Thực trạng quản lý việc duy trì sĩ số học sinh, các trường trung cấp chuyên nghiệp ngoài công lập, Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
Ở TP HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Quản lý Giáo dục
Mã số : 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ Ù GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS-TS HOÀNG TÂM SƠN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2008
Trang 2LỜI CẢM ƠN
-Tôi xin chân thành cảm ơn Quý Thầy, Cô Lãnh đạo, các phịng, ban chức năng và Khoa tâm lý – Giáo dục Trường Đại học Sư phạm Tp.Hồ Chí Minh; Quý Thầy, Cô giảng viên Lớp Cao học Quản lý giáo dục khoá 17 niên khoá 2006-2009 đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
- Tôi xin chân thành cảm ơn Thầy PGS TS Hồng Tâm Sơn đã tận tình hướng dẫn và động viên tơi hoàn thành luận văn này
- Xin chân thành cảm ơn Quý Thầy, Cô trong ban Lãnh đạo cùng các giáo viên ở các trường Trung học tư thục Tin học -Kinh tế Sài gòn, Trung học dân lập Kinh tế –Kỹ thuật Vạn tường, Trung học tư thục Kinh tế - Kỹ thuật Sài gịn, Trung học dân lập Cơng nghệ Thơng tin Sài Gịn; các Anh, chị học viên Lớp Cao học Quản lý Giáo dục Khoá 17 đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tơi thực hiện luận văn này
Mặc dù đã rất cố gắng, song luận văn vẫn khơng tránh khỏi những thiếu sĩt, tơi rất mong Quý Thầy, Cơ và các Anh, Chị đồng nghiệp tận tình góp ý thêm
Xin cảm ơn
Trang 3
TCCN : Trung cấp chuyên nghiệp
THCN : Trung học chuyên nghiệp
THCN-NCL : Trung học chuyên nghiệp-ngoài công lập
THTT KT-KT Sài Gòn : Trung học Tư thục Kinh tế - Kỹ thuật Sài gòn THDL KT-KT Vạn Tường : Trung học dân lập Kinh tế -kỹ thuật Vạn tường THDL CN TT Sài Gòn : Trung học dân lập Công nghệ thông tin Sài gòn
TH TT TH-KT Sài gòn : Trung học tư thục Tin học-Kinh tế Sài Gòn
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Vai trò vị trí của giáo dục đào tạo trong sự nghiệp phát triển kinh tế -xã hội của nước ta
Trong công cuộc công nghiệp hóa (CNH), Hiện đại hóa (HĐH) đất nước
“những chính sách, giải pháp đúng trong phát triển giáo dục và đào tạo phải hướng tới hình thành một nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời đại ngày nay”(1)
- Nguồn nhân lực là một bộ phận của nguồn vốn cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng cần được huy động và sử dụng có hiệu quả như các nguồn vốn khác (tài nguyên thiên nhiên, tài sản cố định, tích lũy từ nhiều thế hệ, vị trí địa lý, nhiều loại vốn hữu hình, vô hình khác v.v ) Hơn thế nữa, nguồn nhân lực còn cần được bồi dưỡng, phát triển để tăng thêm giá trị cho con người, thông qua những yếu tố như giáo dục và đào tạo, sức khỏe và dinh dưỡng, môi trường việc làm, trong đó giáo dục và đào tạo là cơ sở cho những yếu tố khác
- Nguồn nhân lực là nguồn vốn quý giá nhật, có vai trò quyết định sự thành công của công cuộc CNH, HĐH nếu ta biết bồi dưỡng, phát huy và sử dụng nguồn nhân lực có hiệu quả Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc vv là những nước nghèo về tài nguyên thiên nhiện, nhưng đã thành công trong công cuộc CNH, vì đã biết phát triển nguồn nhân lực của mình, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ thành thạo về kỹ thuật, thương mại, quản lý v.v tạo ra lợi thế mới về năng suất lao động và đạt được hiệu suất tư bản cao; những nước này không có mỏ than, sắt nhưng lại xây dựng được ngành luyện kim hùng hậu bậc nhất trên thế giới Từ đó, tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục – đào tạo hướng vào CNH, HĐH được cụ thể hóa thêm với một số nhận thức mới sau đây:
Trang 5- Sự phát triển GD-ĐT phải hướng tới hình thành nguồn nhân lực có chất lượng mới, đòi hỏi GD-ĐT phải gắn liền với thị trường sức lao động của công cuộc CNH, HĐH, bố trí lại ngành nghề, xác định chất lượng đào tạo mới, thiết kế lại nội dung chương trình Điều quan trọng là người tốt nghiệp có khả năng thích ứng và cơ động trước những biến đổi của thị trường sức lao động
- Sự phát triển GD-ĐT nhằm đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đòi hỏi nhà trường cũng phải được công nghiệp hóa, hiện đại hóa phù hợp với những đặc điểm của GD-ĐT Đặc biệt phải nhanh chóng đổi mới phương pháp đào tạo, phương pháp tổ chức quản lý, làm cho nhà trường có đủ sức hấp dẫn thu hút thêm sự đầu tư của nhà nước, sự đóng góp của xã hội, tạo điều kiện cho nhà trường nâng cao được khả năng “tự thân vận động”
- Sự phát triển GD-ĐT ngày nay đòi hỏi xây dựng được mối quan hệ liên thông rộng rãi với thế giới, làm cho nền giáo dục có khả năng tiếp nhận và chọn lọc các thành tựu tiền tiến về GD-ĐT của thế giới, tạo điều kiện nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tiếp cận với những chuẩn mực quốc tế
- Sự phát triển GD-ĐT phải đáp ứng những yêu cầu phát triển cao và bền vững của kinh tế-xã hội Do vậy phải phấn đấu xây dựng nền giáo dục nước ta thành một nền giáo dục tiền tiến theo kịp sự phát triển của các nước trong khu vực và trên thế giới
Cùng với sự phát triển manh mẽ của hệ thống giáo dục quốc dân, những năm qua, nhiều trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề
đã được thành lập và đi vào hoạt động, nâng tổng số các trường trong cả nước đạt khoảng:
- Hơn 400 trường đại học, cao đẳng
- 300 trường trung cấp chuyên nghiệp
Đó là chưa kể các trường sau đây do Bộ Lao động –Thương binh –Xã hội quản lý trực tiếp gồm:
Trang 6- 4 trường đại học sư phạm kỹ thuật
- 3 trường Cao đẳng sư phạm kỹ thuật Nghề và hơn 80 trường cao đẳng nghề, khoảng 200 trường trung cấp nghề vừa được đổi tên
