1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Quản lý nhà nước đối với hệ thống NHTM Việt nam hiện nay: nội dungnhững bất cập và kiến nghị.

42 681 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 291,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay vai trò của hệ thống NHTM ngày càng quan trọng, ảnh hưởng đến mọi mặt của nên kinh tế. Nhưng cùng với sự phát triển nhanh chóng trong suốt quá trình Việt Nam thực hiện hội nhập thể hiện qua việc tăng lên nhanh chóng về số lượng và về cả quy mô lẫn lĩnh vực hoạt động việc quản lý của bản thân các NHTM đối với chính mình ngày càng khó khăn khi kinh nghiệm còn non kém và sự hội nhập thì ngày càng sâu và rộng khiến cho việc quản lý không còn đơn giản như trước. Vai trò quản lý của nhà nước được nâng cao. bài nghiên cứu tập trung vào Thực trạng quản lý nhà nước đối với hệ thống ngân hàng thương mại tại VIệt Nam, những tồn đọng và hướng giải quyết nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và kinh doanh của hệ thống Ngân hàng thương mại.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Khoa Tài chính ngân hàng

TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

nam hiện nay: nội dung-những bất cập và kiến nghị

Sinh viên thực hiện : Ngô Văn Thịnh : STT: 113

Lớp : TCH301.5_LT

Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Lan

Hà Nội, tháng 6/2013

Trang 2

Mở đầu 3

I Tổng quan về hệ thống ngân hàng Việt Nam 4

1.1 Định nghĩa đặc điểm của hệ thống ngân hàng thương mại ở Việt Nam 4

1.2 Vai trò của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam 7

1.3 Tầm quan trọng của việc quản lý nhà nước đối với hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam 8

II Thực trạng hoạt động của hệ thống NHTM và những điều chỉnh của nhà nước 10

2.1 Quản lý của nhà nước đối với hệ thống NHTM Việt Nam trên cơ sở pháp lý 10

2.2 Thực trạng hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2008-2013 11

III Các biện pháp quản lý nhà nước của NHNN 29

3.1 Các giải pháp của NHNN 29

3.2 Một số đề xuất cho giải pháp của NHNN 38

KẾT LUẬN 41

Trang 3

cụ đắc lực để điều tiết nền kinh tế thị trường đang còn nhiều bất cập này rất cần tới bàntay của nhà nước tham gia vào việc quản lý hoạt động của các NHTM tại Việt Nam hiệnnay.

Trang 4

I T ng quan v h th ng ngân hàng Vi t Nam ổng quan về hệ thống ngân hàng Việt Nam ề hệ thống ngân hàng Việt Nam ệ thống ngân hàng Việt Nam ống ngân hàng Việt Nam ệ thống ngân hàng Việt Nam

1.1 Đ nh nghĩa đ c đi m c a h th ng ngân hàng th ặc điểm của hệ thống ngân hàng thương mại ở Việt Nam ểm của hệ thống ngân hàng thương mại ở Việt Nam ủa hệ thống ngân hàng thương mại ở Việt Nam ệ thống ngân hàng Việt Nam ống ngân hàng Việt Nam ương mại ở Việt Nam ng m i Vi t Nam ại ở Việt Nam ở đầu ệ thống ngân hàng Việt Nam

1.1.1 Khái ni m ngân hàng th ệm ngân hàng thương mại ương mại ng m i ại

Cho tới thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về ngân hàng thương mại:

- Ở Mỹ: ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tàichính và các hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tìa chính

- Đạo luật ngân hàng của Pháp ( 1941) cũng đã định nghĩa: ngân hàng thương mại lànhững xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của côngchúng dưới hình thức ký thác hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó chochính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tin dụng và tài chính

- Ở Việt Nam: theo tinh thầng Luật các Tổ chức tín dụng ( công bố ngày 26121997) vàLuật sửa đổi bổ sung một số điều luật của luật Tổ chức tín dụng( có hiệu lực thi hànhngày 01/10/2004) thì ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động kinhdoanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi sủ dụngsố tiền này để cugn cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán và các hoạt động kinhdoanh khác có liên quan

Từ những nhận định trên có thể thấy Ngân hàng thương mại là một trong những định chếtài chính mà đặn trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản lànhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán Ngoài ra, Ngân hàng thươngmại còn cung cấp nhiều dịch vụ nhằm thỏa mã tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xãhội

Trang 5

1.1.2 Ch c năng c a h th ng ngân hàng th ức năng của hệ thống ngân hàng thương mại ủa hệ thống ngân hàng thương mại ệm ngân hàng thương mại ống ngân hàng thương mại ương mại ng m i ại

Trong sự phát triển của nền kinh tế xã hội, Ngân hàng là một yếu tố không thể thiếu bởicác chức năng cơ bản của nó là : trung gian tín dụng, trung gian thanh toán, chức năngtạo tiền

Trung gian tín dụng: Ngân hàng làm trung gian tín dụng khi nó là “ cầu nối” giữa người

có vốn và người cần vốn Thông qua việc huy động vốn tiền tệ tạm thời nhà rỗi trong nềnkinh tế ngân hàng hình thành nên quĩ cho vay của nó rồi dem cho vay đối với nền kinh tế,bao gồm cả cho vay ngắn hạn và dài hạn mà chủ yếu là cho vạy ngắn hạn Với chức năngnày ngân hàng vừa đóng vai trò là người di vay vừa đóng vai trò là người cho vay

