1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu

143 1K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu
Tác giả Voõ Thanh Minh
Người hướng dẫn TS. Ngô Đình Qua
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản lý giáo dục
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy , hiệu trưởng các trường trung học phổ thông huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

-

Võ Thanh Minh

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY CỦA HIỆU TRƯỞNG CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN XUYÊN MỘC,

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 60 14 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGÔ ĐÌNH QUA

TP Hồ Chí Minh - 2007

Trang 2

LỜI CÁM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu, hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của các Thầy Cô giáo, của đồng nghiệp, bạn bè và gia đình

Tác giả xin chân thành cám ơn các Thầy Cô giáo trong hội đồng khoa học, khoa Tâm lý-Giáo dục trường Đại học sư phạm TP.HCM

Đặc biệt xin chân thành cám ơn Thầy-TS Ngô Đình Qua đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn

Tác giả xin chân thành cám ơn Thầy Nguyễn Thanh Giang, Phó Giám đốc

Sở GD&ĐT tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã có những ý kiến đóng góp quý báu trong quá trình hòan thành luận văn của tác giả

Xin chân thành cám ơn bạn bè, đồng nghiệp và các Hiệu trưởng ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện Xuyên Mộc, các chuyên gia Sở Giáo dục-Đào tạo tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và gia đình đã giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn

Mặc dầu đã đầu tư nhiều công sức nhưng luận văn vẫn còn những hạn chế, tác giả rất mong tiếp tục nhận được sự đóng góp, giúp đỡ để hoàn thiện hơn

Xin chân thành cám ơn

Trang 3

BQLDTHT : Ban quản lý dạy thêm học thêm

Trang 4

Mục tiêu phát triển giáo dục đến năm 2010 đã khẳng định: “Phát triển đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu vừa tăng quy mô, vừa nâng cao chất lượng, hiệu quả và đổi mới phương pháp dạy – học; đổi mới quản lý giáo dục, tạo cơ sở pháp lý và phát huy nội lực phát triển giáo dục” [39] Có như vậy thì mới có thể đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực, một nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trung học phổ thông (THPT) là một cấp học rất quan trọng, có nhiệm vụ “hoàn thiện học vấn phổ thông và những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp” [6, tr.14] cho học sinh để họ có điều kiện tiếp tục học lên cao, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động Để có được một nền học vấn toàn diện thì dạy học phải là hoạt động trung tâm của nhà trường trong đó đội ngũ giáo viên phải đóng vai trò chính để đảm bảo và nâng cao chất lượng dạy học Giáo viên có nhiệm vụ “Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý giáo dục, thực hiện đầy đủ và có chất lượng chương trình giáo dục” [6, tr.29] để có thể rèn luyện được cho học sinh tính tích cực, tự giác, chủ động và sáng tạo, có phương pháp tự học tốt, có kỹ năng vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn

và đặc biệt là tạo được cho học sinh tình cảm, niềm vui và hứng thú trong học tập Ngày nay, khi sự bùng nổ về thông tin đang diễn ra trong thời đại của nền kinh tế tri thức thì việc truyền đạt kiến thức cho học sinh càng trở nên khó khăn hơn Người thầy giáo không còn đóng vai trò truyền tải kiến thức theo một chiều cho học sinh nữa mà họ phải

có nhiệm vụ tổ chức, điều khiển, hướng dẫn cho học sinh chủ động chiếm lĩnh tri thức Thực hiện được điều này đòi hỏi có sự cố gắng vượt bậc trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy của người giáo viên, một vấn đề mà Đảng, Nhà nước và nhân dân đang đặt ra

và ngành giáo dục phải có nhiệm vụ thực hiện cho bằng được

Trang 5

Mặc dầu dạy học là một công việc mang tắnh độc lập, khá đậm nét trong việc giáo viên tự mình quyết định các biện pháp giảng dạy, nhưng nó đòi hỏi phải được tổ chức và quản lý một cách chặt chẽ từ phắa người hiệu trưởng nhà trường Hiệu trưởng trường THPT cần phải có các giải pháp quản lý để tăng cường hơn nữa công tác giảng dạy thì mới đảm bảo tốt việc nâng cao chất lượng dạy học

Hiện nay các trường THPT trên địa bàn huyện Xuyên Mộc đang trong quá trình thực hiện nhiệm vụ năm học theo Chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) trong

đó có nội dung Ộ Tiếp tục thực hiện đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục, trọng tâm là tổ chức thực hiện tốt phân ban kết hợp với tự chọn ở lớp 10 Ợ [7, tr.15]; Ộ tiếp tục đổi mới công tác thi, kiểm tra, đánh giá quá trình dạy và học theo yêu cầu phản ánh đúng chất lượng giáo dục và góp phần thực hiện các mục tiêu đào tạoỢ [7, tr.19] Nhờ đó mà chất lượng dạy học ở các trường đã có nhiều chuyển biến tắch cực, đem lại nhiều thành tắch đáng kể Tuy nhiên nhìn chung vẫn còn nhiều hạn chế do việc quản lý của người Hiệu trưởng còn nhiều bất cập và tuỳ tiện Chắnh điều này đã một phần nào đó kìm hãm sự phát triển của giáo dục THPT ở huyện nhà Điều đó đặt ra vấn

đề cấp thiết trong việc tăng cường quản lý hoạt động giảng dạy của Hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy ở các trường THPT trên địa bàn huyện Xuyên Mộc

Với điều kiện nhiều năm làm công tác quản lý, đặc biệt là phụ trách về mảng chuyên môn trong nhà trường THPT, qua quá trình được học tập bồi dưỡng về khoa học quản lý giáo dục, bản thân xét thấy có đủ điều kiện về cơ sở lý luận cũng như thực tiễn để nghiên cứu về vấn đề này

Với các lý do trên, người nghiên cứu chọn đề tài ỘThực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của Hiệu trưởng các trường trung học phổ thông huyện Xuyên Mộc, tỉnh

Bà rịa-Vũng tàuỢ với hy vọng góp một phần công sức vào việc đảm bảo và nâng cao

chất lượng dạy học ở các trường THPT

2 Mục đắch nghin cứu

Tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của Hiệu trưởng các trường THPT huyện Xuyện Mộc, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu và đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng dạy học

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

Trang 6

-Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý của Hiệu trưởng ở các trường THPT huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu

-Đối tượng nghiên cứu: lý luận và thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của Hiệu trưởng các trường THPT huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu

4 Giả thuyết khoa học

Hiện nay, bên cạnh việc áp dụng một số ít các biện pháp tích cực, thực trạng quản

lý hoạt động giảng dạy của Hiệu trưởng ở các trường THPT huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu chỉ ở mức độ trung bình khá, nguyên nhân có thể là do Hiệu trưởng:

- Chưa thực hiện việc kế họach hóa công tác quản lý họat động giảng dạy;

- Chưa thực hiện chặt chẽ các nội dung quản lý hoạt động giảng dạy trong nhà trường

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích, hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác quản lý hoạt động giảng dạy của Hiệu trưởng ở các trường THPT

- Khảo sát, phân tích và đánh giá về thực trạng công tác quản lý hoạt động giảng dạy ở các trường THPT trên địa bàn huyện Xuyên Mộc

- Đề xuất một số biện pháp chủ yếu trong công tác quản lý hoạt động giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở các trường THPT trên địa bàn huyện Xuyên Mộc

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

- Giới hạn nghiên cứu: luận văn chỉ nghiên cứu nội dung công tác quản lý các hoạt động giảng dạy trong nhà trường THPT, không nghiên cứu việc quản lý hoạt động học tập của học sinh cũng như các hoạt động giáo dục khác

- Phạm vi nghiên cứu: đề tài tập trung khảo sát, nghiên cứu tại 04 trường đóng trên địa bàn huyện Xuyên Mộc: trường THPT Xuyên Mộc, trường THPT bán công Phước Bửu, trường THPT Hòa Bình và trường THPT Hòa Hội

7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp luận nghiên cứu:

Các quan điểm được vận dụng trong công trình nghiên cứu bao gồm:

- Quan điểm hệ thống – cấu trúc: thể hiện trong việc xác định nội hàm của công tác quản lý hoạt động giảng dạy;

Trang 7

- Quan điểm lịch sử: nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy ở 04 trường THPT trên địa bàn huyện Xuyên Mộc trong vài năm gần đây ( năm học 2005-

2006 và 2006-2007);

- Quan điểm thực tiễn: các biện pháp đề ra phải đảm bảo tính khả thi và phù hợp với điều kiện dạy học thực tế tại các trường THPT huyện Xuyên Mộc

7.2 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

7.2.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận

Bao gồm phân tích và tổng hợp lý thuyết; phân loại và hệ thống hóa lý thuyết nhằm mục đích xác định cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu

7.2.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

Phương pháp chủ đạo của đề tài nghiên cứu là phương pháp điều tra bằng phiếu Bên cạnh đó có các phương pháp hỗ trợ gồm phương pháp quan sát sư phạm; phương pháp phỏng vấn, phương pháp chuyên gia; phương pháp tổng kết kinh nghiệm, phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

7.2.3 Phương pháp toán thống kê:

Dùng phần mềm SPSS 14.0 ( Satistical Package of Social Studies) để xử lý, phân tích các số liệu thu được, tập trung ở các phép tính Frequencise ( tần số), Mean (trung bình), Descriptive ( mô tả), Bivariate Correlations (so sánh), Paired-Samples T test ( kiểm nghiệm t) để đo đạc các mối quan hệ, tính tổng trung bình, độ lệch tiêu chuẩn, hệ

số tương quan tích-moment Pearson ( Pearson Correlation), mức ý nghĩa

8 Đóng góp mới của đề tài

8.1.Về lí luận: đề tài hệ thống hóa được lí luận về quản lí hoạt động giảng dạy của Hiệu

trưởng các trường Trung học phổ thông

8.2.Về thực tiễn: Làm sáng tỏ được thực trạng công tác quản lí hoạt động giảng dạy của

Hiệu trưởng trường THPT huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà rịa-Vũng tàu Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp quản lí hoạt động giảng dạy của Hiệu trưởng nhằm đảm bảo việc nâng cao chất lượng dạy học Kết quả của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo có ích cho Hiệu trưởng các trường THPT trong việc quản lí hoạt động giảng dạy ở nhà trường

Trang 8

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY

CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong công tác giáo dục, quản lý hoạt động giảng dạy là một công việc khó khăn

và chiếm nhiều thời gian của người Hiệu trưởng (HT) Chất lượng đào tạo của nhà trường có được đảm bảo hay không phụ thuộc rất nhiều vào hiệu quả của hoạt động này Chính vì vậy, bằng thực tế và lý luận đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu đến hoạt động giảng dạy, quản lý hoạt động giảng dạy để tìm ra những biện pháp hữu hiệu nhằm giúp các HT thực hiện tốt mục tiêu giáo dục của nhà trường

* Các nhà nghiên cứu quản lý giáo dục Nga –những người rất quan tâm đến việc

đề ra các biện pháp quản lý có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục trong nhà trường- cho rằng: “Kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý công tác quản lý hoạt động của đội ngũ GV” [11]

Các tác giả V.P.Xtrêzicodin, G.I.Goócscaia, V.A.Xukhomlinxki, Jaxapob, Xvecxlerơ đã nghiên cứu và đưa ra một số công việc quản lý hoạt động giảng dạy của

HT trường phổ thông như sau:

+ Phân công hợp lý giữa HT và Phó Hiệu trưởng (PHT) phụ trách công tác chuyên môn Các tác giả đều thống nhất khẳng định HT là người chịu trách nhiệm về toàn bộ

công việc của nhà trường nhưng để đảm bảo sự chỉ đạo thống nhất, có kết quả, không dẫm chân và mâu thuẩn nhau cần có sự phân công rành mạch, cụ thể, rõ ràng và bao trùm các công việc nhà trường để tránh trùng lặp và buông lơi một số công việc trong hoạt động nhà trường [21, tr.16] Bên cạnh việc phân công trách nhiệm, các tác giả còn