và nâng cấp sau khi luật dậy nghề có hiệu lực
1.2 Sự phát triển của hệ thống các trường TCCN ngoài công lập tại Tp.HCM với nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực
Trong sự phát triển chung của đất nước, tại TP HCM, một số trường cũng được thành lập và đang đi vào hoạt động Riêng các trường Trung cấp chuyên nghiệp ngoài công lập đến nay đã có 23 trường, trong tổng số 37 trường TCCN toàn thành phố, các trường này vừa đào tạo nguồn nhân lực có trình độ Trung cấp cho TP HCM, vừa cho các tỉnh khác với những ai có nhu cầu muốn theo học ở trình độ này
1.3 Tính cấp thiết của đề tài
1.3.1 Công tác tuyển sinh hàng năm của các trường TCCN ngoài công lập có ý nghĩa và tầm quan trọng đối với việc ổn định và phát triển của trường
+) Trường ngoài công lập có quyền bình đẳng như các trường công lập khác trong mọi hoạt động của mình, điều này đã được luật pháp quy định Nhưng về mặt tài chính thì trường ngoài công lập phải hoàn toàn tự lo liệu và giải quyết, miễn sao những hoạt động tài chính của trường phải tuân thủ đúng những quy định chung của nhà nước được thể hiện thông qua những chính sách và những nguyên tắc về quản lý tài chính
Nguồn tài chính của các trường ngoài công lập được tạo nên chủ yếu
từ các nguồn sau đây:
Trang 7- Từ việc góp vốn của các nhà sáng lập trường, của các thành viên Hội đồng quản trị và có thể từ các cổ đông
- Từ nguồn thu học phí của học sinh hàng năm là chủ yếu
- Ngoài ra có thể còn có từ một vài nguồn thu phụ khác, liên kết đào tạo v.v…
+) Để bảo đảm cho nhà trường ngoài công lập tồn tại, đứng vững và phát triển, trường cần phải có một nguồn tài chính ổn định và không ngừng tăng trưởng hàng năm Nguồn tài chính này phụ thuộc rất nhiều vào việc thu
học phí của học sinh, do vậy công tác tuyển sinh hàng năm có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động của nhà trường ngoài công lập
1.3.2 Việc duy trì sĩ số hàng năm, hạn chế tình trạng bỏ học sau khi
nhập học có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và đứng vững của trường
Từ thực tế trên, việc duy trì sĩ số học sinh ở từng năm học của trường
được xem như một giải pháp cực kỳ quan trọng, vừa có ý nghĩa để duy trì hoạt động đào tạo, vừa có ý nghĩa cho việc ổn định và gia tăng nguồn thu tài chính của trường, là tiềm lực cho sự phát triển mọi mặt hoạt động khác Vì vậy, sau khi đã hoàn thành việc tuyển sinh cho từng năm học, quá trình đào tạo sẽ được tiến hành theo kế hoạch của từng trường Nhưng một thực tế diễn
ra ở các trường Trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề nói chung và ở các trường trung cấp chuyên nghiệp ngoài công lập nói riêng là số học sinh bỏ học ngang chừng chiếm một tỷ lệ khá cao, thông thường từ 15-30% sĩ số học sinh của một khóa học, vì lý do dễ hiểu là – có rất nhiều lý do (tiêu cực, cũng như tích cực) để dẫn dắt một học sinh đến học ở một trường TCCN và như vậy cũng
có nhiều lý do để học sinh bỏ học sau một thời gian ngắn vào học ở trường
- Nếu có được những giải pháp hữu hiệu để duy trì sĩ số học sinh, thì điều đó có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự tồn tại, đứng vững và phát triển của các trường TCCN ngoài công lập vì vậy tôi chọn đề tài này để nghiên
Trang 8cứu, mong tìm được những giải pháp hữu hiệu hơn với hy vọng góp một phần nhỏ nào đó vào việc giải quyết những vấn đề bức xúc hiện nay đang tồn tại ở các trường TCCN nói chung và các trường trung cấp chuyên nghiệp ngoài
công lập nói riêng tại TP HCM
1.3.3 Sơ lược về những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu
Chiến lược phát triển kinh tế –xã hội của Việt Nam tới năm 2010 dự kiến là một quốc gia:
- Có nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững
- Xã hội ổn định, đảm bảo công bằng và đời sống cao cho nhân dân
- Giữ gìn bản sắc truyền thống và văn hóa Việt Nam
- Có nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, hội nhập toàn diện vào nền kinh tế thế giới, có khả năng cạnh tranh quốc tế
- Có đặc điểm của một xã hội công nghiệp và dựa vào trí thức trong vòng
20 năm tới
Tầm nhìn này được thể hiện bằng những mục tiêu cụ thể:
- Xóa đói, giảm nghèo
-Phổ cập giáo dục THCS
- Giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng từ 1/3 xuống còn 20-25%
- Tăng tuổi thọ trung bình từ 68 lên 70-75 tuổi
- GDP tăng gấp 2 lần vào năm 2010, thông qua tăng trưởng kinh tế hàng năm lên 8%
- Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm từ 25%-16%; tỷ trọng công nghiệp tăng từ 35%-40%; tỷ trọng dịch vụ tăng từ 40%-43%
Để thực hiện những mục tiêu trên, chiến lược phát triển Giáo dục và Đào tạo 2001-2010 đã nêu ra bối cảnh, thời cơ và những thách thức mới cho nền giáo dục nước nhà,
Trang 9-Mục tiêu chung: - Giáo dục – đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng
và bảo vệ tổ quốc
- Mở rộng quy mô đi đôi với coi trọng chất lượng giáo dục – đào tạo và hiệu quả sử dụng, đáp ứng nhu cầu nhân lực trước mắt và lâu dài của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bồi dưỡng nhân tài, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu học tập của mọi tầng lớp nhân dân, tiến tới một xã hội học tập
Thực hiện mục tiêu trên, những năm qua hệ thống các trường lớp được phát triển mạnh mẽ và không ngừng mở rộng, đặc biệt là các trường ngoài công lập từ đại học, cao đẳng, đến trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề nhằm đào tạo và cung ứng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, với mong muốn đến năm 2010, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo ở các trình độ đạt tỷ lệ sau:
- Cao đẳng, đại học, sau đại học : 6%
- Trung cấp chuyên nghiệp : 8%
Thực tế hiện nay, tỷ lệ trên đang mất cân đối khá mạnh, dẫn đến tình trang thừa Thày, thiếu thợ đặc biệt là những CNKT có tay nghề bậc cao, Nhưng không vì thế mà việc tuyển sinh ở các trường Trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề (nay là trung cấp nghề) bớt đi những khó khăn
Do nhận thức chưa đầy đủ, hoặc do những tác động về mặt tâm lý, nhiều học sinh và cả gia đình họ đều không muốn cho con, em mình vào học ở các trường Nghề hoặc ở trường TCCN, nhiều học sinh chỉ vào học ở các trường
Trang 10này khi không còn cách nào khác Vì thế ngay cả khi đã vào học nghề, học sinh vẫn chưa thực sự yên tâm để học tập và sẵn sàng bỏ học ngang chừng khi
có điều kiện mới thích hợp và được cho là tốt hơn
- Tình trạng bỏ học nhiều sau một thời gian ngắn vào học đang là một thực tế và là điều bức xúc hiện nay ở các trường trung cấp chuyên nghiệp ngoài công lập tại TP HCM, tạo ra những khó khăn cho hoạt động đào tạo và thâm hụt về mặt tài chính của trường, đôi khi rất khó giải quyết Vì thế, việc duy trì sĩ số học sinh ở các trường trung cấp chuyên nghiệp ngoài công lập tại TPHCM , đang là vấn đề làm đau đầu các nhà quản lý ở các trường này Do vậy, mỗi trường đều cố gắng tìm biện pháp giải quyết theo cách riêng của mình, theo kiểu gặp đâu giải quyết đó, công việc mang tính chất sự vụ, chạy theo công việc hàng ngày diễn ra, miễn sao hạn chế việc bỏ học chừng nào hay chừng đó nhằm duy trì sĩ số học sinh
1.4 Về bản thân người nghiên cứu
- Là hiệu trưởng của một trường TCCN ngoài công lập nên tôi có được những điều kiện cần thiết để giải quyết trực tiếp những vấn đề liên quan đến học sinh
- Bản thân cũng đã có được những thực tế nhất định trong việc quản lý một nhà trường TCCN nên sẽ giúp cho việc thực hiện đề tài này
Trang 11- Hoạt động về duy trì sĩ số học sinh của Hiệu trưởng, Cán bộ quản lý, Giáo viên, học sinh học sinh một số trường trung cấp chuyên nghiệp ngoài công lập ở TP HCM
3.2 Đối tượng nghiên cứu
- Thực trạng quản lý việc duy trì sĩ số học sinh tại các trường trung cấp chuyên nghiệp ngoài công lập ở TP HCM
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Làm rõ cơ sở lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu
4.2 Thực trạng quản lý việc duy trì sĩ số học sinh ở một số trường TCCN Ngoài công lập tại TP HCM
4.3 Đề xuất một số giải pháp quản lý việc duy trì sĩ số học sinh tại các trường TCCN ngoài công lập ở TP HCM trong thời gian tới
5 Giới hạn nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu thực trạng và giải pháp quản lý việc duy trì sĩ số học sinh tại 4 trường ở khóa học 2005 và 2006:
Trường TH TT Kinh tế – Kỹ thuật Sài Gòn
Trường TH Dân lập Kinh tế – Kỹ thuật Vạn Tường
Trường TH Dân lập Công nghệ thông tin Sài Gòn
Trường Trung học TT Tin học –Kinh tế Sài Gòn
6 Giả thuyết nghiên cứu
- Trên cơ sở khảo sát thực trạng để đưa ra các giải pháp quản lý sẽ giúp cho việc duy trì sĩ số học sinh trong quá trình đào tạo tại các trường TCCN ngoài công lập, tạo điều kiện cho việc ổn định hoạt động của nhà trường
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu nhằm mục đích thu thập tư liệu để xây dựng tổng luận nghiên cứu của đề tài
Trang 127.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến lãnh đạo trường, cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh nhằm mục đích làm rõ thực trạng và giải pháp quản lý việc duy trì sĩ số học sinh tại các trường TCCN ngoài công lập
ở TP HCM với mẫu nghiên cứu đại diện ở mỗi trường chọn: 10 cán bộ quản
lý, 20 giáo viên, 150 học sinh với cách chọn ngẫu nhiên,
Kết quả điều tra được xử lý theo phương pháp tính tỷ lệ phần trăm 7.3 Phương pháp tọa đàm (trò chuyện): đối với học sinh, giáo viên, cán
bộ quản lý và lãnh đạo trường nhằm bổ trợ cho phương pháp điều tra bằng phiếu
Trang 13
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1 1 Một số khái niệm liên quan
1.1.1 Quản lý – quản lý giáo dục
+) Quản lý: Khi xã hội loài người xuất hiện, một loạt các quan hệ: quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa
con người với xã hội và cả quan hệ giữa con người với chính bản thân mình xuất hiện theo Điều này làm nảy sinh nhu cầu về quản lý Trải qua tiến trình lịch sử phát triển từ xã hội lạc hậu đến xã hội văn minh, trình độ sản xuất, tổ chức, điều hành xã hội cũng phát triển theo Đó là tất yếu lịch sử
Ngày nay, nhiều người thừa nhận rằng quản lý trở thành một nhân tố của
sự phát triển xã hội Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trong
mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên quan đến mọi người Khái niệm “quản
lý”là khái niệm rất chung, tổng quát Nó dùng cho cho cả quá trình quản lý xã hội (xí nghiệp, trường học, đoàn thể, v.v ), quản lý giới vô sinh (hầm mỏ, máy móc v.v…), cũng như quản lý giới sinh vật (vật nuôi, cây trồng, v.v…) Riêng về quản lý xã hội, người ta lại chia ra ba lĩnh vực quản lý cơ bản tương ứng với ba loại hình hoạt động chủ yếu của con người:
- Quản lý sản xuất, quản lý kinh tế
- Quản lý xã hội-chính trị
- Quản lý đời sống tinh thần: trong đó có dạng quản lý giáo dục
Có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm quản lý:
- Nguyễn Ngọc Quang (1998), nhà sư phạm, người góp phần đổi mới lý
luận dạy học, trong tác phẩm của mình đã nói “Quản lý là những tác động có
định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong
Trang 14tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định” [12,
tr.130.]
