, quản lí chất lượng có mối quan hệ chặt chẽ với các lĩnh vực quản lí khác của một đơn vị, và việc quản lí tốt các mối quan hệ này giúp nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lí chất lượng Phần lớn quan hệ giữa quản lí chất lượng và quản lí chung được thể hiện

ở ba phương diện chính là quản lí chiến lược, quản lí tác nghiệp và tổ chức Quản lí chất lượng chỉ có thể được thực hiện, duy trì và cải tiến một cách có hiệu quả khi ba phương diện này được giải quyết tốt trong quá trình xây dựng và duy trì hệ thống quản lý chất lượng

* Chất lượng giáo dục:

Theo cách tiếp cận hệ thống và tổng thể ta thấy giáo dục được tổ chức từ nhiều thành tố vật chất

và tinh thần, có thể quan sát và cảm nhận được, đó là nguồn lực người, cơ sở vật chất, các hoạt động, các mối quan hệ, môi trường hoạt động, kết quả (sản phẩm) được thể hiện trong các lĩnh vực: quản lí giáo dục, đào tạo sư phạm, nghiên cứu và thông tin giáo dục, quá trình và hoạt động giáo dục

Chất lượng giáo dục được toàn xã hội đặc biệt quan tâm vì chất lượng giáo dục có ý nghĩa quyết định đến chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Theo tác giả Đặng Thành Hưng chất lượng giáo dục là “tổng hòa những thuộc tính đặc điểm

bản chất của tất cả những bộ phận thuộc nền giáo dục nhất định, làm cho nền giáo dục đó có khả năng đáp ứng các mục tiêu phát triển đất nước bền vững, thỏa mãn nhu cầu và lợi ích của nhân dân và sự phát triển của người học” [19]

Theo tác giả Nguyễn Đức Chính: “chất lượng giáo dục được đánh giá qua mức độ trùng khớp

với mục tiêu định sẵn” [2]

Trang 16

Định nghĩa này tương đồng với quan niệm về chất lượng của hầu hết các tổ chức đảm bảo chất lượng trên thế giới Sự phù hợp với mục tiêu có thể bao gồm việc đáp ứng đòi hỏi của những người quan tâm như các nhà quản lí, nhà giáo hay các nhà nghiên cứu giáo dục và còn bao gồm cả sự đáp ứng hay vượt qua các chuẩn mực đã được đặt ra trong giáo dục và đào tạo Sự phù hợp với mục tiêu cũng

đề cập đến những yêu cầu về sự hoàn thiện của đầu ra, hiệu quả của đầu tư

“Các hệ thống đảm bảo chất lượng giáo dục không đảm bảo cho việc dạy và học tốt nhưng việc dạy và học tốt thường được phát huy khi vấn đề chất lượng được mọi người cùng quan tâm”

(William, 1992)

Chất lượng giáo dục được hình thành từ chất lượng của nhiều lĩnh vực thuộc giáo dục trong

đó có đào tạo giáo viên Chất lượng đào tạo giáo viên được tăng cường sẽ góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng giáo dục

1.2.4 Các quan điểm phát triển GD & ĐT của Đảng và Nhà nước

1.2.4.1 Các quan điểm phát triển giáo dục-đào tạo

* Ngày 15 tháng 6 năm 2004, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 40 CT/TW về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục

-* Hội nghị lần thứ IX Ban chấp hành TW Đảng khóa IX đã khẳng định:

Tập trung chỉ đạo quyết liệt việc nâng cao rõ rệt chất lượng giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực.Giải pháp then chốt là đổi mới và nâng cao năng lực quản lí nhà nước trong giáo dục và đào tạo đẩy mạnh đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục theo hướng hiện đại cùng với đổi mới cơ chế quản lí Khẩn trương triển khai đề án phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên… [39, tr.92]

* Chương trình công tác năm 2008 của Bộ GD-ĐT đã đề ra 5 nhóm nhiệm vụ và giải pháp

trọng tâm cần thực hiện trong đó những giải pháp có liên quan đến công tác đào tạo GV là:

Giải pháp 1: chăm lo và đầu tư cho phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD : xây dựng

chương trình tự học về đổi mới PP dạy, đổi mới kiểm tra, đánh giá cho tất cả GV từ tiểu học đến THPT Có chính sách đặc thù để phát triển GV sư phạm và các môn học còn thiếu GV: tiếng Anh, Tin học, Âm nhạc, Mỹ thuật, tiếng dân tộc, GD quốc phòng – an ninh

Giải pháp 2: xây dựng đề án chương trình đào tạo theo nhu cầu xã hội giai đoạn 2008 -2015, tổ

chức các hội thảo quốc gia đào tạo theo nhu cầu xã hội phục vụ các ngành kinh tế trọng điểm, hỗ trợ đào tạo nhân lực, thành lập trung tâm dự báo nhu cầu GD

Giải pháp 3: nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục- đào tạo, hiện đại hóa giáo dục với chi phí

thấp, cụ thể là tiếp tục đổi mới PP kiểm tra – đánh giá, khuyến khích tự học, ứng dụng công nghệ thông tin, đảm bảo chất lượng và hiệu quả với cả người học và người dạy trong một trường, giữa các trường

Trang 17

Giải pháp 4: đổi mới cơ chế tài chính của nền giáo dục, thực hiện xã hội hóa mạnh mẽ, tăng

ngân sách cho giáo dục- đào tạo và nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, triển khai chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục- đào tạo đến năm 2010 gắn với tiêu chí hiệu quả, hỗ trợ đào tạo giáo viên

Giải pháp 5: thực hiện phân cấp và quản lí theo tiêu chí chất lượng, tiến hành cải cách hành

chính mạnh mẽ, xây dựng và công bố các tiêu chí về chất lượng các loại hình trường học, chất lượng chương trình đào tạo, chất lượng đội ngũ nhà giáo ở phổ thông, GD chuyên nghiệp và ĐH Thực hiện kiểm định, đánh giá chất lượng các trường phổ thông, hoàn thiện và ban hành điều lệ nhà trường các cấp, quy chế tổ chức và hoạt động đối với các loại hình trường

1.2.4.2 Một số văn bản pháp quy có liên quan đến công tác đào tạo GV

* Thông tư 28/TT-TC (1984), hướng dẫn và tổ chức hoạt động của trường bồi dưỡng giáo dục huyện của Bộ giáo dục và đào tạo

* Văn bản số 16 /ĐTBD (1990), hướng dẫn thực hiện thông tư 28/TT-TC về hoạt động bồi

dưỡng giáo viên của trường ĐTBD huyện của Bộ giáo dục - đào tạo

* Luật giáo dục 2005 (chương IV điều 77, 80 )

* Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 2/8/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật giáo dục 2005 (Chương V, điều 30)

* Quyết định số 04/2008/QĐ-BGDĐT ngày 4/2/2008 quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trường tiểu học

1.2.5 Đào tạo nghề và chất lượng giáo viên

1.2.5.1 Khái niệm

Theo từ điển giáo dục học, đào tạo là “quá trình chuyển giao một cách có hệ thống, có phương

pháp những kinh nghiệm, kiến thức, kĩ năng thực hành, thao tác có liên quan đến quy trình thực hiện một nghề hay một lĩnh vực cụ thể, đồng thời dạy những phẩm chất đạo đức cần thiết giúp người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng nghề một cách có hệ thống để thích nghi và có khả năng đảm nhận một công việc hoặc đi vào cuộc sống lao động.”

Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông, đào tạo là “thực hiện những tác động nhằm làm cho người

học trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định” Đào tạo chỉ sự giáo-hóa, việc

truyền những khả năng thực hành, những hiểu biết lý thuyết và những kĩ năng cần thiết để giữ một chức vụ trong đời sống kinh tế

Giáo dục và đào tạo tuy có những đặc thù riêng nhưng đều nằm trong quá trình học tập suốt đời của con người Đào tạo là khâu nối tiếp của giai đoạn giáo dục, chuẩn bị cho con người những hành trang cần thiết về kiến thức và kĩ năng nghề nghiệp để cá nhân bước vào cuộc sống, lao động, sáng tạo

Khái niệm đào tạo thường có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục, nói đến đào tạo là đề cập đến giai đoạn sau của cuộc đời học tập, khi người học đã ở một độ tuổi nhất định và có một trình độ kiến thức nhất định Đào tạo nhấn mạnh đến việc tiếp thu các kĩ năng tuy nhiên kiến thức tích lũy lại có thể

Trang 18

là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển kĩ năng Có nhiều hình thức đào tạo: đào tạo cơ bản, đào tạo chuyên sâu, đào tạo nghề, đào tạo lại, tự đào tạo

1.2.5.2 Đào tạo sư phạm

Đào tạo sư phạm là một loại hình đào tạo nghề, là quá trình được hoạch định có mục đích nhằm nâng cao kĩ năng thực hành nghề chuyên môn của cá nhân, nó là sự mong muốn của GV hoặc của đôi

bên: cá nhân người GV và tổ chức QLGD Đào tạo sư phạm là “những quy trình chính quy mà quản lí

ngành giáo dục sử dụng để thúc đẩy học tập sao cho kết quả đạt được góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu và mục đích giáo dục” (William McGehee, 1979)