đề cập đến sự phối hợp chặt chẽ và thống nhất quản lý giữa HT và PHT HT và PHT cần thường xuyên trao đổi về những thành công hoặc thất bại và những nguyên nhân của nó

để cùng tìm ra biện pháp quản lý hiệu quả

+ Xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên (GV) Các nhà nghiên cứu cho rằng: HT

có quyền lựa chọn và phải biết lựa chọn cho trường mình một đội ngũ GV có năng lực;

Trang 9

có kế hoạch bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ để họ trở thành GV tốt theo tiêu chuẩn nhất định

+ Tổ chức hội thảo khoa học trong đội ngũ GV: đây là một công tác cần thiết nhằm

nâng cao chất lượng dạy học Nội dung hội thảo thường là những vấn đề nảy sinh trong quá trình dạy học, về phương pháp dạy học và giáo dục học sinh (HS) Thông qua hội thảo khoa học mà GV có thể trao đổi kinh nghiệm về chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao trình độ góp phần vào việc thực hiện tốt công tác tự bồi dưỡng của GV

+ Tổ chức dự giờ và phân tích sư phạm bài dạy: đây là biện pháp hữu hiệu nhất

trong quản lý hoạt động giảng dạy của HT HT, PHT và tổ trưởng chuyên môn cần thường xuyên dự giờ giáo viên, góp ý cụ thể cho GV về cách soạn giáo án, những nội dung cần truyền đạt, các phương pháp dạy học, cách tổ chức giờ học một cách hiệu quả,

* Ở Việt Nam, nhiều tác giả đã nghiên cứu về quản lý nhà trường, quản lý hoạt động dạy học như Nguyễn Ngọc Quang, Hoàng Chúng, Nguyễn Văn Lê, Hà Sĩ Hồ - Lê Tuấn, Trần Kiểm, Võ Quang Phúc Mặc dầu mỗi tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu về một phương diện nào đó trong quản lý giáo dục nhưng đều đề cập đến những vấn đề liên quan đến nội dung quản lý hoạt động dạy học của người HT

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang khẳng định: “Dạy học và giáo dục trong sự thống nhất là hoạt động trung tâm của nhà trường.” “ về thực chất quản lý trường học là quản

lý quá trình dạy học.” [33, tr 51-52]

Tác giả Nguyễn Văn Lê có đề cập đến việc tổ chức, quản lý tốt các hoạt động giảng dạy trong nhà trường bao gồm: tạo điều kiện thuận lợi cho GV trong việc chuẩn bị giờ lên lớp; phân công giảng dạy một cách khoa học; xây dựng thời khóa biểu hợp lý để tránh gây mệt mỏi cho cả GV và HS; thực hiện kiểm tra thường xuyên các hoạt động giảng dạy của GV; phát hiện và phổ biến kinh nghiệm giảng dạy và các biện pháp giáo dục chính trị tư tưởng, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để xây dựng tiềm lực giảng dạy cho đội ngũ [25]

Tác giả Hà Sĩ Hồ và Lê Tuấn cũng khẳng định rằng quản lý dạy và học chính là nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường và yêu cầu người HT cần phải có sự kết hợp hữu cơ

Trang 10

giữa sự quản lý dạy và học với sự quản lý các quá trình bộ phận hỗ trợ khác nhằm làm cho tác động giáo dục được hoàn chỉnh và trọn vẹn [20]

Tác giả Nguyễn Thị An đánh giá tầm quan trọng của công tác thi đua khen thưởng trong quá trình quản lý nhà trường nhằm động viên, phát huy hết khả năng, trí tuệ của người dạy và người học đồng thời cũng nêu lên những hạn chế và đề xuất phương hướng cải tiến công tác thi đua nhằm phát huy vai trò của nó trong công tác quản lý nhà trường [1]

Nói tóm lại, các nhà nghiên cứu ở nước ngoài cũng như ở Việt Nam đã đề ra nhiều biện pháp quản lý hoạt động giảng dạy ở nhà trường Gần đây, một số luận văn thạc sĩ đã quan tâm đến đề tài quản lý của HT nhằm nâng cao chất lượng dạy học, cụ thể ở các trường:

- THPT tại TP Hồ Chí Minh;

- THPT tại thành phố Cà Mau;

- THPT ngoại thành Hà nội;

- THCS tại thành phố Huế;

- THPT Dân lập tại tỉnh Đồng Nai

Quản lý hoạt động giảng dạy thật sự là vấn đề cấp thiết đã được quan tâm nghiên cứu và cần tiếp tục nghiên cứu Ở huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà rịa-Vũng tàu, vấn đề này vẫn chưa được đề cập đến Do đó trong giới hạn của đề tài, chúng tôi khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của HT các trường THPT tại huyện Xuyên Mộc từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý phù hợp có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng dạy học

1.2 Cơ sở lý luận của công tác quản lý hoạt động giảng dạy của Hiệu trưởng các trường trung học phổ thông

1.2.1 Các khái niệm về quản lý hoạt động giảng dạy

1.2.1.1 Quản lí:

Quản lí là một hoạt động lao động tất yếu trong quá trình phát triển của xã hội

loài người, nó được bắt nguồn và gắn chặt với sự phân công và hợp tác lao động, nó là một thuộc tính bất biến, nội tại của mọi quá trình lao động xã hội Sự cần thiết của hoạt động quản lí đã được Mác khẳng định bằng ý tưởng độc đáo và đầy sức thuyết phục “

Trang 11

Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải

có nhạc trưởng” [27, tr.480]

Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận quản lí, tùy theo cách tiếp cận

mà khái niệm quản lí đã được các nhà nghiên cứu định nghĩa theo nhiều cách khác nhau

- Theo từ điển tiếng Việt: quản lí là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định [31, tr.800]

- H.Knoontz định nghĩa: “Quản lí là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong

đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm, có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định” [23, tr.29]

- Nhấn mạnh đến các chức năng của hoạt động quản lí, nhà lí luận kinh tế H.Fayon cho rằng: “quản lí hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp và kiểm tra”[13, tr.108]

- Theo Hà Sĩ Hồ và Lê Tuấn “ Quản lí là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định” [20, tr.34]

- Tiếp cận quan điểm hệ thống, tác giả Hà Thế Ngữ lại cho rằng: “Quản lí là dựa vào các quy luật khách quan vốn có của hệ thống để tác động đến hệ thống nhằm chuyển

hệ thống đó sang một trạng thái mới” [30, tr.363]

Những định nghĩa trên tuy có khác ngau về cách diễn đạt, về góc độ tiếp cận,

nhưng đều thống nhất ở bản chất quản lí: Quản lí là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí lên khách thể quản lí nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng và cơ hội của tổ chưc để đạt mục tiêu đề ra bằng việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra

1.2.1.2 Hoạt động:

- Theo từ điển Tiếng Việt, hoạt động là:

+ Tiến hành những việc làm có quan hệ với nhau chặt chẽ nhằm một mục đích nhất định trong đời sống xã hội

+ Thực hiện một chức năng nhất định nào đó trong một chỉnh thể [31, tr.452]

Trang 12

- Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, “Hoạt động là sự tương tác tích cực giữa chủ thể và đối tượng, nhằm biến đổi đối tượng theo mục tiêu mà chủ thể đặt ra Quá trình chủ thể tác động vào đối tượng nhằm tạo ra sản phẩm” [34, tr.6]

- Theo tác giả luận văn, hoạt động là quá trình tương tác giữa chủ thể và đối tượng nhằm thỏa mãn nhu cầu của chủ thể

1.2.1.3 Hoạt động giảng dạy:

Theo Đặng Vũ Hoạt thì: “ Quá trình dạy học là một quá trình, trong đó, dưới tác dụng chủ đạo ( tổ chức, điều khiển, lãnh đạo) của thầy, học sinh tự giác, tích cực, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học” [30, tr.125]

Từ định nghĩa trên, có thể rút ra hai dấu hiệu sau về hoạt động dạy học:

- Hoạt động dạy học bao gồm hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của học sinh diễn ra liên tục và tác động qua lại lẫn nhau

- Hoạt động của học sinh được thực hiện dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của thầy

Xét riêng về khái niệm hoạt động dạy:

- Theo từ điển tiếng Việt: “Dạy học là để nâng cao trình độ văn hóa, phẩm chất đạo đức theo một chương trình nhất định”[31, tr.244]

-“ Dạy học là quá trình truyền thụ, lĩnh hội tri thức” [19, tr.22]

- Theo nhà giáo Nguyễn Kỳ: “ Dạy học là hướng dẫn, hỗ trợ, khuyến khích người học xử lí, biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức bên trong con người mình Dạy học

là khuyến học Dạy học là tri thức hóa con người” [24, tr.98] Theo các định nghĩa trên thì trong hoạt động dạy, người thầy giáo đóng vai trò là chủ thể tổ chức, điều khiển hoạt động học của học sinh với các mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học nhằm giúp cho học sinh thực hiện được hoạt động nhận thức và phát triển trí tuệ Điều

đó cũng có nghĩa dạy học là dạy cách học cho học sinh “Nghề dạy học là nghề dạy người ta học” [24, tr.66]

Về mặt nội dung thì khái niệm hoạt động dạy đồng nhất với khái niệm hoạt động giảng dạy Theo từ điển tiếng Việt: giảng dạy là “ Giảng để truyền thụ tri thức” [31, tr.391] Như vậy, có thể nói mọi hoạt động giảng dạy ( tức hoạt động dạy), tổ chức điều

Trang 13

khiển của người thầy giáo đều nhằm đạt đến mục đích duy nhất là thúc đẩy hoạt động nhận thức của học sinh và kết quả của quá trình giảng dạy được thể hiện ở kết quả nhận thức của học sinh

Tóm lại, hoạt động giảng dạy là hoạt động tổ chức, điều khiển của người thầy giáo tới đối tượng là học sinh nhằm giúp cho học sinh thực hiện tốt hoạt động nhận thức của họ và qua đó hình thành tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, thái độ và hành vi

* Nội dung hoạt động giảng dạy của giáo viên:

Dựa vào nhiệm vụ và quyền hạn của giáo viên được quy định ở Điều lệ trường học của Bộ GD&ĐT ban hành, có thể đưa ra nội dung hoạt động giảng dạy của giáo viên như sau:

- Giảng dạy theo đúng chương trình giáo dục, kế hoạch dạy học; soạn bài, chuẩn

bị thí nghiệm; kiểm tra, đánh giá theo đúng quy định; vào sổ điểm, ghi học bạ đầy đủ

- Tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn

- Học tập văn hóa, bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy

Có thể nói rằng, trong các hoạt động của người thầy giáo thì hoạt động giảng dạy đóng vai trò rất quan trọng bởi vì nó là hoạt động có quỹ thời gian lớn nhất, lao động nhiều nhất, chiếm nhiều công sức và trí tuệ nhất của người thầy giáo Và điều đặc biệt là nó có vai trò quyết định rất lớn đến kết quả nhận thức của học sinh

1.2.1.4 Quản lí hoạt động giảng dạy

Hoạt động dạy học là hoạt động trung tâm làm nên đặc thù của trường học trong

đó quan hệ giữa hoạt động giảng dạy và hoạt động học tập là mối quan hệ điều khiển: thầy tổ chức, điều khiển hoạt động học tập của học sinh Chính vì vậy quản lí hoạt động dạy học trong nhà trường sẽ chủ yếu tập trung vào hoạt động giảng dạy của thầy, thông qua hoạt động giảng dạy của thầy để quản lí hoạt động học tập của học sinh

Thực chất của quản lí hoạt động giảng dạy là quản lí việc thực hiện nhiệm vụ giảng dạy của từng giáo viên và cả đội ngũ giáo viên Theo Luật giáo dục thì: “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác” [6, tr.29] Theo đó có thể thấy nhiệm vụ chính của người giáo viên là giảng dạy, truyền đạt tri thức, rèn luyện cho học sinh hệ thống kĩ năng , kĩ xảo tương ứng và