- Trần Kiểm (1997), trong Giáo trình dùng cho học viên cao học Giáo
dục học ”Quản lý giáo dục và trường học” tác giả đã viết “Quản lý là nhằm
phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” [11, tr.15]
- Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất
- TS Nguyễn Bá Sơn (2000), trong tác phẩm “ Một số vấn đề cơ bản về
khoa học quản lý” đã viết: ” Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể
những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động” [3, tr 15]
- Quản lý là một khoa học vì nó nghiên cứu, phân tích về công việc quản
lý trong các tổ chức, các quan hệ quản lý Nó tổng quát hóa các kinh nghiệm tốt thành các nguyên tắc và lý thuyết áp dụng cho mọi hình thức quản lý tương tự Nó cung cấp khái niệm cơ bản làm nền tảng cho việc nghiên cứu các môn học về quản lý
- Các khái niệm (thuộc lĩnh vực quản lý xã hội) trên đây, tuy khác nhau, song chúng có chung những dấu hiệu chủ yếu sau đây:
Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội
Hoạt động quản lý là những tác động có tính hướng đích
Hoạt động quản lý là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức
Trang 15- Sự thực hành quản lý là một nghệ thuật Bởi vì, để quản lý có hiệu
quả, nhà quản lý phải linh hoạt vận dụng các lý thuyết vào những tình huống
cụ thể Nó đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế cao để đạt tới mục tiêu Nghệ thuật này chủ yếu phải được học ngay trong thực tiễn vế quản lý
*) Quản lý giáo dục:
Hoạt động QLGD là một quá trình chủ thể quản lý tiến hành tổ hợp các chức năng quản lý nhằm đưa hệ khách thể quản lý tiến đến mục tiêu Như vậy, QLGD là một loại lao động điều khiển lao động, là tác động điều khiển chống entropi
- QLGD là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý QLGD đến khách thể QLGD nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến
- QLGD (nói riêng là quản lý trường học) là quản lý tập thể giáo viên và học sinh để chính họ lại quản lý (đối với giáo viên) và tự quản lý (đối với học sinh) trong quá trình dạy học – giáo dục nhằm đào tạo ra sản phẩm là nhân cách người lao động mới
- Quản lý giáo dục là việc bảo đảm sự hoạt động của tổ chức trong điều kiện có sự biến đổi liên tục của hệ thống giáo dục và môi trường, là chuyển hệ thống đến trạng thái mới thích ứng với hoàn cảnh mới
- Quản lý giáo dục là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các
cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu giáo dục đã định
- Quản lý giáo dục là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý giáo dục đến khách thể quản lý trong một tổ chức, làm cho tổ chức đó vận hành và đạt được mục đích của tổ chức
- Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên đối tượng giáo dục và khách thể quản lý giáo dục về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh
Trang 16tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp, các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng
- Quản lý giáo dục là quá trình đạt đến mục tiêu giáo dục của hệ thống giáo dục bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra
- Quản lý giáo dục phải được định hướng tới những mục đích, mục tiêu nhất định Người quản lý phải trả lời được những câu hỏi: Quản lý để làm gì? đạt đến cái đích nào? Đích phải đến của từng chặng đường là mục tiêu; Đích
ở xa hoặc cuối cùng gọi là mục đích Mục đích tổng quát của sự nghiệp giáo dục chính là mục đích tổng quát nhất của quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục trong xã hội ta hiện nay là hướng tới việc nâng cao dân
trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Ở cấp độ nhân cách, quản lý giáo
dục là quản lý sự hình thành và phát triển nhân cách
Mục tiêu quản lý giáo dục là trạng thái được xác định trong tương lai của đối tượng quản lý hoặc một số yếu tố cấu thành của nó
Đối tượng của quản lý giáo dục: là một hệ thống bao gồm 4 thành tố:
Tư tưởng: quan điểm, đường lối, chính sách, chế độ, nội dung, phương pháp, tổ chức giáo dục
Con người: giáo viên, học sinh, cán bộ, nhân viên
Quá trình: dạy và học diễn ra trong không gian và thời gian Vật chất: trường sở và trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho dạy
và học
Sự thực, khái niệm “quản lý giáo dục” có nhiều cấp độ Ít nhất có hai cấp
độ chủ yếu: cấp vĩ mô và cấp vi mô
+) Cấp quản lý vĩ mô tương ứng với việc quản lý một đối tượng có quy
mô lớn nhất, bao quát toàn bộ hệ thống Nhưng trong hệ thống này lại có
Trang 17nhiều hệ thống con, tương ứng với hệ thống con này có quản lý hoạt động vi
mô Sự thực, việc phân chia quản lý vi mô và quản lý vĩ mô chỉ là tương đối Chẳng hạn, quản lý ở cấp Sở Giáo dục và Đào tạo:
- Nếu đặt trong phạm vi toàn quốc thì chỉ là cấp vi mô so với Bộ Giáo dục & Đào tạo (cấp vĩ mô);
- Song, nếu đặt nó trong phạm vi một tỉnh / thành phố thì nó lại là cấp
vĩ mô so với quản lý của Phòng Giáo dục & Đào tạo (Là cấp vi mô)
- Đối với cấp vĩ mô: Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục +) Đối với cấp vi mô: Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường
Thuật ngữ “quản lý trường học / nhà trường” có thể xem là đồng nghĩa với quản lý giáo dục tầm vi mô
Từ những khái niệm trên, dù ở tầm vĩ mô hay vi mô, ta có thể thấy rõ các yếu tố của quản lý giáo dục, đó là chủ thể quản lý, khách thể quản lý, và mục tiêu quản lý (theo sơ đồ sau)
Sơ đồ: Khái niệm quản lý
Chủ thể quản lý
Mục tiêu quản
Khách thể quản
Trang 18+) Quản lý giáo dục nằm trong phạm trù quản lý xã hội nói chung, tuy nhiên nó có các đặc trưng riêng:
- QLGD: là loại quản lý nhà nước Các hành động quản lý ở đây được tiến hành dựa trên cơ sở quyền lực của nhà nước, được thể chế hoá bằng pháp luật của nhà nước, hướng vào hệ thống xã hội, nhằm thực hiện quyền lực nhân dân
- QLGD: trước hết và thực chất là quản lý những con người Điều này
có nghĩa là tổ chức một cách khoa học lao động của những người tham gia giáo dục, phát triển đời sống kinh tế, chính trị, xã hội và tinh thần của họ, nên cần phải tôn trọng họ, nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo của họ trong công việc chung