Theo Max Foster, đào tạo sư phạm phải tạo điều kiện và thúc đẩy giáo viên thực hiện 4 điều sau:

1 Dấy lên sự hưởng ứng của những người khác

2 Phát triển kiến thức, kĩ năng và thái độ

3 Tạo nên sự thay đổi trong hành vi

4 Đạt được những mục tiêu cụ thể

Chất lượng giáo viên hình thành và biến đổi trong suốt quá trình phát triển của nghề ở các khâu

cơ bản là đào tạo sư phạm ban đầu, đào tạo lại (bồi dưỡng chuyên môn, bồi dưỡng nghề nghiệp, đào tạo nâng chuẩn), tự bồi dưỡng Hệ thống đào tạo sư phạm có trách nhiệm chủ yếu về chất lượng giáo viên ở 2 khâu: đào tạo ban đầu và đào tạo lại

+ Đào tạo sư phạm ban đầu tạo ra chất lượng nền của giáo viên, còn gọi là chất lượng xuất

phát trong quá trình phát triển nghề nghiệp của GV Đào tạo sư phạm ban đầu trang bị cho GV những kiến thức vừa cơ bản vừa chuyên sâu, thời gian đào tạo dài

Ngoài việc hình thành chất lượng nền, đào tạo ban đầu còn chi phối mạnh mẽ chất lượng hoạt động nghề nghiệp lâu dài của giáo viên, chất lượng và hiệu quả của hoạt động bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng đáp ứng chương trình mới, bồi dưỡng chuẩn hóa nghề nghiệp và thậm chí cả năng

lực và khả năng tự bồi dưỡng của họ nữa

+ Đào tạo lại (bồi dưỡng): đây là quá trình đào tạo tiếp tục nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng

kĩ năng nghề, trang bị thêm những kiến thức mới, cập nhật với thực tiễn, tạo nên những thay đổi ở chất lượng nền của người giáo viên và hình thành chất lượng nền khác trước, cao hơn hoặc thích hợp hơn Đào tạo lại có mối quan hệ hữu cơ hỗ trợ, bổ sung nhiều mặt rất chặt chẽ với đào tạo ban đầu Bởi vì không có nghề nào, chỉ cần đào tạo một lần là xong để làm việc suốt đời mà không cần phải cập nhật kiến thức, nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ

+ Các loại hình đào tạo lại

- Bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm là hoạt động nhằm thường xuyên bổ sung, cập nhật, đào tạo tiếp

tục và đào tạo lại về chuyên môn, nghiệp vụ cho người GV, bao gồm bồi dưỡng thay sách giáo khoa dạy chương trình mới, bồi dưỡng thường xuyên theo chu kì, bồi dưỡng theo chuyên đề

Trang 19

* Hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm tổ chức tại địa phương theo kế hoạch hàng năm của

bộ Giáo dục, thực hiện trong thời gian hè và tổ chức thành các lớp tập huấn với số lượng từ 50 -60 người/lớp, thời gian bồi dưỡng một môn từ 1-2 ngày, kết hợp giữa nghe báo cáo viên truyền đạt, xem băng hình các tiết dạy chuẩn và thực hành tổ chức các hoạt động Hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm chủ yếu để giúp GV cập nhật phương pháp và hình thức giảng dạy mới, không kiểm tra, đánh giá mức độ hoàn thành trên từng cá nhân

* Hoạt động bồi dưỡng thường xuyên theo chu kì giúp GV nâng cao chuyên môn nghiệp vụ,

nắm bắt những vấn đề mới trong đổi mới giáo dục, chương trình, sách giáo khoa Đây là giải pháp nhằm giải quyết 2 mâu thuẫn: mâu thuẫn giữa sự tăng nhanh khối lượng tri thức của loài người với trình độ đào tạo ban đầu của người GV và mâu thuẫn giữa yêu cầu giảng dạy các tri thức khoa học tiên tiến, hiện đại với điều kiện, khả năng cập nhật các kiến thức của bản thân từng GV.Tài liệu bồi dưỡng được biên soạn theo phương pháp giáo dục từ xa, gồm tài liệu in và băng hình minh họa diễn tả việc thực hiện phương pháp dạy học đối với 1 dạng bài học hoặc 1 nhánh kiến thức Phương thức bồi dưỡng lấy tự học, tự bồi dưỡng là chủ yếu Hình thức đánh giá là thực hành bài kiểm tra và cấp giấy chứng nhận cho GV có kết quả đánh giá đạt yêu cầu trở lên

* Hoạt động bồi dưỡng theo chuyên đề nhằm cập nhật và đáp ứng những yêu cầu cấp thiết đặt ra

trong đời sống xã hội, trong cuộc sống hiện tại cũng như trong giáo dục Có những chuyên đề tổ chức bồi dưỡng cho tất cả GV tiểu học trên cả nước (giáo dục môi trường, giáo dục an toàn giao thông, phòng chống dịch bệnh, giáo dục hòa nhập…), có những chuyên đề tổ chức bồi dưỡng cho 1 bộ phận GVTH hoặc ở một số địa phương, cơ sở giáo dục (dạy tiếng dân tộc cho HS người dân tộc, dạy lớp ghép ở những địa phương có nhu cầu ) Phương thức bồi dưỡng là tổ chức hội thảo nghe báo cáo, trao đổi kinh nghiệm

- Bồi dưỡng chuẩn hóa và bồi dưỡng trên chuẩn

Để đáp ứng việc mở rộng quy mô giáo dục và yêu cầu phổ cập, ngành giáo dục đã mở nhiều lớp đào tạo cấp tốc GVTH, thỏa mãn nhu cầu học tập của trẻ em khắp mọi miền đất nước Đây chính là nguồn gốc ra đời của thế hệ GV sư phạm cấp tốc 7+1 (tháng), 7+3, 9+3 Số GV này tuy trình độ, năng lực còn yếu nhưng có nhiều yếu tố phù hợp để thực hiện việc quản lí và dạy học sinh biết đọc và viết tiếng Việt Đến nay việc phát triển giáo dục tiểu học đã đi vào ổn định, tình trạng thiếu GVTH cơ bản

đã được khắc phục, thực tiễn mới đòi hỏi phải thống nhất trên cả nước về chuẩn năng lực nghề nghiệp của GVTH, bắt đầu giai đoạn chuyển từ quản lí số lượng sang quản lí chất lượng đối với đội ngũ GVTH

- Những GVTH có trình độ ban đầu là SP cấp tốc, 9+3, 12+1 lần lượt được tham gia học các lớp nâng chuẩn cho đến hệ đào tạo trung học sư phạm 12+2 Quá trình đào tạo này được gọi tên chung

là bồi dưỡng chuẩn hóa

Trang 20

- Từ những năm 90 của thế kỉ XX, xuất hiện các hệ cao đẳng SP, Đại học SP tuyển HS tốt nghiệp phổ thông đào tạo thành GVTH, đồng thời những GVTH có trình độ trung học sư phạm tiếp tục tham gia các khóa đào tạo lên CĐSP, Cử nhân Tiểu học, một bộ phận GVTH ưu tú đã được cử đi đào

tạo Thạc sĩ Quá trình đào tạo này được gọi tên chung là bồi dưỡng trên chuẩn Chương trình đào tạo trên chuẩn thực hiện nhiệm vụ “nâng dần tỉ lệ GVTH có trình độ cao đẳng sư phạm, đại học sư phạm”

tạo ra đội ngũ GVTH có nhiều trình độ, trong đó mỗi tập thể SP có những GV trên chuẩn chung, làm nòng cốt nâng cao chất lượng dạy học [22, tr.33]

1.2.5.3 Chất lượng giáo viên

Giáo viên là nhân tố thuộc cả hai lĩnh vực đào tạo và giáo dục vì giáo viên là sản phẩm đầu ra của hệ thống đào tạo sư phạm và là nguồn nhân lực đầu vào của quá trình hoạt động giáo dục

Theo nghĩa tổng thể, chất lượng GV bao gồm 3 thành tố nhưng thành tố chính để quyết định chất lượng nằm ở khâu đào tạo Qua đào tạo người GV có thể khắc phục những khuyết điểm chủ quan, rèn luyện phẩm chất và năng lực sư phạm, có thể xác định cụ thể hơn mục đích và phương pháp giáo dục Họ có thể lường trước kết quả giáo dục của những quyết định đã đưa ra, khéo léo xây dựng những mối quan hệ, tìm được cách giải quyết đúng, gây được tác động tích cực đến HS

Chất lượng giáo viên không phải là đại lượng bất biến, nó thay đổi và phát triển tích cực nếu môi trường hoạt động nghề nghiệp thuận lợi và nó suy thoái nếu môi trường và hoạt động nghề nghiệp của GV không tốt, không hiệu quả

1.2.6 Những thay đổi tác động đến nội dung đào tạo giáo viên tiểu học

1.2.6.1 Môi trường thế giới thay đổi

Khoa học và công nghệ phát triển nhanh đã đem lại thay đổi trên toàn cầu, trong các lĩnh vực, đặc biệt trong hệ thống giáo dục Máy tính và hệ thống thông tin trở thành phương tiện giúp con người

mở rộng giao tiếp, cập nhật, tích lũy kho tàng trí tuệ của nhân loại lên từng cá nhân với khối lượng và tốc độ rất nhanh