Trang 14

thông qua quá trình dạy học hình thành cho học sinh cơ sở thế giới quan khoa học, những phẩm chất đạo đức cùng các giá trị tư tưởng và nhân văn Đồng thời giáo viên phải có nhiệm vụ học tập bồi dưỡng, tự bồi dưỡng và rèn luyện thường xuyên nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giảng dạy

Theo tác giả Đoàn Thị Bẩy thì “Quản lí hoạt động giảng dạy là quá trình người

HT hoạch định, tổ chức, điều khiển, kiểm tra, đánh giá hoạt động giảng dạy của GV nhằm đạt được mục tiêu đề ra”[3, tr.16]

Vì hoạt động dạy học là hoạt động trung tâm của nhà trường nên quản lí hoạt động dạy học là hoạt động cơ bản nhất trong toàn bộ quá trình quản lí nhà trường Mặt khác, xét về tính hệ thống thì quan hệ giữa hoạt động giảng dạy và hoạt động học tập là quan hệ điều khiển Do đó, quản lý hoạt động dạy học của HT “chủ yếu tập trung vào hoạt động dạy của thầy, và là trực tiếp với thầy, gián tiếp với trò; thông qua hoạt động dạy của thầy để quản lý hoạt động học của trò” [22, tr.56] Điều này đòi hỏi người HT phải tập trung nhiều thời gian, công sức và trí tuệ của mình vào quản lý hoạt động giảng dạy thì mới mong đạt được mục tiêu đã đề ra

Quản lý hoạt động giảng dạy là quá trình người HT kế hoạch hóa, tổ chức, điều khiển, kiểm tra, đánh giá hoạt động giảng dạy của GV, thông qua đó quản lý hoạt động học tập của HS nhằm đạt đến mục tiêu đặt ra là đảm bảo và không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường

1.2.2 Vị trí, mục tiêu đào tạo và đặc điểm của giáo dục THPT hiện nay

Vị trí trường Trung học phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân được quy định bởi Điều lệ trường Trung học, ở Điều 2 – chương I như sau: “Trường trung học là

cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân Trường có tư cách pháp nhân

và có con dấu riêng” [4, tr.137]

Luật Giáo dục đã quy định rõ mục tiêu của giáo dục THPT: “Giáo dục THPT nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và những hiểu biết thông thường về kĩ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” [6, tr.14]

Trang 15

Về đặc điểm của trường THPT, theo TS Nguyễn Hữu Châu – Viện trưởng Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục đã khẳng định: “ Cấp THPT gồm 3 năm học từ lớp

10 đến lớp 12, là cấp học cuối cùng của giáo dục phổ thông …Nói cụ thể hơn, cấp học này một mặt, chuẩn bị cho học sinh những tri thức và kỹ năng về khoa học xã hội nhân văn, toán học, khoa học tự nhiên, kỹ thuật để họ có thể tiếp tục đào tạo ở bậc học tiếp theo, mặt khác cần hình thành ở họ những hiểu biết về nghề phổ thông cần thiết cho cuộc sống, tham gia lao động sản xuất, xây dựng xã hội và khi có điều kiện tiếp tục học lên” [8, tr.12]

THPT là cấp học cuối cùng của giáo dục phổ thông, là giai đoạn mà học sinh cần phải nổ lực tích lũy đầy đủ kiến thức phổ thông và các giá trị nhân cách để có thể bước vào một cấp học mới cao hơn hoặc đi vào cuộc sống lao động sau này

1.2.3 Công tác quản lý hoạt động giảng dạy của Hiệu trưởng trường trung học phổ thông

1.2.3.1 Mục tiêu quản lí của nhà trường THPT

Mục tiêu quản lí là cái đích, là trạng thái phải đạt tới trong tương lai của quá trình quản lí, nó định hướng và chi phối sự vận động của toàn bộ hệ thống quản lí Mục tiêu quản lí cũng có thể là trạng thái đã đạt đến rồi và cần phải duy trì ổn định

Mục tiêu quản lí của nhà trường THPT là mô hình tư duy của trạng thái sẽ đạt tới của nhà trường vào cuối năm học hay cuối một giai đoạn nào đó Mục tiêu quản lí nhà trường phải được xây dựng dựa trên cơ sở nhiệm vụ và chức năng mà tập thể nhà trường phải thực hiện trong suốt năm học và được cụ thể hóa trong bản kế hoạch năm học của nhà trường “Khi kết thúc năm học, nếu những mục tiêu đó được thực hiện trọn vẹn thì chúng cũng chính là hệ thống những kết quả, thành tích mà nhà trường đạt được trong việc thực hiện kế hoạch” [33, tr.45] Để đạt được mục tiêu quản lí nhà trường, người HT phải thể hiện vai trò của mình trong việc xác định đúng mục tiêu cũng như tổ chức thực hiện nhằm đưa nhà trường đạt đến trạng thái mong muốn

1.2.3.2.Vai trò, trách nhiệm và nhiệm vụ của Hiệu trưởng trường trung học phổ

thông

Tại điều 16 chương I Điều lệ trường Trung học đã quy định:

Trang 16

“Hiệu trưởng và phó hiệu trưởng phải là giáo viên đạt trình độ chuẩn quy định, đã dạy học ít nhất 5 năm ở bậc trung học hoặc cao hơn, có phẩm chất chính trị và đạo đức tốt; có trình độ chuyên môn vững vàng; có năng lực quản lý được bồi dưỡng lý luận và nghiệp vụ quản lý giáo dục, có sức khỏe, được tập thể giáo viên, nhân viên tín nhiệm.” [4]

Về trách nhiệm của người Hiệu trưởng thì theo Dakharop: “Hiệu trưởng là thủ trưởng của nhà trường, là người tổ chức chính quá trình dạy học Với tư cách vừa là nhà giáo dục vừa là nhà quản lý, Hiệu trưởng có trách nhiệm bảo đảm sự phát triển của toàn

bộ công tác nhà trường” [35, tr.5]

Theo điều lệ trường Trung học, ở điều 17 chương II đã xác định nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng:

“- Tổ chức bộ máy nhà trường;

- Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học;

- Quản lý giáo viên, nhân viên, học sinh; quản lý chuyên môn; phân công công tác, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của giáo viên, nhân viên;

- Quản lý và tổ chức giáo dục học sinh;

- Quản lý hành chính, tài chính, tài sản của nhà trường;

- Tổ chức các chế độ chính sách của Nhà nước đối với giáo viên, nhân viên, học sinh; tổ chức thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường;

- Được học các lớp chuyên môn, nghiệp vụ, hưởng các chế độ hiện hành”.[4]

Tuy nhiên xét cho cùng, mọi nhiệm vụ của người Hiệu trưởng cũng đều tập trung

và phục vụ cho hoạt động dạy và học, một hoạt động trung tâm của nhà trường

Với những nhiệm vụ và quyền hạn như trên, người Hiệu trưởng phải thường xuyên rèn luyện, phấn đấu để thể hiện tốt các vai trò sau đây:

- Hiệu trưởng là nhà quản lý, là người đại diện Nhà nước về mặt hành chính, thực thi các hoạt động quản lý trường học dựa trên cơ sở của pháp luật

- Hiệu trưởng là người tổ chức trong thực tiễn, luôn tìm tòi đổi mới hoạt động quản lý, đổi mới các hoạt động sư phạm của nhà trường

Trang 17

- Hiệu trưởng là nhà sư phạm, nhà giáo dục có tâm hồn, thường xuyên chăm lo việc nâng cao năng lực sư phạm và bồi dưỡng tâm hồn nhà giáo cho đội ngũ, kèm theo

đó là sự nhạy cảm, là sự đối xử khéo léo và có khả năng cảm hóa con người

- Hiệu trưởng là nhà hoạt động chính trị xã hội và là nhà văn hóa, là người đi đầu trong công tác xã hội hóa giáo dục; là người duy trì, phát triển và sáng tạo các định hướng giá trị của nhà trường

- Hiệu trưởng còn là nhà ngoại giao Để thực hiện các nhiệm vụ đổi mới giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, người Hiệu trưởng cần tận dụng kinh phí từ nhiều nguồn khác nhau Trong điều kiện nguồn kinh phí nhà trường chủ yếu do Nhà nước cung cấp có hạn, Hiệu trưởng cần tận dụng các cơ hội để khai thác nguồn kinh phí

to lớn ngoài xã hội Trong thực tiễn quản lý hiện nay, nhiều Hiệu trưởng đã dành một tỷ

lệ thời gian, sức lực thích đáng cho công tác đối ngoại, tìm kiếm các nguồn lực hỗ trợ cho các hoạt động của nhà trường

Như vậy, để làm tốt các nhiệm vụ của mình, người Hiệu trưởng cần phải thể hiện các vai trò chủ yếu, đồng thời cũng là các yêu cầu của nhà quản lý, nhà tổ chức trong thực tiễn, nhà giáo dục, nhà sư phạm, nhà hoạt động chính trị-văn hóa-xã hội,

và hơn thế là nhà ngoại giao

1.2.3.3 Chức năng quản lý nhà trường của người Hiệu trưởng

* Cơ sở xác lập chức năng quản lý của người HT

“ Chức năng quản lý là một thể thống nhất những hoạt động tất yếu của chủ thể quản lý nảy sinh từ sự phân công, chuyên môn hóa trong hoạt động quản lý nhằm thực hiện mục tiêu” [18, tr.20]

Bất kỳ một hoạt động quản lý nào cũng đều thực hiện nhiều chức năng quản lý khác nhau, từng chức năng có tính độc lập tương đối nhưng chúng lại được liên kết hữu

cơ trong một hệ thống nhất Chức năng quản lý bao gồm chức năng cơ bản và chức năng

cụ thể

- Chức năng quản lý cơ bản là chức năng mà bất kỳ dạng hoạt động quản lý nào cũng đều phải thực hiện Chức năng quản lý cơ bản phản ánh nội dung của quá trình quản lý tức là các giai đoạn kế tiếp nhau từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc một chu kỳ quản

lý Tùy theo cách tiếp cận mà có nhiều cách phân định các chức năng cơ bản của quản lý

Trang 18

nhưng tựu trung có thể chỉ ra được 4 chức năng cơ bản được xem là các chức năng công

cụ của quá trình quản lý, đó là: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra

- Chức năng quản lý cụ thể là chức năng được quy định bởi sự phản ánh các nhiệm vụ cụ thể của đối tượng quản lý, nó do các chức năng hoạt động cụ thể tạo ra Chức năng cụ thể của quản lý nhà trường được tác giả Hà Thế Ngữ xác định : “Mỗi chức năng của quản lý giáo dục là sự kết hợp giữa một chức năng quản lý với một thành

tố của hệ thống giáo dục nhà trường Khi xây dựng bốn chức năng cơ bản của quản lý đồng thời cũng xây dựng những nhiệm vụ (có tính chức năng ) của nhà trường chúng ta hiện nay Những nhiệm vụ đó được trình bày dưới dạng mục tiêu quản lý tương ứng với các thành tố của đối tượng quản lý biểu hiện dưới dạng của các quá trình bộ phận”.[28]

Dựa vào các cơ sở trên, chúng tôi cho rằng các chức năng quản lý nhà trường của người Hiệu trưởng có thể thực hiện thông qua các giai đoạn kế tiếp nhau của một chu kỳ quản lý nhằm thực hiện mục tiêu đào tạo đã đề ra, nó bao gồm: lập kế hoạch hoạt động;

tổ chức; chỉ đạo thực hiện kế hoạch và kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch Mỗi một giai đoạn thực hiện một chức năng nhất định Tuy nhiên, sự phân chia các giai đoạn chỉ có tác dụng định hướng cho hoạt động quản lý của người HT, còn “Trong thực tế các giai đoạn gối đầu lên nhau, bổ sung cho nhau; có những chức năng diễn ra cả ở giai đoạn này và giai đoạn khác”.[33, tr.65]

* Lập kế hoạch hoạt động

Lập kế hoạch là “chức năng cơ bản nhất trong số các chức năng quản lý, bao gồm xác định mục tiêu, xây dựng chương trình hành động và bước đi cụ thể nhằm đạt tới mục tiêu trong một thời gian nhất định của một hệ thống quản lý” [18, tr.23]