Ngân hàng thương mại thực hiện chức năng này xuất phát từ những cơ sở khách quan

Đó là đặc điểm tuần hoàn vốn tiền tệ trong quá trình tuần hoàn vố xã hội đã phát sinhhiện tượng trong cùng một lúc có những xí nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân có vốn tiền tệtạm thời chưa sử dụng Ngược lại, lại có những doanh nghiệp, cá nhân có nhu cầu vốncần bổ sung trong một thời gian ngắn Mâu thuẫn này càn được giải quyết để tăng hiệuquả sử dụng vốn trong nền kinh tế và được thỏa mãn bằng quan hệ tín dụng trực tiếp hoặcgián tiếp Tuy nhiên quan hệ tín dụng trực tiếp dưới hình thức quan hệ thương mại hoặcdoanh nghiệp phát hành trái phiếu có những hạn chế vì các chủ thể khó có thể biết rõđược khả năng và của nhau Hơn nữa, phải có sự tin tưởng để chuyển nhượng vốn lẫnnhau Hạn chế này đòi hỏi phải có ngân hàng đứng ra làm trung gian để chuyển vốn từnơi thừa sang nơi thiếu tạm thời Thêm nữa, nhu cầu tiết kiệm và đầu tư trong xã hộicũng đòi hỏi ngân hàng làm trung gian để chuyển vốn từ người tiết kiệm sang người cónhu cầu đầu tư

Đây chính là vai trò quan trọng nhất của ngân hàng thương mại vì nó phản ánh bản chấtcủa ngân hàng thương mại là di vay để cho vay, nó quyết định sự duy trì và phát triển củangân hàng Đông thời làm cơ sở để thực hiện các chức năng sau

Trang 6

Trung gian thanh toán: Ngân hàng thương mại thực hiện các chức năng trung gian thanh

toán trên cơ sở nó thực hiện các chức năng trung gian tín dụng Bởi vì thông qua việcnhận tiền gửi, ngân hàng đã mở cho khách hàng tài khoản tiền gửi để theo dõi các khoảnthu, chi Đó chính là tiền để khách hàng thực hieenjt hanh toán cho ngân hàng, ngân hàngvào vị trí làm trung gian thanh toán Hơn nữa, việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặtgiữa các chủ thể kinh tế có nhiều hạn chế, đó là rủi ro do phải vận chuyển tiền, chi phíthanh toán lớn, đặc biệt với khác hàng ở các xa nhau đã tọa nên nhu cầu khác hàng thựchiện thanh toán qua ngân hàng Việc hệ thống ngân hàng thực hiện chức năng trung gianthanh toán có ý nghĩa rất to lớn với toàn bộ nền kinh tế Với chức năng này, hệ thốngngân hàng thương mại sẽ cung cấp cho khác hàng nhiều công cụ thanh toán thuận lợi nhưséc, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, thẻ rút tiền… tùy theo nhu cầu khác hàng có thể chọnchi mình phương thức thanh toán phù hợp Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải dữtiền mặt để gặp chủ nợ, gặp người được hưởng dù gần hay xa mà họ có thể sử dụng mộtphương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán Do vậy các chủ thể kih tế sẽ tiếtkiệm được nhiều chi phí, thời gian lại đảm bảo thanh toán an toàn Như vậy chức năngthúc đẩy lưu thông hàng hóa, đây nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ luân chuyển vốn do đógóp phần tăng trưởng kinh tế Đồng thời với việc thanh toán không dùng tiền mặt quangân hàng đã giảm được tiền mặt trong lưu thông, dẫn đến tiết kiệm chi phí lưu thôngtiền mặt

Đối với Ngân hàng thương mại, chức năng này góp phần tăng thêm lợi nhuận cho ngânhàng thông qua việc thu lệ phí thanh toán Thêm nữa nó lại tăng thêm nguồn vốn cho vaycủa ngân hàng thể hiện trên số dư của tài khoản tiền gửi của khác hàng Chức năng nàycung chính là cơ sở hình thành chức năng tạo tiền của Ngân hàng thương mại

Chức năng tạo tiền: tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của Ngân

hàng thương mại Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yếu cầu chính cho sựtồn tại và phát triển của mình, các Ngân hàng thương mại với nghiệp vụ kinh doanh mangtính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế.Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của Ngân hàng thương

Trang 7

mại là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán Thông qua chức năng trung gian tíndụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại đượckhách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoảntiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được

họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống Ngânhàng thương mại đã làm tăng tổng phương tiện thanh thanh toán trong nền kinh tế, đápứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội Ngân hàng thương mại tạo tiền phụ thuộc vàotỉ lệ dự trử bắt buộc của ngân hàng trung ương đã áp dụng với Ngân hàng thương mại, dovậy Ngân hàng trung ương có thể tăng tỉ lệ này khi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn

1.2 Vai trò c a h th ng ngân hàng th ủa hệ thống ngân hàng thương mại ở Việt Nam ệ thống ngân hàng Việt Nam ống ngân hàng Việt Nam ương mại ở Việt Nam ng m i Vi t Nam ại ở Việt Nam ệ thống ngân hàng Việt Nam

Ngân hàng thương mại ra đời với tính chất là nhận tiền gửi, sử dụng vào nhiệm vụ chovay, chứng khoán và các dịch vụ khác của ngân hàng, ngày càng thể hiện rõ vai trò của

nó đối với sự phát triển kinh tế Với chức năng của mình, Ngân hàng thương mại giữ vaitrò quan trọng trong nền kinh tế thể hiện qua các nội dung sau:

Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế: thực tế cho thấy, để phát

triển kinh tế các đợn vị kinh tế cần phải có một lượng vốn đầu tư cho hoạt động sản xuấtkinh doanh và các hoạt động khác Nhưng điều khó khăn nhất là cần có người đứng ratrung tiền nhàn dỗi ở mọi nơi mọi lúc và kịp thời cung ứng cho nơi cần vốn Bằng vốnhuy động được trong xã hội thông qua hoạt động tín dụng, Ngân hàng thương mại đãcung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn một cách kịp thời cho quátrình sản xuất Nhờ có hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại và đặc biệt là hoạtđộng tín dụng, các doanh nghiệp, cá nhân có điều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máymóc, công nghệ để tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế và chất lượng sảnphẩm cho xã hội

Ngân hàng thương mại là cầu nối các doanh nghiệp với thị trường: Bước sang cơ chế thị

trường, đòi hỏi sự phát triển của tín dụng Ngân hàng đã làm biến đổi hoạt động trong cácnhà máy xí nghiệp, khơi dậy sức sống bằng các dây truyền sản xuất hiện đại năng suất

Trang 8

bằng vốn tự có của các doanh nghiệp vốn dĩ đã ít ỏi Bên cạnh đó, tín dụng ngân hàngcòn cung cấp một phần vốn không nhỏ trong việc tăng cường nguồn vốn lưu động củacác doanh nghiệp Một vấn đề luôn là mối lo thương trực của các doanh nghiệp Một khíacạnh khác đòi hỏi sự có mặt của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp đó là một ngânquỹ để dành cho việc đào tạo đỗi ngũ la động phù hợp với sự phát triển của khoa học –

kỹ thuật – công nghệ cao Đặc biệt trong điều kiện nước ta vẫn còn thiếu nhiều nhữngchuyên gia đầu ngành, những các bộ có năng lực và những công nhân lành nghề

Ngân hàng thương mại là một công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế: Cùng với

sự vận động của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng được chia làm hai cấp: Ngân hàng nhànước và các ngân hàng thương mại Nhà nước điều tiết ngân hàng, ngân hàng dẫn dắt thịtrường thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các ngân hàng thương mại tronghệ thống từ đó góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông và thông quaviệc cung ứng tín dụng cho các ngành trong nền kinh tế, Ngân hàng thương mại thực hiệnviệc dẫn dắt các luồng tiền tập hợp và phân chia vốn của thị trường, điều khiển chúngmột cách có hiệu quả

Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế: Nhận

thức được tầm quan trọng của kinh tế quốc tế, sự hội nhập kinh tế quốc gia với thế giớiđem lại những lới ích kinh tế to lớn, thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững.Một trong các điều kiện quan trọng góp phần thúc đẩy sự hội nhập nền kinh tế quốc giavới nền kinh tế thế giới đó là nền tài chính quốc gia Nền tài chính quốc gia là cầu nối vớinền tài chính quốc tế thông qua hoạt động của Ngân hàng thương mại trong các lĩnh vựckinh doanh như nhận tiền gửi, cho vay, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ ngoại hối và cácnghiệp vụ khác Đặc biệt là các hoạt động thanh toán quốc tế, buôn bán ngoại hối, quanhệ tín dụng với các ngân hàng nhà nước của Ngân hàng thương mại trực tiếp hoặc giántiếp tác động góp phần thúc đẩy hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu và thông qua đóNgân hàng thương mại đã thực hiện vai trò điều tiết tài chính trong nước phù họp với sựvận động của nền tài chính quốc tế

Trang 9

1.3 T m quan tr ng c a vi c qu n lý nhà n ầu ọng của việc quản lý nhà nước đối với hệ thống ngân hàng ủa hệ thống ngân hàng thương mại ở Việt Nam ệ thống ngân hàng Việt Nam ản lý nhà nước đối với hệ thống ngân hàng ước đối với hệ thống ngân hàng c đ i v i h th ng ngân hàng ống ngân hàng Việt Nam ớc đối với hệ thống ngân hàng ệ thống ngân hàng Việt Nam ống ngân hàng Việt Nam

th ương mại ở Việt Nam ng m i Vi t Nam ại ở Việt Nam ệ thống ngân hàng Việt Nam

Các NHTM - bản thân chúng cũng là các DN, song là các DN đặc biệt, do vậy hoạt độngcủa Ngân hàng không những tác động đến giá trị của ngân hang, mà còn tác động trựctiếp đến doanh nghiệp và các hộ gia đình và toàn bộ nền kinh tế

Các ngân hàng đảm nhiệm vai trò đặc biệt trên thị trường tài chính nói riêng và trong toànbộ nền kinh tế nói chung: nó là kênh chuyển giao vốn từ tiết kiệm đến đầu tư, là công cụcủa chính phủ trong việc tài trợ vốn cho các mục tiêu chiến lược; hoạt động của các trunggian tài chính đặc biệt là các tổ chức nhận tiền gửi, có ảnh hưởng quyết định đến việcđiều hành chính sách tiền tệ