Môi trường học tập khác hẳn truyền thống đã ảnh hưởng rất lớn đến phương pháp học của học sinh Cá nhân phải có kĩ năng học tập tích cực, giải quyết vấn đề, làm việc theo đội nhóm, thực hiện trách nhiệm công dân, hợp tác trong các tập thể Không chỉ thể hiện ở nội dung kiến thức, PP học cũng đem đến những giá trị riêng cho mỗi người đi học và kiến thức ngày hôm nay có được sẽ trở thành lỗi thời nhanh hơn trước rất nhiều

Môi trường học hiện tại cũng làm thay đổi cả quan niệm về năng lực và trí thông minh của người học Chỉ số thông minh (IQ - Intelligence Quotient) vẫn giữ vị trí quan trọng nhưng chỉ số hiếu học (CQ -Curiosity Quotient) và chỉ số đam mê (PQ – Passion Quotient) còn quan trọng hơn Quan

niệm mới này có thể diễn đạt bằng phương trình CQ + PQ > IQ: sự hiếu học cộng lòng đam mê quan

trọng hơn trí thông minh [31]

Trang 21

Về sinh học, mỗi bán cầu não người điều khiển một chuỗi hoạt động tư duy khác nhau, việc tập trung rèn luyện để phát huy sức mạnh của bán cầu não nào là rất quan trọng và liên quan đến mục tiêu dạy học Daniel Pink, (nhà báo Mỹ, tác giả cuốn New York times, BusinessWeek bestseller 2007) đã viết:

“Mãi gần đây, bán cầu não trái vẫn còn chi phối khả năng thành công trong học tập, công việc

hay kinh doanh Ngày nay năng lực đó vẫn cần thiết song không còn đủ nữa

Trong một thế giới bị đảo lộn bởi việc cho thuê làm bên ngoài, tràn ngập thông tin và đầy rẫy các lựa chọn thì những khả năng quan trọng nhất gần với bán cầu não phải hơn Đó là khả năng cảm thụ nghệ thuật, biết cảm thông, có tầm nhìn và khát vọng lớn Để thành công cần bổ sung khả năng suy tưởng cao và sự mẫn cảm cao, nghĩa là tạo ra các vẻ đẹp thẩm mỹ và xúc cảm.”

Kết luận này cũng phù hợp với xu hướng giáo dục hiện nay, các nhà trường phổ thông hiện đại không chỉ chú ý rèn luyện khả năng tư duy, phân tích logic mà còn rất quan tâm đến việc hình thành khả năng suy tưởng, cảm xúc thẩm mỹ cho HS

Những trọng tâm này chưa được nhà trường truyền thống trước đây đề cập tới và trang bị cho

GV cũng như HS Tiến bộ xã hội đang gây sức ép buộc hệ thống giáo dục nước ta phải có những thay đổi khẩn trương để có thể cung cấp cho xã hội những con người phù hợp với yêu cầu của xã hội hiện đại

1.2.6.2 Cơ hội học tập của người học thay đổi

Trẻ em là đối tượng giáo dục của người GVTH cũng đang thay đổi cùng với thế giới xung quanh Trước đây cơ hội học tập của trẻ hầu hết không xảy ra trong trường học mà chủ yếu từ quan sát thực tế và bắt chước người lớn, tri thức và kĩ năng thu được qua quan sát và quá trình tương tác Việc học tập chủ yếu thông qua phạm sai lầm, trẻ quan sát cách làm và tự sửa các sai lầm

Học sinh trong thời đại hiện nay làm quen và nắm được ngay các thao tác phức tạp của công nghệ số, học và chơi trò chơi trên máy tính trong thực tiễn đang trở thành một phần của việc giáo dục

con người, “Công nghệ mới đã tác động lên sự ưa thích học tập của học sinh” (TS John Seely Brown,

ĐH Antioch )

Trẻ em có nhiều cơ hội học tập hơn trước và thời gian học cũng nhiều hơn qua sự mở rộng của

hệ thống truyền thông đa phương tiện Cùng một ngày, trẻ có thể tiếp nhận thông tin từ nhiều chiều, nhiều môi trường học và nhiều kênh thông tin khác nhau Việc học ở trường với sách giáo khoa và lời giảng của GV chỉ là một trong những nguồn thông tin đến với trẻ

Tác động giáo dục của nhà trường hiện đại có ảnh hưởng nhiều hay ít tùy thuộc vào việc nhà trường (GV) đã thiết kế các hoạt động học tập như thế nào, tổ chức môi trường học ra sao, tạo ra những yêu cầu và cơ hội sáng tạo gì cho mọi cá nhân HS cùng thực hiện

1.2.6.3 Quan điểm giáo dục thay đổi

Trang 22

Đã có nhiều chuyên gia đưa ra nhận định của mình về sự thay đổi của quan điểm giáo dục ngày nay:

Theo Ph Mayao, tổng giám đốc UNESCO: “Giáo dục không phải là chỉ tích tụ tri thức mà là

thức tỉnh tiềm năng sáng tạo to lớn trong mỗi con người”

GS Peter Vaill (ĐH Antioch) nhấn mạnh: “Mục tiêu quan trọng của giáo dục là giúp học sinh

trở thành chuyên gia thích ứng ”

“Sự hữu hiệu của hệ thống giáo dục phải được đo bằng khả năng trang bị cho con em chúng ta

những năng lực đối phó một cách thành công với một thế giới không ngừng thay đổi” (Thủ tướng

Singapore Lý Hiển Long, tháng 9-2006)

Những nhận định trên của các chuyên gia dù đứng ở các góc độ khác nhau nhưng cũng thống nhất ở mục tiêu giáo dục ngày nay là hướng tới từng học sinh, khuyến khích HS phát triển tiềm năng sáng tạo, phát huy thế mạnh của bản thân để trở thành các nhà chuyên môn, có khả năng tiếp cận tới những tình huống mới một cách linh hoạt và học trong cả đời mình Không chỉ dùng những điều đã học, trẻ còn có khả năng tự nhận thức chính việc học và nỗ lực vượt lên mức độ đặt ra của kế hoạch học tập

Giáo dục trở thành tư duy mới trong “sự chuyển đổi từ thời đại thông tin sang thời đại khái

niệm” (Daniel Pink), vai trò tổ chức và điều khiển của người GV càng rõ nét hơn, càng khó khăn hơn,

nhất là GV dạy tiểu học

Giáo dục tiểu học phải nâng đỡ trẻ em phát triển thuận lợi về thể chất, tinh thần đồng thời phải ngăn chặn những khó khăn nảy sinh trong quá trình nhận thức của trẻ, nhất là tăng cường hỗ trợ trẻ phát triển ý thức lành mạnh về lòng tự trọng thông qua các bài học đạo đức Thế giới kinh nghiệm của trẻ phải được làm giàu, khi trẻ tự mình khám phá và bộc lộ kĩ năng cá nhân ở các lĩnh vực quan tâm mới khác (new areas of interest)

Người GVTH phải dạy cách học để trẻ có khả năng tự nhận biết điều đúng sai để các hành động

ứng xử có trách nhiệm của trẻ sẽ biểu hiện nhiều hơn, hướng dẫn trẻ thực hiện các quy tắc cùng tồn tại (rules of co- existence) và cam kết thực hiện các quy tắc đó Dạy trẻ tiếp thu những chuẩn mực của xã hội, hiểu được ý nghĩa của các chuẩn mực này như là một phần trong cuộc sống hàng ngày Trẻ phải được dạy cách kiểm soát bản thân tốt hơn và cách thức ứng phó với các tình huống, trẻ phải được hướng dẫn để hiểu được giá trị bình đẳng và cách giữ gìn sức khỏe tùy theo từng độ tuổi

Người GVTH phải tổ chức cho trẻ em hình thành kĩ năng tự khám phá, với các sự kiện và hiện

tượng gắn liền với môi trường sống của trẻ Các bài thực hành và các hoạt động phải dựa trên khả năng tiếp thu của trẻ, phải hướng vào mục đích cụ thể và mang tính thử thách Người GVTH phải đặt hoạt động giảng dạy trẻ tiểu học trên cơ sở những hoạt động vui chơi và phải nhằm nâng đỡ khả năng ngôn ngữ và thúc đẩy sự phát triển tiềm năng của trẻ

Trang 23

Những yêu cầu mới về GD tiểu học cho thấy để thực hiện đầy đủ trách nhiệm, người GV dạy tiểu học phải thực sự là một nhà giáo có kĩ năng ưu việt về khoa học giáo dục và tâm lí sư phạm Giáo dục trẻ ở tuổi tiểu học là giúp hình thành một con người Những gì có được ở lứa tuổi này sẽ đặt nền tảng cho toàn bộ sự phát triển về sau vì:

- Đây là thời kì hình thành về thể chất của một chủ thể Mục tiêu phát triển con người bắt đầu từ việc phát triển hợp lí và cân đối về hình dáng, sức vóc Việc quan tâm đến hình thành thể chất yêu cầu người GVTH phải phát triển ở trẻ năng lực của các giác quan, các bộ phận tay, chân Những năng lực này có ý nghĩa rất lớn đối với việc học tập, bồi dưỡng những kĩ năng lao động, sáng tạo, thưởng thức nghệ thuật không chỉ cần cho trẻ trong những năm tiểu học mà còn cần trong suốt cuộc đời