Lập kế hoạch trường THPT là việc đưa toàn bộ các hoạt động của nhà trường

vào kế hoạch, trong đó chỉ rõ các cách thức, các biện pháp thực hiện, thời gian thực hiện, thành phần tham gia thực hiện cũng như việc đảm bảo các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đã đề ra

Kế hoạch hoạt động của nhà trường THPT phải được xây dựng dựa trên cơ sở trạng thái xuất phát của nhà trường trước khi bước vào năm học mới; những thuận lợi, khó khăn của nhà trường trong việc xác lập hệ thống các mục tiêu để đạt đến trạng thái mong đợi vào cuối năm học; các nguồn lực cần có và hệ thống các biện pháp để thực

Trang 19

hiện các mục tiêu đề ra Kế hoạch hoạt động phải mang tính pháp quy, tức được Hội đồng sư phạm nhà trường thông qua và được cấp trên trực tiếp phê duyệt Kế hoạch phải nhằm chương trình hoá hành động của nhà trường trong suốt năm học, tức đưa lịch thời gian và bộ phận thực hiện vào nội dung kế hoạch

Một vấn đề cần lưu ý nhất khi lập kế hoạch, đó là phải quan tâm đến nhân tố thực hiện kế hoạch chính là đội ngũ giáo viên trong nhà trường Chính vì thế, trước khi hoàn thiện, kế hoạch phải được thảo luận, đóng góp ý kiến và có sự thống nhất của đội ngũ giáo viên (trong Hội nghị công chức đầu năm) Làm được điều này thì chắc chắn kế hoạch nhà trường sẽ được thực hiện một cách hoàn hảo và đúng hướng

(Đối với trường THPT, việc lập kế hoạch sẽ được tiến hành thông qua hai giai đoạn:

- Giai đoạn thứ nhất: chuẩn bị cho việc lập kế hoạch bao gồm: xác định trạng thái xuất phát của nhà trường trước khi bước vào một năm học mới, đây cũng chính là trạng thái của nhà trường khi kết thúc năm học trước; phân tích sư phạm về các số liệu của trạng thái xuất phát cùng các nguyên nhân; xác định hướng phát triển cơ bản, đề xuất hệ thống các vấn đề sẽ đưa vào kế hoạch; phác thảo hệ thống mục tiêu, hệ thống các biện pháp lớn, sơ thảo bản kế hoạch “thô” để lấy ý kiến trong lãnh đạo và cốt cán và xin ý kiến cấp trên về những vấn đề chiến lược

- Giai đoạn thứ hai: lập kế hoạch năm học bao gồm các bước: dự báo hệ thống mục tiêu đã được phác thảo ở giai đoạn trước, phân loại ưu tiên, lập cây mục tiêu, định chuẩn đánh giá; lựa chọn hệ thống biện pháp tối ưu nhằm huy động toàn bộ nguồn lực trong nhà trường; mô hình hóa quá trình phát triển của hệ thống quản lý từ trạng thái xuất phát qua các trạng thái trung gian đến trạng thái kết thúc như mong đợi; chương trình hóa hành động của hệ trong suốt năm học, tức đưa lịch thời gian cùng các bộ phận thực hiện vào nội dung kế hoạch; trình duyệt cấp trên, điều chỉnh và hoàn thiện kế hoạch, xem như là văn bản pháp lý và mọi người trong nhà trường phải có nhiệm vụ thực hiện.)

* Tổ chức thực hiện kế hoạch là quá trình phân phối và sắp xếp nguồn lực theo

những cách thức nhất định để thực hiện tốt các mục tiêu đã đề ra

Trang 20

Chức năng tổ chức có vai trò hiện thực hóa các mục tiêu và tạo nên sức mạnh của tập thể bởi “tổ chức là phối hợp các tác động bộ phận lại với nhau làm cho chúng tạo nên một tác động tích hợp, mà hiệu quả của tác động tích hợp này lớn hơn tổng hiệu quả của các tác động bộ phận”.[33, tr.70]

Để thực hiện được vai trò quan trọng trên, Hiệu trưởng phải thiết lập được một cấu trúc tổ chức tối ưu của hệ thống quản lý Cấu trúc này được thiết lập trên cơ sở bố trí sắp đặt các bộ phận, cá nhân và sự phân công phân nhiệm đến từng người về từng mặt hoạt động của nhà trường; sự phân bổ các nguồn lực và việc xác định các cơ chế quản lý nhằm đảm bảo cho sự hoạt động có hiệu quả của hệ thống quản lý theo mục tiêu đề ra Trong quá trình thực hiện các hoạt động của nhà trường, Hiệu trưởng cần phải xác lập mối quan hệ giữa các bộ phận bên trong nhà trường cũng như mối quan hệ giữa nhà trường với cộng đồng xã hội Và một điều mà Hiệu trưởng không nên quên, đó là việc nâng cao trình độ nghiệp vụ, cải thiện đời sống của cán bộ – giáo viên, bởi vì: “đối với nhà trường, làm giàu nhân cách của giáo viên có nghĩa là làm cho tổ chức mạnh lên, làm cho xác suất thực hiện kế hoạch tăng lên” [33, tr.71]

* Chỉ đạo thực hiện kế hoạch là quá trình Hiệu trưởng huy động các lực

lượng trong nhà trường vào việc thực hiện kế hoạch nhằm biến mục tiêu dự kiến thành kết quả, kế hoạch thành hiện thực “Trên thực tế, chỉ đạo là tổ chức một cách khoa học

lao động của cả tập thể người cũng như của từng người”.[33, tr.72]

Trong quá trình chỉ đạo, người Hiệu trưởng nắm quyền chỉ huy, điều hành mọi bộ phận thực hiện các công việc sao cho toàn bộ hệ thống quản lý vận hành một cách trơn tru và thuận lợi Để đạt được điều đó, Hiệu trưởng cần phải có các chế độ động viên, khích khích kịp thời đồng thời phải thường xuyên giám sát tiến trình thực hiện công việc

để có thể điều chỉnh, uốn nắn, sửa đổi những lệch lạc mà không làm thay đổi hướng vận hành của hệ thống

* Kiểm tra thực hiện kế hoạch là quá trình xem xét thực tiễn để đánh giá thực

trạng thực hiện kế hoạch, khuyến khích các nhân tố tích cực, phát hiện những sai lệch, tìm ra nguyên nhân và đưa ra các quyết định điều chỉnh kịp thời nhằm giúp các bộ phận

và các cá nhân đạt được các mục tiêu đã đề ra trong kế hoạch

Trang 21

Để thực hiện được chức năng kiểm tra, Hiệu trưởng cần phải xác định được chuẩn kiểm tra, đo lường việc thực hiện các nhiệm vụ, so sánh đối chiếu với chuẩn kiểm tra để đánh giá kết quả thực hiện các mục tiêu từ đó đưa ra các quyết định điều chỉnh cần thiết Tuy nhiên, trong hoạt động của nhà trường có nhiều hoạt động không thể định lượng, đo lường một cách chính xác được Vì vậy, để chức năng kiểm tra có tác dụng trong quản lý nhà trường, Hiệu trưởng một mặt phải tuân thủ các nguyên tắc kiểm tra, mặt khác phải hết sức mềm dẻo, linh hoạt vận dụng các hình thức kiểm tra khác nhau

để việc kiểm tra đạt được mục đích là bảo đảm cho kế hoạch hoạt động của nhà trường được thực hiện thành công

Hoạt động kiểm tra phải được thực hiện thường xuyên với các hình thức kiểm tra định kỳ hay đột xuất, kiểm tra toàn diện hay chuyên đề và sử dụng các phương pháp kiểm tra khác nhau như phương pháp quan sát, phương pháp tác động trực tiếp đối tượng, phương pháp tình huống, phương pháp xử lý thông tin tổng hợp Kết thúc mỗi lần kiểm tra phải làm cho đối tượng được kiểm tra kịp thời sửa chữa những sai sót, lệch lạc của mình

1.2.3.4 Nội dung công tác quản lý hoạt động giảng dạy của Hiệu trưởng trường trung học phổ thông

* Cơ sở xác lập nội dung công tác quản lý hoạt động giảng dạy của HT trường trung học phổ thông

Trong các nội dung quản lý nhà trường thì quản lý hoạt động giảng dạy là nội dung quan trọng và trọng tâm nhất của người Hiệu trưởng Tuy nhiên, theo quan điển

hệ thống-cấu trúc của lý luận dạy học thì hoạt động giảng dạy của GV là một hệ thống

mà bên trong nó có rất nhiều thành tố cấu thành nên, các thành tố này có sự tương tác,

hỗ trợ cho nhau Mặt khác, hoạt động giảng dạy của GV là một hệ thống liên quan đến nhiều thành tố như: mục đích, nhiệm vụ dạy học; nội dung dạy học; trò và hoạt động học; các phương pháp và các phương tiện dạy học; kết quả dạy học

Theo cách tiếp cận trên, kết hợp với nhiệm vụ và quyền lợi của GV đã được quy định trong Điều lệ Trường trung học, chúng tôi đề xuất các nội dung quản lý hoạt động

giảng dạy của HT trường THPT như sau:

a Quản lý việc phân công giảng dạy cho giáo viên

Trang 22

Việc phân công nhiệm vụ cho giáo viên (GV) phải căn cứ vào năng lực của GV, điều kiện cụ thể của nhà trường, quyền lợi của học sinh và tham khảo nguyện vọng của

GV Có thể đáp ứng được tất cả các cơ sở trên nếu trường có đội ngũ GV đủ mạnh Song trong điều kiện đội ngũ thiếu lại không đồng đều về năng lực thì phải lựa cho phương án tối ưu là ưu tiên về quyền lợi của học sinh (HS) và yêu cầu của nhà trường để lựa chọn GV giảng dạy cho phù hợp [43, tr.29]

Tác giả Nguyễn Văn Lê đã đúc rút được kinh nghiệm phân công của một số trường tiên tiến như sau:

- Phân công để chuyên môn hóa tức chỉ dạy một môn và dạy theo lớp để chịu trách nhiệm với lớp và nắm vững chương trình toàn cấp sau một thới gian nào đó

- Phân công mang tính chất kèm cặp tức trong một khối lớp phải có một số GV giỏi dạy làm nòng cốt cho các GV khác

- Phân công GV dạy các lớp song song để giảm số giáo án trong tuần và tăng thời gian chuẩn bị cho mỗi giáo án [25]

Về quy trình phân công giảng dạy, để đảm bảo tính khoa học và dân chủ trong nhà trường, người HT cần phải tham khảo ý kiến của các PHT, các tổ trưởng chuyên môn (TTCM) trước khi đưa ra dự kiến phân công Sau đó đưa về cho các tổ chuyên môn bàn bạc, thảo luận đi đến thống nhất về sự phân công Cuối cùng , HT ra quyết định phân công

Phân công giảng dạy cho GV là một việc làm đầy suy nghĩ của người HT, nó phải nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy học của nhà trường Để làm tốt được việc này, trước hết người HT phải thật sự sáng suốt và đầy công tâm trong việc phân công, không được để lợi ích của bất kỳ một cá nhân nào tác động ảnh hưởng đến việc phân công

b Quản lý việc thực hiện chương trình, kế hoạch giảng dạy của giáo viên

* Quản lý kế hoạch giảng dạy

“Kế hoạch dạy học là văn kiện do Nhà nước ban hành, trong đó quy định các môn học, trình tự giảng dạy, học tập các môn ( qua từng bậc học, từng cấp học, từng năm học), số giờ dành cho mỗi môn (trong một năm học, trong một tuần) và việc tổ

Trang 23

chức năm học (số tuần thực học, số tuần lao động và nghỉ, chế độ học tập hàng tuần, hàng ngày)” [30, tr.181]

Thực chất của quản lý kế hoạch dạy học là việc HT cần phải đảm bảo cho đội ngũ GV có đủ điều kiện để hoàn thành kế hoạch dạy học của nhà trường HT cần phải nhận thức và giúp cho GV nhận thức được rằng tất cả các môn học đã được đưa vào trong kế hoạch dạy học đều rất cần thiết đối với thế hệ trẻ và cần được thực hiện đúng theo quy định Không vì một lý do thành tích nào mà coi trọng môn này, xem nhẹ môn kia nhất là những môn cần cho thi cử để rồi tăng hoặc giảm tiết một cách tùy tiện, vi phạm quy chế, có tác động xấu đến thái độ học tập của học sinh