- QLGD: thuộc phạm trù phương pháp chứ không phải mục đích Nếu chủ thể quản lý xem quản lý là mục đích thì rất dễ đi đến độc đoán, chuyên quyền, coi việc phục tùng của người dưới quyền là tối thượng mà không nghĩ đến hiệu quả Bởi vì, rất có thể chủ thể quản lý tìm mọi cách, mọi thủ đoạn, bất kể thủ đoạn ấy có hợp hay không hợp đạo lý để thực thi ý đồ của mình Ngược lại, nếu chủ thể quản lý coi quản lý là phương pháp thì sẽ luôn tìm cách cải tiến, đổi mới công tác quản lý của mình sao cho đạt mục tiêu quản lý một cách có hiệu quả Ở đây mối quan hệ giữa cặp phạm trù “mục đích” và “phương pháp” cho ta thấy, có thể có nhiều cách để thực hiện mục đích Vấn đề là nhà quản lý phải tìm phương pháp tốt nhất trong số các phương pháp khả dĩ để thực hiện mục tiêu đề ra
- QLGD cũng có các thuộc tính như quản lý xã hội với hai thuộc tính chủ yếu là thuộc tính về tổ chức –kỹ thuật và thuộc tính kinh tế- xã hội Thuộc tính tổ chức –xã hội do nhu cầu phát triển của nhà trường quyết định; thuộc tính kinh tế xã hội do quan hệ sản xuất quyết định
1.1.2 Quản lý trường TCCN ngoài công lập
Trang 19Quản lý trường TCCN ngoài công lập cũng tương tự như quản lý các trường THCN khác; tuy nhiên, do đặc trưng của các trường ngoài công lập là phải tự lo liệu về mặt tài chính theo hướng tự cân đối thu chi, nên mọi hoạt động của trường diễn ra vừa phải bảo đảm chất lượng, vừa phải có khả năng
tự trang trải để duy trì sự ổn định, đứng vững của trường Các hoạt động về chuyên môn đào tạo ở các trường ngoài công lập cũng thực hiện như các trường công lập trong cùng hệ đào tạo, không có sự phân biệt công hay tư; Những vấn đề về mặt tổ chức nhân sự thực hiện theo chỉ đạo và nghị quyết của hội đồng quản trị nhưng phải tuân theo những chuẩn mực của nhà nước
và được các cơ quan có thẩm quyền công nhận; những vấn đề về mặt tài chính thực hiện theo nguyên tắc tự cân đối thu –chi và tuân theo những nguyên tắc
về tài chính của nhà nước ban hành
1.1.3 Khái niệm về quản lý việc duy trì sĩ số học sinh
Quản lý việc duy trì sĩ số học sinh là việc nắm vững sĩ số học sinh diễn
ra trong quá trình đào tạo ở trường, cụ thể là:
- Nắm vững thực trang diễn biến về sự biến động sĩ số học sinh trong quá trình đào tạo theo thời gian của từng tháng, từng qúy, từng học kỳ, năm học và khóa học
- Tìm hiểu và nghiên cứu xem những nguyên nhân nào tác động đến sự biến động sĩ số học sinh
- Nghiên cứu và đề xuất những giải pháp khắc phục để ngăn ngừa và hạn chế tình trạng giảm sút sĩ số học sinh trong quá trình đào tạo của trường, nhằm giữ cho hoạt động của trường được ổn định, giảm thiểu những khó khăn
do sự biến động sĩ số gây ra
1 2 Trường TCCN ngoài công lập
1.2.1 Một số đặc trưng cơ bản của trường TCCN ngoài công lập
Căn cứ vào:
Trang 20Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Quy chế về chuyên môn như quy chế đào tạo TCCN hệ chính quy của
Bộ GD&ĐT ban hành theo số 40 /QĐ-BGD-ĐT ngày 01/8/2007
Trường trung cấp chuyên nghiệp công lập và ngoài công lập có những đặc trưngcơ bản sau:
+) Trường TCCN ngoài công lập có quyền bình đẳng như các trường công lập khác trong mọi hoạt động của mình về nhiệm vụ quyền hạn của nhà trường của giáo viên, cán bộ nhân viên, học sinh trong việc thực hiện mục tiêu, chương trình và các quy chế về đào tạo, tuyển sinh, thi, kiểm tra, công nhận tốt nghiệp, cấp văn bằng chứng chỉ, điều này đã được luật pháp quy định
+) Trường TCCN ngoài công lập chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Giáo dục & Đào tạo và các Bộ chuyên ngành, của Uỷ ban nhân dân các cấp theo chức năng nhiệm vụ, quyền hạn được giao; chịu sự quản lý trực tiếp của các
cơ quan quản lý giáo dục theo quy định của điều lệ trường TCCN
Trường TCCN Ngoài công lập cũng như trường Công lập có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng
+) Trường TCCN ngoài công lập có trách nhiệm xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý sao cho vừa phù hợp với quy định trong điều lệ trường TCCN, vừa phù hợp với điều kiện và quy mô của mỗi trường Nếu trường có
từ hai thành viên góp vốn trở lên thì phải có HĐQT
Trang 21+) HĐQT là tổ chức đại diện quyền sở hữu của nhà trường, có trách nhiệm và quyền tự chủ quyết định những vấn đề quan trọng về quy hoạch, kế hoạch phát triển, tổ chức nhân sự và tài chính, tài sản của trường, cụ thể như sau:
- Quyết định, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch phát triển nhà trường
- Xây dựng và quyết định các chế độ thu, chi tài chính trong trường
- Huy động các nguồn vốn để xây dựng trường; giám sát việc quản lý tài chính và tài sản của trường; phê duyệt dự toán và quyết toán ngân sách hàng năm
- Phê duyệt phương án tổ chức bộ máy, biên chế và các vấn đề có liên quan đến nhân sự của trường …
+) Hiệu trưởng trường TCCN ngoài công lập là người trực tiếp quản lý
và điều hành các hoạt động của nhà trường; chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước cơ quan QLGD trực tiếp về việc thực hiện các quy định, quy chế về giáo dục và đào tạo Ngoài ra, HT trường ngoài công lập còn có nhiệm vụ và quyền hạn sau:
- Tổ chức thực hiện các quyết định của HĐQT
- Kiến nghị các biện pháp huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục, phát triển trường và các biện pháp bảo đảm chất lượng, hiệu quả GD-ĐT, hoạt động khoa học, công nghệ
- Đề xuất danh sách giáo viên cần tuyển chọn, thực hiện các quy định của nhà nước về lao động –tiền lương, tiền công, bảo hiểm, học bổng, học phí, trợ cấp xã hội, khen thưởng, kỷ luật
+) Trường TCCN ngoài công lập thực hiện chương trình giáo dục–đào tạo và kế hoạch dạy học theo quy định của điều lệ trường TCCN như các trường công lập khác
Trang 22+) Quy mô của trường TCCN ngoài công lập tối thiểu phải cò từ 600 học sinh và mỗi ngành đào tạo có từ 100 đến 200 học sinh
+) Trường TCCN ngoài công lập có cơ sở vật chất, trang thiết bị bao gồm đất đai, nhà cửa trong khuôn viên, có tổng diện tích mặt bằng bình quân