- Chơi là đặc điểm nổi bật trong hoạt động của trẻ tiểu học Nhiều điều người lớn phải học, phải tập một cách khó khăn mới đạt được thì trẻ em dễ dàng có được trong khi chơi (bơi lội, đi xe đạp, học ngoại ngữ) Người GVTH phải được đào tạo để hiểu chơi là phương thức giáo dục quan trọng với trẻ

và vận dụng điều này vào giáo dục trẻ

Với chức năng là người GV tổng thể, tổ chức toàn bộ quá trình phát triển của trẻ bằng phương thức của nhà trường, GVTH phải dạy đủ môn trong chương trình và thực hiện công tác chủ nhiệm trong một lớp học

1.2.6.4 Quan điểm đánh giá giáo viên thay đổi

Trước đây trình độ giáo viên thường được sử dụng làm tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục với hai chỉ số chính: trình độ học vấn nói chung của GV và tỉ lệ GV được đào tạo để tham gia giảng dạy theo chuẩn quy định

Sự xuất hiện xu hướng “cải cách GD dựa trên các chuẩn” đã hình thành bộ chuẩn cho giáo

dục ở nước ta bao gồm: chuẩn chất lượng giáo dục, chuẩn nhà trường, chuẩn cán bộ quản lí, chuẩn giáo viên Trong bộ chuẩn cho giáo viên có chuẩn trình độ đào tạo, chuẩn nghề cho từng ngành, từng cấp và bắt đầu áp dụng đánh giá GV theo chuẩn từ năm học 2007-2008 Chuẩn nghề GV là mô hình cấu trúc nhân cách và hoạt động sư phạm, phản ánh những yêu cầu về phẩm chất và năng lực của giáo viên với những tiêu chí cụ thể :

- Năng lực tìm hiểu đối tượng, môi trường giáo dục

- Năng lực xây dựng kế hoạch giáo dục

- Năng lực thực hiện kế hoạch giáo dục

- Năng lực kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục

- Năng lực hoạt động xã hội

- Năng lực giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn giáo dục

- Năng lực phát triển nghề nghiệp

Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của giáo dục, ngoài những năng lực thiết yếu trên, người GVTH còn phải được đào tạo để có những kĩ năng mới:

Trang 24

 Kĩ năng quản lí và tổ chức các hoạt động GD, giao tiếp và quản lí các dự án

 Kĩ năng sử dụng thành thạo kĩ thuật thông tin mới như Internet, giảng dạy bằng phương tiện công nghệ thông tin, thiết kế giáo án bằng phần mềm điện tử

 Kĩ năng tiếp cận với các PP mới trong các lĩnh vực đặc biệt của việc giảng dạy như đánh giá

hồ sơ, giảng dạy dựa trên vấn đề

 Kĩ năng tiếp xúc và làm quen với môi trường GD mới, với các tổ chức và dự án, các thuật ngữ

và cách làm việc mới trong đó việc đánh giá GV, hệ thống kiểm tra, đảm bảo chất lượng, tự chủ và tính chịu trách nhiệm sẽ trở thành những khái niệm và hoạt động thường xuyên [4]

Những thay đổi trên tạo ra khoảng cách giữa thực tiễn và nội dung đào tạo sư phạm đã trang bị trước đây cho người GV Để thu hẹp sự khác biệt ấy, công tác đào tạo bồi dưỡng giáo viên phải thực hiện việc cải thiện nguồn lực GVTH ngay từ điểm gốc, đó là trình độ nghiệp vụ của người thầy

1.2.7 Quy trình và hệ thống quản lí nghiệp vụ đào tạo giáo viên tiểu học

1.2.7.1.Khái niệm

- Theo từ điển bách khoa toàn thư, quy trình quản lí là “quá trình hoạt động của các chủ thể

quản lí tập hợp thành một cơ chế được quy định theo một trình tự lôgic, nhằm đạt được những mục tiêu quản lí đã được đề ra bằng cách thực hiện những chức năng quản lí nhất định, tuân thủ theo những nguyên tắc quản lí và vận dụng những phương pháp quản lí thích hợp Hoạt động này có kế hoạch vĩ mô (các quá trình giữa tất cả các cơ quan quản lí hay giữa những nhóm cơ quan quản lí) và

kế hoạch vi mô (các quá trình trong nội bộ cơ quan quản lí, ở từng nơi làm việc ) Quy trình quản lí thường gồm 7 khâu: xây dựng kế hoạch, tổ chức, biên chế, chỉ huy, điều phối, báo cáo, lập ngân sách Quy trình quản lí chiếm vị trí đặc biệt trong hệ thống quản lí, đặc trưng cho đời sống thực tế của hệ thống quản lí sản xuất như tính tổng hợp, tính liên ngành, tính kế hoạch, tính hệ thống, mang nhiều yếu

Trang 25

lực có trình độ cao cho xã hội, đặc biệt là đáp ứng nhu cầu học tập và giáo dục của nhân dân địa phương

- Môi trường và điều kiện quản lí: công tác đào tạo GVTH được quản lí trong bối cảnh đội ngũ

GV có nhiều đặc điểm khác nhau về nền đào tạo ban đầu, về điều kiện xã hội và tâm lý của các thành viên

1.2.7.2 Nguyên tắc quản lí chất lượng đào tạo

Theo các chuẩn của ISO 9000, 9002 và 9004:2000, các nguyên tắc chung nhất của quản lí chất lượng tập trung vào sản phẩm cuối cùng trên cơ sở hoạch định, giám sát, đánh giá và thẩm định toàn bộ

hệ thống quy trình đào tạo, gồm những nguyên tắc cơ bản sau:

Nguyên tắc 1: đào tạo hướng vào người học, xã hội và Nhà nước- những chủ thể đề ra yêu cầu,

thẩm định và đánh giá chất lượng, nghiệm thu sản phẩm đào tạo Sự phát triển của giáo dục-đào tạo và chất lượng giáo dục tổng thể phụ thuộc vào những nhân tố này, đặc biệt là nhu cầu của người học, xã hội và Chính phủ – là lực lượng chính thức đại diện cho lợi ích của nhân dân

Nguyên tắc 2: thiết lập tính thống nhất về mục đích và phương hướng của công tác đào tạo, kiến

tạo và duy trì môi trường bên trong thuận lợi cho lãnh đạo nhà trường tiểu học (Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, các tổ trưởng chuyên môn) và giáo viên có thể tham gia đầy đủ vào quá trình đào tạo

Nguyên tắc 3: các hoạt động và các nguồn lực của công tác đào tạo được quản lí như một quá

trình để có thể nhìn nhận và giám sát, điều hành và đánh giá chúng thường xuyên, linh hoạt, phân tích

và sử dụng chúng một cách biện chứng

Nguyên tắc 4: tiếp cận hệ thống để tiến hành quản lí Cách tiếp cận hệ thống đòi hỏi phải quản lí

chất lượng tổng thể công tác đào tạo, không thể chỉ quản lí riêng lẻ một bộ phận hay thành tố nào

Nguyên tắc 5: Cải thiện thường xuyên hoạt động giảng dạy và học tập, các quá trình quản lí

công tác đào tạo, các nguồn lực cơ bản để hướng đến chất lượng mới cao hơn

Nguyên tắc 6:quan hệ cung ứng cùng có lợi, quan hệ lợi ích qua lại sẽ nâng cao năng lực tạo ra giá trị của cả hai bên Trong phạm vi công tác đào tạo, đó là quan hệ giữa giáo dục-nhà trường-người học-xã hội Điều này càng đặc biệt quan trọng trong điều kiện kinh tế thị trường, vì nó là động lực chủ yếu của quá trình quản lí chất lượng giáo dục và phát triển giáo dục

1.2.7.3 Hệ thống quản lí đào tạo Giáo viên tiểu học tại cơ sở

Phòng giáo dục đào tạo quận Tân Bình là cơ quan chuyên môn của UBND quận, chịu sự chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của UBND và sự chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ của Sở giáo dục thành phố Hồ Chí Minh về công tác giáo dục đào tạo

Nhiệm vụ của Phòng giáo dục đào tạo:

Trang 26

- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển sự nghiệp giáo dục của địa phương Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra các trung tâm giáo dục, cơ sở trường học công lập và ngoài công lập thực hiện nhiệm vụ năm học, chương trình, kế hoạch, nội dung, phương pháp, các quy định của Bộ, Sở về dạy và học, các hoạt động giáo dục khác theo yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện phù hợp với đặc điểm từng loại trường học, ngành học và vùng dân cư

- Tổng hợp kế hoạch của các trường, xây dựng kế hoạch hàng năm về biên chế, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên Xây dựng phương án quy hoạch cán bộ và kế hoạch lựa chọn bồi dưỡng, đề bạt cán

bộ quản lý các trường trong phạm vi quản lí của Phòng giáo dục

Công tác đào tạo giáo viên ở phòng GD là đào tạo nội bộ, đào tạo lại nhằm nâng chất lượng đội ngũ qua việc tổ chức các khóa bồi dưỡng hoặc cử giáo viên tham gia các lớp đào tạo nâng chuẩn theo yêu cầu của Bộ Giáo dục