* Quản lý việc thực hiện chương trình

Chương trình dạy học là văn bản mang tính pháp lệnh của Nhà nước, do Bộ Giáo dục và Đào tạo ( Bộ GD&ĐT) ban hành trong cả nước, các cán bộ quản lý và giáo viên phải thực hiện nghiêm túc Chương trình dạy học là tài liệu quan trọng nhất quy định nội dung, phương pháp, hình thức, thời gian dạy học từng môn: số tiết giảng bài, ôn tập, kiểm tra, thực hành … nhằm thực hiện những yêu cầu mục tiêu của cấp học Thực hiện chương trình là thực hiện kế hoạch đào tạo theo mục tiêu đào tạo của trường THPT

Quản lý thực hiện chương trình theo đúng quy định của Bộ GD&ĐT là nhiệm vụ của HT Hoạt động dạy và học trước hết phải được tiến hành theo chương trình dạy học cho nên căn cứ đầu tiên của người HT trong việc quản lý dạy học là tuân theo chương trình dạy học Điều đó có nghĩa là HT phải điều khiển hoạt động giảng dạy của thầy và hoạt động học tập của trò theo những yêu cầu, nội dung, hướng dẫn của chương trình dạy học

Do đó, với tư cách là người lãnh đạo và chịu trách nhiệm cao nhất về chuyên môn trong nhà trường, HT phải nắm vững chương trình dạy học và làm cho GV nắm vững cũng như có ý thức cao trong việc thực hiện chương trình Để bản thân và giáo viên nắm vững được chương trình, đầu năm học HT cần phổ biến những thay đổi (nếu có) trong chương trình theo chỉ thị hướng dẫn của Bộ GD&ĐT Đặc biệt trong giai đoạn đổi mới chương trình giáo dục THPT như hiện nay, chương trình thay đổi, sách giáo

Trang 24

khoa mới đòi hỏi người HT phải tổ chức cho toàn thể GV học tập, thảo luận một cách kỹ lưỡng về chương trình Tổ chức cho các tổ chuyên môn thảo luận về những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn giảng dạy khi thực hiện chương trình mới để tìm biện pháp thực hiện thống nhất

Thực chất quản lý việc thực hiện chương trình của HT là đảm bảo đúng và đủ chương trình cả về mặt thời gian, tiến độ và chất lượng của chương trình Điều này thể hiện:

-Về nội dung mỗi môn học phải đảm bảo đúng quy định, không mở rộng cũng không nâng cao, bởi vì như thế sẽ dẫn đến nhồi nhét, quá tải

-Về phương pháp: thực hiện các phương pháp dạy học đặc trưng của bộ môn, tổ chức các hình thức dạy học đa dạng, phong phú kết hợp dạy học trong lớp, ngoài lớp, làm thí nghiệm, thực hành, tham quan …

- Đảm bảo đúng và đủ phân phối chương trình về số tiết học, số bài học Nghiêm cấm việc cắt xén, dồn nén bài học, thêm bớt tiết học

Để thực hiện việc quản lý chương trình, HT cần có sự chỉ đạo cụ thể sau:

- Hướng dẫn GV lập kế hoạch giảng dạy bộ môn, trong đó phải xây dựng được lịch học kỳ, những hoạt động cần lưu ý trong chương trình như: kiểm tra định kỳ, thực hành, ôn tập, tổng kết, ngoại khóa Kế hoạch này là phần chính trong kế hoạch cá nhân của GV, được trao đổi trong tổ chuyên môn, HT góp ý và duyệt kế hoạch

- Đảm bảo về mặt thời gian để GV thực hiện đúng và đủ chương trình Tuyệt đối không sử dụng thời gian dạy và học vào những việc không phải dạy và học

- Cần phân công trách nhiệm cho PHT chuyên môn và các TTCM trong việc quản lý thực hiện chương trình

- Sử dụng các phương tiện như: sổ báo giảng, sổ ghi đầu bài, sổ dự giờ, vỡ ghi của học sinh … để nắm được việc thực hiện chương trình và những tình hình có liên quan đến chương trình hàng ngày

- Sử dụng thời khóa biểu để điều khiển và kiểm soát việc thực hiện tiến độ chương trình của tất cả các môn học

-Việc kiểm tra thực hiện chương trình phải làm thường xuyên để kịp thời điều chỉnh và xử lý các sự cố ảnh hưởng tới việc thực hiện chương trình dạy học

Trang 25

Để có thể quản lý tốt hoạt động giảng dạy trong nhà trường nhằm đạt đến mục tiêu đào tạo thì nắm vững và quản lý tốt việc thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học là việc làm cần thiết của người HT Trong giai đoạn hiện nay, khi mà ngành giáo dục đang phải vật lộn khó khăn với căn bệnh thành tích, người ta có thể dễ dàng cắt xén chương trình, bỏ bớt một số bộ môn được cho là không cần thiết để có thời gian tăng cường cho những môn được xem là quan trọng thì người HT giỏi càng cần phải thực hiện tốt nội dung quản lý này mới có thể đạt được mục tiêu mà ngành giáo dục đã đề ra

c Quản lý việc chuẩn bị của giáo viên trước giờ lên lớp

Việc chuẩn bị của giáo viên trước giờ lên lớp là một khâu quan trọng trong hoạt động giảng dạy của GV Việc chuẩn bị của GV bao gồm chuẩn bị dài hạn cho cả năm học và chuẩn bị trực tiếp cho từng tiết dạy

- Việc chuẩn bị dài hạn cho cả năm học bao gồm các công việc sau: GV tìm hiểu

về học sinh lớp mình giảng dạy; nghiên cứu kỹ chương trình, nội dung tài liệu giảng dạy

để lựa chọn tài liệu cho từng tiết dạy, phương pháp, phương tiện dạy học thích hợp; tìm hiểu các phương tiện hiện có của nhà trường để có kế hoạch làm nên các phương tiện mới; cuối cùng trên cơ sở các công việc trên kết hợp với tài liệu hướng dẫn của các cơ quan quản lý giáo dục mỗi GV và tập thể nhóm GV xây dựng kế hoạch giảng dạy theo chương mục cả năm hay từng học kỳ của mình

- Chuẩn bị trực tiếp cho từng tiết dạy:

Chuẩn bị cho từng tiết dạy bao gồm việc soạn giáo án - tức lập kế hoạch bài giảng và việc chuẩn bị đầy đủ các phương tiện dạy học để phục cho tiết dạy đảm bảo có chất lượng

Tuy rằng bài soạn chưa phải đã dự đoán hết các tình huống trên lớp nhưng “Soạn bài là việc chuẩn bị quan trọng nhất của GV cho giờ lên lớp” [20, tr.69] Bài soạn là một bản thiết kế cụ thể cho giờ lên lớp, nó là kết quả lao động sáng tạo của người GV Bài soạn thể hiện sự lựa chọn của GV về nội dung kiến thức cần truyền thụ; phương pháp giảng dạy bao gồm các hoạt động của thầy và hoạt động của trò trong giờ lên lớp; các hình thức tổ chức dạy học: ở lớp, ở phòng thí nghiệm; ở ngoài trời…; dự định các thiết

bị, đồ dùng dạy học cần thiết; ấn định về thời gian thực hiện đồng thời dự đoán tình

Trang 26

huống và phương thức giải quyết Có nhiều loại bài học: bài học kiến thức mới, bài học

ôn tập, bài tổng kết, chữa bài tập, bài thực hành … Bất kỳ loại bài nào cũng phải giải quyết đúng sự lựa chọn các vấn đề trên

Để quản lý tốt việc chuẩn bị của GV trước giờ lên lớp, HT cần tiến hành một số công việc phổ biến như sau:

+ Hướng dẫn GV lập kế hoạch soạn bài từ đầu năm học và phải có kiểm tra, ký duyệt

+ Cung cấp cho GV đầy đủ sách giáo khoa, các tài liệu khác có liên quan và các phương tiện dạy học

+ Tổ chức các buổi hướng dẫn, thảo luận về cách thức, phương pháp soạn bài cũng như những kinh nghiệm soạn bài của các GV giỏi Hướng dẫn các tổ chuyên môn thống nhất nội dung và hình thức bài soạn

+ Kết hợp với Phó HT, TTCM tổ chức kiểm tra việc soạn bài của GV bằng các hình thức định kỳ hay đột xuất trước hay sau giờ lên lớp Căn cứ vào kế hoạch sử dụng

đồ dùng dạy học và phòng thực hành bộ môn, phiếu báo giảng của GV, sổ theo dõi việc mượn đồ dùng dạy học, sử dụng phòng thực hành bộ môn để kiểm tra việc chuẩn bị các phương tiện phục vụ cho việc giảng dạy của GV

Chuẩn bị của GV trước giờ lên lớp là một khâu quan trọng và chiếm nhiều thời gian nhất của GV trong hoạt động giảng dạy Việc chuẩn bị tốt sẽ quyết định một phần quan trọng sự thành công của giờ lên lớp Chính vì thế HT cần phải tạo mọi điều kiện cũng như có các biện pháp để kiểm tra thường xuyên việc chuẩn bị này

d Quản lý hoạt động của GV trong giờ lên lớp

Giờ lên lớp là hình thức dạy học chủ yếu ở các trường học từ trước đến nay để giúp học sinh lĩnh hội kiến thức một cách có hệ thống, đầy đủ Trong giờ lên lớp, GV tiến hành các hoạt động cụ thể của mình nhằm thực hiện toàn bộ kế hoạch bài giảng đã

đề ra “Giờ lên lớp là một khâu trong quá trình dạy học được kết thúc trọn vẹn trong khuôn khổ nhất định về thời gian theo quy định của kế hoạch dạy học Do đó, trong mỗi giờ lên lớp hoạt động dạy của GV và hoạt động học của học sinh đều thực hiện dưới sự tác động tương hỗ giữa các yếu tố cơ bản của quá trình dạy học, đó là mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học”.[20]

Trang 27

Chính trong giờ lên lớp, người GV mới thể hiện đầy đủ trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm , tầm hiểu biết về cuộc sống xã hội cùng những hứng thú, niềm tin, tính cách của mình Giờ lên lớp giữ vai trò quyết định chất lượng giảng dạy, chính vì vậy mà cả GV và HT đều rất chú ý quan tâm, đầu tư cho giờ lên lớp Trong đó, GV trực tiếp giảng dạy giữ vai trò trực tiếp quyết định và chịu trách nhiệm về giờ lên lớp còn HT đóng vai trò gián tiếp quyết định chất lượng giờ lên lớp Để giờ lên lớp được bảo đảm chất lượng, một mặt HT cần tạo điều kiện cho GV thực hiện giờ lên lớp có hiệu quả, mặt khác phải có các biện pháp quản lý cụ thể giờ lên lớp của GV Có thể thực hiện các biện pháp sau để quản lý giờ lên lớp của GV:

- Xây dựng chuẩn giờ lên lớp

Chuẩn giờ lên lớp là chuẩn mực cần thiết để quản lý giờ lên lớp của GV, nó được xây dựng dựa trên những quy định chung của ngành và hoàn cảnh riêng của nhà trường Theo công văn số 10227/THPT ngày 11/9/2001 của Bộ GD&ĐT về việc hướng dẫn đánh giá và xếp loại giờ dạy ở bậc trung học có đưa ra chuẩn giờ lên lớp bao gồm năm mặt đánh giá: nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức, kết quả (Theo chúng tôi, trong mỗi giờ lên lớp, hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS đều thực hiện dưới sự tác động tương hỗ giữa các thành tố cơ bản của quá trình dạy học bao gồm: mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học thì việc đánh giá giờ dạy theo năm nội dung như trên là chưa đảm bảo mà cần phải có thêm một nội dung đánh giá về cách xác định mục tiêu của bài dạy để khi đánh giá ở nội dung kết quả phải thấy rõ ngoài việc lĩnh hội được kiến thức, HS đã rèn luyện được những kỹ năng gì và

có thái độ thế nào đối với nội dung của bài học) Dựa trên các yêu cầu mang tính tổng quát của chuẩn giờ lên lớp mà Bộ GD&ĐT đã quy định, tuỳ theo tình hình cụ thể và yêu cầu chỉ đạo của nhà trường, tuỳ theo mỗi loại bài học mà HT xây dựng chuẩn giờ lên lớp riêng cho từng loại bài trên cơ sở lý luận dạy học