là 10m2 /học sinh, các khối công trình như khu hành chính, khu học tập, khu sân trường; cơ sở phục vụ ngoài trường như: trang trại, cơ sở sản xuất thực tập tốt nghiệp v.v; có đủ các phương tiện vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc thí nghiệm, thực tập của học sinh
+) Trường TCCN ngoài công lập phải bảo đảm có đội ngũ giáo viên cơ hữu tối thiểu 30% tổng số giáo viên , đội ngũ cán bộ quản lý, nhân viên cơ hữu phù hợp với quy mô của trường theo quy định của nhà nước
+) Về mặt tài chính thì trường ngoài công lập phải hoàn toàn tự lo liệu và giải quyết, miễn sao những hoạt động tài chính của trường phải tuân thủ đúng những quy định chung của nhà nước Được thể hiện thông qua những chính sách và những nguyên tắc về quản lý tài chính
Nguồn tài chính của các trường ngoài công lập được tạo nên chủ yếu từ các nguồn sau đây:
- Từ việc góp vốn của các nhà sáng lập trường, của các thành viên Hội đồng quản trị và có thể từ các cổ đông
- Từ nguồn thu học phí của học sinh hàng năm là chủ yếu; Ngoài ra có thể còn có từ một vài nguồn thu phụ khác như liên kết đào tạo
Sự khác biệt căn bản giữa trường Công lập và Ngoài công lập được tóm lược trong bảng 1.1:
Bảng 1.1 Đặc trưng cơ bản trường TCCN
Đặc trưng Trường công lập
Trường ngoài công lập (ở đây chỉ đề cập đến trường tư
thục)
Chủ đầu tư Nhà nước cấp kinh phí để xây Tư nhân, hoặc một số người đầu
Trang 23dựng trường tư xây dựng trường Quyền sở
Hoạt động theo nguyên tắc tự cân đối thu – chi, thực hiện theo những quy định của bộ tài chính
Lợi nhuận Nộp ngân sách Được quyền sử dụng lợi nhuận
sau khi đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước
Tổ chức
bộ máy
Hội đồng nhà trường là tổ chức quyền lực cao nhất lãnh đạo trường
Hội đồng quản trị ( với trường có hội đồng quản trị ), với trường có
01 thành viên: là người có quyền cao nhất để lãnh đạo trường
Giáo viên Là công chức nhà nước, được
tuyển dụng vào biên chế
Có 2 loại giáo viên: GV Cơ hữu với tỷ lệ khỏang 30% tổng số giáo viên của trường (được ký hợp đồng lao động dài hạn, có chế động bảo hiểm và các chế độ khác như công chức nhà nước)
Giáo viên thỉnh giảng: ký hợp đồng theo tiết giảng
Trang 24động, theo quy định của luật lao động
Về hoạt
động đào
tạo
Từ mục tiêu, chương trình, kế hoạch đào tạo quy định theo chương trình khung của bộ GD&ĐT ban hành, thực hiện theo quy chế chuyên môn ban hành cho các trường TCCN, văn bằng có giá trị trong toàn quốc
Giống như các trường công lập
Văn bằng
Tốt nghiệp
Học sinh tốt nghiệp được cấp bằng TCCN, theo mẫu văn bằng thống nhất của Bộ GD&ĐT
Giống như các trường công lập
1.2.2 Quản lý công tác tuyển sinh để duy trì sĩ số theo kế hoạch đối với các trường TCCN ngoài công lập
Để bảo đảm cho nhà trường ngoài công lập tồn tại, đứng vững và phát triển, trường cần phải có một nguồn tài chính ổn định và không ngừng tăng trưởng hàng năm Nguồn tài chính này phụ thuộc rất nhiều vào việc thu học phí của học sinh, do vậy công tác tuyển sinh hàng năm có ý nghĩa rất quan trọng để duy trì sĩ số theo chỉ tiêu kế hoạch được giao và bảo đảm cho hoạt
động của nhà trường ngoài công lập
Trang 25Tuyển sinh là công việc phức tạp, khó khăn , chiếm không ít thời gian, công sức của mỗi trường trong từng năm học Căn cứ vào yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của từng thời kỳ, căn cứ vào tình hình hoạt động thực tiễn và điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực quản lý điều hành của trường, trường lập kế hoạch xin cấp chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm, và cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét giải quyết
Sau khi có chỉ tiêu tuyển sinh, Trường phải lập các kế hoạch cụ thể, chi tiết để thực hiện công tác tuyển sinh từ khâu chuẩn bị, tuyên tuyền giới thiệu các ngành học, đến việc tiếp nhận hồ sơ cho xét tuyển hoặc thi tuyển, thông báo kết quả tuyển sinh cho đến việc tiếp nhận học sinh vào trường Một khối lượng công việc khá lớn có nhiều người tham gia, do vậy, cần phải quản lý công tác tuyển sinh để thực hiện chỉ tiêu được giao hàng năm nhằm bảo đảm
và duy trì sĩ số học sinh của trường
1.2.3 Quản lý học sinh để duy trì sĩ số
Việc duy trì sĩ số hàng năm, hạn chế tình trạng bỏ học sau khi nhập học
có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của trường
Sau khi hoàn tất việc tuyển sinh, khóa học được tiến hành theo kế hoạch đào tạo đã được thiết lập Việc duy trì và bảo đảm sĩ số học sinh của từng năm học, khóa học là một chỉ tiêu vô cùng quan trọng mà các trường đều phải cố gắng phấn đấu Trong mục tiêu phấn đấu của mình, các trường vừa phải nâng cao chất lượng đào tạo, vừa phải duy trì bảo đảm về số lượng học sinh bị đào thải, rơi rụng đi trong quá trình đào tạo sao cho ở mức thấp nhất, có vậy thì hiệu quả mới cao
Mặt khác việc duy trì, ổn định sĩ số học sinh còn giúp cho các ngành nghề đào tạo của trường đã mở ra được ổn định và phát triển, không bị tan vỡ hoặc tạm dừng do quá ít học sinh Đây cũng là một yếu tố quan trọng để ổn định nguồn thu nhập cho trường, bảo đảm cho trường có thể đứng vững và
Trang 26phát triển Trong thực tế, khi mở một lớp học cho một ngành học nào đó, các trường ngoài công lập cần phải có sự tính toán và cân nhắc kỹ càng theo nguyên tắc tự cân đối việc thu – chi sao cho có thể duy trì khoá học được từ đầu tới cuối, điều này khác với các trường công lập Ở các trường công lập, sĩ
số của một lớp học thuộc ngành đào tạo nào đó nhiều hay ít học sinh không phải là một vấn đề quan trọng, có thể 10 học sinh, 15 hoặc 20 học sinh /1 lớp học vẫn có thể mở ra để đào tạo vì họ không phải lo nhiều về vấn đề kinh phí
để duy trì lớp học, nhưng với các trường ngoài công lập thì phải cân nhắc, tính toán sao cho có đủ nguồn kinh phí tối thiểu để duy trì lớp học, khoá học
đã mở từ đầu tới cuối, mà nguồn kinh phí đó chủ yếu dựa vào học phí của học sinh, những nguồn tài trợ khác, đặc biệt là những nguồn tài trợ từ ngân sách của nhà nước cho các trường ngoài công lập hầu như không có Vì vậy, khi đã
mở được lớp học cho một ngành học nào đó đã là quan trọng thì việc duy trì lớp học tồn tại được đến cuối khoá học còn quan trọng hơn nhiều Vì thế, việc duy trì sĩ số học sinh trong từng lớp học, ngành học có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự hoạt động của nhà trường