Hoạt động của ngân hàng có liên quan đến hầu hết các chủ thế kinh tế trong xã hội nên sựsụp đổ của một ngân hàng sẽ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người gửi tiền đồng thờiđến ảnh hưởng của toàn hệ thống ngân hàng Các ngân hàng có mối liên hệ và phụ thuộcvới nhau chặt chẽ thông qua các luồng vốn tín dụng luân chuyển và thông qua hoạt độngcủa hệ thống thanh toán Chỉ một trục trặc nhỏ trong quá trình thanh toán của một ngânhàng cũng sẽ gây nên vấn đề thanh khoản của toàn bộ hệ thống ngân hàng Mặc khác, sựsụp đổ của ngân hàng sẽ gây khó khăn về vốn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ, quyền lợi của người gửi tiền cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng.Bản chất của các hoạt động ngân hàng là chứa đựng rủi ro Mức độ rủi ro sẽ tăng lên khicác ngân hàng có xu hướng chạy theo lợi nhuận làm phương hại đến quyền lợi của ngườigửi tiền Nguyên tắc hoạt động của các ngân hàng là đi vay ngắn hạn và cho vay dài hạn.Bản tổng kết tài sản của nó luôn chứa đựng mức rủi ro tiềm năng do chênh lệch về thờihạn giữa nguồn vốn và sử dung vốn, giữa yêu cầu thanh khoản và mong muốn sinh lời tối

đa Vì thế sự điều tiết chặt chẽ và giám sát thường xuyên của NHTW sẽ ngăn cản xuhướng chạy theo lợi nhuận quá mức, đẩy ngân hàng vào tình trạng rủi ro và phá sản.Sự tồn tại và phát triển các trung gian tài chính nói chung và ngân hàng nói riêng phụthuộc vào lòng tin của công chúng với tư cách là người gửi tiền Một sai sót nhỏ trong

Trang 10

quá trình kinh doanh và cung ứng dịch vụ của ngân hàng cũng có thể gây nên sự nghi ngờ

có tính lan truyền trong dân chúng và hệ thống ngân hàng Điều này thực sự đe dọa sựtồn tại của các ngân hàng Một sự sự hiểu nhầm xảy ra, nếu không có sự trấn an và hỗ trợcủa ngân hàng trung ương thì hậu quả thật sự khó lường

Nhà nước còn đóng vai trò quan trọng trong việc chuẩn hóa quy định thủ tục vay vốn,giải quyết các tranh chấp giữa khách hàng và ngân hàng Từ khi đất nước chuyển sangnền kinh tế thị trường và đặc biệt là kể từ khi Việt Nam chính thức trở thành thành viêncủa WTO Theo đó các tổ chức kinh tế lớn trên thế giới đã một lượng vốn rất lớn vàoViệt Nam để đầu tư vào tất cả các lĩnh vực trong nền kinh tế thông qua kênh phân phốichính là các Ngân hàng thương mại Cùng với đó là sự xuất hiện của vô số các Ngânhàng thương mại nước ngoài xâm nhập vào thị trường tài chính Việt Nam Bên cạnh sựxuất hiện của vô số các Ngân hàng thương mại của nước ngoài thành lập chi nhánh hoặcvăn phòng đại diện tại Việt Nam là sự thành lập vô số các Ngân hàng thương mại cổ phầntrong nước Với sự mở rộng lớn mạnh của hệ thống Ngân hàng thương mại như hiện nayđòi hỏi Ngân hàng nhà nước phải có những chính sách và biện pháp phù hợp để giúp cácNgân hàng thương mại có thể đứng vững và phát triển

II Th c tr ng ho t đ ng c a h th ng NHTM và nh ng đi u ch nh c a nhà ại ở Việt Nam ại ở Việt Nam ộng của hệ thống NHTM và những điều chỉnh của nhà ủa hệ thống ngân hàng thương mại ở Việt Nam ệ thống ngân hàng Việt Nam ống ngân hàng Việt Nam ững điều chỉnh của nhà ề hệ thống ngân hàng Việt Nam ỉnh của nhà ủa hệ thống ngân hàng thương mại ở Việt Nam.

n ước đối với hệ thống ngân hàng c

2.1 Qu n lý c a nhà n ản lý nhà nước đối với hệ thống ngân hàng ủa hệ thống ngân hàng thương mại ở Việt Nam ước đối với hệ thống ngân hàng c đ i v i h th ng NHTM Vi t Nam trên c s pháp lý ống ngân hàng Việt Nam ớc đối với hệ thống ngân hàng ệ thống ngân hàng Việt Nam ống ngân hàng Việt Nam ệ thống ngân hàng Việt Nam ơng mại ở Việt Nam ở đầu

Pháp luật là nền tảng cơ bản để nhà nước thực hiện quyền điều hành của mình đối với đấtnước và Ngân hàng thương mại cũng vậy Trên thực tế, hệ thông luật pháp hiện hành vềhoạt động ngân hàng đã được thiết lập 12/12/1997 khi hai bộ luật cơ bản là Luật ngânhàng nhà nước Việt Nam và Luật các tổ chức tín dụng, được thay thế cho các Pháp lệnh

cũ ban hành vào ngày 23/5/1990 Gần đây nhất, Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam,Luật các tổ chức tín dụng đã được sửa đổi 16/6/2010