HT sử dụng chuẩn giờ lên lớp để kiểm tra, đánh giá từng loại bài lên lớp vì vậy chuẩn giờ lên lớp không những có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn quan trọng hơn là ý nghĩa thực tiễn

- Xây dựng và sử dụng thời khóa biểu để quản lý giờ lên lớp

Trang 28

Thời khóa biểu là lịch học của các lớp, nó được xây dựng dựa trên những nguyên tắc nhất định và trật tự chặt chẽ, vì vậy nó được coi như là kế hoạch dạy học có dạng

“chương trình hóa” Thời khóa biểu có vai trò xây dựng, duy trì nề nếp dạy học trong nhà trường, duy trì nề nếp giờ lên lớp cho thầy và trò Do đó thời khóa biểu cần phải được ổn định, tránh điều chỉnh thường xuyên vì như thế sẽ phá vỡ nề nếp dạy của thầy

và học của trò

HT sử dụng thời khóa biểu để điều khiển và kiểm soát tiến độ thực hiện chương trình các môn học, điều tiết giờ lên lớp của GV

- Quản lý giờ dạy trên lớp

Việc quản lý giờ dạy được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau:

+ Quản lý việc vắng, trễ giờ dạy, dạy thay, dạy bù của GV: việc vắng trễ giờ dạy của GV ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng giờ dạy của lớp học và nề nếp dạy học trong nhà trường Để quản lý được việc này HT cần tổ chức cắt cử người theo dõi, kiểm tra từng giờ dạy cụ thể và có chế độ báo cáo hàng tháng cho HT

+ Tổ chức dự giờ và phân tích bài học sư phạm :

Giờ học trên lớp là phần cơ bản của quá trình dạy học, quyết định đến chất lượng đào tạo của nhà trường Để quản lý giờ học ở trên lớp, HT cần có kế hoạch dự giờ và phân tích bài học sư phạm thường xuyên

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Bảo và Hà Thị Đức, việc phân tích sư phạm bài dạy cần phải quán triệt quan điểm tiếp cận hệ thống, tức là phải xem xét bài học là một chỉnh thể toàn vẹn trong đó bao gồm mối liên hệ bên trong giữa các thành tố (mục đích, nội dung, phương pháp và kết quả) tạo nên mỗi bước và mối liên hệ, tương tác giữa các bước với nhau trong toàn bài học Phân tích sư phạm bài học là phải phân tích cho được các mối liên hệ khăng khít và nhiều chiều đó [2]

HT phải xem việc dự giờ là một biện pháp quản lý trực tiếp giờ dạy trên lớp của

GV Qua dự giờ, bên cạnh việc phân tích để GV phát hiện ra những nhược điểm, thiếu sót của mình từ đó HT có những đề nghị, yêu cầu để GV sửa chữa, khắc phục, mặt khác

HT còn phát hiện ra những kinh nghiệm, sáng tạo của GV để phổ biến cho tập thể, cung cấp cho GV và học sinh những lời khuyên hữu ích về giảng dạy và học tập Ngoài ra, nhờ dự giờ mà HT có thể rút ra được những nhận xét khách quan, trung thực về tình

Trang 29

hình giờ lên lớp để có những quyết định quản lý phù hợp cho công tác quản lý giờ lên lớp của mình

Qua dự giờ phân tích bài học sư phạm, HT cần rút ra được các kết luận đánh giá giờ dạy của GV về: nội dung, phương pháp, cách thức tổ chức, và việc sử dụng phương tiện dạy học Từ những phân tích, so sánh kết quả giờ dạy với mục tiêu đặt ra để đánh giá người dạy về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, tinh thần trách nhiệm của người dạy với bài học đó Sau khi dự giờ, HT có thể đưa ra các đề nghị thích hợp với

GV nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy Và điều đặc biệt là phải làm sao cho GV nhận thức được rằng việc kiểm tra bằng hình thức dự giờ của HT là một công việc bình thường để tạo ra các tác động tích cực đến giờ lên lớp của GV

Tuy nhiên, do HT chỉ có chuyên môn khá, giỏi về một bộ môn đào tạo và thời gian của HT không được nhiều nên việc dự giờ của tất cả GV trong trường một cách thường xuyên là điều khó thực hiện Do đó HT cần có kế hoạch dự giờ thăm lớp định kỳ hay đột xuất, phân công cho các PHT dự giờ ở một số bộ môn nào đó và đồng thời khi

dự giờ cần phải có TTCM hoặc giáo viên nòng cốt cùng dự để việc phân tích bài học sư phạm trở nên thuận lợi hơn

Bên cạnh việc dự giờ lên lớp, HT còn có thể kiểm tra công tác giảng dạy của GV bằng các hình thức khác như tìm hiểu qua HS, phỏng vấn giáo viên chủ nhiệm, nghe báo cáo của tổ trưởng, nhóm trưởng chuyên môn … Kết hợp việc tìm hiểu trên với việc dự giờ của mình, HT sẽ có nguồn thông tin đủ độ tin cậy để đánh giá, tổng kết giờ dạy của

e Quản lý đổi mới phương pháp dạy học

“Phương pháp dạy học (PPDH) là tổ hợp các cách thức hoạt động của thầy và trò

trong quá trình dạy học, được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của thầy nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học”.[30, tr.187]

Trang 30

Đổi mới PPDH không phải là thay đổi toàn bộ PPDH đã có, mà phải trên cơ sở phát huy những yếu tố tích cực của PPDH hiện nay, từng bước áp dụng những PPDH tiên tiến và phương tiện dạy học hiện đại nhằm thay đổi cách thức dạy học, thay đổi phương pháp học tập của học sinh, chuyển từ học tập thụ động sang học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, từng bước chuyển dần PPDH theo hướng biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, biến quá trình dạy học thành quá trình tự học

Để quản lý tốt việc đổi mới PPDH, HT phải:

- Nghiên cứu, nắm vững bản chất của việc đổi mới PPDH

- Tác động đến nhận thức của GV trong việc đổi mới PPDH và có thái độ trân trọng, ủng hộ, khuyến khích các sáng kiến, cải tiến của GV; hướng dẫn, giúp đỡ GV vận dụng phương pháp dạy học tích cực vào từng môn học

- Xây dựng kế hoạch tổ chức hội thảo các chuyên đề về đổi mới PPDH ngay từ đầu năm học và thực hiện một cách thường xuyên có hiệu quả, tránh phô trương hình thức

- Chọn lọc chuyên đề đổi mới PPDH phù hợp với tình hình thực tế của trường về đội ngũ GV, về cơ sở vật chất cũng như các phương tiện phục vụ cho hoạt động giảng dạy

Đổi mới PPDH là một yêu cầu cấp thiết để thực hiện việc đổi mới mục tiêu và nội dung dạy học trong giai đoạn hiện nay và HT chính là người chịu trách nhiệm về việc đổi mới PPDH ở trường mình Do đó, HT cần phải có các biện pháp để chỉ đạo chặt chẽ việc đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh

f Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh

Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh là một khâu quan trọng của quá trình dạy học, nó có ý nghĩa rất quan trọng đối với HS, GV và cán bộ quản lý (CBQL) Qua kết quả kiểm tra, học sinh có thể tự đánh giá mức độ chiếm lĩnh tri thức, các kỹ năng của bản thân để từ đó đề ra biện pháp hoàn thiện học vấn của bản thân

Đối với GV, kết quả kiểm tra đánh giá HS sẽ giúp giáo viên vừa đánh giá được trình độ và năng lực nhận thức của HS vừa tự đánh giá bản thân mình về tri thức, trình

độ chuyên môn, năng lực sư phạm, nhân cách và uy tín đối với HS Trên cơ sở những

Trang 31

đánh giá đó, GV sẽ tự đề ra phương hướng, biện pháp khắc phục, hoàn thiện quá trình dạy học để điều chỉnh những lệch lạc, sai sót mà HS đã bộc lộ qua các hình thức kiểm tra đồng thời bản thân cũng tự mình hoàn thiện về trình độ học vấn, năng lực sư phạm

và nhân cách người thầy giáo

Tác giả Đoàn Thị Bẩy cho rằng: “Tiêu chuẩn đánh giá cơ bản hoạt động của GV

là các kết quả của lao động sư phạm, chất lượng kiến thức của HS, mức độ phát triển, kỹ năng áp dụng kiến thức …” [3, tr.48] Cho nên, đối với HT, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS là biện pháp để gián tiếp đánh giá GV bởi vì kết quả học tập của HS có

phần đóng góp công sức giảng dạy của GV

Mặt khác, việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS cũng là biện pháp để

HT đánh giá kết quả đào tạo của nhà trường cả về định lượng cũng như định tính, đó chính là nguyên tắc của mối liên hệ ngược Thông tin thu được sẽ dùng làm cơ sở để điều chỉnh quá trình dạy học Do đó, HT cần có kế hoạch cụ thể để quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS

Để quản lý một cách hiệu quả việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS, HT cần thực hiện những việc sau:

- Xây dựng kế hoạch kiểm tra viết 15 phút, 1 tiết, học kỳ ở tất cả các môn học kể

cả lý thuyết và thực hành ngay từ đầu năm học Việc làm này được thực hiện bởi các nhóm bộ môn của từng khối lớp và được phê duyệt bởi tổ trưởng chuyên môn hoặc HT

- Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá cho từng bộ môn và phù hợp với từng loại đối tượng HS giỏi, khá, trung bình, yếu, kém

- Việc kiểm tra, đánh giá phải đảm bảo tính khách quan để GV không vì chạy theo thành tích mà đánh lừa HT bằng cách ra đề dễ, mớm đề cho HS hoặc cho điểm rộng

- Yêu cầu GV thực hiện việc chấm, trả bài đúng thời hạn, có sửa chữa hướng dẫn cho HS, đảm bảo sự công bằng và đúng quy chế

- Có kế hoạch kiểm tra thường kỳ và đột xuất việc thực hiện kế hoạch kiểm tra của GV và có biện pháp xử lý với các trường hợp vi phạm quy chế chuyên môn trong kiểm tra, đánh giá

- Quản lý chặt chẽ việc xử lý kết quả học tập của HS

Trang 32

Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS là cơ sở để HS, GV và HT nhận định, đánh giá lại quá trình lĩnh hội, truyền thụ kiến thức cũng như chất lượng đào tạo của mình từ đó có biện pháp điều chỉnh phù hợp HT thực hiện quản lý tốt việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS sẽ tạo động lực mọi mặt thúc đẩy việc nâng cao chất lượng giảng dạy ở nhà trường

g Quản lý họat động của tổ chuyên môn

Tổ chuyên môn là đơn vị cơ sở cuối cùng, là nền tảng để tổ chức các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm đến GV và HS Đây cũng là nơi trực tiếp quản lý việc bồi dưỡng GV và phát hiện ra những điểm mạnh, điểm yếu trong việc thực hiện các mục tiêu dạy học Do đó, HT cần phải có sự chỉ đạo hoạt động sinh hoạt của tổ chức này thật sâu sát, có chất lượng và hiệu quả

Để quản lý tốt họat động của tổ chuyên môn, HT cần thống nhất trong việc chỉ đạo các tổ chuyên môn thực hiện các nội dung sau:

- Xây dựng kế hoạch tổ chuyên môn và các biện pháp thực hiện nhiệm vụ chuyên môn mà nhà trường đã giao cho các tổ