Công tác học sinh trong đó có Quản lý học sinh là một trong những trọng tâm công tác của hiệu trưởng, nhằm bảo đảm thực hiện mục tiêu giáo dục và đào tạo của trường
Học sinh là trung tâm trong nhà trường, được trường bảo đảm điều kiện thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường Quyền của học sinh là:
- Được nhận vào học đúng ngành nghề đã đăng ký nếu đủ các điều kiện trúng tuyển Được nhà trường tôn trọng và đối sử bình đẳng;
- Được cung cấp đầy đủ các thông tin Được tạo điều kiện trong học tập
và rèn luyện
Trang 27Nghĩa vụ của học sinh là chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước; Tôn trọng nhà giáo, cán bộ nhân viên của trường; giữ gìn và bảo vệ tài sản của nhà trường; thực hiện nhiệm vụ học tập , rèn luyện theo chương trình
Thực hiện đóng học phí đúng theo thời hạn theo quy định; tham gia lao động và hoạt động xã hội, hoạt động bảo vệ môi trường; tham gia phòng chống tệ nan xã hội ma tuý, mãi dâm và các tệ nạn xã hội khác
+) Quản lý học sinh để duy trì sĩ số trong quá trình đào tạo là:
- Theo dõi, đánh giá ý thức học tập, rèn luyện của học sinh; phân loại, xếp loại học sinh sau mỗi học kỳ, năm học; tổ chức thi đua, khen thửng, kỷ luật đối vớ học sinh vi phạm quy chế
- Triển khai công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống
- Triển khai các hoạt động văn hoá, văn nghệ, TDTT;
- Tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh tham gia hoạt động các đoàn thể
- Tổ chức tư vấn học tập, nghề nghiệp, việc làm cho học sinh
Quản lý học sinh có ảnh hưởng đến việc duy trì sĩ số trong quá trình đào tạo ở trường
1.2.4 Quản lý đầu ra: tốt nghiệp, việc làm
Sau khi học sinh đạt kế quả thi tốt nghiệp và được công nhận tốt nghiệp, nhà trường chưa phải là đã hoàn thành trách nhiệm đào tạo học sinh
Việc chuẩn bị cho học sinh tốt nghiệp ra trường cũng theo nhiều hướng khác nhau Một số học sinh tiếp tục học liên thông lên cao đẳng, đại học; Một
só học sinh thì tìm kiếm việc làm trong các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, cơ quan hoặc tự tạo việc làm bằng khả năng nghề nghiệp của mình
Việc chuẩn bị cho học sinh tốt nghiệp ra trường cũng là việc quan trọng cần thực hiện, chẳng han: - với những học sinh tiếp tục học lên cao đẳng, đại học thì trường giúp học sinh hoàn tất những thủ tục cần thiết để dự thi, giới
Trang 28thiệu cho học sinh biết được những trường nào được phép đào tạo liên thông
để học sinh lựa chọn
- Với những học sinh ra trường công tác, trường có thể giới thiệu đến các
cơ sơ tiếp nhận biết được quá trình đào tạo và khả năng trình độ của từng học sinh
- Trường cần chủ động giao dịch với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, các trung tâm giới thiệu việc làm để giúp học sinh tốt nghiệp ra trường nhanh chóng tìm được nơi tiếp nhận
- Việc đào tạo của trường cố gắng theo hướng gắn liền với thực tế sản suất, kinh doanh và hoạt động xã hội, có hiệu quả hơn cả là đào tạo theo địa chỉ Nếu làm được như vậy thì sẽ có khả năng thu hút được nhiều học sinh vào trường theo học
Tuy nhiên, sự phối hợp đào tạo giữa nhà trường với các cơ sở sản xuất, kinh doanh còn nhiều vấn đề bất cập, không quy định được trách nhiệm rõ ràng cho sự tham gia của cơ sở cho quá trình đào tạo của trường như thế nào,
vì thế cơ sở không mấy quan tâm trong khi vẫn nhận người do các trường đào tạo mà không phải trả một phần kinh phí nào, cuối mỗi khoá học, học sinh muốn đến cơ sở để thực tập rất khó khăn và trường lại phải trả một phần kinh phí cho việc thực tập này
Đã đến lúc cần phải thay đổi quan niệm này và phải được luật pháp quy định rõ ràng
Trang 29
Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DUY TRÌ SĨ SỐ HỌC SINH
Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TCCN NGOÀI CÔNG LẬP TẠI TPHCM
2.1 Tổng quan về 4 trường TCCN của đề tài nghiên cứu
2.1.1 Tình hình trường, ngành nghề đào tạo, số lượng học sinh của
5 Điện công nghiệp
6 Điện tử viễn thông
1.Công nghệ thông tin
2 Điện tử viễn thông
Trang 30Vạn tường 4 Kinh doanh nhập khẩu
kỹ thuật đặc biệt là kỹ thuật công nghiệp các trường ít đi vào đào tạo ở lĩnh vực này
Trang 312.1.2 Tình hình đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên của trường
Bảng 2.2 Tình hình đội ngũ cán bộ, giáo viên của 4 trường nghiên cứu
Tổng số cán bộ, giáo viên, nhân viên Trường Năm
Tổng số Giám hiệu NV-HC CBQL Nhân viên Giáo viên Ghi chú
2.2 Thực trang công tác tuyển sinh để duy trì sĩ số trong khoá học 2005
và 2006 của một số trường TCCN ngoài công lập
Thực trang về công tác tuyển sinh đối với các trường ngoài công lập ở TP HCM
Qua tìm hiểu thực tế và thu thập thông tin, dữ liệu tại các trường nghiên cứu, kết quả thực tế như sau: (xem bảng thống kê dưới đây:)
Trang 32Bảng 2.3 Tình hình tuyển sinh của một số trường TCCN tại TP HCM,
năm 2005 và 2006 Năm học 2005-2006 (Khoá học 2005)
Năm học 2006-2007 ( Khoá học 2006)
TT Tên trường
Chỉ tiêu
Nhập học Đạt %
Chỉ tiêu
Nhập học Đạt %
Qua bảng thống kê số liệu thực tế trên cho thấy:
- Trong những năm gần đây, thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục nhiều trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp đã đuợc thành lập, đặc biệt là các trường ngoài công lập Trong bối cảnh đó, một số trường TCCN ngoài cộng lập tại TP HCM cũng được thành lập, nâng tổng số lên tới
23 trường , trong tổng số 37 trường TCCN tính đến thời điểm hiện nay
Trang 33- Tuy nhiên, đây là một vấn đề tương đối còn mới mẻ đối với Việt Nam,
do vậy, hầu hết các trường TCCN ngoài công lập tại TP HCM cũng chỉ mới được thành lập trong thời gian 7-8 năm trở lại đây
Do mới thành lập, nên mọi vấn đề còn rất nhiều khó khăn, đặc biệt là về mặt cơ sở vật chất, kỹ thuật Hầu hết các trường chưa có địa điểm chính thức
do chính trường tự xây dựng, mà còn phải đi thuê mượn địa điểm làm trường,
do vậy sự ổn định trường chỉ có tính chất tạm thời
- Để xây dựng được một trường TCCN với đúng nghĩa của nó, cần phải