Trang 11

Căn cứ vào hệ thống Luật ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật tổ chức tín dụng, bằngcách sửa đổi, bổ sung các thông tư, nghị định về quản lý hệ thống ngân hàng thương mạiViệt Nam, nhà nước ta đã không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm quản lý vàtạo điều kiện thuận lợi để các ngân hàng thương mại phát triển Như nghị định số59/2009/NĐ-CP của chính phủ về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại đãđược sửa đổi và bổ sung chi tiết hơn so vớ nghị định số 49/2000/NĐ-CP Gần đây nhất,nhà nước đã ban hành thông tư số 21/2013/TT-NHNN về Quy định về mạng lưới hoạtđộng của ngân hàng thương mại

2.2 Th c tr ng ho t đ ng c a h th ng NHTM Vi t Nam trong giai đo n ại ở Việt Nam ại ở Việt Nam ộng của hệ thống NHTM và những điều chỉnh của nhà ủa hệ thống ngân hàng thương mại ở Việt Nam ệ thống ngân hàng Việt Nam ống ngân hàng Việt Nam ệ thống ngân hàng Việt Nam ại ở Việt Nam 2008-2013

2.2.1 Tăng tr ưởng tín dụng ng tín d ng ụng

Theo số liệu của NHNN, tín dụng của toàn hệ thống tăng trưởng 8,91% trong cả năm2012- thấp nhất kể từ năm 1992

ƒNguyên nhân tín dụng tăng thấp là cầu yếu, khả năng tiêu thụ sản phẩm khó khăn,hàng tồn kho cao nên nhiều DN không đủ điều kiện vay vốn; các TCTD phải kiểmsoát chặt chẽ tín dụng nhằm ngăn chặn nợ xấu…

ƒ Trong cơ cấu tín dụng, dư nợ bất động sản chiếm tới hơn một nửa, khoảng 1,5 triệu tỷđồng Trong khi tín dụng tăng trưởng thấp thì huy động vốn của các TCTD lại tăngmạnh Vốn huy động ước cả năm đạt mức tăng trưởng 17%

Trang 12

Nguồn : Tổng cục thống kê

Trong năm 2013, tăng trưởng tín dụng có dấu hiệu khởi sắc, tính đến cuối tháng 6 năm

2013, tín dụng toàn hệ thống ước tính tăng 4,5% so với cuối năm 2012, trong đó tíndụng bằng VND tăng 7,55%, tín dụng bằng ngoại tệ giảm 9,4% Cho tới hết tháng 10năm 2013, tăng trưởng tín dụng đạt khoảng 6.8% đây là một dấu hiệu đáng mừng cho nềnkinh tế Việt Nam Tuy nhiên với mức tăng trưởng này gần như chắc chắn sẽ không đạtmục tiêu tăng trưởng 12% vào năm 2013 khi mà cần nâng tỉ lệ tăng trưởng thêm hơn 5%trong 2 tháng cuối năm

2.2.2 N x u ợ xấu ấu.

Tốc độ tăng nợ xấu ở mức báo động, năm 2012 tăng 64% so với cuối năm 2011.Tính đến cuối tháng 9/2012, với dư nợ khoảng 2,7 triệu ngàn tỷ đồng và nợ xấu ởmức 8,82% Nợ xấu có tài sản đảm bảo bằng bất động sản và bất động sản hình thành

Trang 13

trong tương lai chiếm đến hơn 70% tổng nợ xấu Nợ xấu tập trung ở nhóm các ngânhàng thương mại với 95,5% tổng nợ xấu của các TCTD trong nước (NHTM Nhànước chiếm 50,5%)

Một số nguyên nhân gây ra nợ xấu có thể kể đến

Thứ nhất: Kinh tế Việt Nam chịu tác động mạnh mẽ của khủng hoảng kinh tế trong 5-6năm trở lại đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức thấp, giai đoạn 2008-2010 chỉđạt 6.14%, Lạm phát cao làm giảm sức mua của người tiêu dùng, thắt chặt chi tiêu làmcầu nội địa giảm, tổng cầu giảm, xuất khẩu giảm, hàng tồn kho lớn, vốn bị ứ đọng, sảnxuất bị đình trệ, doanh nghiệp rơi vào thua lỗ phá sản làm tăng tỉ lệ nợ xấu

Trang 14

Biểu đồ tốc độ tăng trưởng và lạm phát 2008-2012

lạm phát(%)

Nguồn : tổng cục thống kê

Thứ 2: Việc lạm dụng đòn bẩy tài chính đã khiến các doanh nghiệp Việt Nam phảiđối mặt với nhiều rủi ro khi thị trường tài chính có biến động tiêu cực, đặc biệt làtrong các trường hợp thắt chặt tín dụng Khi nền kinh tế tăng trưởng chậm lại hoặcChính phủ thực hiện chính sách vĩ mô theo hướng thắt chặt nhằm kiềm chế lạm phátthì nhu cầu đầu tư và tiêu dùng giảm, hàng tồn kho bắt đầu ứ đọng và các khoảnphải thu từ khách hàng bị đình trệ, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệpgiảm sút dẫn đến thua lỗ phá sản không thể trả nợ được ngân hàng Bên cạnh đó, một lượng vốn lớn đượcđâu tư vào bất động sản, kinh tế suy thoái làm, thị trường bất động sản đóng băng, khả năng thanh khoảncủa bất động sản giảm, doanh nghiệp không thể bán được bất động sản để trả nợ cho ngân hàng