- Triển khai thực hiện kế hoạch và tổ chức thực hiện các hoạt động chuyên môn trong nhà trường như: thực hiện chương trình, soạn bài, lên lớp, kiểm tra, đánh giá HS, bồi dưỡng HS giỏi, phụ đạo HS yếu kém …

- Tổ chức các chuyên đề về đổi mới PPDH, tổ chức và tham gia các đợt Hội giảng cấp tổ, cấp trường và cấp tỉnh

- Chỉ đạo làm và sử dụng đồ dùng dạy học

Họat động của tổ chuyên môn góp phần rất lớn trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy của mỗi GV đồng thời có tác dụng rất cao và hiệu quả trong công tác tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ của từng GV cũng như của tập thể sư phạm Chính vì vậy HT trước hết phải thật sự nhận thức đúng được vị trí, vai trò và tầm quan trọng của hoạt động này để từ đó có biện pháp nâng cao chất lượng trong hoạt động của tổ chuyên môn

h Quản lý công tác bồi dưỡng, nâng cao trình độ giảng dạy cho giáo viên

GV là nhân tố quyết định đến chất lượng đào tạo của nhà trường Để đảm bảo cho việc nâng cao chất lượng giảng dạy, theo chương IV, điều 72 Luật Giáo dục, thì GV

Trang 33

cần “Không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy, nêu gương tốt cho người học” [6, tr.29]

Bồi dưỡng, nâng cao trình độ giảng dạy cho GV là nhiệm vụ của HT với vai trò

là cố vấn về mặt sư phạm Để công tác bồi dưỡng GV có hiệu quả, trước hết HT cần đánh giá đúng tình hình thực trạng của đội ngũ GV của mình về năng lực sư phạm, trình

độ chuyên môn, chính trị… Trên cơ sở đó xây dựng một kế hoạch bồi dưỡng cụ thể về nội dung, thời gian và đối tượng

Nội dung bồi dưỡng GV thường bao gồm:

- Thường xuyên tổ chức các chuyên đề về phương pháp giảng dạy bộ môn

- Tổ chức cho GV tham gia hội giảng thường xuyên ( hội giảng tổ, hội giảng trường, hội giảng tỉnh) nhằm rút kinh nghiệm về chuyên môn, nghiệp vụ

- Tổ chức hướng dẫn GV tham gia nghiên cứu khoa học, đúc rút kinh nghiệm giảng dạy

- Dự giờ thăm lớp, kiểm tra, hướng dẫn soạn bài

- Tổ chức các giờ dạy biểu diễn do GV giỏi thực hiện để mọi người học hỏi kinh nghiệm

- Phân công GV giỏi giúp đỡ GV mới và GV yếu kém về chuyên môn, nghiệp vụ

- Tổ chức các lớp tin học thường xuyên giúp GV áp dụng phương pháp giảng dạy

có sử dụng công nghệ thông tin hỗ trợ

- Động viên, khuyến khích, tạo điều kiện mọi mặt về tinh thần và vật chất giúp

GV tự học, tự bồi dưỡng, tham gia các lớp bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳ, các lớp chuẩn hoá trình độ và nâng chuẩn

Bồi dưỡng, nâng cao trình độ GV là việc làm thường xuyên và bằng nhiều hình thức của người HT Một HT giỏi phải là người biết cách làm cho trình độ đội ngũ GV của mình luôn luôn được nâng cao về mọi mặt bởi vì GV chính là nhân tố quan trọng nhất trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy của nhà trường

i Quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học hỗ trợ hoạt động giảng dạy trong nhà trường

Trang 34

Các phương tiện cơ sở vật chất (CSVC), thiết bị dạy học (TBDH ) hỗ trợ hoạt động giảng dạy bao gồm: Phòng học, phòng thư viện, phòng thí nghiệm thực hành, sân tập thể dục, các thiết bị phục vụ cho hoạt động dạy học… Các phương tiện trên góp phần rất lớn trong việc nâng cao hiệu quả giảng dạy và giáo dục của nhà trường

Việc quản lý tốt các phương tiện hỗ trợ hoạt động giảng dạy của HT thể hiện ở những công việc sau:

- Tổ chức khai thác, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất, TBDH hỗ trợ giảng dạy hiện có của nhà trường

- Tăng cường quản lý CSVC, đảm bảo các điều kiện tối thiểu cho hoạt động dạy học như: phòng học, bàn ghế, bảng đen, ánh sáng, quạt điện…

- Có kế hoạch bổ sung các TBDH một cách thường xuyên và kịp thời

- Tổ chức các hội thi HS giỏi thực hành các môn Lý, Hóa, Sinh hàng năm trong trường để tham gia thi HS giỏi thực hành của tỉnh

- Tổ chức thi làm đồ dùng dạy học và có khen thưởng cho người đạt giải cao

k Quản lý các hoạt động hỗ trợ và kích thích giảng dạy trong nhà trường

Các yếu tố về điều kiện để đảm bảo hoạt động dạy học tuy không trực tiếp quyết định đến kết quả giảng dạy của GV và nhận thức của HS song nó hết sức quan trọng vì chúng tạo điều kiện để nâng cao chất lượng dạy học HT quản lý tốt các yếu tố này sẽ có tác dụng nâng cao hiệu quả đào tạo của nhà trường Các yếu tố đó bao gồm:

- Yếu tố có tác dụng kích thích GV về mặt tâm lý, đó là hoạt động thi đua khen thưởng

- Yếu tố có tác dụng tạo mọi điều kiện để GV yên tâm đứng lớp, đó là đảm bảo các chế độ tiền lương, phụ cấp đứng lớp, giờ phụ trội, tăng giờ chấm bài cho GV

* Quản lý hoạt động thi đua khen thưởng

Thi đua là một biện pháp quản lý có tác dụng kích thích, động viên cá nhân và tập thể làm việc tích cực nhằm đạt đến mục tiêu đã đề ra Qua thi đua, mọi người thấy hết được giá trị xã hội của công việc mà mình tham gia

Để công tác thi đua trở thành biện pháp hữu hiệu trong quản lý, HT cần thực hiện các nội dung sau:

- Định ra các tiêu chuẩn đánh giá thi đua và lượng hóa thành điểm

Trang 35

- Thông qua các tổ chuyên môn, tổ chức thảo luận về dự thảo tiêu chuẩn và định mức khen thưởng; thống nhất trong Hội đồng thi đua và nêu thành quy định chung để thực hiện

- Tổ chức theo dõi, chấm điểm , đánh giá hàng tháng và có khen thưởng

- Đảm bảo việc đánh giá thi đua một cách công minh, khen thưởng đúng người đúng việc nhằm động viên khuyến khích được người có thành tích, đồng thời là động lực cho mọi người phấn đấu

* Quản lý các hoạt động khác tạo điều kiện để GV yên tâm đứng lớp

Trong giai đoạn hiện nay, đời sống tinh thần và vật chất của GV còn rất nhiều khó khăn Với đồng lương eo hẹp, người GV luôn cảm thấy bất an trong cuộc sống bằng nghề dạy học của mình Do đó, người HT cần phải quan tâm đến các hoạt động quản lý vừa có tác dụng kích thích, động viên tinh thần làm việc của GV vừa đảm bảo quyền lợi

về vật chất để GV có thể toàn tâm toàn ý trong việc giảng dạy của mình Các hoạt động

đó bao gồm:

- Đảm bảo thực hiện đúng quy định về chế độ công tác của GV theo tinh thần của Thông tư số 49 TT/GD của Bộ Giáo dục ngày 29/11/1979 về việc Quy định chế độ công tác của GV trường phổ thông và thông tư số 35/2006/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 23 tháng 8 năm 2006 về việc Hướng dẫn định mức biên chế viên chức ở các cơ sở giáo dục phổ thông công lập để GV không bị thiệt thòi về quyền lợi kinh tế

- Tìm hiểu tình hình về mọi mặt của GV như: hoàn cảnh gia đình, chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, nguyện vọng … thông qua tổ chuyên môn và các đoàn thể khác để kịp thời đề ra các giải pháp phù hợp

Quản lý tốt các hoạt động, các phương tiện hỗ trợ, kích thích hoạt động giảng dạy của GV cũng là một trong những việc làm không thể bỏ qua của người HT trong việc nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường

Tóm lại: Qua phân tích lý luận, luận văn sẽ cố gắng đi sâu làm rõ thực trạng nội

dung của việc quản lý hoạt động giảng dạy của HT các trường THPT huyện Xuyên Mộc, bao gồm các nội dung sau:

1 Quản lý việc phân cong giảng dạy cho giáo viên;

2 Quản lý việc thực hiện chương trình, kế hoạch giảng dạy của giáo viên;

Trang 36

3 Quản lí hoạt động chuẩn bị của giáo viên trước giờ lên lớp;

4 Quản lí hoạt động của giáo viên trong giờ lên lớp;

5 Quản lý đổi mới phương pháp dạy học;

6 Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh;

7 Quản lý hoạt động của tổ chuyên môn;

8 Quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên;

9.Quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học hỗ trợ hoạt động giảng dạy trong nhà trường;

10.Quản lý các hoạt động hỗ trợ và kích thích giảng dạy trong nhà trường;

Trang 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY CỦA HIỆU TRƯỞNG CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA

BÀN HUYỆN XUYÊN MỘC 2.1 Khái quát tình hình phát triển kinh tế, xã hội và giáo dục-đào tạo tỉnh Bà rịa- Vũng tàu

2.1.1 Tình hình kinh tế, xã hội

Tỉnh Bà rịa – Vũng tàu nằm ở phía Đông khu vực Đông Nam bộ được thành lập vào ngày 12-8-1991 bao gồm đặc khu Vũng tàu – Côn đảo và 3 huyện Long Đất, Châu Thành và Xuyên Mộc tách ra từ tỉnh Đồng Nai theo Nghị quyết của Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa VIII, kỳ họp thứ 9 Lãnh thổ bao gồm hai phần: phần đất liền có bắc giáp Đồng Nai, đông giáp Bình Thuận, tây giáp huyện Cần Giờ ( thành phố Hồ Chí Minh), phía nam và đông nam giáp biển Phần hải đảo có huyện Côn Đảo cách thành phố Vũng Tàu 200 km về phía tây nam và cách mũi Cà Mau 200

km Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 1.975,14 km2

Theo số liệu thống kê năm 2004 thì dân số của tỉnh là 908.233 người Dân cư phân bố ở các địa bàn tương đối không đều Thành phố và các thị xã có lượng dân cư tương đối đông đúc trong khi đó ở các vùng nông thôn và hải đảo thì dân cư thưa thớt Mật độ dân cư ở thành phố Vũng Tàu là 1.793 người/km2 trong khi đó ở Côn Đảo lại là

36 người/km2 Bà rịa- Vũng tàu chủ yếu có 04 dân tộc chung sống trong đó: dân tộc Kinh chiếm khoảng 97,66%, dân tộc Hoa chiếm khoảng 1,36%, dân tộc Khơme khoảng 0,18% và dân tộc Châu Ro chiếm khoảng 0,8% dân số

Tỉnh Bà rịa-Vũng tàu có 08 đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh, trong đó có: 01 thành phố ( Vũng Tàu), 01 thị xã ( Bà Rịa) và 06 huyện (Long Điền, Đất Đỏ, Tân Thành, Xuyên Mộc, Châu Đức và Côn Đảo) bao gồm 49 xã, 24 phường, 06 thị trấn.[38] Thế mạnh của Bà rịa-Vũng tàu là nông –ngư nghiệp kết hợp dịch vụ du lịch và dầu khí và hiện nay đang có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển công nghiệp và dịch vụ một cách tích cực Năm 2005, tỷ trọng công nghiệp, xây dựng: 82,57% - dịch vụ: 13,64% - nông nghiệp: 3,8%

Trang 38

Công nghiệp tiếp tục phát huy được lợi thế, giá trị sản xuất công nghiệp từ năm

2001 đến 2005 tăng 1,7 lần, tốc độ tăng 11,52%/năm

Các ngành dịch vụ phát triển đa dạng, doanh thu tăng bình quân 17,1%/năm trong đó: dịch vụ du lịch phát triển trên diện rộng, doanh thu tăng 13,29%/năm; xuất khẩu có nhiều tiến bộ mở rộng thị trường, kim ngạch xuất khẩu tăng 16,46%/năm, riêng xuất khẩu hải sản tăng 5 lần sau 5 năm

Các ngành nông nghiệp, ngư nghiệp đều có bước tăng trưởng khá, trong nông nghiệp cơ bản đã cơ giới hóa các khâu sản xuất, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 8%/năm trong đó trồng trọt tăng 7,92%, chăn nuôi tăng 7,92% sau 5 năm; thủy sản tăng 10,8%/năm, sản lượng hải sản nuôi tăng 3 lần so với năm 2000

Trình độ dân trí được nâng lên, chất lượng nguồn nhân lực được cải thiện; khoa học công nghệ được quan tâm ứng dụng

Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ; hoàn thành chỉ tiêu xóa đói, giảm

tỷ lệ hộ nghèo; quan tâm thực hiện các chính sách và phúc lợi xã hội [40, tr 12-14]

Tình hình kinh tế, xã hội trên đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi để thúc đẩy sự phát triển vững bền của nền Giáo dục và Đào tạo tỉnh nhà

2.1.2 Tình hình phát triển giáo dục và đào tạo

Trong những năm qua, tình hình giáo dục và đào tạo tỉnh Bà rịa-Vũng tàu đã có rất nhiều chuyển biến tích cực với một diện mạo mới, đã đạt được nhiều thành tựu đáng

kể Bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số vấn đề cần phải giải quyết trong thời gian tới

a.Về thành tựu

- Chất lượng giáo dục các bậc học được nâng lên đáng kể Đến cuối năm 2004, tỉnh hoàn thành chỉ tiêu phổ cập giáo dục trung học cơ sở (THCS) Đầu tư cho giáo dục tăng nhanh, chiếm tỷ lệ 14,8% tổng chi ngân sách địa phương, phát triển thêm nhiều trường học phổ thông và mầm non đạt chuẩn quốc gia Tính đến năm học 2006-2007, đã

có 75 trường đạt chuẩn quốc gia, trong đó: 17 trường mầm non, 26 trường tiểu học, 23 trường THCS, 9 trường THPT

- Về quy mô: hệ thống mạng lưới trường học phát triển tương đối nhanh Năm học 2006-2007 toàn tỉnh có tổng cộng 113 trường mầm non, mẫu giáo và nhà trẻ với

190 cơ sở; 144 trường tiểu học; 70 trường THCS và 27 trường THPT Bình quân mỗi

Trang 39

phường, xã có 1,5 trường mẫu giáo, mầm non , 02 trường tiểu học, ít nhất 01 trường THCS Mỗi huyện, thị xã, thành phố có bình quân 03 trường THPT Tổng số người đi học trong độ tuổi của toàn tỉnh là 241.281, bình quân cứ 04 người dân có 01 người đi học

- Về đội ngũ CBQL và GV, với việc thực hiện chỉ thị 40-CT/TW của Ban Bí thư

TW Đảng và quyết định 09/2005/QĐTTg của Thủ tướng Chính phủ, ngành đã xây dựng

đề án triển khai kế hoạch đào tạo , bồi dưỡng GV, CBQL Giáo dục, trong đó có việc đào tạo, bồi dưỡng GV chưa đạt chuẩn và nâng chuẩn Cho đến nay, đội ngũ GV của ngành nhìn chung đã đạt chuẩn trình độ chuyên môn nghiệp vụ so với quy định: Giáo dục mầm non đạt 98,56% chuẩn và 6,63% trên chuẩn, Giáo dục tiểu học đạt 91,8% chuẩn và 21,25% trên chuẩn, Giáo dục THCS đạt 98,68% chuẩn và 33,2% trên chuẩn, Giáo dục THPT đạt 98,333% chuẩn và 7,05% trên chuẩn Tỷ lệ cán bộ GV trong tổng số GV là 7,82% [36]

- Chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao, đặc biệt là ở các trường thuộc vùng sâu, vùng khó đã có nhiều chuyển biến tích cực trong việc đổi mới phương pháp dạy học

- Về đầu tư cho giáo dục, trong năm học 2006-2007, bằng nguồn vốn địa phương toàn tỉnh đã xây dựng mới 482 phòng học với tổng số kinh phí trên 200 tỷ đồng Hiện nay, hầu hết là lớp học kiên cố, không có lớp học ca ba Ngành đã được đầu tư 15,554 tỷ đồng để trang bị máy vi tính cho tất cả các trường THCS, THPT, một số trường tiểu học

và trang bị phòng nghe nhìn cho các trường THPT với số tiền 1,249 tỷ đồng [36]

b.Về tồn tại

Mặt dầu đã đạt được những thành tựu đáng kể, ngành giáo dục của tỉnh vẫn còn phải đối mặt với những tồn tại, hạn chế lớn, cụ thể:

- Chất lượng giáo dục toàn diện ở các vùng sâu, vùng xa chưa cao Ở một số đơn

vị trường học, việc giảng dạy một số bộ môn như: thể dục, kỹ thuật, nhạc họa còn chưa đảm bảo vì thiếu giáo viên

- Việc xây dựng trường chuẩn quốc gia đã có nhiều cố gắng, song còn chưa đạt

kế hoạch; việc triển khai vận dụng các điều kiện, phương tiện hỗ trợ vào giảng dạy vẫn

Trang 40

còn khó khăn vì thiếu cơ sở, thiếu phòng thiết bị, phòng thực hành bộ môn và đặc biệt là thiếu các nhân viên chuyên trách được đào tạo bài bản

- Đội ngũ GV còn thiếu, chưa đồng bộ là một khó khăn lớn cho việc triển khai việc đổi mới phương pháp dạy học

- Công tác quản lý giáo dục đã có nhiều cố gắng song chưa kịp so với yêu cầu đổi mới sự nghiệp giáo dục Một số cán bộ quản lý ở cấp cơ sở chưa phát huy hết vai trò trách nhiệm của mình, có lúc, có chỗ còn buông lỏng trong công tác quản lý nhà trường, quản lý chuyên môn, quản lý cơ sở vật chất và quản lý tài chính [36]

c Thực trạng giáo dục trung học phổ thông tỉnh Bà rịa-Vũng tàu

* Về quy mô phát triển: Năm học 2006-2007, toàn tỉnh có 37.027 học sinh, 27

trường THPT trong đó có 02 trường chuyên biệt ( trường THPT chuyên và trường THPT dân tộc nội trú), 20 trường công lập, 04 trường bán công và 01 trường dân lập.[36]

* Thực trạng về đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý

- Về đội ngũ GV: năm học 2006-2007 có 1.560 GV, tỷ lệ GV trên lớp hiện nay là 1,92, so với chuẩn 2,2 còn thiếu 0,28 GV trên lớp chủ yếu là GV thuộc các môn Toán, Vật lý, Hóa học, Công nghệ, Tin học GV đạt chuẩn là 98,33%, trên chuẩn là 7,05%[36]

- Về đội ngũ CBQL cấp THPT: có 82 người, đều đã tốt nghiệp Đại học sư phạm

Đa số chưa qua các lớp bồi dưỡng QLGD ( 62 người chiếm tỷ lệ 75,61%) và có thâm niên quản lý còn ít Nhìn chung, đội ngũ CBQL có tuổi đời tương đối trẻ, nhiệt tình, yêu công việc nhưng năng lực quản lý trường học, đặc biệt là quản lý hoạt động giảng dạy vẫn còn nhiều hạn chế, chủ yếu quản lý theo cảm tính và kinh nghiệm [36]

* Về chất lượng dạy học

- Kết quả thi tốt nghiệp: năm học 2006-2007 có 7.526/10.767 thí sinh đậu tốt nghiệp THPT, chiếm tỷ lệ 69,9%, trong đó giỏi: 2,5%, khá 10,27% Kết quả thi tuyển sinh Đại học, Cao đẳng của năm học 2005-2006 với tỷ lệ đậu là 39,17% so với toàn quốc là 28,8% ( đứng thứ 5)

- Xếp loại học lực học sinh: theo Báo cáo tổng kết năm học của Sở GD&ĐT hàng năm có được kết quả ở bảng 2.1:

Ngày đăng: 31/03/2013, 18:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Kết quả xếp loại học lực của học sinh THPT năm học 2005-2006 và năm  học 2006-2007 - Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu
Bảng 2.1 Kết quả xếp loại học lực của học sinh THPT năm học 2005-2006 và năm học 2006-2007 (Trang 41)
Hình 2.1: Biểu đồ về chất lượng dạy học ở các trường THPT huyện Xuyên Mộc năm  học 2005-2006 và năm học 2006-2007 - Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu
Hình 2.1 Biểu đồ về chất lượng dạy học ở các trường THPT huyện Xuyên Mộc năm học 2005-2006 và năm học 2006-2007 (Trang 43)
Bảng 2.2: Chất lượng dạy học  các trường THPT huyện Xuyên Mộc năm học 2005- 2005-2006 và năm học 2005-2006-2007(Nguồn:từ các Hiệu trưởng) - Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu
Bảng 2.2 Chất lượng dạy học các trường THPT huyện Xuyên Mộc năm học 2005- 2005-2006 và năm học 2005-2006-2007(Nguồn:từ các Hiệu trưởng) (Trang 43)
Bảng 2.3 :  Kết quả thi tốt nghiệp THPT  ở các trường Trung học phổ thông huyện  Xuyên Mộc năm học 2005-2006 và 2006-2007 - Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu
Bảng 2.3 Kết quả thi tốt nghiệp THPT ở các trường Trung học phổ thông huyện Xuyên Mộc năm học 2005-2006 và 2006-2007 (Trang 44)
Hình 2.2: Biểu đồ về tình hình giáo viên Trung học phổ thông huyện Xuyên Mộc-  Năm học 2006-2007 - Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu
Hình 2.2 Biểu đồ về tình hình giáo viên Trung học phổ thông huyện Xuyên Mộc- Năm học 2006-2007 (Trang 45)
Bảng 2-5: Phân công giảng dạy cho giáo viên - Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu
Bảng 2 5: Phân công giảng dạy cho giáo viên (Trang 48)
Bảng 2.6: Quản lý việc thực hiện chương trình, kế hoạch giảng dạy của giáo viên. - Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu
Bảng 2.6 Quản lý việc thực hiện chương trình, kế hoạch giảng dạy của giáo viên (Trang 50)
Bảng 2.7: Quản lí hoạt động chuẩn bị của giáo viên trước giờ lên lớp. - Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu
Bảng 2.7 Quản lí hoạt động chuẩn bị của giáo viên trước giờ lên lớp (Trang 52)
Bảng 2.8: Quản lí hoạt động của giáo viên trong giờ lên lớp - Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu
Bảng 2.8 Quản lí hoạt động của giáo viên trong giờ lên lớp (Trang 55)
Bảng 2.9: Khảo sát việc quản lý giờ dạy của HT và Phó Hiệu trưởng - Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu
Bảng 2.9 Khảo sát việc quản lý giờ dạy của HT và Phó Hiệu trưởng (Trang 57)
Bảng 2.10: Quản lý đổi mới phương pháp dạy học - Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu
Bảng 2.10 Quản lý đổi mới phương pháp dạy học (Trang 58)
Bảng khảo sát cho thấy các HT quan tâm rất nhiều  đến việc quản lý kiểm tra,  đánh giá kết quả học tập của HS, xem đây như là những biện pháp thúc đẩy việc nâng  cao hiệu quả giảng dạy của GV - Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu
Bảng kh ảo sát cho thấy các HT quan tâm rất nhiều đến việc quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS, xem đây như là những biện pháp thúc đẩy việc nâng cao hiệu quả giảng dạy của GV (Trang 60)
Bảng 2.12: Quản lý họat động của tổ chuyên môn - Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu
Bảng 2.12 Quản lý họat động của tổ chuyên môn (Trang 63)
Bảng 2.13: Nội dung các buổi sinh hoạt chuyên môn - Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu
Bảng 2.13 Nội dung các buổi sinh hoạt chuyên môn (Trang 64)
Bảng 2.14: Quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên - Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu
Bảng 2.14 Quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w