Nguồn: Business Process Diagram

B.MIS Quy trình nghiệp vụ QL cấp Phòng, 2007

Sơ đồ 1.1 Quy trình quản lí nghiệp vụ, đào tạo bồi dưỡng GV cấp Phòng GD

* Ở cấp Phòng Giáo dục, quản lí đào tạo bồi dưỡng GV được xem là một trong những hoạt

động chủ yếu nhằm thực hiện chức năng quản lí và tổ chức, đáp ứng nhiệm vụ giáo dục, giám sát việc thực hiện chính sách, quy chế điều lệ trong nhà trường, đảm bảo việc nâng chất lượng nghề cho đội ngũ trong đó có GVTH

Trang 27

- Chức năng quản lí: nghiên cứu thực hiện chủ trương, kế hoạch bồi dưỡng GV của Sở, tham mưu cho phòng giáo dục xây dựng kế hoạch bồi dưỡng GV hàng năm ở cả 3 cấp học mầm non, tiểu học, trung học cơ sở Kiểm tra các lớp bồi dưỡng, theo dõi rút kinh nghiệm chỉ đạo hoạt động theo phương hướng của PGD Phối hợp với trường Sư phạm để tổ chức giảng dạy, học tập, thi cử theo chế

bộ phận thanh tra chuyên môn

- Cách thức thực hiện: yêu cầu các đơn vị cử GV tham gia đào tạo, bồi dưỡng theo những tiêu chí cụ thể- Khi đã hình thành lớp đào tạo - bồi dưỡng, có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra, sơ kết, tổng kết, báo cáo kết quả

- Nội dung quản lí: theo dõi tiến độ học tập của học viên, quản lý sự phối hợp giữa cơ quan cử

GV đi học với cơ sở đào tạo, quản lý thời gian học tập của học viên…

- Các hình thức tổ chức đào tạo: phối hợp với trường Sư phạm để mở những lớp đào tạo bồi dưỡng nâng chuẩn, tập trung học và thi trong thời gian nghỉ của công việc giảng dạy (cuối tuần, nghỉ hè), mời chuyên gia của Bộ, Sở Giáo dục về bồi dưỡng theo chuyên đề, chỉ đạo lớp bồi dưỡng thường xuyên GVTH tại chỗ theo định kì

Việc kiểm tra, giám sát, tổng kết đánh giá…công tác đào tạo do cán bộ Phòng GD thực hiện, chủ yếu là thống kê số liệu học viên đã đạt kết quả kiểm tra đầu ra Kế hoạch thực hiện và tổng kết của công tác đào tạo thường gắn với phương hướng hoạt động của Phòng GD vào mỗi đầu năm học mới

* Ở cấp trường, công tác đào tạo bồi dưỡng GV là một hoạt động trong công tác quản lí cán bộ

của Hiệu trưởng Qua quản lí hồ sơ GV, Hiệu trưởng thực hiện đánh giá, xếp loại GV, báo cáo số liệu

về trình độ văn hóa, nghiệp vụ đã có của đội ngũ, sắp xếp cho GV lần lượt tham gia học nâng cao khi

có thông báo chiêu sinh từ bộ phận đào tạo của phòng GD, bố trí dạy thay thế ở lớp có GV đi học, thực hiện các công việc về chế độ chính sách, theo dõi chất lượng công tác và là đơn vị trực tiếp thụ hưởng sản phẩm đào tạo

Trang 28

Nguồn: Business Process Diagram

EMIS Quy trình nghiệp vụ QL cấp trường, 2007

Sơ đồ 1.2 Quy trình quản lí cán bộ cấp trường

1.2.7.4 Đánh giá hiệu quả đào tạo

Chất lượng và hiệu quả là hai phạm trù có quan hệ mật thiết với nhau dù không luôn luôn thuận chiều

Muốn có hiệu quả giáo dục phải thực hiện đào tạo có chất lượng, trong trường hợp nguồn tài chính cho đào tạo hạn hẹp, cần quan tâm đến hiệu quả giáo dục để hạn chế lãng phí

Để đánh giá chất lượng quản lí công tác đào tạo GV, theo SCREM (Support to the Renovation

of Education Management) phải dựa vào hệ thống tiêu chí giám sát và đánh giá, bao gồm 4 khía cạnh

cơ bản sau :

- Bối cảnh đào tạo: bao gồm nhu cầu học tập, nhu cầu nhân lực của địa phương, môi trường tự

nhiên – xã hội, các biện pháp chính sách, công tác xây dựng, thực hiện kế hoạch dài hạn và ngắn hạn trong nhà trường tiểu học, việc thực hiện chính sách thu hút, hỗ trợ và khuyến khích người học

- Đầu vào: bao gồm nguồn nhân lực và tài chính, chất lượng tuyển sinh, tỉ lệ học viên/giảng

viên, nguồn tài chính cho các hoạt động, học phí, cơ sở vật chất tối thiểu, môi trường học tập, trình độ

giảng dạy của giảng viên, tổ chức của bộ máy quản lý

- Quá trình thực hiện: bao gồm quy trình quản lý hành chính, cung cấp thông tin tin cậy, giúp

học viên bổ sung những vấn đề mới về kỹ năng, tăng cường năng lực giảng dạy, mở rộng hiểu biết, rèn luyện khả năng ứng xử và thích ứng xã hội

Trang 29

- Đầu ra: đánh giá bằng sự hài lòng của học viên về năng suất làm việc và tính thích hợp của

kết quả học tập trong hoạt động giảng dạy

1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài

Quận Tân Bình nổi tiếng là địa phương tập trung dân cư các vùng miền sinh sống nhiều nhất TP HCM, là một trong những quận lớn nhất thành phố về giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tư nhân với số lượng lớn cơ sở sản xuất kinh doanh các ngành hàng, là một trong 6 quận luôn dẫn đầu về giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, chiếm tỉ trọng 19,5% của thành phố

Trước đây Tân Bình là quận vùng ven, đất đai rộng, nay với tốc độ đô thị hoá nhanh, tốc độ dân

số tăng cơ học lớn, số trường lớp, học sinh các cấp cũng tăng nhanh, đặc biệt là học sinh tiểu học Sự phát triển của sản xuất kéo theo sự khác biệt về đặc điểm vùng dân cư và tạo nên sự đa dạng của đối tượng giáo dục trong các nhà trường:

* Một số trường ở gần khu vực kinh doanh dịch vụ như Cụm Cảng Hàng không, sân bay Tân Sơn Nhất, cụm du lịch Đệ Nhất Khách sạn tập trung nhiều học sinh có điều kiện sống và học tập tốt,

đa số trẻ nhanh nhẹn, rất năng động, tự tin

* Một số trường gần quận 11 do khu vực tập trung nghề sản xuất thủ công, tái chế phế liệu, kinh doanh nhỏ lẻ, tỉ lệ học sinh người Hoa chiếm hơn 40 % nên cũng có ảnh hưởng đến việc tiếp thu và học tiếng Việt phổ thông

* Một số trường gần địa bàn khu công nghiệp giáp ranh với quận Tân Phú, Gò Vấp, Bình Tân

có sĩ số học sinh trên lớp từ 50- 55 em, có trường tỉ lệ học sinh tạm trú lên đến 60% trên tổng số HS, đa

số đều là dân nhập cư từ các địa phương miền Trung, miền Bắc Hàng năm số lượng biến động HS do chuyển đi, chuyển đến trong quận thay đổi liên tục cũng ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy và học tập trong các nhà trường

* Ngoài ra sự xuất hiện loại hình trường quốc tế trong khu vực quận Tân Bình cũng tác động đến việc thu hút sự quan tâm của phụ huynh và học sinh trong việc so sánh chất lượng giảng dạy, chất lượng học tập của học sinh và quyết định của họ trong việc duy trì việc học của con em ở trường Công lập hay chuyển sang học loại hình trường quốc tế

1.3.2 Tình hình phát triển giáo dục tiểu học

Trang 30

6.2 Số trường dạy Tiếng Anh

Tăng cường ( TATC)

Số lớp học TATC 79 58 21

Trang 31

viên Xuất sắc TL % Khá TL % Trung bình TL %

( Trích văn bản 279/GDTH của PGD Tân Bình : Báo cáo tổng kết năm học 2007 – 2008 cấp Tiểu học, ngày 3/6/2008 )

* Tình hình tổ chức công tác đào tạo

Dù điều kiện kinh tế – xã hội còn khó khăn nhưng quận Tân Bình đã có nhiều nỗ lực thực hiện

sự chuyển dịch giáo dục từ lượng sang chất và có những cải tiến đáng kể trong công tác đào tạo bồi dưỡng nâng chuẩn giáo viên tiểu học

Ngành đã tiến hành rà soát, thống kê số lượng, đánh giá chất lượng đội ngũ và cán bộ QLGD để

bố trí và sử dụng phù hợp với trình độ, năng lực.Tập trung đầu tư có trọng điểm vào công tác đào tạo bồi dưỡng, tổ chức khai giảng nhiều lượt học nâng chuẩn trình độ cho GVTH, động viên GV tham gia các lớp Cao đẳng SP, cử nhân tiểu học, chú trọng phổ cập các kĩ năng cần thiết cho giảng dạy, soạn giảng của GV: tin học (chứng chỉ A), ngoại ngữ (chứng chỉ A), ứng dụng công nghệ thông tin, liên kết

Trang 32

với trường ĐHSP để tổ chức các lớp đào tạo chuyển đổi bằng 2 (Cử nhân tiểu học) cho những GVTH

đã có trình độ Đại học khác ngành

Bảng 1.4 Số GV đã học bồi dưỡng chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ

Số người STT Nội dung

4 Cao học quản lí giáo dục * 6 2

5 Trung cấp lí luận chính trị * 76 118

6 Cao cấp lí luận chính trị * - 1

7 Tin học ( Bằng A) * 120 494

8 Ứng dụng công nghệ thông tin * 120 520

* Khóa học chung cho GV các cấp từ MN, TH đến THCS

Nguồn : Văn bản 432/BC-PGD- báo cáo tổng kết năm học 2006-2007 và phương hướng nhiệm vụ năm học

2007 – 2008 của PGD-ĐT Tân Bình

Tính đến năm học 2007-2008, Quận Tân Bình có 992 GVTH, đạt tỉ lệ bình quân 1,1 GV/lớp

nhưng vẫn còn thiếu giáo viên theo định mức (1,2 GV/lớp dạy học 1 buổi/ngày) So với yêu cầu phát

triển dạy học 2 buổi (định mức 1,5 giáo viên/lớp) thì mới đáp ứng được 74,7 % nhu cầu về số lượng

giáo viên

Tình trạng mất cân đối, không đồng bộ trong cơ cấu đội ngũ GVTH thể hiện ở chỗ các trường

dạy 2 buổi thiếu giáo viên chuyên trách các môn năng khiếu, tự chọn

- Toàn bộ giáo viên tiểu học đều đã qua đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm Trình độ tin học và

ngoại ngữ của đội ngũ nhà giáo đã được nâng lên nhưng còn một bộ phận không nhỏ GV chưa qua bồi dưỡng

trình độ tin học và ngoại ngữ

- Cán bộ quản lí công tác đào tạo PGD thực hiện nhiều chức năng quản lí, việc giám sát và đánh

giá hiệu quả, chất lượng công tác đào tạo chủ yếu căn cứ vào số lượng GVTH đã lấy được Bằng tốt

nghiệp sau quy trình đào tạo

Trang 33

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÍ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC

QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trong chương này, các phần sau đây được trình bày:

 Một số thông tin và khách thể nghiên cứu

 Thực trạng quản lí đào tạo theo đánh giá của cán bộ quản lí, của giáo viên

 So sánh cách đánh giá giữa các khách thể nghiên cứu

2.1 Một số thông tin và khách thể nghiên cứu

- Giới tính : Nam: 66 Nữ: 330

- Đơn vị trường và số người trả lời :

Trường TH Số lớp G viên Dạy 2buổi Dạy 1buổi TC tiếng Anh dạy theo môn

1.Nguyễn Thanh Tuyền 29 lớp 51 X X

Trang 34

Bồi dưỡng ngắn hạn: 48 Đào tạo theo chuẩn : 71 Cử nhân: 2

-Số năm dạy ở tiểu học:

Dưới 10 năm: 143 Từ 10 – 20 năm: 128 Từ 20 – 30 năm: 110 Trên 30 năm: 11

Qua kết quả khảo sát, GVTH quận Tân Bình khi tham gia học nâng cao được hỗ trợ kinh phí học tập, tạo điều kiện về thời gian, bố trí công tác hợp lí để hoàn thành việc vừa học vừa giảng dạy Một số CBQL và GV tự nâng trình độ ở những lĩnh vực có liên quan đến công việc giảng dạy và ứng dụng kĩ thuật như ngoại ngữ, công nghệ thông tin, luật Họ tự liên hệ cơ sở đào tạo và tham gia học tập ngoài giờ, hầu hết đều là GV trẻ, mới ra trường, nhiệt tình năng động

GVTH có tay nghề giảng dạy xếp loại Tốt chiếm hơn 50% (bảng 3 phụ lục 1) Theo kết quả phân tích (biểu đồ 2, phụ lục 2), GVTH đạt trình độ trên chuẩn (ĐHSP) là 76,7% và CBQL là 79,6% - đạt trình độ chuẩn (THSP 12+2) ở GV là 23,3% - ở CBQL tiểu học là 20,4

Trong số GV đạt mức chuẩn THSP, 43,8 % GV đã có thâm niên giảng dạy từ 11-20 năm, 24,7%

đã giảng dạy từ 20-30 năm và 5,6% GV đã dạy trên 30 năm Ba năm gần đây đa số họ đều tham gia đào tạo nâng chuẩn

Trang 35

Trong phần đánh giá thực trạng quản lí đào tạo, nghiên cứu này trình bày 3 khía cạnh: đánh giá lợi ích việc nâng cao trình độ cho người giáo viên, lĩnh vực còn hạn chế của GV tiểu học hiện nay, các yếu tố cần cải tiến Thang đo 5 điểm được sử dụng trong nghiên cứu này, giá trị trung bình (TB) là 3

2.2.1 Lợi ích của việc nâng cao trình độ cho người giáo viên

Chất lượng giáo dục tiểu học tùy thuộc rất lớn vào phẩm chất, năng lực quản lí, tổ chức và giảng dạy của người GV trên lớp

Với đặc điểm giảng dạy toàn môn, người GVTH phải soạn giảng kế hoạch, chuẩn bị nội dung,

PP dạy học ít nhất 5 tiết cho 1 buổi dạy và ít nhất 6 tiết mỗi tuần cho các môn năng khiếu Do vị trí đặc biệt của cấp học, người thầy dạy tiểu học giữ vai trò giảng dạy và quản lí tổng thể, trong chất lượng đội ngũ, trừ một bộ phận GV khá giỏi, số đông còn hạn chế về trình độ ngoại ngữ - tin học, trình độ sử dụng thiết bị đồ dùng dạy học, về ý thức và khả năng đổi mới phương pháp dạy học Vì thế việc đào tạo lại là yêu cầu cần thiết, cấp bách đối với ngành học, với đơn vị trường và với chính người giáo viên

Việc tập trung đào tạo nâng chuẩn trình độ GVTH trong thời gian gần đây cho thấy quyết tâm của lãnh đạo ngành giáo dục quận Tân Bình trong việc cơ cấu lại đội ngũ giảng dạy tiểu học vốn đã chênh lệch ở trình độ đầu vào Hơn nữa trong tương lai gần, khi đánh giá GVTH căn cứ vào Chuẩn nghề thì đạt bằng cấp chuyên môn là một trong những yếu tố mà Phòng Giáo Dục quan tâm khi bố trí nhân sự

Mặt khác, việc tham gia học tập nâng cao thường giúp người GV phát triển trình độ đã có lên một bước mới, chất lượng hơn Khối lượng kiến thức, kĩ năng được sắp xếp một cách hệ thống thành nội dung chương trình, được nhà trường sư phạm tổ chức giảng dạy, trao đổi, làm nảy sinh thái độ làm việc tích cực, cải thiện chất lượng hoạt động dạy học và giáo dục, tạo cho họ những cơ hội chuyển dịch

đi lên trong vị trí xã hội

Qua đào tạo người GV tiếp nhận kiến thức, kĩ năng và thực thi nhiệm vụ được giao một cách hiệu quả

Đào tạo nâng Chuẩn ngoài việc nâng cao năng lực tư duy, bổ sung kiến thức và phát triển phương pháp giảng dạy cho người GVTH còn tập trung hướng dẫn nhiều hơn về năng lực nghề để họ giải quyết, xử lí các vấn đề thực tiễn, hỗ trợ người GV đáp ứng các yêu cầu của hoạt động giáo dục Người thầy có năng lực sẽ nhanh chóng trau dồi kĩ năng, kĩ xảo trong hoạt động sư phạm và nhanh giỏi nghề Do đó mục tiêu đặt ra khi tham gia đào tạo của người GVTH là có sự thay đổi trong nghề

Trang 36

nghiệp, nhất là thay đổi cách dạy theo phương pháp mới, dựa trên nguyên tắc học tập thành thạo của bản thân

Bảng 2.1 sau đây phản ánh lợi ích thu nhận được sau đào tạo theo đánh giá của cán bộ quản lí

và GVTH các trường trong quận Tân Bình

Bảng 2.1 : Đánh giá lợi ích của việc nâng cao trình độ

Đánh giá Lợi ích đạt được

TB ĐLTC Thứ bậc

Thay đổi, tiến bộ về năng lực xây dựng kế hoạch giáo dục 1,65 0,73 4

Nâng cao khả năng đáp ứng với yêu cầu đổi mới giảng

7

- Theo bảng 2.1, trong 9 phát biểu đưa ra có 2 nội dung được GV đánh giá khá cao, đó là có bằng cấp cao thì có nhiều cơ hội chuyển đổi công tác (TB = 2,9 - thứ bậc 1) và thăng tiến trong nghề nghiệp (TB = 2,45 - thứ bậc 2)

Các thứ bậc tiếp theo là tăng cường kĩ năng học tập suốt đời (thứ bậc 3), thay đổi, tiến bộ về năng lực xây dựng kế hoạch giáo dục (thứ bậc 4), giảng dạy phù hợp mục tiêu của cấp học, ngành học (thứ bậc 5), giảng dạy đạt hiệu quả cao (thứ bậc 6)

Như vậy đa số giáo viên đi bồi dưỡng nâng cao trình độ với mục đích thăng tiến trong công việc sau đó đáp ứng những mục đích khác mang tính nghề nghiệp và phục vụ cho công việc cũng như cho

xã hội

- Bảng 2.1 cũng cho thấy tuy bằng cấp sau đào tạo có ảnh hưởng lớn đến công việc và mức lương hiện tại nhưng đội ngũ quản lí và GV chưa tự tin đánh giá những hiệu quả do công tác đào tạo hiện nay đem lại cho bản thân và nghề nghiệp chuyên môn Chưa có phát biểu nào có điểm đánh giá trung bình

trên 3 trong thang đo 5 điểm, dù ở thứ hạng cao nhất nhưng cơ hội chuyển đổi công tác của GV chỉ đạt

Trang 37

mức độ khá Các năng lực rất cần thiết cho nghề nghiệp như xây dựng kế hoạch giáo dục, năng lực giảng dạy đáp ứng với yêu cầu đổi mới được đánh giá ở mức thấp hơn trung bình

Nguyên nhân :

- Công tác đào tạo nâng chuẩn đã quan tâm đến đặc điểm cá nhân người học để chọn lọc kiến thức, tinh gọn nội dung, tiết kiệm thời gian truyền đạt Chú trọng bồi dưỡng tri thức mới, rèn luyện kĩ năng, tuy nhiên kiến thức đào tạo vẫn còn chậm nhịp so với thực tiễn, giáo trình và tài liệu chưa bám sát chương trình phổ thông, kiến thức chuyên ngành còn dàn trải, phương pháp chậm đổi mới, chưa làm rõ kĩ thuật của đổi mới PP dạy (bảng 22-phụ lục 1)

- Phương pháp truyền thụ chưa theo hướng phát huy tính tích cực, chủ yếu là thuyết trình diễn giảng để học viên ghi chép Lớp đào tạo thường có quy mô lớn, có lớp lên tới 100 học viên/1 giảng viên nên không có thời gian để Giảng viên và học viên chia sẻ, trao đổi Do các mặt lợi ích của công tác đào tạo chưa được GV đánh giá cao nên số người chỉ hài lòng 1 phần với nội dung và PP của chương trình đào tạo đạt 34,6% (bảng 10- phụ lục 1) là tỉ lệ cao nhất trong biểu đồ hiển thị các ý kiến (biểu đồ 7, phụ lục 2 )

Một số GVTH tự đánh giá chưa giảng dạy tốt các môn, cụ thể 19,2% còn hạn chế khi giảng dạy

môn Nhạc, Họa, kĩ thuật, giáo dục thể chất và 38,1% số người được hỏi cho là mình có thể dạy tốt môn năng khiếu (Nhạc, họa, thể dục) như các môn chính trong chương trình (bảng 13, phụ lục 1)

Có thể thấy công tác đào tạo GVTH hiện nay đáp ứng một phần yêu cầu dạy đều dạy đủ các môn, việc nâng cao trình độ đào tạo GV đã đạt về số lượng nhưng lợi ích mang lại chưa cao như nhu cầu mong đợi

2.2.2 Đánh giá những mặt thiếu sót hiện nay của người GV tiểu học

Người giáo viên chỉ giải quyết thành thạo nhiệm vụ sư phạm bằng cách dựa vào hệ thống các quy tắc và phương pháp một cách có ý thức Họ phải thực hiện hàng loạt những kĩ năng: phân tích tình huống, chẩn đoán và xác định nguyên nhân, chọn lựa phương thức và ra quyết định giải quyết đồng thời xây dựng những nhiệm vụ sư phạm mới Quá trình này phản ánh trọng tâm của hoạt động sư phạm

là sự am hiểu về tâm lí và giáo dục, kĩ năng xây dựng các nhiệm vụ giáo dục chính xác, hợp lí và rõ rệt, xác định đúng những tác động có chủ đích đến từng đối tượng học sinh

Mục tiêu dạy học đạt mức độ nào phụ thuộc phần lớn vào hiểu biết của người thầy về lý thuyết hay thực tế về một đối tượng, về một vấn đề giảng dạy và có thể lý giải được về nó Cơ sở của các thông tin, những hiểu biết, những kinh nghiệm đều bắt nguồn từ tri thức và thông qua các quá trình nhận thức phức tạp: tri giác, giao tiếp, tranh luận, học tập, tiếp thu, hay kết hợp các quá trình này trong thực tế hoạt động và qua đào tạo

Để đảm đương vai trò quản lí và giáo dục tổng thể, người GVTH được đào tạo và liên tục được đào tạo bổ sung kiến thức ở nhiều lĩnh vực, từ lý luận khoa học đến các kiến thức chuyên ngành

Trang 38

Bảng 2.2 Ðánh giá lĩnh vực kiến thức hạn chế của người GV tiểu học hiện nay

- Kiến thức khoa học cơ bản có liên quan đến các môn học trong

- Kiến thức về những chủ trương chính sách lớn của Đảng, Nhà

- Kiến thức về tình hình kinh tế, chính trị xã hội tại địa phương mình

Kết quả của bảng 2.2 cho thấy người GVTH chỉ hài lòng một phần với nội dung kiến thức đã được đào tạo Lượng kiến thức nền phong phú nhưng chưa đủ để giải quyết các vấn đề mới Những mảng kiến thức có liên quan đến đời sống thực tiễn và cộng đồng được CBQL, GV quan tâm - đa số

cho rằng lĩnh vực hạn chế cao nhất của GVTH là kiến thức giảng dạy về tâm sinh lí trẻ tiểu học và giáo dục giới tính, đây cũng là vấn đề của xã hội hiện đại, bắt nguồn từ sự phát triển sớm hơn, nhanh hơn của đối tượng giáo dục trong môi trường sống quá nhiều chi phối, kiến thức của người thầy và cách truyền đạt, cách hướng dẫn … chưa tương hợp một cách khoa học

Tỉ lệ đánh giá các yếu tố (TB>2) cho thấy không chỉ trông đợi một sự cải tiến rõ rệt về kĩ năng sư phạm, GV dạy tiểu học ngày nay đòi hỏi phải được trang bị tốt hơn kiến thức về lý luận dạy học, giúp

họ có thể tự tin ứng phó trong xử lí tình huống giáo dục Họ mong muốn được cập nhật đầy đủ hơn về kiến thức xã hội và có cách giải quyết tốt hơn các vấn đề nảy sinh Các thứ bậc thể hiện nhu cầu được trang bị kiến thức của người GVTH thay đổi theo hướng bổ sung kiến thức mới về tâm lí, môi trường,

y tế cộng đồng Cụ thể :

- Kiến thức về tâm sinh lí trẻ, về giáo dục giới tính (thứ bậc 1)

- Kiến thức phổ thông về dân số, quyền trẻ em (thứ bậc 2)

- Kiến thức phổ thông về môi trường (thứ bậc 3)

- Kiến thức phổ thông về an ninh quốc phòng, an toàn giao thông (thứ bậc 4)

- Kiến thức phổ thông về chăm sóc sức khoẻ trẻ, y tế học đường (thứ bậc 5)

Sau đó mới đến kiến thức về nghiệp vụ Sư phạm tiểu học (thứ bậc 6), kiến thức về những chủ trương chính sách lớn của Đảng, Nhà nước đối với kinh tế- xã hội (thứ bậc 7), kiến thức về tình hình

Trang 39

địa phương mình đang dạy học (thứ bậc 8), cuối cùng mới là kiến thức khoa học cơ bản có liên quan đến các môn học trong chương trình tiểu học (thứ bậc 9) và kiến thức phổ thông về quản lí hành chính nhà nước (thứ bậc 10)

Kết quả bảng 2.2 đã chỉ ra: để làm tốt công tác dạy tiểu học người GV không chỉ vững chuyên môn mà còn cần có các kĩ năng xã hội, chăm sóc sức khỏe, kiến tạo môi trường giáo dục để hoạch định đầy đủ, tổ chức chu đáo và thực hiện hiệu quả việc giảng dạy và chăm sóc học sinh

Lựa chọn của người GV đã thừa nhận hệ thống kiến thức trong chương trình đào tạo đã không

kịp thời bổ sung những vấn đề mới đang hình thành trong xã hội đương đại (từ yếu tố 1- 5) nên người

GV gặp nhiều khó khăn khi thiết kế bài dạy, chọn lựa thông tin để chuyển tải, xử lí các tình huống có liên quan trong thực tiễn giáo dục Qua ý kiến của họ, dường như kết quả giáo dục học sinh đã không

còn là tác động một chiều từ phía người thầy

Bảng 2.3 Đánh giá kĩ năng sư phạm hạn chế của người GV tiểu học hiện nay

- Kĩ năng đảm bảo các mục tiêu của bài học với chất

9

- Kĩ năng lập hồ sơ, lưu giữ và sử dụng hồ sơ giáo dục HS 2,81 0,81 7

- Kĩ năng khai thác và giảng dạy bằng phương tiện công

14

* Bảng 2.3 cho thấy 13/15 tiêu chí được đánh giá có mức độ hạn chế khá cao (TB > 2,69) Thứ bậc của các câu trả lời thể hiện người GVTH hiện tại rất quan tâm đến các kĩ năng hợp tác, giao tiếp ứng xử, kĩ năng chuyên môn