Trang 15

Bảng 1 Tỷ lệ nợ nhóm 2 và nợ xấu trên tổng dư nợ tính giai đoạn 2009- 2011

Trang 16

Với những thống kê trên thì tỉ lệ nợ xấu ở Việt Nam là đáng lo ngại, nhưng chưa thực sựquá đáng báo động Cụ thể theo thống kê 73% dư nợ là có tài sản bảo đảm với hơn66% được bảo đảm bằng bất động sản Như vậy, nếu giải quyết được vấn đề thịtrường bất động sản thì lượng nợ xấu như đã nêu trên không đáng quan ngại Từ đầunăm tới nay việc xử lý nợ xấu bằng trích lập dự phòng đạt 32000 tỷ đồng, dự kiến trong năm nay VAMC sẽ muađược khoảng 30-35000 tỷ đồng nợ xấu Như vậy, chỉ riêng với nội lực từ trích lập dự phòng rủi

ro tín dụng, các NHTM đã có thể phần nào xử lý được nợ xấu của mình

Bảng 2 Tỷ lệ dự phòng/dư nợ và nợ xấu trên tổng dư nợ tính giai đoạn 2009- 2011

Nguồn: Báo cáo thường niên, báo cáo tài chính các NHTM.

Với rất nhiều nỗ lực của NHNN trong hơn một năm qua, các chính sách đã phát huytác dụng trong việc xử lý nợ xấu, hạn chế nợ xấu gia tăng cũng như giảm thiểu tối đaảnh hưởng của nợ xấu đối với nền kinh tế cụ thể: Theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN),đến hết tháng 5 -2013, nợ xấu của toàn hệ thống giảm xuống 4,64% trên tổng dư nợ,thay vì 6% vào khoảng tháng 2 và 8,6%-10% hồi tháng 10/2012

Trang 17

2.2.3 Tính thanh kho n ản.

Khác với các năm trong giai đoạn 2007-2012, khả năng thanh khoản của các ngân hàng

TM ngày càng được củng cố vào những tháng cuối năm 2013, cụ thể tính đến18.9.2013 huy động vốn đạt 11.74% cao hơn nhiều so với mức tăng trưởng tín dụng( đạt 5.83%) tại cùng thời điểm này Nhờ sự dồi dào về thanh khoản này mà lãi suất ởthị trường liên ngân hàng giữ ở mức khá ổn định ( từ 3-4%) Theo Quyết định 1073/QĐ-NHNN năm 2013 của NHNN Việt Nam các loại lãi suất cho vay tái cấp vốn, tái chiếtkhấu và cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng đều giảm 1%, lần lượtvề 7% và 5% và 8% một năm trong khi lãi suất cơ bản hiện tại đạt là 9% Với tình hìnhnày, các NHTM sẽ đẩy mạnh cho vay đến khi dự trữ tiền mặt giảm tối thiểu, góp phầntăng trưởng tín dụng và lợi nhuận bởi nếu có sự thiếu hụt thanh khoản các ngân hàng nàyhoàn toàn có thể vay ở Ngân hàng trung ương mà vẫn có lợi nhuận Tuy vậy với tình hìnhthị trường tài chính hiện tại, việc dồi dào thanh khoản trong khi cầu về tín dụng suy giảm,ngân hàng đang đứng cung tiến dụng dồi dào mà nhu cầu thị trường suy giảm, lợi nhuậngiảm mạnh

2.2.4 An toàn t i thi u v i h th ng ngân hàng th ống ngân hàng thương mại ểu với hệ thống ngân hàng thương mại ới hệ thống ngân hàng thương mại ệm ngân hàng thương mại ống ngân hàng thương mại ương mại ng m i ại

So sánh với hệ thống ngân hàng của các quốc gia trong khu vực thì số lượng ngânhàng ở Việt Nam quá lớn nhưng quy mô vốn điều lệ và tổng tài sản lại quá nhỏ.Tính đến thời điểm tháng 9/2012, hệ thống NHTM Việt Nam bao gồm 05NHTMNN với tổng số vốn điều lệ 111.372 tỷ đồng và 35 NHTMCP với tổng sốvốn điều lệ 172.854 tỷ đồng Tính đến hết năm 2010 và 2011, vẫn có một số NHTMchưa đáp ứng được quy định mức vốn điều lệ tối thiểu 3.000 tỷ đồng theo Nghị định141/2006/NĐ-CP Mặc dù đến thời điểm cuối năm 2011, hầ u h ế t các NHTM tăngđủ vốn điều lệ trừ một số ngân hàng nhỏ như bị mua lại hoặc sáp nhập : điển hình nhất làquyết định 1559/QĐ-NHNN ngày 07/08/2012 chính thức chấp thuận việc sáp nhập Ngânhàng Nhà Hà Nội (Habubank) vào Ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội (SHB) và gần đây nhấtlà quyết định sáp nhập ngân hàng TMCP Đại Á (DaiABank) vào HDBank và mua lạiCông ty TNHH Một thành viên tài chính Việt- Societe (SGVF), nâng tổng số vốn điều lệ

Trang 18

giao dịch trên cả nước

Tuy vậy nhìn tổng thể thì chỉ có 6 ngân hàng có tổng vốn điều lệ lớn hơn 10000 tỷ, 7ngân hàng có tổng vốn điều lệ từ 5000-10000 tỷ, hầu hết các ngân hàng còn lại vốn điềulệ đều nhỏ hơn 5000 tỷ

