THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÁC NHIỆM VỤ CÔNG TÁC, GIẢNG VIÊN, TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG
Trang 1Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG
Chuyên ngành: Quản lý Giáo dục
MÃ SỐ: 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Tiến sĩ TRẦN THỊ QUỐC MINH
Thành phố Hồ Chí Minh - 2008
Trang 2DANH MỤC KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CB-GV-NV : Cán bộ-giảng viên-nhân viên
LĐLĐ : Liên đoàn lao động
NCKH : Nghiên cứu khoa học
GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo
GVC : Giảng viên chính
GVCC : Giảng viên cao cấp
GVCH : Giảng viên cơ hữu
Trang 3MỞ ĐẦU NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA ĐỀ TÀI
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Thế giới ngày nay có những biến đổi nhanh chóng, với sự phát triển mạnh mẽ về khoa học, kỹ thuật và công nghệ, sự hình thành nền kinh tế tri thức, toàn cầu hóa trở thành một xu thế khách quan không thể cưỡng lại được Tình hình đó đòi hỏi con người phải thay đổi tư duy kịp thời, nhất là cách nhìn, tầm nhìn và yêu cầu rất cao về sự thích nghi Giáo dục cung cấp nguồn nhân lực cho sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, do đó cũng đòi hỏi phải được đổi mới kịp thời, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã chủ trương đẩy mạnh phát triển giáo dục và đề ra chiến lược phát triển giáo dục chung trên toàn thế giới Trong đó, đào tạo nâng cao chất lượng giáo viên là một trong những tư tưởng chủ yếu đã được UNESCO đúc kết và khuyến cáo
Ở nước ta hiện nay, nhìn chung chất lượng giáo dục - đào tạo vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại cần khắc phục Việc nâng cao chất lượng giáo dục không chỉ còn là mối quan tâm của riêng những người làm công tác giáo dục, mà là mối quan tâm của toàn xã hội Nhiều hội nghị, báo cáo và trên các phương tiện thông tin đại chúng đã đề cập đến vấn đề này Nhiều văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta đã vạch ra các chủ trương và giải pháp trong công tác quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục-đào tạo Trong đó, xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo được đặc biệt quan tâm Mục 1, điều
99, chương VII của Luật giáo dục, do Quốc hội thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005, đã qui định nội dung quản lý nhà nước về giáo dục “Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý nhà giáo và cán
bộ quản lý giáo dục” Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 28 tháng 12 năm 2001, nêu rõ bẩy giải pháp để phát triển giáo dục, trong đó nhấn mạnh phát triển đội ngũ nhà giáo là một trong các giải pháp trọng tâm Tháng 4/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định thành lập Cục Nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục thuộc Bộ giáo dục-đào tạo, càng thể hiện sự quan tâm của Nhà nước trong việc phát triển, quản lý đội ngũ nhà giáo và tầm quan trọng của công tác này ngày càng được đề cao
Trong bối cảnh hiện tại, nhu cầu học tập của người dân ngày càng cao, hệ thống giáo dục đại học ngày càng được mở rộng và phát triển đa dạng dưới nhiều hình thức Công tác xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên là một trong những nhiệm vụ cần được coi trọng, nhất là đối với các trường mới được thành lập và các trường ngoài công lập như ở nước ta có bề dày hoạt động chưa lâu
Trường ĐH Tôn Đức Thắng đã thành lập và đi vào hoạt động được 10 năm Nhà trường đang trong quá trình củng cố, phát triển và mở rộng qui mô, từng bước khẳng định vị trí, uy tín trong xã hội
Trang 4và trong hệ thống các trường đại học Việt Nam Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của trường hiện nay là xây dựng đội ngũ giảng viên cơ hữu Để thực hiện công tác này hàng năm nhà trường có kế hoạch tổ chức tuyển dụng giảng viên mới, các GV đa số đều trẻ cả về tuổi đời lẫn tuổi nghề Vấn đề đặt ra là làm thế nào để GV phát huy hết nội lực của mình, trở thành lực lượng nòng cốt trong các hoạt động của nhà trường, đáp ứng được yêu cầu đào tạo và nâng cao chất lượng đào tạo Đây là một trong những yêu cầu mà Ban giám hiệu đã đặt ra cho cán bộ quản lý các cấp và GV cơ hữu
Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Thực trạng quản lý các nhiệm vụ công tác của giảng viên ở Trường Đại học Tôn Đức Thắng” là yêu cầu cần thiết để góp phần nâng cao hiệu quả công tác
quản lý của nhà trường Qua đề tài này, chúng tôi mong muốn đề ra những giải pháp quản lý ngày càng hoàn thiện hơn, giúp cho giảng viên có đủ điều kiện phát huy khả năng của mình đáp ứng nhu cầu đào tạo và nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, khảo sát và phân tích thực trạng quản lý các nhiệm vụ công tác của giảng viên ở trường ĐH Tôn Đức Thắng; Từ đó, đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý giảng viên trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao ở nhà trường
3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
- Khách thể nghiên cứu:
Công tác quản lý giảng viên ở một trường đại học ngoài công lập
- Đối tượng nghiên cứu:
Thực trạng quản lý các nhiệm vụ công tác của giảng viên ở trường ĐH Tôn Đức Thắng, các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý giảng viên của nhà trường
4 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU:
Hiện nay, đội ngũ giảng viên của nhà truờng đã từng bước được xây dựng và phát triển cả về số lượng và chất lượng, góp phần thực hiện nhiệm vụ đào tạo của trường và đã đạt được một số kết quả nhất định Tuy nhiên, vẫn còn những tồn tại cần khắc phục, như: giảng viên chưa tích cực trong công tác nghiên cứu khoa học, chưa quan tâm đến các hoạt động chung trong nhà trường, giảng viên cơ hữu chưa thể hiện rõ vai trò là lực lượng nòng cốt trong các hoạt động của trường
Đánh giá đúng thực trạng và áp dụng được những biện pháp quản lý hợp lý sẽ giúp giảng viên phát huy hết nội lực của mình góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, đáp ứng yêu cầu đào tạo và phát triển của nhà trường
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác quản lý giảng viên
- Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ công tác của giảng viên cơ hữu
ở trường ĐH Tôn Đức Thắng Phân tích các nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên
Trang 5- Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý giảng viên để hoàn thành tốt nhiệm vụ
về tuyển dụng, xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên cơ hữu
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
7.1 Các quan điểm phương pháp luận:
- Quan điểm hệ thống – cấu trúc
- Quan điểm lịch sử trong nghiên cứu khoa học
- Quan điểm thực tiễn trong nghiên cứu khoa học
7.2 Phương pháp nghiên cứu:
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Thu thập tài liệu, tham khảo các công trình nghiên cứu có liên quan tới đề tài Phân tích, tổng hợp những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài nghiên cứu
7.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu:
- Xây dựng bảng câu hỏi điều tra trên cơ sở lý luận và mục đích nghiên cứu, nhằm khảo sát thực trạng đội ngũ giảng viên và sự tác động của quản lý đối với giảng viên trong việc thực hiện nhiệm
vụ
- Đối tượng điều tra: Chủ thể quản lý (ban giám hiệu, lãnh đạo các phòng chức năng, lãnh đạo khoa, chủ nhiệm ngành, bộ môn); Đối tượng quản lý (giảng viên cơ hữu của nhà trường)
7.2.3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm để đánh giá chất lượng:
- Dựa vào các báo cáo tổng kết hàng năm, các văn bản qui định của trường để tổng hợp tình hình phát triển đội ngũ GVCH, phân tích làm rõ về kết quả thực hiện nhiệm vụ của GV và các biện pháp quản lý GV đã được áp dụng trong trường
- Tổng kết về khối lượng giờ giảng dạy mà giảng viên cơ hữu đảm trách hàng năm
- Số đề tài nghiên cứu khoa học đã được giảng viên đăng ký và thực hiện, các hoạt động dịch, viết báo, hướng dẫn sinh viên nghiên cứu khoa học
- Các bản nhận xét về kết quả thực hiện công việc của giảng viên hàng năm của các khoa
7.2.4 Phương pháp thống kê:
Trang 6Dùng phương pháp thống kê để phân tích và xử lý kết quả các số liệu thu được nhằm định lượng
kết quả nghiên cứu
Trang 7NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHIỆM VỤ CÔNG TÁC
CỦA GIẢNG VIÊN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ:
Chỉ thị 40 CT/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã chỉ rõ: “Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng” [1, tr.1]
Nhận thức tầm quan trọng của vấn đề này nhiều tác giả đã nghiên cứu và công bố các đề tài hoặc bài báo trong các hội nghị, hội thảo Một số nghiên cứu có liên quan đã được thực hiện thời gian qua, như sau:
- Luận văn tốt nghiệp lớp Chính trị cao cấp, với tên đề tài “Hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý Đại học Kinh tế Quốc dân”, của tác giả Mai Văn Bưu, đề tài hoàn thành năm 2002 Nội dung tập trung làm rõ thực trạng về cơ cấu tổ chức quản lý của Trường ĐH Kinh tế Quốc dân, đề ra những quan điểm
và giải pháp hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý đến năm 2005 và 2010 của nhà trường, đáp ứng mục tiêu xây dựng trường trọng điểm quốc gia, đa ngành, đa lĩnh vực, hội nhập với khu vực và quốc tế