- Họ đánh giá hạn chế lớn nhất của GVTH là chưa có kĩ năng hợp tác tốt với đồng nghiệp (TB = 2,88-thứ bậc 1) với phụ huynh (TB = 2,86-thứ bậc 5) và với học sinh (TB = 2,80-thứ bậc 8) Họ gặp

Trang 40

khó khăn rất lớn trong việc soạn kế hoạch bài học (thứ bậc 2), thiết lập, lưu giữ và sử dụng hồ sơ giảng dạy (thứ bậc 3), kĩ năng kiểm tra đánh giá đúng trình độ HS (thứ bậc 4), công tác chủ nhiệm lớp (thứ bậc 6) Lựa chọn của GV từ thứ bậc 9 đến 13 cho thấy những lĩnh vực họ mong muốn công tác đào tạo cần quan tâm cải tiến, điều chỉnh, đó là :

 Kĩ năng đảm bảo các mục tiêu của bài học

 Kĩ năng rèn luyện hợp lí cho từng HS

 Kĩ năng tổ chức các hoạt động giáo dục theo quy định

 Kĩ năng tổ chức linh hoạt giờ lên lớp

Có thể lí giải nguyên nhân của những hạn chế:

- Do môi trường và điều kiện dạy học ngày nay đã khác nhiều so với trước đây, để đạt mục tiêu giáo dục người GVTH phải nỗ lực đổi mới nhận thức, năng động tìm tòi, tiếp cận và sử dụng những công cụ, phương thức truyền đạt tích cực Họ chỉ thành công khi có sự hợp tác, mở rộng mối quan hệ

xã hội, chia sẻ trách nhiệm cá nhân cùng với trách nhiệm cộng đồng

- Do sự tương tác hai chiều giữa giảng viên vàhọc viên trong quá trình trao đổi, tiếp nhận kiến thức Quá trình chuyển giao, tiếp nhậnkhông thực hiện bằng phương pháp dạy tích cực, các kĩ năng kĩ năng tìm kiếm thông tin, thuyết trình, thao tác nhóm không được phát huy mạnh mẽ

Qua bảng 2.3 cho thấy, tồn tại trong chuyên môn tiểu học hiện nay là GV mất nhiều công sức cho những công việc thuộc về hồ sơ, sổ sách nhưng không có hiệu quả cao Việc lập kế hoạch bài học tưởng như ngày càng thành thạo nhưng lại là nỗi khó khăn thường trực do phải lệ thuộc quá nhiều vào sách hướng dẫn, sách tham khảo và những quy định điều chỉnh, văn bản hướng dẫn của nhiều cấp quản

* Kết quả của bảng 2.3 cũng cho thấy tuy người GVTH đã nhận thức việc làm chủ các hoạt động giáo dục trong thời đại ngày nay không là việc dễ dàng và không thể chỉ dùng mãi những kinh nghiệm cũ nhưng họ vẫn chưa coi trọng kĩ năng khuyến khích HS tự học (thứ bậc 13) để làm cơ sở cho việc tự tìm tòi, khám phá tri thức mới sau này

2.2.3 Đánh giá việc tổ chức thực hiện chương trình đào tạo

Tri thức tồn tại dưới 2 dạng: tri thức đã được thể hiện ra ngoài và dễ dàng chuyển giao, tiếp nhận qua giáo dục và đào tạo; dạng thứ hai là tri thức thu được từ sự trải nghiệm thực tế, ẩn trong mỗi

cá nhân, rất khó “mã hóa” và chuyển giao, thể hiện ở niềm tin, giá trị, kinh nghiệm, bí quyết, kỹ năng người ta chỉ có thể có nó bằng cách tự mình luyện tập Để người học rèn luyện và có được dạng tri

Ngày đăng: 31/03/2013, 18:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1. Quy trình quản lí nghiệp vụ, đào tạo bồi dưỡng GV cấp Phòng GD - THỰC TRẠNG QUẢN LÍ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO  GIÁO VIÊN TIỂU HỌC QUẬN TÂN BÌNH  THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Sơ đồ 1.1. Quy trình quản lí nghiệp vụ, đào tạo bồi dưỡng GV cấp Phòng GD (Trang 26)
Sơ đồ 1.2. Quy trình quản lí cán bộ cấp trường - THỰC TRẠNG QUẢN LÍ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO  GIÁO VIÊN TIỂU HỌC QUẬN TÂN BÌNH  THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Sơ đồ 1.2. Quy trình quản lí cán bộ cấp trường (Trang 28)
Bảng 1.1. Hệ thống các số liệu - THỰC TRẠNG QUẢN LÍ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO  GIÁO VIÊN TIỂU HỌC QUẬN TÂN BÌNH  THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 1.1. Hệ thống các số liệu (Trang 30)
Bảng 2.4b : Mức độ thể hiện về kĩ năng nghiệp vụ của người GVTH - THỰC TRẠNG QUẢN LÍ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO  GIÁO VIÊN TIỂU HỌC QUẬN TÂN BÌNH  THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 2.4b Mức độ thể hiện về kĩ năng nghiệp vụ của người GVTH (Trang 42)
Bảng 2.8 Ðánh giá các yếu tố cần cải tiến của công tác đào tạo giáo viên - THỰC TRẠNG QUẢN LÍ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO  GIÁO VIÊN TIỂU HỌC QUẬN TÂN BÌNH  THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 2.8 Ðánh giá các yếu tố cần cải tiến của công tác đào tạo giáo viên (Trang 45)
Bảng 2.11 : So sánh tham số đánh giá hiệu quả đào tạo - THỰC TRẠNG QUẢN LÍ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO  GIÁO VIÊN TIỂU HỌC QUẬN TÂN BÌNH  THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 2.11 So sánh tham số đánh giá hiệu quả đào tạo (Trang 50)
Bảng 2.13 : So sánh tham số đánh giá kĩ năng sư phạm hạn chế - THỰC TRẠNG QUẢN LÍ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO  GIÁO VIÊN TIỂU HỌC QUẬN TÂN BÌNH  THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 2.13 So sánh tham số đánh giá kĩ năng sư phạm hạn chế (Trang 53)
Bảng 2.14:So sánh tham số đánh giá năng lực nghề nghiệp muốn được cải thiện - THỰC TRẠNG QUẢN LÍ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO  GIÁO VIÊN TIỂU HỌC QUẬN TÂN BÌNH  THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 2.14 So sánh tham số đánh giá năng lực nghề nghiệp muốn được cải thiện (Trang 54)
Bảng 2 : Thâm niên giảng dạy và trình độ đào tạo mức THSP - THỰC TRẠNG QUẢN LÍ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO  GIÁO VIÊN TIỂU HỌC QUẬN TÂN BÌNH  THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 2 Thâm niên giảng dạy và trình độ đào tạo mức THSP (Trang 76)
Bảng 2.19. Đánh giá hiệu quả của nội dung chương trình đào tạo GV tiểu học - THỰC TRẠNG QUẢN LÍ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO  GIÁO VIÊN TIỂU HỌC QUẬN TÂN BÌNH  THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 2.19. Đánh giá hiệu quả của nội dung chương trình đào tạo GV tiểu học (Trang 86)
Bảng 2.20. Đánh giá lĩnh vực kiến thức  hạn chế của người GV tiểu học hiện nay - THỰC TRẠNG QUẢN LÍ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO  GIÁO VIÊN TIỂU HỌC QUẬN TÂN BÌNH  THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 2.20. Đánh giá lĩnh vực kiến thức hạn chế của người GV tiểu học hiện nay (Trang 87)
Bảng 2.21. Đánh giá kĩ năng sư phạm hạn chế của người GV tiểu học hiện nay - THỰC TRẠNG QUẢN LÍ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO  GIÁO VIÊN TIỂU HỌC QUẬN TÂN BÌNH  THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 2.21. Đánh giá kĩ năng sư phạm hạn chế của người GV tiểu học hiện nay (Trang 89)
Bảng 2.23. Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đào tạo nâng chuẩn giáo viên - THỰC TRẠNG QUẢN LÍ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO  GIÁO VIÊN TIỂU HỌC QUẬN TÂN BÌNH  THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 2.23. Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đào tạo nâng chuẩn giáo viên (Trang 91)
Bảng 2.27. Đánh giá hiệu quả của nội dung chương trình đào tạo GV tiểu học - THỰC TRẠNG QUẢN LÍ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO  GIÁO VIÊN TIỂU HỌC QUẬN TÂN BÌNH  THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 2.27. Đánh giá hiệu quả của nội dung chương trình đào tạo GV tiểu học (Trang 96)
Bảng 2.29. Đánh giá kĩ năng sư phạm hạn chế của người GV tiểu học hiện nay - THỰC TRẠNG QUẢN LÍ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO  GIÁO VIÊN TIỂU HỌC QUẬN TÂN BÌNH  THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 2.29. Đánh giá kĩ năng sư phạm hạn chế của người GV tiểu học hiện nay (Trang 98)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w