Vốn điều lệ các NHTMNN giai đoạn 08-11 Vốn điều lệ các NHTMCP giai đoạn 08-11

Nguồn: Báo cáo thường niên, báo cáo tài chính các NHTM

Nhằm đạt quy định vốn điều lệ và thoát khỏi việc sáp nhập mua lại, hoặc tự giải thể cácNHTM sử dụng nhiều cách thức để tăng vốn điều lệ như đầu tư lòng vòng giữa các công

ty con, quỹ đầu tư, … nổi bật nhất là hiện tượng sở hữu chéo

- Sở hữu chéo: Giả sư cổ đông ngân hàng A vay vốn ngân hàng B để đầu tư vào ngânhàng B và ngược lại; hoặc tổng công ty X sở hữu doanh nghiệp Y, đồng thời sở hữudoanh nghiệp Z, khi doanh nghiệp Y và Z cùng đầu tư vào ngân hàng A thì đương nhiên,

Trang 19

X là chủ sở hữu của ngân hàng A, trong đó, Y và Z là sở hữu trực tiếp, còn X là sở hữugián tiếp thì các trường hợp này chính là sở hữu chéo.

Vì thế, nhiều nguồn vốn của từng ngân hàng tăng nhưng tổng thể nguồn vốn toàn hệthống thì không hề thay đổi do số tiền chỉ chảy qua, chảy về giữa “túi nọ”, “túi kia”, giátrị tăng chỉ trên sổ sách, còn thực tế thì không tăng

Điều đáng lo ngại từ quá trình này là ở chỗ làm sai lệch việc đánh giá rủi ro cho hệthống, bởi lẽ: muốn biết ngân hàng hoạt động có an toàn hay không thì phải dựa vào cácchỉ số như tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất, tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ, được xác định qua vốntự có mà vốn điều lệ là yếu tố quan trọng nhất trong vốn tự có

Kết quả là các ngân hàng đạt quy định vốn tối thiểu nhưng vốn thực lại không đạt đủ

3000 tỷ Vốn điều lệ chính là tấm đệm, là sức mạnh của NHTM, nếu lượng vốn này quámỏng thì khi có biến động trên thị trường hay rủi ro thanh khoản sẽ ảnh hưởng đến cácNHTM khác, đe dọa đến sự an toàn của cả hệ thống Tín dụng

Ngoài quy định với cho vốn điều lệ tối thiểu, NHTW các nước còn quy định thêm Mộthệ thống tài chính an toàn yêu cầu các TCTD phải đạt được yêu cầu về hệ số antoàn vốn phụ thuộc vào hai yếu tố vốn tự có và tổng tài sản có rủi ro ( hệ số CAR).Theo đó

CAR = Vốn tự có/Tổng tài sản “Có” rủi ro

Vốn tự có là tổng vốn cấp 1 (Tier 1 capital) và vốn cấp 2 (Tier 2 capital) Tổng tài sản

“Có” rủi ro là tổng giá trị tài sản “Có” xác định theo mức độ rủi ro và giá trị tài sản “Có”tương ứng của cam kết ngoại bảng xác định theo mức độ rủi ro

Tại Việt Nam, mặc dù hệ số CAR của nhiều NHTMCP luôn ở trên mức quy định là9% theo quy định của Thông tư 13/2010/TT-NHNN, nhưng tỷ lệ vốn chủ sở hữu trêntổng tài sản đã giảm khá mạnh kể từ năm 2008 cho đến nay

Tuy quy mô vốn điều lệ và vốn chủ sở hữu tăng chậm nhưng quy mô tổng tài sản và

Trang 20

tín dụng của các NHTM lại tăng nhanh trong nhiều năm do các ngân hàng thựchiện chính sách tín dụng mở rộng Kết quả của quá trình tăng trưởng tín dụng nónglà hệ số đòn bẩy tài chính tăng lên trong khi hệ số an toàn vốn CAR giảm Đốivới hoạt động kinh doanh ngân hàng luôn tiềm ẩn rủi ro cao, đặc biệt là đối với cácNHTM Việt Nam, thì tỷ lệ vốn chủ sở hữu như hiện nay là quá thấp đã không đủ đểthực hiện vai trò là tấm đệm chống rủi ro Tính tới thời điểm cuối tháng 9/2012, tỷlệ vốn tự có/tổng tài sản của nhóm NHTMNN là 6,46%, thấp hơn tỷ lệ 8,41%của nhóm NHTMCP.

2.2.5 S l ống ngân hàng thương mại ượ xấu ng ngân hàng l n, ch t l ới hệ thống ngân hàng thương mại ấu ượ xấu ng d ch v còn th p ịch vụ còn thấp ụng ấu.

Tính đến thời điểm tháng 6/2012, hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) hoạt động tạiViệt Nam bao gồm 05 NHTMNN, 35 NHTMCP, 01 ngân hàng phát triển, 01 ngânhàng chính sách xã hội, 50 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 04 ngân hàng liêndoanh, 05 ngân hàng 100% vốn nước ngoài và nhiều công ty tài chính, cho thuê tàichính, quỹ tín dụng… cạnh tranh gay gắt trên thị trường cung ứng dịch vụ tín dụngngân hàng Trong số này, nhiều NHTMCP nông thôn (tiền thân là các quỹ tín dụngnhân dân) trước đây đã chuyển đổi mô hình, mở rộng quy mô để chuyển sang hoạtđộng trong thị trường ngân hàng đô thị từ sau năm 2006 Các NHTMCP từ chỗđược phân chia thành hai khu vực với quy mô tài sản, mạng lưới chi nhánh, phònggiao dịch, khả năng tài chính và trình độ quản lý khác nhau, phù hợp với đối tượngphục vụ, nay chủ yếu cạnh tranh với nhau trên cùng một thị trường Hơn nữa, thựctrạng các NHTM tập trung vào chạy đua mở rộng thị phần và gia tăng lợi nhuậntrong khi số lượng và chất lượng các sản phẩm và dịch vụ khác chưa phát triển đãdẫn tới việc huy động tiền gửi và tín dụng vẫn là sản phẩm chủ yếu các ngân hàng

sử dụng để cạnh tranh với nhau Tình trạng “độc canh” tín dụng và dịch vụ đi kèmsản phẩm tiền gửi thiếu chất lượng đã dẫn tới các ngân hàng liên tục chạy đuanâng lãi suất huy động và tìm cách thu hút khách hàng mà không quan tâm đến khảnăng tài chính của khách hàng và tính hiệu quả của phương án, dự án vay vốn Hệquả của thực trạng này là tốc độ tăng trưởng tín dụng, lãi suất cho vay và huy độngcủa hệ thống ngân hàng luôn cao hơn mục tiêu đề ra của Ngân hàng Nhà nước

Trang 21

(NHNN) Trong một số thời kỳ, sự cạnh tranh thiếu lành mạnh giữa các ngân hàng

đã dẫn tới một số ngân hàng thực hiện các biện pháp lách luật thông qua nhiềuhình thức, vi phạm các quy định của cơ quan quản lý, ảnh hưởng nghiêm trọng đến

kỷ cương của thị trường tài chính ngân hàng cũng như hiệu quả điều hành chính sáchtiền tệ của NHNN Do lãi suất trong nền kinh tế Việt Nam có mức độ dao động caovà biến động liên tục trong khi các sản phẩm huy động vốn có khả năng hạn chế rủi

ro lãi suất cho người gửi tiền lại chưa phát triển nên đa phần nguồn vốn các NHTMhuy động được là vốn ngắn hạn Một nguyên nhân nữa khiến cho nguồn vốn huyđộng thông qua phát hành các công cụ nợ dài hạn bị hạn chế là trong giai đoạnnhững năm gần đây, lạm phát và lãi suất của Việt Nam thường tăng cao khiến chocác nhà đầu tư vào các công cụ nợ dài hạn gặp nhiều rủi ro về giá nên không mặn màvới công cụ đầu tư này Nguồn vốn huy động đa phần là ngắn hạn đã làm ảnhhưởng tới khả năng cung cấp các khoản tín dụng trung và dài hạn của các ngân hàngkhi thực hiện theo Thông tư số 15/2009/TT- NHNN quy định các NHTM chỉ được

sử dụng tối đa 30% nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn Nhiều NHTM gặp sựmất cân đối nghiêm trọng giữa huy động và sử dụng vốn, đã sử dụng tới 60- 70%,thậm chí còn cao hơn nữa, vốn huy động ngắn hạn để cho vay trung dài hạn Đâycũng là một lý do dẫn tới thực trạng mặt bằng lãi suất huy động của hệ thốngNHTM luôn có xu hướng tăng cao

Ngoài ra, nguồn vốn huy động thường không ổn định do các ngân hàng thay vìnâng cao chất lượng sản phẩm lại cạnh tranh dựa trên lãi suất, khiến cho cáckhoản tiền gửi thường nhanh chóng bị rút ra và đem gửi tại ngân hàng có mức lãisuất cao hơn Tốc độ tăng trưởng huy động vốn thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng(tới tháng 9/2012, tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động của nhómNHTMNN là 101,95% và của nhóm NHTMCP là 76,44%) đã khiến nhiều ngânhàng gặp khó khăn thanh khoản và buộc phải vay mượn trên thị trường liên ngânhàng hoặc vay từ NHNN thông qua hoạt động tái cấp vốn Thực tế cho thấy, khókhăn thanh khoản tại một số NHTMCP quy mô nhỏ có khoản tiền vay từ các

Ngày đăng: 02/02/2015, 10:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Tỷ lệ nợ nhóm 2 và nợ xấu trên tổng dư  nợ tính  giai đoạn 2009- 2011 - Quản lý nhà nước đối với hệ thống NHTM Việt nam hiện nay: nội dungnhững bất cập và kiến nghị.
Bảng 1. Tỷ lệ nợ nhóm 2 và nợ xấu trên tổng dư nợ tính giai đoạn 2009- 2011 (Trang 15)
Bảng 2. Tỷ lệ dự phòng/dư nợ và nợ xấu trên tổng dư  nợ tính  giai đoạn 2009- 2011 - Quản lý nhà nước đối với hệ thống NHTM Việt nam hiện nay: nội dungnhững bất cập và kiến nghị.
Bảng 2. Tỷ lệ dự phòng/dư nợ và nợ xấu trên tổng dư nợ tính giai đoạn 2009- 2011 (Trang 16)
Bảng 3. Mức sinh lời của một số NHTM giai đoạn 2009- 2011 - Quản lý nhà nước đối với hệ thống NHTM Việt nam hiện nay: nội dungnhững bất cập và kiến nghị.
Bảng 3. Mức sinh lời của một số NHTM giai đoạn 2009- 2011 (Trang 24)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w