- Luận văn tốt nghiệp lớp Chính trị cao cấp, với tên đề tài “Qui hoạch đội ngũ cán bộ chuyên môn và cán bộ quản lý Trường Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn – Thực trạng và giải pháp”, của tác giả Phạm Xuân Hằng, đề tài hoàn thành năm 2003 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là khảo sát thực trạng đội ngũ cán bộ của nhà trường khi tách ra khỏi Trường ĐH Tổng hợp để thành lập Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội; Đề ra giải pháp ổn định đội ngũ và nâng cao chất lượng qui hoạch cán bộ của trường Nội dung nghiên cứu khẳng định khâu cán bộ và chất lượng cán bộ là nhân tố quan trọng tác động đến hiệu quả các hoạt động trong nhà trường Qui hoạch cán bộ (chuyên môn và quản lý) là nhiệm vụ then chốt trong chiến lược phát triển trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Thị Phương Trang, với tên đề tài: “Thực trạng và một số giải pháp về quản lý quá trình đào tạo tại Trường Đại học Mở bán công TPHCM”, được hoàn thành năm 2002 Đề tài nghiên cứu về quản lý quá trình đào tạo của Trường ĐH Mở bán công TPHCM, cụ
Trang 8dạy và học, quản lý nghiên cứu khoa học, quản lý công tác chính trị-sinh viên, quản lý các phương tiện
kỹ thuật và tài chính phục vụ công tác đào tạo Từ đó, đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện quá trình quản lý của nhà trường, như: Phương thức tuyển sinh; Đổi mới chương trình đào tạo và phương pháp giảng dạy nhằm phát huy năng lực thực hành, khả năng tư duy sáng tạo của sinh viên; tăng cường việc giáo dục chính trị và quản lý sinh viên, đưa việc dạy và học vào nề nếp; Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên gắn bó nghĩa vụ và quyền lợi lâu dài với nhà trường; Tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, trước mắt tập trung phục vụ cho mục tiêu công tác đào tạo
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy, với tên đề tài “Một số giải pháp xây dựng
và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên Trường Đại học bán công Tôn Đức Thắng”, đề tài hoàn thành năm 2003 Nội dung chủ yếu trình bày một số vấn đề chung về giáo dục-đào tạo, hệ thống giáo dục quốc dân; Vai trò của đội ngũ giảng viên và việc xây dựng đội ngũ GV; Phân tích, đánh giá về Trường ĐH bán công Tôn Đức Thắng, thực trạng đội ngũ giảng viên của trường sau 5 năm hoạt động (1997-2002); Đề xuất một số giải pháp xây dựng đội ngũ và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên (gồm cả 3 đối tượng GV cơ hữu, bán cơ hữu và thỉnh giảng)
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Hoàng Mạnh Khương, với tên đề tài “Một số biện pháp của Hiệu trưởng Trường cao đẳng sư phạm TPHCM quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên và sinh viên từ 1995 đến 2000”, hoàn thành năm 2002 Đề tài đã xác định mục tiêu và các yêu cầu đối với công tác NCKH từ đó phân tích thực trạng quản lý hoạt động này của Hiệu trưởng trường cao đẳng sư phạm TPHCM, và đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động NCKH của GV và sinh viên để nâng cao hiệu quả hoạt động NCKH
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Bạt Sơn, với tên đề tài “Thực trạng và giải pháp quản lý đội ngũ giảng viên ở Trường cao đẳng sư phạm Phú Yên”, đề tài hoàn thành năm 2006 Trên cơ sở nhiệm
vụ chính trị của nhà trường tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý giảng viên của trường cao đẳng sư phạm Phú Yên, từ đó đề xuất các giải pháp trong công tác quản lý đội ngũ GV của trường, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay
- Hội thảo về “Công tác quản lý giáo viên”, do Ban liên lạc các trường đại học Việt Nam tổ chức tại Trường ĐH Cần Thơ tháng 01/2002 Đã có 22 bài tham luận xoay quanh vấn đề phát huy hiệu quả làm việc của đội ngũ cán bộ giảng dạy, nhằm đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước trong thời đại toàn cầu hóa Chuyển đào tạo theo phương châm lấy sinh viên làm trung tâm, phát triển các chương trình đào tạo tiên tiến, cải tiến phương pháp giảng dạy và từ đó thúc đẩy sinh viên cải tiến phương pháp học tập, nâng cao hiệu quả quản lý trường
và không ngừng tăng cường cơ sở vật chất phục vụ đào tạo của trường
- Hội thảo quốc gia “Đánh giá hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học của giảng viên”, do Trung tâm đảm bảo chất lượng đào tạo và nghiên cứu phát triển giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội tổ
Trang 9chức tại Ninh Thuận vào tháng 6/2007 Gồm có 18 bài báo cáo bàn về các phương thức đánh giá hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học của GV ở nước ta hiện nay, cũng như tìm hiểu kinh nghiệm đánh giá GV ở một số nước phát triển
Ngoài ra, còn nhiều tác giả, nhiều công trình nghiên cứu được công bố trên các tập san chuyên ngành như: Tạp chí Giáo dục, Giáo dục và thời đại Những công trình này thực sự nghiên cứu những mảng đề tài hết sức thiết thực trong công tác giáo dục - đào tạo bậc cao đẳng và đại học Tuy nhiên, chưa có các nghiên cứu đi sâu vào công tác quản lý đối với việc thực hiện các nhiệm vụ công tác của giảng viên ở một trường đại học cụ thể
Ở Trường Đại học Tôn Đức Thắng, vấn đề quản lý giảng viên cơ hữu đặc biệt là giảng viên trẻ
để giảng viên phát huy hết sức mạnh của mình, gắn bó với các hoạt động trong nhà trường là yêu cầu cần thiết Do đó, đối tượng này cần được nghiên cứu khách quan từ thực trạng quản lý công tác của giảng viên nhà trường hiện nay, để từng bước củng cố, đào tạo bồi dưỡng lực lượng này trở thành lực lượng chủ yếu quyết định sự phát triển của trường trong thời gian tới
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ QUẢN LÝ, QUẢN LÝ GIÁO DỤC, QUẢN LÝ NHÀ TRƯỜNG: 1.2.1 Khái niệm về quản lý:
Quản lý là một khái niệm chung, tổng quát, có thể định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau tùy theo từng lĩnh vực, từng ngành, có thể chia ra các loại quá trình quản lý như: quản lý xã hội, quản lý giáo dục, quản lý kinh tế
Quản lý là một thuộc tính gắn liền với xã hội loài người trong mọi giai đoạn phát triển của nó Ngay từ buổi sơ khai của xã hội loài người, để đương đầu với sức mạnh to lớn của tự nhiên, để duy trì
sự tồn tại của mình, con người phải lao động chung, kết hợp lại thành tập thể Điều đó đòi hỏi phải có
sự tổ chức, phải có sự phân công và hợp tác trong lao động tức là phải có quản lý Như vậy, quản lý ra
đời cùng với sự xuất hiện của hợp tác và phân công lao động
Các Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất… Một người chơi vĩ cầm thì tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [22, tr.1]
Từ xưa tới nay có rất nhiều cách hiểu về quản lý Thuật ngữ quản lý được nhiều nhà nghiên cứu
đề cập tới Sau đây là một số định nghĩa:
- Theo F.Taylor: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [16, tr.21]
- Theo Henry Fayol: “Quản lý nghĩa là dự kiến, tổ chức, lãnh đạo, phối hợp và kiểm tra” [16, tr.22]
Trang 10- Theo Harold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu; nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực
cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [22, tr.2]
- Từ điển tiếng Việt do Trung tâm từ điển ngôn ngữ Hà Nội xuất bản 1992, quản lý có nghĩa là: Trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định; Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định [22, tr.2]
- Tác giả Nguyễn Bá Sơn định nghĩa: “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động” [16, tr.8]
- Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong
và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất [16, tr.8]
Các khái niệm trên đây thuộc lĩnh vực quản lý xã hội, tuy có khác nhau, song chúng có các yếu
tố cơ bản chung của hoạt động quản lý là:
- Hoạt động quản lý là những tác động hướng tới mục tiêu
- Hoạt động quản lý được thực hiện bởi con người, tác động phối hợp các cá nhân nhằm đạt mục tiêu của tổ chức
- Hoạt động quản lý được thực hiện bên trong một tổ chức nhất định
Nói một cách khái quát: Quản lý là hoạt động, là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ
thể quản lý đến đối tượng quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức
Trên nền tảng khoa học quản lý, xuất hiện nhiều loại hình quản lý chuyên ngành, một trong
những loại đó là Quản lý giáo dục
1.2.2 Khái niệm về quản lý giáo dục, quản lý nhà trường:
Cũng giống như các khái niệm về quản lý xã hội nói chung, khái niệm về quản lý giáo dục cũng
có nhiều quan điểm khác nhau tùy thuộc cấp độ quản lý và vị trí của chủ thể quản lý
- Theo nghĩa tổng quát, Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội
- Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý giáo dục và quản lý hệ thống giáo dục là những khái niệm thống nhất Nếu hệ thống giáo dục bao gồm toàn ngành giáo dục cả nước thì ta có quản lý ngành giáo dục với toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân, nếu hệ thống giáo dục bao gồm các tổ chức giáo dục ở một địa bàn lãnh thổ thì ta sẽ có quản lý giáo dục cấp tỉnh, cấp huyện, trường là tổ chức giáo dục cơ sở…” Ông đã đưa ra định nghĩa quản lý giáo dục như sau: “Quản lý giáo dục nói
Trang 11chung và quản lý trường học nói riêng là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu, tiến lên trạng thái mới về vật chất” [37, tr.23]
- Giáo sư Phạm Minh Hạc đã đưa ra một nội dung khái quát nhưng vẫn cụ thể, hợp lý về quản lý giáo dục: “Quản lý giáo dục cũng còn được hiểu là quản lý trường học, quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [37, tr.23]
Ngày nay, với quan điểm học thường xuyên, học suốt đời, công tác giáo dục không chỉ giới hạn
ở thế hệ trẻ mà cho mọi người, nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân nhằm thực hiện mục tiêu: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
Quản lý giáo dục được diễn ra trong phạm vi toàn quốc, trên địa bàn lãnh thổ (tỉnh, huyện) và quản lý đơn vị cơ sở giáo dục (quản lý nhà trường) Quản lý giáo dục có nhiều cấp độ, dù ở cấp độ nào
quản lý giáo dục đều gồm 4 yếu tố cơ bản, đó là: chủ thể quản lý, đối tượng bị quản lý, khách thể quản
lý và mục tiêu quản lý Các yếu tố này có mối quan hệ tương tác gắn bó với nhau
Tóm lại: Quản lý giáo dục có thể hiểu là một chuỗi tác động mang tính tổ chức – sư phạm của
chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp, tham gia vào hoạt động của nhà trường nhằm làm cho qui trình vận hành tới việc hoàn thành những mục tiêu dự kiến
Quản lý nhà trường là một bộ phận trong hệ thống quản lý giáo dục Trường học là tổ chức
giáo dục cơ sở mang tính nhà nước – xã hội, trực tiếp làm công tác đào tạo thực hiện việc giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, trực tiếp tham gia vào quá trình thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Trường học vừa là khách thể cơ bản của các cấp quản lý giáo dục, vừa là một hệ thống độc lập tự quản của xã hội Do đó, quản lý trường học nhất thiết phải vừa có tính chất nhà nước vừa có tính chất xã hội
Quản lý trường học là một dạng quản lý có tính chất đặc thù, làm cho nó phân biệt với mọi loại quản lý xã hội khác, được qui định trước hết là bản chất lao động sư phạm của giáo viên, bản chất quá trình dạy học – giáo dục, trong đó học sinh vừa bị quản lý lại vừa tự giác hoạt động học tập của bản thân
Trang 12Quản lý nhà trường là sự quản lý của Hiệu trưởng trường đó đối với toàn bộ những con người, những hoạt động, những tổ chức và những phương tiện vật chất, kỹ thuật, tài chính của trường để đạt cho được mục tiêu của sự giáo dục-đào tạo học sinh loại trường đó
1.2.3 Các chức năng của Quản lý Giáo dục:
Chức năng quản lý là một loại hoạt động quản lý đặc biệt, thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào đối tượng quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định Thực chất, chức năng quản lý là hình thức tồn tại của các tác động quản lý
Sự xuất hiện của các chức năng quản lý là khách quan, phản ánh logic bên trong của quá trình quản lý, là sản phẩm của quá trình phân công và hợp tác lao động của đối tượng quản lý và sự phân công của lao động quản lý theo hướng chuyên môn hóa
Các nhà nghiên cứu có quan niệm khác nhau về phân loại chức năng quản lý, tuy nhiên đều đề
cập đến 4 chức năng chủ yếu là: Kế hoạch hóa – Tổ chức – Điều khiển – Kiểm tra
1.2.3.1 Kế hoạch hóa: Lập kế hoạch là ra quyết định, xác định và hình thành mục tiêu đối với tổ
chức; xác định và bảo đảm chắc chắn về các nguồn lực, lựa chọn phương pháp, biện pháp tối ưu để đạt mục tiêu
1.2.3.2 Tổ chức: Thực hiện chức năng này, người quản lý phải hình thành bộ máy, cơ cấu các
bộ phận Tùy theo tính chất công việc có thể phân công phân nhiệm cho các cá nhân, qui định chức năng, nhiệm vụ từng bộ phận, mối quan hệ giữa chúng Nhà quản lý điều phối các nguồn lực để đảm bảo thực hiện tốt kế hoạch đã đề ra Năng lực của chủ thể quản lý có ý nghĩa quyết định đối với việc chuyển hóa kế hoạch thành hiện thực
1.2.3.3 Điều khiển (Chỉ đạo): Là nhiệm vụ tiếp theo của người quản lý, là khâu quan trọng tạo
nên thành công của kế hoạch dự kiến, đòi hỏi người quản lý phải vận dụng khéo léo các phương pháp
và nghệ thuật quản lý Do đặc trưng của quản lý giáo dục thực chất là quản lý con người Yếu tố con người là động cơ thúc đẩy sự lãnh đạo và sự giao tiếp, là các thành tố làm nên sự thành công của công tác chỉ đạo
1.2.3.4 Kiểm tra: Nhằm xem xét đánh giá thực trạng, phát hiện những sai lệch và điều chỉnh
đưa tổ chức đạt tới mục tiêu đề ra Nhờ kiểm tra chủ thể quản lý tự đánh giá được các quyết định quản
lý của mình và thúc đẩy những người dưới quyền làm việc nghiêm túc để đạt được mục tiêu
Tất cả các chức năng trên đều cần đến yếu tố thông tin Thông tin có mặt trong suốt quá trình
quản lý, nó giữ vai trò cơ bản, là điều kiện, phương tiện không thể thiếu được cho mọi hoạt động quản
lý Thông tin đầy đủ, kịp thời, cập nhật, chính xác là một căn cứ để hoạch định kế hoạch; thông tin cũng là cơ sở cho các bộ phận trong cơ cấu tổ chức, là chất liệu tạo quan hệ giữa các bộ phận trong tổ chức; thông tin chuyển tải mệnh lệnh chỉ đạo (thông tin xuôi) và phản hồi (thông tin ngược) diễn tiến
Trang 13hoạt động của tổ chức; và thông tin từ kết quả hoạt động của tổ chức giúp cho người quản lý xem xét mức độ đạt mục tiêu của toàn hệ thống
Các chức năng nêu trên tạo thành chu trình quản lý, tác giả Trần Kiểm đã mô tả qua sơ đồ 1.1
Sơ đồ 1.1: Chu trình quản lý
Chức năng kế
hoạch hóa
Chức năng tổ chức
Chức năng điều khiển
Thông tin phục vụ quản lý
Chức năng kiểm tra
1.3 NHIỆM VỤ CÔNG TÁC CỦA GIẢNG VIÊN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC:
1.3.1 Khái niệm về Nhiệm vụ công tác của giảng viên:
Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, Công tác là công việc của nhà nước hoặc của đoàn thể Có thể hiểu Công tác của giảng viên là công việc người giảng viên phải thực hiện hay chức trách nhiệm vụ của giảng viên được qui định bởi Chủ thể quản lý
Luật giáo dục 2005, điều 72 qui định nhiệm vụ của nhà giáo như sau:
1 Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý giáo dục, thực hiện đầy đủ và có chất lượng chương trình giáo dục;
2 Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các qui định của pháp luật và điều lệ nhà trường;
3 Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách của người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người học;
4 Không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy, nêu gương tốt cho người học;
5 Các nhiệm vụ khác theo qui định của pháp luật
Điều lệ trường đại học ban hành theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ tháng 7/2003,
tại điều 46 đ qui định nhiệm vụ công tác của giảng viên:
- Hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học được qui định theo giờ chuẩn do Bộ giáo dục và đào tạo ban hành đối với các chức danh và ngạch tương ứng;
- Giảng dạy theo nội dung, chương trình đã được Bộ giáo dục và đào tạo, trường đại học qui định Viết giáo trình, bài giảng, tài liệu phục vụ giảng dạy - học tập theo sự phân công của các cấp quản lý;
- Không ngừng tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, cải tiến phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng đào tạo;
Trang 14- Tham gia và chủ trì các đề tài nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, và các hoạt động khoa học và công nghệ khác;
- Chịu sự giám sát của các cấp quản lý về chất lượng, nội dung, phương pháp đào tạo và nghiên cứu khoa học;
- Hướng dẫn, giúp đỡ người học trong học tập, nghiên cứu khoa học, rèn luyện tư tưởng, đạo đức, tác phong, lối sống
Bộ giáo dục và đào tạo đã nêu những nhiệm vụ đối với giảng viên trực tiếp giảng dạy, làm
việc toàn thời gian trong các cơ sở giáo dục đại học (công văn số 113457/BGD-ĐT-NG ngày 25/10/2007):
Ngoài những nhiệm vụ chung của nhà giáo theo qui định của Luật giáo dục, giảng viên ở cơ sở giáo dục đại học có nhiệm vụ:
1 Giảng dạy và giáo dục đại học
2 Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ
3 Tham gia công tác quản lý đào tạo, quản lý khoa học và công nghệ tại cơ sở giáo dục đại học
4 Thường xuyên học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ mọi mặt theo tiêu chuẩn nghiệp vụ của giảng viên
5 Tham gia các hoạt động xã hội theo trách nhiệm, nghĩa vụ công dân
Như vậy, có thể khái quát nhiệm vụ công tác của giảng viên ở 3 công tác chính sau đây:
1 Công tác giảng dạy,
2 Công tác nghiên cứu khoa học, bồi dưỡng và nâng cao trình độ,
3 Các công tác dịch vụ xã hội khác
Tùy chuyên môn, điều kiện, hoàn cảnh trong những thời điểm khác nhau và đặc thù của mỗi trường mà đặt trọng tâm từng nhiệm vụ công tác
Trường đại học Tôn Đức Thắng là một đơn vị sự nghiệp trực thuộc cơ quan chủ quản theo
quyết định của Thủ tướng chính phủ, đồng thời là một đơn vị cơ sở chịu sự quản lý nhà nước về giáo dục của Bộ GD&ĐT Giảng viên của nhà trường bao gồm: 3 nhóm GV cơ hữu, GV bán cơ hữu và GV thỉnh giảng Nhà trường đã qui định nhiệm vụ công tác cho nhóm GV cơ hữu làm việc toàn thời gian tại trường (qui định 551/TĐT-QĐ, ngày 25/7/2007):
1 Giảng dạy;
2 Nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa học kỹ thuật; Viết giáo trình; Học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, chính trị Giảng viên cơ hữu chưa có văn bằng sau đại học, sau 4 năm công tác tại trường phải có bằng thạc sĩ;
3 Hoạt động đoàn thể, công tác xã hội và các hoạt động khác do trường, khoa tổ chức
Và định mức khối lượng công việc hàng năm cho các hoạt động như sau:
Trang 15- 50% thời gian dành cho hoạt động giảng dạy, tương đương 230-270 tiết dạy/năm học tùy thuộc vào chức danh và học vị mỗi GV
- 30% thời gian cho hoạt động nghiên cứu khoa học, tương đương 140-160 tiết dạy/năm học
- 20% thời gian cho các hoạt động khác, tương đương 90-110 tiết dạy/năm học
1.3.2 Các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến công tác của giảng viên:
Sự biến đổi mạnh mẽ của nền kinh tế-xã hội có ảnh hưởng đến nền giáo dục nói chung và tác
động mạnh đến vai trò, trách nhiệm công tác của nhà giáo nói riêng Giảng viên trong nền giáo dục hiện đại phải đáp ứng với bối cảnh của thời đại, đáp ứng những kỳ vọng của xã hội đối với nền giáo dục đại học Đó là thách thức lớn đối với nền giáo dục và từng giảng viên
+ Thời đại ngày nay, với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin
và truyền thông, lượng thông tin ngày càng tăng mạnh, nhu cầu thông tin của mỗi người, mỗi tổ chức cũng gia tăng, tốc độ truyền tin tăng lên Việc này đã dẫn đến những thay đổi của nền giáo dục đại học: 1) Chuyển từ lấy việc dạy làm trọng tâm sang lấy việc học làm trọng tâm 2) Chuyển từ việc chú trọng dạy kiến thức-kỹ năng sang chú trọng dạy năng lực 3) Chuyển từ việc đào tạo tập trung sang đào tạo không tập trung và 4) Chuyển từ quản lý tập trung sang quản lý tự chủ
Những yêu cầu này đòi hỏi giảng viên phải không ngừng bồi dưỡng, học tập nâng cao nhận thức, trình độ chuyên môn và nghiệp vụ, phương pháp giảng dạy, nghiên cứu khoa học và năng lực giảng dạy
+ Sự bùng nổ dân số cùng với bối cảnh nền kinh tế tăng trưởng mạnh, những biến đổi xã hội làm cho mức sống người dân được nâng cao, nhu cầu học tập ngày càng gia tăng Giảng viên phải dạy
các lớp đông hơn, cường độ công việc tăng và trách nhiệm quản lý nặng nề hơn Do đó, có nhiều giảng viên sẽ chỉ dạy mà không còn thời gian và sức lực để nâng cao và cập nhật trình độ chuyên môn hay tham gia nghiên cứu khoa học
+ Các thành tựu đổi mới về kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hóa giáo dục dẫn đến đến qui mô
giáo dục đại học tăng, số cơ sở giáo dục đại học cũng tăng lên nhanh chóng, chỉ tính trong 4 năm
(2001-2005)số sinh viên đại học, cao đẳng đã tăng gần gấp đôi:
Năm 2001 2005 Tỷ lệ
Số sinh viên đại học và cao đẳng
974.119 1.393.669 43%
Số cơ sở giáo dục đại học và cao đẳng 223 311 Tăng 88 trường
(Nguồn: Tài liệu Hội nghị Hiệu trưởng các trường đại học, cao đẳng tháng 5/2006)
Trang 16Do sự gia tăng của qui mô giáo dục đại học dẫn đến phải tăng trưởng đội ngũ giảng viên Nguồn cung cấp chính đội ngũ này là những người mới tốt nghiệp các học vị cao, nhưng ở nhiều lĩnh vực có sự cạnh tranh gay gắt để thu hút những người giỏi này vào các thành phần kinh tế khác nhau
+ Chính sách và chế độ đãi ngộ, cơ chế quản lý, điều kiện làm việc cũng là một trong các yếu tố
có ảnh hưởng đến việc thu hút những người giỏi làm giảng viên và tạo sự yên tâm công tác của GV trong trường ĐH
Những biến đổi của nền kinh tế-xã hội vừa là động lực thúc đẩy giảng viên trong công tác, mặt khác nó tạo ra những bất cập của công tác giảng viên Chính vì vậy, nghiên cứu và tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến công tác của giảng viên để đề ra giải pháp quản lý phù hợp nhằm tạo điều kiện phát huy tiềm năng của mỗi giảng viên, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và hiệu suất đào tạo của nhà trường
1.3.3 Đặc điểm hoạt động của Trường Đại học và hoạt động của Giảng viên đại học:
Trường đại học (theo Luật giáo dục) là một cơ sở giáo dục có quyền tự chủ, tự chịu trách
nhiệm theo qui định của pháp luật và theo điều lệ nhà trường, về các hoạt động như: xây dựng chương
trình đào tạo, quản lý, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ cán bộ, giáo viên, tổ chức hoạt động giáo dục-đào
tạo, quan hệ với các tổ chức khác về các hoạt động trong khuôn khổ tuân thủ pháp luật Chất lượng và
hiệu quả đào tạo là một trong những thước đo quan trọng xác định vị trí và sự đóng góp của một
trường đại học, và đội ngũ giảng viên là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định đến
chất lượng đào tạo Chính vì vậy công tác quản lý đội ngũ giảng viên giữ vai trò quan trọng trong hoạt động của nhà trường
- Trường đại học không chỉ là cơ sở giáo dục, đào tạo đơn thuần, mà còn là một cơ sở nghiên
cứu khoa học; ứng dụng, phát triển và chuyển giao công nghệ; tham gia giải quyết những vấn đề kinh
tế-xã hội của địa phương và đất nước Một trường đại học có những đơn vị, cá nhân nghiên cứu khoa học mạnh và có nhiều đóng góp trong phát triển khoa học, công nghệ sẽ góp phần tích cực vào chất lượng, hiệu quả đào tạo và xác lập uy tín của mình trong đời sống kinh tế-xã hội của đất nước, địa phương Hoạt động nghiên cứu khoa học của một trường đại học cũng chính là hoạt động của từng giảng viên trong nhà trường, giảng viên đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của nhà trường
- Trường đại học có vị trí quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân Nó đảm trách nhiệm vụ đào tạo ở bậc cao nhất trong hệ thống giáo dục - đào tạo, đào tạo đại học và sau đại học Ở đây là nơi đào tạo chủ lực nguồn nhân lực với trình độ cao và nhân tài cho nền kinh tế quốc dân và cho xã hội Trong hệ thống giáo dục - đào tạo mỗi một trường đại học là một đơn vị cơ sở Đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu ở các trường đại học có vai trò hết sức quan trọng
Giảng viên trong trường đại học, ngoài các nhiệm vụ chung của một công chức, như: chấp
hành các chủ trương, chính sách, nghị quyết của Đảng và Chính phủ, hiểu và vận dụng chúng vào hoạt
Trang 17động chuyên môn của mình, còn có nhiệm vụ thường xuyên, cơ bản là giảng dạy và nghiên cứu khoa học Các hoạt động này có những đặc điểm riêng, khác với các hoạt động bình thường của các công chức chuyên môn khác Các đặc điểm đó là:
+ Hoạt động của giảng viên vừa được kiểm soát theo kiểu hành chính, nhưng vừa không thể
kiểm soát theo kiểu quản lý hành chính được Ví dụ: phân công giảng dạy, hướng dẫn luận văn, thực
địa, thực tập… theo thời khóa biểu, có ngày, giờ, số lượng có thể kiểm soát được; Nhưng việc soạn bài, chuẩn bị bài giảng… thì khó có thể kiểm soát được
+ Đó là những hoạt động khó đánh giá chính xác theo định lượng Hiệu quả của các công tác
này được đánh giá qua chất lượng giảng dạy và nghiên cứu khoa học của giảng viên
+ Các hoạt động này chịu nhiều nhân tố tác động, trong đó các năng lực nội sinh và yếu tố tích
cực, tự giác, chủ động tự bồi dưỡng đóng vai trò quan trọng Các yếu tố này cần có môi trường thuận
lợi mới xuất hiện và duy trì Môi trường đó được tạo nên bởi sự phối hợp chặt chẽ các công cụ cả về hành chính, kinh tế lẫn tinh thần, trong đó việc kích thích vào uy tín, danh dự không kém phần quan trọng
- Giảng viên là những lao động tri thức, họ làm chủ “phương tiện sản xuất” của mình, đó là tri
thức Họ rất cơ động, họ có thể ra đi tùy ý Động cơ thúc đẩy đối với lao động tri thức, không phải chỉ
là động cơ về kinh tế, bởi sự tác động của nền kinh tế thị trường, mà họ còn phải được thỏa mãn đối với công việc Do đó, tùy từng đối tượng cần phải được quản lý theo các cách khác nhau, và cùng một đối tượng lại phải được quản lý khác nhau tại những thời điểm khác nhau
Chẳng hạn như, do sự phát triển và mở rộng qui mô đào tạo, các trường đại học đặc biệt là các trường ngoài công lập cần tuyển thêm nhiều giảng viên, nguồn cung cấp chính là những người mới tốt nghiệp, phần lớn họ còn trẻ tuổi, do đó quản lý về bồi dưỡng, đào tạo nghiệp vụ sư phạm cần được chú trọng hơn
Do những đặc điểm hoạt động của giảng viên đại học đòi hỏi công tác quản lý phải mang những
sắc thái riêng, có sự phối hợp giữa các mặt hành chính – kinh tế – tinh thần Trong đó, công tác quản lý
cần quan tâm chủ yếu đến chất lượng, hiệu quả của công việc trên cơ sở tạo môi trường hoạt động thuận lợi hơn là quản lý cứng nhắc về mặt hành chính
1.4 CÔNG TÁC QUẢN LÝ GIẢNG VIÊN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC:
1.4.1 Mục tiêu của công tác quản lý giảng viên:
Công tác quản lý giảng viên trong giới hạn đề tài này thực chất là quản lý về mặt thực hiện các nhiệm vụ của GV trong nhà trường, nhằm bảo đảm giảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; có năng lực chuyên môn vững vàng, tinh thần trách nhiệm cao; có phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp tốt Đây chính là nhân tố quyết định chất lượng đào tạo của nhà trường
Trang 18Giảng viên là nguồn nhân lực quan trọng tham gia vào quá trình hoạt động của nhà trường Trong xu hướng hiện nay, quản lý nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực được coi như một trong những điểm mấu chốt của cải cách quản lý Quản lý nguồn nhân lực để sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực và nâng cao hiệu quả của tổ chức; để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân viên, tạo điều kiện cho nhân viên phát huy tối đa các năng lực cá nhân, được kích thích, động viên nhiều nhất tại nơi làm việc và trung thành tận tậm với tổ chức Đó cũng chính là mục tiêu chủ yếu của hoạt động quản lý giảng viên trong nhà trường
1.4.2 Nội dung công tác quản lý giảng viên:
Như chúng ta đã biết, công tác của giảng viên ở trường đại học gồm 3 nhiệm vụ chủ yếu: giảng dạy; nghiên cứu khoa học, bồi dưỡng nâng cao trình độ và các công tác dịch vụ khác Quản lý nhiệm
vụ của giảng viên, nghĩa là thông qua các chức năng của quản lý mà tác động vào các hoạt động của giảng viên để giảng viên thực hiện khối lượng công tác một cách có hiệu quả Chúng ta có thể đưa ra một qui trình quản lý chung nhất trong công tác quản lý giảng viên gồm những bước cơ bản sau:
a Lập kế hoạch là khâu đầu tiên của qui trình quản lý Trên cơ sở mục tiêu, các phương tiện
hiện có, tình hình thực tế của đơn vị, Lãnh đạo đề ra kế hoạch cụ thể cho nhà trường, trong đó có kế hoạch quản lý giảng viên, với những qui định cụ thể về chế độ làm việc, nhiệm vụ giảng viên phải làm
để mỗi giảng viên thấy rõ trách nhiệm của mình, có kế hoạch cá nhân, tự giác thực hiện và làm cơ sở cho việc điều hành quản lý của trường
b Tổ chức và chỉ đạo thực hiện kế hoạch là bước tiếp theo sau khi lập kế hoạch, nhằm chuyển
hóa những ý tưởng được đưa ra trong kế hoạch thành hiện thực Đây là hoạt động quan trọng nhất quyết định hiệu quả công tác quản lý, thể hiện năng lực và nghệ thuật của nhà quản lý
c Kiểm tra là khâu cơ bản và quan trọng của qui trình quản lý, thông qua kiểm tra nhà quản lý
đánh giá kết quả hoạt động, điều chỉnh hoạt động sao cho đúng hướng Người quản lý phải đưa ra những quyết định đúng đắn và kịp thời, những phương pháp quản lý thích hợp để điều chỉnh kế hoạch
và có biện pháp tổ chức thực hiện tốt các nhiệm vụ kế tiếp
Trong một chu trình quản lý các bước trên được thực hiện liên tiếp, phối hợp bổ sung cho nhau thành một chu trình khép kín
Để thực hiện các chức năng quản lý, chủ thể quản lý có vị trí, vai trò quan trọng khác nhau tùy
thuộc vào từng cấp bậc quản lý Có thể chia làm 3 nhóm vai trò sau:
- Vai trò quan hệ với con người: vai trò người lãnh đạo, phối hợp kiểm tra công việc của nhân
viên dưới quyền
Trang 19- Các vai trò thông tin: Thu thập và tiếp nhận thông tin liên quan đến tổ chức; Thay mặt tổ chức
cung cấp thông tin cho các bộ phận trong cùng đơn vị, hay cơ quan bên ngoài Mục tiêu của sự thay mặt này là để giải thích, bảo vệ hay tranh thủ thêm sự ủng hộ cho tổ chức
- Các vai trò quyết định, như: tìm cách cải tiến hoạt động của tổ chức, giải quyết những xáo trộn;
Điều hành các hoạt động trong tổ chức;
Trong công tác quản lý giảng viên, đối tượng quản lý là những nhà giáo, ngoài những nhiệm
vụ chung của một công chức, lao động của họ đòi hỏi sự nỗ lực cao về tinh thần, trí tuệ và nhân cách
Do tính đặc thù của lao động trí óc sáng tạo theo thiên hướng cá nhân, họ cần được tôn trọng nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo của họ trong công việc chung Hoạt động của GV đóng vai trò quan trọng vào kết quả hoạt động của nhà trường Do đó, nhà quản lý cần chọn lựa phương pháp phù hợp, đồng thời cần tranh thủ ý kiến đóng góp xây dựng của giảng viên cho công tác quản lý
Chủ thể và đối tượng quản lý tác động qua lại sẽ làm thay đổi một số tình huống trong quản lý, nhà quản lý sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực có tác dụng đến sự phát triển của đơn vị
1.4.3 Phương pháp quản lý giảng viên:
Phương pháp quản lý là tổng thể những cách thức tác động tới người lao động nhằm động viên
họ hoàn thành tốt công việc Trong hoạt động quản lý, phương pháp là công cụ quan trọng để người quản lý bảo đảm thực hiện mục tiêu có hiệu quả Một số nhóm phương pháp thường được áp dụng: phương pháp hành chính-luật pháp, phương pháp giáo dục-tâm lý, phương pháp kích thích [17, tr.163-168]
a Phương pháp hành chính-luật pháp là tổng thể các tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của chủ
thể quản lý đến đối tượng quản lý dựa trên cơ sở quan hệ tổ chức và quyền lực nhà nước Đặc trưng cơ bản của phương pháp này là sự ra lệnh của cấp trên, cấp dưới buộc phải chấp hành Các hình thức thực hiện như: luật, điều lệ, qui chế, quyết định, các văn bản hành chính…
b Phương pháp giáo dục-tâm lý là tổng thể những tác động lên trí tuệ, tình cảm, ý thức và nhân
cách của con người Đặc trưng của phương pháp này là tính thuyết phục, làm cho con người hiểu rõ đúng-sai, tốt-xấu… từ đó nâng cao tính tự giác làm việc và sự gắn bó với tổ chức Phương pháp giáo dục-tâm lý được sử dụng nhiều trong quản lý giáo dục
c Phương pháp kích thích là tổng thể những tác động đến con người thông qua lợi ích vật chất
(tiền lương, thưởng, điều kiện làm việc…), lợi ích tinh thần (phong danh hiệu thi đua, kết nạp Đảng, tạo điều kiện đi học sau đại học…) nhằm phát huy ở họ tiềm năng, trí tuệ, tình cảm, ý chí, trách nhiệm
và quyết tâm hành động vì lợi ích chung của tổ chức Để thực hiện phương pháp này, đòi hỏi phải xây dựng các định mức lao động hợp lý, có cách đánh giá đúng đắn, khen thưởng đúng mức, kịp thời
Trang 20Các phương pháp trên đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng Do đó, nhà quản lý phải tùy thuộc vào từng điều kiện, hoàn cảnh, từng công việc, con người cụ thể mà lựa chọn hoặc kết hợp các phương pháp một cách phù hợp
1.4.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý giảng viên:
a Các yếu tố chủ quan:
Trình độ, năng lực, phẩm chất của cán bộ quản lý:
Cán bộ quản lý là đội ngũ cán bộ nòng cốt, giữ vai trò chủ chốt, là xương sống của nguồn nhân lực, có ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều vấn đề kỹ thuật và chiến lược phát triển Hiệu quả quản lý giảng viên, trước tiên phụ thuộc vào nhận thức, trình độ tổ chức và năng lực hoạt động thực tiễn của cán bộ quản lý ở các cấp Vì nhà quản lý đưa ra được biện pháp thích hợp có thể tác động mạnh vào ý thức giảng viên, giúp họ theo đúng quĩ đạo của sự phát triển
Cán bộ quản lý cần có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác quản lý giảng viên,
có một tầm nhìn chiến lược và đề ra những biện pháp cụ thể, kịp thời trong quản lý Người quản lý phải là người có trình độ tổ chức và có năng lực triển khai các quyết định, chỉ thị của cấp trên vào hoàn cảnh cụ thể của đơn vị Năng lực của người quản lý còn bao hàm cả việc nắm vững tri thức về khoa học quản lý và biết vận dụng một cách sáng tạo, linh hoạt các kiến thức đó vào từng hoàn cảnh cụ thể, từng đối tượng cụ thể Nói cách khác, CBQL phải vừa có năng lực quản lý và năng lực chuyên môn ở một trình độ nhất định (càng cao càng tốt) mới có thể hoàn thành nhiệm vụ của mình Không có năng lực chuyên môn năng lực quản lý không thể phát huy được tác dụng
Hiệu quả của công tác quản lý còn chịu tác động bởi nhân cách của người quản lý, các phẩm chất, tác phong, cách ứng xử của CBQL tạo nên phong cách quản lý làm cho nhân viên nể trọng, tạo niềm tin để mỗi thành viên tích cực, tự giác trong công việc
Trình độ, năng lực, phẩm chất của giảng viên:
Trình độ, năng lực, phẩm chất của giảng viên có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của công tác quản lý giảng viên Vì vậy, đòi hỏi người giảng viên phải có ý chí, hoài bão vươn lên, không ngừng phấn đấu, học tập, tu dưỡng và rèn luyện nhân cách; thực sự là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ noi theo Bên cạnh đó cơ quan quản lý cũng phải tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt để người giảng viên thực
hiện khát vọng được học tập và cống hiến
b Các yếu tố khách quan:
Quan điểm, chủ trương về quản lý giảng viên:
Các chủ trương của Đảng và Nhà nước (thể hiện ở các văn kiện nghị quyết, chỉ thị, chiến lược phát triển…) là cơ sở định hướng cho hoạt động quản lý của ngành ở các cấp; Là cơ sở pháp lý để triển khai thực hiện công tác quản lý giảng viên ở nhà trường
Điều kiện đảm bảo:
Trang 21Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý giảng viên như: nội dung chương trình, phương pháp đào tạo, cơ sở vật chất trang thiết bị, nguồn nhân lực, tài lực, hệ thống thông tin và môi trường phát triển, … là những điều kiện đảm bảo để thực hiện các giải pháp quản lý giảng viên nhằm đạt tới mục tiêu
Trong quá trình quản lý đội ngũ giảng viên, các yếu tố chủ quan được xem là nội lực, còn các yếu tố khách quan được xem là ngoại lực Theo qui luật phát triển ngoại lực dù quan trọng đến đâu cũng chỉ là nhân tố hỗ trợ, thúc đẩy, tạo điều kiện; nội lực mới là nhân tố quyết định sự phát triển bản thân sự vật Sự phát triển sẽ đạt được khi nội lực và ngoại lực cộng hưởng với nhau
1.5 Kết luận chương 1:
Nghiên cứu về công tác quản lý GV đã được nhiều người quan tâm đề cập tới trong một số công trình nghiên cứu Đây là một đề tài rộng, có nét đặc thù riêng và có những điểm mới ở mỗi địa bàn, mỗi thời điểm nghiên cứu khác nhau Việc khai thác tổng hợp và kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có, tìm hiểu hệ thống các cơ sở lý luận về khoa học quản lý, kết hợp phân tích thực trạng tại địa bàn nghiên cứu nhằm đề ra các giải pháp quản lý phù hợp đối với GV cơ hữu ở trường ĐH Tôn Đức Thắng, đáp ứng yêu cầu phát triển của nhà trường là một yêu cầu cần thiết và hiện còn bỏ ngỏ
Công tác quản lý GV có những đặc thù riêng, nhưng đồng thời cũng chịu những tác động của hoạt động quản lý nói chung Hoạt động quản lý xuất hiện từ khi có sự hợp tác và phân công lao động Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục tiêu đã định
Quản lý giáo dục thuộc dạng quản lý xã hội, quản lý giáo dục thực chất là quản lý con người, mục đích của quản lý giáo dục cũng chính là mục đích giáo dục là hình thành nhân cách cho người học đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội
Quản lý nhà trường là một bộ phận trong hệ thống của quản lý giáo dục Trường học là tổ chức giáo dục cơ sở, trực tiếp làm công tác đào tạo thực hiện việc giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, trực tiếp tham gia vào quá trình thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước
Trường đại học không phải chỉ là một cơ sở giáo dục đơn thuần, trường đại học còn là một cơ
sở nghiên cứu khoa học và ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ, tùy theo điều kiện và hoàn cảnh trong những thời điểm khác nhau các trường ĐH đặt trọng tâm nhiệm vụ công tác của giảng viên và chọn hình thức quản lý thích hợp
Hoạt động của giảng viên là một trong yếu tố quyết định chất lượng đào tạo của nhà trường Quản lý giảng viên là nội dung cơ bản của hoạt động quản lý nhà trường và là một trong những giải
Trang 22pháp quan trọng để xây dựng và phát triển nhà trường Do lao động của giảng viên mang tính đặc thù nên quản lý GV phải có nét đặc thù riêng phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện thực tế của từng đơn vị
Trang 23CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
VÀ QUẢN LÝ NHIỆM VỤ CÔNG TÁC CỦA GIẢNG VIÊN
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG
2.1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG:
2.1.1 Đặc điểm về sự hình thành nhà trường, cơ cấu tổ chức và quản lý:
a) Sự hình thành nhà trường:
Thực hiện chương trình 17 của Thường vụ Thành ủy TPHCM về xây dựng giai cấp công nhân, củng cố, bồi dưỡng và tri thức hóa công nhân viên chức lao động để phù hợp với yêu cầu về nguồn nhân lực phục vụ chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Ban Thường vụ Thành ủy đã giao
cho LĐLĐ TP.HCM thành lập Trường ĐH công nghệ dân lập Tôn Đức Thắng Ngày 24/9/1997,
trường đã được thành lập theo quyết định số 787/TTg của Thủ tướng Chính phủ, cơ quan chủ quản là
Bộ GD&ĐT
Vì là trường do LĐLĐ TP đề nghị thành lập, Chủ tịch Liên đoàn đồng thời là Chủ tịch Hội đồng quản trị, không có sở hữu tư nhân, do đó năm 2001 với sự chấp thuận của Thành ủy và UBND TPHCM, trường đã làm hồ sơ chuyển đổi tư cách pháp nhân từ dân lập sang bán công Ngày 28/1/2003 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 18/2003/QĐ-TTg chuyển Trường ĐH công nghệ dân lập
Tôn Đức Thắng thành Trường ĐH bán công Tôn Đức Thắng trực thuộc UBND TP.HCM
Theo qui định của Luật giáo dục 2005, nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân không tổ chức theo loại hình trường bán công, xu hướng chung các trường bán công sẽ chuyển sang loại hình trường tư thục Ngày 22/6/2006 Thủ tướng Chính phủ có quyết định số 146/2006/QĐ-TTg chuyển
trường ĐH bán công Tôn Đức Thắng sang Trường ĐH tư thục Tuy nhiên, do sự hình thành trường
ĐH Tôn Đức Thắng có nhiều điểm khác các trường, như: không phải là trường tư, cũng không phải là dân lập, cũng không hoàn toàn là trường công, hiện trường hoạt động theo cơ chế trường công tự chủ tài chính Nguồn vốn đầu tư cơ bản của trường là vốn của LĐLĐ TP, hỗ trợ của UBND TP dưới hình thức chi trả lãi vốn vay kích cầu của trường Chi thường xuyên của nhà trường vận động từ nguồn học phí ứng trước của người học Hoạt động tài chính thực hiện đúng qui định của nhà nước, của Hội đồng quản trị nhà trường và được kiểm toán hàng năm
Vừa qua, ngày 11/6/2008, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 747/QĐ-TTg chuyển
trường ĐH bán công Tôn Đức Thắng thành Trường ĐH Tôn Đức Thắng trực thuộc Tổng Liên đoàn
Lao động Việt Nam
Trang 24- Cho đến nay, cơ cấu tổ chức và quản lý Trường ĐH Tôn Đức Thắng được thực hiện theo “Qui chế tổ chức và hoạt động của trường” ban hành theo quyết định số 30/2005/QĐ-UB do Chủ tịch UBND TP.HCM ký ngày 16/02/2005 Cơ cấu tổ chức bao gồm:
+ Hội đồng quản trị
+ Ban giám hiệu
+ Hội đồng khoa học-đào tạo
+ Tổ chức Đảng và các tổ chức đoàn thể
+ Các phòng, ban chức năng, hiện tại gồm có 8 phòng và 2 ban: 1) phòng Tổ chức-hành chính, 2) Đào tạo, 3) Khoa học công nghệ, hợp tác và sau đại học, 4) Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, 5) Công tác chính trị, học sinh-sinh viên, 6) Điện toán và thông tin tư liệu, 7) Quản trị thiết bị, 8)
Kế hoạch tài chính, 9) ban Kiểm định và giám sát nội bộ, 10) ban Công tác thanh niên
+ Các khoa chuyên môn, hiện có 10 khoa: 1) Điện-điện tử, 2) Kỹ thuật công trình, 3) Công nghệ thông tin và toán ứng dụng, 4) Khoa học ứng dụng, 5) Môi trường và bảo hộ lao động 6) Mỹ thuật công nghiệp, 7) Kế toán tài chính, 8) Quản trị kinh doanh, 9) Khoa học xã hội và nhân văn, 10) Ngoại ngữ
+ Các trung tâm đang hoạt động: 1) Ngoại ngữ, 2) Ứng dụng và phát triển Mỹ thuật công nghiệp, 3) Đào tạo và phát triển xã hội, 4) Đào tạo và phát triển kinh tế ứng dụng, 5) Hỗ trợ sinh viên
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức, quản lý của nhà trường (xem phụ lục số 1)
- Thời gian tới, theo quyết định chuyển đổi tên trường và cơ quan chủ quản (tháng 6/2008) trường ĐH Tôn Đức Thắng sẽ hoạt động theo Qui chế do Bộ GD&ĐT ban hành
Như vậy, từ khởi đầu với Trường ĐH công nghệ dân lập Tôn Đức Thắng, đến nay Trường ĐH Tôn Đức Thắng đã trải qua hơn 10 năm xây dựng, phấn đấu và trưởng thành, nhà trường ngày càng phát triển góp phần đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển của TP.HCM và các địa phương
2.1.2 Tình hình giáo dục-đào tạo:
a) Qui mô đào tạo:
Tính đến tháng 9/2007, trường đã tuyển sinh được 11 khóa đại học, 3 khóa cao đẳng, 6 khóa trung học chuyên nghiệp và 2 khóa cao học Tổng số học viên, sinh viên, học sinh đang theo học hơn 20.000, bao gồm 5 bậc đào tạo (trung học nghề-trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và thạc sĩ); Với 4 loại hình đào tạo (chính qui, tại chức, văn bằng 2, liên thông)
Từ ngày thành lập đến nay, sau tròn 10 năm hoạt động từ một cơ sở đào tạo không có gì đã trở thành một trường đại học đa ngành, với 22 ngành đào tạo trình độ đại học, 8 ngành đào tạo trình độ cao đẳng, 11 ngành đào tạo trình độ trung cấp và 2 ngành đào tạo trình độ thạc sĩ (xem phụ lục số 2)
Trang 25Trường đã có 7 khóa sinh viên ra trường với gần 5.000 cử nhân, kỹ sư và 3 khóa tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp với gần 2.000 học sinh; Theo điều tra đối với khóa 5, bậc đại học (tốt nghiệp năm 2005), 79% sinh viên ra trường đã tìm được việc làm phù hợp với chuyên môn
Chương trình đào tạo của trường được thiết kế trên cơ sở chương trình khung do Bộ GD&ĐT ban hành, kết hợp với mục tiêu giáo dục của nhà trường, nhu cầu của người học và nhu cầu nguồn nhân lực trên thị trường; Chương trình được bổ sung định kỳ và thiết kế liên thông giữa các trình độ Nhà trường đang tiến hành chuyển đổi sang đào tạo theo học chế tín chỉ, dự kiến bắt đầu từ khóa nhập học năm 2008
Như vậy, qui mô đào tạo của nhà trường ngày càng được mở rộng và phát triển, chương trình đào tạo từng bước được củng cố và hoàn thiện Kết quả đào tạo đã góp phần cung cấp nguồn nhân lực cho xã hội Cùng với sự phát triển về qui mô đào tạo, các nguồn lực khác của trường (nhân lực, vật lực, tài lực) cũng đòi hỏi phải được gia tăng tương ứng
b) Về Cơ sở vật chất:
Nhà trường hiện có 5 cơ sở học tập, nhưng trong đó chỉ có cơ sở tại 98 Ngô Tất Tố, phường 19, quận Bình Thạnh là thuộc sở hữu của trường, diện tích sử dụng 12.000 m2, có sức chứa 7.500 sinh viên trong 5 ca học, hệ thống thiết bị phục vụ nghiên cứu, học tập và giảng dạy tương đối tốt Bốn cơ sở còn lại đều phải thuê, điều kiện thiếu thốn và chất lượng không cao Nhà trường đang chuẩn bị để xây dựng
cơ sở mới tại Quận 7 trong năm học 2008-2009 với diện tích gần 10 ha, trong tương lai sẽ là một Khu học xá hiện đại
Trường có thư viện với phòng đọc trên 200 chỗ, tổng số đầu sách trong thư viện là 7.000 cuốn;
Số đầu sách gắn với các ngành đào tạo có cấp bằng của nhà trường là 5.000 cuốn
Mặc dù cơ sở học tập còn thiếu thốn, hệ thống các phòng thí nghiệm, thực hành, thực tập (gồm
38 phòng) đã được trang bị tương đối cơ bản, đầy đủ các máy móc thiết bị, dụng cụ cần thiết phục vụ cho việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu theo yêu cầu của từng ngành đào tạo, đặc biệt như ngành: sinh học, hóa học, môi trường, kỹ thuật công trình, điện-điện tử
Trường có hệ thống máy tính phục vụ công tác quản lý điều hành và giảng dạy, học tập gồm
600 máy (50 máy dùng cho hệ thống văn phòng, 550 máy dùng cho sinh viên học tập) Toàn bộ máy tính được kết nối mạng nội bộ, những đơn vị có yêu cầu phục vụ công việc, học tập, nghiên cứu thì các máy được kết nối internet tốc độ cao
c) Đội ngũ cán bộ-giảng viên-nhân viên:
Đội ngũ CB-GV-NV trường ĐH Tôn Đức Thắng làm việc theo các chế độ biên chế, hợp đồng lao động Những người trong biên chế Nhà nước khi chuyển sang làm việc ở trường, phải thông qua LĐLĐ TP.HCM tiếp nhận sau đó Liên đoàn có quyết định cử biệt phái về trường công tác, không nhận
Trang 26biên chế hiện đang công tác tại trường là 10 người Số còn lại là ký hợp đồng làm việc theo qui định của Luật lao động CB-GV-NV nhà trường được quản lý theo các nhóm: lực lượng cơ hữu bao gồm cán bộ trong biên chế và hợp đồng làm việc toàn thời gian tại trường; bán cơ hữu là cán bộ biên chế cơ quan khác được mời cộng tác vào một số vị trí đầu ngành; và giảng viên thỉnh giảng
Giảng viên trong biên chế và hợp đồng dài hạn đều được nhà trường bảo đảm sự bình đẳng về chế độ, chính sách đãi ngộ Nhà trường trả lương và thực hiện các chế độ quyền lợi của người lao động theo đúng qui định của nhà nước, Thỏa ước lao động tập thể, Qui chế chi tiêu nội bộ của trường…
Tổng số CB-GV-NV của trường (bao gồm cán bộ cơ hữu, và cán bộ bán cơ hữu giữ các vị trí chủ chốt) tính đến tháng 9/2007 có hơn 340 người, trong đó có 10 giáo sư và phó giáo sư, 2 nhà giáo
ưu tú, 37 tiến sĩ, 116 thạc sĩ Trong số này khối giảng dạy có 220 người, chiếm 64% tổng số
2003 2004 2005 2006 2007
CB-GV-NV GVCH
Tổng số CB-GV-NV trong 5 năm qua (2003-2007) trung bình mỗi năm tăng thêm gần 15%, trong đó khối giảng dạy tăng bình quân 19,4% /năm Mức độ tăng này phù hợp với thực tế của nhà trường đang trong quá trình hình thành và phát triển, đây là điều đáng mừng đối với trường ĐH Tôn Đức Thắng, thể hiện sự trưởng thành và thực hiện chủ trương xây dựng đội ngũ GV của nhà trường
Có thể nói “xây dựng đội ngũ CB-GV-NV cơ hữu là thành tích nổi bật nhất của trường” trong những năm qua (theo báo cáo kỷ niệm 10 năm thành lập trường)
Trang 272.2 THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG:
2.2.1 Giới thiệu cách thức tiến hành điều tra thực trạng:
- Để tìm hiểu thực trạng đội ngũ GV cơ hữu và công tác quản lý giảng viên ở Trường ĐH Tôn Đức Thắng, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu các sản phẩm của hoạt động quản lý thông qua nghiên cứu các tài liệu, văn bản của nhà trường có liên quan đến công tác giảng viên, như: qui chế làm việc của GV, qui định đánh giá thi đua khen thưởng, các báo cáo của các khoa, phòng, ban, các báo cáo tổng kết năm học của trường, báo cáo thống kê hàng năm cho Bộ GD&ĐT và cơ quan cấp trên… Đồng thời, chúng tôi cũng đã trao đối với các giảng viên, các cán bộ quản lý để thu thập thêm thông tin thực tế cho việc xây dựng các giải pháp quản lý một cách cụ thể và tìm hiểu mức độ tác động của các giải pháp quản lý đó đến giảng viên
- Xây dựng bảng câu hỏi điều tra: Xuất phát từ đối tượng, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu, qui chế, qui định, văn bản yêu cầu của Bộ giáo dục và đào tạo về công tác quản lý giảng viên để xây dựng bảng câu hỏi điều tra khảo sát thực trạng đội ngũ giảng viên
cơ hữu của nhà trường và sự tác động của quản lý đối với việc thực hiện nhiệm vụ công tác của giảng viên tại trường ĐH Tôn Đức Thắng
Bộ phiếu câu hỏi điều tra gồm 10 câu cho khách thể nghiên cứu là giảng viên nhà trường Các câu hỏi được soạn dưới nhiều hình thức khác nhau, người trả lời có quyền chọn một hoặc hơn một lựa chọn mà họ thấy phù hợp với mình (Mẫu phiếu điều tra – Phụ lục 3)
- Chọn mẫu nghiên cứu: Chọn tất cả giảng viên cơ hữu, bán cơ hữu, và cán bộ quản lý Chúng tôi đã phát phiếu câu hỏi cho các đối tượng trên thông qua các khoa, phòng, ban, sau khi đã được sự chấp thuận của Hiệu trưởng
Tổng số phiếu đã phát ra và thu về là 174 phiếu, trong đó có 150 phiếu của giảng viên giảng dạy
và 24 phiếu của cán bộ quản lý Tiến hành khảo sát cả người quản lý và người được quản lý, như vậy các kết quả khảo sát có độ tin cậy
2.2.2 Thực trạng đội ngũ giảng viên trường ĐH Tôn Đức Thắng:
Để làm rõ và phân tích thực trạng đội ngũ GV cơ hữu của nhà trường, chúng tôi đã thu thập số liệu, tổng hợp và khảo sát về: Cơ cấu đội ngũ GV (số lượng GV, học hàm, học vị, tuổi đời, thâm niên công tác, trình độ ngoại ngữ, tin học); Nhận thức và tư tưởng của GV về nghề giáo và sự phát triển giáo dục đại học hiện nay; Tình hình thực hiện nhiệm vụ của GV Kết quả thu được như sau:
2.2.2.1 Thực trạng cơ cấu đội ngũ giảng viên:
a) Về số lượng Giảng viên:
Để bảo đảm kế hoạch giảng dạy, bên cạnh số GVCH hiện có, hàng năm trường mời các GV thỉnh giảng hợp đồng giảng dạy theo từng học kỳ, năm học
Trang 28Bảng 2.2: Số GVCH so với tổng số GV tham gia giảng dạy ở trường ĐH Tôn Đức Thắng
Năm học 2002-2003 2003-2004 2004-2005 2005-2006 2006-2007
Công tác phát triển GV là một trong những nhiệm vụ trong tâm của trường Đội ngũ GV không ngừng được bổ sung qua các năm Do đó, chú trọng và xây dựng các biện pháp tăng cường quản lý việc thực hiện nhiệm vụ của giảng viên đặc biệt là đối với GVCH trong nhà trường hiện nay là rất cần thiết
c) Về học vị, chức danh và ngạch giảng viên:
Bảng 2.3: Học vị, chức danh, ngạch GV
Học vị Ngạch giảng viên Tổng
số TS,TSKH ThS CN,KS
Chức danh
CĐ trình độ TS và TSKH chiếm 13,5% (của trường là 16,8% cao hơn 3,3%), số ThS chiếm 30,5% (của trường là 52,7% cao hơn 22,2%)
Khối đào tạo ĐH [6, tr.93], tính chung trong các trường đại học, tỉ lệ PGS chiếm 4,1% (của trường là 3,6% thấp hơn 0,5%), GVCC chiếm 0,6% (của trường là 0,9% cao hơn 0,3%), riêng số giảng viên ở ngạch GVC của nhà trường thấp hơn nhiều so với tỉ lệ chung (8,2% so với 25,9% thấp hơn 17,7%)
Trang 29Như vậy, giảng viên của trường ĐH Tôn Đức Thắng xét về cơ cấu học vị cao hơn mức trung
bình chung của cả nước, phản ánh một phần hiệu quả trong công tác tuyển dụng và biện pháp khuyến khích giảng viên học tập nâng cao trình độ của nhà trường Tuy nhiên, so với mục tiêu giáo dục ĐH (theo Nghị quyết 14/2005 ngày 02/11/2005 của Chính phủ) đến năm 2010 cần đạt được 25% giảng viên có trình độ TS, TSKH và 40% có trình độ thạc sĩ, đến năm 2020 là 35% trình độ TS và 60% trình
độ thạc sĩ, thì nhà trường cần phải tăng cường hơn nữa trong công tác tuyển dụng và đào tạo cán bộ
Để thực hiện mục tiêu này, trường đã xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ giai đoạn 2008-2012 và lộ trình đến năm 2015-2020, đã được Hội đồng quản trị thông qua ngày 3/12/2007, kế hoạch này cần được triển khai cụ thể trong từng năm học, đặc biệt là ở các khoa chuyên môn, đơn vị quản lý trực tiếp
GV, để bảo đảm đội ngũ GV của trường phát triển cả về số lượng và chất lượng
Xét về các chức danh nghiệp vụ, số GV được công nhận các chức danh còn thấp so với mức
trung bình chung, qua thực tế cho thấy một phần là do các nguyên nhân khách quan, như: tiêu chuẩn để xét GVC phải có thâm niên giảng dạy ít nhất là 9 năm, trong khi nhà trường mới tiến hành tuyển dụng
GV từ năm 2000 đến nay Tuy nhiên, đây là một yếu tố trường cần lưu ý để có kế hoạch giáo dục nâng cao nhận thức cho GV về chức trách, nhiệm vụ cụ thể của mỗi CB giảng dạy; phổ biến tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch, bậc và điều kiện dự tuyển thi nâng ngạch; có kế hoạch cử GV tham dự kỳ thi nâng ngạch hàng năm do Bộ GD&ĐT tổ chức
d) Về tuổi đời của GVCH:
Bảng 2.4: Phân loại độ tuổi GVCH
Phân loại độ tuổi Tổng số
Tuy nhiên, nhược điểm của đội ngũ trẻ là thiếu kinh nghiệm và bản lĩnh nghề nghiệp Để khắc phục nhược điểm này, nhà trường đã phát huy thế mạnh của trường ngoài công lập là chế độ tự chủ trong việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, trường đã chủ động tuyển dụng số cán bộ, giảng viên nghỉ hưu (còn đủ sức khỏe làm việc) từ các trường công lập, các viện nghiên cứu, các cơ quan
Trang 30chuyên môn, để duy trì và xây dựng đội ngũ GV vừa có kinh nghiệm công tác chuyên môn, vừa được trẻ hóa Những GV này vừa tham gia giảng dạy, vừa giúp nhà trường đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giảng viên trẻ
d) Về thâm niên công tác: (bảng 2.5)
Qua thực tế chúng tôi nhận thấy phần lớn GV có thâm niên công tác trên 20 năm là những GV
đã nghỉ hưu từ các trường công lập hợp đồng làm việc lại với trường Hiện tại trường chưa thực sự thu hút được số GV giỏi, có nhiều kinh nghiệm, thâm niên công tác, còn trong độ tuổi lao động về làm việc tại trường
Trang 31Bảng 2.6: Trình độ tin học và ngoại ngữ của GV
Chưa đạt Trung
Tổng cộng
Trình độ tin học 3
(1.8%)
36 (21.1%)
62 (35.5%)
65 (37.3%)
8 (4.2%)
174 (100%)
Trình độ ngoại ngữ 1
(0.6%)
35 (19.9%)
65 (37.3%)
62 (35.5%)
11 (6.6%)
174 (100%)Tham gia các hội nghị
chuyên ngành ở nước ngoài
41 (39,4%)
18 (17,35)
19 (18,3%)
22 (21,2%)
4 (3.8%)
104 (100%)
2.2.2.2 Nhận thức và tư tưởng của GV về nghề giáo và sự phát triển giáo dục đại học hiện
nay:
- Mức độ tâm huyết với nghề, ý thức nâng cao trình độ đã được nhiều GV trong trường xác định
khi chọn nghề nhà giáo, đây là điều rất đáng trân trọng cần được nhà trường khuyến khích và tạo điều
kiện phát huy Vấn đề này được thể hiện qua khảo sát sau
Bảng 2.7: Nhận thức của GV khi chọn nghề nhà giáo
Lý do chọn con đường nhà giáo Tần số Phần trăm
Mong muốn truyền đạt kiến thức đến sinh viên 160 92
Nâng cao kiến thức cho bản thân 135 77,6
Lòng yêu nghề là một động lực mạnh mẽ giúp giảng viên vượt qua khó khăn thử thách để thực
hiện nhiệm vụ với tinh thần trách nhiệm cao với niềm say mê sáng tạo, với ý chí không ngừng học hỏi
- Thực hiện chỉ đạo của Bộ GD&ĐT về điều tra, đánh giá đúng thực trạng đội ngũ giáo viên của
cơ sở (bao gồm cả việc tìm hiểu thực trạng tình hình tư tưởng, đạo đức của GV) Nhà trường đã khảo
sát về mức độ tin tưởng của GV đối với sự phát triển và hội nhập của nền giáo dục đại học Việt Nam
(trên cơ sở căn cứ mục tiêu phát triển giáo dục Việt Nam đến năm 2020-theo nghị quyết số
14/2005/NQ-CP của Chính phủ), kết quả thu nhận ở bảng khảo sát sau
Bảng 2.8: Tình hình tư tưởng của GV đối với sự phát triển GDĐH
Chưa tin
tưởng
Còn lưỡng
lự
Tin tưởng
Rất tin tưởng
Không
có ý kiến
Tổng cộng
Giáo dục đại học Việt
Nam sẽ phát triển kịp các
nước trong khu vực và thế
giới vào năm 2020
35 (20,1%)
56 (32,2)
61 (35,1%)
8 (4,6%)
14 (8,0%)
174 (100%)
Trang 3252 (29,9%)
50 (28,7%)
8 (4,6%)
24 (13,8%)
174 (100%)
Có 52,4% GV tin tưởng và rất tin tưởng đến năm 2020 Việt Nam sẽ có trường đại học đạt đẳng cấp quốc tế Gần 40% GV tin tưởng và rất tin tưởng giáo dục đại học Việt Nam sẽ đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới Như vậy, để giáo dục Việt Nam có bước chuyển biến cơ bản về chất lượng và qui mô tiến tới đạt chuẩn quốc tế, trong điều kiện hiện nay theo đánh giá của GV còn rất nhiều khó khăn Đây cũng là một mặt hạn chế trong quá trình phát triển, bởi chỉ khi các thành viên trong tổ chức tin tưởng vào mục tiêu đã định mới nỗ lực, dốc hết sức mình thực hiện triệt để mọi nhiệm
vụ để đạt mục tiêu, đây là vấn đề mà nhà quản lý cấp trên cần quan tâm
2.2.2.3 Tình hình thực hiện nhiệm vụ của GV:
Căn cứ vào các nhiệm vụ của nhà giáo nói chung, theo qui định tại điều 72, Luật giáo dục 2005, trên 97% GV đánh giá thực hiện các nhiệm vụ đạt mức khá trở lên, kết quả này được thể hiện qua bảng khảo sát 2.9
Bảng 2.9: Thực hiện các nhiệm vụ của nhà giáo
Nhiệm vụ của nhà giáo Chưa
đạt
Trung bình Khá Tốt Rất tốt
Tổng cộng Giáo dục, giảng dạy theo mục
tiêu, nguyên lý giáo dục, thực
hiện đầy đủ và có chất lượng
chương trình giáo dục
6 (3.5%)
46 (26.3%)
108 (62.6%)
14 (7.6%)
174
Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ
công dân, các qui định của pháp
luật và điều lệ nhà trường
3 (1.7%) (10.5%)18 (71.5%) 124 (16.3%) 29 174 Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh
dự của nhà giáo; tôn trọng nhân
cách, đối xử công bằng, bảo vệ
các quyền lợi và lợi ích chính
đáng của người học
16 (8.8%) (57.9%) 100 (33.3%) 58 174
Không ngừng học tập, rèn luyện
để nâng cao phẩm chất đạo đức,
trình độ chính trị, chuyên môn
nghiệp vụ, đổi mới phương
pháp giảng dạy, nêu gương tốt
cho người học
1 (0.6%) (1.2%)2 (13.5%)24 (60.8%) 105 (24%) 42 174
Các nhiệm vụ khác theo qui
(4.1%) (11.2%)20 (68.6%) 118 (16%) 28 174
Đánh giá chung 0.1 2.1 14.1 64.3 19.4 2.2.2.4 Nhận xét và đánh giá thực trạng đội ngũ GV:
* Ưu điểm:
Trang 33- Đội ngũ GV có trình độ học vấn cao, phần lớn trẻ tuổi, linh hoạt, nhạy bén, có khả năng tiếp thu và nắm bắt tiến bộ KH mới áp dụng vào công việc
- Đa số có ý thức tự học hỏi bồi dưỡng nâng cao kiến thức
- Có nhận thức đúng đắn về vai trò, trách nhiệm nhà giáo và khả năng thực hiện các nhiệm vụ công tác theo yêu cầu
- Giảng viên giảng dạy nhiệt tình, tận dụng được trang thiết bị sẵn có của nhà trường trong việc giảng dạy Phần lớn đã ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy
Tóm lại, đội ngũ GVCH nhà trường đã phát triển tương đối mạnh, là một nguồn lực lớn giúp
nhà trường phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo Trong công tác quản lý giảng viên của trường cần có những chính sách, qui định phù hợp để khuyến khích và phát huy tác dụng của đội ngũ này
2.3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHIỆM VỤ CÔNG TÁC CỦA GIẢNG VIÊN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG:
Để đánh giá thực trạng công tác quản lý GV trong việc thực hiện nhiệm vụ, chúng tôi thu thập
số liệu, khảo sát và phân tích dựa trên cơ sở các chức năng của quản lý giáo dục Cụ thể khảo sát thực trạng về: Xây dựng kế hoạch, nội dung quản lý nhiệm vụ công tác của GV; Tổ chức và chỉ đạo thực hiện quản lý nhiệm vụ của GV; Cách thức kiểm tra, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của GV; Khảo sát lấy ý kiến đánh giá của GV và CBQL về công tác quản lý GV trong trường Kết quả cụ thể như sau:
2.3.1 Thực trạng Xây dựng kế hoạch, nội dung quản lý nhiệm vụ của giảng viên:
Trải qua 10 năm hoạt động, xây dựng đội ngũ GVCH là một trong những công tác trọng tâm của nhà trường Khi mới thành lập trường và tổ chức đào tạo khóa đầu tiên, trường chỉ mới có vài chục
GV hợp đồng và mời từ các trường, viện nghiên cứu trong thành phố, hầu hết đã lớn tuổi Từ tháng 10 năm 2000 trường bắt đầu tổ chức tuyển dụng GVCH, mỗi năm 2 đợt, công tác tuyển dụng được thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, và thực hiện liên tục cho đến nay Số lượng
GV được tuyển trung bình năm sau tăng hơn năm trước 19% (bảng 2.1) Cùng với việc gia tăng số lượng, công tác quản lý GV đòi hỏi phải được hoàn thiện dần để góp phần tích cực bảo đảm và nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường
Tính từ ngày bắt đầu tuyển dụng GVCH đến nay (2000-2007), qua 7 năm thực hiện công tác
Trang 34trường quan tâm thực hiện ngay từ thời gian đầu và từng bước được điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với sự phát triển đội ngũ và tình hình thực tế của trường Các văn bản của Hiệu trưởng trường ĐH Tôn Đức Thắng qui định về chế độ làm việc của GVCH đã thực hiện tại trường:
Qui định tạm thời về nhiệm vụ và chế độ đối với giảng viên cơ hữu, số 896/TĐT-QĐ, ngày 18/10/2002
Qui định về chế độ làm việc của giảng viên cơ hữu, số 709/TĐT-QĐ, ngày 14/9/2004
Qui định về chế độ làm việc của giảng viên cơ hữu, số 551/TĐT-QĐ, ngày 25/7/2007
Các qui định này đã nhấn mạnh 3 nhiệm vụ trọng tâm của GV là: 1) giảng dạy, 2) Nghiên cứu khoa học, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, 3) Tham gia các hoạt động chính trị, xã hội khác
Trong thời gian qua các văn bản qui định về chế độ làm việc của GV trong nhà trường và thực
tế hoạt động cho thấy việc lập kế hoạch nội dung quản lý công tác của GV đã góp phần đáp ứng mục tiêu hoạt động của trường trong từng thời kỳ, tuy nhiên nó cũng thể hiện một số hạn chế trong việc xây dựng kế hoạch quản lý nhiệm vụ của GV, có thể phân tích tình hình thực hiện theo 3 giai đoạn như sau:
- Giai đoạn đầu (2001-2003), trường mới tuyển dụng GVCH, số GV được tuyển còn ít và có
khoa còn chưa có GVCH Qui định của trường về chế độ làm việc của GVCH, cũng như các chế độ chính sách cho GV chưa được xây dựng cụ thể, chưa có các chỉ tiêu định mức rõ ràng GVCH chỉ được trả lương cơ bản áp dụng theo thang bậc lương của nhà nước, số giờ giảng dạy của GVCH chỉ thanh toán như đối với GV thỉnh giảng Với phương thức này không khuyến khích được GVCH tham gia giảng dạy, cũng như trách nhiệm phân công giảng dạy của Khoa đối với GV GVCH tham gia các hoạt động giảng dạy giống như GV thỉnh giảng, không gắn bó với các hoạt động khác của trường Về phía các Khoa cũng không tích cực trong công tác đào tạo, bồi dưỡng GV, có tâm lý ngại phân công giờ dạy cho GVCH do GV mới tuyển đa phần còn trẻ và chưa có kinh nghiệm trong giảng dạy
- Giai đoạn 2004 – 2006, để tăng cường trong công tác quản lý, xây dựng và phát huy vai trò
của đội ngũ GV cơ hữu và để GV biết rõ nhiệm vụ của mình, nhà trường đã bổ sung qui định chế độ làm việc của GVCH, trong đó qui định phân bổ thời gian cho các hoạt động của GV như sau:
50% thời gian dành cho hoạt động giảng dạy;
30% thời gian dành cho hoạt động NCKH và học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ;
20% thời gian dành cho các hoạt động khác;
Tương ứng với việc phân bổ thời gian như trên, đối với hoạt động giảng dạy nhà trường đã định
mức khối lượng tiết giảng dạy nghĩa vụ hàng năm của GV và qui định một số chỉ tiêu về bồi dưỡng chuyên môn, như: GV chưa có văn bằng sau đại học sau 4 năm công tác tại trường phải có bằng Thạc sĩ; Nhà trường hỗ trợ 100% kinh phí cho GV được cử đi học nâng cao nghiệp vụ; Qui định chế độ hỗ
Trang 35trợ kinh phí đối với GV khi nhận được văn bằng tiến sĩ, thạc sĩ; Qui định chế độ miễn giảm giờ nghĩa
vụ giảng dạy trong thời gian học sau đại học và thời gian tập sự.… Đối với nhiệm vụ NCKH và tham
gia các hoạt động xã hội khác của GV, trường chưa có các định mức hay qui định cụ thể đối với hoạt
động này, mặc dù hàng năm có kiểm tra, đánh giá thi đua nhưng chủ yếu do GV tự giác thực hiện, chưa có các biện pháp chế tài hay xử lý nếu không thực hiện
Ưu điểm của qui định về chế độ công tác của GV là đã tạo điều kiện và khuyến khích được GV trong hoạt động giảng dạy, cũng như tạo phong trào thi đua học tập nâng cao trình độ Số tiết giảng dạy của GV được bảo đảm, GV có nghĩa vụ và trách nhiệm hơn trong hoạt động giảng dạy Số GV đăng ký học cao học chiếm gần 90% số GV chưa có văn bằng sau đại học Qui định này đã bảo đảm cho GVCH có mức thu nhập ổn định hàng tháng, GVCH được ưu tiên khối lượng giờ giảng dạy
Tuy nhiên, có nhược điểm là GV chỉ quan tâm đến số giờ dạy, hoạt động nghiên cứu khoa học gần như không được thực hiện, số đề tài đăng ký rất hạn chế Các hoạt động khác như Chủ nhiệm lớp, tham gia các hoạt động của trường, các phong trào Đoàn thể GV tham gia ít và hiệu quả không cao
Do vậy, vấn đề quản lý giảng viên để hoàn thành tốt công việc trong nhà trường là hết sức cần thiết Hoạt động của GV không chỉ dừng ở giảng dạy mà còn phải nghiên cứu khoa học, bổ sung thêm kiến thức nhằm phục vụ ngày càng tốt hơn nhiệm vụ được giao và tham gia các công tác khác góp phần xây dựng nhà trường
- Từ năm học 2007–2008, nhà trường đã điều chỉnh qui định chế độ làm việc của GV, định
mức tất cả các nhiệm vụ công tác của GV và qui đổi tương đương số tiết giảng dạy cho từng năm học Trường đã qui định số giờ chuẩn nghĩa vụ cho các hoạt động hàng năm của GVCH như sau:
Trong đó Học vị, chức
danh GV
Tổng cộng (tiết/năm học) Giảng dạy Nghiên cứu khoa học Công tác hành chính khác
Cử nhân, Thạc sĩ 460 230 140 90
Riêng đối với GVCH là cán bộ đã nghỉ hưu có học vị tiến sĩ hoặc học hàm tương đương hợp đồng làm việc với trường (hiện nay số GV này chiếm gần 10% tổng số GV), là những cán bộ lớn tuổi, nhà trường có qui định chế độ làm việc riêng chỉ định mức 100 tiết nghĩa vụ giảng dạy mỗi năm, không qui đổi ra tiết giảng dạy đối với các hoạt động khác (qui định số 83/TĐT-TCNS, ngày 30/01/2007 của Hiệu trưởng trường ĐH Tôn Đức Thắng)
Như vậy, trường ĐH Tôn Đức Thắng với đặc điểm là số lượng cán bộ giảng viên còn ít, khối lượng công việc nhiều, số lượng sinh viên ngày một tăng, giảng viên được tuyển đa phần còn trẻ đang trong giai đoạn đào tạo Hiện tại, nhà trường đã xây dựng kế hoạch nội dung quản lý GV theo định mức khối lượng công việc, làm việc có kế hoạch theo khối lượng công việc hàng năm, dựa trên khối