có một nguồn tài chính khá lớn, trong khi khả năng tài chính của các nhà đầu
tư thường bị hạn hẹp
Trường ngoài công lập (dân lập, tư thục) hoạt động tài chính theo nguyên tắc tự chủ, tự cân đối thu –chi, nguồn thu của trường để duy trì hoạt động hiện nay, chủ yếu dựa vào nguồn thu từ học phí đóng góp của học sinh
Do đó, sĩ số học sinh có mặt theo học tại trường hàng năm có ý nghĩa quan trọng đối với các trường ngoài công lập
+) Để duy trì sĩ số học sinh hàng năm, các trường đã tập trung nhiều công sức và biện pháp cho công việc tuyển sinh của trường
- Chỉ tiêu kế hoạch tuyển sinh hàng năm được phép của mỗi trường lại phụ thuộc nhiều yếu tố, như số lượng ngành nghề được phép đào tạo nhiều hay ít, quy mô trường sở như thế nào, rộng, hẹp, có khả năng thu nhận được bao nhiêu học sinh, điều kiện trang thiết bị phục vụ cho giảng dạy, học tập; vì vậy, việc tăng chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm để tăng sĩ số học sinh chỉ có giới hạn
- Sau khi có chỉ tiêu tuyển sinh được giao của nhà nước, các trường đã tiến hành nhiều giải pháp cho công việc này nhằm thu hút học sinh đến trường, như các giải pháp để quảng bá thương hiệu trường, giới thiệu ngành nghề đào tạo, thông báo chiêu sinh
Trang 34-Tuy nhiên, việc tuyển sinh vào các trường TCCN nói chung và các trường TCCN ngoài công lập nói riêng hiện nay gặp rất nhiều khó khăn do phải cạnh tranh với quá nhiều trường đại học và cao đẳng cũng tham gia đào tạo trung cấp, một sự cạnh tranh không bình đẳng về mặt thương hiệu Cách đây 15 năm trở về trước, ở nước ta mỗi loại nhà trường chỉ được phép đào tạo đúng với chức năng của mình, như trường đại học thì tập trung đào tạo đại học và trên đại học, nhưng giờ đây nhiều trường đại học đã tham gia đào tạo mọi loại trình độ từ thấp đến cao, từ dạy nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, và trên đại học theo mô hình nhiều loại trường trong một trường Hiện nay, cả nước có 287 trường TCCN và 283 trường đại học và cao đẳng có tham gia đào tạo trung cấp chuyên nghiệp, tạo ra sự cạnh tranh gay gắt trong công việc tuyển sinh của mỗi trường
- Do sức hấp dẫn quá mạnh của các trường đại học có tham gia đào tạo TCCN, nên các khoa TCCN trong các trường đại học thường tuyển sinh hàng năm với số lượng rất lớn, trung bình gấp từ 3-5 lần số lượng tuyển sinh của một trường TCCN bình thường khác Ví dụ – có trường đại học ở TP HCM, tuyển sinh TCCN là 3000 hs/1khóa học trong khi những trường TCCN khác chỉ tuyển được khoảng 300, 500, hoặc 700 học sinh / 1 khóa học, hầu hết các trường Trung cấp chuyên nghiệp tại TP HCM không thể tuyển đủ chỉ tiêu được giao hàng năm
2.3 Thực trang về sự biến động sĩ số tại 4 trường TCCN ngoài công lập tại TP HCM trong 2 khóa học 2005, 2006
2.3.1 Thực hiện công tác tuyển sinh để duy trì sĩ số học sinh theo kế hoạch đào tạo được giao hàng năm
Để thực hiện chỉ tiêu tuyển sinh được giao hàng năm, các trường trung cấp chuyên nghiệp ngoài công lập ở thành phố Hồ Chí Minh đã có sự nỗ lực
và cố gắng nhiều mặt, công tác tuyển sinh trong 2 năm 2005 và 2006 đã có
Trang 35những tiến triển khá tốt, tuy vẫn chưa đạt được chỉ tiêu tuyển sinh được giao
Việc thực hiện tuyển sinh không đạt yêu cầu về chỉ tiêu được giao hàng năm
có ảnh hưởng trực tiếp đến việc duy trì sĩ số của mỗi nhà trường, có nhiều khó
khăn cho việc tổ chức các lớp học theo ngành đào tạo vì có ngành học số
lượng tuyển được quá ít, không đủ để tổ chức một lớp học, vì vậy trường lại
phải tìm một giải pháp khác để giải quyết cho học sinh có thể được theo học
2.3.2 Thực trang về việc bỏ học của học sinh tại 4 trường nghiên
cứu trường Trung học TT Kinh tế –Kỹ thuật Sài Gòn
Bảng 2.4 Tổng hợp sĩ số học sinh qua từng học kỳ
Sĩ số HS sau từng học kỳ –Khoá học 2005 Sĩ số học sinh sau từng học kỳ khoá học 2006
TT Ngành
đào tạo học sinh Sĩ số
đầu khoá 2005/so với chỉ tiêu tuyển sinh
HK1 HK2 HK3 HK4
Sĩ số học sinh đầu khoá 2006/so với chỉ tiêu tuyển sinh
534
74, 1%
498
69, 1%
Trang 36TRƯỜNG TRUNG HỌC DL CÔNG NGHỆ THÔNG TIN SÀI GÒN
Bảng 2.5 Tổng hợp sĩ số học sinh qua từng học kỳ
Sĩ số HS sau từng học kỳ –Khoá học 2005
HK1 HK2 HK3 HK4
Sĩ số học sinh đầu khoá
1200 1184
98, 6%
1104 92%
1010
84, 1%
998
83, 1%
Trang 37TRƯỜNG TRUNG HỌC TT KINH TẾ –KỸ THUẬT VẠN TƯỜNG
Bảng 2.6 Tổng hợp sĩ số học sinh qua từng học kỳ
Sĩ số HS sau từng học kỳ –Khoá học 2005 Sĩ số học sinh sau từng học kỳ khoá học 2006
HK1 HK2 HK3 HK4
Sĩ số học sinh đầu khoá
Trang 38TRƯỜNG TRUNG HỌC TT TIN HỌC –KINH TẾ SÀI GÒN
Bảng 2.7 Tổng hợp sĩ số học sinh qua từng học kỳ
Sĩ số HS sau từng học kỳ –Khoá học 2005
Sĩ số học sinh sau từng học kỳkhoá học 2006
HK1 HK2 HK3 HK4
Sĩ số học sinh đầu khoá 2006/so với chỉ tiêu tuyển sinh
707 86%
665
80, 9%
647
78, 7%
Trang 39Bảng 2.8 Tổng hợp thực trang việc bỏ học tại 4 trường nghiên cứu-khóa
học 2005, 2006 Sau năm thứ 1 Sau năm thứ 2 Trường Khóa
học
Sĩ số đầu khóa Sĩ số
cuối năm
Số nghỉ học
Tỷ lệ nghỉ học %
Sĩ số cuối năm
Số nghỉ học
Tỷ lệ nghỉ học
%
Tỷ lệ bỏ học toàn khóa %
kinh tế
Sài gòn 2006 822 756 66 8, 03% 676 80 9, 73% 17, 76%
Trang 40Thực trang nghỉ học ở một số trường khác tại TP HCM
( để tham khảo thêm )
Năm học 2005-2006
Sĩ số đầu năm học
Số bỏ học sau NT1
Tỷ lệ bỏ học %
(theo số liệu tổng kết của Sở GD&DT Tp HCM - 08/2006)
Qua các bảng thống kê thực tế về sự biến động sĩ số học sinh tại 4 trường nghiên cứu và số liệu tham khảo thêm ở một số trường ngoài công lập khác cho thấy:
- Sau khi vào học một thời gian ngắn, tình trang đi học thất thường xảy
ra ở một số học sinh, sau đó một số học sinh bắt đầu nghỉ học Tình trang này tiếp tục tăng lên cho đến cuối học kỳ 1 của năm học thứ nhất
- Bước vào học kỳ 2, tình trang này vẫn tiếp tục diễn ra, tuy mức độ có phần giảm hơn, cho đến hết năm học thứ nhất
- Bước vào năm học thứ 2, tình hình học sinh có phần ổn định hơn, do các em đã xác định được nhiệm vụ học tập quyết tâm ở lại trường để hoàn thành khóa học cho mình
2.4 Thực trạng về việc thực thi các giải pháp quản lý việc duy trì sĩ
số học sinh những năm qua ở một số trường trường TCCN ngoài công lập tại
TP HCM: